Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

Trần thị Nhật Hưng: Nhất Quỉ, Nhì Ma, Thứ Ba…Nữ Sinh


Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi vào thập niên 1970 tọa lạc trên khu đất rộng. Khu đất này trước kia sình lầy, cỏ hoang um tùm, rác rến bừa bãi. Mặc dù nằm sát trung tâm, đối diện các ty sở, tòa hành chánh tỉnh, thỉnh thoảng vẫn có vài trẻ mục đồng thả trâu ăn cỏ, nghêu ngao trên mình trâu hát ca, nô giỡn. Nhìn chung, không có vẻ nên thơ, vì phía sau khu đất còn có những dãy nhà tôn lụp xụp, tối tăm, không lũy tre xanh, cũng chẳng cánh đồng vàng. Về sau, chính phủ kiến thiết thành phố, biến khu đất thành công viên. Cỏ xanh được vun xới mượt mà, cắt xén gọn gàng chừa vài lối đi nhỏ dẫn đến những ghế đá màu hồng, men mịn, lốm đốm đá nhỏ li ti đen, trắng. Những ghế đá rải rác cách khoảng đều nhau dọc lề đường, bên trên xây những trụ xi măng đánh vòng theo dạng chữ U úp, rực rỡ những hoa tigôn, hoa giấy đủ màu. Bên cạnh còn thêm phượng hoặc cây trứng cá tỏa bóng râm mát. Giữa công viên sừng sững một đài tưởng niệm cũng màu hồng, men mịn, lốm đốm những viên đá nhỏ li ti đen, trắng. Bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn“ đỏ, in nổi, dọc đỉnh đài hình tháp cụt bày tỏ niềm tri ân đến các chiến sĩ vì nước quên mình. Dưới chân đài, một vòng tròn rộng lề xi măng rực rỡ với đầy hoa hải đường, cúc, vạn thọ và hoa hồng.

Con đường đất nhỏ rẽ ra tứ phía. Từ đó, khu đất trở nên khang trang thơ mộng hẳn lên nhưng vẫn chưa toàn hảo nếu không nhờ ngôi trường nữ ẩn mình phiá sau, che khuất dãy nhà tôn lụp xụp.

Nguyễn Đức Tùng: Câu Thơ Lục Bát


Thơ lục bát là tâm hồn dân tộc: nếu thế thì tâm hồn ấy đang thay đổi. Lục bát như một nghệ thuật thơ ca cần thay đổi theo, tự làm mới, để tồn tại cùng dân tộc, một dân tộc vừa văn minh hơn vừa dung tục hơn, có học hơn nhưng bé bỏng hơn, dễ tổn thương.

Nghệ thuật thơ lục bát là nghệ thuật của câu thơ.

Câu thơ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, khác với câu văn phạm. Câu thơ là một sở hữu riêng của các nhà thơ mà các nhà văn không chia sẻ được. Sở hữu ấy, quyền năng ấy nằm ở chỗ tận cùng bên phải của câu.

Câu thơ là yếu tố mang tính âm nhạc, trong khi câu văn phạm mang tính ý nghĩa.

Mỗi câu thơ tạo ra khoảng cách giữa nó và câu sau. Rất ít câu văn xuôi đứng một mình, nhưng câu thơ có thể đứng một mình. Hơn nữa, đặc điểm của lục bát là hai câu đi kèm nhau, ít có câu nào giữ giá trị độc lập; chúng phụ thuộc nhau. Chúng ta hãy xem ví dụ sau đây trong Kiều:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chưn mây cuối trời

Sự phụ thuộc trên có tính chất bổ sung. Câu lục có thể là câu độc lập, tuy nhiên nếu ngắt ra thì hơi thơ chưa đi hết, ý chưa trọn, lại như ra lệnh. Chữ đành lòng làm dịu lại. Trong Kiều chúng ta học được sự khiêm tốn sang trọng. Phải kết hợp với câu tám, có tính cắt nghĩa, thêm cái ý vị riêng, câu thơ mới tạo ra sự phong phú của lời dặn dò. Khả năng lặp lại của chữ, của ý, khả năng nói dài thêm của lục bát là rất cao, nó cho phép cách nói nhiều lần mà ở thể thơ khác có thể trở nên vô nghĩa.

Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi
(Phạm Thiên Thư)

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

Đinh Quang Anh Thái: 'Vĩnh biệt bác Bùi Diễm'

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm (Hình: Trần Triết)

Sáng sớm ngày Chủ Nhật 24 Tháng Mười 2021, điện thoại cầm tay có người gọi đến mà không thấy tên xuất hiện trên màn hình, chỉ có số vùng (202) Washington DC. Tôi alô, đầu giây bên kia tự giới thiệu là phóng viên ban Việt ngữ Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, muốn phỏng vấn tôi về tin cựu Đại sứ Bùi Diễm vừa qua đời.

Tôi sững người!

Rạng sáng hôm đó, trong lúc tìm các hình ảnh cũ để in vào cuốn KÝ 3 tôi đang viết thì thấy hai tấm hình tôi chụp ông Bùi Diễm, giáo sư Nguyễn Ngọc Linh và cựu Trung tá Nhẩy Dù Bùi Quyền ngồi uống trà tại quán Phở Nguyễn Huệ của ông Cảnh “Vịt” ở Quận Cam – Nam California. Một trong hai tấm hình là lúc ông Bùi Diễm hút thuốc lào do ông Bùi Quyền mời.

Cả ba người, giờ đây không ai còn.

Trả lời câu hỏi của VOA, tôi nói: “Cụ Bùi Diễm là người xuất thân từ đảng cách mạng Đại Việt. Sau đó cụ bắt đầu tham gia chính trường của Việt Nam với nhiều vị thế, từ bộ trưởng phủ thủ tướng cho đến đại sứ. Cụ có tấm lòng nhiệt thành của người làm cách mạng, có sự thận trọng cân nhắc của một người làm chính trị và có cách hành xử khéo léo của một nhà ngoại giao. Năm 1975 khi qua Mỹ, cụ tiếp tục là một tiếng nói đóng góp vào dòng chính để nước Mỹ hiểu chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời, cụ đi khắp nơi để trao truyền bó đuốc cách mạng cho những thế hệ trẻ về sau.”

Lâm Vĩnh-Thế: Nhớ Đại Sứ Bùi Diễm

Được tin Ông Đại sứ Bùi Diễm đã vĩnh viễn ra đi, lòng tôi không tránh được cảm xúc bùi ngùi và thương tiếc. Trước sau, tôi chỉ được gặp Ông có hai lần nhưng hình ảnh tốt đẹp, khả kính của Ông tôi sẽ không bao giờ quên được. Bài viết này là một nén hương lòng tôi kính dâng Ông, cầu nguyện cho Ông từ đây được yên vui và thanh thản trong Cõi Vĩnh Hằng.

Lần Gặp Gỡ Đầu Tiên


Mùa Thu năm 1971, tôi đang theo học chương trình Cao Học về ngành Thư Viện Học tại Đại Học Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Lúc đó Ông Bùi Diễm đang là Đại sứ của Việt Nam Công Hòa tại Hoa Kỳ. Người anh lớn của một người bạn thân của tôi hồi còn học ở Trường Trung Học Petrus Ký, anh L.Q.M., lúc đó đang là một trong các vị Cố Vấn tại Tòa Đại sứ. Một hôm, trong một dịp lễ và được long weekend, tôi về Washington, D.C. thăm Anh M. Sáng hôm sau, một ngày Thứ Bảy, Anh M. có công tác đột xuất phải đến Trường College of William and Mary, tại thành phố Williamsburg, thuộc tiểu bang Virginia. Anh cho tôi đi theo để được dịp viếng thành phố cổ kính này của Hoa Kỳ. Trước khi đi, Anh M. chợt nhớ là còn quên giấy tờ gì đó nên Anh lái xe đến Toà Đại sứ để lấy. Tình cờ hôm đó Đại sứ Bùi Diễm lại đến làm việc (về sau tôi được Anh M. cho biết là Ông Bùi Diễm rất thường đến Đại Sứ Quán làm việc trong weekend vì trong tuần phần nhiều ông rất bận với các công tác bên ngoài Tòa Đại sứ nên không có thì giờ giải quyết các công việc, giấy tờ của Tòa Đại sứ), và vì vậy tôi được cái may mắn gặp ông, và tôi đã có một ấn tượng đầu tiên rất tốt về ông. Sau khi Anh M. giới thiệu tôi với ông, ông vui vẻ và niềm nở hỏi tôi học Đại Học nào và về ngành gì. Khi nghe tôi nói là học ngành Thư Viện Học ông có vẻ rất thích thú, bảo rằng Việt Nam mình bây giờ rất cần chuyên viên về ngành này, và chúc tôi học có kết quả tốt. Cuộc gặp gỡ của tôi với ông Đại sứ Bùi Diễm diễn ra rất ngắn, có lẽ chỉ độ 5 phút thôi. Gần 30 năm sau tôi mới có dịp gặp lại Ông lần thứ nhì.

Lần Gặp Gỡ Thứ Nhì


Lần gặp gỡ thứ nhì này của tôi với Ông Đại sứ Bùi Diễm diễn ra vào cuối tháng 3 năm 2000. Lần đó tôi đang dự một hội nghị tổ chức trong hai ngày, 31/March – 1/April, tại Vietnam Center, thuộc Trường Đại Học Texas Tech University, tại thành phố Lubbock, tiểu bang Texas.

Bùi Diễm: Lúc Còn Nhỏ, Đi Học (Chương 2 của cuốn Gọng Kìm Lịch Sử)

Ông thân sinh ra tôi là Bùi Kỷ. Ông vốn là một nhà nho phóng khoáng, phóng khoáng đến độ chẳng coi việc gì là quan trọng. Đối với ông thì trời có sập đổ xuống cũng chẳng thành vấn đề. Sống trong truyền thống của các cụ nhà nho, ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ưu là lo và Thiên là trời. Vì ngày xưa sách có ghi rằng người nước Kỷ thường hay lo trời đổ, tên ông lại là Kỷ, nên ông chọn bút hiệu là Ưu Thiên. Ông thường nói: “Những kẻ lúc nào cũng lo âu mọi chuyện là những kẻ dại” và trong một bài thơ mà nhiều người biết, ông viết rằng:

“Lo như ai cũng là ngốc thật
Lo trời nghiêng lo đất chông chênh
Lo chim bay lạc tổ quên cành
Lo cá lội xa ghềnh lạ nước
Hão huyền thế đố ai lo được
Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy…”

Ngay khi còn trẻ, bố tôi đã có ý không muốn theo con đường của một số người thời đó là ra làm quan dưới chính quyền đô hộ Pháp. Ông tìm cách đi du học nước ngoài và năm 1912, ông sang Pháp rồi vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale). Ở Pháp ông đã có dịp gần gũi làm bạn với các Cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và những lãnh tụ quốc gia thời đó, nhưng có lẽ bản chất của ông không phải là người làm cách mạng nên sau những năm ở Pháp, ông trở về Việt Nam và mở trường dạy học. Đã có lần, lúc tôi mới 11, 12 tuổi ông kể cho tôi nghe về những năm ông ở bên Pháp và bảo tôi rằng: “Những người như Cụ Phan Chu Trinh tranh đấu để nước ta có được một tương lai sáng sủa hơn và bổn phận của tất cả chúng ta là phải ủng hộ cuộc tranh đấu đó”. Như vậy lập trường của ông thật là rõ nét, nhưng với bản chất cố hữu của ông là đứng ngoài mọi việc, ông đã không chọn con đường hành động.

Bản tính cố hữu này có vẻ như đã ăn sâu thành cội rễ trong gia đình tôi từ lâu. Cụ nội tôi (Bùi Văn Quế) vốn làm quan trong triều. Sau khi đậu Phó Bảng, cụ ra làm quan và giữ chức Tham Tri Bộ Hình, lãnh Tuần Phủ Nam Ngãi – Thuận Khánh, nhưng đến năm 1882 thì cụ xin cáo quan để về quê làm ruộng và dạy học. Cụ cùng một thời với cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến và cáo quan về trước cụ Nguyễn Khuyến hai năm. (Về sau này, người ta thường nhắc tới bài thơ “Gửi Bác Châu Cầu” của cụ Nguyễn Khuyến: “Mấy lời nhắn nhủ Bác Châu Cầu, Lụt lội năm nay Bác ở đâu! Mấy ổ lợn con nay còn mất! Vài gian nhà thóc ngập nông sâu!” làng Châu Cầu ở Phủ Lý là quê của giòng họ tôi).

Nguyễn Mạnh Hùng: Cuộc chiến Việt Nam dưới con mắt của một người trong cuộc

Gọng Kìm Lịch Sử là một cuốn hồi ký viết theo kiểu Mỹ dành cho độc giả người Việt. Nói vậy có nghĩa là cuốn Gọng Kìm Lịch Sử không phải chỉ ghi lại lời kể chuyện nhớ đến đâu ghi đến đấy, mà còn là một cố gắng tìm tòi dữ kiện, tra cứu sách vở, viện dẫn tư liệu để bổ túc thêm cho những điều mà chính tác giả chứng kiến. Cho độc giả ngoại quốc thì ông Bùi Diễm đã xuất bản cuốn In the Jaws of History viết chung với David Chanoff từ năm 1987. Gọng Kìm Lịch Sử là cuốn sách viết cho độc giả người Việt. Tuy có lập lại những điểm chính trong cuốn sách Anh ngữ, nhưng Gọng Kìm Lịch Sử không phải là bản dịch của cuốn sách ấy. Đây là cuốn sách được viết hẳn lại, khai triển và đưa ra nhiều chi tiết hơn, những chi tiết mà độc giả người Việt quan tâm. Đây là một cuốn hồi ký, qua câu chuyện cá nhân, tóm gọn đầy đủ một giai đoạn lịch sử sôi động và gần nhất của nước ta, từ Đệ Nhị Thế Chiến cho đến ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Giai đoạn lịch sử này được thuật lại theo cái nhìn của một người trong cuộc, một nạn nhân của “Gọng Kìm Lịch Sử”.

Trong nhiều lần nói chuyện cũng như ngay trong lời tựa của cuốn sách, cựu đại sứ Bùi Diễm cho rằng cuốn hồi ký của ông không phải chỉ là chuyện cá nhân mà còn phản ảnh kinh nhiệm chung của những người quốc gia thuộc thế hệ ông. Nói vậy chỉ đúng một phần. Ông Diễm là một người, vì liên hệ gia đình và biệt tài cá nhân, đã được lịch sử đặt vào vị thế đặc biệt để hành động và chứng kiến nhiều điều mà những người khác cùng thế hệ ông không có được. Tác giả hoặc làm việc mật thiết với hoặc ở gần nhiều nhân vật lịch sử và văn học của Việt Nam, vì thế cho ta biết được một số chi tiết đặc biệt và những kỷ niệm cá nhân của tác giả đối với các nhân vật như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trương Tử Anh, Võ Nguyên Giáp, Nghiêm Kế Tổ, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyên, Nghiêm Xuân Hồng, Trần Văn Đỗ, Lê Văn Kim,… Trong số những người kể trên, ông nói nhiều nhất đến sáu người: Trương Tử Anh, Trần Trọng Kim, Phan Huy Quát, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu. Ông tỏ ra mến trọng ba nhân vật đầu và không phục ba nhân vật sau.

Hồi ký là loại sách lịch sử chính trị vừa kể lại chuyện đã qua, vừa biện minh cho tác giả. Trong sách, ông Diễm được dịp giải thích ba việc: việc ông tiếp tục làm việc với tướng Kỳ sau khi Thủ Tướng Quát từ chức là do chính ông Quát khuyên, chứ không phải ông phản ông Quát; việc Tổng Thống Thiệu trì hoãn không chịu tham gia hội đàm Ba Lê trước cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1968 không phải vì ông đi đêm với phe Cộng Hòa khuyến cáo để làm lợi cho ứng cử viên Nixon như những người trong chính quyền dân chủ và báo chí Mỹ buộc tội ông; việc ông Thiệu nghi ông là người của ông Kỳ là không đúng, ông là người yêu nước độc lập chứ không phải là người của ông Kỳ chống lại ông Thiệu.

Phạm Xuân Đài: Đọc 'Gọng Kìm Lịch Sử' của Bùi Diễm

Tác giả Gọng Kìm Lịch Sử Bùi Diễm (trái) và Phạm Xuân Đài (hình Trần Triết, tháng 5-2015 tại Quận Cam, Nam California)

Nếu Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên là một cuốn Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị từng sống trong lòng chế độ cộng sản, thì Gọng Kìm Lịch sử đích thực là hồi ký của một chính trị gia, đứng trong phía quốc gia. Năm 1987 ông đã cho xuất bản cuốn In the Jaws of History viết bằng tiếng Anh, và Gọng Kìm Lịch sử, viết xong vào đầu năm 1999, là hậu thân của cuốn In the Jaws of History, hoàn toàn viết lại bằng tiếng Việt với các tình tiết Việt Nam và thêm một số tài liệu mới tìm thấy.

Ông Bùi Diễm, sinh năm 1923, con trai thứ của học giả Bùi Kỷ, cháu của học giả Trần Trọng Kim, từ tuổi thanh niên, vào đầu thập niên 40, đã tham gia vào phong trào dành độc lập cho Việt Nam. Từ đó ông đi vào cuộc đời hoạt động chính trị, chứng kiến các trôi nổi của lịch sử từ nhiều vị trí đặc biệt: có mặt tại Huế khi nội các Trần Trọng Kim thành lập, yết kiến Quốc trưởng Bảo Đại năm 1949 tại Đà lạt, theo dõi Hội nghị Genève 1954, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng 1965, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ từ 1967 đến 1972, Quan sát viên đặc biệt tại Hòa đàm Paris 1968, Đại sứ Lưu động 1973-1975.

Tác giả bắt đầu các hồi ức về đời mình ở Chương 2, lúc còn là một học sinh tiểu học nhưng đã “mơ tưởng đến những chuyện đi xa, đến những nơi mới lạ để tìm hiểu thế giới rộng lớn,” và kết thúc ở Chương 37 với nhan đề “Thay lời kết, Lịch sử còn dài...” Ngay ở Chương 2, ông đã cho thấy ảnh hưởng chính trị đã đến với ông rất sớm khi ông vào học trường trung học tư thục Thăng Long, nơi mà ban giáo sư gồm những tên tuổi như Phan Thanh, Đặng Thái Mai, Hoàng Minh Giám, Trần Văn Tuyên, Võ Nguyên Giáp... và “tôi lớn lên trong bầu không khí đó, và dần dần ý thức được rằng dưới bộ mặt phẳng lặng của đời sống học đường là những đợt sóng ngầm đang chuyển động mạnh.” Lúc bấy giờ là cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, những người yêu nước Việt Nam, dưới nhiều khuynh hướng khác nhau, đang vận động để thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Và từ đó, ông đã từ từ được dắt dẫn tham gia vào một đảng phái quốc gia, đối lập với khuynh hướng cộng sản vào thời đó cũng đang phát triển mạnh.

Hình FreePik


Trangđài Glassey-Trầnguyễn: lấy Nhạc trị Dịch

Special thanks to Mr. Laszlo Mezo, Award-winning Cellist
(https://www.facebook.com/laszlomezo.cellist/)

Mùa đại dịch. Làm gì cho đầu óc thư giãn, bớt căng thẳng, tìm được niềm vui?

Ai cũng có những cách riêng, nhưng có một cách chung là… nghe nhạc! Nhạc là ngôn ngữ quốc tế, là linh dược vô hình. Ai cũng biết, âm nhạc làm cho người ta yêu đời, hạnh phúc, khỏe mạnh, và thông minh hơn. Nhiều phụ nữ ngay từ khi cấn thai đã mở nhạc Mozart cho con nghe. Trẻ em học nhạc trong nhiều năm sẽ có chỉ số thông minh cao. Đại học Harvard đã có nhiều cuộc nghiên cứu (https://www.health.harvard.edu/newsletter_article/music-and-health) cho thấy những lợi ích thiết thực của âm nhạc đối với sức khỏe. Những dòng nhạc nhẹ nhàng và truyền cảm hứng mang đến nhiều lợi ích tuyệt vời cho đời sống. Một giai điệu quen thuộc có thể gợi lại những kỷ niệm đẹp và làm cho người nghe cảm thấy dễ chịu, hạnh phúc. Nghe nhạc thu âm đã tốt, nhưng nghe nhạc được trình diễn tại chỗ lại càng tốt hơn, nhất là khi người xem được trực tiếp tham gia vào phần trình diễn. Lấy Nhạc trị Dịch ư? Đêm nhạc “Beethoven's Eroica" do dàn nhạc giao hưởng Pacific Symphony Orchestra (https://www.pacificsymphony.org/) với Nhạc trưởng Carl St. Clair và phần độc tấu cello của Gabriel Martins tại Segerstrom Concert Hall là một chọn lựa thích hợp. Để giữ gìn sức khoẻ cộng đồng, mọi người tham dự đều cần phải chích ngừa và mang khẩu trang.

Beethoven (Nguồn: Pacific Symphony)

Một dàn nhạc giao hưởng. Vậy chỉ trình diễn nhạc cổ điển thôi sao? Không đâu! Đêm nhạc thính phòng “Eroica” được trình diễn trong ba đêm trung tuần tháng Mười 14, 15, 16 kết hợp nhạc xưa và nay. Nếu miếng trầu là đầu câu chuyện, thì Nhạc trưởng Clark St. Clair têm trầu thật khéo, và mời trầu cũng thật duyên. Ông đã điều khiển dàn nhạc suốt 32 năm qua, và ông luôn nói chuyện với khán giả như trò chuyện với những người bạn thân. Ông vừa xuất hiện trên sân khấu thì khán giả đã nồng nhiệt vỗ tay chào đón. Nhạc trưởng St. Clair hóm hỉnh nói, “Hôm nay quý vị có vẻ hào hứng quá!” Mọi người lại vỗ tay và cười vui vẻ. Ông hỏi khán giả, “Quý vị có từng muốn được ngồi chung với dàn nhạc và trình diễn trên sân khấu này không?” Nhiều người thay nhau đưa tay lên. Ông lại hỏi, “Ai cũng muốn làm nhạc công, nhưng có ai muốn làm nhạc trưởng không?” Ông chỉ lên bục gỗ dành cho nhạc trưởng và lắc đầu, “Ít ai chịu lên đó lắm! Nhưng hôm nay, quý vị sẽ được làm nhạc trưởng!”

Nguyễn Đức Tùng: Halloween tùy bút

Hình  minh  hoạ, FreePik

Halloween nhằm ngày cuối tháng Mười, cũng là ngày cuối của mùa thu. Thời tiết chuyển giao, người ta tin rằng có một thế giới siêu nhiên hiện ra khi mùa màng thay đổi, lúc con người có thể chạm được vào thế giới thần linh. Đêm nay trong cảnh đất trời mờ ảo, vật chất và tinh thần giao hòa nhau, người sống và người chết nhìn thấy nhau. Ma quỷ không sợ hãi con người như mọi khi, cũng không làm con người sợ hãi bằng họ sợ hãi nhau. Tối nay, bạn đi ra đường, nếu sẵn sàng đón nhận thế giới vô hình bạn sẽ nhìn thấy những điều ngày thường không thấy được. Đêm nay bạn đặt mấy chiếc đèn lồng trên lối vào nhà, nhiều kẹo trước cửa, trong một cái giỏ ngay ngắn, ghi một tấm giấy nhỏ bên cạnh "take one", lấy một cái, "take two", lấy hai cái. Những đứa trẻ sẽ lấy đúng như thế. Đôi khi cũng có một thằng bé sáu hay bảy tuổi quay lại, thò tay lấy thêm một cái nữa, vì không cưỡng nổi cám dỗ. Thằng bé ấy là Tony. Hay chính bạn thời bé.

Chiều nay, thế giới lạnh lẽo trở nên ấm lại, như vùng trời trong cái lu sành đựng chuối mẹ tôi ủ chín, chuối mật ngày rằm, nóng hổi, bụi bặm hương khói. Trần gian trở nên bé bỏng như dưới đường cày mới lật cho đất thở sau mùa gặt hái. Bạn đi ngang nhà nào bật đèn sáng, có đèn lồng khoét bí ngô, Jack of the lantern, bạn biết có kẹo bánh. Đêm nay có những nhà đóng cửa im ỉm vì chủ nhà đi vắng hay vợ chồng cãi lộn hay nhà có người bệnh. Đêm nay có những người ở trong căn nhà đó, nhưng họ không có gì để tặng, tắt đèn, nhà cửa tối om, buồn ngồi im, bạn đừng trách họ vì người đang có một điều gì để cho đi là người may mắn hơn những người không có gì cho bạn cả. Đêm nay những đứa trẻ dễ dàng giao thoa với thế giới thần linh, vì chúng ngây thơ. Đêm nay những người đứng trước cửa nhà mình để phát kẹo cho trẻ dễ dàng nhìn thấy thế giới huyền bí cũng vì họ chịu khó. Đó là những người chiều hôm trước bỏ chút thì giờ bận rộn, đứng xếp hàng ở tiệm tạp hóa đông người, mua những thức cho bọn trẻ không phải con mình, vì nhà họ không có trẻ con.

Rick Steves : Lạc Giữa Rừng Xương (Boning Up On History - Gió ViVu dịch thuật)

Lạc vào một lãnh địa toàn đầu lâu tại Paris sẽ là một kỳ thú dành cho những người "yêu thích" xương khô.
Hình  minh  hoạ, By The original uploader was MykReeve at English Wikipedia.
Transferred from en.wikipedia to Commons., CC BY-SA 3.0.

Sâu dưới lòng thành phố Paris, một mình đi giữa rừng xương người - có cả hằng triệu triệu xương ống chân, xương ống tay, xương chậu, và đầu lâu - tất cả chất đống dọc theo địa đạo chằng chịt dài hơn 300 km - tôi đang đứng trong khu hầm mộ ngầm ở Paris (Paris Catacombs) ... Đã hơn 200 năm qua rồi, nhìn những đống xương sọ này, tôi nghĩ đến trước kia đó là những cái đầu với khuôn mặt người tràn đầy những hỉ, nộ, ái, ố,... Nhìn những xương sọ chất chồng lên nhau, tôi mường tượng đến Hamlet trong vở kịch của Shakespeare, còn lại một mình trên sân khấu với đầy những xác chết ngổn ngang, và rồi ... Hamlet cũng phải chết!!! Chỉ nghĩ đến ... ôm cái đầu lâu mà tôi cảm thấy rùng mình, sợ hãi ...!

Tôi cố trấn tĩnh nỗi sợ hãi hão huyền để có thể tham quan nơi hầm mộ ghê rợn này. Tôi muốn "trộm" một cái xương sọ rồi giấu vào túi xách và nghĩ nếu mang về một cái đầu lâu cổ từ thời Napoleon đại đế thì thật là một món quà lưu niệm đáng giá nhất. Nhưng tôi không thể trộm được đâu. Những cái đầu lâu này đều được cột vào với nhau và có cái bảng cảnh báo rằng du khách sẽ "được" khám xét trước khi ra cửa đó!

Paris Catacombs - hầm mộ ngầm nằm dưới lòng Paris - kinh đô của ánh sáng đèn màu - đã an táng khoảng 6 triệu cư dân thành phố. Vào năm 1786, chính phủ Pháp quyết định giải tỏa giao thông, cải thiện vệ sinh đường phố bằng cách dẹp bỏ những nghĩa trang ở chung quanh các nhà thờ. Chính phủ đã cho xây dựng những khu hầm mộ trong một mỏ đá vôi sau khi đã khai thác, nằm sâu dưới lòng đất và dài ngoằn ngoèo, chằng chịt như mạng nhện; thật là một vị trí tuyệt vời dành cho những "người thiên cổ". Bao thập niên qua, những tu sĩ ở Paris đã làm những buổi lễ với mạng che mặt màu đen, những xe đẩy chứa đầy xương đi vào khu mỏ đá vôi và chất lên cao khoảng 1m 50 (5 feet), dưới lòng đất sâu 24 m (80 feet), mỗi "người" đều có tấm bảng ghi danh tánh của nhà thờ và địa phận, ngày tháng được đem đến.

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Ngô Thế Vinh: In Retrospect - Nguyễn Văn Trung - Nhìn Lại Một Hành Trình Trí Thức Lận Đận

“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1]Nguyễn Văn Trung

*
Hình 1: trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019. [nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]

TIỂU SỬ


Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930, tại làng Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; còn có bút hiệu là Phan Mai và Hoàng Thái Linh. Xuất thân trường Dòng Puginier và chủng viện Hoàng Nguyên trước khi chuyển qua học Chu Văn An, Hà Nội. Từ 1950 đến 1955 ông được gửi đi du học Âu châu, ban đầu ở Pháp rồi qua Bỉ, đậu cử nhân triết học Đại học Louvain, Bỉ. Năm 1955 về Sài Gòn dạy trường trung học Chu Văn An, và sau đó là Đại học Huế.

Năm 1961 ông trở lại Bỉ, trình luận án tiến sĩ về Phật Học cũng tại Đại học Louvain với đề tài: “La Conception Bouddhique du devenir, Essai sur la notion du devenir selon la Stharivanâda.”

Về nước ông dạy Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Đại học Huế. Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông là Trưởng ban Triết Tây phương, có thời gian được bầu làm Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sài Gòn (1969).

Khánh Hà: Mùa thu chết

Hìnnh minh hoạ, FreePik


Mùa thu chết là mùa thu đang sống
Cả đất trời vạn vật bỗng nở hoa
Sống một lần rồi tan tác lìa xa

Hẹn trở lại một mùa sau diễm tuyệt


Thu của đời nguời nhắc giờ từ biệt
Ra đi rồi là khuất bóng ngàn năm
Hạc nội mây ngàn mấy cõi xa xăm
Thanh thản tiêu diêu, không lần ngoảng lại


Đuờng trần thế còn đây sao xa ngái
Nguời đi rồi vẫn để lại dấu chân
Từng con đuờng, từng hè phố bâng khuâng
Sớm nắng chiều mưa, còn ai đứng đợi


Cuối nẻo đuờng sao nghe vời vợi
Kỷ niệm gánh gồng một kiếp nhân sinh

KH



Nguyễn Đặng Bắc Ninh: Một Thoáng Về Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm và tác giả

Hà Nội 1994:

Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo.

Suốt thời gian chúng tôi ở Hà Nội ông đến thăm nhiều lần vì khách sạn chúng tôi ở gần nhà ông trong khu phố cổ. Tôi nhớ một buổi sáng ông dẫn chúng tôi đi ăn bún riêu ở ngõ Tạm Thương. Lâu rồi không được ăn cua đồng, thấy ngon tuyệt. Ông tặng chúng tôi mấy quyển thơ và một cuốn băng do ông đọc. Và cả những lời thơ ông viết trên cuốn Tự Điển Việt Nam tặng chúng tôi, mang nặng hình ảnh quê hương:

Ta con chim cu về gù dặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm…

Trịnh Thanh Thủy: Cung Tích Biền, một đời hoa sương cỏ

Trong tuyển tập "Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử" nhà văn Cung Tích Biền đã cảm nhận đời mình là "đời hoa sương cỏ" và ông đang đi cho hết một đời hoa sương mỏng manh, bé nhỏ ấy. Tuyển tập này ghi lại toàn bộ các cuộc phỏng vấn ông và là một trong năm cuốn sách được ra mắt hôm nay. Bốn đứa con tinh thần khác của ông được trình làng là "Nhạc điệu của bầy Ong", "Bạch hoá", "Thằng Bắt Quỷ", và "Mùa xuân cô mơ Bay".

Nhà văn Cung Tích Biền và phu nhân Hoàng Thị Kim

Một sáng Thứ Bảy, giữa mùa thu Cali của quận Cam, quán Café & Té xinh xắn, thanh nhã được đón tiếp rất nhiều bằng hữu của Cung Tích Biền đến tham dự buổi ra mắt sách rất đặc biệt này. Đặc biệt là vì ông chưa từng ra mắt sách tại VN hay bất cứ nơi nào trước đây. Buổi RMS được tổ chức với mục đích chính là giới thiệu sách mới in cùng bạn bè đã lâu không được gặp nhau, nên không có người ngoài tham dự.

Từ sáng sớm nhà văn Đặng Thơ Thơ và hoạ sĩ Paulina Đàm đã có mặt để giúp bà Hoàng Thị Kim là phu nhân của nhà văn Cung Tích Biền sắp xếp mọi thứ, sẵn sàng cho một buổi ký sách và đón tiếp bạn bè. Nhiều nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và cả ca sĩ cũng có mặt. Những hiện diện ghi nhận được phía các nhà văn gồm có: Nhã Ca, Đặng Thơ Thơ, Phạm Phú Minh, Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Y Thư, Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương; phía các nhà thơ có Đặng Phú Phong, Thành Tôn, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần, Lê Đình Nhất Lang; bên hoạ sĩ có Nguyễn Đình Thuần và phu nhân, hoạ sĩ Paulina Đàm, cùng sự góp mặt của nhà báo Thanh Huy; ca sĩ Thu Vàng và phu quân Thân Trọng Mẫn. Một vài người bạn thân như Mai Tất Đắc và phu nhân, Lê Phước Bốn, Lê Hùng, Nguyễn Hà và phu nhân, Nguyễn Thị Phương Lan là em gái nhà văn Phùng Nguyễn và phu quân là Thắng….

h o à n g x u â n s ơ n: Biền

B I Ề N,
T Í C H T Ụ

[mừng hội sách Cung Tích Biền]



thao thao ừ*

viết

thaothao

viết bất tuyệt. viết

mời chào thế nhân

thập bát sung mãn như thần

dư vài tuổi lẻ

nắn gân cho đời


h o à n g x u â n s ơ n

tháng mười, 2021

*Thao: tên thật của tác giả CTB, và nhà xuất bản tên Thao Thao

Trần Thị Nguyệt Mai: Chúc mừng Thư Quán Bản Thảo Hai Mươi Tuổi

Thời gian như ngựa chạy tên bay. Thoáng chốc, TQBT đã hai mươi tuổi. Chẳng thể ngờ! Những người chủ trương dù lúc ban đầu đang ngấp nghé ở tuổi hưu xứ Mỹ nhưng vẫn còn mạnh tay khỏe chân, đầu óc, trái tim còn nồng nàn chữ nghĩa. Nay cộng thêm hai mươi năm, nghĩa là hai mươi lần sức lực đã giảm, đi đứng đã phải cần đến cái chân thứ ba, cộng thêm bệnh tật thời “máy móc rệu rạo” hoành hành. Họ chỉ còn lại trái tim mạnh mẽ với tình yêu văn chương và một tình bạn keo sơn, gắn bó. Văn chương thật diệu kỳ và thật đẹp biết bao!

Điển hình trong suốt ba ngày của tháng 7 năm nay, từ ngày 14 đến ngày 16, “nhóm Doãn Dân” gồm mười người từ những tiểu bang xa xôi đã cùng tụ họp đến nhà anh Trần Hoài Thư mang thêm sinh khí, tiếng nói cười nồng ấm cho ngôi nhà đã từ lâu hiu quạnh vì vắng bóng hiền nội của anh hiện trú ngụ trong nursing home. Họ đã giúp vệ sinh nhà cửa, vừa nói chuyện văn thơ: về nhà văn Doãn Dân, về những lần làm báo, đi sưu tập ở thư viện các Đại học Cornell và Yale của Hoa Kỳ, ... Ba ngày ấy đã được chị Doãn Cẩm Liên – con gái nhà văn Doãn Quốc Sỹ – ghi lại trong bài Thư Quán Bản Thảo và Trần Hoài Thư “Lì” đi trên số TQBT 94, tháng 8/2021:
... ba ngày dường như dài vô tận, với tràn trề âm thanh vui, với dư thừa màu xanh tưng bừng. Chúng tôi nói cười ròn tan, đọc thơ nói thơ, kẻ tung người hứng. Ai nấy đều vui vì có nhau.

Ba ngày khó quên

Cháu hỏi số 46
Chủ đề về Doãn Dân
Chú nói chú không còn
Nhưng sẽ in cho cháu
Thế rồi hai chú cháu
Cùng nhau xuống căn hầm
Cháu xếp giấy xếp trang
Chú dán bìa dán gáy…

*Song Thao: Vịt

Tượng ba chú vịt tại quê hương của foie gras Perigord (hình do tác giả chụp)

Vào một tiệm ăn Việt, mở tờ thực đơn, nếu có món bún măng vịt là có tôi. Tôi đã nghiện món tủ này đủ nơi đủ chỗ bên Canada cũng như bên Mỹ. Bên Mỹ, nhất là khu Little Saigon thì khỏi nói. Hầu như tiệm nào cũng có, tiệm nào cũng ngon. Không biết có phải vì ăn thịt vịt hay quên không mà tôi không nhớ tên một tiệm nào ở khu thủ đô của người Việt hải ngoại này. Có lẽ vì tiệm nào cũng sêm sêm như nhau. Tại Portland, đất của ông Từ Công Phụng, cũng có tiệm bán bún măng vịt rất ngon. Ông nhạc sĩ này dẫn tôi tới ăn nên tôi cũng chẳng cần nhớ tên tiệm. Bún măng vịt ngon thịt phải dày, mềm và đậm đà nhưng quan trọng là, theo khẩu vị của tôi, thịt phải để riêng trong một đĩa gỏi có nước mắm gừng. Chính đĩa gỏi này mới làm nên sự nghiệp của bún măng vịt. Thiếu nó là vất đi. Tại Vancouver, Canada, có nhiều tiệm đạt được tiêu chuẩn này. Nhưng tại Montreal chúng tôi thì hầu như không có tiệm bún măng vịt nào ra hồn. Trước khi có dịch Covid, có một tiệm mới mở trên đường Saint Laurent đạt được mức bún măng vịt ngon. Sau thời gian đóng cửa vì dịch, tiệm phẹc-mê-bu-tích vĩnh viễn luôn.

Thịt vịt không phải thứ hiếm ở Montreal. Tại các chợ tây cũng như chợ Việt, vịt của Lac Brome bán ê hề. Lac Brome chỉ cách thành phố Montreal chừng một tiếng lái xe là nơi nuôi vịt quy mô. Thành lập vào năm 1912, họ chuyên nuôi giống vịt Bắc Kinh. Vịt Bắc Kinh?

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

Trần Mộng Tú: Chùm Thơ Năm Chữ

Hình minh hoạ, Frepik

Lá Rơi


Một chiếc lá vừa rơi
Hai chiếc lá cùng rơi
Thôi em đừng ngờ vực
Mùa Thu đến thật rồi.

Hạt Nắng


Hạt nắng rơi rất tròn
Trên chiếc lá phai xanh
có con chim ngực đỏ
mổ hạt nắng rất nhanh

hạt nắng vỡ làm đôi
một nửa còn trên lá
một nửa chim mang đi
lá nghiêng mình ngơ ngác

Hình như Thu đã về.

Mưa Bụi


Xòe bàn tay ra hứng
Mưa lấm tấm trên tay
đường chỉ tay co lại
Trông giống như nụ cười

Mùa Thu Tới


Chân bước qua thềm nhà
nắng cũng vào tới cửa
nồi cơm ai vừa thổi
Cùng chín với mùa Thu.

Tiếng chim


Chim mổ trên mái nhà
Nghe như tiếng gõ cửa
ngập ngừng rồi bỏ đi
Không phải đâu, Thu về.

Khi Trở Về


Cầu thang thư và báo
chữ tràn ra đợi người
những phong thư chưa mở
ai lạ ai quen mình
những tờ giấy quảng cáo
Rao vặt cuộc tử sinh.

Mưa


Những hạt mưa lên tiếng
gọi mãi sợi tóc về
tóc đã đi theo nắng
Mưa như lệ đỏ hoe

Mặt Trời


Mặt trời gay gắt quá
Nên không soi rõ em
đốm lửa trong mắt anh
Một đời em soi suốt.

Trong Gương


Tôi nhìn tôi trong gương
Hai tôi hay là một
Hai mặt đối mặt nhau
Thời gian làm giám khảo

Nằm Mơ


Trong mơ thấy mình trẻ
thức dậy thấy mình già
muốn nằm xuống mơ lại
Trên gối tóc trắng phau

Trăng


Người đàn bà thức dậy
bỏ đi lúc mờ sương
vết trũng trên mặt giường
Còn ngập đầy bóng trăng.

Chiếc Lá


(Gửi BH)

Chẳng đọc được điều gì
Ngoài màu đỏ im lặng
chiếc lá ngậm câu Kinh
Tôi ngậm tên một người.

tmt-Tháng 10- 12- 2021

Trịnh Y Thư: Trần Vũ - Phép tính của một nho sĩ

1.

Hai phẩm cách đáng kể nhất của một nhà văn là ngôn ngữ và sự tưởng tượng. Nhà văn Trần Vũ – qua tập truyện Phép tính của một nho sĩ (Công ty sách Nhã Nam liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, 2019) – hình như có cả hai. Đây không phải là cuốn sách sáng tác theo công thức có sẵn, kể lể một câu chuyện mà người đọc chưa đọc hết mươi dòng đầu đã biết tác giả muốn nói gì, kết cục ra sao. Nó không phải là cuốn sách đọc qua là quên ngay, chẳng lưu lại trong bộ nhớ người đọc được vài sát-na. Nó khó khăn bắt người đọc trăn trở cùng nó, cùng chiêm nghiệm những góc cạnh đầy gai nhọn nhức nhối từ lịch sử đến siêu hình; từ bản thể đến bản nguyên con người; từ dục vọng thấp hèn đến lý tưởng cao vợi. Nó là cuốn sách đầy cá tính – You either hate it or love it, there is no midway here, no equidistance – để từ đó, hiển lộ một tính cách khai phá cực đoan hiếm thấy trong ngôi nhà văn chương Việt Nam. Những truyện ngắn của Trần Vũ trong tập truyện, tác giả viết không phải để làm cái gì phải đạo, viết không để làm vừa lòng ai, thậm chí viết để thách thức, để đưa ra một Cái Khác, một Lịch sử khác, một Thực tại khác. Bạn hoặc đồng ý, hăng hái tán thành, hoặc phẫn nộ phản đối, mà theo tôi, cả hai phản ứng đều là chỉ dấu cho sự thành công của ngòi bút, bởi như nhà văn Franz Kafka từng nói, “Một cuốn sách phải là chiếc búa tạ dùng để đập vỡ tan biển cả đóng băng bên trong chúng ta.”

Bao trùm trên tất cả những điều đó là thủ pháp siêu hư cấu mà tác giả sử dụng tới hạn trong hầu hết các truyện. Siêu hư cấu là một thủ pháp văn chương, trong đó phần tự sự, miêu thuật cũng như nhân vật luôn luôn nhắc nhở người đọc rằng những gì anh/chị đang đọc chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu, chẳng có gì thực. Siêu hư cấu phá bỏ bức tường ngăn chia giữa người viết và người đọc, xóa mờ đường biên, giải trừ tính lưỡng phân, giữa thế giới thực tại và thế giới hư cấu. Nó trực tiếp nhắm thẳng vào người đọc, khiến người đọc có thể tra vấn chính văn bản của câu chuyện. Hơn nữa, siêu hư cấu cho phép tác giả đắp thêm một tầng tưởng tượng bên trên tầng tưởng tượng thông thường thường thấy trong bất kỳ một tác phẩm tiểu thuyết hay truyện ngắn nào. Hiệu ứng của nó là một trải nghiệm văn chương bất chấp quy ước, gây thú vị cho người đọc, và làm bật mở những chiều kích bình thường không cảm nhận được. Sử dụng một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không gượng ép, thủ pháp siêu hư cấu đánh đổ rào cản nhận thức quy ước để sự thật hiển lộ, để đưa ra cái nhìn khác – tuy thậm xưng, gay gắt, nhưng lại vô cùng chính xác và đau đớn – về thân phận con người. Nói như thế bởi tôi đang nghĩ đến cuốn tiểu thuyết Chiến hữu trùng phùng của nhà văn Mạc Ngôn.