Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

VOA Tiếng Việt: Báo cáo Buôn người của Mỹ - Việt Nam không truy cứu trách nhiệm quan chức về lao động cưỡng bức

Bộ Ngoại giao Mỹ nói Việt Nam không truy cứu trách nhiệm các quan chức tiếp tay cưỡng bức lao động ở nước ngoài và đưa quốc gia Đông Nam Á vào danh sách các nước phải đối mặt với lệnh trừng phạt của Washington, trong Báo cáo Buôn người mới nhất của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Trong buổi công bố Báo cáo Buôn người 2022 tại trụ sở Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington DC hôm 19/7, Ngoại trưởng Antony Blinken cho biết rằng báo cáo “đánh giá 188 nước và vùng lãnh thổ, bao gồm cả Mỹ, trong việc phòng chống buôn người, bảo vệ nạn nhân và xét xử những kẻ buôn người.”

Theo Ngoại trưởng Mỹ, có 21 quốc gia được nâng cấp một bậc bởi vì chính phủ của những nước này đã có các nỗ lực đáng kể để chống lại nạn buôn người trong nước cũng như cho các công dân của họ ở nước ngoài. Trong khi đó, 18 quốc gia bị đánh hạ một bậc, trong đó có Việt Nam, vì các nước này đã không có được nỗ lực đáng kể nào hoặc tệ hơn là chính phủ những nước đó có chính sách hoặc mô hình buôn người do nhà nước bảo trợ.

Bộ Ngoại giao Mỹ nói rằng Việt Nam, quốc gia Đông Nam Á đang có mối quan hệ nồng ấm với Washington do cùng quan ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy, đã giảm các vụ truy tố đối với những người được cho là chịu trách nhiệm về vấn nạn buôn người trong năm 2021.

Báo cáo này đặc biệt nêu ra việc chính phủ Việt Nam “không quy trách nhiệm hình sự hay hành chính đối với hai nhà ngoại giao Việt Nam bị cho là đồng lõa trong việc buôn bán công dân ra nước ngoài” cũng như “không thực hiện đủ nỗ lực để bảo vệ nạn nhân trong những trường hợp này.” Trái lại, theo Bộ Ngoại giao Mỹ, các cơ quan chức năng của Việt Nam “đôi khi còn được cho là đã quấy rối và gây áp lực đối với những người sống sót và gia đình của họ trong nỗ lực bịt miệng cáo buộc chính thức việc đồng lõa của các quan chức.”

Blogger Viết Từ Sài Gòn: Tàu sắt răng cưa Đà Lạt, hãy cẩn thận với một Cát Linh - Hà Đông mới!

Khi người xưa ném một hòn đá xuống nước hoặc vào thinh không, chắc chắn ba ngàn thế giới đang xao động sau cú ném ấy. Khi người xưa đặt một viên đá làm nền móng cho một việc gì đó có tính nhân loại, cộng đồng, chắc chắc lịch sử đang chuyển vận theo bàn tay của Người, và hiển nhiên, niềm hi vọng, niềm tin, tâm hồn của Người đã ký thác vào một nền móng, ký thác một giấc mơ tương lai. Và, tương lai văn hóa của dân tộc sẽ trả lời cho sự trường tồn của Người. Nếu dân tộc đó không may mắn, chắc chắn, sự phá hoại sẽ không từ bỏ bất cứ thứ gì! Câu chuyện về chuyến tàu lửa răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt là một nỗi đau văn hóa Việt.

Theo Lao Động Việt Nam: “Gọi đường sắt răng cưa Đà Lạt – Tháp Chàm là tuyến đường sắt huyền thoại vì đây là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của thế giới: Một của Việt Nam và một của Thụy Sĩ.

Và tuyến đường sắt này gắn liền với một sự kiện lịch sử, bắt đầu từ năm 1893, khi bác sĩ người Pháp Alexandre Yersin (một người Pháp sinh ra ở Thụy Sĩ) dẫn đầu đoàn thám hiểm đi về vùng núi phía Tây của vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Sau hơn 1 tháng băng rừng, vượt núi, thời khắc lịch sử đã xuất hiện vào lúc 15h30 ngày 21.6.1893, khi đoàn thám hiểm lần đầu nhìn thấy cao nguyên Langbiang quanh năm phủ mây mù.

Ấn tượng đầu tiên về cao nguyên hùng vĩ được Yersin ghi chép lại trong nhật ký hành trình "Bảy tháng nơi xứ thượng" của mình:

“Cao nguyên nhấp nhô cao từ 900 mét đến 1.200 mét khoảng từ 15 km đến 20 km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàn toàn trơ trụi và cây cỏ. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ...".

Sau khi phát hiện ra cao nguyên Langbiang, Yersin viết thư cho Toàn quyền Pháp Paul Dumer-người đang tìm một địa điểm thích hợp để xây dựng một khu nghỉ dưỡng kiểu Châu Âu tại Đông Dương.

Trong thư, bác sĩ Yersin khẳng định vùng đất này hội tụ đầy đủ các yếu tố để xây dựng khu nghỉ dưỡng lớn với độ cao trên 1.600 m, khí hậu lạnh, nguồn nước dồi dào, đất đai có thể canh tác và khả năng thiết lập đường giao thông thuận lợi.

Tưởng nhớ bạn TÔ VĂN LAI


Chúng tôi một số anh em cựu sinh viên khóa thứ ba Đại Học Sư Phạm ban Triết Học tại Đại học Đà Lạt (1961-1964), đau buồn được tin bạn đồng khóa của chúng tôi :

Anh Phêrô TÔ VĂN LAI

Giáo sư Triết học tại Việt Nam trước 1975

Là người sáng lập Trung Tâm Thúy Nga tại Hoa Kỳ và chương trình ca nhạc nổi tiếng hải ngoại “Thúy Nga Paris By Night”

Đã qua đời vào ngày 19 tháng 7 năm 2022

Tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ

Thọ 85 tuổi.

Chúng tôi thành kính chia buồn cùng gia đình anh Tô Văn Lai và xin nguyện cầu Linh Hồn Phêrô Tô Văn Lai sớm về Nước Chúa.

Để tưởng nhớ đến thời kỳ đèn sách xa xưa, chúng tôi xin đăng lại dưới đây tấm hình ngày ra trường của lớp Đại Học Sư Phạm ban Triết học chúng tôi tại Đại Học Đà Lạt, vào mùa hè năm 1964 (không hoàn toàn đầy đủ tất cả anh em trong lớp).

Xin điểm danh theo trí nhớ, từ trái qua phải : người thứ 2 Tô Văn Lai; thứ 4 Phạm Phú Minh (Phạm Xuân Đài); thứ 5 Trương Đình Tấn; thứ 7 Nguyễn Văn Lục; thứ 9 Hồ Công Danh; thứ 10 Nguyễn Thị Loan (nữ sinh viên duy nhất của lớp); Giáo sư Linh Mục Pineau (áo trắng); kế tiếp là Dương Văn Ba; người thứ tư từ DVBa là Huỳnh Thanh Tâm (nhà văn Huỳnh Phan Anh); kế tiếp là Huỳnh Đạt Bửu.



Phạm Thị Hoài: Buồn ơi, nhẹ thôi

Bạn vừa công bố một nỗi buồn. Xen chút dỗi hờn, khi gặp lại một tác phẩm bạn dịch, bản đề tặng tôi, từ hàng sách cũ. Về chuyện này, có lẽ chỉ cần nói rằng gần hai mươi năm nay tôi xa Việt Nam là đủ. Tôi đã không tính đến kịch bản bị cấm cửa ở quê hương. Ở nơi ấy tôi không còn và không còn là một hiện hữu vật chất nào nữa. Những thứ tưởng như chết mang theo còn buông bỏ, huống hồ đồ đạc sách vở và cả những kỷ vật vô giá dù vô danh. Bạn ạ, có những mất mát không thể đong đếm bằng nỗi buồn.

Tôi không thuộc trường phái tắm táp liếm láp những mất mát. Con xúc xắc gieo vào tôi đủ ngửa ra những mặt hào phóng để chốn lưu vong không biến thành nhà tù của dĩ vãng, nơi người ta mãi múc từ ao ký ức này đổ sang vũng hoài niệm kia, tát qua tát lại cho đến khi tất cả đều khô kiệt. Tiếng Việt mắc cạn ở đó, chưa đủ chết để hóa kiếp tử ngữ cho bảo tàng, không đủ sống để làm một sinh ngữ cho sáng tạo – một ngôn ngữ sống dở chết dở, như tình trạng của nhiều người viết buộc phải xa xứ. Họ có thể đổi đời, no ấm hơn, chắc chắn là an toàn hơn, về căn bản là tự do hơn, chưa kể con cái được hưởng một nền giáo dục tiến bộ hơn và bản thân về già được lắp răng giả chất lượng hơn. Nếu không cọ xát với ngôn ngữ ở quốc gia đang sống, có lẽ họ cũng hài lòng với vốn liếng tiếng Việt mang theo, yên ổn trong đó như trong hầm trú, nơi cố thủ cuối cùng của cái mà họ định nghĩa là hồn Việt.

Song lưu vong trước hết là một đứt gãy ngôn ngữ không thể hoặc rất khó bù đắp. Tiếng Việt của tôi ở đây là một sinh thể yếu thế, thiếu dưỡng khí, suy giảm trí nhớ, trầm lặng, bị động, cô độc, hàng ngày bị tiếng Đức thách thức và thường trực đối diện nguy cơ xơ cứng, xói mòn, cổ hủ và bảo thủ, bệnh thoái hóa tất yếu của một ngôn ngữ ở ngoại biên. Sức sống tự nhiên của một cộng đồng ngôn ngữ trăm triệu thành viên, tôi buộc phải hấp thụ gián tiếp. Việc ấy vất vả, nhưng khi biết cái giá phải trả cho một từ có thể mất, một thanh điệu có thể quên, một cái tên có thể bỏ đi để chẳng bao giờ làm ơn quay về, khi nhúng tiếng mẹ đẻ vào chiếc vạc dầu của ngôn ngữ toàn cầu, khi nhìn chữ rụng xuống để không còn mọc lên trên một thổ nhưỡng khác, tôi thấy quan hệ giữa mình và tiếng Việt nghiêm ngặt hơn nhưng cũng tự do hơn. Một quan hệ định mệnh tự nguyện. Nó không đòi tôi phụng sự vô điều kiện. Tôi không đòi nó đảm bảo vô tận chuỗi cung ứng. Hai bên đều trở nên khiêm nhường và tương kính, thay phiên phục vụ lẫn nhau; tôi là công cụ trong tay nó và nó là công cụ trong tay tôi; tôi sở hữu nó và nó sở hữu tôi. Nếu không lưu vong, có lẽ tôi đã phạm nhiều khinh suất hơn trong ứng xử với tiếng Việt. Ngôn ngữ không phải là một tập hợp có tổng bằng không, cái được chẳng hoàn trả cái mất, song ngay cả cái tổn thất lớn nhất cho một người viết là bị đánh bật khỏi môi trường ngôn ngữ ấy của tôi cũng nhẹ thôi, so với nhiều bi kịch khác.

Nguyễn Hưng Quốc: Đường vào văn học (1)

Tôi mê đọc sách rất sớm, có lẽ ngay từ những năm lớp 5 hay lớp 6 gì đó. Không hiếm những đứa bé bắt đầu đọc sớm như thế. Nhưng phần lớn đều bắt đầu với những trang báo thiếu nhi như Tuổi Hoa hay Tuổi Ngọc. Tôi thì khác. Với tư cách độc giả, tôi không có tuổi thơ. Loại sách tôi mê đọc đầu tiên trong đời, oái oăm thay, lại là... truyện chưởng. Nguyên nhân chủ yếu là do ông anh cả của tôi, lớn hơn tôi bảy tuổi, dạo ấy đang ghiền đọc loại này. Mỗi cuối tuần, anh lại tha về ba, bốn tập. Tôi đọc ké. Anh tôi không bao giờ đủ rộng lượng hay kiên nhẫn để chờ tôi đọc hết mới mang đi đổi các tập khác. Do đó, tôi phải cố gắng đọc nhanh ngang với tốc độ đọc của anh ấy. Và phải đọc nhảy: trong lúc anh đọc tập một thì tôi đọc tập hai; khi anh xong tập một thì tôi phải xong tập hai và chuyển sang tập ba để nhường tập hai lại cho anh. Cứ như thế, đến lúc anh đọc tập cuối cùng thì tôi quay lại đọc tập một. Chỉ vài năm sau là lượng sách trong tiệm cho thuê đã cạn. Và tôi cũng chán nữa: đọc riết, tôi khám phá ra năng lực tưởng tượng của các tác giả truyện chưởng cũng khá nghèo: các câu chuyện có thể khác nhau ở nhân vật và một số tình tiết nhưng kết cấu chung thì cứ như đúc từ một khuôn. Rất công thức. Rất đơn điệu. Và do đó, rất khả đoán. 

Chán truyện chưởng, tôi quay sang đọc các loại sách văn chương nghiêm chỉnh. Tôi đọc gần hết các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, sau, lần lượt đọc các tác giả nổi tiếng ở Sài Gòn. Không hiểu sao, tôi lại nặng lòng với thơ hơn. Tôi không những đọc nhiều thơ, vô số thơ, mà còn làm thơ nữa. Dạo đó, tôi học trường Thánh Mẫu ở ấp Phước Thành, xã Hoà Khánh, quận Hoà Vang, Quảng Nam. Trường nhỏ, chỉ tới lớp 9. Thầy dạy Văn là thầy Vũ Công Cường, nói giọng Bắc, đọc thơ rất truyền cảm. Là một trong vài học sinh giỏi Văn nhất lớp, tôi rất được thầy thương. Làm được bài thơ nào tôi cũng đều đưa thầy đọc. Thầy khen ngợi rối rít. Có lúc thầy đọc lên cho cả lớp nghe. Không chỉ trong lớp tôi, thầy còn mang đọc trong các lớp khác. Nhờ thế, tôi nhanh chóng nổi tiếng là một “nhà thơ trẻ đầy triển vọng” trong cái trường cấp hai nhỏ xíu tập hợp những mảnh đời khốn khổ do chiến tranh xô đẩy tới. 


Trần Hữu Thục: Donald Trump, kẻ lạ mặt

 (LTG: Bài viết mang nhiều tính chất thời sự này là tổng hợp của bảy (7) bài viết của cùng tác giả về cựu tổng thống Donald Trump, kể từ ngày ông xuất hiện  trên chính trường Hoa Kỳ vào năm 2015 cho đến tháng 2/2021 đi trên các trang mạng Da Màu, Văn Việt, Bâu Xít Việt Nam, Diễn Đàn Thế Kỷ, được nhuận sắc và cập nhật với những tin tức mới nhất trong thời gian vừa qua, trong cố gắng dựng lại chân dung sống động của một nhân vật lịch sử đương đại).  

Đôi dòng lan man…

 

Donald Trump, sinh năm 1946, là một nhân vật lạ, hiếm.

Nhân dáng ông to, cao 6 feet 2 (gần 1 mét 9), chỉ thua có viên cựu giám đốc FBI James Comey (cao 6 feet 8). Bước chân vững. Giọng nói mạnh. Cả người toát ra một cái gì rất đàn ông. Lời phát ngôn nào của ông cũng nghe chắc như đinh đóng cột. Nói như máy nói. Nói không cần uốn lưỡi, dù chỉ là uốn một lần. Khi nói, trong lúc hai cánh tay xòe ra hai bên với hai bàn tay mở rộng, bao biện thì ngược lại, miệng ông thu nhỏ, tròn, gọn - một đặc điểm nổi bật mà đức Đạt Lai Lạt Ma chọn để diễn tả về ông khi được nhà báo Piers Morgan phỏng vấn trên truyền hình.

 

Chữ ký của Trump cũng khác lạ.

 

Nó trông giống một đoạn hàng rào thép gai: lởm chởm, góc cạnh. Mấy chữ cái viết hoa (D,T,P) nhô cao hẳn lên, bất thường. Loại chữ ký như thế này, theo dân bói toán, cho thấy ông thuộc hạng người luôn luôn bị ám ảnh bởi thứ quyền hành của riêng mình. Chẳng mấy thân thiện hay cởi mở với người khác. Chẳng chịu nhường ai. Khi làm tổng thống, mỗi lần ký xong một “executive order”, ông đưa cao tài liệu cho ai cũng nhìn thấy rõ chữ ký của mình, với khuôn mặt sáng lên, kiêu hãnh và thỏa mãn. Với ông, me first. Ông hay tự khen mình. Tự khen khi chưa làm, tự khen trước khi làm và thậm chí tự khen cả khi…không làm được hay thất bại. Chẳng thế mà, trong một bài báo viết cho CNN, Michael D’Antonio gọi ông là một “tổng thống bé con” (a little boy president) [1].  Chính ông, ông cũng thú nhận là “Khi tôi nhìn vào chính tôi lúc còn học sinh lớp Một và nhìn tôi bây giờ, tôi thấy về căn bản vẫn là một người. Tính tình không có gì khác lắm.” Vâng, đúng là không khác. Có điều, cậu bé lớp Một ngày xưa có nói này nói nọ, cũng chỉ dính líu đến bản thân cậu bé, còn “tổng thống bé con” ngày nay, nhất cử nhất động đều ảnh hưởng đến toàn thế giới. 


Nguyễn Lê Hồng Hưng: Hải Hành Mùa Đại Dịch (Chương 7)

Quần đảo Stockholm có cả chục ngàn hòn đảo, tàu bè từ ngoài khơi vô ra Stockholm phải lòn lách qua những hòn đảo lớn nhỏ. Nhứt là những ngày mùa xuân và mùa hè, khí trời mát mẻ giống như những ngày gió chướng của vùng biển trời vịnh Rạch Giá hướng ra hòn Tre, Sơn Rái, Cổ Tron và quần đảo Phú Quốc của quê hương. Trời trong vắt, quang cảnh hấp dẫn làm tôi say mê đứng ngắm tới khi bình minh ửng sáng phía chơn trời thì nghe tiếng của máy cuốn dây, đoán biết thủy thủ đã chuẩn bị dây chạc cho tàu ghé bến. Bấm điện thoại xem đồng hồ thì đã gần năm giờ sáng. Tôi xuống phòng bếp pha một bình cà phê và rót một tách bưng lên phòng riêng, hớp một miếng cà phê đắng cho tỉnh táo tinh thần, để tách lên bàn và đi tới vẹt màn cửa sổ cho ánh sáng bên ngoài tràn vô rồi day qua tắt đèn phòng. 

Cũng như thường ngày, tôi ngồi vào bàn và mở laptop, lướt mạng tìm đọc những thông báo mới và có bài nào cần lưu, tải xuống laptop dành khi ra khơi rảnh rang mở ra đọc. Đương rà chuột chợt hiện ra thông báo cái email của ông anh ở Việt Nam, hơi thắc mắc vì anh của tôi hổng biết xài điện thoại thông minh, hồi nào tới giờ hễ mỗi lần muốn gọi ảnh phải nhờ con, cháu bấm máy dùm, chỉ biết nói chuyện chớ không biết nhắn tin hay viết mail, hổng biết có chuyện gì không, định mở mail ra đọc thì có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Tôi đứng lên đi lại hé cửa thấy Brandon, phụ máy, người Hoà Lan đứng ngoài cửa, tay bưng tách cà phê, tươi cười hỏi: 

– Ngồi chơi chút được không? 

– Dĩ nhiên.

Mở rộng cánh cửa cho Brandon bước vô và chỉ chiếc ghế bên góc bàn mời nó ngồi. Brandon ngồi xuống và nói: 

- Tàu tới Hamburg tui với ông và thuyền phó được về. 

- Vậy là thuyền phó bay về Nga, còn tao với mày đi chung chuyến xe lửa về Hoà Lan. 

- Trên tàu tui và ông là người Hoà Lan, mình về rồi còn lại người Nga với In Đô. 

- Estonian nữa. 

Brandon rụt vai một cái nói:

- Estonian và người Nga cũng như nhau.


Xuân Đỗ: Ám Ảnh

Mea Cumpa, Mea Cumpa. Mea Maxima Cumpa”

(Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi mọi đàng)

                                                             

Lân dựng chiếc xe Honda ngoài cổng, chạy vội vào nhà Thảo. Người chị từ trong nhà chạy ra, nói:

- Thảo có dặn chị, Lân đến, bảo em chạy đến bệnh viện Chợ Rẫy. Ba chị đang nằm nhà thương trong đó. Bệnh tim của ba tái phát, mẹ và Thảo đưa ba vào nhà thương ngay sáng nay. Bệnh tim của ba là vậy. Có việc gì làm ba xúc động mạnh, là có rắc rối. Lần này có vẻ nặng.

Lân ngẩn ngơ một lúc, rồi hỏi chị:

    - Thảo có nói gì với chị, hoặc ba me, về việc ra đi không?

Người chị gật đầu:

    - Có. Hồi tối cả nhà ngồi bên ba nói chuyện. Ba bảo tình hình nguy cấp lắm rồi, bảo Thảo nên ra đi với Lân, dẫn theo thằng Lực, vì ở lại là chết chùm. Nhưng sáng nay ba bị ngất xỉu, đưa vào bệnh viện, sống chết không biết ra sao, nên việc ra đi của em Thảo và thằng Lực theo em, chị không biết ba me, Thảo quyết định ra sao. Tốt hơn hết em chạy gấp lại nhà thương đi.

Lân chào chị, cầm cái tờ giấy địa chỉ phòng bệnh viện, nhảy lên xe Honda, chạy vù đi trong đường sá đầy người, xe cộ chen nhau. Bước vào phòng bệnh, Lân đi nhè nhẹ đến gần giường ba Thảo đang nằm, người ông như quấn đầy dây nhợ, các ống dẫn chuyền máu, ống chuyền nước biển. Bà cụ và Thảo nghe tiếng mở cửa nhìn lên. Thảo bước nhanh lại phía Lân, lắc đầu. Lân chỉ vào đồng hồ đeo tay, ra dấu, mình chỉ còn chưa tới nửa giờ, để ra đi hay không. Thảo lại lắc đầu, cắn môi để khỏi bật ra tiếng khóc, sợ ông cụ nghe. Không hiểu sao ông cụ đưa cánh tay đầy dây nhợ, huơ huơ, như muốn nói gì đó. Bà cụ kê tai sát để đoán thử ông muốn gì. Ông lại huơ huơ cánh tay, ra dấu. Bà cụ vội để cây viết và tờ giấy sát tay ông. Ông viết nguệch ngoạc:

    - Thảo, Lực đi mau với anh Lân. Lân thay ba me dìu dắt hai em nên người. Đi mau đi. Các con thoát đi được, ba có chết cũng an tâm. Đi đi!

Hình như ông dốc hết tàn lực viết các chữ xong, cây viết rớt xuống giường. Thảo cầm tờ giấy, đầy chữ của ba, khóc thảm thiết. Bà cụ cũng lau nước mắt bằng tay mình, khoát tay ra dấu cho ba đứa con ra đi gấp. Thảo và Lực chạy lại, theo cái ngoắt tay của mẹ, vùi đầu vào ôm ba, rồi chạy ra theo Lân.


Y Chan: Đọc “xã hội hài hòa” của Trung Quốc - Biết để soi mình, hiểu để rùng mình

 Một xã hội hài hòa trong lý tưởng, hay thế giới rừng xanh thời hiện đại?

Bạn hỏi cưới người mình mong muốn. Đám cưới chuẩn bị diễn ra. Nhưng bố mẹ vợ chưa yên tâm, tìm đến chính quyền hỏi về “điểm số xã hội” của con rể tương lai. Hạnh phúc trăm năm của bạn vì vậy vẫn treo lơ lửng.

Bạn tìm được một ngôi trường lý tưởng để gửi gắm con. Đứa trẻ cũng thích thú với môi trường mới. Bạn có mọi điều kiện như những phụ huynh khác. Nhưng khi nộp đơn, trường từ chối nhận con bạn với lý do “điểm số xã hội” của cha mẹ thấp hơn tiêu chuẩn.

Với cùng lý do “điểm số xã hội” không đạt chuẩn, bạn có thể bị cấm đi máy bay ra nước ngoài, bị cấm đi xe lửa qua tỉnh khác, thậm chí bị cấm không được bước vào quán ăn ở đầu ngõ.

Những ai trong tình cảnh trên giống như đang bị cầm tù dù không ở đằng sau song sắt – đó là thứ ai cũng dễ nhìn thấy.

Điều mà nhiều người không nhìn ra, hay không muốn nhìn ra, là bất kỳ ai ở trong một môi trường như vậy đều là những tù nhân, hay nói khó nghe hơn, là những nô lệ thời hiện đại.

Quyển sách “We Have Been Harmonized: Life in China’s Surveillance State” của Kai Strittmatter, nhà báo Đức đã dành hơn một thập niên tìm hiểu về Trung Quốc, giúp người đọc hình dung chi tiết về một xã hội như vậy.

Đó là nơi được gắn nhãn “xã hội hài hòa” nhưng lại mang đầy đặc điểm của một thế giới rừng xanh thời hiện đại.

 

Đầy tớ và các ông chủ

Những trường hợp kể ra lúc đầu, được lấy trong sách, là những gì đã và đang diễn ra ở nhiều nơi tại Trung Quốc.

Các điểm số ở đây nằm trong một thứ được gọi là “hệ thống tín dụng xã hội” (social credit system).


Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2022

Ngô Nhân Dụng: Bao giờ Donald Trump trở lại?

 Cuối năm nay đảng Cộng Hòa có thể tái chiếm đa số ở hai viện quốc hội Mỹ. Bình thường, đảng của vị tổng thống đương nhiệm đều mất phiếu trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Năm nay, Tổng thống Joe Biden còn khiến đảng Dân chủ suy yếu hơn. Số dân chúng tỏ ý hài lòng về ông Biden xuống thấp, từ 38% đến 33%. Giá xăng dầu, thực phẩm lên cao, lạm phát 9.1%, đến sữa bột nuôi trẻ cũng khan hiếm. Ba phần tư dân Mỹ nghĩ rằng đất nước đang đi xuống.

Cứ tình hình này, đảng Cộng Hòa chiếm lợi thế tuyệt đối; nếu dân Mỹ chỉ nghĩ đến đời sống thực tế khi bỏ phiếu.

Nhưng chưa ai biết chắc. Mọi người còn chờ coi cựu Tổng thống Donald Trump sắp làm gì. Ông có thể tái xuất trước công chúng, tuyên bố sẽ tranh cử lần nữa năm 2024. Cái tên và hình ảnh ông Trump sẽ trở thành tin thời sự lớn nhất, như ý ông vẫn muốn.

Ông Donald Trump có thể sẽ giữ kín quyết định sẽ tái tranh cử hay không. Xưa nay chưa có ứng cử viên tổng thống nào chính thức công bố ý định tranh cử sớm hơn 2 năm. Vì càng tranh cử lâu thì càng dễ lộ các nhược điểm; và nhiệt tình của những người ủng hộ sẽ lạt dần theo thời gian. Nếu ông Trump đã quyết định sẽ không tranh cử năm 2022, chắc chắn ông sẽ không nói cho ai biết. Giữ bí mật là giữ luôn được uy thế đối với đảng Cộng Hòa; các nhà chính trị ai cũng lo chiếm cảm tình của mình. Hơn nữa, còn triển vọng làm tổng thống thì nhiều người vẫn tiếp tục góp tiền vào quỹ tranh cử của ông. Ông mới phải xin tòa án cấm các ứng cử viên khác không được dùng tên ông để gây quỹ.

Nhưng giữ bí mật cũng có cái bất lợi. Là có thể khiến bị người ta dần dần quên mình, khi các người nuôi tham vọng làm tổng thống trong đảng Cộng Hòa vẫn tích cực hoạt động và ngày càng vận động mạnh hơn.

Có nhiều lý do khác khiến ông Trump không giữ bí mật nữa, nếu ông nuôi ý định trở lại Tòa Bạch Ốc.

Thứ nhất, cần ngăn chặn những người muốn giành vai trò ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa năm 2024. Phải chặn sớm trước khi uy tín của mấy người đó lên quá cao. Nhiều người không chính thức đi vận động, nhưng ai cũng biết họ muốn ứng cử tổng thống trong hai năm nữa: Cựu phó Tổng thống Mike Pence, cựu bộ trưởng Mike Pompeo, các Nghị sĩ Josh Hawley, Ted Cruz, Ben Sasse, Tom Cotton, các thống đốc như Ron DeSantis ở Florida, Doug Ducey ở Arizona, vân vân.


Elizaveta Podshivalova (BBC World Service): “Nam tính độc hại” của Tổng thống Putin là lý do bùng phát chiến tranh Ukraine?

 Khi Thủ tướng Anh Boris Johnson bình luận rằng nếu Tổng thống Nga Validimir Putin là phụ nữ thì ông ta có lẽ đã không phát động cuộc chiến tranh Ukraine, điều này đã gây nên một cơn bão giận dữ tại Nga.

Điều này không gây ngạc nhiên, có lẽ trong bối cảnh Tổng thống Nga đã từ lâu cẩn trọng chau chuốt hình ảnh là người “đàn ông đích thực”. Một số nhà phân tích nói với BBC Tiếng Nga rằng tính gia trưởng và phô diễn sức mạnh đàn ông vẫn rất có sức ảnh hưởng trong thiết chế cai trị tại Nga và góp phần trong sự ủng hộ rộng rãi đối với cuộc xâm lược Ukraine.

"Nếu Putin là phụ nữ, rõ ràng ông ta không phải, nhưng nếu ông ta là thế, tôi thật sự không nghĩ rằng ông ta sẽ tham gia vào một cuộc chiến tranh điên cuồng, vũ phu theo cách của mình," ông Boris Johnson nói vào tháng Sáu.

"Nếu bạn muốn một ví dụ, một ví dụ hoàn hảo về nam tính độc hại, thì đó là cách ông ta đang thực hiện tại Ukraine."

Lời ông Johnson sau đó đã được Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace hưởng ứng, nói rằng "hội chứng người thấp nhỏ" (small man syndrome) và quan điểm "vũ phu" về thế giới của Putin đã gây nên chiến tranh.

Theo sau đó, Đại sứ Anh tại Nga đã được Bộ Ngoại giao Nga triệu tập và bị chỉ trích vì "những phát biểu thô lỗ không kiêng nể của giới lãnh đạo Anh".

Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói rằng ông Johnson nên gặp nhà thần kinh học người Áo Sigmund Freud (1856-1939), người đã khai sinh bộ môn phân tâm học.

Chính Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng đã rao giảng về "sự tàn bạo" của bà Margaret Thatcher - Thủ tướng Anh từ năm 1979 đến 1990.

Có phải ông Boris Johson gây tức giận, khiến giới chức Nga phải đáp trả gay gắt như vậy?


Một người “đàn ông đích thực” và kẻ thù “ẻo lả”

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Nga Vladimir Putin luôn cho thế giới thấy về sức mạnh thể chất và sự dũng cảm của mình.


Trần Mộng Tú: Gửi Một Người Bỏ Đi

Tưởng Niệm Nhà Văn Bùi Bích Hà  

(1938 - 2021)

Nhân ngày giỗ đầu của nhà văn, 14 tháng 7 năm 2022


Bùi Bích Hà và Trần Mộng Tú
(Bùi Bích Hà - Mất một năm)


Một năm rồi đấy, thời gian đi nhanh lắm, 

nhất là với những người chịu cảnh mất nhau trong đời sống. 

Em không thể nghĩ ra cả năm nay chúng ta không gọi nhau, không nghe thấy tiếng nhau, không gửi tin nhắn cho nhau. Chuyện này quả thật quá khó khăn cho cả chị và em. 

Chị bây giờ chỉ là “hồn sương bóng quế” 

còn em vẫn đặt trong đầu những câu hỏi “Tại sao” rất ngu ngơ. Cuối cùng chỉ là những giọt lệ rơi xuống ly cà phê buổi sáng, 

giọt nước mắt trên lưng bàn tay mỗi lần đi bộ buổi chiều, 

là khoảng trống mênh mông mỗi lần đứng trên sân thượng nhìn xuống cái hồ trước nhà.

Em nhớ chị nhiều lắm và em hồn nhiên tin là dù ở nơi đâu chị cũng rất nhớ em.



Nhật Nguyệt


Người đi không hề quay đầu lại

Gió thổi lá vàng bay thật xa

Mình tôi trơ vơ quãng đường vắng

nhật, nguyệt nào đứng giữa hai ta.



Chênh Vênh


Một năm không gặp mặt

Một năm không gọi tên

Một năm thư không nhắn

Chênh vênh giữa nhớ quên.



Chiều Ơi!


Bước từng bước từng bước

Buổi chiều, buổi chiều ơi!

Tiếng ai cười khúc khích

Ngoảnh đầu chiếc lá rơi.


Nằm Mơ


Gặp nhau ở trong mơ

Hai ta cùng tay nắm

Bước ra khỏi giấc mơ

Em nắm lấy tay mình.



Vũng Nước Buồn


Hôm đó chị bỏ đi

Em ngỡ chị quay lại

Nào ngờ chị như mưa

Để lại vũng nước buồn.




Hoa Mộc Liên


Tháng bẩy hoa Mộc Liên

Nở thơm dưới mái nhà

Chị không còn gọi nữa

Để chia mùi hương xa


Em không còn gọi nữa

Rụng rồi…một đóa hoa.



Tháng Bảy


Tháng Bảy ai ngồi nhớ ai

Câu thơ giọt lệ có dài như nhau

Tháng bẩy sợi tóc cũng đau

Lược nào gỡ được nỗi sầu chẻ hai

Tháng bẩy nắng cũng thở dài

Rụng bông hoa trắng rát vai áo người

Tháng bẩy đi tìm tiếng cười

Nghe trong viên sỏi tiếng cười vỡ tan.



Áo và Thơ


Chiếc áo em tặng chị

Ai đang mặc bây giờ

Có cho tay vào túi

Tìm ra được bài Thơ


Bài Thơ gửi hôm đó

Chị đã kịp đọc chưa

Hay vẫn còn trong túi

Áo đã bị đem cho


Áo trên vai người lạ

Hơi chị còn vương hương

Bài Thơ chắc đang khóc

Khói nhang nào còn thơm


Bài Thơ và chiếc áo

Đã bị lấy đi xa

Nhưng trên ngực của chị

Thơ cài một nhánh hoa.


tmt     -         Tháng 7-14-2022





Bùi Bích Hà: Sách Có Linh Hồn Không?

Sinh trưởng ở thành phố Huế cổ kính, những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, chúng tôi chịu một nền giáo dục hết sức nghiêm khắc của gia đình. Cha mẹ và cả các anh chị, kiểm soát con em rất chặt chẽ về cả hai phương diện hành vi và tư tưởng.

Người lớn rất sợ chúng tôi tiêm nhiễm những điều chất chứa trong nội dung các cuốn sách, nặng nhất là sách truyện hay tiểu thuyết. Bàn học của chúng tôi không có sách nào khác ngoài tập vở liên quan đến chương trình học ở nhà trường.

Vài bạn may mắn được gia đình chăm sóc kỹ thì có mấy cuốn sách hồng mỏng tang nêu cao gương đạo đức cho tuổi thiếu niên. Phần tôi, người vô tình gợi ý cho tôi tò mò muốn đọc sách từ tuổi lên bảy là chị cả của tôi.

Bố mẹ tôi vì công việc, thường vắng nhà. Khác với tôi bị một chị và một anh trên mình canh gác và trừng phạt thay bố mẹ, chị không bị ai giám sát cả nên chị tự do đọc bất cứ sách gì chị muốn.

Tôi còn nhớ như in cảnh những buổi trưa mùa hè gió hây hây mát, chị ngồi dựa lưng trên cái ghế xích đu đặt ở mé hiên thấp thoáng nắng từ cái giàn thiên lý lá xanh như ngọc, quyển sách úp hờ hững trên ngực, hai mắt chị lim dim, khuôn mặt chị đằm đằm nét dịu dàng thỏa thuê của một bông hoa hé cánh.

Chị ngưng đọc từng lúc như thế khiến tôi thầm đoán chắc chị đang ôn lại những gì chị vừa thấy mô tả qua mấy trang sách chị cầm trên tay.

Điều này kích thích trí tưởng tượng non nớt của tôi, khiến tôi liều giấu một cuốn của chị trên cái hộp nước trong bồn cầu để tôi có chỗ đọc nó.

Dần dần, bằng cách này, tôi đọc được nhiều sách lắm, của Dương thị Hạnh [1], Hoàng Ngọc Phách, Lê văn Trương, Phạm Cao Củng…, nhiều nhất là của Tự Lực Văn Đoàn. Có những cuốn đối thoại giữa các nhân vật rất hay và tôi bắt chước họ bằng cách một mình lần lượt đóng mấy vai, một mình đối đáp qua lại, làm đủ cử chỉ như sách mô tả đằng sau cánh cửa phòng vệ sinh tôi đã chốt kỹ. Sau này lớn lên, ăn nói trôi chảy, khẩu khiếu của tôi chắc từ đây mà ra.

Lê Hữu: Xem tranh, nhớ người

(Ảnh: LH)

 “Nhìn bức tranh này lại nhớ chị Hà.”

Thỉnh thoảng vợ tôi vẫn lặp lại câu ấy khi ngước nhìn tấm tranh treo ở phòng ăn. Những lúc ấy tôi chỉ gật gù tỏ sự đồng tình chứ không ngoái nhìn bức tranh hay có ý kiến gì thêm, chỉ vì tranh ấy quá quen mắt rồi.

Bức tranh khổ 14”x18”. Một người bạn tôi nói đấy là bức ảnh hơn là bức tranh. Tôi thì vẫn quen gọi là tranh và cũng không nhớ được ở đâu tôi có bức tranh hay ảnh này. Nếu có nhớ là nhớ tôi bắt gặp nó trong “bộ ảnh sưu tập” online của mình, thấy hay hay bèn nhờ tiệm Office Depot in ra và mang về treo nơi góc khuất ở phòng ăn. 

Bức tranh cũng chẳng có gì đặc biệt cho lắm. Dăm bảy khách bộ hành tay cầm những chiếc dù đủ màu sắc bước đi vội vã dưới cơn mưa nặng hạt dọc theo vách tường một building trên đường phố nào. Những mảng màu xám tối. Những giọt mưa đan chéo nhìn thấy được và hè phố loang loáng nước. “Điểm nhấn” trong tranh là người phụ nữ mặc áo khoác màu đỏ nép vào vai người đàn ông cầm chiếc dù cũng màu đỏ che mưa cho cô. Sáng sáng, vừa ngồi nhâm nhi tách cà-phê vừa nhìn ngắm bâng quơ bức tranh mưa lẫn trong tiếng nhạc lãng đãng từ Youtube những bài rainy soft jazz không lời, cũng khá thư giãn và cũng… đỡ buồn. 

Có điều, chuyện sở thích và gout thẩm mỹ không phải ai cũng giống như ai.

“Bộ không còn tranh nào khác hay sao mà anh treo tranh này vậy,” vợ tôi lên tiếng, “trông tối tăm, ảm đạm  quá.”

“Cảnh trời mưa thì làm sao mà sáng sủa được,” tôi trả lời cho qua chuyện.

Không riêng gì nàng, những bạn bè tôi cũng chẳng ai ngó ngàng gì đến tranh ấy. Chỉ có một lần, bức tranh được chị Tú chiếu cố. Ngắm nghía một lúc, chị đặt tên tranh là “Seattle”.


Bùi Bích Hà: Mai tôi về Huế

Tôi xa Huế đã lâu. Lâu lắm. Lẽ ra đã quên nhiều thứ. Nhưng không. Cả BĐ. Tôi nghĩ chị cũng đã quên, hóa ra chị vẫn nhớ. Chị viết cho N. hôm qua, kể lại: “Đám cưới BH, bạn bè chỉ có một mình BĐ đến rồi BH bỏ Huế mà đi. Có người than thở: Sao lấy chồng xa?”

Người than thở ấy nay cũng đã bỏ Huế. Đã đi thật xa. Xa đến nỗi không thể nào quay về. Bỗng dưng từ nơi mịt mùng, lặng lẽ, N. thình lình viết cho tôi: “Mình có một công việc mới. Mai về Huế. Sẽ ghé thăm BĐ.”

Một chỗ nào đó trong tôi, đã đau đớn, đã âm ỷ, đã tê dại, đã dường như chết. Đã để yên, đã chôn sâu ở một nơi thật khuất lấp những gì trôi xa tầm với. Những gì đã chia tay biết không còn lần gặp lại. Có câu hát của ai đó ghi khắc vào trí nhớ tôi, và một loài hoa chợt hé ... Thỉnh thoảng, kỷ niệm những ngày vui xưa khẽ rung trong hồn như một hồi chuông thất lạc, một thoáng gió mơ hồ lay lắt chút dư hương. Nhưng không. Không chỉ có thế. Những củ tulip, những củ glailleul vẫn ngủ vùi trong thửa đất tưởng đã hết màu mỡ.

Sáng nay, vài chữ ngắn ngủi của N. “Mai tôi về Huế,” như đất chuồi ở một ven sông cát lở, cuốn tôi vào dòng cuồng lưu giữa mùa khô hạn. Tôi bưng mặt, nước mắt đầm đìa tuôn đổ từ hai hố mắt nhức nhối. Nỗi tuyệt vọng khốn cùng đau buốt vòm họng, lan xuống ngực, làm tôi nghẹn thở, mũi đặc cứng.

Bùi Bích Hà và Trần Viết Ngạc
Mai tôi về Huế. Bốn chữ đơn giản ấy, từ bao giờ, đã trở thành điều mơ ước cấm kỵ nhất mà tôi muốn quên đi, muốn van xin đừng ai nhắc hay nói với tôi một lần nào nữa?

BĐ và tôi có hai năm ngồi bên nhau ở trường Đại học Sư phạm và Văn Khoa Huế. Chúng tôi hiểu nhau nhiều hơn chuyện trò, giữ của nhau khoảng đời đẹp nhất, thương quý nhau dẫu chưa bao giờ bày tỏ. Khi chia tay buổi tối tôi về nhà chồng, lòng tôi dửng dưng, lạnh lẽo, không hề biết từ nay khó có lần gặp lại. Quà cưới chị tặng tôi là đĩa nhạc Ai lên xứ hoa đào. “Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa...” Tiếc thay, tôi không có cành hoa nào cho chị từ ngày bước chân vào cuộc đời làm vợ trong cuộc sống xa Huế khô héo của tôi.

Sau tôi, nhiều bạn bè khác cũng đã lần lượt bỏ Huế mà đi nhưng chị vẫn ở Huế, sống qua Mậu Thân và mọi thăng trầm của Huế hơn nửa thế kỷ.


Giáo sư Trần Viết Ngạc: Quyển sách về thân phụ của Bùi Bích Hà

  

Đó là cuốn “BÙI HUY TÍN với Thực Nghiệp Dân Báo và Tràng An Báo” do Giáo sư Sử học Trần Viết Ngạc biên soạn và sẽ do con cháu của gia đình ông Bùi Huy Tín xuất bản trong năm 2022 này. 

Nhà văn Bùi Bích Hà là con gái út của ông Bùi Huy Tín.

Giáo sư Trần Viết Ngạc đã gửi cho chúng tôi Chương Một của cuốn sách này để đóng góp cho số Tưởng Niệm Bùi Bích Hà hôm nay.

DĐTK

 

*

Chương I

Thân thế và sự nghiệp

Những năm đầu thập niên 80, thế kỷ XIX, trong một trận càn ở vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) một đại úy quân đội viễn chinh bắt gặp một chú bé, thất lạc cha mẹ, trong ruộng mía.

“Thằng bé mất cha mẹ chạy giặc Pháp, loanh quanh qua những ruộng mía cao gấp mấy lần, nó được một ông đại úy đoàn quân xâm lược bắt về nuôi vì thấy nó khôi ngô, lĩnh ngọ. Mãn hạn, ông về nước, giao lại cho một đồng ngữ kế nhiệm. Thêm mấy năm nữa, thằng bé khoảng 12, 13 tuổi, thì ông này mãn hạn, khác với ông trước, ông này quyết định làm giấy tờ nhận nó làm con nuôi và mang nó theo về Pháp cho ăn học.

Sáng sớm tàu nhổ neo, thằng bé lẻn trốn lên bờ, ở lại”. [1]

Thằng bé ở lại quê hương, nơi mà bố mẹ cậu “nghe kể lại”, đã chiến đấu và hy sinh trong trận càn, dưới ngọn cờ kháng chiến của “quan Đề”. Quan Đề tên gì?

Vì cậu quá nhỏ, cậu chỉ biết có thế.

Cậu thiếu niên đó chính là danh nhân Bùi Huy Tín (1875-1963) sau này.

Ông sinh ở Hà Nội, nhưng quê quán là làng Thượng Tầm, tổng Thượng Tầm, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình.


Song Chi: Khi nhiều thứ đã quên đi, vẫn còn lại những mùi hương

Bạn có nhận ra là ở xứ lạnh thường ít mùi hơn xứ nóng? Nhất là ở những nơi dân cư thưa thớt, một năm có đến 4, 5, thậm chí 6 tháng có tuyết như mấy xứ Bắc Âu. Những ngày tuyết trắng trời trắng đất, chung quanh toàn một màu trắng, buổi sáng đi ra đường không khí sạch, tinh khiết lạ lùng, hít một hơi vào phổi cả người tỉnh táo, bốc một nắm tuyết cho vào miệng lạnh tê lưỡi, nhai rạo rạo như đang ăn kem vậy. Ngon. Sạch. Nhưng chính vì sạch quá, lạnh quá mà chung quanh chả có mùi gì. Đêm đi đâu về khuya, tuyết dưới chân và con đường trước mặt trắng sáng dưới ánh đèn đường, mọi vật im phăng phắc, một sự tĩnh lặng không mùi vị. 

Ngược lại với xứ nóng. 

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng, kýức hay hồi ức gắn liền với mùi hương sẽ được lưu giữ trong bộ não lâu hơn hẳn ký ức, hồi ức hình ảnh. 

Tôi còn nhớ một bộ phim xem đã lâu, có tên “The Past” (Quá khứ), một bộ phim do Iran, Pháp, Ý phối hợp sản xuất năm  2013, của đạo diễn nổi tiếng người Iran Asghar Farhadi. Trong cảnh cuối cùng nhân vật nam, Samir đến thăm vợ mình trong bệnh viện. Người vợ bị hôn mê sâu đã một thời gian dài sau một lần cố gắng tự tử, nguyên nhân là vì phát hiện chồng ngoại tình. Samir mang theo một loạt các loại nước hoa theo đề nghị của bác sĩ là vợ anh có thể có phản ứng. Anh xịt lên cổ một ít nước hoa, loại nước hoa mà vợ anh thích nhất, và nghiêng người trên người cô đang nằm hôn mê trên giường bệnh. Anh thì thầm bảo cô siết chặt tay anh nếu cô có thể ngửi thấy. Và rồi khán giả có thể nhìn thấy một giọt nước mắt lăn dài trên gò má của cô nhưng cô vẫn hôn mê, và anh nhìn xuống bàn tay của cô. Bộ phim kết thúc mà không rõ cuối cùng liệu cô có đáp lại hay không. 

Đó cũng là điều mà nhiều bác sĩ khuyên người nhà của những bệnh nhân bị hôn mê sâu, ngoài việc hàng ngày tiếp tục trò chuyện, cho người đang hôn mê nghe nhạc, thì việc sử dụng những mùi hương gợi lên những ký ức mãnh liệt nhất, riêng tư nhất, có thể giúp người bị hôn mê có phản ứng và dần dần hồi phục lại.


Song Thao: Bún Chả Hà Nội

 

Ông Obama đã đánh cắp cái tên”bún chả Hà Nội”. Từ ngày ông ngồi trên chiếc ghế nhựa xanh thấp lè tè, không có lưng, trong một quán ăn bình dân ở Hà Nội để trình diễn màn ăn bún chả Hà Nội cùng ông đầu bếp lừng danh Anthony Bourdain thì thiên hạ gọi món ăn có hàng trăm năm tuổi của đất kinh kỳ là “bún chả Obama”. Bún chả đã mất tên. Tôi thường hay hóa giải nỗi nhớ Sài Gòn bằng cách vào coi trong YouTube những video quay cảnh đường xá của thành phố cũng đã mất tên và đã thấy một tiệm ăn to đùng mang bảng hiệu cũng to đùng nằm kín phía trước tiệm cái tên: “Bún Chả Obama”. Nhìn vào tên, thực khách nào cũng hiểu đó là tiệm bán bún chả Hà Nội. Cái tên mới phổ thông tới nỗi tôi cũng đã nhiều lần dùng với bạn bè rủ đi ăn cái món tôi yêu thích. Tiệm Liên Hương ở phố Lê văn Hưu, Hà Nội, nơi có cái hân hạnh đón bước chân của người quyền lực nhất thế giới tới ăn vào tối ngày 23/5/2016, đã giữ lại trong một tủ kính cả bộ bàn ghế, bát đĩa, chai bia, đôi đũa của “ngài ngự” như cố ý nhắc nhớ tới cái ngày “lịch sử”  đó. Nói với phóng viên đài BBC, bà chủ tiệm Nguyễn Thị Hằng Nga hãnh diện: “Khách hàng của chúng tôi rất thích, họ chụp nhiều ảnh cạnh cái bàn này. Đối với chúng tôi, đây là một kỷ niệm đẹp mà chúng tôi sẽ trân trọng mãi mãi. Đây không phải là một chiêu quảng cáo. Tôi không nghĩ chúng tôi sẽ có nhiều khách hàng hơn. Tủ kính này làm xong trước tết và tôi chưa


Sách Mới: Sống Và Viết Ở Hải Ngoại, hồi ký của Nguyễn Hưng Quốc

Cuốn Chí Phèo, thật ra, là hồi ký của một gã nông dân bị tha hoá trong một xã hội thối nát. Nam Cao chỉ là người chấp bút. Tôi không cần ai viết giùm. Tôi có thể tự viết. Viết, ở đây, là việc làm hoàn toàn có tính cá nhân, một tiếng nói của cái tầm thường. Tôi tưởng tượng: Một ngày nào đó, tâm hồn thật thanh thản, hết những tranh chấp trong/ngoài, quốc/cộng, người ta sẽ nhìn lại mấy chục năm văn học hải ngoại. Sau khi đọc những bài thơ hay, những cuốn tiểu thuyết lớn, hẳn có lúc người ta sẽ nảy chút tò mò muốn tìm hiểu những cái tầm thường chung quanh đời sống văn học: Lúc ấy cuốn sách này sẽ lên tiếng. 

Trong lãnh vực văn học, mọi nỗ lực khái quát hoá và phạm trù hoá đều trở thành bất cập. Với văn học lưu vong, vốn nằm trên những biên giới, chịu nhiều tác động từ bên ngoài, lại càng dễ bất cập. Ở đó, mọi tự sự đều là những tiểu tự sự. Những tiểu tự sự ấy lại phân tán. Như những tia nước bắn tung toé, không tụ lại thành dòng. Để tìm hiểu, người ta phải nhặt nhạnh từng giọt. Từng giọt.

Từng cái tôi lửng lơ.

Những cái tôi lửng lơ ấy thường im lặng. Giới cầm bút Việt Nam ít viết hồi ký. Ở hải ngoại càng ít viết. Cuốn sách này được viết với một tham vọng duy nhất: Ghi lại những cái tầm thường nhất trong đời sống văn học, từ chuyện làm báo đến viết sách, từ chuyện nhuận bút đến tiền bản quyền cho các cuốn sách tiếng Việt và tiếng Anh. Quan trọng nhất, nó ghi lại những thao thức và trăn trở, thường nhuốm vị ngậm ngùi, của một cây bút sống và viết ở một nơi xa lắc ngoài quê hương.


Sự ngậm ngùi bàng bạc trong cả cuốn sách, nhưng không chừng rõ nhất là ở đoạn kết: 


“Phần tôi, mặc dù sống ở ngoại quốc đã gần 40 năm, vẫn chủ yếu viết bằng tiếng Việt. Tiếng Việt là quê hương của tôi. Các thứ tiếng khác chỉ là những cõi lưu đày, ở đó, tôi không có quá khứ, cũng không có họ hàng. Tiếng Việt còn là thân thể của tôi. Khác với tất cả các ngôn ngữ khác mà tôi biết, cảm xúc của tôi đối với tiếng Việt, và chỉ với tiếng Việt, là những cảm giác mang tính vật lý, thậm chí, nhục thể để tôi có thể run lên với chữ, phập phồng thở với từng thanh bằng thanh trắc. Viết tiếng Việt, với tôi, là tham gia vào một cuộc giao hoan. Lặng lẽ và cô độc.”


Nguyễn Hưng Quốc


***

Sách do Lotus Media xuất bản và phát hành toàn cầu trên Amazon.com


https://www.amazon.com/S%E1%BB%90ng-Vi%E1%BA%BEt-H%E1%BA%A2i-Ngo%E1%BA%A0i-Vietnamese/dp/108805076X/ref=sr_1_21?crid=DM8DMJQSNTKO&keywords=nguyen+hung+quoc&qid=1657805315&s=books&sprefix=nguyen+hung+quoc%2Caps%2C366&sr=1-21