Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2022

Ngô Nhân Dụng: Cuộc chiến tranh ngầm giữa Nga với Mỹ

Mỹ với Nga đang tham dự một cuộc chiến, nhưng cả hai bên đều không thừa nhận. Vladimir Putin và Joe Biden đều giả bộ như không có gì; vì quân đội hai nước chưa công khai bắn nhau.

Ông Vladimir Putin có nói rằng khi NATO gửi vũ khí giúp Ukraine tức là gây chiến với Nga. Ông dọa sẽ có hậu quả nghiêm trọng. Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói bóng gió đến Đại chiến Thứ Ba, đến bom nguyên tử, nhưng ai cũng hiểu đó là những lời nói suông. Ông Putin vẫn bán dầu lửa và khí đốt nếu có nước nào hỏi mua. Ba Lan đã gửi cho Ukraine cả máy bay và thiết giáp do Nga cung cấp thời còn chế độ cộng sản. Nga ngưng bán khí đốt, đe dọa, nhưng vẫn không dám đánh thẳng vào các địa điểm chuyển giao vũ khí các nước NATO cho Ukraine, nằm sát biên thùy Ba Lan.

Về phần Joe Biden, ông đã gọi ông Putin là một “tên sát nhân,” một “tội phạm chiến tranh,” rồi nâng lên hàng “đồ tể;” còn nói thẳng không nên để ông Putin ngồi yên nắm quyền. Nói như thế còn nặng nề hơn công khai tuyên chiến. Ví thử ông Biden tặng ông Tập Cận Bình những danh hiệu tương tự thì chắc Trung Cộng đã tuyệt giao với Mỹ và cho quân đội chuẩn bị sẵn sàng lâm chiến. Nhưng ông Putin chứng ông tỏ có một lớp da rất dầy, vẫn im lặng.

Khi một nước tấn công một nước khác, thì phải coi tất cả những ai giúp quân đối địch với mình là kẻ thù. Không đối đầu trong chiến tranh trực tiếp; nhưng nếu anh giúp một nước đang đánh nhau với tôi tức là anh đánh tôi. Trên thế giới ai cũng phải hiểu như vậy.

Hai phe đang tham dự một cuộc chơi “hiểu ngầm.” Joe Biden không dám công khai nói rằng mình đang đánh Nga. Vladimir Putin không dám nói rằng mình đang bị đánh.

Ngoại trưởng Nga Lavrov tố cáo các nước Tây phương đang “sử dụng” người Ukraine để đánh Nga. Nhưng ai cũng biết rằng quân Ukraine không tấn công nước Nga, họ chỉ tự vệ. Cho nên lời kết án đó vô nghĩa, không căn cứ.

Nga với Anh quốc cũng đang dự một “cuộc chiến giả bộ,” bên ngoài nói vậy mà bên trong không phải vậy. Bộ trưởng Quốc phòng Anh nói rằng quân Ukraine có thể đánh vào các địa điểm trong nước Nga, dùng vũ khí do nước Anh viện trợ, đó là một thẩm quyền chính đáng. Sau đó nhân viên bộ Quốc phòng Anh phải “nói rõ hơn,” rằng nước Anh không can dự vào việc quân Ukraine chọn đánh chỗ nào. Nhưng minh xác như vậy cũng chỉ để tiếp tục “giả bộ” mà không nói thêm được gì cả.


Trần Doãn Nho: Tháng Tư, nói chuyện tị nạn

Không có tị nạn hòa bình; chỉ có tị nạn chiến tranh.

Không có “tị nạn tư bản” hay “tị nạn dân chủ”; chỉ có “tị nạn cộng sản”.

Một nước cộng sản là một nước xuất cảng người tị nạn. 

 

Lại tháng Tư!

Tị nạn này nhắc đến tị nạn kia! Ukraine 2022 chọc sâu vào vết thương 1975 Việt Nam.


Tháng 3, tháng 4/2022, cả nước Ukraine chạy! Từng đoàn rồi từng đoàn rồi từng đoàn đàn bà, người già, trẻ con nối đuôi nhau ngơ ngác, bơ vơ, bất kể ngày đêm, bất kể hiểm nguy, bỏ lại đàng sau tất cả để đi vào một nơi xa lạ. Đi cái đã. Miễn là thoát. Trước mặt thì mênh mông, vô danh, vô định, nhưng vẫn có chút ánh sáng còn hơn là ở lại quê nhà, một quê nhà thân yêu đột nhiên trở thành hiểm địa. Với tình hình không lối thoát hiện nay, những tháng, những năm trước mặt, có lẽ người Ukraine sẽ vẫn tiếp tục ra đi! Họ trốn chiến tranh, mà thực ra cũng là trốn một đất nước có thể bị Putin chiếm đoạt để biến một Ukraine dân chủ thành một chư hầu độc tài.


Tháng 3, tháng 4/1975, cả miền Nam ùn ùn “chạy”. Đi bộ, đi xe, đi thuyền, đi tàu, đi máy bay, đi, đi, đi, đi bất cứ đâu, miễn là thoát khỏi cộng sản. Chỗ nào bộ đội cộng sản tiến vào là chạy. Từ cao nguyên chạy về đồng bằng, từ bắc chạy vào nam, từ các tỉnh chạy về Sài Gòn. Mất Sài Gòn, lại tiếp tục chạy, từ đất liền  ra biển, từ Việt Nam chạy đến các nước khác. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày ấy, người Việt vẫn còn tìm cách chạy khỏi đất nước, dù kiểu chạy bây giờ có khác hơn xưa: du học, bảo lãnh, lấy vợ lấy chồng… 


Tị nạn này là bản sao của tị nạn kia. Chế độ ở quê nhà là “nạn”, nên đành phải “tị”: bỏ quê nhà, ra đi lánh nạn. 


Từ Thức: 30/4. Tại Sao, 47 Năm Sau, Vẫn Chưa Có Thay Đổi Tại V.N ?

30 tháng Tư. Đã đến lúc đặt câu hỏi nhức nhối: tại sao, 47 năm sau, vẫn chưa có thay đổi tại Việt Nam ? Tại sao thế giới đã biến đổi không ngừng, với một vận tốc chóng mặt, nhưng VN vẫn ù lì dẫm chân một chỗ, vẫn còn là một trong những nước hiếm hoi bám chặt, như đười ươi giữ ống, một chủ nghĩa đã bị nhân loại chối bỏ ?

1001 LÝ DO


Người ta đã nêu rất nhiều lý do, nhưng những lý do đưa ra có thực sự giải thích hiện tượng đáng buồn là chế độ Cộng Sản vẫn đứng vững ở VN ?


-Lý do lịch sử : VN là nạn nhân của chế độ thuộc địa, nhu cầu đòi độc lập, cuộc tranh đấu đòi tự do đã đẩy đất nước rơi vào quỹ đạo Cộng Sản quốc tế. Tệ hại hơn nữa, quỹ đạo Trung Cộng. Nhưng rất nhiều quốc gia đã là nạn nhân của chế độ thuộc địa, rất ít rơi vào rọ. Rất nhiều quốc gia đã bị chủ nghĩa CS cám dỗ lúc đầu, nhưng thức tỉnh kịp thời.


-Lý do địa lý: VN có cái bất hạnh là ở sát cạnh nước Tàu, nhưng VN không phải là trường hợp duy nhất. Trung Cộng giáp ranh với 14 quốc gia.


-Lý do chính trị: chế độ Cộng Sản tàn bạo, cai trị bằng khủng bố, cái sợ trở thành một bản năng để sống còn, một dân tộc tính; chính sách ngu dân, nhồi sọ của CS đã thành công trong nghĩa vụ biến người dân thành một đàn cừu.


Nhưng chế độ độc tài nào cũng tàn bạo, tàn bạo là một định nghĩa của độc tài. Điều đó đã không ngăn được các chế độ độc tài thi nhau sụp đổ. Chế độ Công Sản nào cũng cai trị bằng khủng bố, tẩy não, điều đó đã không ngăn được Xô Viết Nga tan rã, bức tường ô nhục Berlin sụp đổ, các nước Đông Âu tìm được tự do.


Katsuji Nakazawa: Sự tự tin của Tập vào hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị lung lay (Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng)


Hồi ký của một sĩ quan Nga trên soái hạm của Hạm đội Baltic thuộc Đế quốc Nga, chiếc Knyaz Suvorov, đã mô tả một cách sinh động hồi kết của con tàu trong Trận Tsushima.

Cuốn sách của Vladimir Semenoff, The Battle of Tsushima, tả lại cảnh ông đi về phía mũi tàu, chỉ để thấy rằng các tháp pháo cỡ nhỏ đã bị thổi bay hoàn toàn.

Trận chiến diễn ra ở Biển Nhật Bản vào ngày 27 và 28 tháng 05 năm 1905, chính thức kết thúc Chiến tranh Nga-Nhật.

Đảo Tsushima, một phần của tỉnh Nagasaki, vẫn mang những dấu ấn của trận hải chiến. Một bức phù điêu khổng lồ dựng trên một ngọn đồi, mô tả cảnh người chỉ huy bị thương của Hải đội Thái Bình Dương Thứ hai, Zinovy Rozhdestvensky, đang được Heihachiro Togo, Tổng tư lệnh Hạm đội Liên hợp của Nhật Bản, đến thăm tại một bệnh viện hải quân ở Sasebo.

Đó là một cảnh cảm động. Một giai thoại nổi tiếng khác được lưu truyền qua nhiều thế hệ là câu chuyện về những chiếc thuyền cứu sinh chở 143 thủy thủ bị thương của Hạm đội Baltic đến Tsushima sau khi giao tranh kết thúc. Các thủy thủ đã được cư dân trên đảo chào đón, được phép ở trong nhà của họ, và được các bác sĩ điều trị.

Vụ chìm tàu Moskva ở Biển Đen vào tuần trước là thiệt hại về soái hạm trong chiến tranh đầu tiên của Nga kể từ khi mất tàu Knyaz Suvorov.

Kể từ sau Thế chiến II, chỉ có duy nhất một vụ việc tương tự. ARA General Belgrano, một tàu tuần dương của hải quân Argentina, đã chìm trong Chiến tranh Falklands năm 1982, giữa Argentina và Vương quốc Anh.

Điều đáng chú ý là vụ chìm tàu Moskva có tác động không nhỏ đến suy nghĩ của các quan chức an ninh Trung Quốc.


Trần Mộng Tú: Tháng Tư Tôi Hòa Giải Với Mình

Hình minh hoạ, hungyentran88, Pixabay

Vâng, tôi ở đây  

nơi xa lạ này được 47 năm  

tôi đã đi qua những rừng thông  

xanh ngọc tới chân trời  

tôi đi qua những mảnh đất  

có thật nhiều hoa dại  

những vườn cỏ vàng như hoa cải ở quê tôi  

 

 47 năm những mái nhà lạ thành thân thiện  

như những ngón tay trên bàn tay  

bàn tay có bao nhiêu đường chỉ  

ngang dọc thế nào  

rồi cũng nối vào nhau  

 


Nguyễn Lê Hồng Hưng: Chuyện Tháng Tư

 Cái ấn tượng cuối cùng trước ngày tôi rời khỏi quê hương là vào tháng Ba âm lịch, nhằm tháng Tư dương lịch, năm một ngàn chín trăm bảy mươi sáu. Tháng Ba ở quê hương tôi là mùa gió chướng, cũng là mùa tôm, cá, nhưng nổi tiếng nhứt là mùa tôm bạc rại và mùa cá đường hội. Sau một năm sống dưới chánh quyền mới, dân chúng quê tôi khổ cực vô cùng, một phần vì thiếu dầu máy, một phần vì thanh niên ngư phủ trong xóm bị bắt đi làm thủy lợi hết, cho nên ghe cào, ghe te và các loại ghe lưới ở Sông Đốc Vàm cũng hạn chế ra bãi và ra khơi đánh bắt. 

Tôi cũng như bao thanh niên trong xóm đi đào đất đắp nghĩa trang ở Bạc Liêu. Khi tôi về tới Sông Đốc thì mùa tôm, cá đã qua rồi, theo ghe ra biển chỉ vớt vát được tôm, cá lặt vặt cuối mùa. Những năm đầu miền Nam rơi vào tay cộng sản, sông Đốc vàm bị thất mùa thê thảm, nhiều gia đình thiếu gạo ăn, phải vô rừng bắt vọp, bắt cua, chặt cây làm củi bán mua gạo sống cầm chừng. Đã vậy mà báo chí của nhà nước lại viết, tôi chỉ nhớ đại khái rằng, là nhờ cách mạng giải phóng, dân ngư được yên ổn mần ăn, cho nên ngày mùa ở Sông Đốc vàm xôn xao mùa cá đường hội và được trúng mùa tôm bạc rại. Dân chúng vùng ven hồ hởi, phấn khởi lắm. Trong những năm thiếu thời, tôi hay tò mò nhiều chuyện, cho nên mỗi khi đọc những bài báo như vậy, trong lòng tôi ray rứt và canh cánh buồn cho cái thời đại, mới bắt đầu mà đã dối trá rồi. Nên tôi hay chú ý tới thế sự đổi thay qua những chiếc loa công cộng với những câu, những chữ mới lạ tôi còn nhớ những khẩu hiệu, những từ như: “hồ hởi, phấn khởi, khắp nơi reo mừng, nhờ ơn bác đảng, áo ấm cơm no... Nhứt là một đoạn văn mở đầu của ban thông tin mỗi khi đọc: “Nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân thị tứ, lúc đó Sông Đốc còn là thị tứ, nói riêng đời đời nhớ ơn chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vâng lời bác Hồ dạy không có gì quý hơn độc lập tự do. Hình như ban thông tin văn hoá thấy lời bác dạy còn thiếu nên họ thêm hai câu nữa cho nó hợp với thời đại: “Quê hương nay giải phóng rồi, người dân làm chủ cuộc đời từ đây.”. Chắc họ đắc ý với đoạn văn mở đầu này lắm, cho nên ngày nào cũng nghe mấy cái loa bự tổ chảng, treo theo mấy cái cột cắm từ khu một tới khu ba, sáng nào cũng cứ ra rả đọc đi đọc lại cho tới ngày tôi vượt biển vẫn còn đọc. Có lẽ cũng vì sáng bảnh mắt đã nghe cho tới tối, trước khi ngủ vẫn còn nghe nên nó ăn sâu vào lòng tôi cái đoạn mở đầu “hay quá xá” ấy cho tới ngày hôm nay tôi vẫn nhớ. 


Trần Hữu Thục: Tính hiện thực trong lời ca của Phạm Duy

So với nhiều nhạc sĩ Việt Nam, hai nhạc sĩ Phạm Duy (PD) và Trịnh Công Sơn (TCS) [1] có một chỗ đứng tương đối riêng biệt. Chỗ đứng này không hẳn xuất phát từ tài năng về âm nhạc, mà từ một chỗ khác: lời ca. Lời ca của hầu hết các nhạc sĩ đều đòi hỏi một sự cộng hưởng với nhạc. Có thể gọi chúng là những "lời nhạc", lời chỉ để hát. Phần lớn các lời ca - kể cả lời ca mượt mà, đậm chất thơ của Ðoàn Chuẩn/Từ Linh - đều khó có thể đứng vững nếu thiếu sự nâng đỡ của tiết tấu bản nhạc. Ngược lại, lời ca của PD và TCS có thể tách riêng khỏi nhạc, tự tồn tại một mình. Ngoài giá trị về "lời nhạc" (lời để hát), chúng có thể được nghiên cứu như những văn bản về mặt văn học. Nghĩa là, người ta vẫn có thể nghiên cứu chúng một cách riêng biệt mà không cần lưu tâm đến nhạc. Do vậy mà hầu hết những số báo đặc biệt hoặc những bài viết về PD hay TCS, ngoài một số đánh giá thuần túy về phương diện âm nhạc, đều được viết dưới dạng phê bình hay nhận định văn học.

Rõ ràng là khi sáng tác, PD cũng như TCS quan tâm đến tính diễn tả của lời y như nhạc. Lời không chỉ hiện diện như cái cớ, như phương tiện. Ðọc hầu hết các lời ca của PD, ta thấy rất rõ điều này, từ ca khúc quê hương cho đến tình ca, đạo ca, tâm ca, tục ca, vân vân. Tất nhiên, tiết tấu phong phú trong nhiều bản nhạc của ông đã phát triển ý nghĩa của lời lên đến mức cao nhất, điều mà tự ngôn ngữ để đọc không đủ sức làm. Nhưng cũng phải thừa nhận trong nhiều bản nhạc, chính lời ca của ông đã nâng bài hát lên, khiến cho bản nhạc có một giá trị cao hơn hẳn chính nó. "Tình ca" chẳng hạn. "Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!". Từ lâu trước đó, có lẽ cũng chẳng mấy ai tìm thấy trong "tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi" lại có thể gắn liền với tình yêu nước nồng nàn trong mỗi một người như thế. Cũng như Phạm Quỳnh vào đầu thế kỷ thứ 20, "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta cònnước ta còn”, PD cho ta một định nghĩa mới về sự tồn tại của một đất nước: nó bắt đầu từ một chỗ đơn giản nhất mà cũng bền vững nhất: ngôn ngữ mẹ đẻ. Có lẽ chỉ khi nói đến ngôn ngữ, ta mới có thể nói đến khái niệm "bốn ngàn năm" mà từ lâu đôi khi nói bằng quán tính, nó đã trở thành sáo ngữ (chẳng hạn "bốn ngàn năm văn hiến", "lịch sử bốn ngàn năm"...). Hơn ai hết, khi định cư ở một xứ sở xa lạ như bây giờ, ta mới thấm thía rằng, khó mà truyền đạt tấm lòng đối với đất nước cho một đứa bé nếu cháu chẳng nói được một câu tiếng Việt nào. Nói thông thạo tiếng Mỹ và bập bẹ tiếng Việt thì không thể nào mà hiểu hết nổi cái "ròng rã buồn vui" của “mệnh nước nổi trôi"! Ý nghĩa và cách dùng chữ độc đáo của ông đã tạo một hình ảnh hoàn toàn mới mẻ về quê hương và lịch sử dân tộc. 


Phạm Xuân Đài: Bài Thuyết Trình Không Đọc

 Một phần của bài dưới đây được tác giả soạn để nói tại buổi sinh hoạt “Đêm nhớ về Sài Gòn,” một chương trình có chủ đề Sài Gòn do một số  anh em văn nghệ ở Boston dự trù tổ chức vào ngày 6 tháng Mười Hai, 2003,  nhưng vào giờ chót phải hủy bỏ vì một trận bão tuyết bất ngờ. Cũng vì trận bão, tác giả đã phải quay trở về lại California sau khi đã đi được quá nửa đường đến Boston.

*

 

Ý  định hát về Sài Gòn, viết về Sài Gòn, nói về Sài Gòn tự nhiên nảy ra cùng một lúc nơi nhiều người làm văn nghệ. Riêng tạp chí Thế Kỷ 21 thì gần đây đã được một độc giả ở Chicago viết thư về trách sao quý vị không làm một số báo về Sài Gòn mà lại làm số báo về Hà Nội.  Bức thư ấy làm chúng tôi giật mình, mới thấy ra sự vô tình của mình đối với một thành phố mà mình quá nặng nợ. Đúng thế, Sài Gòn đối với chúng ta như một kẻ rất thân yêu và  gần gũi, đến nỗi chúng ta thấy không cần nhắc nhở đến, kiểu như con cái thì không hay nói nhiều về cha mẹ của mình, mà chỉ nói về thiên hạ.

 

Đường phố Sài Gòn thời 1960

  
Từ đầu thế kỷ 20, Sài Gòn đã là một nỗi quyến rũ người cả nước. Đó là một đô thị văn minh đích thực trước bất cứ một thành phố nào của Việt Nam. Tổ chức đô thị có những quy luật riêng của nó, không cứ hễ dồn dân lại ở đông đúc một nơi mà có thể gọi là đô thị. Hà Nội chưa hề có một nếp sống đô thị, yếu tố nông thôn, yếu tố tùy tiện hãy còn đầy rẫy nơi ấy. Các thành phố khác của Việt Nam thì đều có kích thước nhỏ. Chỉ có Sài Gòn, nhờ vị thế đặc biệt về địa lý và lịch sử của nó, đã rất sớm xứng đáng gọi là một đô thị đúng nghĩa của Việt Nam.

 

Vài nét lịch sử


Năm 1998 vừa qua, Sài Gòn tròn 300 tuổi. Năm 1698 lần đầu tiên địa danh Sài Côn được ghi vào bản đồ hành chánh xứ Đàng Trong nước Đại Việt khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính, tức Nguyễn Hữu Cảnh, thừa lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu đặt nền cai trị trực tiếp phần đất Nam Tiến, phân chia  lãnh thổ Đồng Nai – Gia Định thành hai dinh trấn: Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Định), lấy đất Nông Nại (Đồng Nai) làm huyện Phước Long và xứ  Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình.


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: TV Ở Ta & TV Ở Nga

 Nước Việt không thiếu những thằng rách việc, và nhiều đứa đã bị vạch mặt chỉ tên: thằng đánh máy, thằng cơ chế, thằng sứ quán …. Nước Nga, xem ra, cũng không khác mấy. Một trong những thằng rách việc ở xứ sở này vừa bị lộ diện, và bị ném đá tơi bời hoa lá:

  • VQuang Boabo: “Tuy mạnh yếu khác nhau xong phụ bếp thời nào cũng nguy hiểm.”

  • Huynh Nguyen: “Rất chán... tụi kg có chiên môn mà đu lên tàu làm phụ bếp!”

  • Phương Trần: “Mấy thằng phụ bếp là mấy thằng ăn hại - làm khổ người khác đặc biệt là anh em.”  

  • Nguyễn Lân Thắng: “Những thằng phụ bếp trên tàu là bọn có thể gây hoạ lớn, đừng coi thường.”

  • Vương Gia Văn: “Lịch sử và thực tiễn đã chứng minh có những thằng phụ bếp không chỉ gây hoạ cho 1 con tàu mà còn gây hoạ cho cả một dân tộc!

Chớ thằng chả làm gì mà “rách việc” dữ vậy – hả Trời? Hỏi thăm lòng vòng một hồi mới được nghe FB Minh Thoại giải thích, bằng … thơ: “Thằng phụ bếp bất cẩn/ Để hỏa hoạn xảy ra/ Làm soái hạm bốc cháy/ Rúng động toàn nước Nga.”

Thiệt là cái đồ hậu đậu. Làm hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Chỉ vì “bất cẩn” chút xíu mà khiến cho nguyên cả một siêu cường, cùng với một siêu nhân, bị mất mặt (bầu cua) và mất bộn tiền. Từ đây, mụ nội thằng nào/con nào mà còn dám mua những vũ khí (thổ tả) của Nga nữa đây?

Tuy thế, cảnh tượng soái hạm Moskva bốc cháy đen thui lui rồi chìm dần xuống lòng Hắc Hải (vẫn) chưa thảm hại bằng cảnh hôi của ở Ukraine. Trang Hindustan News Hub vừa cho phổ biến hình ảnh lính Nga đang khệ nệ khiêng những cái TV (bự tổ trảng) cùng với lời bình luận: 

“… units of Putin’s troops remain cut off from supplies indefinitely and have been instructed to move to ‘self-sufficiency’ until further orders. That is, to take everything necessary from the local population … những đơn vị của quân Putin vẫn còn bị cắt đứt nguồn tiếp liệu vô thời hạn và được chỉ thị ‘tự túc’ cho đến khi có lệnh mới. Nói cách khác là tha hồ trộm cướp tất cả những gì cần thiết từ dân chúng địa phương…” 


Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022

Ngô Nhân Dụng: Phần Lan và Thụy Điển quyết định

Khi ông Putin chính thức yêu cầu NATO phải ngưng thâu nhận các hội viên mới, các nước Âu Mỹ đã trả lời bằng quan niệm chủ quyền quốc gia: Không nước nào có thể ép buộc các nước khác gia nhập hay không gia nhập bất cứ liên minh nào.

Hai nước Phần Lan và Thụy Điển có thể trở thành hội viên Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong mấy tháng tới. Chủ trương ngoại giao của ông Vladimir Putin thất bại. Đây cũng là một bài học cho ông Tập Cận Bình.

Vladimir Putin và Tập Cận Bình quan niệm rằng nước lớn có quyền ra lệnh cho các nước nhỏ. Đó là lối suy nghĩ của các vị hoàng đế ngày xưa, kể cả các “Sa hoàng” cầm đầu đế quốc Nga hay các vị “thiên tử” thay trời “bình thiên hạ.”

Trước khi đánh Ukraine Putin nêu một lý do là khối NATO đã bành trướng về phía Đông, đe dọa an ninh Nga. Trung Cộng không kết án Nga xâm lăng Ukraine vì cũng đồng ý, thông cảm với mối lo lắng này. Nếu có ngày một nước láng giềng của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Miến Điện hay Kyrgyzstan muốn liên minh với một khối an ninh khác, Trung Cộng có thể nói mình bị đe dọa để ra tay trước.

Thế giới phải lo có ngày các nước nhỏ bị một cường quốc nêu cùng một lý do đó để xâm lăng, như số phận Ukraine. Họ đã công khai bác bỏ chủ trương cường quyền đó. Một tuần sau khi ông Putin đánh Ukraine, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhắc lại chủ trương phải tôn trọng chủ quyền các quốc gia, 141 nước đã bỏ phiếu yêu cầu Nga rút quân. Chỉ có 5 phiếu chống và 35 nước không tỏ ý kiến.

Đại sứ Martin Kimani nước Kenya đã ví cuộc xâm lăng của ông Putin như một nước thực dân trở lại đánh thuộc địa cũ. Ông Kimani rút kinh nghiệm châu Phi, nơi nhiều sắc dân sống rải rác trong các quốc gia mới thành lập, biên giới dễ gây tranh tụng. Ông nhấn mạnh quy tắc chống các nước lớn bành trướng bằng vũ lực, ép nước khác phải theo mình.

Nhưng các nước đồng ý phong tỏa kinh tế Nga vì xâm lăng Ukraine chỉ chiếm một phần ba dân số thế giới; phần lớn là các nước Âu Mỹ. Một phần ba thuộc những nước ủng hộ Nga, trong đó có Trung Quốc. Một phần ba còn lại sống trong các nước không bày tỏ thái độ, đặc biệt là Ấn Độ, các nước Saudi Arabia và United Arab Emirates vốn là đồng minh của Mỹ.


Lê Hồng Hiệp: Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Ngày 18 tháng 4 năm 2022, năm tướng lĩnh và hai sĩ quan cấp cao khác của Cảnh sát biển Việt Nam (CSBVN) đã bị Cơ quan Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng bắt tạm giam để điều tra về một loạt các tội danh tham nhũng, trong đó có tội tham ô tài sản. Những người bị bắt gồm có Trung tướng Nguyễn Văn Sơn (nguyên Tư lệnh CSBVN), Trung tướng Hoàng Văn Đồng (nguyên Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Doãn Bảo Quyết (nguyên Phó Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Phạm Kim Hậu (nguyên Phó Tư lệnh và Tham mưu trưởng CSBVN), và Thiếu tướng Bùi Trung Dũng (nguyên Phó Tư lệnh CSBVN).

Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ bê bối tham nhũng gần đây, dẫn đến việc hàng chục sĩ quan cấp cao trong lực lượng quân đội và công an Việt Nam bị xử lý. Riêng trong quân đội, ít nhất 20 tướng lĩnh đã bị kỷ luật hoặc truy tố kể từ năm 2016. Sĩ quan cấp cao nhất bị truy tố là ông Nguyễn Văn Hiến, nguyên Tư lệnh Hải quân và Thứ trưởng Quốc phòng. Ông Hiến đã bị kết án 3 năm rưỡi tù giam vào cuối năm 2020 vì phê duyệt chuyển nhượng trái phép ba lô đất quốc phòng tại TP.HCM cho các nhà đầu tư tư nhân, gây thiệt hại cho nhà nước 939 tỉ đồng.

Vụ bắt giữ năm tướng CSBVN và kỷ luật ba tướng lĩnh tại Học viện Quân y liên quan đến vụ bê bối tham nhũng tại công ty Việt Á cách đây vài tuần giúp tăng cường uy tín chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, vốn từ năm 2016 đã tiến hành một chiến dịch chống tham nhũng cấp cao gây nhiều tiếng vang. Tuy nhiên, những gì được xử lý cho đến nay có thể chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, vì tham nhũng trong quân đội, được cho là phổ biến và cắm rễ sâu, nhìn chung rất khó phát hiện và loại bỏ.

Quân đội Việt Nam tham gia vào một loạt các hoạt động kinh tế, được tạo điều kiện thuận lợi nhờ ảnh hưởng lớn của quân đội trong nền chính trị Việt Nam. Điều này đôi khi khiến các cơ quan dân sự phải chiều theo yêu cầu của các quan chức quốc phòng, bao gồm cả việc cung cấp nguồn lực và các chế độ ưu đãi, qua đó làm nảy sinh cơ hội cho tham nhũng phát triển. Sự tồn tại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu quân đội, cả các doanh nghiệp thực sự lẫn các công ty bình phong được thành lập để phục vụ mục đích thu thập thông tin tình báo và các hoạt động nghiệp vụ khác, cũng khiến việc trục lợi của các cá nhân tham nhũng khó bị phát hiện hơn do khó phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động liên quan đến thương mại và quốc phòng.


VOA Tiếng Việt: Phiếu ủng hộ của Việt Nam cho Nga và cảnh báo hệ lụy mối quan hệ với Mỹ

Việc Việt Nam bỏ phiếu chống lại nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm đình chỉ Nga khỏi Hội đồng Nhân quyền LHQ được cảnh báo là có thể khiến mối quan hệ của Hà Nội với phần còn lại của thế giới rơi vào lâm nguy

Ngay trước khi cuộc bỏ phiếu nhằm đình chỉ Nga khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc vì những cáo buộc rằng binh lính Nga giết hàng trăm thường dân ở Bucha của Ukraine, Moscow cảnh báo các nước rằng một lá phiếu “đồng ý” hoặc “trắng” đối với sự thúc đẩy của Mỹ để loại bỏ Nga sẽ được coi là một “cử chỉ không thân thiện” và sẽ gây hậu quả cho quan hệ song phương.

Việt Nam, sau hai lần bỏ phiếu trắng vào tháng trước khi Hội đồng Bảo an LHQ tìm sự đồng thuận để lên án Nga vì cuộc xâm lược ở Ukraine, đã bỏ phiếu chống trong cuộc biểu quyết lần thứ 3, mà Đại sứ Mỹ tại LHQ Linda Thomas-Greenfield gọi là “khoảnh khắc lịch sử.” Dù có 24 nước không ủng hộ nghị quyết được Mỹ thúc đẩy hôm 7/4, trong đó có Việt Nam, nhưng có đến 93 quốc gia bỏ phiếu tán thành, vượt quá mức tối thiểu cần thiết 2/3 trong số 193 thành viên của Đại hội đồng LHQ ở New York – trong đó 58 phiếu trắng không được tính – để đình chỉ Nga khỏi Hội đồng Nhân quyền của tổ chức liên chính phủ lớn nhất thế giới. Nga trở thành quốc gia thứ hai trong lịch sử, sau Libya, bị loại khỏi hội đồng này.

“Tôi không ngạc nhiên bởi vì Việt Nam có một mối quan hệ lâu dài với Nga kể từ thời chiến tranh (chống Mỹ),” Giáo sư Zachary Abuza của Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ chuyên về chính trị và an ninh Đông Nam Á, nói. “(Việt Nam) có quan hệ ngoại giao với Nga ở mức cao nhất (tức đối tác chiến lược toàn diện) và rõ ràng Nga đóng vai trò quan trọng đối với (Việt Nam) trong việc hiện đại hóa quân sự.”

Ngoài Nga, chỉ có Trung Quốc và Ấn Độ là hai đối tác chiến lược toàn diện còn lại của Việt Nam, và Moscow cung cấp phần lớn vũ khí cho Hà Nội trong nhiều thập kỷ qua.

Điều này có thể khiến cho Việt Nam mất đi một trong những cuộc gặp mặt bên lề với Tổng thống Biden trong cuộc họp thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN đã được lên kế hoạch và nó sẽ không giúp ích gì cho mối quan hệ song phương giữa hai nước.


Nguyễn Hùng (Blog VOA): Nếu mai Putin chết liệu có hết chủ nghĩa Putin?

Giữa lúc cuộc chiến tàn bạo của Nga diễn ra ở Ukraine, không ít lần tôi thấy người ta nguyền rủa Tổng thống Vladimir Putin. Có người còn cầm biểu ngữ ngay tại trung tâm London với dòng chữ “Putin chết rồi, Nga tỉnh dậy đi”.

Nhiều người nghĩ rằng Putin chết là sẽ hết những hành vi ngang ngược và đẫm máu của nước Nga. Nhưng liệu có nhất thiết sẽ như vậy không?

Không nhất thiết nếu quý vị đọc cuốn sách về “dân chủ toàn trị của Putin” của hai tác giả Kate Langdon và Vladimir Tismaneanu.

Các tác giả cho rằng người Nga thực sự ủng hộ Tổng thống Nga Putin và những giá trị mà ông trưng ra, có thể gọi là chủ nghĩa Putin. Ngay cả ở Việt Nam cũng có nhiều người ủng hộ chủ nghĩa này.

Nói ngắn gọn, chủ nghĩa Putin có thể được hiểu là sự kết hợp của một loạt các chủ nghĩa cực đoan trong đó có chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa quân sự, thái độ chống lại phương Tây và điều được coi là vị trí đặc biệt của Nga trong lịch sử cũng như trong hiện tại.

Cuộc chiến hiện nay do Putin phát động chống lại Ukraine và được đa số người dân ủng hộ được gọi là chiến dịch đặc biệt. Nó cho thấy Nga tự xem mình là quốc gia “đặc biệt” và có thể ngồi xổm lên luật pháp quốc tế; người Nga là người “đặc biệt” và có thể đi đàn áp các sắc dân khác mà người Ukraine chỉ là nạn nhân mới nhất sau người Chechnya, Georgia và Syria.

“Chủ nghĩa Putin đáng chú ý nhất ở chỗ công dân Nga liên tục ủng hộ Putin ngay cả khi ông hạn chế tự do của họ, làm kinh tế trì trệ và đưa bạn bè và người thân của họ vào quân đội để rồi có thể hy sinh cuộc sống của họ vì những cuộc gây hấn quốc tế không cần thiết,” hai tác giả Kate Langdon và Vladimir Tismaneau viết trong cuốn sách của họ. Các tác giả cho rằng bối cảnh xã hội và văn hoá Nga đã đẻ ra Putin cũng như sự ủng hộ chủ nghĩa Putin và điều này đáng chú ý hơn chỉ bản thân Putin.


Vincente Nguyen: McDonald’s và những nỗi ám ảnh của nước Nga

Thức ăn nhanh, ý thức hệ và những ám ảnh địa chính trị quốc tế.


Bốn giờ sáng ngày 31/1/1990, một hàng dài thị dân Moscow chờ đợi ở Quảng trường Pushkin. [1]

Họ không xếp hàng để đón xem một cuộc diễu binh.

Họ cũng không tập hợp chờ nghe phát biểu từ một lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô.

Thứ họ mong đợi là McDonald’s, hãng đồ ăn nhanh gốc Mỹ trứ danh (hay khét tiếng, tùy quan điểm chính trị của bạn).

McDonald’s bị cáo buộc là dung hợp mọi điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản: một sản phẩm ẩm thực vô hồn thiếu cội rễ văn hóa, những nhân viên bị bóc lột với mức lương theo giờ thấp dưới tiêu chuẩn sống (ít nhất là ở Hoa Kỳ), một thực đơn khuyến khích chủ nghĩa tiêu thụ vô lối và không bao giờ biết thỏa mãn, v.v.

Những cách nghĩ và cáo buộc này có đúng không? Có thể lắm chứ.

Tuy nhiên, đối với người dân Nga – Soviet ở thời điểm đó, McDonald’s là hiện thân của sức sáng tạo và sức bật của nền dân chủ “thù địch” Hoa Kỳ xa xôi mà họ chỉ có thể nghe qua báo đài chính thống.

McDonald’s không dùng ngân sách nhà nước.

McDonald’s không thực hiện những kế hoạch 5 năm của Trung ương Đảng.

McDonald’s không phát phiếu lương thực xác định mỗi tháng thực khách được dùng mấy phần.


Song Thao: Cu Tin

Napoleon Bonaparte mà các cụ ta xưa phiên âm thành Nã Phá Luân, chắc ai đã cắp sách tới trường đều biết. Ông này văn võ toàn tài, rất thích chinh chiến và đã tạo được nhiều chiến công hiển hách, trở thành hoàng đế của Pháp. Ông đã mất được 201 năm, vào năm 1821, tại đảo Ste. Helène, nơi ông bị lưu đầy từ tháng 10 năm 1815. Trước đó ông đã bị lưu đầy tại đảo Elba của Ý nhưng đã vượt ngục, tập họp quân đội và cố gắng chinh phục Âu Châu một lần nữa. Ông làm mưa làm gió ở Âu châu trước khi bị quân Anh và Phổ đánh cho xất bất xang bang dẫn tới thất bại thảm thương trong trận Waterloo vào năm 1812.

Sống đã tạo sóng gió tại châu Âu, chết cũng nhiều chuyện mà lịch sử phải ghi lại. Ông mất vì bệnh ung thư dạ dày, giống như cha ông. Có giả thuyết nói ông bị đầu độc từ từ bằng thạch tín. Điều này để các sử gia lo, chúng ta nói chuyện khác. Khi ông trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, 17 người có mặt trong đó có 7 bác sĩ người Anh, 2 hầu cận của ông, linh mục Vignali, người đầy tớ Ali và bác sĩ riêng của ông tên Francesco Antommarchi. Bác sĩ Antommarchi đã giải phẫu tử thi, cắt bỏ gan ruột, thả vào bình rượu ethylic để nghiên cứu sau. Thừa lúc đám đông hỗn loạn không chú ý, bác sĩ Antommarchi tiện tay cắt phăng dương vật của tử thi và giấu đi.

Dương vật được ông bác sĩ giao cho linh mục Ange Vignali cất giữ. Vị linh mục đã mang về đảo Corse, quê hương của Napoleon. Khi linh mục Vignali qua đời, của quý của người tạo giông bão tại Âu châu đã được trả lại cho gia đình Napoleon. Họ cất giữ tới năm 1916, gần một trăm năm sau ngày Napoleon mất. Dương vật sau đó vào tay ông Charles-Marie Gianettini, cháu của linh mục Vignali.

Ông này chắc có máu lý tài nên bán liền vào năm 1916 cho công ty bán sách và sưu tập Anh Maggs Bros. Ltd. có trụ sở tại London. Năm 1924, hộp đựng của quý được mô tả như “một đoạn gân được lấy từ cơ thể của Napoleon trong quá trình khám nghiệm tử thi”, được bán cho nhà sưu tập người Mỹ tên A.S.W. Rosenbach, ngụ tại Philadelphia với giá 400 bảng Anh. Ông tiến sĩ Rosenbach này rất tự hào khi làm chủ được “báu vật”. Đi dự tiệc hay hội họp ở đâu ông cũng khoe nhặng xị về chiến công này. Ông cho bảo tàng nghệ thuật Pháp “Museum of French Art” ở New York mượn trong một thời gian ngắn vào năm 1927 để trưng bày cho công chúng coi. Phóng viên báo Time tới coi và mô tả nó “như một chiếc dây cột giày da hoẵng bị co lại”. Một phóng viên khác lại cho nó trông giống như “một con lươn bị teo lại”. Thực ra vật thể này không được bảo quản tốt nên nhìn bề ngoài có vẻ chỉ hơi giống dương vật, xù xì như một miếng da thuộc.

Trần Mộng Tú: Con Gà Ukraine Và Nhành Lúa Việt Nam

Chiến tranh đã đến Ukraine. Cả thành phố rách nát, những ngôi làng bị tàn phá đến tận cùng: giáo đường, trường học, siêu thị, hàng quán, công viên, các cửa hiệu mua bán lớn nhỏ… Gần như tất cả đã thành bình địa. Mọi người đã chạy đi thật xa dù không biết là sẽ đi tới đâu và dừng lại ở đâu. Đôi khi họ quay đầu nhìn lại, cố tìm những nóc nhà, những ngôi trường, những giáo đường. Nhưng không thấy gì cả ngoài những đám khói và những đám khói… chỉ còn những đám khói, thế thôi.

Thượng Đế thì thật xa mà người thân của họ thì tứ tán. Những người đàn ông ở lại để tử thủ, phụ nữ, trẻ em, người già bồng bế nhau đi. Đi đâu chưa biết, nhưng chắc chắn phải đi thật xa những nơi đang có bom, đạn trút vào, đang có những đám cháy.

Trong hoang tàn đổ nát, nếu cái gì còn tồn tại, còn sót lại ở những ngôi làng, ở những căn nhà thì đó là một phép lạ. khi bốn bức tường đổ xuống, cái nóc nhà cũng xụp xuống theo. Tất cả trút xuống như những bãi phế thải khổng lồ.

Thế mà ở Borodianka trong một căn nhà bị pháo kích trút vào, tất cả bàn ghế, tủ giường bị bốc cháy thành than củi, những bức tường của căn nhà rách nát, sập đổ, nhưng một cái tủ bát chén treo lửng lơ trong bếp còn sót lại một phần, mấy cái bình sứ nhỏ, vài cái đĩa bàn trên kệ vẫn lặng lẽ xếp hàng. Đặc biệt con gà bằng sành ở trên nóc tủ, vẫn đứng vững với tất cả vẻ đẹp còn nguyên vẹn của cái mào và cái đuôi. Nó đứng đó như một thách thức, như sắp sửa cất tiếng gáy, báo hiệu sự có mặt của mình.

Người dân Ukraine đã dùng hình ảnh con gà bằng sành mong manh, dễ vỡ vẫn tồn tại trong ngôi nhà bị tàn phá bởi pháo kích như một biểu tượng của sự kiên cường quật khởi.

Con Gà bằng sành đó có khác gì những bông hoa Hướng Dương to như một chiếc đĩa bàn (dinner plate) trên những chiếc cọng yếu ớt, luôn luôn tồn tại quay hướng về phía mặt trời. Đã bao nhiêu thế kỷ người dân Ukraine dùng màu sắc của hoa hướng dương (xanh và vàng) trên quốc kỳ của họ và hoa hướng dương được coi là quốc hoa của Ukrain. Hoa luôn luôn hướng về mặt trời để hưởng sự ấm áp. Hoa còn thể hiện sức mạnh của sự sống, chống lại tai ương và bệnh tật. Trong những dịp lễ hội các em bé và các thiếu nữ thường có vòng hoa trên đầu được kết bằng hoa hướng dương.

Hình minh hoạ, Jacques GAIMARD, Pixabay


Hoàng Quân: Một Trăm Chỗ Lệch

Đôi Bóng- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Thỉnh thoảng nổi hứng, ông bảo, để ông nấu nướng, bà dọn dẹp rửa chén. Ông nấu nhanh, mắm muối mạnh tay. Khi nghe ông thông báo trổ tài món thịt heo kho trứng, bà tưởng như lượng Cholesterol phóng vút lên trần nhà. Ông khuân về tảng thịt hai rọi, chứ không phải ba rọi. Rọi mỡ lấn lướt rọi thịt một cách sỗ sàng. Ông luộc trọn chục trứng gà. Ông theo nguyên tắc “cho gọn”, mua bao nhiêu, nấu bấy nhiêu. Cũng may, chợ gần nhà ông bà không bán vĩ trứng 24 cái. Nhìn nồi thịt kho, ông tấm tắc: “Ngon bá cháy”. Bà nhăn nhó, với đà dinh dưỡng như vầy, chẳng chóng thì chầy ông bà trở thành võ sĩ Sumo

Đến phiên bà lo việc bếp núc, ông rối cả mắt. Vài rẻo thịt mỏng dính nằm khép nép trên thớt. Mấy rổ rau dàn hàng nghênh ngang, nào cần tây, cà rốt, bắp cải. Bà giảng giải, ăn uống phải đầy đủ sinh tố từ A đến Z. Nồi canh mồng tơi (Spinach) to tướng được bà ban cho vài con tép riu. Ông chẳng biết mấy con, vì bà đã băm nhuyễn rồi. Đã vậy, sợ lên đường, lên muối, bà nêm lạt lạt. Bà nhắc chừng ông, cao máu, cao mỡ, thì phải để ý thế này, thế nọ. Thằng em rể mắng vốn với ông: “Anh ơi, em gái anh coi chồng như thỏ, như bò. Vợ em cho em ăn toàn là rau với cỏ”. Ông thở dài sườn sượt: “Chú mầy vậy là còn hên! Anh đây, không chỉ ăn, mà còn phải uống rau cỏ nữa. Chú mầy thấy mắt anh lúc nào cũng trố trố không? Bả ép su hào, ớt chuông, dưa leo, rồi bả ép anh uống, mà phải uống trước mặt bả, chứ đâu lén đổ đi đâu được. Uống riết, trợn trắng”. 

Bà dọn mì xào, ông trút cả tô nước mắm vào dĩa mì, hỏi giỡn: 

-Bữa nay em quên nêm hay sao mà lạt nhách, lạt nhơ. Ăn hổng biết là món gì. 

Bà nghiêm giọng:

-Lạt thì anh cứ việc thêm chút nước mắm. Chỉ sợ quá mặn mới hết thuốc chữa. 


Trang Châu: Tâm sự của lá thư rơi

Người viết thư rơi lẫn người nhận thư rơi thường không có nhân chứng. Nhưng tôi là người duy nhất âm thầm có mặt ở cả hai phía vì tôi chính là lá thư rơi. Khi còn ở tình trạng thai nghén tôi là con đẻ, nhưng tôi trở thành đứa con vô thừa nhận ngay khi chào đời. Vì sao? Thắc mắc này tôi không nêu lên cho tôi, nó được đặt ra cho người nhận tôi. Bài viết này, xin xem như một cố gắng của riêng tôi để tiếp tay với người đọc, dù người đọc đó ở bất cứ vị thế nào.

Xin nói ngay khi viết tôi chỉ ghi nhận chứ cố sức không phê phán. Nếu thỉnh thoảng tôi có chêm vào đôi chút suy tư thì cũng chỉ là những thoáng suy tư hết sức vô tư. Mục đích của tôi là trình bày những căn nguyên, những động cơ thúc đẩy người khai sinh ra tôi đặt bút viết và người đọc tôi có phản ứng gì, suy đoán ra sao? Tôi phải đặt tên cho nhiều nhân vật. Xin nói ngay, người và việc có thể thật nhưng những cái tên thì hoàn toàn giả. Tuy giả nhưng tôi biết trước thế nào cũng có người giật mình. Khi tôi gọi ông A không phải chỉ riêng ông A giật mình mà cả các ông tên Ấn, tên Âu, tên Ấm cũng giật mình, vì nghĩ tên mình được cố ý viết trệch đi thôi. Xin những người có tên trùng với những tên nêu lên trong bài viết này an tâm, tôi không nhắm vào tên của quí vị. Tôi sẽ viết từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, nhỏ và lớn ở đây dưới nhãn quan của tôi, không nhắm vào con số nhân sự mà nhắm vào nội dung của câu chuyện, của vấn đề được xảy ra hay nêu lên.

Nhỏ nhất là câu chuyện xảy ra giữa hai người, một cặp vợ chồng. Tôi ra đời sau khi hai người ly thân. Người vợ dọn ra ở ấp trong một chung cư. Lý do ly thân của họ tôi biết nhưng không nói ra vì không muốn xen vào đời sống riêng của họ. Chỉ biết sau mấy đêm ngồi trong xe rình bà vợ ly thân, tối tối hay đi bộ sang chơi ấp của một cặp vợ chồng ở một chung cư đối diện, cho đến mười, mười một giờ đêm mới ra về mà không thấy có người đàn ông nào đi theo, người chồng về nhà viết cho bà vợ ly thân một lá thư. Tôi chỉ trích lại tôi một đoạn: “Mấy hôm nay em ghé qua nhà chơi với Điệp, thấy em càng buồn càng đẹp anh cũng động lòng. Anh biết em bỏ thằng chồng em vì nó kém sinh lý. Anh bảo đảm với em, em sẽ được thỏa mãn một trăm phần trăm vấn đề đó. Hẹn em thứ tư tuần tới đúng một giờ trưa tại quán Mimosa. Em nhớ đúng hẹn, anh chờ. Ty.” Mang bỏ tôi vào thùng thơ xong ông chồng vẫn đêm đêm đậu xe ngồi rình. Ty là tên ông chồng của bà Điệp, cặp vợ chồng mà tối tối bà vợ ly thân vẫn đi bộ sang chơi. Một giờ kém mười lăm trưa thứ tư tuần sau, người chồng lái xe đến bãi đậu của tiệm Mimosa, thụt người trong xe ngồi rình. Nhưng không thấy bà vợ ly thân của ông đến chỗ ông hẹn. Tối hôm đó ông không lái xe đi rình nữa; ông ngồi ở bàn viết, ôm đầu, chốc chốc lại kéo hộc tủ, mở cuốn agenda, nhìn ngắm hình bà vợ ly thân được giấu ở bên trong. Ngắm chán ông lấy bút chì đỏ gạch đít nhiều lần hai câu thơ của Sully Prud' homme:


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: Kiêng & Kỵ

Ở California, thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe người dân bản xứ nói đôi câu (cũng quen quen) nhưng không hiểu rõ ý:

  • We’re turning into our parents. 

  • We all become our mothers.

Sao kỳ vậy cà?

Sao chúng ta lại có thể trở thành phụ mẫu của mình được chớ? Thì cũng tự hỏi (thầm) thế thôi nhưng rồi lần nào cũng tặc lưỡi cho qua. Là dân tị nạn nên tôi xem Hoa Kỳ chỉ là chỗ tạm dung. Sống đỡ ngày nào hay ngày đó, chả hơi đâu mà quan tâm đến phong tục, tập quán, văn hóa và ngôn ngữ nơi đất lạ xứ người. Phải lo chuẩn bị chuyện hồi hương để xây dựng lại đất nước mình mới là điều thực sự cần thiết. 

Vậy mà tui cứ ở cái xứ sở này cho mãi tới giờ luôn và đường về thì vẫn chưa có lối. Với thời gian, tự nhiên, rồi tôi hiểu ra tại sao chúng ta lại trở nên như những đấng sinh thành. 

Rõ ràng, càng già tôi càng giống song thân. Hay nói theo kiểu Mỹ là tôi trở thành y như cha mẹ của mình. Má tui có cái tính rất hay kiêng. Bả kiêng đủ thứ hết trơn:

  • Không cho ai dao kéo, sợ tình cảm bị chia cắt.

  • Không quét nhà vào ngày mồng một tết, sợ hất tài lộc ra khỏi cửa.

  • Không phơi quần áo vào ban đêm, sợ ma quỷ mặc lầm.

  • Không lượm tiền rơi, sợ lỡ đụng tiền cúng cô hồn là xui tận mạng.


Ba tôi thì không thường kiêng nhưng lại rất hay kỵ. Bà chị lớn lấy chồng xa, hý hửng ôm con sơ sinh về nhà khoe là thằng cháu đích tôn vừa được ông nội đặt tên Bình. Vậy là mặt ông ngoại xa xầm, lầu bầu/lầm bầm (“hỗn láo, hỗn láo, hỗn láo”) một chập rồi gằn giọng: “Gọi nó là Bường nghe chưa!”

Ổng còn cấm tụi tui nhiều chuyện nữa. Cấm không đứa nào được nói duуệt binh, duуệt ᴠõ mà phải đổi thành dợt binh, dợt ᴠõ ᴠì kỵ húу của … Đức Tả Quân Lê Văn Duуệt!


Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Ngô Nhân Dụng: Tập Cận Bình và Omicron

Đó là hậu quả của các chế độ độc tài. Khi một chính sách được lãnh tụ ban ra là khó thay đổi. Vladimir Putin phiêu lưu trong cuộc chiến tranh Ukraine đã thất bại nhưng dù kinh tế suy sụp vẫn phải tiếp tục. Tập Cận Bình cũng lâm tình trạng giống như vậy.

 

Hồi xưa Mao Trạch Đông đổ tội chim chóc ăn hại mùa màng nên dân thiếu ăn; hô lên một tiếng thế là nhân dân Trung Quốc hùa nhau đi giết các loài chim chóc. Chim bị diệt gần hết, các loài giun, dế, côn trùng thoát chết. Sau đó dân lo mua thuốc trừ sâu bọ. Một lần khác, Mao bảo toàn dân phải dựng lên những “lò luyện thép trong sân sau nhà” để công nghiệp hóa đất nước. Nhân dân bèn mang nồi niêu soong chảo, thau nhôm, mâm đồng, kìm, kéo, búa, đem nấu hết thành hợp kim, đem nạp vào kho. Cuối cùng, chẳng biết có đúc ra một thứ máy móc nào không.

Khi kiểm điểm các chế độ độc tài, người ta thường không kể đến một thứ tai hại là làm dân chúng phí thời giờ. Mỗi người phí mất vài, ba tháng trong một năm, họ đành chịu. Nhưng hàng trăm triệu người được huy động đi làm những việc vô ích thì cả nước đã phí phạm biết bao nhiêu?

Cái tật đó đến đời Tập Cận Bình chưa bỏ; nhân bệnh dịch Covid mới để lộ rõ ràng.

Phải công nhận Trung Quốc đã thành công với chủ trương ngăn ngừa Covid triệt để. Nơi nào thấy bệnh là bệnh nhân bị cô lập, tất cả mọi người khác bị cấm cung. Hầu hết dân chúng đã được chích ngừa, dù thuốc nội hóa công hiệu rất thấp; phần lớn những người 80 tuổi trở lên chưa được chích đủ hai mũi. Dân được thử nghiệm xem có mắc vi khuẩn hay không, hễ kết quả “dương tính” là bị cô lập. Nhờ chính sách triệt để này, số người bệnh ở Trung Quốc và chết vì Covid thấp nhất thế giới

Nhưng sau hai năm loài vi khuẩn coronavirus đã thay đổi, căn bệnh mới vừa nhẹ vừa ít chết người. Tập Cận Bình không thay đổi. Ở các nước khác, khi thấy bệnh dịch do biến thái mới Omicron gây ra không tai hại như các đợt trước thì người ta thay đổi. Đa số bệnh nhân không cần bị cô lập, các trường học, cửa hàng, xưởng máy không cần đóng cửa. Ở Trung Quốc, chưa có lệnh trên, vẫn theo chính sách cũ.