Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

Nguyễn Đức Tường: Nhân chuyện hành hương thăm mộ Alexandre de Rhodes và vài chuyện khác

Thuở nhỏ học trường tỉnh ở thị xã Hải Dương, tôi thường được thưởng những tờ chuyện tranh kể sự tích các nhân vật lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu, Đại úy Đỗ Hữu Vị - Anh hùng Pháp-Việt, Cố Alexandre de Rhodes, vân vân. Nhờ vậy mà tôi tích được một tập chuyện tranh, quý hóa lắm, cố giữ mãi nhưng rồi cũng mất hết vì chiến tranh. Ngày ấy, những chuyện tranh này chắc phải rất phổ biến, được phát cho học trò trong khắp nước bởi vì, bao nhiêu chục năm về sau, trong một dịp nào đó tôi kể chuyện, viết “Đại Đỗ Hữu Vị...” một bạn học cũ cùng lớp ở trường Khải Định (nay là Quốc Học, Huế) đọc thấy, bèn gửi email hiệu đính, “Đại úy Đỗ Hữu Vị - Anh hùng Pháp-Việt. Ngày ấy, dân ta đã làm gì có đại tá?” Thì ra bạn tôi cũng có cùng tờ chuyện tranh. Cũng được thôi, ông sĩ quan trong tranh đứng cạnh chiếc máy bay đang bốc cháy, trông rất điển trai, mặc quân phục, đầu đội képi, nhưng tôi không biết ông anh hùng như thế nào. Xin lỗi người Anh hùng Pháp-Việt, phải kéo cấp bậc của ông xuống mấy nấc.

Nhưng với Alexandre de Rhodes thì khác. Qua chuyện tranh, tôi được biết ông là người đã cho dân Việt ta chữ Quốc ngữ, một công ơn vô cùng to lớn vì nhờ thứ chữ viết này mà một người Việt trung bình có thể học để biết đọc, biết viết trong vài tháng. Tôi biết thế vì mẹ tôi cho tôi chơi với bộ chữ abc... dạy tôi chắp chữ đánh vần năm tôi chừng 4 tuổi. Sau vài tháng, một hôm bố đi làm về, mẹ bảo tôi biểu diễn đánh vần cho ông xem, khiến ông ngạc nhiên hết... lớn. Cho đến nay, tôi vẫn còn mơ hồ nhớ lại mùi gỗ thông thơm ngọt của bộ chữ.

Nhờ có chữ Quốc ngữ mà năm 1946, ngay trong chiến tranh chống Pháp giành độc lập, nạn mù chữ có thể nói hầu như được xoá hết ở Việt Nam, hay ít nhất ở quanh tỉnh Hải Dương và Thái Bình nơi tôi được trực tiếp trông thấy, tản cư, chạy giặc từ làng nọ sang làng kia. Không ai thật sự bị bắt buộc nhưng ông già, bà cả được khuyến khích đi học đánh vần. Bằng phương pháp chủ yếu dựa vào tâm lý làng xã của dân ta nếu so với tiêu chuẩn ngày nay mạnh mẽ kêu đòi nhân vị, nhân quyền... có lẽ sẽ bị coi là xúc phạm, thế nhưng ngày đó lại rất được việc. Thỉnh thoảng người ta cho dựng trên đường cái ở đầu làng hai cái cổng tượng trưng cạnh nhau, với tấm bảng to tướng viết những chữ i, tờ...[1] Ai đánh vần được thì đi qua cổng lớn, không đánh vần được thì đi qua cổng nhỏ! Không mấy người muốn đi cổng nhỏ. Riêng tôi, khi ấy mới vào trung học, nhưng cũng hào hứng cố dành thì giờ đọc chính tả cho vài dân làng người lớn trẻ con viết, ít dòng thôi song cũng gọi là chút lòng đóng góp. Đó là những ngày vui tôi không bao giờ quên mà trái lại luôn luôn ghi nhớ ơn sâu của Alexandre de Rhodes.

Đỗ Hồng Ngọc: Nghĩ về “Tập sách Cái cười & Sự lãng quên” (Tiểu thuyết Milan Kundera, Trịnh Y Thư dịch)

Đó là cuộc truy tìm bản ngã con người để từ đó rất có thể lóe lên luồng sáng mới mẻ cho ta thấy rõ hơn cái ẩn mật của hiện tồn. (Kundera)

Je pense donc je suis… (Descartes).

Mà vì hình như, suy nghĩ một mình không thể tìm ra bản ngã, tác giả phải tạo ra nhiều mình khác qua nhân vật, gọi là tiểu thuyết để cùng đi tìm: tìm trong cái phông nền lịch sử, trong tình dục, trong tình yêu, hạnh phúc, đớn đau…

Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self).

Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.

Diễn viên, kịch sĩ cũng sắm nhiều “bản ngã” cho mình, như lúc sắm vai vua, lúc sắm vai ăn mày… nếu “thức tỉnh” cũng dễ vượt thoát. Nhà viết tiểu thuyết còn có ưu thế hơn: tiểu thuyết nói được những điều mà chỉ tiểu thuyết mới nói được (Kundera). Hài hước, châm biếm, ẩn dụ, châm ngôn, giả định, khoa đại, bông lơn, gây hấn, huyễn hoặc,… và dĩ nhiên cũng không tách khỏi cái “vòng tròn ảo diệu bao quanh đời sống” dù giãy nảy: Tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu của sử gia (Kundera). Cái “vòng tròn ảo diệu bao quanh đời sống” đó dù làm người ta nôn ói, người ta bị điều khiển ngay cả cách làm tình thì cũng đã tạo cái cớ cho tiểu thuyết gia vung chiêu. Dĩ nhiên lịch sử chỉ là… những lời nói dối (thơ ĐN).

Chỉ có một cách thoát, như Vạn Hạnh thiền sư dạy đệ tử hơn ngàn năm trước:

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
(Vạn Hạnh thiền sư)

Nhất Linh: Cô Thi Thi



"Cô Mùi ơi, cầu gẫy rồi!"

Mùi đương ngồi khâu ở trong buồng, ngừng tay và ngửng lên nghe ngóng.

"Tiếng ai như tiếng bà Ký Ân. Cầu gẫy rồi, anh Siêu ạ".

Siêu nằm ở giường bên cạnh đương thiu thiu ngủ trưa, thức giấc ngồi nhỏm dậy:

"Thế à? Cầu gẫy rồi à?"

Mùi nhìn Siêu và không giữ nổi nhếch mép mỉm cười; nàng thấy Siêu vẫn lo cầu gẫy mà sao lúc nghe tin cầu gẫy Siêu lại tươi hẳn nét mặt lên như thế kia. Siêu nói tiếp:

"À nhưng cô có mê ngủ không. Nước lụt thế này mà bảo có tiếng bà Ký Ân!"

Mùi nghĩ đến chỗ đó, hơi ngơ ngác; có lẽ nàng đã mơ chăng.

"Cô Mùi ơi..."

Siêu nói:

"Có tiếng bà ta thật. Mà như nói ở trong vườn. Lạ nhỉ?"

Hoàng Quân: Chợ trời làng Rất Gần

Chủ Nhật tươi hồng, xóm nhỏ nơi tôi ở bỗng rộn ràng, nhộn nhịp, khác hẳn với những Chủ Nhật im ắng thường lệ, là ngày nghỉ ngơi của mọi người. Xóm tôi nằm cuối làng Rất Gần (Rödgen đọc tiếng Đức nghe giống như “Rất Gần”), thuộc thành phố Bad Nauheim, một thành phố nghỉ dưỡng xanh tươi gần Frankfurt, miền trung nước Đức. Nhìn qua cửa sổ, hai người con của nhà bác đối diện lăng xăng dựng bàn, bày những món đồ dùng, đồ chơi của trẻ con. Vợ chồng láng giềng cạnh nhà khệ nệ khuân mấy thùng đĩa hát, thùng sách để trước cửa. “Ô, chợ trời hàng năm của làng”. Sực nhớ, tháng trước, lúc tôi đang lúi húi trồng cây, chị hàng xóm bên vườn kia nói vọng sang: “Chủ Nhật đầu tháng tới, làng mình có chợ trời.” Ý chị hàng xóm nhắc dịp dọn dẹp, tống tiễn bớt đồ đạc trong tầng hầm, nhà kho. Tôi ghi vội trong trí ngày tháng, để nhớ, không vắng nhà trong cuối tuần “quan trọng” này. Thật ra, tôi chưa hề nắm lấy thời cơ chợ trời để nhẹ gánh. Ngược lại, tôi ưa đi loanh quanh. Thấy món gì ngồ ngộ, hay hay tôi lại tha về. Theo nhận xét của chồng tôi, là mang về cho bụi có chỗ bám.

Làng nhỏ, suốt “đại lộ” xuyên qua làng, có hai gia đình Á châu: gia đình em gái tôi ở đầu đường, gia đình tôi ở cuối đường, ở giữa khoảng một trăm nóc nhà. Chúng tôi quen với chừng mươi gia đình trái phải gần nhà, nhưng cả làng hầu như ai cũng biết nhau. Trời đẹp, nhẩn nha đi dạo, ai nấy xởi lởi cất tiếng hỏi: “Wie geht's? Khỏe không?” Bâng quơ câu chuyện thời tiết, nói trông trổng, bởi, lắm lúc chẳng rõ tên họ người đối diện.

Cô Ba Điệu và cô Tư Đẹp dàn hàng trong sân. Tôi không biết tên hai cô, mặc dầu vẫn í ới chào nhau “Halli hallo” khi thấy nhau ngoài đường. Bởi thế, tôi đặt tên cho các cô theo mắt quan sát của tôi. Trên mấy bàn dài lủ khủ nhiều chai hũ lọ, các loại bình hoa. Tôi chú ý vài nhạc cụ đơn giản. Có lẽ quà lưu niệm từ những chuyến du lịch. Mắt tôi dừng lại ở cái lục lạc bằng trái dừa khô, trên vẽ những chấm li ti. Tôi mỉm cười, nghĩ thầm: “Ô, được quá! Cho làm bạn với những nhạc cụ dân tộc tôi mang về nhà từ những chuyến đi làm ở Phi châu”. Cô Ba Điệu nhanh nhẩu:

-Cái lục lạc này đã đi đoạn đường rất dài, từ Úc lận. Tiếng của nó ấm, nóng. Cát và sỏi vụn của núi lửa trong đấy.

Vừa nói, cô vừa lắc nhẹ lục lạc, rồi đưa cho tôi. Qua vài phút “thương lượng”, cái lục lạc đổi chủ. Tôi vui vẻ:

Phong Tử Khải: Dẫn Ngôn (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán.)

引言
Dẫn Ngôn
豐子愷
Phong Tử Khải

1.

Tôi thấy dường như trái tim con người có một lớp bao bì. Chất liệu và trọng lượng của lớp bao bì này khác nhau tùy người. Có người có trái tim dường như được bao bọc bởi một lớp vải mùng, che sơ sơ, và người ta có thể thấy dáng dấp chân thực của trái tim màu đỏ lung linh ẩn ẩn hiện hiện. Có người có trái tim được bao bọc bởi một lớp giấy, thoạt nhìn thì mặc dầu không thể thấy, những nếu rờ nhè nhẹ, có thể cảm thấy được. Rồi có lúc giấy phải rách, tim lộ ra đỏ thắm. Có người dùng bao bì bằng sắt, thậm chí dùng tám chín lớp. Làm gì thì làm, người ta cũng chẳng sờ tới được, chẳng phá ra được, và dáng dấp của trái tim, làm gì thì làm, vẫn không hiển lộ ra được.

Trái tim của Chiêm Chiêm 3 tuổi của nhà chúng tôi, chẳng bao bọc gì, ngay cả bởi một lớp vải mùng. Tôi thấy trái tim của nó thường trần trụi mà tươi đỏ.*

* Bài này chọn những tuỳ cảm rời rạc của tác giả mà thành, chứ không viết một mạch.

2.

Khi chuyện trò, người ta hay dùng lời, nghĩ ngợi trước sau, thủ thế chặt chẽ, tính toán cặn kẽ, như chơi cờ tướng. Tôi thấy thật căng thẳng, thật dễ sợ, nên tôi chỉ biết nín thinh.

Làm sao mà có được những người bạn khi chuyện trò không dùng thủ pháp đánh cờ tướng, mà buông mà phơi tim mình ra cho ta thấy, như đoá hoa nở ra trong ánh sáng mặt trời.

3.

Trong luống hoa tôi gây giống ba nhánh đậu ván. Tôi cấy chúng vào một xẻo đất trống, và rồi dùng các nhánh tre làm một cái giàn để chống và chư chúng. Mỗi ngày, sáng sớm, tôi sửa sang cho ngay ngắn nhành lẫn lá, ngắm chúng tươi tốt phơi phới, lòng tôi tự nhiên cũng cảm thấy hứng thú.

Trần thị Nhật Hưng: Nhất Quỉ, Nhì Ma, Thứ Ba…Nữ Sinh


Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi vào thập niên 1970 tọa lạc trên khu đất rộng. Khu đất này trước kia sình lầy, cỏ hoang um tùm, rác rến bừa bãi. Mặc dù nằm sát trung tâm, đối diện các ty sở, tòa hành chánh tỉnh, thỉnh thoảng vẫn có vài trẻ mục đồng thả trâu ăn cỏ, nghêu ngao trên mình trâu hát ca, nô giỡn. Nhìn chung, không có vẻ nên thơ, vì phía sau khu đất còn có những dãy nhà tôn lụp xụp, tối tăm, không lũy tre xanh, cũng chẳng cánh đồng vàng. Về sau, chính phủ kiến thiết thành phố, biến khu đất thành công viên. Cỏ xanh được vun xới mượt mà, cắt xén gọn gàng chừa vài lối đi nhỏ dẫn đến những ghế đá màu hồng, men mịn, lốm đốm đá nhỏ li ti đen, trắng. Những ghế đá rải rác cách khoảng đều nhau dọc lề đường, bên trên xây những trụ xi măng đánh vòng theo dạng chữ U úp, rực rỡ những hoa tigôn, hoa giấy đủ màu. Bên cạnh còn thêm phượng hoặc cây trứng cá tỏa bóng râm mát. Giữa công viên sừng sững một đài tưởng niệm cũng màu hồng, men mịn, lốm đốm những viên đá nhỏ li ti đen, trắng. Bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn“ đỏ, in nổi, dọc đỉnh đài hình tháp cụt bày tỏ niềm tri ân đến các chiến sĩ vì nước quên mình. Dưới chân đài, một vòng tròn rộng lề xi măng rực rỡ với đầy hoa hải đường, cúc, vạn thọ và hoa hồng.

Con đường đất nhỏ rẽ ra tứ phía. Từ đó, khu đất trở nên khang trang thơ mộng hẳn lên nhưng vẫn chưa toàn hảo nếu không nhờ ngôi trường nữ ẩn mình phiá sau, che khuất dãy nhà tôn lụp xụp.

Nguyễn Đức Tùng: Câu Thơ Lục Bát


Thơ lục bát là tâm hồn dân tộc: nếu thế thì tâm hồn ấy đang thay đổi. Lục bát như một nghệ thuật thơ ca cần thay đổi theo, tự làm mới, để tồn tại cùng dân tộc, một dân tộc vừa văn minh hơn vừa dung tục hơn, có học hơn nhưng bé bỏng hơn, dễ tổn thương.

Nghệ thuật thơ lục bát là nghệ thuật của câu thơ.

Câu thơ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, khác với câu văn phạm. Câu thơ là một sở hữu riêng của các nhà thơ mà các nhà văn không chia sẻ được. Sở hữu ấy, quyền năng ấy nằm ở chỗ tận cùng bên phải của câu.

Câu thơ là yếu tố mang tính âm nhạc, trong khi câu văn phạm mang tính ý nghĩa.

Mỗi câu thơ tạo ra khoảng cách giữa nó và câu sau. Rất ít câu văn xuôi đứng một mình, nhưng câu thơ có thể đứng một mình. Hơn nữa, đặc điểm của lục bát là hai câu đi kèm nhau, ít có câu nào giữ giá trị độc lập; chúng phụ thuộc nhau. Chúng ta hãy xem ví dụ sau đây trong Kiều:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chưn mây cuối trời

Sự phụ thuộc trên có tính chất bổ sung. Câu lục có thể là câu độc lập, tuy nhiên nếu ngắt ra thì hơi thơ chưa đi hết, ý chưa trọn, lại như ra lệnh. Chữ đành lòng làm dịu lại. Trong Kiều chúng ta học được sự khiêm tốn sang trọng. Phải kết hợp với câu tám, có tính cắt nghĩa, thêm cái ý vị riêng, câu thơ mới tạo ra sự phong phú của lời dặn dò. Khả năng lặp lại của chữ, của ý, khả năng nói dài thêm của lục bát là rất cao, nó cho phép cách nói nhiều lần mà ở thể thơ khác có thể trở nên vô nghĩa.

Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi
(Phạm Thiên Thư)

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

Đinh Quang Anh Thái: 'Vĩnh biệt bác Bùi Diễm'

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm (Hình: Trần Triết)

Sáng sớm ngày Chủ Nhật 24 Tháng Mười 2021, điện thoại cầm tay có người gọi đến mà không thấy tên xuất hiện trên màn hình, chỉ có số vùng (202) Washington DC. Tôi alô, đầu giây bên kia tự giới thiệu là phóng viên ban Việt ngữ Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, muốn phỏng vấn tôi về tin cựu Đại sứ Bùi Diễm vừa qua đời.

Tôi sững người!

Rạng sáng hôm đó, trong lúc tìm các hình ảnh cũ để in vào cuốn KÝ 3 tôi đang viết thì thấy hai tấm hình tôi chụp ông Bùi Diễm, giáo sư Nguyễn Ngọc Linh và cựu Trung tá Nhẩy Dù Bùi Quyền ngồi uống trà tại quán Phở Nguyễn Huệ của ông Cảnh “Vịt” ở Quận Cam – Nam California. Một trong hai tấm hình là lúc ông Bùi Diễm hút thuốc lào do ông Bùi Quyền mời.

Cả ba người, giờ đây không ai còn.

Trả lời câu hỏi của VOA, tôi nói: “Cụ Bùi Diễm là người xuất thân từ đảng cách mạng Đại Việt. Sau đó cụ bắt đầu tham gia chính trường của Việt Nam với nhiều vị thế, từ bộ trưởng phủ thủ tướng cho đến đại sứ. Cụ có tấm lòng nhiệt thành của người làm cách mạng, có sự thận trọng cân nhắc của một người làm chính trị và có cách hành xử khéo léo của một nhà ngoại giao. Năm 1975 khi qua Mỹ, cụ tiếp tục là một tiếng nói đóng góp vào dòng chính để nước Mỹ hiểu chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời, cụ đi khắp nơi để trao truyền bó đuốc cách mạng cho những thế hệ trẻ về sau.”

Lâm Vĩnh-Thế: Nhớ Đại Sứ Bùi Diễm

Được tin Ông Đại sứ Bùi Diễm đã vĩnh viễn ra đi, lòng tôi không tránh được cảm xúc bùi ngùi và thương tiếc. Trước sau, tôi chỉ được gặp Ông có hai lần nhưng hình ảnh tốt đẹp, khả kính của Ông tôi sẽ không bao giờ quên được. Bài viết này là một nén hương lòng tôi kính dâng Ông, cầu nguyện cho Ông từ đây được yên vui và thanh thản trong Cõi Vĩnh Hằng.

Lần Gặp Gỡ Đầu Tiên


Mùa Thu năm 1971, tôi đang theo học chương trình Cao Học về ngành Thư Viện Học tại Đại Học Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Lúc đó Ông Bùi Diễm đang là Đại sứ của Việt Nam Công Hòa tại Hoa Kỳ. Người anh lớn của một người bạn thân của tôi hồi còn học ở Trường Trung Học Petrus Ký, anh L.Q.M., lúc đó đang là một trong các vị Cố Vấn tại Tòa Đại sứ. Một hôm, trong một dịp lễ và được long weekend, tôi về Washington, D.C. thăm Anh M. Sáng hôm sau, một ngày Thứ Bảy, Anh M. có công tác đột xuất phải đến Trường College of William and Mary, tại thành phố Williamsburg, thuộc tiểu bang Virginia. Anh cho tôi đi theo để được dịp viếng thành phố cổ kính này của Hoa Kỳ. Trước khi đi, Anh M. chợt nhớ là còn quên giấy tờ gì đó nên Anh lái xe đến Toà Đại sứ để lấy. Tình cờ hôm đó Đại sứ Bùi Diễm lại đến làm việc (về sau tôi được Anh M. cho biết là Ông Bùi Diễm rất thường đến Đại Sứ Quán làm việc trong weekend vì trong tuần phần nhiều ông rất bận với các công tác bên ngoài Tòa Đại sứ nên không có thì giờ giải quyết các công việc, giấy tờ của Tòa Đại sứ), và vì vậy tôi được cái may mắn gặp ông, và tôi đã có một ấn tượng đầu tiên rất tốt về ông. Sau khi Anh M. giới thiệu tôi với ông, ông vui vẻ và niềm nở hỏi tôi học Đại Học nào và về ngành gì. Khi nghe tôi nói là học ngành Thư Viện Học ông có vẻ rất thích thú, bảo rằng Việt Nam mình bây giờ rất cần chuyên viên về ngành này, và chúc tôi học có kết quả tốt. Cuộc gặp gỡ của tôi với ông Đại sứ Bùi Diễm diễn ra rất ngắn, có lẽ chỉ độ 5 phút thôi. Gần 30 năm sau tôi mới có dịp gặp lại Ông lần thứ nhì.

Lần Gặp Gỡ Thứ Nhì


Lần gặp gỡ thứ nhì này của tôi với Ông Đại sứ Bùi Diễm diễn ra vào cuối tháng 3 năm 2000. Lần đó tôi đang dự một hội nghị tổ chức trong hai ngày, 31/March – 1/April, tại Vietnam Center, thuộc Trường Đại Học Texas Tech University, tại thành phố Lubbock, tiểu bang Texas.

Bùi Diễm: Lúc Còn Nhỏ, Đi Học (Chương 2 của cuốn Gọng Kìm Lịch Sử)

Ông thân sinh ra tôi là Bùi Kỷ. Ông vốn là một nhà nho phóng khoáng, phóng khoáng đến độ chẳng coi việc gì là quan trọng. Đối với ông thì trời có sập đổ xuống cũng chẳng thành vấn đề. Sống trong truyền thống của các cụ nhà nho, ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ưu là lo và Thiên là trời. Vì ngày xưa sách có ghi rằng người nước Kỷ thường hay lo trời đổ, tên ông lại là Kỷ, nên ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ông thường nói: “Những kẻ lúc nào cũng lo âu mọi chuyện là những kẻ dại” và trong một bài thơ mà nhiều người biết, ông viết rằng:

“Lo như ai cũng là ngốc thật
Lo trời nghiêng lo đất chông chênh
Lo chim bay lạc tổ quên cành
Lo cá lội xa ghềnh lạ nước
Hão huyền thế đố ai lo được
Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy…”

Ngay khi còn trẻ, bố tôi đã có ý không muốn theo con đường của một số người thời đó là ra làm quan dưới chính quyền đô hộ Pháp. Ông tìm cách đi du học nước ngoài và năm 1912, ông sang Pháp rồi vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale). Ở Pháp ông đã có dịp gần gũi làm bạn với các Cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và những lãnh tụ quốc gia thời đó, nhưng có lẽ bản chất của ông không phải là người làm cách mạng nên sau những năm ở Pháp, ông trở về Việt Nam và mở trường dạy học. Đã có lần, lúc tôi mới 11, 12 tuổi ông kể cho tôi nghe về những năm ông ở bên Pháp và bảo tôi rằng: “Những người như Cụ Phan Chu Trinh tranh đấu để nước ta có được một tương lai sáng sủa hơn và bổn phận của tất cả chúng ta là phải ủng hộ cuộc tranh đấu đó”. Như vậy lập trường của ông thật là rõ nét, nhưng với bản chất cố hữu của ông là đứng ngoài mọi việc, ông đã không chọn con đường hành động.

Bản tính cố hữu này có vẻ như đã ăn sâu thành cội rễ trong gia đình tôi từ lâu. Cụ nội tôi (Bùi Văn Quế) vốn làm quan trong triều. Sau khi đậu Phó Bảng, cụ ra làm quan và giữ chức Tham Tri Bộ Hình, lãnh Tuần Phủ Nam Ngãi – Thuận Khánh, nhưng đến năm 1882 thì cụ xin cáo quan để về quê làm ruộng và dạy học. Cụ cùng một thời với cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến và cáo quan về trước cụ Nguyễn Khuyến hai năm. (Về sau này, người ta thường nhắc tới bài thơ “Gửi Bác Châu Cầu” của cụ Nguyễn Khuyến: “Mấy lời nhắn nhủ Bác Châu Cầu, Lụt lội năm nay Bác ở đâu! Mấy ổ lợn con nay còn mất! Vài gian nhà thóc ngập nông sâu!” làng Châu Cầu ở Phủ Lý là quê của giòng họ tôi).

Nguyễn Mạnh Hùng: Cuộc chiến Việt Nam dưới con mắt của một người trong cuộc

Gọng Kìm Lịch Sử là một cuốn hồi ký viết theo kiểu Mỹ dành cho độc giả người Việt. Nói vậy có nghĩa là cuốn Gọng Kìm Lịch Sử không phải chỉ ghi lại lời kể chuyện nhớ đến đâu ghi đến đấy, mà còn là một cố gắng tìm tòi dữ kiện, tra cứu sách vở, viện dẫn tư liệu để bổ túc thêm cho những điều mà chính tác giả chứng kiến. Cho độc giả ngoại quốc thì ông Bùi Diễm đã xuất bản cuốn In the Jaws of History viết chung với David Chanoff từ năm 1987. Gọng Kìm Lịch Sử là cuốn sách viết cho độc giả người Việt. Tuy có lập lại những điểm chính trong cuốn sách Anh ngữ, nhưng Gọng Kìm Lịch Sử không phải là bản dịch của cuốn sách ấy. Đây là cuốn sách được viết hẳn lại, khai triển và đưa ra nhiều chi tiết hơn, những chi tiết mà độc giả người Việt quan tâm. Đây là một cuốn hồi ký, qua câu chuyện cá nhân, tóm gọn đầy đủ một giai đoạn lịch sử sôi động và gần nhất của nước ta, từ Đệ Nhị Thế Chiến cho đến ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Giai đoạn lịch sử này được thuật lại theo cái nhìn của một người trong cuộc, một nạn nhân của “Gọng Kìm Lịch Sử”.

Trong nhiều lần nói chuyện cũng như ngay trong lời tựa của cuốn sách, cựu đại sứ Bùi Diễm cho rằng cuốn hồi ký của ông không phải chỉ là chuyện cá nhân mà còn phản ảnh kinh nhiệm chung của những người quốc gia thuộc thế hệ ông. Nói vậy chỉ đúng một phần. Ông Diễm là một người, vì liên hệ gia đình và biệt tài cá nhân, đã được lịch sử đặt vào vị thế đặc biệt để hành động và chứng kiến nhiều điều mà những người khác cùng thế hệ ông không có được. Tác giả hoặc làm việc mật thiết với hoặc ở gần nhiều nhân vật lịch sử và văn học của Việt Nam, vì thế cho ta biết được một số chi tiết đặc biệt và những kỷ niệm cá nhân của tác giả đối với các nhân vật như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trương Tử Anh, Võ Nguyên Giáp, Nghiêm Kế Tổ, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyên, Nghiêm Xuân Hồng, Trần Văn Đỗ, Lê Văn Kim,… Trong số những người kể trên, ông nói nhiều nhất đến sáu người: Trương Tử Anh, Trần Trọng Kim, Phan Huy Quát, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu. Ông tỏ ra mến trọng ba nhân vật đầu và không phục ba nhân vật sau.

Hồi ký là loại sách lịch sử chính trị vừa kể lại chuyện đã qua, vừa biện minh cho tác giả. Trong sách, ông Diễm được dịp giải thích ba việc: việc ông tiếp tục làm việc với tướng Kỳ sau khi Thủ Tướng Quát từ chức là do chính ông Quát khuyên, chứ không phải ông phản ông Quát; việc Tổng Thống Thiệu trì hoãn không chịu tham gia hội đàm Ba Lê trước cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1968 không phải vì ông đi đêm với phe Cộng Hòa khuyến cáo để làm lợi cho ứng cử viên Nixon như những người trong chính quyền dân chủ và báo chí Mỹ buộc tội ông; việc ông Thiệu nghi ông là người của ông Kỳ là không đúng, ông là người yêu nước độc lập chứ không phải là người của ông Kỳ chống lại ông Thiệu.

Phạm Xuân Đài: Đọc 'Gọng Kìm Lịch Sử' của Bùi Diễm

Tác giả Gọng Kìm Lịch Sử Bùi Diễm (trái) và Phạm Xuân Đài (hình Trần Triết, tháng 5-2015 tại Quận Cam, Nam California)

Nếu Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên là một cuốn Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị từng sống trong lòng chế độ cộng sản, thì Gọng Kìm Lịch sử đích thực là hồi ký của một chính trị gia, đứng trong phía quốc gia. Năm 1987 ông đã cho xuất bản cuốn In the Jaws of History viết bằng tiếng Anh, và Gọng Kìm Lịch sử, viết xong vào đầu năm 1999, là hậu thân của cuốn In the Jaws of History, hoàn toàn viết lại bằng tiếng Việt với các tình tiết Việt Nam và thêm một số tài liệu mới tìm thấy.

Ông Bùi Diễm, sinh năm 1923, con trai thứ của học giả Bùi Kỷ, cháu của học giả Trần Trọng Kim, từ tuổi thanh niên, vào đầu thập niên 40, đã tham gia vào phong trào dành độc lập cho Việt Nam. Từ đó ông đi vào cuộc đời hoạt động chính trị, chứng kiến các trôi nổi của lịch sử từ nhiều vị trí đặc biệt: có mặt tại Huế khi nội các Trần Trọng Kim thành lập, yết kiến Quốc trưởng Bảo Đại năm 1949 tại Đà lạt, theo dõi Hội nghị Genève 1954, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng 1965, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ từ 1967 đến 1972, Quan sát viên đặc biệt tại Hòa đàm Paris 1968, Đại sứ Lưu động 1973-1975.

Tác giả bắt đầu các hồi ức về đời mình ở Chương 2, lúc còn là một học sinh tiểu học nhưng đã “mơ tưởng đến những chuyện đi xa, đến những nơi mới lạ để tìm hiểu thế giới rộng lớn,” và kết thúc ở Chương 37 với nhan đề “Thay lời kết, Lịch sử còn dài...” Ngay ở Chương 2, ông đã cho thấy ảnh hưởng chính trị đã đến với ông rất sớm khi ông vào học trường trung học tư thục Thăng Long, nơi mà ban giáo sư gồm những tên tuổi như Phan Thanh, Đặng Thái Mai, Hoàng Minh Giám, Trần Văn Tuyên, Võ Nguyên Giáp... và “tôi lớn lên trong bầu không khí đó, và dần dần ý thức được rằng dưới bộ mặt phẳng lặng của đời sống học đường là những đợt sóng ngầm đang chuyển động mạnh.” Lúc bấy giờ là cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, những người yêu nước Việt Nam, dưới nhiều khuynh hướng khác nhau, đang vận động để thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Và từ đó, ông đã từ từ được dắt dẫn tham gia vào một đảng phái quốc gia, đối lập với khuynh hướng cộng sản vào thời đó cũng đang phát triển mạnh.

Hình FreePik


Trangđài Glassey-Trầnguyễn: lấy Nhạc trị Dịch

Special thanks to Mr. Laszlo Mezo, Award-winning Cellist
(https://www.facebook.com/laszlomezo.cellist/)

Mùa đại dịch. Làm gì cho đầu óc thư giãn, bớt căng thẳng, tìm được niềm vui?

Ai cũng có những cách riêng, nhưng có một cách chung là… nghe nhạc! Nhạc là ngôn ngữ quốc tế, là linh dược vô hình. Ai cũng biết, âm nhạc làm cho người ta yêu đời, hạnh phúc, khỏe mạnh, và thông minh hơn. Nhiều phụ nữ ngay từ khi cấn thai đã mở nhạc Mozart cho con nghe. Trẻ em học nhạc trong nhiều năm sẽ có chỉ số thông minh cao. Đại học Harvard đã có nhiều cuộc nghiên cứu (https://www.health.harvard.edu/newsletter_article/music-and-health) cho thấy những lợi ích thiết thực của âm nhạc đối với sức khỏe. Những dòng nhạc nhẹ nhàng và truyền cảm hứng mang đến nhiều lợi ích tuyệt vời cho đời sống. Một giai điệu quen thuộc có thể gợi lại những kỷ niệm đẹp và làm cho người nghe cảm thấy dễ chịu, hạnh phúc. Nghe nhạc thu âm đã tốt, nhưng nghe nhạc được trình diễn tại chỗ lại càng tốt hơn, nhất là khi người xem được trực tiếp tham gia vào phần trình diễn. Lấy Nhạc trị Dịch ư? Đêm nhạc “Beethoven's Eroica" do dàn nhạc giao hưởng Pacific Symphony Orchestra (https://www.pacificsymphony.org/) với Nhạc trưởng Carl St. Clair và phần độc tấu cello của Gabriel Martins tại Segerstrom Concert Hall là một chọn lựa thích hợp. Để giữ gìn sức khoẻ cộng đồng, mọi người tham dự đều cần phải chích ngừa và mang khẩu trang.

Beethoven (Nguồn: Pacific Symphony)

Một dàn nhạc giao hưởng. Vậy chỉ trình diễn nhạc cổ điển thôi sao? Không đâu! Đêm nhạc thính phòng “Eroica” được trình diễn trong ba đêm trung tuần tháng Mười 14, 15, 16 kết hợp nhạc xưa và nay. Nếu miếng trầu là đầu câu chuyện, thì Nhạc trưởng Clark St. Clair têm trầu thật khéo, và mời trầu cũng thật duyên. Ông đã điều khiển dàn nhạc suốt 32 năm qua, và ông luôn nói chuyện với khán giả như trò chuyện với những người bạn thân. Ông vừa xuất hiện trên sân khấu thì khán giả đã nồng nhiệt vỗ tay chào đón. Nhạc trưởng St. Clair hóm hỉnh nói, “Hôm nay quý vị có vẻ hào hứng quá!” Mọi người lại vỗ tay và cười vui vẻ. Ông hỏi khán giả, “Quý vị có từng muốn được ngồi chung với dàn nhạc và trình diễn trên sân khấu này không?” Nhiều người thay nhau đưa tay lên. Ông lại hỏi, “Ai cũng muốn làm nhạc công, nhưng có ai muốn làm nhạc trưởng không?” Ông chỉ lên bục gỗ dành cho nhạc trưởng và lắc đầu, “Ít ai chịu lên đó lắm! Nhưng hôm nay, quý vị sẽ được làm nhạc trưởng!”

Nguyễn Đức Tùng: Halloween tùy bút

Hình  minh  hoạ, FreePik

Halloween nhằm ngày cuối tháng Mười, cũng là ngày cuối của mùa thu. Thời tiết chuyển giao, người ta tin rằng có một thế giới siêu nhiên hiện ra khi mùa màng thay đổi, lúc con người có thể chạm được vào thế giới thần linh. Đêm nay trong cảnh đất trời mờ ảo, vật chất và tinh thần giao hòa nhau, người sống và người chết nhìn thấy nhau. Ma quỷ không sợ hãi con người như mọi khi, cũng không làm con người sợ hãi bằng họ sợ hãi nhau. Tối nay, bạn đi ra đường, nếu sẵn sàng đón nhận thế giới vô hình bạn sẽ nhìn thấy những điều ngày thường không thấy được. Đêm nay bạn đặt mấy chiếc đèn lồng trên lối vào nhà, nhiều kẹo trước cửa, trong một cái giỏ ngay ngắn, ghi một tấm giấy nhỏ bên cạnh "take one", lấy một cái, "take two", lấy hai cái. Những đứa trẻ sẽ lấy đúng như thế. Đôi khi cũng có một thằng bé sáu hay bảy tuổi quay lại, thò tay lấy thêm một cái nữa, vì không cưỡng nổi cám dỗ. Thằng bé ấy là Tony. Hay chính bạn thời bé.

Chiều nay, thế giới lạnh lẽo trở nên ấm lại, như vùng trời trong cái lu sành đựng chuối mẹ tôi ủ chín, chuối mật ngày rằm, nóng hổi, bụi bặm hương khói. Trần gian trở nên bé bỏng như dưới đường cày mới lật cho đất thở sau mùa gặt hái. Bạn đi ngang nhà nào bật đèn sáng, có đèn lồng khoét bí ngô, Jack of the lantern, bạn biết có kẹo bánh. Đêm nay có những nhà đóng cửa im ỉm vì chủ nhà đi vắng hay vợ chồng cãi lộn hay nhà có người bệnh. Đêm nay có những người ở trong căn nhà đó, nhưng họ không có gì để tặng, tắt đèn, nhà cửa tối om, buồn ngồi im, bạn đừng trách họ vì người đang có một điều gì để cho đi là người may mắn hơn những người không có gì cho bạn cả. Đêm nay những đứa trẻ dễ dàng giao thoa với thế giới thần linh, vì chúng ngây thơ. Đêm nay những người đứng trước cửa nhà mình để phát kẹo cho trẻ dễ dàng nhìn thấy thế giới huyền bí cũng vì họ chịu khó. Đó là những người chiều hôm trước bỏ chút thì giờ bận rộn, đứng xếp hàng ở tiệm tạp hóa đông người, mua những thức cho bọn trẻ không phải con mình, vì nhà họ không có trẻ con.

Rick Steves : Lạc Giữa Rừng Xương (Boning Up On History - Gió ViVu dịch thuật)

Lạc vào một lãnh địa toàn đầu lâu tại Paris sẽ là một kỳ thú dành cho những người "yêu thích" xương khô.
Hình  minh  hoạ, By The original uploader was MykReeve at English Wikipedia.
Transferred from en.wikipedia to Commons., CC BY-SA 3.0.

Sâu dưới lòng thành phố Paris, một mình đi giữa rừng xương người - có cả hằng triệu triệu xương ống chân, xương ống tay, xương chậu, và đầu lâu - tất cả chất đống dọc theo địa đạo chằng chịt dài hơn 300 km - tôi đang đứng trong khu hầm mộ ngầm ở Paris (Paris Catacombs) ... Đã hơn 200 năm qua rồi, nhìn những đống xương sọ này, tôi nghĩ đến trước kia đó là những cái đầu với khuôn mặt người tràn đầy những hỉ, nộ, ái, ố,... Nhìn những xương sọ chất chồng lên nhau, tôi mường tượng đến Hamlet trong vở kịch của Shakespeare, còn lại một mình trên sân khấu với đầy những xác chết ngổn ngang, và rồi ... Hamlet cũng phải chết!!! Chỉ nghĩ đến ... ôm cái đầu lâu mà tôi cảm thấy rùng mình, sợ hãi ...!

Tôi cố trấn tĩnh nỗi sợ hãi hão huyền để có thể tham quan nơi hầm mộ ghê rợn này. Tôi muốn "trộm" một cái xương sọ rồi giấu vào túi xách và nghĩ nếu mang về một cái đầu lâu cổ từ thời Napoleon đại đế thì thật là một món quà lưu niệm đáng giá nhất. Nhưng tôi không thể trộm được đâu. Những cái đầu lâu này đều được cột vào với nhau và có cái bảng cảnh báo rằng du khách sẽ "được" khám xét trước khi ra cửa đó!

Paris Catacombs - hầm mộ ngầm nằm dưới lòng Paris - kinh đô của ánh sáng đèn màu - đã an táng khoảng 6 triệu cư dân thành phố. Vào năm 1786, chính phủ Pháp quyết định giải tỏa giao thông, cải thiện vệ sinh đường phố bằng cách dẹp bỏ những nghĩa trang ở chung quanh các nhà thờ. Chính phủ đã cho xây dựng những khu hầm mộ trong một mỏ đá vôi sau khi đã khai thác, nằm sâu dưới lòng đất và dài ngoằn ngoèo, chằng chịt như mạng nhện; thật là một vị trí tuyệt vời dành cho những "người thiên cổ". Bao thập niên qua, những tu sĩ ở Paris đã làm những buổi lễ với mạng che mặt màu đen, những xe đẩy chứa đầy xương đi vào khu mỏ đá vôi và chất lên cao khoảng 1m 50 (5 feet), dưới lòng đất sâu 24 m (80 feet), mỗi "người" đều có tấm bảng ghi danh tánh của nhà thờ và địa phận, ngày tháng được đem đến.

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Ngô Thế Vinh: In Retrospect - Nguyễn Văn Trung - Nhìn Lại Một Hành Trình Trí Thức Lận Đận

“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1]Nguyễn Văn Trung

*
Hình 1: trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019. [nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]

TIỂU SỬ


Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930, tại làng Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; còn có bút hiệu là Phan Mai và Hoàng Thái Linh. Xuất thân trường Dòng Puginier và chủng viện Hoàng Nguyên trước khi chuyển qua học Chu Văn An, Hà Nội. Từ 1950 đến 1955 ông được gửi đi du học Âu châu, ban đầu ở Pháp rồi qua Bỉ, đậu cử nhân triết học Đại học Louvain, Bỉ. Năm 1955 về Sài Gòn dạy trường trung học Chu Văn An, và sau đó là Đại học Huế.

Năm 1961 ông trở lại Bỉ, trình luận án tiến sĩ về Phật Học cũng tại Đại học Louvain với đề tài: “La Conception Bouddhique du devenir, Essai sur la notion du devenir selon la Stharivanâda.”

Về nước ông dạy Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Đại học Huế. Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông là Trưởng ban Triết Tây phương, có thời gian được bầu làm Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sài Gòn (1969).

Khánh Hà: Mùa thu chết

Hìnnh minh hoạ, FreePik


Mùa thu chết là mùa thu đang sống
Cả đất trời vạn vật bỗng nở hoa
Sống một lần rồi tan tác lìa xa

Hẹn trở lại một mùa sau diễm tuyệt


Thu của đời nguời nhắc giờ từ biệt
Ra đi rồi là khuất bóng ngàn năm
Hạc nội mây ngàn mấy cõi xa xăm
Thanh thản tiêu diêu, không lần ngoảng lại


Đuờng trần thế còn đây sao xa ngái
Nguời đi rồi vẫn để lại dấu chân
Từng con đuờng, từng hè phố bâng khuâng
Sớm nắng chiều mưa, còn ai đứng đợi


Cuối nẻo đuờng sao nghe vời vợi
Kỷ niệm gánh gồng một kiếp nhân sinh

KH



Nguyễn Đặng Bắc Ninh: Một Thoáng Về Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm và tác giả

Hà Nội 1994:

Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo.

Suốt thời gian chúng tôi ở Hà Nội ông đến thăm nhiều lần vì khách sạn chúng tôi ở gần nhà ông trong khu phố cổ. Tôi nhớ một buổi sáng ông dẫn chúng tôi đi ăn bún riêu ở ngõ Tạm Thương. Lâu rồi không được ăn cua đồng, thấy ngon tuyệt. Ông tặng chúng tôi mấy quyển thơ và một cuốn băng do ông đọc. Và cả những lời thơ ông viết trên cuốn Tự Điển Việt Nam tặng chúng tôi, mang nặng hình ảnh quê hương:

Ta con chim cu về gù dặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm…

Trịnh Thanh Thủy: Cung Tích Biền, một đời hoa sương cỏ

Trong tuyển tập "Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử" nhà văn Cung Tích Biền đã cảm nhận đời mình là "đời hoa sương cỏ" và ông đang đi cho hết một đời hoa sương mỏng manh, bé nhỏ ấy. Tuyển tập này ghi lại toàn bộ các cuộc phỏng vấn ông và là một trong năm cuốn sách được ra mắt hôm nay. Bốn đứa con tinh thần khác của ông được trình làng là "Nhạc điệu của bầy Ong", "Bạch hoá", "Thằng Bắt Quỷ", và "Mùa xuân cô mơ Bay".

Nhà văn Cung Tích Biền và phu nhân Hoàng Thị Kim

Một sáng Thứ Bảy, giữa mùa thu Cali của quận Cam, quán Café & Té xinh xắn, thanh nhã được đón tiếp rất nhiều bằng hữu của Cung Tích Biền đến tham dự buổi ra mắt sách rất đặc biệt này. Đặc biệt là vì ông chưa từng ra mắt sách tại VN hay bất cứ nơi nào trước đây. Buổi RMS được tổ chức với mục đích chính là giới thiệu sách mới in cùng bạn bè đã lâu không được gặp nhau, nên không có người ngoài tham dự.

Từ sáng sớm nhà văn Đặng Thơ Thơ và hoạ sĩ Paulina Đàm đã có mặt để giúp bà Hoàng Thị Kim là phu nhân của nhà văn Cung Tích Biền sắp xếp mọi thứ, sẵn sàng cho một buổi ký sách và đón tiếp bạn bè. Nhiều nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và cả ca sĩ cũng có mặt. Những hiện diện ghi nhận được phía các nhà văn gồm có: Nhã Ca, Đặng Thơ Thơ, Phạm Phú Minh, Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Y Thư, Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương; phía các nhà thơ có Đặng Phú Phong, Thành Tôn, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần, Lê Đình Nhất Lang; bên hoạ sĩ có Nguyễn Đình Thuần và phu nhân, hoạ sĩ Paulina Đàm, cùng sự góp mặt của nhà báo Thanh Huy; ca sĩ Thu Vàng và phu quân Thân Trọng Mẫn. Một vài người bạn thân như Mai Tất Đắc và phu nhân, Lê Phước Bốn, Lê Hùng, Nguyễn Hà và phu nhân, Nguyễn Thị Phương Lan là em gái nhà văn Phùng Nguyễn và phu quân là Thắng….