Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Winston Phan Đào Nguyên: CHƯƠNG XVIII - Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc, Triều đình Khí Dân”

LỜI GIỚI THIỆU CỦA TÒA SOẠN DĐTK

Để làm sáng tỏ hơn hiện tượng cấm đoán của chính quyền CSVN trong việc dùng tên các danh nhân Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký qua bức thư của Ban Tuyên Giáo đảng CSVN vừa gửi ra ngày 5 tháng 01, 2022 –một sự việc đã cũ mèm từ bảy mươi năm trước, bây giờ chạy lại như một cái đĩa đã rè -- chúng tôi xin mời độc giả xem Chương XVIII của cuốn sách Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc, Triều Đình Khí Dân’  của tác giả Winston Phan Đào Nguyên. Cuốn sách này, được xuất bản năm 2021, đã vạch trần những hành vi hèn mọn và gian trá của chế độ CSVN khi tạo ra “vụ án” Phan Thanh Giản vào giữa thập niên 50 của thế kỷ 20.


CHƯƠNG XVIII.

TÔN CHỈ VỀ CÔNG TÁC LỊCH SỬ VÀ BẢN LÃNH CHẾ TẠO BẰNG CHỨNG CỦA ÔNG TRẦN HUY LIỆU

Winston Phan Đào Nguyên

Như người viết đã trình bày trong các chương trên của Phần 3, ông Trần Huy Liệu, vị Viện Trưởng Viện Sử Học của miền Bắc, chính là người đã chế tạo ra câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, cũng như câu chuyện chung quanh nó.

Chính ông Trần Huy Liệu là người đầu tiên giới thiệu câu này và câu chuyện về nghĩa quân Trương Định, trong một bài viết vào giữa năm 1955 trên số 9 tờ Văn Sử Địa.

Còn trước đó, vào năm 1954, trong số 1 của tờ Văn Sử Địa (Sử Địa Văn), ông Trần Huy Liệu đã viết một bài nghị luận dưới bút hiệu “Chiến” để giành lấy chính nghĩa cho phe mình, khi cho rằng đảng và chính phủ của ông ta đã tiếp nối sự nghiệp chống Pháp của những lực lượng như Trương Định, trong việc chống lại bọn phong kiến bán nước quay ra câu kết với thực dân đế quốc.


Nguyễn Đức Tùng: Nguyễn Hưng Quốc, Gây Sự Với Hư Không

 image

Giữa thiên đàng và địa ngục

Tôi chọn cái ở giữa:

Trần gian

(20)

Trần gian cũng là chọn lựa của nhiều nhà thơ. Ngôn ngữ Nguyễn Hưng Quốc giản dị, mạch lạc, các bài thơ của anh có ý tứ rõ ràng. Sự rõ ràng ấy làm cho bài thơ sáng lên, có sức thuyết phục, mặc dù có thể không gây ra ám ảnh. Đọc thơ ba câu của anh, tôi nghĩ đến các nhà thơ hình tượng của Mỹ, như Ezra Pound, những người chịu ảnh hưởng ít nhiều từ truyền thống Nhật Bản, nhưng thơ anh không hẳn là haiku. Chỉ đôi khi có khuynh hướng ấy:

Con quạ đen

Mổ nắng

Giữa chiều quạnh hiu

(251)

Bài thơ hay, nhưng không tiêu biểu cho cả tập thơ. Thơ ba câu cũng là thơ tự do, không vần, tựa như tercet của phương Tây, hay những đoạn mở đầu của villanelle. Thơ tự do đòi hỏi người viết tập trung chú ý đến số chữ trong câu, đến trật tự sắp xếp của các câu, khác với người làm thơ có vần, luật, làm theo mẫu nhịp điệu có sẵn. Người làm thơ tự do cần độc đáo khi viết. Tôi không có ý nói rằng thơ tự do thì cao hơn thơ có vần, hay ngược lại, nhưng quá trình sáng tạo của các nhà thơ là khác hẳn nhau khi họ chọn một hình thức để sáng tác. Bạn chọn thứ nào cũng được, nhưng phải viết như thể số phận của bạn được định đoạt bởi chúng, câu thơ mỏng mảnh kia.

Các vì tinh tú xa xăm

Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu

Tìm một nhà thơ thất lạc

(17)


Lê Thương: Tạp Chí Sáng Tạo 01 - Tháng 10/1956


Ts Đinh Xuân Quân: Nghiên Cứu Về Biển Đông Của Hoa Kỳ (Số 150) Và Những Hệ Quả Cho Vn

Các nước chung quanh Biển Đông có chủ quyền tại Biển Đông (BĐ) gồm có Trung Quốc (TQ), Đài Loan, Brunei, Mã Lai, Philippines và Việt Nam. 

Việc tranh cãi về chủ quyền Biển Đông (BĐ) đã có từ lâu và chuyện này đã trở thành “nóng” khi TQ đã đánh chiếm Hoàng sa của VNCH vào 1974 bằng vũ lực (trong khi hạm đội 7 Hoa kỳ tránh né không dính và việc này). Trong tranh chấp về BĐ, TQ đã đưa ra nhiều chứng cớ để chứng minh họ có chủ quyền trên 80% BĐ và đã đưa đường 9 đoạn mà VN còn gọi là “đường lưỡi bò” để nói họ có quyền trên 80% BĐ.

Chính sách đường 9 đoạn là do chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra về chủ quyền của TQ (vào lúc cuối và sau đệ nhị thế chiến khi THDQ là một trong 5 cường quốc) vào năm 1947. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) thua trận và rút ra Đài Loan thì TQ (CS) đã tiếp tục nói về yêu sách này và còn đưa thêm nhiều yêu sách khác cũng như đưa ra một số luật về quyền của họ trên BĐ.

Trong thời gian qua đến ngày nay thì TQ đã có dùng nhiều thủ đoạn để lấy các tài nguyên BĐ kể cả về ngư nghiệp và dầu khí mà các chuyên gia ước lượng là có lượng rất lớn. 

Trước đây các luật biển chỉ nói là lãnh hải có 3 hải lý và Công ước Liên Hiệp Quốc (CULHQ)1982 đã thay đổi luật lệ quốc tế về biển. Vào 1982, đa số các nước đều ký vào công ước về luật biển (Công Ước) do Liên Hiệp Quốc đưa ra, kể cả TQ. Đây là luật mới nhất đưa ra cách cư sử và tính toán về chủ quyền và các ranh giới, lãnh hải và độc quyền khai thác kinh tế của các nước trên biển (EEZ).

Mặc dù đã ký Công Ước 1982, TQ đã không ngừng dùng các thủ đoạn để cố xâm chiếm 80% BĐ qua việc “lấy thịt đè người”, dùng đủ thủ đoạn để ép các nước nhỏ chấp nhận các yêu sách của họ (cấm đánh cá, đâm tàu của ngư dân đánh các trong vùng biển truyền thông của họ, ép không cho khai thác dầu khí trừ khi cùng khai thác với TQ, vv). TQ đã dùng trước hết yêu sách chủ quyền lịch sử để công bố chủ quyền của họ trên biển. Các tranh chấp của TQ tại BĐ đã đưa đến nhiều căng thẳng tranh chấp biên giới với các nước nhất là VN và Philippines. 


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: Bộ Lạc Tà Ru A-20


Đất này chẳng có niềm vui

Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt

 Trại lính, trại tù người đi không ngớt

 Người về thưa thớt dăm ba… 

Mấy câu thơ trên được trích dẫn từ thi phẩm Đất Này của Nguyễn Chí Thiện, viết vào năm 1965. Gần chục năm sau, trong đám “người về thưa thớt dăm ba” đó, có Bùi Ngọc Tấn. Tác giả Chuyện Kể Năm 2000 (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, CA: 2000) xác nhận tình trạng “trại tù người đi không ngớt” bằng một câu văn rất ngắn: “Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ.” 

Thế nhỡ gặp lại đúng bạn tù cũ thật rồi sao? 

Tay bắt, mặt mừng, bá vai, bá cổ …  rồi kéo nhau vào quán (hay mời ngay bạn về nhà) tiếp đãi linh đình – cơm gà cá gỏi không thiếu món chi, ăn uống phủ phê, nhậu nhẹt linh đình – chăng?

Hổng dám “phủ phê” đâu. Ở Đất Này làm gì có mấy cái vụ “linh đình” như vậy:

Một buổi chiều, con Thương đi học về bảo hắn:

– Bố. Có ai hỏi bố ở dưới nhà ấy?

– Ai con?

– Con không biết, trông lạ…

Hắn xuống thang. Hai người quần nâu, áo nâu đứng dựa lưng vào tưởng chỗ bể nước. Quen quen. Đúng rồi. Min: toán chăn nuôi, người đã giũa răng cho hắn. Còn một anh nữa mặt loang, tay loang. Thấy hắn, cả hai cười rất tươi. Người mặt loang bảo:


Trần Công Nhung: Tìm mộ Nam Cao

Nam Cao
Trong buổi gặp gỡ với một số anh em văn nghệ ở Bắc Giang, tôi được nghe câu chuyện “Tìm Mộ Nam Cao,” câu chuyện có vẻ huyễn hoặc, mê tín nhưng là câu chuyện thực, xẩy ra ở nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ 20.

Nhà Văn Nam Cao, một trong những ngôi sao sáng của dòng Văn Học cận đại. Nói đến Nam Cao là nhớ ngay đến Chí Phèo, tác phẩm đã vẽ những nét sắc bén, cay độc của xã hội thời Nam Cao. Nhân vật Chí Phèo, Thị Nở xuất hiện (năm 1941) như những mũi tên bén nhọn vạch thẳng vào cuộc đời của những con người tưởng không còn gì hơn con vật, những nét thật sắc, khiến cho xã hội không thể làm ngơ, bỏ quên. Chí Phèo ra đời như một báo hiệu nghiệp chướng (1) của nhà Văn Nam Cao.

Nam Cao tên thật Trần Hữu Trí giấy khai sinh ghi ngày 29 tháng 10 năm 1917 (2) tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Song, nay là xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút hiệu: Nam Cao.

Trong khi trà nước, tình cờ có người nhắc đến Nam Cao. Một anh khẳng định:

- Nam Cao chết là do Tố Hữu, chính Tố Hữu, Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế đã cử Nam Cao về Ninh Bình thu thuế nông nghiệp nên bị Comando Tây giết. Trong dịp tìm mộ Nam Cao, Tố Hữu đã hối hận nói: “Giá tôi đừng cử Nam Cao đi…”

- Bây giờ mới “giá buốt” thì nói làm đếch gì!

Câu chuyện có nhiều bí ẩn, tôi tò mò:

- Các anh bảo “tìm mộ Nam Cao,” sao lại tìm?

- Vì lúc Tây bắn (1951) nó chôn chung bốn thi thể một hầm, lấy được xác về chôn nơi khác, rồi cải táng bị mưa gió thất lạc tên, cuối cùng nằm chung với những mộ vô danh. Đến năm 1994 bà Trần Thị Sen, vợ Nam Cao mới làm đơn yêu cầu Ủy Ban Unesco Việt Nam tìm giúp mộ chồng.

- Ủy Ban này đã khởi xướng việc tìm mộ Nam Cao rộng rãi trong mọi tầng lớp quần chúng, ai có tin tức gì về mộ Nam Cao, kể cả chuyện bói toán, nằm mộng, các nhà ngoại cảm… Tổng cộng có 40 tổ chức tham gia tìm mộ Nam Cao, từ Hội Nhà Văn, Đài Truyền Hình, …quân đội, nhân dân…

Chuyện thật ly kỳ, tôi hỏi thêm:

- Thế rồi diễn tiến việc tìm mộ rao sao, và nay mộ nhà văn nằm ở đâu?

- Ôi dông dài lắm, cuối cùng thì cũng đưa được Nam Cao về quê ông ở Đại Hoàng. Muốn rõ mọi chuyện về Hà Nam hỏi em Nam Cao, cụ Trần Hữu Đạt là biết.

Bị kích thích về chuyện “tìm mộ Nam Cao,” tôi rủ anh bạn quê Bắc Giang cùng đi, vì chính anh cũng là một thành viên trong ban tổ chức tìm mộ.

Về Hà Nội, tôi sắp xếp ngay chương trình đi Hà Nam, vì không còn mấy nữa đã đến ngày về lại Mỹ. Hà Nam không xa Hà Nội bao nhiêu, tôi đi qua hoài trên những chuyến tàu vào Nam ra Bắc, nhưng chưa dừng chân lần nào.

Chúng tôi đồng ý sáng thứ bảy, hẹn nhau 6 giờ tại ga Hàng Cỏ. Từ đây đi xe Buýt ra ga Giáp Bát, rồi đi xe Gáp Bát Phủ Lý. Đi sớm để mọi việc gọn trong ngày. Thế mà 6 giờ 30 gọi phone vẫn nghe: “Số máy thuê bao quí khách vừa gọi hiện không liên lạc được.” “Không liên lạc được” thì đi một mình. Ra ga Giáp Bát, bắt ngay chuyến xe đi Nam Định, đến Phủ Lý tôi nhảy xuống.

Thị xã Phủ Lý không lớn, trông bề ngoài còn kém hơn nhiều thị trấn huyện lỵ. Nhiều người cho biết, trong thời kỳ chiến tranh, Phủ Lý bị san bằng nhiều lần, nay vẫn chưa xây dựng được bao nhiêu. Ghé vào một quán nước hỏi thăm đường về làng Đại Hoàng, cũng may, bà chủ quán, người gốc Hà Nam nên rất rõ vùng quê Nam Cao.

- Ông vào ngã ba trong đây đón xe về Vĩnh Trụ, từ đấy ông đi xe ôm.

- Xe ở đâu về Vĩnh Trụ hả bà?

- Xe Hà Nội.

Tôi mua chai nước rồi thả bộ dọc theo khu phố. Điện thoại rung lên trong túi, ông bạn giọng ngái ngủ:

- Ông đang ở đâu?

- Phủ Lý. Chờ ông hơn nửa tiếng, không gọi phone được tôi phải đi. Từ Phủ Lý về Đại Hoàng bao nhiêu cây?

- Hai mươi cây.

Vào ngã ba, nơi đây có con sông Đáy chảy qua nhưng cảnh không có gì đẹp, sông nhiều lục bình, nước đục như nước sông Hồng. Đợi mãi mới có chuyến xe rẽ về hướng bà quán chỉ, tôi đón nhảy lên nhưng xe đi Thái Bình. Kêu lắm phụ xe mới cho xuống. Ai đời mình nhầm xe mà họ cứ đòi chở để lấy tiền. Cuối cùng phải mặc cả đi xe ôm. Đi Vĩnh Trụ thì được, mà về Đại Hoàng, anh xe có vẻ mù mờ. Người Hà Nam mà không biết Nam Cao, đúng là “vô duyên đối diện bất tương phùng.” Suy cho cùng, đói cơm dốt chữ thì “Cao Thấp” biết cũng chẳng để làm gì.

Về thị trấn Vĩnh Trụ, tôi gặp được cậu chạy xe nhanh nhẹn, biết mộ Nam Cao, biết cả Chí Phèo… Từ Vĩnh Trụ về Đại Hoàng cũng khá xa, hơn 20km, thế nghĩa là từ Phủ Lý đi Đại Hoàng hơn 40km. Ông bạn đã tự động rút ngắn nửa đoạn đường cho tôi đỡ sốt ruột!

Hà Nam là tỉnh có nhiều đồng chiêm trũng, đất phù sa nên ruộng vườn chỗ nào cũng xanh tươi. Xe ngon đường cứ chạy mãi, qua bao nhiều cánh đồng mà chưa thấy mộ, hỏi người đi đường, đúng là đang về quê Nam Cao nhưng còn xa. Măn mo mãi, cuối cùng phải nhờ người địa phương chỉ cho. Lúc bấy giờ, anh xe mới à: “Chỗ này em có chở một sinh viên đến chụp ảnh, nhưng không nghe anh nói gì nên không nhớ.” Từ ngoài đường cái nhìn vào, thấy ngay khu Nhà Tưởng Niệm khá bề thế. Nhà xây theo lối mới song nóc mái cũng như đầu hàng cột trước hiên trang trí hoa văn theo lối chữ triện, kiểu nhà nửa ở nửa thờ. Cửa ra vào là cửa xếp bàn khoa rộng 3m là ít, cửa sổ lá sách hai bên lớn không kém. Trên khung cửa chính có đắp hàng chữ “Nhà Tưởng Niệm Nhà Văn Liệt Sỹ Nam Cao.” Hai chữ “Liệt Sỹ” làm cho tôi liên tưởng ngay đến cảnh nghèo nàn hiu quạnh hoang phế của nhà văn Nguyên Hồng (3). Điều này nói lên Việt Nam chưa có một tổ chức độc lập thẩm định công trình của văn nghệ sĩ để lưu giữ bảo tồn. Mọi định đoạt giá trị đều do Đảng và Nhà Nước, những ai ca ngợi Đảng hay chết vì Đảng mới được vinh danh. Điều này sẽ để mất nhiều kho tàng quí báu của nền học thuật đối với thế hệ mai sau.

Trước sân Nhà Tưởng Niệm có nhiều bồn cảnh nhưng chưa trang trí bao nhiêu, hoặc giả lâu ngày không săn sóc cây chết, để bồn không. Bên hông phải Nhà Tưởng Niệm là mộ nhà văn, làm theo lối mộ người Thiên Chúa Giáo, tất cả bằng đá rửa công phu, nằm trong vòng tường có cổng sắt khóa lại. Trên đầu mộ, bức ảnh chân dung rất trẻ, có lẽ chụp năm nhà văn mất? Bức ảnh quá lớn không cân xứng với thiết kế chung.

Đi quanh một vòng không thấy ai, cửa kín mít. Đang lay hoay thì có người đàn bà đi chợ về, bảo người trông coi ở phía sau. Tôi nhờ chị gọi giùm. Một lát có cậu bé đi ra, biết là khách phương xa đến viếng nên cậu ta vui vẻ mở cửa.

Bên trong, giữa có bàn thờ chạm trỗ công phu song hình dáng đã cách điệu, không như tủ thờ cổ điển. Lư nhang chân đèn bình hoa... theo lối “ngũ sự,” có phần hơi rườm rà luộm thuộm, chỉ có pho tượng đồng bán thân là sắc sảo, uy nghi. Theo tôi, thờ tự đối với những người làm văn hóa nghệ thuật nên đơn giản cô đọng, phải gợi lại được điều gì đó của nhà văn, còn như thờ ông Địa thì không hay. Nghĩ vậy thôi chứ có được một nơi để nhang khói là quí rồi.

Chung quanh tường treo nhiều tranh ảnh liên quan đến cuộc đời hoạt động của Nam Cao. Nhiều tủ kính trưng bầy những tác phẩm đã xuất bản. Có nhiều cuốn viết về Nam Cao tôi mới thấy lần đầu:

Nam Cao người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực.
Nam Cao Đời Văn và Tác Phẩm.
Nghĩ tiếp về Nam Cao…
Những phương diện chủ yếu của thi pháp văn xuôi tự sự Nam Cao…

và nhiều nữa.. Có bộ sưu tập những bài viết của Nam Cao trong báo Tiền Phong, tờ báo của Hội Văn Hóa Việt Nam trước 45.

Một lô sách viết về Nam Cao, nhưng lướt qua những tiêu đề của sách tôi thấy lê thê nặng nề đến mệt. Về ảnh cũng khá đầy đủ, ảnh tư liệu rất quí từ thời Nam Cao còn là học sinh. Hình ảnh chung với các Văn nghệ sĩ khác… trong số có ảnh Nhà thờ Vĩnh Đà xã Nhân Mĩ, nơi làm phép cưới – Căn nhà Nam Cao ở trước năm 42 – Thầy trò trường Thành Chung Nam Định (36-40). Một khung ảnh lớn gồm chân dung những người trong gia đình Nam Cao:

Mẹ: bà Trần Thị Minh (1895-1980), vợ: Trần Thị Sen. Trần Hữu Đạt (em trai), Trần Thị Khiết, Trần Thị Trinh, Trần thị Chánh (em gái).

Hình ảnh về công cuộc tìm kiếm mộ, khai quật mộ khá đầy đủ… Ảnh cánh đồng Miễu Giáp, Gia Phiến, Ninh Bình nơi Nam Cao bị bắn. Toàn bộ tài liệu để trưng bầy chứ không bán

- Nhà Tưởng Niệm có từ năm nào hả cháu?

- Dạ, có từ tháng 11 năm 2004.

- Còn mộ đưa về năm nào?

- Dạ, 1998

- Nhà cụ Trần Hữu Đạt đi lối lào? Có gần đây không?

- Bác qua bên kia đường vào trong xóm chừng vài trăm mét, hỏi ai cũng biết.

Tôi tặng cậu bé tí quà rồi đi tìm nhà cụ Đạt. Quanh co một lúc mới thấy nhà.

Ngôi nhà tôn nghèo nàn, trong nhà lờ mờ ánh sáng, hai ông bà đang chuẩn bị ăn trưa, thấy tôi, họ ngưng tất cả lại và vui vẻ tiếp. Cụ Trần Hữu Đạt, đầu tóc bạc trắng, râu ria xồm xoàm, nhưng người còn mạnh và có dáng như một nông dân nghèo.

Tôi thưa nhanh mục đích thăm viếng của mình rồi vào đề. Tuy muốn cho nhanh nhưng ông bà vẫn đủng đỉnh pha trà, lại phải “Uống nước đã.”

- Thưa cụ, tôi là bạn của anh Quang trên Bắc Giang, có nghe anh nói sơ về chuyện tìm mộ cụ Nam Cao nên hôm nay xin phép hỏi thêm cụ cho rõ.

- À Quang hay về đây, thế ông ở tận đâu?

- Dạ, Nha Trang.

- Mời ông xơi nước.

- Thưa nhà văn Nam Cao bị Tây bắn trong lúc về Ninh Bình thu thuế nông nghiệp phải không ạ?

- Đúng thế, đoàn công tác có bốn người và một chèo đò, không ai có vũ khí, không hộ tống. Lúc đò chèo qua cánh đồng chiêm ngập nước thì bị Comando Tây vây bắt. Anh chèo đò chạy thoát, bốn người kia Tây đưa về nhà thờ Miễu Giáp Ninh Bình. Ngày hôm sau chúng đưa ra bắn rồi lấp chung một hố trước nhà thờ (30–11–51). Đêm đến du kích vào lôi ra nhận diện từng người rồi chôn ở làng Vũ Đại. Khi có nghĩa trang xã, lại đưa mộ về xã, đến lúc thành lập nghĩa trang huyện Gia Viễn, mộ dời tiếp. Khi sát nhập hai huyện Gia Viễn và Nho Quan thành huyện Hoàng Long, mộ cải táng về Hoàng Long. Năm 1955 tách huyện, mộ lại trở về Gia Viễn. Trong lúc chuyển từ Hoàng Long về Gia Viễn, gặp trời mưa trôi mất giấy dán trên Tiểu của bốn hài cốt, nên không còn biết Tiểu nào của ai, đành chôn vào nghĩa trang vô danh.

Từ đó người nhà đi thăm phải thắp nhang cho cả bốn ngôi mộ, nhưng thường lẩn quẩn hai mộ số 306 và 310.

Chết rồi mà chỗ nằm không yên, chỉ vì chính sách, vì quyền lợi của người sống mà Nam Cao cứ phải chuyền chỗ nọ qua chỗ kia.

- Thưa cụ, rồi cơ duyên nào mà tìm ra mộ cụ Nam Cao?

- Gần 50 năm sau, từ 51 đến 94, gia đình biết có người đã tìm được hài cốt bằng cách nhờ các nhà ngoại cảm, bà Sen mới làm đơn gửi Câu Lạc Bộ các gia đình văn hóa Việt Nam trong hiệp hội Unesco Việt Nam, nhờ tìm mộ Nam Cao. Vậy là có phong trào vận động mọi tầng lớp quần chúng, ai biết gì về mộ Nam Cao, kể cả nằm mộng, bói toán…

- Và nhiều nhà ngoại cảm?

- Vâng, gồm có Thẩm Thúy Hoàn, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Phan thị Bích Hằng, họp tại Huyện Ủy Gia Viễn, triển khai việc tìm mộ nhà văn. Mọi tin tức, báo mộng, gọi hồn… trong số có thông tin từ những báo mộng của cô Bích Hằng tương đối chính xác (4). Bích Hằng còn cho biết, số mộ của Nam Cao bằng số tuổi, xương sọ và xương đùi bên trái bị vết đạn bắn. Tuy nhiên do những nghi ngờ giữa hai ngôi mộ 306 và 310 nên gia đình xin bộ Thương Binh Xã Hội cho khai quật cả hai. Lúc đầu Bộ đã đồng ý, về sau chỉ chấp thuận cho một mà thôi, muốn khai quật mộ thứ hai phải đợi hai năm sau.

Cuối cùng ngôi mộ số 306 được chọn, 306 là 36 đúng số tuổi của Nam Cao lúc mất.

- Lúc khai quật mộ có trở ngại gì không thưa cụ?

- Mộ được đào lên từ 3 giờ sáng, lúc đưa Tiểu lên thì tôi chợt thấy rõ hình hài anh Nam Cao, tôi khóc òa lên, ngoài ra không ai thấy gì. Mọi người nghĩ rằng do cảm ứng ruột thịt tôi mới thấy thế và đoan chắc là đúng mộ rồi. Tuy nhiên, hài cốt vẫn đưa qua Viện Khoa Học Hình Sự giảo nghiệm để kiểm tra xem có vết đạn như cô Bích Hằng dự đoán không. Kết quả xét nghiệm cho thấy đúng vậy.

- Chi phí nhà tưởng niệm chắc cũng tốn nhiều?

- Trên một tỉ.

So với khu lưu niệm cụ Nguyễn Du (tỉ tư) thì phí tổn gần bằng mà kém nguy nga.

- Tôi thấy tác phẩm cụ Nam Cao in rất nhiều, như vậy gia đình có được phần nào không?

- Sách do nhà xuất bản Công An Nhân Dân in, bán được 60 triệu đồng, cho gia đình 10 triệu, còn để làm tượng Nam Cao.

- Hằng năm đên ngày giỗ gia đình có được giúp đỡ gì không?

- Chả có gì, tự lo liệu cả.

- Các đoàn thể có đến viếng chứ, thưa cụ?

- Vâng, đến thắp nhang rất đông.

- Nhà văn Nam Cao có người con nào theo nghề văn chương không hả cụ?

- Ba trai, một gái, không ai nối nghiệp Nam Cao.

- Thưa, mộ cụ Nam Cao nằm trên nền nhà cũ của nhà văn?

- Không, nhà Nam Cao phía trên cách đó 200m. Chỗ mộ Nam Cao là cạnh nền nhà Lão Hạc, lúc còn sống hai người chơi thân, cuộc đời Nam Cao có những trùng hợp kỳ lạ, Chí Phèo sinh ở Vũ Đại thì Nam Cao chết ở Vũ Đại, Nam Cao viết tác phẩm Lão Hạc, thì mộ nằm trên đất Lão Hạc. Nam Cao người làng Đại Hoàng thì cũng có một thời dạy học tại trường Đại Hoàng ở Thái Bình…

Thấy đã quá trưa, tôi xin gửi ông bà chút quà rồi cáo lui. Ra sân đứng chụp chung với cụ Đạt một tấm ảnh, cụ nói thêm: “Đây là ngôi nhà bốn anh em tôi sống từ nhỏ.”

Theo dõi công việc của tôi, bây giờ anh xe tỏ ra rất có cảm tình, anh mời tôi về nhà anh cơm nước nghỉ trưa, hai giờ đi xe từ Vĩnh Trụ về thẳng Hà Nội. Tôi nhận lời, nhưng dọc đường nhớ chuyện xe ôm cô gái “Liêu Trai” kể nên sợ, tìm cách thoái thác. Năn nỉ mãi anh mới chịu trả tôi về phố thị trấn. Tìm một quán phở ăn tạm, lang thang cho đến khi có chuyến xe đầu tiên đi Hà Nội.

Một ngày hơi vất vả nhưng vui vì biết thêm được nhiều điều mới mẻ.

Tháng Năm 2005


(1) Làng Vũ Đại của Chí Phèo là địa danh sáng tác, nhưng lúc chết, Nam Cao chết tại làng Vũ Đại trong Ninh Bình. Vì vậy khi tác phẩm Chí Phèo ra đời, nhiều bô lão ở Ninh Bình bảo “Nam Cao nói láo” (lời cụ Đạt).

(2) Cụ Trần Hữu Đạt em Nam Cao xác nhận năm sinh 1915.

(3) Đọc Nhà văn Nguyên Hồng QHQOK 5.

(4) Cô Bích Hằng lúc học cấp 3 bị chó dại cắn, sau khi chữa khỏi thì có khả năng “tìm mộ từ xa.”

Yến Phương: Dốt như Tuyên giáo…

 Chắc chỉ có một mình Tuyên giáo Trung ương là trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, thông kim bác cổ đến mức có thể phán xét được cả tiền nhân !


"Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương"

Nguyễn Trãi – Bình Ngô Đại Cáo


Từ những lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, thầy cô thường giảng rằng : Việt Nam là đất nước có bề dày lịch sử hơn 4000 năm văn hiến ; cha ông ta đã có những trận chiến oai hùng chống giặc phương Bắc để bảo vệ Tổ quốc. "Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập – Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương" (Nguyễn Trãi – Bình Ngô Đại Cáo).


Lịch sử, với tôi, là một bức tranh nhiều hình ảnh và màu sắc. Ở đó, tôi không chỉ được một lần "sống lại" với những trận chiến oai hùng của cha ông, mà còn có dịp tìm hiểu rõ hơn những ẩn khuất, những điều mà trường học chưa chắc được phép dạy.


Có người nói lịch sử thuộc về phe chiến thắng, điều đó không sai, nhưng cũng có thể chưa đúng hoàn toàn. Bởi, dù có che đậy như thế nào, guồng máy của cuộc sống với sự tiến bộ của "thế giới phẳng", của 4.0, rồi lịch sử cũng sẽ dần trở về đúng với vai trò của nó.


Đó là một Nguyễn Trãi với Lệ Chi Viên. Đó là việc nhìn nhận lại ít nhiều vai trò của Hồ Quý Ly. Đó là việc suy xét xem Nguyễn Ánh – Gia Long có thật sự là "tội thần" với đất nước ? Đó là việc minh oan cho Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Và đó còn là việc nhìn lại công – tội thật sự của Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký.


Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Ngô Nhân Dụng: Tập Cận Bình phải học làm chíp

Thế kỷ trước, kinh tế muốn chạy được cần phải có dầu lửa; bây giờ thì ai cũng cần chất bán dẫn. Hiện Trung Quốc chỉ sản xuất được 17% chất bán dẫn cần dùng trong nước (semiconductors bên Trung Quốc gọi là ‘bán đạo 半导,’ chữ đạo nghĩa giống như dẫn). Kế hoạch 5 năm mới (2021-2025), nhấn mạnh, “Tự túc về kỹ thuật là điểm tựa chiến lược để phát triển quốc gia.”

Vì vậy ông Tập Cận Bình thúc đẩy việc chế tạo các chất bán dẫn tân tiến nhất. Năm 2014, Bắc Kinh đổ ra $22 tỷ đô la đầu tư cho các công ty làm chíp, năm 2019, lập thêm một quỹ $30 tỷ, các tỉnh và thành phố đều bỏ thêm tiền vào, theo Yoko Kubota trên nhật báo The Wall Street Journal ngày 10 tháng 1, 2022.

Với những ngân sách lớn như thế, trong 7 năm qua hàng chục ngàn công ty đã đăng ký chế tạo chất bán dẫn hoặc các công nghiệp liên hệ. Nhưng kết quả không đúng như Tập Cận Bình trông đợi. Trong ba năm vừa rồi, đã có 6 công ty lớn, sau khi được trợ giúp $2.3 tỷ mỹ kim, bắt đầu hoạt động rồi đóng cửa sớm, mà không làm ra một con chíp nào cả. Kubota tìm hiểu hai công ty quan trọng ở Vũ Hán (Wuhan, 武汉) và Tế Nam (Jinan, 济南).

Công ty ở Vũ Hán mang tên là Hoằng Tâm (Hongxin, 弘芯, viết tắt HSMC) đã chính thức giải tán vào tháng Sáu vừa qua. Công ty ở Tế Nam là Tuyền Tâm (Quanxin, 泉芯, viết tắt QXIC), đã ngưng hoạt động chờ thanh toán.

Một người đã giúp cả hai công ty trên ngay từ đầu, có lúc đã đóng vai chỉ huy. Nhân vật này, Cao San (Cao Shan) kinh doanh trong ngành chất bán dẫn từ năm 2005, đã qua Đài Loan tuyển mộ các chuyên viên cho cả hai. Cao San là một tên giả, để đánh lừa chính phủ Đài Loan, họ vẫn theo dõi những hoạt động của Trung Cộng mua chuộc nhân tài kỹ thuật. Tân Trúc, bên cạnh Đài Bắc hiện là thủ đô chất bán dẫn của thế giới.

Nguyễn Đức Tùng: Một Bông Hồng Cho Phạm Đoan Trang

Hình minh hoạ Image by Rosalia Ricotta, Pixabay

Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Anh đã nói thay cho tất cả chúng tôi.

…Khuôn mặt em như một bờ vai

Để dân tộc gối đầu lên

Ý Nhi

 

1.

Linh hồn đất nước đã bay đi

Bầu trời khô hạn

Sài Gòn Hà Nội mùa đại dịch chưa qua

Người chết đêm khuya chưa kịp chôn

Chúng đã nôn nóng giở trò

Gởi quà mừng Giáng sinh dân tộc

Bằng đám rước dâu ư?

Không

Bằng tiếng pháo bông?

Không

Bằng tiếng khóc

Của người mẹ già tám mươi tuổi

Tôi cúi xin anh chị bên đường

Một bông hồng cho Phạm Đoan Trang


Phan Lạc Phúc: Văn Cao. Giấc Mơ Một Đời Người

Tranh Đinh Cường, minh họa nhạc phẩm Thiên Thai của Văn Cao

 Đầu năm 1995, có người trao cho tôi một cuốn video mà tôi mong đợi đã từ lâu. Cuốn băng về Văn Cao: “Giấc Mơ Của Một Đời Người”. Từ bữa ấy tới nay, đã hai, ba lần xem đi xem lại cuốn băng này mà lần nào xem xong tôi cũng không tránh khỏi thở dài. Một con người tài hoa như vậy, tâm hồn lớn lao như vậy, có đóng góp như vậy mà cuối đời, sao mà tẻ lạnh, buồn tênh. Một ông già lụm cụm, râu tóc bạc phơ, một mình trong gian phòng vắng, ngoài trời mưa bay, cây bàng khẳng khiu, những chiếc lá cuối cùng đã rụng. Văn Cao nhìn “cây bàng mồ côi mùa đông” trong khi chiếc đồng hồ trên tường không ngừng nghỉ, điểm những giọt thời gian tích tắc, tích tắc. Những tiếng tích tắc ấy vang lên mênh mông trong gian phòng vắng như một câu hỏi mơ hồ nhưng khắc nghiệt: đến bao giờ.

Đến bao giờ xuất hiện dấu chấm hết cho một đời người, bởi vì không ai tránh khỏi: con người sinh ra là để chết (l’homme, un être mortel). Những tiếng tích tắc ấy như những giọt cường toan nhỏ xuống lòng người.


Trần Mộng Tú: Câu Hỏi Cuối Cùng

Chó là một loài gia súc được thương yêu và thân mật với người nhất, vì chó thông minh và thân thiện. Ngoại trừ chó săn và chó dùng trong quân đội để phụ với các binh sĩ trong lãnh vực trinh sát, hành quân, thì không được thân thiện lắm vì nó được huấn luyện cứng rắn ngang với một binh sĩ, nhưng loại chó này cũng rất chí tình với chủ, nó có hữu ích về mặt thi hành nhiệm vụ ngang với một quân nhân.

Ngày cuối cùng kết thúc sứ mạng của các chiến sĩ Hoa kỳ ở Iraq rồi cũng phải đến. Vào ngày thứ bẩy 17 tháng 12 năm 2011, tổng thống Mỹ chào mừng những chiến sĩ cuối cùng vừa rút ra khỏi mặt trận Iraq sau gần chín (9) năm trong nắng, cát nóng và gió Trung Đông. Tổng cộng, Hoa Kỳ mất 4500 binh sĩ và hơn 33 ngàn binh sĩ khác bị thương. Những chiến sĩ hy sinh mạng sống này trung bình ở tuổi 26; gần 1,300 người ở tuổi 22 hoặc trẻ hơn và 511 người trên tuổi 35.(*)

Hình minh hoạ janeb13Pixabay

Tuy nhiên, người ta quên liệt kê, song song cùng với các chiến sĩ này, một lớp chiến sĩ khác cũng vào sinh, ra tử trong cát nóng và gió chướng. Đó là những chiến sĩ bốn chân, được mệnh danh là “Quân Khuyển”, tức là “lính chó” (soldier dogs). Con số những chú chó anh hùng tham gia vào cuộc chiến này lên đến 1000 con và bao giờ chúng cũng ở tiền tuyến.

Chó được tuyển vào Quân Khuyển phần đông thuộc giống Belgian Malinois và German Shepherds, một số nhỏ là Labrador.

Nguyễn Văn Thà: Thánh Nữ

 1. Dẫn ngôn

Hình một người nửa nam nửa nữ trên một bình gốm Hy Lạp cổ đại, Wikipedia

Thần thoại Hy Lạp về người tri kỷ, hay về chuyện một con người trở thành những con người và ngược lại

Người ta kể rằng vào thời hồng hoang, khi con người mới được tạo ra, con người có hình dạng khác với người ngày nay. Trong “The Symposium: Chuyện trà dư tửu hậu”, triết gia Platon mượn lời Aristophanes, một kịch tác gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ, kể truyện về những người tri kỷ như sau:

“Theo thần thoại Hy Lạp, con người ban đầu mới được tạo ra, có bốn tay, bốn chân và một cái đầu với hai khuôn mặt. Thần Chủ tể Zeus/Jupiter thấy thế, đâm lo sợ về sức mạnh của họ, và để ngăn ngừa tai hoạ về sau, thần đã chẻ dọc con người thành hai phần, và bắt họ phải trọn đời tìm kiếm nửa-kia của mình.” 

Quả thật, cũng theo thần thoại kể trên, trong Thiên nhiên có ba giới tính: Đàn ông, đàn bà và androgynous: nghĩa đen là đàn ông+phụ nữ hay là nửa nam nửa nữ, trong tiếng Hy Lạp. 


Mỗi giới có hai bộ sinh dục, nghĩa là mỗi đàn ông có hai bộ sinh dục đàn ông và mỗi đàn bà có hai bộ sinh dục đàn bà, nằm đối xứng hai bên thân thể, trong khi người nửa nam nửa nữ có một bộ sinh dục nam ở một nửa dọc thân thể cộng với một bộ sinh dục nữ nằm đối xứng ở nửa dọc thân bên kia. 


Giới tính của con người có liên quan đến nguồn gốc của họ: đàn ông là con của Mặt trời và đàn bà là con của Trái đất, trong khi androgynous là con của Mặt trăng, được sinh ra từ sự hôn phối giữa Mặt trời và Trái đất. 



Lê Chiều Giang: Cá Vàng

Tranh Đinh Cường

“Sao lòng ta bỗng rộn ràng

Như những toa tàu sắp chạy

Thăm những nhà ga sắp hồi sinh

Những nhà ga sắp thở…”

[Đinh Cường 1969]


 Anh Đinh Cường gọi phone cho tôi chỉ hỏi:” Làm sao để thành ...Cá?”.


Cá bơi xuôi lội ngược, vẫy vùng trong biển lớn, hay quanh quẩn trong hồ ao? Cá đẹp óng ánh bơi ngược dòng, hay lừ đừ chịu trận trong lưới ngày, và ngay cả đang giãy dụa chết bởi những lưỡi câu lờ lững?


Không phải, Anh hỏi tôi về cá khác. Cá Vàng.


Năm 1997, anh Trần Công Sung từ Paris viết bài về chuyến ghé thăm một số bạn bè sống ở California và một vài tiểu bang khác.


Tạp Chí Thế Kỷ 21 gửi xuống San Diego bài viết của Trần Công Sung viết riêng cho Nghiêu Đề, chỉ bởi từ câu nói đùa của anh:” Suốt bao năm, Giang ngắm nhìn tôi như thích một con Cá Vàng”.


Anh Trần Công Sung viết lời ngợi ca, khen tặng tất cả những “Vợ hiền” trên trái đất. Dù có thấp thoáng chút hồn thơ mộng, vẫn không dám chểnh mảng cái trách nhiệm khó khăn muôn đời của “Hội phụ nữ” chúng tôi: Bằng mọi gíá, luôn xây dựng, vun xới quyết liệt cho một gia đình ấm êm, và hạnh phúc


Cuối cùng, Anh Nghiêu Đề đau ốm buông bỏ hết mọi thứ, rồi ra đi. 


Mặc Thu: Mì Quảng Của Bùi Giáng

 

Lần đầu tôi gặp Bùi Giáng vào năm 1957, tại Sài Gòn. Khi ấy, mỗi chiều tối, gần như thường lệ, Đinh Hùng và tôi gặp nhau ở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, đường Tự Do (Catinat cũ) để uống bia. Quán này của anh chị Phạm Xuân Thái, thường tụ họp khá đông giới văn nghệ sĩ của thủ đô miền Nam. Anh Phạm Xuân Thái lúc ấy đã rời chức bộ trưởng Bộ Thông Tin. Anh đại diện giáo phái Cao Đài trong chính phủ Ngô Đình Diệm.

Quán này có hai tầng tiếp khách. Tầng trên lầu và tầng dưới. Tôi và Đinh Hùng thường ngồi ở cái bàn nơi góc cửa ra vào, tầng dưới. Nhiều khi cùng ngồi với chúng tôi, có nàng thơ bé nhỏ (chừng 16, 17 tuổi) người miền Nam học trường Pháp, Marie Curie. Nàng tên Diệu Hiền (có lẽ chỉ là bút hiệu). Diệu Hiền có nét đẹp thánh thiện, luôn mặc quần áo trắng, tóc buông lơi ngang lưng, không chút phấn son. Diệu Hiền làm thơ, bằng tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt. Trong thơ nàng thường tự xưng là “Người yêu của Chúa” và thường nói với chúng tôi “không thể yêu ai, ngoài Chúa”; gia đình Diệu Hiền theo đạo Công Giáo gốc đã từ mấy đời. Câu chuyện Diệu Hiền, tôi sẽ nói ở một đoạn sau trong hồi ký này.

 

Trở lại Câu Lạc Bộ Văn Hóa. Tuy làm chủ, nhưng anh chị Phạm Xuân Thái ít khi xuất hiện. Đôi lần, chị Thái từ nhà trong đi ra phố, ngang qua bàn chúng tôi, khẽ mỉm cười, nghiêng đầu chào. Chị có dáng lả lướt, thanh tao, mơ hồ một nét liêu trai. Nếu khách là kẻ đa tình, không thể không ngơ ngẩn nhìn theo. Cái dáng đẹp ấy có thể dìm chết khách vào trong mộng.

 

Một buổi, Đinh Hùng bảo tôi:

 


NguyễnPhúc Bửu-Tập: Một Kỳ Án Trong Văn Học Thế Giới Thế Kỷ Thứ 20 Giải Mở - Cái Chết Của Saint-Exupéry

Người Việt Nam ta ở tuổi trên dưới 70, lúc trẻ có học tiếng Pháp, chắc không ai xa lạ với hai tên ông Phạm Duy Khiêm và ông Bùi Xuân Bào. Ông Phạm Duy Khiêm tác giả cuốn Légendes des Terres sereines (Truyền Kỳ Mạn Tiên), thuật chuyện nàng ‘thiếu phụ Nam Xương” và chuyện “ngày xưa có anh Trương Chi, mặt thì thật xấu, hát thì thật hay” bằng giọng văn tiếng Pháp trong và mát như nước suối Evian. Ông Bùi Xuân Bào đến sau, văn chương trau chuốt óng ả, viết bản luật án về Saint-Exupéry làm sống văn nhân nước Pháp suốt phần sau của thế kỷ thứ 20, trong giới người trẻ Việt Nam.

Giữa tháng Tư năm 2004 vừa qua, báo The New York Times ở Mỹ và Le Monde ở Paris thông tin là xác chiếc máy bay do sĩ quan không quân Antoine de Saint-Exupéry lái được vớt lên từ một nơi gần cửa biển Marseille, thuộc biển Méditerranée (Địa Trung Hải). Danh số (serial number) của máy bay đúng là con số sản xuất của chiếc máy bay mất tích ngày 31 tháng Bảy năm 1944. Như vậy một điều kỳ án trong văn học thế giới đã gây thắc mắc đúng nửa thế kỷ vừa được giải mở. Ta thử lược đọc lại chút tiểu sử của Saint-Exupéry.


Antoine de Saint-Exupéry (từ sau viết gọn St-Ex) sinh năm 1900 tại Lyon, nước Pháp, thuộc một gia đình quý tộc đã suy kém. Từ nhỏ ông thích phiêu lưu, muốn trở thành một thủy thủ. Sức học kém, ông thi trượt vào trường Sĩ quan Hải Quân (Ecole Navale). Chế độ thi cử nước Pháp rất khắc nghiệt, nhiều lúc trớ trêu, như đã đánh trượt văn hào André Gide khỏi kỳ thi Tú tài, và nữ sĩ Françoise Sagan không qua nổi bằng Tú tài Hai, Bac Philo! Vừa đến tuổi quân dịch, St-Ex chọn binh chủng Không quân. Được bằng cấp lái phi cơ năm 22 tuổi. Thập niên ’20 thế kỷ trước là thời kỳ thám hiểm các đường bay, bắt đầu là các chuyến bay bưu tín. Năm 1926, St-Ex xin gia nhập hãng Latécoère, tình nguyện vào toán phi công khai phá đường bay đem bưu kiện xuống Phi châu và vượt Đại Tây dương xuống Nam Mỹ. Vào thập niên ’30, St-Ex chính thức trở thành phi công thám hiểm các đường bay mới của hãng hàng không quốc gia Air France và được chỉ định làm phát ngôn viên của hãng. Đồng thời ông cộng tác với báo Paris Soir, viết những bài phóng sự về các đường bay mới mở. Thế chiến thứ Hai chợt nổ, tuy đã nhiều lần bị thương trong các phi vụ thám hiểm trước, ông tình nguyện gia nhập đoàn phi công trinh sát, hoạt động thám hiểm hậu cần của địch quân Đức quốc xã. Nước Pháp thất trận. Ông trốn qua được Hoa Kỳ. Năm 1943, ông gia nhập Lực lượng Giải phóng Đồng minh ở Bắc Phi, lại trở thành phi công trinh sát. Phi vụ cuối cùng của ông vào ngày 31 tháng Bảy năm 1944. Phi công và phi cơ được báo cáo là mất tích.


Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

Tiểu Ký: Phụ tử tình thâm - HAI ĐẠI NHẠC SĨ HỌ TRẦN

Giới âm nhạc Việt Nam và quốc tế mới mất thêm một thiên tài: nhạc sĩ Trần Quang Hải đã ra người thiên cổ ngày cuối năm 30 tháng 12, 2021 tại Paris.  Phu nhân của nhạc sĩ là ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, tuổi đã lớn nhưng tiếng hát vẫn rất ấm và cao vút, kỹ thuật rất đáng khâm phục…

Trần Quang Hải (trái) và Trần Văn Khê, 2014

 Giáo sư Trần Quang Hải đã trình diễn hàng ngàn buổi tại nhiều quốc gia; tham gia hàng trăm đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống; giảng dạy tại nhiều trường đại học; sáng tác hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng... Ông  cũng thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.

"Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, nhạc đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ" - giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ trên blog cá nhân của ông.


Ts Phạm Trọng Chánh: Kỷ Niệm Với Nhà Nhạc Học Trần Quang Hải (1944-2021)

 GSTS Trần Quang Hải vừa qua đời tại Paris ngày 29-12-2021. Lần cuối cùng gặp anh, anh nói với tôi như trăn trối cho biết anh đang chữa trị ung thư máu, bị thận và tiểu đường, không biết sẽ ra đi lúc nào, hôm nay anh đi ngủ và anh bình thản ra đi lúc 0 giờ 46. Gần năm mươi năm thân thiết với anh, anh xem tôi như em trai, tôi có khuôn mặt giống anh và Bác Khê nên đi đâu ai cũng hỏi : Anh có phải em anh Hải con Bác Trần Văn Khê không ? Tôi đáp : Tôi là học trò Bác Khê, Ai cũng nói : Học trò sao giống Thầy thế ! Những buổi gặp mặt chung với mọi người, anh cũng đùa với mọi người tôi là em của anh. 

Hình chụp tại Paris năm 2012. Từ trái: Trần Quang Hải, một người bạn, tác giả bài này Phạm Trọng Chánh.


Tôi chia xẻ cùng anh nhiều kỷ niệm từ những năm 1970, tôi học đàn, học nhạc với Bác Khê, anh phụ tá Bác hướng dẫn tôi, tôi học bài Phong Xuy Trích Liễu của Nguyễn Tri Khương, truyền thống gia đình anh, tôi dự định soạn luận án về Hát Bội tại trường EHESS Sorbonne, học thêm mấy năm Hán Nôm. Nhưng sau khi tìm kiếm tài liệu kho sách Hán Nôm về các tuồng tích cổ Việt Nam tại thư viện Quốc Gia Paris thì mới thấy đề tài này không dễ chút nào, vì quá phong phú. Tại thư viện lưu trữ đầy đủ từ những bản tuồng Hán Nôm Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh, Bùi Hữu Nghĩa… cho đến những bài hát cải lương ngày xưa bán ở chợ, cả một kho tàng văn hóa Việt Nam bị quên lãng, có những vở tuồng như Quần Phương Hiến Thụy và Vạn Bửu Tình Trường gồm một trăm hồi từng diễn cả trăm ngày nơi Duyệt Thị Đường cung điện Huế. Ngày nay hầu hết chúng ta chỉ biết đến kho tàng văn hoá thi ca, còn kho tàng kịch nghệ Hát Bội gần như bị quên lãng. Khai thác kho tàng văn hoá ấy phải là công sức một Viện Nghiên Cứu trong một thời gian dài, phải tinh thông Hán Nôm, còn việc làm luận án chỉ là việc cỡi ngựa xem hoa, tôi thấy khó và lâu dài quá. Trong khi đó về Giáo Dục thời Pháp thuộc, và Giáo Dục miền Nam có đầy tài liệu tiếng Pháp, tiếng Việt, tôi đành quay sang soạn luận án Tiến sĩ về Giáo Dục với GS Lê Thành Khôi. 


Xong việc học tôi tham gia nhiều loại hoạt động khác. Công việc đại diện thương mại lúc còn sinh viên lại dẫn tôi vào con đường kinh doanh, lập công ty kinh doanh nữ trang, đá quý… cho đến khi hưu trí, tôi không say mê làm giàu, công việc chỉ cần làm đủ sống thong thả. Công việc làm phụ tá cho họa sư Lê Bá Đảng lại dẫn tôi đến thú đam mê học trường Mỹ Thuật và Điêu Khắc, thế là đủ thú vui cầm thư thi họa, viết nghiên cứu trở thành thú vui tiêu khiển. Việc tiếp xúc với GS Hoàng Xuân Hãn để học hỏi thêm Hán Nôm lại đưa tôi vào con đường nghiên cứu Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và các nhà thơ cổ điển Việt Nam, dịch thơ lục bát các tác phẩm thi ca vĩ đại của nhân loại như Odyssée, Iliade của Homère, Thần Khúc của Dante và Tiểu Thuyết Hoa Hồng của Guillame de Lorris và Jean de Meun.


Học trò người Việt của Gs Khê, ngoài tôi chỉ có anh Nguyễn Thuyết Phong, cho đến khi xong luận án Tiến Sĩ về Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam, anh sang Mỹ dạy học. Tôi vẫn thường gặp anh Hải và có mặt trong các buổi anh và Bác Khê diễn thuyết, trình diễn. Có một lần đi diễn tại Đức anh đàn môi, đánh muỗng và tôi trình diễn đàn tranh.


Anh Trần Quang Hải sinh năm 1944 tại xã Linh Đông, quận Thủ Đức Sài Gòn. Con trưởng Giáo sư Trần Văn Khê (1921-2015) và bà Nguyễn Thị Sương (2021-2014) nguyên giáo sư Anh Văn trường Trung Học Gia Long, Sài Gòn. Dòng dõi Nguyễn Tri Phương và gia đình quê quán làng Vĩnh Kim, nổi tiếng nhiều đời nghề  Âm Nhạc. Hậu duệ đời thứ 5 nhạc sĩ cung đình Trần Quang Thọ (1830-1890), đời thứ 4 tư Trần Quang Diệm nổi tiếng đàn tỳ bà, ông nội là Trần Quang Triều, nổi tiếng đàn kìm và dây tố lan. Bà cô anh là Trần Ngọc Viện là người lập gánh Cải Lương Đồng Ban đầu tiên. 


Anh là trưởng nam gia đình có bốn anh em, hai trai hai gái. Em anh là anh Quang Minh ở Việt Nam và chị Thủy Tiên, Thủy Ngọc ở Paris.


Anh xem tôi là người thân trong gia đình, ngày cháu Minh Tâm ăn thôi nôi, khoảng năm 1974, tại Limeil Brévanne, ngoại ô Paris, tôi là người thân được anh mời đến, chị vợ đầu tiên của anh phụ trách bếp danh tiếng Le Table de Mandarins, Paris, tiệm ăn Việt lâu đời và sang trọng Quận 6, trước trường Mỹ Thuật Paris, nơi các ca sĩ Cao Thái, Bích Chiêu, Bạch Yến.. thường đến hát. Anh quen với chị khi đến trình diễn, đánh đàn nơi này và tiến tới hôn nhân.  Nhưng rồi không thuận nhau, chị chia tay đi tu nơi Làng Mai Thầy Nhất Hạnh và mất mấy năm sau vì bệnh ung thư. Cháu Minh Tâm lớn lên học nhạc với ông Nội và với Cha, nhưng lại nổi tiếng về nghề nấu ăn của mẹ, viết sách Nouille d’Asie và dạy nấu ăn Việt trên Internet. Gặp anh Hải lần cuối tôi nói với anh : “Các con tôi thường khoe và đãi ba mẹ bằng những nón ăn học của cô Minh Tâm”.

 Anh cười : “Minh Tâm nấu ăn ngon như mẹ cháu”. Những năm sau này anh Hải thường chụp ảnh trên Facebook gửi cho tôi xem những món ăn anh nấu mỗi ngày trình bày rất mỹ thuật cùng với chị Bạch Yến.


Anh Hải học trung học Pétrus Ký và tốt nghiệp đàn vĩ cầm với Gs Đỗ Thế Phiệt, sang Pháp năm 1961 anh vào học với giáo sư danh tiếng thế giới đàn vĩ cầm Yehudi Meuhim, nhưng giáo sư bạn thân của cha anh lại khuyên anh rằng, đàn vĩ cầm có nhiều người học, có thêm một người danh tiếng nữa cũng thừa, hãy trở về học với cha là Giáo sư Trẩn Văn Khê kế nghiệp con đường vẻ vang của cha. Anh Hải nghe lời khuyên trở về học với cha tại Trường Đại Học Sorbonne ngành Âm Nhạc Dân Tộc Học và Trường  Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội  Paris, EHESS. Hàng trăm công trình nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam của anh được Đại Học Sorbonne công nhận, và cấp bằng Tiến Sĩ Âm Nhạc Dân tộc thay luận án. Anh vào làm việc tại CNRS, Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Pháp và Viện Bảo Tàng Con Người, Musée de l’Homme Paris từ năm 1968 đến năm 2009 về hưu trí. Anh tập họp và giới thiệu các công trình nghiên cứu trong sách anh xuất bản tại Pháp và Mỹ : 50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam và  Hát đồng song thanh.


Anh xuất bản 23 đĩa nhạc, được Prix du Disque của Accadémie Charles Cros năm 1983 và được Prix Cristal của CNRS năm 1995.  4 DVD hát song thanh, 2 DVD Âm nhạc Việt Nam. Năm 2000 và 2009, một phim về cuộc đời nghiên cứu âm nhạc của anh, và hàng trăm bài viết trên các tạp chí Âm Nhạc thế giới. Anh được Tổng Thống Pháp Jacques Chirac trao Huân Chương Hiệp Sĩ Danh Dự năm 2002, Huân Chương Danh Dự Lao Động Đại Kim năm 2009, tưởng thưởng những công việc truyền bá văn hoá của anh.


Về Việt Nam anh giúp đỡ hồ sơ cho các công trình: Cồng chiêng Việt Nam, Đờn ca tài tử, nhạc Cung Đình… được Unesco công nhận là di sản Văn hoá quốc tế. Anh còn là thành viên Hội đồng Âm Nhạc Truyền Thống Quốc Tế và nhiều Hội Âm nhạc khác.


Ngoài công việc làm chính thức, anh thường đi trình diễn khắp nơi trên 3500 buổi diễn trên 70 quốc gia trên thế giới, chưa kể những tiệc cưới, những buổi gặp mặt các hội hè người Vịệt tại Paris, diễn tại các trường học cho học sinh từ Paris đến các tỉnh. Ai mời anh cũng đi chẳng nề hà gì công lao chi phí.. Từ trình diễn với cha và với cô em họ Hoàng Mộng Thúy hát dân ca.  Từ năm 1978 anh kết hôn cùng ca sĩ Bạch Yến nổi tiếng với bản Đêm Đông, chị chuyển sang hát các làn điệu dân ca cùng anh và theo anh đi khắp các chân trời. Chị Bạch Yến rất thương yêu cháu Minh Tâm, một lần tôi hỏi thăm chị khoe : Cháu bây giờ lớn 60 kí !


Hôm nay, anh đã ra đi, những kỷ niệm vui bao năm gặp gỡ, với anh lúc nào cũng vui cười tươi hài hước, gặp anh, gặp Bác Khê, Bác Trạch về là vui cả tuần. Anh Hải đã ra đi, tôi vẫn mường tượng anh đi lưu diễn nơi xa, nơi thảo nguyên Mông Cổ, anh hát bằng song thanh bằng môi và bằng bụng, chiếc đàn môi  trên miệng anh những âm thanh lạ lùng vùng cao nguyên, và đôi muỗng của anh vui vẻ nhẹ nhàng như những trò chơi trẻ em, rồi trở về quê hương với những bản đàn bầu, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, cây đàn nào anh cũng thông thạo. “Nghề chơi cũng lắm công phu”,  nghề chơi nào của anh cũng công phu ít ai sánh kịp.


Paris ngày 3-1-2022