Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

Lê Hữu: Đừng đến Seattle

Nhà văn Bùi Bích Hà & nhà thơ Trần Mộng Tú
(Seattle, 7/2012)
Tin chị Hà mất không làm tôi bất ngờ. Không bất ngờ, vì tôi đã chờ đợi cái tin xấu nhất ấy suốt mấy hôm nay. Chúng tôi cùng góp lời cầu nguyện và mong phép lạ nào đến với chị, tuy biết chị khó mà qua được.

Những ngày chờ đợi là những ngày thật dài và nặng nề. Chúng tôi không ai nói với ai lời nào. Sau cùng thì mọi chuyện cũng kết thúc khi chị Tú báo tin đến mọi người. Tôi nhớ mình đã ứa nước mắt, nhưng đầu óc tôi thì trống rỗng.

“Chị Hà vừa mất, sáng nay,” tôi nói thật chậm rãi, để N không phải hỏi lại hay nghĩ mình nghe lầm.

Đang lúi húi trong bếp, N khựng lại, gieo mình xuống chiếc ghế cạnh đấy. Hai vợ chồng cùng im lặng, nhìn nhau, rồi cùng nhìn ra vườn cây ngoài khung cửa sổ. Nắng và gió nhẹ, những tán lá lay động.

Nồi nước sôi sùng sục trào ra, tôi bước lại gần tắt bếp.

“Nếu chị ấy lên đây cuối tháng rồi thì chắc không đến nỗi…,” N nói như nói một mình.

Câu nói không mang ý nghĩa nào cả, rơi vào khoảng không. Có vẻ N chỉ buột miệng, để lấp khoảng trống hay vì thương chị Hà mà nói vậy.

“Cũng có khi là vậy,” tôi nói sau phút im lặng, “hay ít ra mình cũng được ngồi ăn chung với chị thêm lần nữa.”

Lẽ ra thì chị Hà đã có mặt ở Seattle cuối tháng rồi, cách đây hai tuần. Chị có cái hẹn lên chơi và N lại có dịp trổ tài nấu nướng để khoản đãi chị món bún bò từng được chị khen ngon và đề nghị “tái bản” trong cuộc “họp mặt hậu Covid” chuyến này. Ngon dở thế nào không biết, nhưng chị có cách khen khiến người được khen vui thích và cảm thấy chị khen rất thực lòng.

TT Diệu Tâm: Đôi lời với Chị

Thời gian sau này, chúng tôi hay nghe tin người này ra đi, người kia không còn nữa. Tin buồn đến đều đặn như giải thích cho biết đó là điều tự nhiên, tự nhiên như sự sống như hơi thở đời người.

Nhưng khi nghe tin chị Bùi Bích Hà, thật không phải là điều tự nhiên chút nào, vì bất ngờ quá. Bất ngờ vì trái với suy nghĩ của mình. Dự tính hết nạn dịch, bay qua Cali sẽ tổ chức một buổi họp mặt thân hữu và ký tặng sách, cuốn truyện mới nhờ anh Trịnh Y Thư ấn hành. Cũng đã lâu không gặp chị, một mẫu phụ nữ đặc biệt nhân ái, tài hoa văn chương, luôn được yêu quý trong tâm tưởng của nhũng ai quen biết chị, trong ký ức của tôi, của nhà tôi.

Nụ cười của chị, giọng nói của chị êm đềm và ấm áp biết bao. Một giọng Bắc pha Huế, cái âm vọng ấy không lẫn với ai được, vì được phát ra từ một tâm hồn, một tấm lòng dệt bằng gấm vóc và nhung lụa. Chị sinh hoạt qua nhiều lãnh vực văn học, báo chí truyền thông, lãnh vực nào chị cũng đạt được tín nhiệm. Tưởng chừng như chị làm viêc không biết mệt mỏi đau ốm là gì, người đàn bà với dáng dấp mong manh và nhẹ nhàng kia ơi, sao lại có thể mang được một nghị lực ngàn cân ? Đôi vai chị gầy ốm mà sao chị lại có thể gánh vác vô số công việc, và cả vô số sầu buồn của người khác..

Trong buổi mạn đàm với Thầy Hằng Trường, chị trả lời Thầy một cách minh bạch sáng suốt về vấn đề tâm linh phức tạp mù mờ, lối giải thích của chị như hình một đóa sen được bung ra từng cánh, để lộ ra cái nhụy sen vàng như là nguyên lý của sự việc. Chị vững chải, tự tin và tự tại.

Cuộc sống đâu chỉ có niềm vui mà không nổi buồn. Chị Bùi Bích Hà ơi, người ta buồn, người ta khổ, có chị an ủi, nhưng khi chị buồn chị khổ, ai là người ủi an chị ? Người ta ngã, chị cúi xuống vực dậy, nay chị ngã xuống đó, không một ai cúi đỡ nâng chị lên, chị nằm một mình cho đến lúc, cho đến giây phút xuôi tay nhắm mắt không còn hơi thở nào.

Người ta có thể chọn cho mình một con đường để đi để sống, nhưng ít ai có thể chọn cho mình một cách để mà chết. Trong tâm thức không biểu lộ của một người thông minh, nhạy bén cảm xúc, chị đã chọn một cách chết ít đau đớn nhất. Chết mà không biết mình chết, thật không có chi hạnh phúc hơn. Chị sống toàn vẹn, và chị chết vẹn toàn êm ái.

Chúng tôi thương tiếc chị.

Paris, ngày hè không nắng / Phạm Kế VIêm & TT Diệu Tâm


*Song Thao: Dầu Gió

Tại kênh Đôi thuộc quận 8 Sài Gòn có một cây cầu mang tên cầu Nhị Thiên Đường. Vượt qua cầu là đường đi Long An. Cầu nay đã cũ, được xây từ năm 1925 lận, nhưng có nét kiến trúc đẹp, đặc biệt là phần balcon thép và các trụ đèn rất đặc trưng chỉ có ở cầu này. Tôi chưa bao giờ vượt qua cây cầu này nhưng vẫn thắc mắc về cái tên. Đó là tên chính thức hay tên do dân gian đặt cho. Vì Nhị Thiên Đường thì ai cũng biết đó là một loại dầu. Dầu sao ra cầu? Có ba giai thoại về cái tên…lạc lõng này. Giai thoại thứ nhất : hồi đó nhà máy sản xuất dầu Nhị Thiên Đường ở bên phía đường Trần Hưng Đạo trong khi phần lớn công nhân lại ngụ tại bên kia kênh Đôi. Hàng ngày công nhân phải đi đò tới nơi làm việc. Nhận thấy sự bất tiện này, ông chủ hãng dầu Nhị Thiên Đường cùng chính phủ bỏ tiền ra mướn nhà thầu Vallois-Perret xây cầu cho dân, nhất là cho công nhân của hãng, qua lại cho tiện. Giai thoại thứ hai : chính phủ quyết định xây cầu và vận động ông chủ Nhị Thiên Đường góp một số tiền lớn. Bù lại, cây cầu sẽ được đặt tên là Nhị Thiên Đường. Giai thoại thứ ba : kinh phí xây cầu nhà nước bao trọn nhưng nhà máy của Nhị Thiên Đường to đùng nằm ngay ở chân cầu nên lấy luôn tên này cho tiện.

Ba chữ Nhị Thiên Đường bằng gạch xây vẫn còn sau cả trăm năm biến đổi. Hình: Nguyễn Minh Vũ

Thấy cái cầu gần trăm năm tuổi còn nằm đó nên nói chuyện cầu. Nhưng thứ tôi khoái cái tên Nhị Thiên Đường không phải là cái cầu mà là chuyện…văn chương. Chủ nhân của dầu Nhị Thiên Đường không quảng cáo trên báo mà chỉ phát những tờ rơi. Những tờ rơi này cũng đặc biệt, không chỉ có quảng cáo mà còn có những bài chỉ dẫn vệ sinh thường thức. Ông có công thuê những trí thức viết sách “Vệ Sinh Chỉ Nam” bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Hán rồi in dần trong các tờ quảng cáo. Tiến hơn một bước, ông thành “nhà xuất bản” văn học. Đầu tiên trên các tờ quảng cáo dầu Nhị Thiên Đường có in các trích đoạn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Sau đó, vào năm 1919, là truyện “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” của Nguyễn Chánh Sắt, một tiểu thuyết ngôn tình rất ăn khách. Rồi tiểu thuyết “Hậu Chàng Lía” của Hồ Biểu Chánh. Tuy xuất hiện bên cạnh những quảng cáo sặc mùi dầu nhưng đây là cách phổ biến truyện hữu hiệu nhất thời đó. Tờ quảng cáo này được phát không tại các nhà bán thuốc, các chợ đông người tụ tập hay cho khách qua đường. Dân chúng quá hưởng ứng nên dể có thể phát hành sâu rộng hơn, nhà thuốc phải in với số lượng lớn và bán với giá chỉ vài cắc. Quảng cáo này không bán ở các nhà sách mà chí bán dạo tại các bến xe và các chợ. Độc giả là dân lao động và giới bình dân. Ngày đó chuyện in sách khá vất vả. Thường các nhà văn không đủ khả năng in sách đàng hoàng nên đây là cách phổ biến tác phẩm dễ dàng nhất. Trong cuốn “Phê Bình và Cảo Luận”, nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Đường. Tôi để

Trần Thị Diệu Tâm: Bóng Cha

Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng " Cha ơi" như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.

Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói "Con cũng có một người cha". Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi "Cha là ai hở mẹ ?" Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :" Cha đi rồi ".

Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: "Cha mi là người hay chữ".

Tôi vụt hỏi: "Cha ở đâu hở bà ?" Bà trả lời "Chắc cha mi còn sống".

Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả.

Nhưng sáng hôm sau tôi dậy sớm xuống bếp ngay, những mo cơm trắng tối hôm qua mẹ gói đã biến mất, cả nồi khoai lang luộc hết, chỉ chừa hai củ nhỏ dành cho tôi ăn buổi sáng đi học. Vừa sợ vừa tức tối, vì tưởng hôm nay mình được ăn cơm bới mo cau với muối sả mẹ làm thơm nồng cả mũi chiều qua. Lâu nay bà nội chỉ nấu cơm độn với sắn khô ăn nghẹn cả cổ, chỉ mong được nhai miếng cơm mềm dẻo, không sắn không khoai không bắp lổn nhổn trong miệng. Thế mà tối hôm qua mẹ cả gan đem cho người ta hết các mo cơm trắng, hết cả lon muối sả . Tôi nghẹt thở, nước mắt chực trào ra. Nhưng tôi nào dám mở miệng hỏi ai.

Trần Thị Nhật Hưng: Chuyện tình với anh Cu Yên

Năm tôi mười ba tuổi, vào một buổi tối mùa hè như thường lệ, trước sân nhà rộng như sân banh, tôi cùng lũ bạn trong xóm trai có, gái có cùng nhau chơi đá banh. Cuộc chơi thật hào hứng sôi nổi, tiếng reo hò vang vọng một góc phố. Nhờ khỏe, chạy nhanh, tôi luôn dành được banh về dưới chân tôi.

Tôi đang co chân đá trái banh về phía thằng Tèo, chợt có tiếng mẹ tôi đứng trong nhà gọi vói ra :

- Thơ ơi, vào đây mẹ bảo.

Tôi ngừng cuộc chơi, chạy vào:

- Dạ, mẹ gọi gì con ạ?

- Bà Bắc Hải nhờ con qua viết dùm bà bức thư.

Tôi phụng phịu:

- Mẹ nhờ chị Quỳnh đi. Con đang chơi mà!

Mẹ tôi lắc đầu:

- Không, bà Bắc Hải nhờ đích tên con. Con nên qua giúp bà.

Miễn cưỡng vâng lời mẹ, tôi vừa đi vừa vùng vằng, phụng phịu.

Nhà bà Bắc Hải bên kia đường, đối diện xéo với nhà ba má tôi. Lúc tôi bước vào nhà bà, tiệm của bà đà vắng khách. Bà bán rượu trắng, phở và cơm. Dù sống bằng hàng ăn, nhưng trông bà lúc nào cũng thong dong nhàn hạ. Bà luôn ngồi một chỗ trên tấm phản gụ bóng loáng sau kệ tủ thấp kín đáo trông ra nhà trước và chỉ huy người cháu gái gọi bà bằng cô ở nhà sau.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

TƯỞNG NIỆM BÙI BÍCH HÀ

Sinh 11-1-1938 Mất 14-7-2021


Nhà văn, nhà truyền thông Bùi Bích Hà, sau một cơn đột quỵ, đã qua đời vào ngày 14 tháng 7, 2021 tại Quận Cam, miền Nam California.

Sự ra đi đột ngột của Bùi Bích Hà đã gây nên nỗi sửng sốt và tiếc thương sâu đậm nơi bạn bè, văn hữu của nhà văn. Số báo Diễn Đàn Thế Kỷ hôm nay hoàn toàn dành cho nỗi tiếc thương ấy.

Vì thực hiện có phần gấp rút nên chúng tôi sẽ đăng bài vở theo thứ tự tòa soạn nhận được. Đó là hình ảnh chạy đua với thời gian, sẽ mang theo hơi hướng ấm áp của từng tấm lòng của bạn bè đối với nhà văn vừa quá cố.

Đây là một nén hương chung do mọi người cùng thắp lên, để tiễn đưa và cầu chúc Hương Linh chị Bùi Bích Hà sớm tiêu diêu nơi Cõi Vĩnh Hằng.

Diễn Đàn Thế Kỷ


Trần Mộng Tú: Đi Đâu….Về Đâu…..

(Gửi theo Bùi Bích Hà)

Đến một tuổi nào đó, bạn nhận thức được rõ ràng hơn về nỗi chết. Bạn biết, nếu không bị bệnh hiểm nghèo lúc trẻ thì tuổi sống của bạn cũng không bao giờ là vĩnh viễn được.

Bạn đã đến, đã nhập cuộc, đã hoàn tất cuộc chơi, dù hoàn hảo hay vụng về, bạn cũng phải buông tay, rũ áo… ĐI

Bạn và người thân yêu của bạn sẽ phải rời nhau ra, sẽ phải tách ra… Đi về hai phía.

Đi đâu? Nào ai biết mình hay người thân của mình sẽ đi về đâu?

Bùi Bích Hà, người bạn thân của tôi, hơn tôi 6 tuổi. Chị thông minh, trí tuệ, là người hoạt bát, năng nổ, giọng nói ngọt ngào, hiểu biết và tháo vát. Lịch trình sinh hoạt của chị bao giờ cũng đầy ắp. Chị nói như chim hót trong vườn không hề lạc giọng, chị là một trong những tiếng nói được nhiều người mến chuộng của cộng đồng Nam Cali. Chị làm việc như một con ong thợ, không biết đến mệt mỏi. Chị cứ tiếp nối năm này qua năm khác, không hề nghĩ đến chuyện từ giã cái sân khấu cuộc đời. Chị quên đếm sinh nhật đời mình.

Tình bạn của chúng tôi suốt hơn ba mươi năm, cười khóc với nhau. Dù chúng tôi không sống chung một thành phố, nhưng chúng tôi đã cùng viết văn, làm báo với nhau một thời gian khá lâu (Nguyệt San Phụ Nữ Gia Đình- Người Việt). Khi hết làm báo chung, chúng tôi vẫn mỗi năm gặp nhau một tuần, thường là tôi xuống Cali với chị, đôi ba năm chị lên Seattle với tôi.

Ngọc Dung: Thương Nhớ Gửi Chị

C:\Users\Pham Phu Minh\Desktop\minh họa thơ.jpg

Chị ơi ở lại với hoa vàng
Bên giậu phù dung nở chứa chan
Đài sớm điểm tin môi ngát tiếng
Đèn khuya kể chuyện giọng thơm lan
Tâm tình to nhỏ tơ lòng gỡ
Chữ nghĩa buồn vui bút mực tràn
Sao vội buông tay từ biệt mộng
Thôi rồi vĩnh cách vạn trùng san.

n.d.

Ngự Thuyết: Giã Từ Bùi Bích Hà

Được tin cô Bùi Bích Hà đã vĩnh viễn ra đi, tôi vô cùng sửng sốt và đau đớn. Cô là một nhà văn nữ có tiếng, đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị. Gần đây, tháng 10 năm 2018, Đèn Khuya của Bùi Bích Hà do Người Việt Books xuất bản gồm hai tập, mỗi tập gần 500 trang. Có lẽ đã có nhiều bài viết về sự nghiệp văn chương của Hà, cho nên phần tôi, tôi chỉ xin được phép nhắc nhở một số kỷ niệm giữa Hà và chúng tôi.

Trước hết về vấn đề xưng hô. Tôi không quen gọi Hà là “chị”. Gọi như thế, tôi cảm thấy nó khách sáo, lạnh lùng, trong khi chúng tôi đã quen biết nhau từ lâu lắm. Tôi vẫn gọi “cô Hà”, hoặc “Hà” và xưng là “tui”, trong khi Hà gọi tôi là “anh” và tự xưng là “Hà” hoặc “tôi”. Xưng hô trong tiếng Việt rất phiền phức và tế nhị.

Hồi còn ở Huế, Hà học khác trường và sau tôi mấy lớp. Nhà của tôi lại gần ngôi biệt thự của đại gia đình cô Hà. Do đó tôi và vài thằng bạn, cái thứ con trai tấp tểnh mới lớn, ở gần đấy, làm sao mà không dần dần khám phá ra rằng vùng mình có một “cô Bắc Kỳ xinh xinh, nho nhỏ”. Thật ra Hà gốc Bắc, nói tiếng Bắc giọng Hà Nội nghe thật nhẹ nhàng, trôi chảy, êm ái, nhưng sinh tại Huế. Chẳng biết mấy thằng kia có để ý nhiều đến người đẹp hay không, nhưng tôi không thể quên cái dáng xinh xinh đó đi học về một mình dẫn chiếc xe đạp từ con đường nhỏ đi sâu mất hút vào trong một khu vườn thâm u, kín cổng cao tường.

Nhà của Hà nhìn ra một cánh đồng khá rộng. Những ruộng lúa xanh rì. Đến mùa lúa chín, là cả một cánh đồng vàng. Nhưng khi mùa đông mưa dầm, gió bấc, rét mướt về, cảnh vật thật thê lương. Cánh đồng ngập nước mênh mông trắng xoá, người Huế gọi nước lụt ấy là nước bạc, lội xuống lạnh thấu xương. Tôi nhớ trong một truyện ngắn của Hà có hình ảnh cánh đồng mùa lụt ở Huế. Thêm vào đấy, ngày đêm vang đi rất xa tiếng ểnh ương đều đều, và buồn “thúi ruột”. Từ cổng nhà Hà nhìn xéo sẽ gặp một ngôi chùa nhỏ, không biết mang tên gì, thường được gọi là chùa Áo Vàng, vì các vị sư mặc áo vàng.

Nguyễn Tường Thiết: Đèn khuya vụt tắt

Tin chị Trần Mộng Tú báo cho chúng tôi biết chị Bùi Bích Hà bị bất tỉnh thình lình tại nhà và được đưa vào bệnh viện trong tình trạng hết sức nguy kịch đến với tôi ngay giữa lúc tôi đang đọc tác phẩm Đèn Khuya của tác giả Bùi Bích Hà.

Lúc ấy tôi đang ở nhà anh Việt, ông anh cả tôi, tại tiểu bang Virginia. Đầu tháng Bẩy chúng tôi rời Seattle bay qua miền Đông và ở đó hai tuần lễ, nhân dịp giỗ thứ 58 của thân phụ chúng tôi, nhà văn Nhất Linh. Trên giá tủ sách nhà anh Việt có hai quyển sách dầy, bìa màu đen, chính giữa khung đen nổi lên một khoảng sáng nhỏ của một ngọn nến với hai chữ Đèn Khuya cắt ngang. Tôi biết chị Hà đã cho xuất bản tác phẩm sau cùng này của chị vào năm 2018 nhưng tôi chưa có dịp đọc. Bây giờ là thời gian nhàn nhã lý tưởng để nghiền ngẫm tác phẩm này, nhưng khi tôi đang đọc gần hết tập I thì tin chị phải vào bệnh viện làm tôi không có tâm đâu để đọc tiếp. Chúng tôi email cho nhau và cùng cầu nguyện cho chị thoát cơn hiểm nghèo. Nhưng buổi sáng ngày 14 tháng Bẩy, trong lúc ngồi chờ máy bay ở phi trường Charlottesville để trở về Seattle, tôi giở email và được tin chị Tú cho biết chị Hà vừa qua đời. Ngọn đèn khuya vụt tắt. Chị chọn ra đi đúng vào ngày “Quatorze Juillet” là ngày lễ lớn của Pháp có lẽ vì chị Hà hồi nhỏ học trường Tây, chị thấm nhuần văn hoá Pháp, những ngọn pháo bông sáng rực bầu trời Paris rồi lịm đi trong bóng đêm như chào đón và tiễn đưa chị qua bờ một thế giới khác.

Đối với riêng cá nhân tôi cũng như đối với đại gia đình chúng tôi chị Bùi Bích Hà không những được xem như một người thân lâu năm, mà còn được xem như “người nhà”. Tôi không rõ bắt đầu từ khi nào chị đi vào gia đình Nguyễn Tường chúng tôi như một người thân quen, có lẽ bằng con đường văn của chị. Trong bài “Tưởng nhớ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”, tác giả Bùi Bích Hà viết: “Năm tôi mười bẩy tuổi, do nhà văn Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn (lúc bấy giờ đang đóng quân ở Huế) khuyến khích, tôi có gửi vài truyện ngắn ký bút hiệu Chi Hương, được Nhất Linh cho đăng ở Văn Hoá Ngày Nay, bộ mới, với lời khen ngợi qua một thư ngắn viết tay cho tôi mà tự dạng về sau tôi có dịp so sánh, rất giống với nét chữ của những nhà văn khác thế hệ thứ hai của dòng họ Nguyễn Tường, mỏng, nhỏ, ngoằn ngoèo, gẫy vỡ, chông chênh nhiều khoảng trống xung quanh”.

Chi Hương: Hương Hồng

(Hương Hồng là một trong những truyện ngắn đầu tay của tác giả Bùi Bích Hà, đăng trên Giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay, tập 7, do Nhất Linh chủ trương năm 1958, dưới bút hiệu Chi Hương)

Huyên ngồi xuống bực cửa, chống hai tay lên cầm và lặng yên nhìn ra khu vườn nhỏ. Buổi chiều đến chầm chậm. Có cái gì bứt rứt từng chút trong không khí và ánh sáng xung quanh nàng. Trong một lúc, Huyên chợt cảm thấy hốt hoảng vì cái bứt rứt ấy hình như mỗi lúc một lan rộng ra và làm Huyên nghẹn thở.

Huyên kêu thét lên tuy nàng vẫn ngồi im trong dáng điệu đó:

-Anh Thảo! Anh Thảo!

Tiếng Huyên khô và vang dội vào tường đá. Thảo từ trong nhà chạy đến chỗ Huyên, kinh ngạc:

-Huyên vẫn ngồi thế có sao đâu!

Giọng Thảo tự nhiên có vẻ vỗ về. Huyên nghe giọng nói đó, nghĩ chắc Thảo sắp để tay lên vai nàng mà lay như mọi bận, khi Huyên sắp sửa khóc. Nhưng Thảo không làm thế và chàng ngồi xuống bậc thềm thứ hai, bên cạnh hai chân ruỗi thẳng của Huyên. Cả hai im lặng một chốc rồi Thảo nói:

-Huyên ạ, buổi chiều như có gì xôn xao...

Huyên nhìn Thảo, ngạc nhiên vì Thảo cũng có cái cảm giác của nàng. Khi Thảo thấy Huyên nhìn mình, chàng nhận ra hai mắt nàng bây giờ trở nên sâu và đựng một vùng bóng tối dưới vầng trán trắng. Thảo không nghĩ gì thêm vì màu da trắng của Huyên bỗng làm Thảo nhớ tới tà áo Ngân mặc ban sáng. Nghĩ đến Ngân, Thảo nói với Huyên:

-Ban sáng cô Ngân lại thăm anh.

Huyên cười nhẹ như chợt xúc động:

-Cô ấy khóc phải không anh?

-Em muốn nói mấy tấm ảnh cô Ái anh mới bầy trên bàn đêm à?

Trần Mộng Tú: Hôm Nay Mùa Hè Này

Gửi theo Bùi Bích Hà

Bùi Bích Hà (ảnh Trần Viết Ngạc)
Hôm nay
Mùa Hè này
Trong ngôi nhà này
Tôi đi qua
Tôi đi lại
Chạm tay vào kệ sách
Chạm tay vào chiếc bàn trong góc bếp
Chạm tay vào tách trà
Cái bát ăn cơm
Ly cà phê buổi sáng
Tôi nhìn thấy những khung ảnh trên tường
Cái máy điện toán
Chiếc bàn phấn son
Tủ quần áo
Những đôi giầy…

Từng cái
Từng cái một
Tất cả rồi sẽ được mang cho
Quần áo người khác mặc
Giầy người khác sẽ đi
Cây son se mình lại
Hộp phấn bay mùi hương
Chữ nghĩa trên trang sách
Lệ nào thấm từng chương

Ngôi nhà rồi sẽ rỗng
Trống như một nỗi không

Sẽ là lần cuối
Ngày này
Lần này
Mùa hè này
Tất cả sẽ khép lại

Tôi gạt nước mắt bỏ đi
Nắng Cali cháy se từng ngọn cỏ.

tmt
Ngày 14 tháng 7 năm 2021

Kim Hằng: Chị nhớ gọi em khi cất cánh nhé

Kim Hằng và Bùi Bích Hà

Tôi xin mượn lời chị Bùi Bích Hà nhắc về Bé Ký "Chắc giờ này chị đã an nghỉ ở cõi ngàn năm. Mới đâu đây mà đã một đời người như lá vàng rơi, như cơn gió thoảng."

Buổi trưa thứ Năm ngày 8 tháng 7, mọi người còn nhận điện thư chị Hà trả lời trong nhóm bạn nhắc nhở anh tôi hay đùa "Coi chừng cả lời nói đùa đấy ông em ơi kẻo lại bị hô hoán ầm lên là kỳ thị/phân biệt đối xử giai cấp và tuổi tác thì nước sông Hằng cũng không rửa được oan tình đâu!" buổi tối được điện thư chị Tú báo tin "Chị Hà chiều nay ngất đi ở nhà (một mình) Gần 3 tiếng sau mới có người về kịp đưa đi Emergency. Hiện tại ở Bệnh Viện St. Joshep, chưa hồi tỉnh. Đang trong phòng cấp cứu. Con gái chị Hà sẽ báo cho biết kết quả sau. Nhận được tin gì thêm, Tú sẽ thông báo cả nhà. Xin mọi người cầu nguyện cho chị".

Nghe tin chị Tú báo mà tôi bàng hoàng, thoáng nghĩ "mới sáng nay mà tối nay đã... thay đổi nhanh quá."

Ký ức lần đầu tiên được gặp chị Hà và chị Tú ở nhà Bác Võ Phiến cùng với anh Minh vào tháng 9 năm 2012 của "sáng thứ Hai hôm ấy" lại quay về. Được nghe về chị Hà và chị Tú trước đó, nhưng đây là lần đầu tiên được gặp mặt hai chị và nhà văn Võ Phiến nên tôi rất vui và hân hạnh. Ngồi nghe "người lớn" nói chuyện chữ nghĩa văn chương và ăn món Huế thì không gì thích bằng, rất đã cho cái bụng và hả hê cho cái dạ nên tôi nhớ mãi buổi hội ngộ này.

bùi vĩnh phúc: Bùi Bích Hà, Một Mình Trong Nỗi Nhớ

\
Bùi Bích Hà chỉ mới tự giới thiệu mình với độc giả hải ngoại bằng tập truyện ngắn Buổi Sáng Một Mình, do nhà Người Việt in năm 1989, cùng với một vài bài tùy bút về quê hương đăng rải rác trên một số báo chí và tập san văn nghệ trong mấy năm qua. Thế nhưng, chỉ với tập truyện ngắn và một vài bài tùy bút ấy, bà đã để lại những ấn tượng rõ nét trong lòng người đọc về một văn phong trầm lặng nhưng lại ẩn chứa đầy những sôi sục bên dưới, và một trái tim thiết tha nhưng luôn quằn quại với những câu hỏi của đời sống.

Thật ra, Bùi Bích Hà còn có một tác phẩm khác, cũng do nhà Người Việt in (năm 1991), là tập Bạn Gái Nhỏ To. Tập sách chọn lọc một số những câu hỏi của độc giả về những vấn đề của cuộc sống lứa đôi, đăng hằng tuần trên trang Phụ Nữ của nhật báo Người Việt mà bà phụ trách. Tác giả ký tên là Thái Hà trong mục này. Những ý kiến và những lý giải của Bùi Bích Hà trên trang báo này cho thấy bà có một sự đồng cảm sâu đậm với những người đến với bà. Bà gần gũi với những vấn đề con người và bà có một năng khiếu đặc biệt, bắt nguồn từ chính sự thông minh nơi con người bà, để trợ giúp người khác trong những khó khăn về mặt tình cảm. Cái nhìn của bà phóng khoáng nhưng không thiếu sự nghiêm túc. Tự do cho con người và trách nhiệm của nó để xứng đáng có được sự tự do đó là những gì tôi nhận thấy, một cách tổng quát, trong những đóng góp thiết tha và giàu lòng nhân ái của Bùi Bích Hà qua tập sách vừa nói.

Dù sao, trong bài viết này, tôi sẽ tập trung sự phân tích của mình vào tập truyện ngắn Buổi Sáng Một Mình.

Đó là một tập sách gồm có mười lăm bài văn pha trộn những thể loại khác nhau: truyện ngắn, tùy bút, thư. Thật ra, có thể nói đây là một tập truyện ngắn được mở đầu bằng một lá thư cho một người bạn, một người mà tác giả quý mến, và chấm dứt với một tùy bút viết về Huế, quê hương một đời của bà.

Nguyễn Tiến Dũng: Nhớ cô giáo xưa

Báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ vừa mới Email cho biết cô Thái Hà (giáo sư Bùi Bích Hà) bị đột quị và đã qua đời vào ngày 14 tháng 7 vừa rồi, tôi cũng như các bạn ở trường Nguyễn Trãi đều bàng hoàng, sửng sốt.

Năm 1969 tôi học Pháp văn với cô lớp Đệ nhị chuẩn bị thi tú tài, khi ấy cô mới đổi về Sài Gòn được mấy năm. Người cô nhỏ nhắn hai gò má cao trông rất giống xướng ngôn viên Barbara Walters đài truyền hình Mỹ lúc bấy giờ. Cô nói tiếng Pháp lưu loát giảng bài lúc nào cũng analyse : đâu là sujet d'un verbe, đâu là complément… Verbe phải biết đủ tous les temps: présent, future, passé composé… Sau bao năm ở Mỹ, bây giờ nhắc lại vài tiếng Pháp còn nhớ được trong bài giảng của cô năm xưa, lòng không khỏi bồi hồi xúc động.

Giọng của cô nhẹ nhàng, phảng phất một chút đài các từ Văn Miếu, hồ Gươm, nhắc nhở đến trường Nguyễn Trãi đất Hà thành ngày nao. Học trò phải ráng lắm mới theo kịp bài giảng, cô biết thế nên thường hay khuyên : “Học Pháp văn, hay học toán, hay bất cứ môn học nào, luôn luôn phải cố gắng. Mai này ra đời làm nghề gì cũng vậy, phải cố hết sức mình, sau đó que sera sera.” Nhân từ, độ lượng, và cảm khái thay lời nói ấy lại do cô Hà nói ra, mà lẽ ra phải xuất phát từ một bậc tu hành. Cô cũng không nhắc nhở chúng tôi cố gắng trở thành quan nghè, ông thám, bác sĩ, kỹ sư… chỉ cần trở thành một người bình thường nhưng biết tận tâm, chịu khó làm hết khả năng của mình. Nghe lời lẽ ấy của cô, tôi chợt tỉnh ngộ, cố gắng chấn chỉnh học hành kỹ lưỡng hơn. Tôi canh cánh mãi trong lòng câu nói ấy suốt nửa thế kỷ nay, lúc nào cũng tự hứa làm theo lời cô dậy.

Đường đời sao lắm chông gai, gặp cảnh đổi dời, ông nghè, ông cống cũng nằm co, dân Việt đổ túa ra biển Đông đi tìm đất sống. Cô đến Mỹ với cả gia đình, một mình nuôi dậy các con nên người; các chị con của cô đều học hành thành đạt, sau này đều có địa vị trong xã hội. Tôi gặp lại cô trong hội Nguyễn Trãi khi học trò họp lại chúc tết thầy cô hàng năm. Lúc này cô hoạt động trong lãnh vực truyền thông, hình ảnh và tiếng nói của cô quen thuộc trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình. Một số nhân vật của báo Người Việt đối với tôi có tình sư đệ thắm thiết : thầy Trần Đại Lộc, cô Bùi Bích Hà, cô Lã Phương Loan đều là những ân sư của tôi ở trường Nguyễn Trãi, Sài Gòn.

Năm 2019, tiệm phở 79 Garden Grove nơi tôi làm việc, được giải thưởng James Beard America's Classics Award về nấu ăn. Cô Hà rất vui mừng, viết trên báo, tuyên bố trên radio cô rất hài lòng khi thấy một trong những người Việt được giải thưởng Oscar về ẩm thực lại là một nam sinh học trò cũ của mình. Thưa cô, em đã làm đúng lời cô dậy từ năm mươi năm trước, chỉ không ngờ phần “que sera sera” lại là một giải thưởng làm cho cô hãnh diện ít nhiều. Nguyện xin ơn trên phù hộ tiếp dẫn cô.

Vĩnh biệt cô, Nguyễn Tiến Dũng học trò năm xưa của cô.

Trần Doãn Nho: Đến lúc đi, là đi

Buổi sáng, chị gửi ra một email ngắn cho bạn bè trong nhóm, giọng điệu vui vẻ, trêu chọc.

Buổi chiều, chị đột ngột rời thân xác mình.

Thân xác nằm im. Chị nằm im.

Và mấy ngày sau, thân xác vẫn nằm im, nhưng chị ra đi. Một ra đi dứt khoát, không chia tay, không chuẩn bị, không bịn rịn, không nuối tiếc. Một ra đi tuyệt đối. Không đau cái đau thân xác. Không đau nỗi đau tử biệt sinh ly. Một chuyến hành trình vào vô hạn.

Bạn bè bàng hoàng, sững sờ, ngơ ngác, nghẹn lời. Nhưng chị hạnh phúc. Đến lúc đi, là chị đi. Từ cõi trần gian nhốn nháo, chị nhảy một bước ra cõi ngoài, một bước nhảy đến hẳn bờ bên kia, đáo bĩ ngạn. Nhẹ tênh tênh!

Lâu lắm rồi, chị viết, “Trên con đường đi tới cuối đời, hình như mọi người đều có nhu cầu quay lại, để thấy con đường dài thêm và hành lý có nhiều, để tự an ủi thật ra kiếp phù sinh không phải chỉ có ba vạn sáu ngàn ngày.” (Huế yêu dấu)

Là vậy, nhưng vào lúc cuối đời, chị đi, không ngoái lại. Đi thẳng.

Tất cả ở đàng sau chị đều KHÔNG.

Và chị thành KHÔNG.

*

Hôm đó, một ngày tháng 7 năm 1994, sau khi định cư tại Boston một năm trước đó, tôi ghé thăm quận Cam, được Nguyễn Mộng Giác rủ tôi đến dự một bữa ăn tối tại nhà Bùi Bích Hà. Có mặt trong bữa ăn, ngoài Nguyễn Mộng Giác và nữ chủ nhân, còn có Nguyễn Xuân Hoàng, Nhật Tiến và Trần Mộng Tú. Đây là lần đầu tiên tôi đến quận Cam, lần đầu tiên được gặp những tên tuổi văn chương mà tôi yêu mến, lần đầu tiên tôi được sống trong không khí văn chương sau gần hai thập niên im lặng và câm lặng trong nước. Đến nhà một người lạ, lại nghe giọng Bắc ngọt, đậm và lịch lãm của chủ nhân, tôi cảm thấy hơi ngại ngần. Nhưng Bùi Bích Hà lịch lãm mà thân tình, chu đáo mà cởi mở khiến cho một người vừa mới qua Mỹ định cư như tôi cảm thấy ấm áp. Bữa ăn là một kỷ niệm dịu dàng khó quên.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp Bùi Bích Hà.

Bùi Bích Hà: Phim ảnh & đời sống


Lời giới thiệu:

Từ vài năm nay chúng tôi, chị Bùi Bích Hà và tôi, hẹn gặp nhau mỗi tháng Mười để cùng đi dự đại hội Viet Film Fest ở Quận Cam, Nam Cali. Trừ năm ngoái 2020 vì đại dịch Covid-19. Năm nay, tình hình đại dịch đã phần nào ổn định. Dù vậy, ban tổ chức cho biết sẽ tổ chức trình chiếu phần lớn online, song có thể có một đôi buổi chiếu phim diễn ra tại một rạp hát ngoài trời drive-in. Tôi tưởng tuợng niềm thích thú của chị khi được tham dự một cuộc trình chiếu như vậy. Xem phim tại rạp hát drive-in đã trở thành quá khứ trong lịch sử giải trí của dân Mỹ khi chúng tôi tới định cư tại đây. Song sẽ là một kinh nghiệm mới mẻ nếu giờ được trải nghiệm. Tiếc là việc đó sẽ không diễn ra với chúng tôi nếu VFF năm nay sẽ thực hiện trình chiếu ngoài trời.

Chị đã ra đi vĩnh viễn, bỏ lại niềm thương tíếc ngậm ngùi cho nhiều người. Với riêng tôi là một cái hẹn sẽ không còn bao giờ thực hiện được nữa, đó là cùng nhau đi xem Hội Phim Việt mỗi mùa xuân hoặc thu, để rồi sau đó thảo luận rôm rã về những chuyện nghệ thuật và đời sống của người Việt khắp nơi mà hàng chục phim được trình chiếu tại VFF mang lại cho giới thưởng ngoạn.

Bài dưới đây của chị viết về Hội Phim Việt năm 2016, nói lên cái nhìn sâu sắc song phóng khoáng của chị về một số phim trình chiếu trong năm này, đặc biệt về phim tài liệu "Finding Phong" của đạo diễn Trần Phương Thảo và Swann Dubus, dài 92 phút, thực hiện năm 2015 và đã được nhiều giải thưởng, và được khán giả VFF chọn là phim tài liệu hay nhất trong năm. -- Trùng Dương

Việt Film Fest 2016 được tổ chức tại rạp AMC Orange 30, trong khu mua sắm The Outlets of Orange, tên cũ quen thuộc hơn với mọi người là The Block, bên lề xa lộ 22, vào các ngày 14, 15, 16 và 17 tháng 4.


Bùi Bích Hà: Mùi cà phê của bố

Tôi có một tuổi thơ buồn. Rất buồn. Nhưng tôi cũng có một tuổi thơ đẹp. Rất đẹp. Không giống những đứa trẻ khác, tôi có tới bốn bà mẹ. Tất nhiên tôi cũng có một ông bố, và may mắn chỉ có một ông bố thôi. Sau này khôn lớn, bản thân trải nghiệm nhiều cảnh ngộ, tôi biết ơn mẹ ruột tôi vì sự hy sinh vô bờ bến của bà để tôi có được ơn phước này. Mẹ kể bà sinh tôi rất dễ, gần như đẻ rơi tôi bên cạnh hòn đá lớn để chặn cửa cho cửa không bị gió sập vào trong mùa đông mưa gió đầy trời ở Huế. Mẹ không đau đớn khi cho tôi ra đời nhưng mẹ đau đớn nuôi tôi từ lọt lòng cho đến khi mẹ nhắm mắt ngủ giấc sau cùng.

Tôi đã nhiều lần viết về mẹ, viết cho mẹ mỗi khi tôi nhớ bà. Những khi nhớ mà không viết, tôi ngồi khóc một mình. Những ngày cuối năm như buổi chiều sắp tàn, khiến chim nhớ tổ tìm về. Người tha hương không được như chim, đành khép đôi cánh mỏi, tạm dừng chân trên cành lạc loài chờ bình minh hôm sau và nhiều hôm sau nữa. Nói như nhạc sĩ Vũ Thành An, lâu rồi đời người cũng qua.

Xuân đến, xuân đi, xuân bất tận. Mùa Xuân trong trời đất mãi thanh tân, nguyên vẹn từng ngày, không bao giờ tàn, không bao giờ thật hết. Con người, trái lại, thu đông từng mùa rơi rụng, không được như thiên nhiên trên dòng vô tận. Chẳng có mùa Xuân nào thực sự ấm áp và trong trẻo trong lòng người tha phương. Những lời sau đây, tôi muốn viết về Cha. Nhất là trong thời tiết nước Mỹ vừa vào thu se lạnh mấy hôm nay.

Tôi không được gần cha nhiều, theo cái nghĩa là được có cơ hội gần gũi, chuyện trò, được ông hỏi han, săn sóc, dạy dỗ. Tôi chỉ thỉnh thoảng thấy ông trong những ngôi nhà rộng gia đình từng sống qua, biết ông là bố của tôi, thế thôi. Dẫu sao, thời bé dại, tôi cũng có vài khoảng thời gian, không nhiều, được thấy ông ở nhà lâu hơn. Đó là những ngày sauTết và những ngày mùa hè khi tôi lên sáu hay lên bẩy, không ở ngôi nhà số 72 Gia Hội mà ở ngôi nhà nghỉ mát bố tôi tự trông nom cho thợ xây cất trên đỉnh một ngọn đồi trong rặng núi Bạch Mã.

Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

Nguyễn Đình Cống: Chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) có nhiều nội dung tích cực, tốt đẹp. Nhưng gần một thế kỷ qua ở Việt Nam các nhà lãnh đạo và tuyên truyền cộng sản đã hiểu sai về nó và ra sức chống đối. Việc này lợi ít hại nhiều. Đã đến lúc cần làm cho người dân Việt và đặc biệt là tầng lớp trẻ hiểu rõ và phát huy sức mạnh của CNCN, đồng thời hướng sự chống đối vào những mặt xấu xa, tiêu cực của con người và thể chế.

Dưới nền quân chủ vai trò cá nhân quy tụ vào vua chúa. Dân thường chỉ được làm theo lệnh cấp trên, không có quyền tự do tư tưởng, không thể sáng tạo. Xã hội ở vào trạng thái trì trệ.

CNCN bắt đầu manh nha ở châu Âu từ thời Phục Hưng (thế kỷ 16) với sự phát triển mọi mặt của con người và đạt đỉnh cao trong Thời kỳ Khai sáng (thế kỷ 18) với tự do cùng lòng khoan dung cá nhân và chống lại độc quyền của vua chúa.

CNCN có nội dung triết học và nhân văn, nó đề cao vai trò và lợi ích cá nhân trên cơ sở mỗi người có lòng tự trọng, tự tin, tự lập, tự quyết, tự do, là cơ sở của mọi sáng tao và thành công, là động lực mạnh mẽ của tiến bộ xã hội, là vũ khí và lực lượng chống lại sự độc tôn toàn trị. Vì vậy bọn chuyên chính độc tài thù ghét nó. Nội dung cơ bản của CNCN không bao gồm những thói hư tật xấu như ích kỷ, cửa quyền, độc đoán, tham nhũng, chia rẽ, thù oán v.v…, thế nhưng trong quá trình lan tỏa người ta gán thêm cho nó tính vị kỷ, gắn nó với Chủ nghĩa Vị kỷ và đặc biệt khi tuyên truyền cho đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản thì người ta gán cho CNCN những thói hư tật xấu và không kể gì đến những tích cực của nó.

Một số người lãnh đạo của ĐCSVN, không biết vì thiếu trí tuệ rồi bị nhầm lẫn hay vì cố tình đánh tráo khái niệm mà đã mô tả CNCN như là tàn dư của phong kiến và tư bản với mọi thói xấu xa đê tiện rồi ra sức tuyên truyền chống phá. Rất có thể họ thấy được những mặt tích cực của CNCN, nhưng họ không muốn công nhận vì chúng đụng chạm tới uy quyền toàn trị của họ, họ không chịu được rằng trong đất nước này lại có người giỏi hơn họ, dám đề xuất những điều khác với họ.

Jackhammer Nguyễn: Cuba và Việt Nam khác nhau xa

Thấy gì qua việc đưa tin của báo chí nhà nước Việt Nam về cuộc biểu tình của hàng ngàn người Cuba, hôm Chủ Nhật 11/7/2021?

Thứ nhất, họ không nhất loạt đưa tin. Thứ hai, họ đưa tin chỉ có một nửa. Họ nói, người Cuba thiếu thuốc men thực phẩm, làm ăn không được vì bị cách ly chống dịch, nên biểu tình. Dù họ đưa con số hàng ngàn người biểu tình như các tờ báo phương Tây, nhưng họ không nói hàng ngàn người biểu tình đó đòi thay đổi chế độ.

Chúng ta cũng không lạ về thói quen đưa tin của tuyên giáo CSVN, thường chỉ có một nửa, việc họ không nhất loạt đưa tin, không kiểm duyệt nội dung “hàng ngàn người”, chứng tỏ hai điều: Thứ nhất là họ bất ngờ, tuyên giáo không kịp đưa “chủ trương chung” mà việc đưa tin hay không, đưa như thế nào, là do quyết định của người tổng biên tập địa phương.

Thứ hai là giới báo chí nhà nước không thấy có gì gắn bó ý thức hệ nữa với Cuba, họ cảm nhận chuyện xảy ra giống như ở Miến Điện hay bất cứ quốc gia nào khác, chỉ có cái tên Cuba làm cho họ hơi băn khoăn, nhưng chỉ chút xíu thôi.

Việt Nam và Cuba khác nhau, đã khác nhau và đang khác nhau. Vị trí vô tình giống nhau của hai quốc gia này trong chiến tranh lạnh, cộng với lối tuyên truyền “hữu nghị mượt mà” kiểu “đồng chí canh gác cho nhau” (Nguyễn Minh Triết), làm cho ta cứ nghĩ là họ giống nhau.

Nhưng họ khác nhau nhiều lắm. Đảng Cộng sản Cuba lên cầm quyền xuất phát từ một phong trào cánh tả châu Mỹ Latin, để giải quyết những vấn đề xã hội. Trong khi đảng Cộng sản Việt Nam lên cầm quyền xuất phát từ phong trào giải thực (decolonization), giành độc lập dân tộc.