Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

Phúc Tiến: Tên đường, tên phố - bao giờ mới hết truân chuyên?

Tại TP.HCM, Ban quý tế Lăng Ông đang kiến nghị “đặt lại” tên Lê Văn Duyệt cho con đường mang tên Đinh Tiên Hoàng chạy ngang di tích thiêng liêng này. Nói “đặt lại” vì trước tháng 4.1975, con đường vốn dĩ mang tên vị Tổng trấn Thành Gia Định lừng danh. Cũng chính trên con đường này từng có một trường nữ trung học mang tên Lê Văn Duyệt, sau giải phóng đổi thành Võ Thị Sáu.

Câu chuyện thay đổi tên đường, tên đất ở Việt Nam sau các biến động lịch sử nhiều năm nay vẫn là “chuyện dài nhiều tập” bởi chưa giải tỏa được nhiều hệ lụy sau mỗi lần đổi hay đặt tên. Thêm nữa, các nguyên tắc đặt tên chỉ mới được đưa vào văn bản pháp quy thống nhất cả nước gần đây, song chính việc thực hiện từng lúc từng nơi cũng không giống nhau.

Truân chuyên sau các biến cố


Lê Văn Duyệt là một điển hình cho câu chuyện nhìn nhận khác nhau một nhân vật lịch sử tùy thuộc vào các chính quyền khác nhau, thời điểm khác nhau. Thời Gia Long, ông là “khai quốc công thần” song sang thời Minh Mạng ông bị nhà vua ghét bỏ, coi là “nghịch thần”. Thậm chí, sau khi ông qua đời, Minh Mạng còn cho tước bỏ chức vụ và san bằng mộ phần. Sang đời Thiệu Trị và Tự Đức, ông lại được minh oan, phục hồi thanh danh và lăng mộ. Thời Pháp, tên ông được đặt cho một con đường nhỏ bên hông chợ Tân Định (về sau đổi thành Mã Lộ).

Trong khi đó, người dân vẫn truyền miệng một cách thành kính tên đất Lăng Ông và Vườn Ông Thượng (tên chính thức là công viên Maurice Long, sau đổi thành Tao Đàn). Sau 1955, hầu hết các con đường mang tên Pháp tại Sài Gòn và miền Nam đều được chính quyền Ngô Đình Diệm đổi sang tên Việt. Trong đó, con đường lớn Verdun ở Sài Gòn, nguyên là con lộ duy nhất từ thế kỷ XVIII nối Gia Định thành với biên giới Chân Lạp (Campuchia) được đổi sang tên Lê Văn Duyệt. Đặt tên ông cho con đường này là rất phù hợp, bởi Lê Văn Duyệt chính là người có công xây đắp con lộ ấy và lãnh đạo công cuộc phòng thủ phía Tây, ngăn chận Xiêm La (Thái Lan) xâm chiếm đất Việt. Tên Lê Văn Duyệt còn được đặt rất hợp lý cho con đường băng qua lăng mộ của ông. Cũng tại khu vực Lăng Ông, ngoài đường Lê Văn Duyệt, còn có các con đường mang tên các danh tướng và công thần cùng thời với ông như Lê Quang Định, Nguyễn Văn Học, Trịnh Hoài Đức, Đỗ Thành Nhân, Nguyễn Văn Thành…

Đã từng có hai đại lộ Lê Văn Duyệt tại Sài Gòn từ 1955-1975 (vị trí mũi tên). Bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1956 cho thấy đại lộ Lê Văn Duyệt trên địa bàn Đô thành Sài Gòn, bắt đầu từ Ngã sáu Sài Gòn (nơi đặt tượng Phù Đổng Thiên Vương sau này) kéo dài lên Ngã tư Bảy Hiền hướng đi Tây Ninh và Campuchia (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Còn đại lộ Lê Văn Duyệt thứ hai, nằm trên địa bàn tỉnh Gia Định (sau tháng 4.1975, Sài Gòn và Gia Định hợp nhất), bắt đầu từ Cầu Bông qua Lăng Ông hướng đi Thủ Dầu Một và Biên Hòa, nối tiếp đường Đinh Tiên Hoàng của quận Một (tư liệu của tác giả). Sau tháng 4.1975, đường Lê Văn Duyệt bị nhập vào đường Đinh Tiên Hoàng. Nếu trở lại tên hai con đường riêng biệt thì vẫn đảm bảo giá trị lịch sử đồng thời không ảnh hưởng đến việc phân biệt số nhà và địa giới! Ảnh: TLTG

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

Trần Doãn Nho: Luận án tiến sĩ của một tác giả người Tiệp viết về nhà văn Nhất Linh

Maria Strasakova, tác giả luận án.

Trong thời gian tôi “cố thủ” ở trong nhà để phòng tránh dịch bệnh COVID-19, thật là một ngạc nhiên vô cùng thú vị khi được nhà văn Nguyễn Tường Thiết gửi cho đọc tập sách viết về văn học Việt Nam (bằng tiếng Anh) của một tác giả người Tiệp (Czech) (1): “Life and Writings of Nguyễn Tường Tam/ Život a dílo Nguyễn Tường Tama” (Cuộc Đời và Sự Nghiệp Viết Lách của Nguyễn Tường Tam).

Đây là luận án tiến sĩ của bà Maria Strasakova trình tại Đại Học Karlova, Prague, thủ đô nước Cộng Hòa Tiệp vào năm 2011, dày 346 trang, dựng lại hình ảnh một Nhất Linh toàn diện, từ việc viết văn, làm báo cho đến các hoạt động chính trị. Xin giới thiệu cùng độc giả một số nét chính trong tập luận án này.

Để viết về cuộc đời của Nhất Linh, tác giả cho biết đã sử dụng hai tập biên khảo, “Thân Thế và Sự Nghiệp Nhất Linh” của Lê Hữu Mục và “Chân Dung Nhất Linh” của Nhật Thịnh, cùng các hồi ký, hồi ức và tài liệu của các thành viên trong gia đình Nhất Linh như người em gái Nguyễn Thị Thế, người em út Nguyễn Tường Bách, người con trai Nguyễn Tường Thiết, các người cháu Thế Uyên, Tường Hùng và nhiều bài viết khác của bạn bè, đồng nghiệp của Nhất Linh, ghi lại nhiều đoạn đời hoạt động khác nhau của ông, chẳng hạn như Tú Mỡ, Hoàng Xuân Hãn… Ngoài ra, bà còn tham khảo hàng trăm tài liệu khác viết về lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam của nhiều tác giả khác, trong cũng như ngoài nước.

Nguyễn Tường Thiết: Phỏng vấn Maria Strasakova, tác giả luận án tiến sĩ “Nguyễn Tường Tam: sống và viết” (Life and Writings of Nguyễn Tường Tam)

Cuộc phỏng vấn diễn ra qua trao đổi điện thư, kéo dài trong thời gian mươi ngày cuối tháng Sáu, 2020, giữa nhà văn Nguyễn Tường Thiết từ Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ và Tiến sĩ Maria Strasakova tại nước Cộng hòa Tiệp. 

Điểm đặc biệt của cuộc phỏng vấn này là : các câu hỏi được đặt ra bằng tiếng Việt và người được phỏng vấn trả lời bằng tiếng Anh. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã dịch các câu trả lời sang tiếng Việt, nhưng vẫn giữ phần tiếng Anh ngay dưới.

                 Nhà văn Nguyễn Tường Thiết                       Tiến sĩ Maria Strasakova

Nguyễn Tường Thiết: Thưa cô Maria Strasakova, xin cô vui lòng cho độc giả của báo Diễn Đàn Thế Kỷ biết vài hàng về tiểu sử của cô.

Maria Strasakova: Trước hết tôi xin thành thật cám ơn báo Diễn Đàn Thế Kỷ đã dành cho tôi cuộc phỏng vấn này để đóng góp vào số đặc biệt tưởng niệm nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Tôi lớn lên ở Việt Nam trong thập niên 1980 và Việt Nam lúc nào cũng hiện diện trong gia đình tôi. Thật vậy, khi 18 tuổi, tôi quyết định theo học về môn ngôn ngữ và xã hội học Việt Nam tại trường đại học Charles University, Prague. Trong thời gian năm năm của học trình, tôi đã theo học hai khoá mỗi khoá sáu tháng về Việt ngữ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, tại Hà Nội vào năm 2000-2001. Trong khoảng 2003-2004 tôi dành một năm nghiên cứu các vấn đề Đông Nam Á ở đại học Simon Fraser University, phân khoa Xã hội và Nhân chủng học. Năm 2005 tôi tốt nghiệp đại học Charles University với luận án: “Vị trí người Phụ nữ trong Xã hội Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19” và cũng trong năm này tôi được chấp nhận tiếp tục học trình tiến

Nguyễn Tường Thiết: Tác giả giới thiệu sách Nhất Linh Cha Tôi


Lời Tòa Soạn - Chiều ngày 4 tháng 7, 2020, một cuộc tọa đàm ra mắt cuốn hồi ký Nhất Linh Cha Tôi của Nguyễn Tường Thiết đã được tổ chức tại Cà phê Thứ 7, số 38 Võ Văn Tần, quận 3 – Sài Gòn.

Bài giới thiệu tác phẩm dưới đây đã được tác giả Nguyễn Tường Thiết đọc trong một đoạn video, gửi về Việt Nam, và được chiếu trước khi buổi tọa đàm bắt đầu.

Quang cảnh cuộc tọa đàm ra mắt hồi ký Nhất Linh Cha Tôi.

Kính thưa quí vị,

Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là Nguyễn Tường Thiết, tác giả của cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi.

Tôi rất vinh dự hôm nay được nói chuyện với quý vị, những độc giả ở trong nước đang quan tâm đến cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi vừa được tái bản và phát hành ở Việt Nam, để giới thiệu cuốn sách này, đồng thời cũng để trình bầy một vài nét đặc biệt về con người Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam.

Đỗ Lai Thúy: Nhất Linh - Công Trình Hiện Đại Hóa

Người quay tơ đôi bạn tối tăm anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt? 
Đời mưa gió lạnh lùng bướm trắng buổi chiểu vàng đâu nhỉ nắng thu?

Vũ Hoàng Chương (Câu đối khóc Nhất Linh)

Thường với các nhà văn, trong một con người bao giờ cũng có nhiều con người. Nhất Linh càng như vậy. Bởi thế, người ta có thể đến với ông từ nhiều phương diện: báo chí, văn học, mỹ thuật, văn hóa, chính trị... Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn ông ở những phương diện biệt lập thì dễ dẫn đến những ngộ nhận của kẻ sờ voi. Vậy, phải tìm một cách tiếp cận nào đó để có thể thống nhất được các mặt đối lập trong ông nhằm tạo ra một Nhất Linh duy nhất mà vẫn không làm mất đi sự đa diện ở một con người. Tôi nghĩ chỉ có thể đặt ông vào tiến trình hiện đại hóa của văn học dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh văn hóa giai đoạn 1932 - 1940 của thế kỳ trước.

Từ năm 1900 đến năm 1932 là giai đoạn của những "trí thức Nam Phong", những người vừa giỏi Hán học vừa giỏi Tây học, muốn dung hòa văn hóa Đông Tây nhằm đặt nền móng lâu dài cho sự phát triển của văn hóa, văn học Việt Nam theo chiểu hướng hiện đại hóa. Họ đã dịch, biên khảo, giới thiệu những tư tưởng Đông Tây nhằm thâu thái lấy tinh hoa cho một nển quốc học đang manh nha. Tuy nhiên, đến 1932, xã hội Việt Nam đã trưởng thành một thế hệ trí thức mới, tạm gọi là trí thức Tây học bản địa, mà trình độ căn bản là Tây học hoặc hoàn toàn Tây học. Họ học trung học vào những năm 1925-1926 và trưởng thành vào đầu 1930. Mang nhiệt huyết của những phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu và đưa tang Phan Chu Trinh, mang thất vọng bởi cuộc khởi nghĩa Yên Bái không thành công, họ dồn lòng yêu nước của mình vào xây dựng một nền văn hóa mới để thúc đẩy sự canh tân đất nước mau chóng hơn. Khác với thế hệ đàn anh, thế hệ này không muốn làm khảo cứu nữa, mà muốn sáng tác. Một phần để khẳng định tài năng cá nhân của mình, phần khác để nâng văn hóa Việt ngang bằng thế giới, giống như thế giới.

Trước đây, thế hệ trí thức Nho giáo Lê Quý Đôn muốn khẳng định văn hóa Việt Nam bằng việc làm cho nó trở nên giống như văn hóa Trung Hoa. Thế hệ trí thức Tây học bản địa cũng muốn khẳng định văn hóa Việt Nam bằng việc xây dựng nó giống như văn hóa châu Âu. Có lẽ, cho đến bây giờ chúng ta chưa đủ vốn và đủ bản lĩnh để không khẳng định giống, mà khẳng định khác với các nển văn hóa bên ngoài. Tuy vậy, tầng lớp trí thức Tây học bấy giờ cũng đã tạo dựng được một thời đại văn hóa hiện đại rực rỡ với những thể loại mới như Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại, kịch nói, tân nhạc, hội họa sơn dầu và sơn mài...

Nguyễn Thị Thế: Mẹ tôi, thân mẫu Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam

Về quê ngoại


Ở Hàng Bạc[1] được ít lâu, thầy tôi nghỉ làm việc ở Thái Hà Ấp nên mẹ tôi thu xếp cho chúng tôi về quê ngoại lo buôn bán. Lần đầu tiên được đi tàu hỏa, em Sáu[2] thích quá luôn miệng hỏi sao tàu nó lại chạy được, nó chạy bằng gì, thầy tôi phải mất thì giờ giải thích rành rọt.

Tác giả Nguyễn Thị Thế

Nhà bà ngoại thật là mát. Nhà gạch năm gian có hiên lớn, đằng trước có vườn rộng. Ngoài hàng rào là chợ quê cũng gọi là chợ Cẩm Giàng cứ năm ngày có hai phiên chợ khá đông đảo. Trong vườn bà ngoại trồng đủ các thứ rau, đậu.

Mẹ tôi xin được một khoảng đất ngay giữa phố huyện, bên kia là mấy hiệu khách lớn. Đằng sau nhà là đường xe hỏa. Mẹ tôi dựng một căn nhà tre năm gian lợp lá gồi, hai gian mở cửa ra phố để bán các thứ lặt vặt và thuốc lào. Tuy là nhà tre vách đất nhưng nhà cao, cửa sổ rộng suốt cả đầu chái nhà, chắn song làm bằng cây tre rừng rất thẳng bào nhẵn, bên ngoài có phên đan bằng nứa, ban ngày chống lên tối bỏ xuống. Gió đồng thổi vào mát mẻ. Vách nhà làm bằng bùn trộn cát, ngoài quét vôi mầu xanh nhạt. Ai tới cũng trầm trồ khen đẹp. Đó là sáng kiến của mẹ tôi. Phần đông ở thôn quê, nhà nào làm cũng giống nhau, tối tăm chật hẹp. Giường nằm mẹ tôi cũng đóng giống như mọi người nhưng cao và rộng hơn. Nhà bếp cũng được xây cao, có thể đứng để nấu ăn, có cả bàn bếp để đứng thái thịt toàn bằng tre cả.

Nhà làm xong mẹ tôi ra đón chúng tôi vào. Riêng tôi vẫn thích nhà bà ngoại hơn vì có vườn, có ao, lại gần cánh đồng lúa. Nhà mẹ tôi thì ngăn nắp, sáng sủa hơn.

Triển Lãm - Hội Thảo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn nhân dịp Kỷ niệm 80 năm thành lập Tự Lực Văn Đoàn: tháng Bảy 1933 - tháng Bảy 2013

Phóng viên Tiểu Muội hỏi chuyện trưởng ban tổ chức Phạm Phú Minh

Phần I: Triển Lãm



Hỏi: Thưa nhà văn Phạm Phú Minh, được biết tờ báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ mà ông là đại diện sẽ tổ chức một cuộc Triển lãm và Hội thảo về hai tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn vào hai ngày 6 và 7 tháng 7 năm 2013 tại hội trường nhật báo Người Việt. Đây là một sinh hoạt văn học hiếm thấy tại hải ngoại, ông có thể cho biết lý do tổ chức công cuộc triển lãm và hội thảo này không?

Đáp: Kể ra, tại các nơi có đông đảo người Việt Nam tị nạn trên thế giới lâu nay cũng có tổ chức những sinh hoạt liên quan đến văn học, với tầm vóc lớn nhỏ khác nhau, đề tài khác nhau. Ví dụ năm 1995 một nhóm thân hữu của nhà văn Võ Phiến có tổ chức một Đêm Võ Phiến tại Washington DC để nhằm vinh danh sự nghiệp văn chương của ông; một đêm tưởng niệm các nhà văn đã chết trong tù hay chết vì từng bị tù đày trong nhà tù cộng sản cũng đã được Hội Văn Bút Hải Ngoại tổ chức; ba tờ báo Thế Kỷ 21, Người Việt và Xây Dựng (San Jose) đã tổ chức Ngày Phạm Quỳnh (triển lãm và hội thảo) tại Little Saigon vào ngày 8 tháng 5 năm 1999; cuộc hội thảo "Văn học hải ngoại: thành tựu và tiềm năng" do các tạp chí Thế Kỷ 21, Văn Học, Hợp Lưu cùng tổ chức tại Little Saigon, Nam California vào ngày 27 tháng 01 năm 2007, v.v...

Vậy cuộc triển lãm và hội thảo lần này cũng là theo nếp các sinh hoạt cùng loại trước nó.

Hỏi: Nhưng lại là một đề tài khá xa trong quá khứ: về hai tờ báo và một văn đoàn được lập ra cách đây 80 năm. Có một động lực gợi ý cho quyết định này không?

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

Mời độc giả đón đọc Số TƯỞNG NIỆM NHẤT LINH vào ngày 7 tháng 7, 2020

  • Giới thiệu Luận Án Tiến sĩ “Nguyễn Tường Tam : Sống và Viết (Life and Writings of Nguyễn Tường Tam) của cô Maria Strasakova người Tiệp Khắc.
  • Nhà văn Nguyễn Tường Thiết phỏng vấn Tiến sĩ Maria Strasakova vì sao một người Tiệp chọn làm luận án về Nguyễn Tường Tam, một nhà văn Việt Nam.
  • Và nhiều bài vở tài liệu khác liên quan đến nhà văn Nhất Linh…

Đỗ Quý Toàn: Đọc thơ mình

“Thơ mình, vợ người” là một thành ngữ của người Việt và người Tàu. Một thi sĩ đã diễn lại bằng thơ sáu tám:

Nực cười thay chữ nhân tình
Vợ người thì đẹp, thơ mình lại hay

Người viết hai câu trên hẳn phải đắc ý, tự cho là thơ mình dí dỏm, tài hoa. Tôi không phải là tác giả, nên thấy hai câu này hơi rườm rà, mà ý tứ thì hẹp hòi. Ý tứ hẹp hòi vì nhất định bảo người ta phải nghĩ đến “vợ người” trong giới hạn các chữ “đẹp” và nói đến “thơ mình” trong khuôn khổ chữ “hay.” Đáng lẽ chúng ta tự do hơn, có thể nghĩ đến các ý “hấp dẫn” thay vì “đẹp”, “gợi cảm”, “thiết tha”… thay vì “hay”, v.v… Rườm rà, vì có một điều nói bốn tiếng cũng đủ, kéo dài ra mười bốn tiếng làm gì? Cho nên khi thấy một thi sĩ nào say mê, nâng niu, âu yếm thơ mình quá, chúng ta chỉ cần nhìn thi sĩ một cách rộng lượng, khoan dung, gật đầu thông cảm, và nói: “Lại thơ mình, vợ người!”

Thơ mình lại hay?


Mới nghe, ta có thể hiểu thành ngữ trên như muốn nói: “Thơ mình hay hơn thơ người khác.”

Không nhất thiết phải hiểu như vậy. Thi sĩ nào cũng biết có nhiều bài thơ của mình không hay bằng thơ của thi sĩ khác. Vì vậy nên hiểu câu nói “thơ mình hay” nghĩa là “mình đọc thơ mình bao giờ cũng thấy hay hơn là khi người khác đọc. Người khác không thấy hay như mình thấy.” Không phải là so sánh giữa thơ người này với thơ người khác, nhưng là giữa cảm giác của người đọc thơ mình và người khác cũng đọc thơ của mình.

Đọc thơ mình bao giờ cũng rung cảm đậm đà, thích thú hơn khi người khác đọc. Tại sao vậy? Có phải chỉ vì lòng tự phụ và cái ngã mạn mù quáng của thi sĩ?

Nguyễn Đức Tùng và Trần Nhuận Minh: Vấn đề Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương *

41. Nguyễn Đức Tùng:

(……)

Tác phẩm tiêu biểu hơn cả của Xuân Diệu sau năm 1945, không phải ở lĩnh vực sáng tác mà ở nghiên cứu phê bình, với tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tôi được biết anh có những bài báo viết công phu về cuốn sách này, làm nhiều người chú ý, trong đó có vấn đề Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương. Đó là những đề tài thú vị của nghiên cứu văn học và văn học sử.

Trần Nhuận Minh:

Cũng không hẳn chỉ về “nghiên cứu văn học và văn học sử” như anh nói. Đây chính là một trường hợp Thơ đến từ đâu: từ Hồ Xuân Hương thật và Hồ Xuân Hương giả.

Trở lại tác phẩm của Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam gồm các bài giới thiệu sách, hay nghiên cứu của Xuân Diệu về các nhà thơ lớn của nền văn học cổ Việt Nam, từ Nguyễn Trãi tới Trần Tuấn Khải. Ông viết rất tâm huyết và công phu, câu văn giầu cảm xúc và hình ảnh, có trang cảm thấy như ông viết văn chứ không phải chỉ có làm nghiên cứu với phê bình. Đó là văn của một nhà văn, mà vẫn có nhiều phát hiện rất sắc sảo, nhiều nhận xét rất tinh vi về câu thơ, lao động thơ trong từng chữ, nêu bật được những đóng góp lớn lao của từng nhà văn vào nền văn học dân tộc với những đặc sắc riêng. Tập sách cũng thể hiện kiến thức uyên thâm và sự từng trải về nghề nghiệp của một nhà thơ lớn. Bài Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, 2 bài trong chùm 7 bài về thơ Nguyễn Du: Chung quanh từ ngữ Truyện Kiều, Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều và bài Đọc thơ Tú Xương thật mới mẻ và sâu sắc.

Tuy nhiên, tập sách cũng không toàn bích, thậm chí có những lỗ hổng rất lớn mà càng về sau, càng chịu những thử thách nặng nề.

42. Nguyễn Đức Tùng:

Ví dụ?

Trần Nhuận Minh:

Ví như ông nhiệt tình tán dương bài thơ của Nguyễn Trãi, đặt bài thơ ấy trong từ trường nghệ thuật và tư tưởng của Nguyễn Trãi, hoá ra bài thơ lại của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt, ông rất nồng nàn ca ngợi Hồ Xuân Hương, nhưng đến ba phần tư số bài thơ ông dẫn ra để suy tôn Hồ Xuân Hương là bà chúa thơ Nôm, thì ngay những người soạn thơ Nôm truyền tụng được coi là của bà, cũng cho là không phải thơ của bà. Còn tôi thì tôi cho rằng TOÀN BỘ thơ Nôm được truyền tụng coi là của Hồ Xuân Hương, đều không phải của Hồ Xuân Hương. Và suy tôn Hồ Xuân Hương (thật) là Bà chúa thơ Nôm là không có cơ sở.

43. Nguyễn Đức Tùng:

Anh có thể làm nhiều người giật mình. Anh đang chạm đến những vấn đề của lịch sử văn học.

Trần Nhuận Minh:

Đúng thế. Nhưng tôi không phải là người đầu tiên nói về vấn đề này.

Trong tập sách kể trên, Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm là bài viết tiêu biểu hơn cả. Xuân Diệu đã viết và sửa công phu chuyên luận 83 trang này liên tục 22 năm từ 1958 đến 1980. Thực ra thì Xuân Diệu không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm này. Trước ông từ 8 đến 30 năm, từ năm 1950, Lê Tâm đã gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm rồi. Bạn sẽ thấy rõ điều đó trong tập sách mỏng có tên là Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương của Lê Tâm, do Nhà xuất bản Cây Thông, Hà Nội, ấn hành năm 1950.

Đây là một vấn đề rất lớn và rất phức tạp, tồn tại nhiều chục năm, cũng có cơ sở để kết thúc được rồi, nếu người ta muốn kết thúc, muốn mọi sự rõ ràng. Mà bạch hóa là cái rất khó được thực hiện ở Việt Nam ta. Từ thời Lê, cụ Nguyễn Gia Thiều đã viết:

Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

Ý cụ Nguyễn có độ bao quát lớn về triết học và nhân sinh, nhưng trong trường hợp này, tôi thấy cụ Nguyễn như nói hộ mình. Chúng ta phải ra khỏi cái sự “đi đêm” ấy, mới hy vọng bạch hóa được. Do đâu? Do cơ chế của xã hội phong kiến hoặc có tính chất phong kiến? Do thói quen...? Dù là do cái gì thì đó cũng là một thực tế. Vì vậy, cho phép tôi nói sòng phẳng và dài rộng hơn một chút.

Những bài thơ Nôm đầu tiên được coi là của Hồ Xuân Hương, xuất bản ở Hải Phòng, năm 1913, như một tài liệu không chính thức. Bốn năm sau, năm 1917, Đông Khê Nguyễn Hữu Tiến xuất bản Giai nhân di mặc, toàn những chuyện hư cấu… trong đó có chuyện Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương… dĩ nhiên, cũng là những thứ “hư cấu”. Ấy thế mà có nhà phê bình lại dựa vào đó mà soạn ra Thân thế và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương và đánh giá thơ văn của bà, như một tác giả chính thức và tác giả đó có mặt thực sự trong đời sống xã hội. Thấy bán được, các nhà xuất bản tiếp theo in thơ Hồ Xuân Hương như một tác giả thực thụ và số bài mỗi lần in một tăng lên, cuối cùng đến hơn 200 bài thì thôi, bởi không thể tăng được nữa, trong đó có khoảng 30 bài độc đáo và đặc sắc, thường có mặt trong các lần in khác nhau.

Xung quanh tiểu sử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, có một số điều đã được thời gian bạch hóa. Đến nay thì việc bà là vợ kế (chứ không phải vợ lẽ) quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) đã rõ. Bà đã hai lần từ Nghi Tàm (Hồ Tây, Thăng Long) về Yên Quảng bằng thuyền, thăm người yêu, là ông Trần Phúc Hiển, để lại 2 bài thơ tình chữ Nôm viết bên bờ sông Bạch Đằng và 5 bài thơ chữ Hán về vịnh Hạ Long, đã in trong tập Lưu Hương ký, từ năm 1814, thì cũng đã rõ. Như vậy, bà ở hẳn tại Yên Quảng từ năm 1815 (khi ông Hiển cưới bà, thường cho bà dự vào việc quan) đến khi chồng bà bị bắt (tháng 5 năm 1818) chịu án tử hình (1819), vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền, (dù bố chồng bà là tướng Trần Phúc Nhân, đã từng giúp vua Gia Long đánh thắng Tây Sơn rồi tử trận). Việc chồng bà chết ở Yên Quảng năm 1819, cũng đã rõ, vì điều đó còn ghi trong Thực lục của nhà Nguyễn. Khi vua Minh Mạng rà soát lại các bản án liên quan đến các quan, ông rất chú ý đến vụ án quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, ông phê vào bên cạnh: “Tham nhũng như thế mà không giết, thì lấy gì mà khuyến liêm”.

Căn cứ vào các tư liệu mới phát hiện và không còn gì phải tranh cãi này, mà người ta đã xác định được năm sinh của Hồ Xuân Hương là 1772, đặc biệt năm mất là 1822. Điều đó đã được dòng họ Hồ Quỳnh Đôi Nghệ An, quê hương bà, cho khắc vào tấm bia đá lớn, thờ ở ngay đầu làng.

Nếu năm mất được xác nhận là 1822, thì nơi mất có thể có cơ sở, là chùa Giải Oan ở Yên Tử, vì cùng một nguồn tư liệu. Theo tư liệu trên, sau khi chồng chết, để thể hiện lòng thủy chung đúng đạo nhà nho của bà, bà đi tu ở Yên Tử và khi mãn tang chồng thì chết theo chồng ở đây. Bà yêu thi hào Nguyễn Du, điều đó cũng đã rõ vì bà có thơ tặng người cũ là Nguyễn Du, có chép trong Lưu Hương ký (sẽ dẫn ở phần sau). Được biết, người bạn thân của Nguyễn Du là Phạm Quý Thích, như một tài liệu cũ đã xác nhận; có đến Yên Tử thăm bà, trước khi bà tự tử. Chồng bà (Trần Phúc Hiển) mất năm 1819, bà mất năm 1822, năm 1823, phủ Tam Đới, nơi ông Hiển từng làm tri phủ khoảng hơn 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường mà hàng chục năm nay gán bừa cho bà là không phải của bà vậy. Ấy là chưa kể, khi chồng chết vì án tử hình, liệu có bà vợ nào nỡ khóc chồng:

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn khép lại rồi.

Ta hiểu cán cân kia và miệng túi ấy là cái gì rồi. Khóc thế không những vô văn hóa mà còn vô cả đạo lý nữa. Ấy là chưa kể, khi phủ Vĩnh Tường có tên, thì Hồ Xuân Hương cũng đã chết rồi.

Còn mộ bà hiện nay ở đâu? Có cơ sở để nghĩ rằng, sau mấy năm hung táng ở Yên Tử, thân nhân đã đưa hài cốt bà về nơi ở của bà trước khi làm vợ kế ông Hiển, là ở Nghi Tàm, gần Hồ Tây. Có nhà nghiên cứu đã căn cứ vào bài thơ Long Biên trúc chi từ của Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, in trong Thượng sơn thi tập, mà đưa ra giả thuyết: mộ bà ở bên hồ Tây, và bây giờ có thể là ở lòng hồ, gần bờ hồ.

44. Nguyễn Đức Tùng:

Như thế có lẽ bài Khóc ông phủ Vĩnh Tường không phải của Hồ Xuân Hương, đúng như anh nói. Nhưng những bài khác thì không chắc như thế.

Trần Nhuận Minh:

Chắc chứ! Sao lại không? Căn cứ vào đâu? Vào chính ý kiến của bà Hồ Xuân Hương. Bàn về thơ bà mà lại cứ đơn phương gạt ý kiến của bà ra thì rõ ràng là rất phi lý. Trong tập Lưu Hương ký, mà theo bài Tựa của ông Tốn Phong viết, hiện vẫn còn in ở đầu sách, thì Hồ Xuân Hương nói rằng: “đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay”, trong đó không có bất cứ một bài nào trong số tất cả các bài thơ Nôm truyền tụng thường được gán cho bà. Như vậy, theo ý của chính bà, các bài thơ ở ngoài Lưu Hương ký đều không phải thơ của bà. Và ngày nay, chúng ta coi thơ truyền tụng kia, không phải là thơ của bà, chính là tôn trọng bà vậy. Trong bài Tựa nói trên, viết tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), Tốn Phong nhận xét, thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng... thơ đúng phép mà văn hoa..." Đọc Lưu Hương ký mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ bà như thế là rất chuẩn xác.

Như vậy, thơ thực của bà hoàn toàn xa lạ với thơ được coi là của bà.

Căn cứ vào lời Tựa của Tốn Phong: “Khi hỏi đến tên họ, mới biết cô ta là em gái ông lớn họ Hồ, đậu Hoàng Giáp, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu”, từ đó, các nhà nghiên cứu mới bạch hóa được tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Làng Hoàn Hậu nay là làng Quỳnh Đôi. Bà là con Hồ Sĩ Danh, chứ không phải con Hồ Phi Diễn, như các sách giáo khoa đã ghi từ mấy chục năm nay, vì Hồ Phi Diễn không có con đỗ Hoàng Giáp và làm ông lớn. Hồ Phi Diễn và Hồ Sĩ Danh là anh em con chú con bác, lại rất xa nhau, kể ngược lên đến đời thứ 10 mới cùng một ông tổ. Bà là em ruột Hồ Sĩ Đống (1738 – 1785), đậu Đình nguyên, đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, (tức Hoàng Giáp), làm quan đến Hành tham tụng, (quyền Tể tướng) tước Quận công, cùng với Bồi tụng Bùi Huy Bích, đứng đầu chính phủ thời Trịnh Sâm và Trịnh Khải. Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783), chỉ đậu Hương cống (tức Cử nhân), không ra làm quan, nhưng có con làm to, được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ, hàm Thái bảo. Như vậy là đã rõ.

Xuân Diệu còn khẳng định: đặc trưng để bà có lối thơ ám chỉ cái ấy của phụ nữ và chuyện ấy trong buồng kín, tạo thành đặc sắc, “có một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ”, mà các quyển Từ điển tiếng Việt đều ghi kỹ nữ là gái mại dâm (là làm đĩ).

45. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi xin phép dừng lại, mở ngoặc và đóng ngoặc ở đây. Nếu quả thật định nghĩa của các từ điển tiếng Việt rằng kỹ nữ là “gái mại dâm”, “là làm đĩ”, thì tôi không đồng ý, mặc dù dĩ nhiên đó không phải là nghề được xã hội tôn trọng.

Và mặc dù:

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi


Làng chơi thì không thể đứng đắn được. Nhưng mà:

Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
(Xuân Diệu)

Tôi có bênh vực các kỹ nữ nhiều quá không? Nhưng xin đóng ngoặc và quay lại với câu chuyện chính của chúng ta về Hồ Xuân Hương.

Trần Nhuận Minh:

Chả riêng gì anh, tôi cũng bênh vực kỹ nữ, không phải vì thơ Xuân Diệu mà vì cô Kiều rất đáng yêu của chúng ta. Cô Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là gái làng chơi, làm nghề chơi, là kỹ nữ đấy.

Nghề chơi cũng lắm công phu
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều


Đấy là lời của mụ chủ nhà chứa Tú Bà dạy cô Kiều (chữ Nghề chơi và Làng chơi là do tôi nhấn mạnh). Nhưng đó lại là vấn đề khác. Ở đây là nói về chữ nghĩa trong Từ điển, theo ý kiến “không đồng ý” của anh. Tôi nói có sách, mách có chứng. Trên bàn làm việc của tôi là quyển Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học Việt Nam, trung tâm Từ điển học và nhà xuất bản Đà Nẵng, in năm 2002, do giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên, có bút tích đầu trang của Thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng, với sự tham gia của giáo sư Hoàng Tuệ và 15 nhà khoa học khác. Sách in lần thứ 8, có sửa chữa đợt 2, gồm 39 924 mục từ, dày 1 222 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm, trong đó, trang 520, ghi: Kỹ nữ cv. kỹ nữ d. (cũ: vch) Gái mại dâm. (Chú thích trước ở đầu sách ghi rõ: cv. là cũng viết; d. là danh từ; cũ: vch là trong văn chương cũ thì gọi là kỹ nữ, còn ngoài đời (hiện nay) thì gọi là gái mại dâm). Lại nói: thiên phóng sự Làm đĩ rất nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng là viết về gái mại dâm đấy.

Trở lại với tác phẩm của Xuân Diệu, xin dẫn nguyên văn. Sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, phần Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, Nhà xuất bản Văn học, 1998, có một mục viết hoa THIÊN TÀI, Kỹ NỮ, trong đó, trang 377 – 378, Xuân Diệu viết: “Tâm hồn Xuân Hương đẹp đẽ như vậy. Và do một số điều kiện sinh lý nào đó, với do hoàn cảnh gia đình xã hội ở thời đại Xuân Hương, tâm hồn ấy cũng là hiện tượng độc đáo kỳ lạ, có thể nói là một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ” (tôi nhấn mạnh - TNM). Trang 382, Xuân Diệu còn nói rõ hơn: “ Chẳng lẽ bây giờ, ta yêu cầu Xuân Hương đừng là kỹ nữ nữa? Như vậy là ta đã mất Xuân Hương”.

Đến đây thì ai cũng biết: nhà thơ Xuân Hương họ Hồ Quỳnh Đôi, Nghệ An, vợ kế quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, từng yêu Cần Chánh điện học sĩ – Hầu tước Nguyễn Du, chú ruột vợ vua Gia Long, em ruột tể tướng Nguyễn Khản, con ruột tể tướng Nguyễn Nghiễm… bản thân bà cũng có anh con bà cả làm tể tướng, bố chồng hàm Thái bảo, một trong ba tước cao nhất của triều đình, như đã nói trên, không phải là gái làm nghề… mại dâm. Trong nghiên cứu khoa học, cứ liệu nền tảng không vững vàng, ổn định, thì các luận điểm đưa ra, chắc chắn không vững bền, dù tác giả của những luận điểm ấy là một người có uy tín rất lớn. Theo tôi, công trình rất nổi tiếng Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm này của Xuân Diệu là không có cơ sở khoa học, dứt khoát sẽ tự sụp đổ, chỉ có sớm hơn hay muộn hơn mà thôi.

Tôi đồng tình với nhận định của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đưa ra tại Paris (Pháp) từ năm 1952 và giáo sư Trần Thanh Mại, đưa ra tại Hà Nội năm 1964, cho rằng, TOÀN BỘ thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tất thảy đều không phải của Hồ Xuân Hương mà là thơ dân gian của các ông đồ, sáng tác và nhuận sắc cùng thời với truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn.

Để hiểu quá trình dân gian hóa thơ được coi là của Hồ Xuân Hương, tôi chỉ dẫn một bài là Chơi đu rất nổi tiếng, gọi là của Hồ Xuân Hương (1814), đã có trong thơ Lê Thánh Tông (1442 – 1497):

Bốn cột lang nha khéo trồng
Ả đánh cái, ả còn ngong
Vái thổ địa, khom khom cật
Khấn hoàng thiên, ngửa ngửa lòng…


Thơ thời Lê của Nguyễn Trãi hay Lê Thánh Tông thường có câu lục ngôn lẫn với câu thất ngôn. Tôi thấy thơ vua Lê, âm hưởng rất hay, hình ảnh rất đẹp và sang trọng. Bốn cột người đứng đầu xã (lang nha) đã cho trồng, để dựng cây đu. Ả lên chơi đu (đánh cái) rồi, ả còn chờ đến lượt mình. Chữ ngong chính là chứ ngóng biến dạng mà thành. Hai câu tả chơi đu rất chuẩn xác mà rất gợi cảm, khi cây đu quay lại, người cúi xuống là vái đất, lúc cây đu hất lên, người ngửa ra là khấn trời, vì hai tay bao giờ cũng phải giữ chặt dây đu, cao ngang mặt… Hai câu thơ rất tài nghệ đó, khi bị “Hồ Xuân Hương hoá” là lập tức có “mùi giường chiếu” ngay, để người đọc hình dung cái “chuyện ấy”:

Trai cong gối hạc, khom khom cật
Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng…


46. Nguyễn Đức Tùng:

Nhiều người thuộc thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, những bài mà anh nói không phải của bà. Nhưng không phải ai cũng đọc Lưu Hương ký. Anh nhớ bài tiêu biểu nào không?

Trần Nhuận Minh:

Nói tiêu biểu thì cũng khó. Xin dẫn nguyên văn hai bài thơ của Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký có liên quan đến các ý đã trình bày ở trên. Bài thứ nhất về mối tình của bà với quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, Trần Phúc Hiển, lúc bà về thăm ông, ở trấn lỵ Yên Quảng, nay là thị xã Quảng Yên, bên bờ sông Bạch Đằng, khi ông chưa cưới bà làm vợ. Đọc bài thơ này, các bạn sẽ thấy bà Hồ Xuân Hương yêu ông Hiển đến mức nào, chỉ lo ông Hiển không giữ lời hứa với mình:

BẠCH ĐẰNG GIANG TẠM BIỆT

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng
Là duyên là nợ phải hay chăng
Vun hoa khéo kẻo lay cành gấm
Vục nước mà xem động bóng giăng
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia nay đã núi giăng giăng
Với nhau tình nghĩa sao là trọn
Chớ có lưng vơi cỡ nước Đằng…


Các sách đều chú thích nước Đằng là một quốc gia nhỏ bé bên Trung Quốc. Theo tôi, chú thích thế là sai. Nước Đằng chỉ là nước sông Bạch Đằng khi lưng, khi vơi theo mức lên xuống của thuỷ triều. Bà Hương nhắc ông Hiển lòng dạ yêu bà chớ có như thế.

Bài thứ hai là nỗi nhớ người cũ, gửi “Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân”:

CẢM CỰU KIÊM TRÌNH
CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU

(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân)


Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ mong
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong


Nguyên tác ghi rõ Hầu người làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân. Như vậy, Nguyễn Hầu ở đây đúng là Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, được phong tước Hầu (Du Đức hầu). Tháng 2 năm Quý Dậu (1813), vua Gia Long bổ nhiệm ông làm Cần chánh điện học sĩ, rồi cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc.


*Trích từ Đối Thoại Văn Chương, Phần Ba giữa Nguyễn Đức Tùng và Trần Nhuận Minh

Xuân Diệu: Giục Giã


Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi ;
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ ! thời gian không đứng đợi.

Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới,
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết !
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt :
Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài.
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai :
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.

Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến,
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành ;
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại, cả lầu chiều đã vỡ,
Vì chút mây đi, theo làn vút gió.
Biết thế nào mà chậm rãi, em ơi ?
Sớm nay sương xê xích cả chân trời,
Giục hồng nhạn thiên di về cõi bắc ;
Ai nói trước lòng anh không phản trắc,
Mà lòng em, sao lại chắc trơ trơ ?

- Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ,
Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi :
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,
Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự.
Mau với chứ ! vội vàng lên với chứ !
Em, em ơi ! tình non sắp già rồi…

(Gửi Hương Cho Gió)

Đàm Duy Tạo: Chương 33 Kim Vân Kiều Đính Giải

CHƯƠNG 33
KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp
hiệu đính và phổ biến năm 2020
* * * * *
CÂU 3241 ĐẾN CÂU 3254
“Chớ cậy chi tài, nên tu lấy thiện”


3241. Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
3243. Bắt phong trần, phải phong trần, [1]
Cho thanh cao mới được phần thanh cao. [2]
3245. Có đâu thiên vị người nào, [3]
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai, [4]
3247. Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần. [5]
3249. Đã mang lấy nghiệp vào thân, [6]
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. [7]
3251. Thiện căn ở tại lòng ta, [8]
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. [9]
3253. Lời quê chắp nhặt dông dài, [10]
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Chú giải và dẫn điển

[1] Phong trần (風 塵) – Nghĩa đen là nơi có gió bụi bốc lên làm bẩn. Nghĩa bóng ở đây là bước đời lầm than khổ sở, con trai thì phải làm ăn vất vả nay đây mai đó, con gái thì phải long đong sa đọa vào những nơi thanh lâu ô nhục. Tác giả dùng câu này để vừa than thở cho số phận của mình long đong trong cuộc bể dâu, vừa than thở cho số phận Kiều gặp cơn gia biến phải sa ngã vào cuộc đời khổ nhục.

[2] Thanh cao (聲 高) = (Cuộc sống) trong sạch, đáng quý, không ai chê cười được.

[3] Thiên vị (偏 為) = Vị nể, lệch lạc, không công bằng.

[4] Dồi dào = Đầy đủ.

[5] Tai (災) = Tàn hại tự nhiên xẩy ra cho ta phải chịu.

[6] Nghiệp (業) = Việc mình đã làm. Theo lẽ nhân quả báo ứng, sách Phật nói: Những việc ác mình đã làm trong kiếp trước là cái “nhân” (mầm) nó kết thành quả của sự khổ sở kiếp này mình phải chịu để đền tội cho kiếp trước. Những việc mình làm kiếp này lại là cái nhân sinh ra “quả” số phận kiếp tiếp sau. Cái sự khổ sở mình phải chịu lần hồi kiếp kiếp như thế gọi là “nghiệp” dùng trong câu Truyện Kiều này.

[7] Trách (咋) lẫn = Trách một cách lầm lẫn, không đúng lẽ phải.

[8] Thiện căn (善 根) = Cội gốc lòng thiện, nghĩa là cái gốc nhân từ ở lòng mình ra.

[9] Chữ “tâm” = Tấm lòng có thiện căn nói trên. Hai câu 3247, 48 khuyên người đời: Muốn được khỏi kiếp khổ cực sau này, thì phải giữ bụng cho tử tế nhân đức, chớ có cậy tài giỏi mà tìm cách để tránh sự khổ sở nghiệp báo của kiếp trước. Hành động như vậy thì không những tránh không được, mà còn nghiệp báo chồng chất kiếp này sang kiếp khác, khổ mãi không thôi, càng thêm nặng nữa.

[10] Những chữ “lời quꔓdông dài” ở câu này là tác giả nói quá khiêm tốn đó thôi. Thật ra lời chẳng “quê” chút nào và những điển tích tác giả chắp nhặt vào suốt quyển truyện này kể có hàng nghìn, mà chẳng có câu nào “dông dài” cả. Ta chỉ thấy đều rất xác đáng, điển nào đúng sự ấy. Ta lại thấy tác giả thu nhặt rất rộng rãi, gần như hầu hết câu nào trong truyện, tác giả đều đặt theo điển cổ hẳn hoi ở trong các sách đứng đắn, hay theo phương ngôn tục ngữ của nền Việt văn. Những câu quan trọng có điển cố đã đành, lắm câu rất tầm thường mà thường cũng có ở trong sách cũ, ở trong ca dao. Thí dụ như nhóm chữ “hai kinh vững vàng” thì ở Tình Sử có “lưỡng kinh vô sự,” nhóm chữ “mụ thì khấn ngay” lấy điển ở câu “lầm rầm như đĩ khấn tiên sư.” Tôi rất tiếc là tôi học đã ít, trí nhớ lại kém, lại gặp lúc không có sách để tra cứu, nên đành chịu bỏ qua hầu hết.

Diễn ra văn xuôi


Câu 3241, 42 = Ta ngẫm nghĩ cho kỹ thì biết rằng mọi việc trên đời của con người đều do Trời quyết định cả. Trời đã cho ta làm người thì phải có thân.

Câu 3243, 44 = Trời bắt thân ta phải chịu kiếp phong trần, thì ta phải đành chịu phong trần. Khi nào Trời cho thân ta được thanh cao, thì ta mới được hưởng phúc phận thanh cao.

Câu 3245, 46 = Trời chẳng thiên vị người nào mà cho cả phần tài và phần mệnh đều được dồi dào đầy đủ cả.

Câu 3247, 48 = Bởi vậy khi Trời cho ta cái tài, thì ta chớ cậy tài ; ta phải biết chữ “tài” nó liền vần với chữ “tai.” Hãy nhớ rằng một khi Trời đã cho tài, thì Trời không cho mệnh nữa. Và nếu mình cậy tài mà cố làm cho vận mệnh tốt để cưỡng lại ý Trời, thì thế nào Trời cũng gieo cái “tai” cho mình để hãm cái “tài” của mình lại).

Câu 3249, 50 = Khi ta đã mang cái nghiệp báo kiếp trước vào thân mà ta phải phong trần khổ sở, thì ta đừng có lầm lẫn mà trách ông Trời ở gần hay ở xa mà không biết ta là kẻ có tài, lại nỡ để ta phải phong trần như thế.

Câu 3251, 52 = Ta muốn khỏi phong trần, thì ta phải vun trồng lấy gốc thiện ở trong lòng ta. Cái “thiện tâm” của ta đó mới quý gấp ba lần cái “tài hoa” của ta.

Câu 3253, 54 = Quyển sách lời lẽ quê mùa này do tôi lượm nhặt dông dài, mỗi chỗ một câu mà chắp nối lại viết ra. Tôi ước ao độc giả tiêu khiển mua vui cũng được vài ba trống canh khi buồn rảnh.

Những câu có ý móc nối hô ứng với nhau


(1) Mấy câu trong đoạn kết này đều ứng tiếp khẩn thiết với mấy đoạn mở đầu nói về “tài” với “mệnh.” (a) Hai câu “Có đâu thiên vị người nào / Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai” nhắc lại ý câu “Lạ gì bỉ sắc tư phong.” (b) Câu “Chữ Tài liền với chữ Tai một vần” nhắc lại ý câu “Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau.” (c) Duy ở đoạn mở đầu thì nói hẳn ngay là “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen,” những câu nhắc ý đó ở đoạn kết này thì lại dùng hai chữ “Ngẫm hay” để mở đường bàn rộng ra ý tại sao mà khách tài sắc lại bị Trời đánh ghen, và để khuyên người đời phải tu tỉnh lấy thiện căn ở trong lòng.

(2) Muốn khuyên giải cho khách phong trần khỏi “đau đớn lòng” vì bị “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” như câu nói ở đoạn mở đầu, thì ở đoạn kết này tác giả nói : (a) Nghĩ cho kỹ thì ta biết bọn tài, sắc phải phong trần ; đó không phải là tại Trời ghen, mà chỉ là vì Trời giữ quyền cân nhắc nghiệp duyên mà định số mệnh cho chúng ta đó thôi. (b) Trời đã bắt ta làm người thì phải có thân, mà cái thân ta đó thường lại xui giục ta làm sự ác để thân ta được sung sướng vật chất. Ai mà không biết tu tỉnh giữ gìn thiện căn như thế, thì kiếp sau sẽ bị Trời bắt thân phải phong trần. Ai mà biết giữ cho thân hiền hậu kiếp này, thì Trời sẽ cho kiếp sau thân được thanh cao. (c) Bởi vì Trời giữ quyền cân nhắc thưởng phạt như thế là công bằng, nên Trời bắt ta thế nào thì ta đành chịu như thế, và chớ cậy tài mà cưỡng lại, cho thêm nặng nghiệp báo kiếp sau.

(3) Có lẽ tác giả đặt câu “Mua vui cũng được một vài trống canh” làm câu cuối cùng đoạn kết để nối nghĩa với câu đầu đoạn mở “Trăm năm trong cõi người ta” để tỏ lòng than thở: Suốt cuộc đời đằng đẵng một trăm năm ở cõi người ta mà chỉ được có vài trống canh là vui!

[ĐÀM DUY TẠO]

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

*Song Thao: ANH THƯ

“Trai khôn tìm vợ chợ đông / Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”. Câu dạy khôn này ngày nay đã lỗi thời. Từ lâu rồi. Chốn “ba quân” ngày xưa, trước 1975, tại Việt Nam đã có bóng hồng. Đó là các nữ quân nhân. Nhưng hoạt động của những anh thư của đảng kaki ngày đó chỉ giới hạn trong phạm vi xã hội và y tế. Không ai nỡ mang hoa ra chiến trường. 

Ngày nay, chị em phụ nữ Việt chúng ta ở bên Mỹ cũng mang đồng phục nhưng oai phong hơn nhiều. Họ cũng xông pha ra chỗ mũi tên hòn đạn ngang ngửa với các nam nhi. Nam nhi người Việt cũng như nam nhi người Mỹ, to như những ông hộ pháp. Cạnh tranh trong một tình thế lép vế như vậy nhưng chị em phụ nữ oai hùng chẳng kém chi ai. Chẳng phải là ngày phụ nữ, chẳng lễ mẹ chi, tự nhiên tôi muốn nhắc tới những bậc anh thư Việt Nam lỗi lạc này bởi vì tôi ngợp với những con cháu bà Trưng bà Triệu nơi xứ người.

Tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ có năm vị. Dẫn đầu là Thiếu Tướng Lương Xuân Việt của Lục quân. Vệ Binh Quốc Gia có Chuẩn Tướng Lập Thể Flora. Thủy Quân Lục Chiến có Chuẩn Tướng William Seely. Không quân có Chuẩn Tướng John Edwards. Hải Quân có Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn. Vậy là Hải Lục Không Quân kèm thêm Thủy Quân Lục Chiến và Vệ Binh Quốc Gia, chúng ta đều có tướng. Chúng ta tự hào về những nam tướng gốc Việt trong mọi binh chủng này nhưng chúng ta tự hào hơn nếu biết là chúng ta còn có hai vị nữ tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ. Đó là Chuẩn Tướng Danielle Ngô và Phó Đề Đốc Vũ Thế Thùy Anh.

Chuẩn Tướng Danielle Ngô.

Hoàng Quân: Khoảng Cách Vô Hình


Khung Cửa Hẹp - Tranh Hoàng Thanh Tâm
“Cơ cấu tổ chức” trong bếp gia đình anh chị có vài thay đổi từ khi chính phủ ban hành những biện pháp phòng ngừa bệnh dịch. Trước đây, chị thường đi làm về trễ. Bởi thế, anh đảm trách khâu nấu nướng. Chị lo bày bàn và dọn dẹp. Bây giờ, cả hai vợ chồng cùng đóng đô ở nhà. Cho nên, chị chuyển sang bầu bạn với ông Táo. 

Chiều nay, trong khi chị bận rộn bên bếp, anh bày chén đũa ra bàn. Chị đặt dĩa rau xào xuống. Liếc qua hai cái chén anh dọn sẵn, một trắng, một xanh. Chị nghĩ, con cái đã ra riêng, nhà giờ chỉ còn chóc ngóc hai vợ chồng. Làm gì, cũng cố gắng giống nhau, cho ra vẻ... sắt cầm hảo hợp. Chị đổi chén, để cặp chén... đẹp đôi. Anh hỏi trổng: 

-Sao vậy? 

Chị cười nhẹ: 

-À, thì đào nào, kép nấy đó mà anh. 

Anh dường như không để ý đến nụ cười cầu hòa của chị, giọng gay gắt: 

-Chớ không phải anh làm gì, em cũng muốn sửa lưng. 

Chị cố cứu vãn tình thế: 

-Đâu có anh. Chén đũa giống nhau cho có partner look. 

Anh khô khốc:

-Bày đặt màu mè.

Chị tưởng như mặt mình nặng nề giống cái bánh bao chiều. Sao lạ vậy! Những khi đứa con về thăm, ngắm mâm cơm chung, nó xuýt xoa khen: “Mẹ bày biện khéo léo, trông ngon lành ghê.” Anh vui vẻ tán thưởng: “Chứ sao, mẹ con là nhất, mẹ con chứ đâu phải ai!” 

Anh không nói, không rằng, gắp gắp, lùa lùa. Anh buông đũa, trong khi chị chưa hết nửa chén cơm. Anh đứng dậy, mở tủ lạnh lấy chai Cola, đưa lên miệng. Chị lật đật:

-Anh, anh! Nhớ rót vào ly. Uống như vậy... 

Anh cắt ngang, cáu kỉnh: 

-Biết rồi, theo như internet, uống thẳng từ chai có nhiều vi trùng bla bla bla... 

Anh dứt khoát đưa chai Cola lên tu một hơi dài, xong lẩm bẩm: 

-Riết rồi chẳng được tự do làm cái gì cả. 

Nguyễn Đức Tường: Truyện Liêu Trai Mới - Cây gạo đầu nhà

(Nhân dịp Gs Đàm Quang Hưng xuất bản cuốn 8, trọn bộ tập Liêu Trai Chí Dị)

Hình minh hoạ, BIJU BORO/AFP via Getty Images

Huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, có người học trò họ Vũ, tên Tứ, bạn bè thường gọi là Tiểu Tứ, tính tình hiền lành nhưng rất cục. Nguyên khi còn học ở lớp sơ cấp, Tứ có biệt danh là Tứ "con" vì cùng lớp có một Tứ "lớn". Ở gần nhà có một con bé đen như củ tam thất nhưng có cái răng khểnh rất có duyên, Tứ thích lắm. Một hôm, Tứ "con" đang đứng ở đầu phố chơi với mấy đứa bạn thì con bé đi qua; một đứa quen miệng gọi Tứ là Tứ "con", nó xấu hổ, giận quá, đuổi đánh rất hung dữ, bạn bè phải can mãi, cho nó cái tên kiếm hiệp, nó mới thôi. Từ đó, Tứ "con" thành Tiểu Tứ.

Tiểu Tứ lúc nhỏ thông minh, mọi người đều nói thằng bé sau này tất làm nên nghiệp lớn. Nhưng có lẽ thày địa lý đặt đất sai lệch sao đó, khi Tứ đầy tuổi tôi, bố nó bày cung tên nghiên bút xem Tứ chọn thứ nào, chẳng may cái nắp bút rơi ra, Tứ nhặt được bèn giữ chặt lấy rồi đưa lên miệng thổi toe toe như cái còi, lấy làm thích thú lắm. 

Năm Tứ sáu tuổi, chí lớn của nó xuất phát như thế này: một hôm, Tứ rủ em đi trồng cây. Thằng bé em chí khí là là mặt đất, mang mấy hạt ngô ra trồng. Còn Tứ, nhớ đến cây gạo ở đầu nhà cao ngất trời cùng hình ảnh cô đầm xinh đẹp ở trang bìa một cuốn tự điển, xòe bàn tay thổi tơ phấn bay phất phơ, Tứ bèn lấy mấy hạt gạo ra trồng, những mong chiều hè gió lộng thổi để bông gạo bay ra khắp bốn phương. Cây ngô lớn đâm bắp, còn cây gạo thì dù tưới mãi vẫn chẳng thấy hạt gạo nẩy mầm; nhưng cây gạo thổi bông bay khắp bốn phương trời đã trở thành một ám ảnh của đời Tứ.

Năm Tiểu Tứ đi thi lấy bằng thành chung, có bài toán muốn thay đổi phân lượng vàng bạc trong một hợp kim mà đáp số là hoặc lấy bớt ra từ hợp kim hai chỉ vàng hoặc cho thêm vào hợp kim ba chỉ bạc. Cả hai cách đều đúng. Bài toán hỏi thêm một câu phụ: cách nào tiện hơn? Tứ trả lời: lấy bớt ra hai chỉ vàng lợi hơn. Quan trường bàn nhau: trò này bộp chộp, tham lam, nếu cho đỗ thủ khoa, sau này chỉ tổ làm hỏng việc lớn, bèn đánh trượt với ý định cho nó chờ năm sau để tính khí thêm thuần. Nhưng năm sau chẳng bao giờ đến, việc trường ốc của Tứ từ từ xuống dốc. Ông bố thấy vậy, bèn cho Tứ đi học nghề sửa máy vi tính để kiếm sống. 

Nhật Tiến: Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và Giải Thưởng Nhà Nước : Nhìn dưới góc người đọc.

Tôi được biết tới bốn chữ Nhân Văn Giai Phẩm ngay từ cuối thập niên 50, khi Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa cho phát hành cuốn Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc (Sài Gòn- 1959) của học giả Hoàng Văn Chí, người cũng là Trưởng ban biên tập của Mặt trận này. Kể từ năm 1954, sau hơn bốn năm bị hoàn toàn xa lìa mọi thứ tin tức của miền Bắc, tác phẩm kể trên đã được hầu hết giới văn nghệ ở miền Nam đón nhận nồng nhiệt, hầu như ai cũng đọc, ai cũng có thể ghi gói một đôi điều có thể kể lại về biến cố văn học này. Hơn thế nữa, nhiều đoạn thơ, văn của văn nghệ sĩ miền Bắc tham gia phong trào này cũng đã được giới văn nghệ trẻ chúng tôi thời đó truyền tụng, nhắc nhở, và trong lòng mỗi người không khỏi dấy lên nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa, có khi cả căm giận. Xin nhắc lại đây vài đoạn như những kỷ niệm sâu đậm của thế hệ chúng tôi vì mỗi khi tụ họp nhau bàn tán chuyện văn nghệ, đề tài Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm thường hay được nhắc tới:

Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng 
                                             làm chi,
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có "việc gì" cũng chẳng
                                             làm sao
(Phan Khôi)

(Vào thời Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp, các văn nghệ sĩ mỗi sáng ra cứ hỏi nhau: "tao có việc gì không?" hiểu theo nghĩa "tao có bị gì không?")

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại
(Lê Đạt)

Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu
                                         thương xót
Tôi bước đi
                   không thấy phố 
                                            không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa
                           Trên mầu cờ đỏ
(Trần Dần) 

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

Ngô Nhân Dụng: Tại sao cần cái mạng che miệng


Bác sĩ Fauci đeo khẩu trang trong buổi điều trần trước Thượng Viện Mỹ, Washington D.C., 30 tháng Sáu. Hình Kevin Dietsch-Pool/Getty Images

Cái con vi rút corona này không những giết người ta bằng cách làm phổi ngưng thở, tim ngừng đập … mà nó còn khiến loài người nổi giận, giết lẫn nhau! Một người gác cửa cho tiệm Family Dollar ở Michigan bị bắn chết chỉ vì không cho khách hàng vào tiệm nếu không đeo mạng che mặt. Một anh bếp làm cho Waffle House ở Colorado cũng bị bắn, may không chết.

Gọi vi rút là “con” cũng thấy không ổn, bởi vì nó không phải là một “con” gì cả, như “con vi trùng Kock” gây bệnh lao phổi. Coronavirus không thể sống được, nếu không bám vào cơ thểmột sinh vật khác. Ra ngoài không khí một thời gian nó sẽ bị hủy diệt. Nó không tự di chuyển được, khi đi máy bay, đi tàu thủy đều nhờ các sinh vật khác chuyên chở. Một “thứ,” một “đồ” như vậy mà chúng sẽ làm chết hàng triệu người! Đáng giận thật!

Thứ virus này, khả năng duy nhất của nó là sinh sản! Sinh sản nhanh và giỏi hơn loài người rất nhiều. Nhưng nó cũng chẳng giỏi giang gì, vì nó chỉ sinh sôi nảy nở được khi có dịp nương vào các tế bào của sinh vật khác!

Vậy mà cả thế giới đang bị Coronavirus tấn công điên đảo. Cái thứ virus này không biết đến biên giới quốc gia. Cả loài người phải tham dự cuộc phòng thủ ngăn ngừa nó! Đây là lúc thế giới cần một cơ quan y tế công cộng nhất, phải lập ra một cơ quan như vậy, nếu chưa có. Nếu có rồi (WHO) thì phải góp sức với nó, dù vẫn phải mắng mỏ, sửa chữa, bắt nó làm việc có hiệu quả hơn!

Cho tới nay chưa ai tìm ra thuốc để diệt được giống virus này. Loài người chỉ có một cách “phòng thủ thụ động” là làm sao cho càng ít người chết càng tốt! Nghĩa là phải ngăn không cho loài vi khuẩn truyền từ một người qua nhiều người khác.

Nói bằng con số giản dị cho dễ hiểu: Nếu thấy một người bệnh đang truyền vi rút qua 10 người khác, tỷ số R=10, thì phải làm cách nào để giảm xuống R=5, rồi R=2, R=0.5, cho đến khi R=0, số không, là xong!

Nguyễn Thị Yến Nhi: Liệu có cứu được dòng Mekong?


Một đoạn dòng song Mekong ở tỉnh Nong Khai, Thái Lan. HÌnh LILLIAN SUWANRUMPHA/AFP via Getty Images

Tiểu vùng sông Mekong đã trở thành trọng tâm trong những tính toán chiến lược của Bắc Kinh khi Trung Quốc phải đối mặt với sự phản kháng ngày càng tăng từ Mỹ và các nước khác. Đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (COVID-19) dường như đang củng cố một vài xu hướng trong quan hệ của Trung Quốc với các nước thuộc sông Mekong. Trong kịch bản đang nổi lên này, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục tập trung vào tiểu vùng sông Mekong trong giai đoạn hậu COVID-19.

Sông Mekong là con sông vô cùng quan trọng của khu vực Đông Nam Á lục địa. Sông Mekong với độ dài 4350 km, là con sông dài nhất ở Đông Nam Á, dài thứ 7 ở châu Á và dài thứ 12 trên thế giới. Con sông này góp phần tạo ra sinh kế cho khoảng 66 triệu người đang sinh sống dọc hai bên bờ sông. Vùng bồn trũng của con sông này có diện tích khoảng 795.000 km2, là nơi tạo ra các nguồn nông sản rất lớn, ví dụ khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long - là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.

Sông Mekong khởi nguồn từ các dòng sông băng ở Tây Tạng, chảy qua tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc và chảy qua 5 quốc gia khác là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Do đó, con sông hùng vĩ này còn được biết đến dưới nhiều cái tên như Sông Cửu Long trong tiếng Việt hay Tonle Than trong tiếng Khmer, và tất cả những cái tên này đều chứng tỏ sức mạnh to lớn của nó. Người Trung Quốc gọi tên nó là sông Lan Thương (Lancang).

Mekong đang hấp hối


LS Đặng Đình Mạnh: Diễn biến vụ án Đồng Tâm


Hôm nay, sau 07 ngày phát hành, thì một số luật sư tham gia vụ án Đồng Tâm đã nhận bản Cáo trạng số 241/CT-VKS-P2 ngày 24/06/2020 của VKSND TP.Hà Nội gởi qua đường bưu điện. Kèm theo cáo trạng là văn bản Thông báo về việc quyết định truy tố. Dài 51 trang, nội dung bản Cáo trạng không quá khác biệt với bản Kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT TP Hà Nội.

Trước đó, ngày 29/06/2020, một nhóm luật sư đã đến Trại tạm giam số 2 Thường Tín, Hà Nội để tiếp xúc với các bị cáo trong vụ án. Nhưng đã bị từ chối với lý do không “dính” gì đến với các quy định pháp luật có liên quan: Vì chưa biết hồ sơ vụ án đang do cơ quan nào thụ lý. Đáp trả lại sự đấu tranh của các luật sư, thì các nữ cán bộ trực ban chỉ còn biết cười trừ vô tội.

Cũng thế, cho đến nay, dù đã phát hành cáo trạng, thì các luật sư cũng vẫn chưa tiếp cận được với hồ sơ vụ án.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lương Dân & Lương Tri

Khắp đất nước này, điểm danh 63 tỉnh thành, còn nơi nào mà không có tranh tụng vì những cưỡng chế đất đai bất công, bất bình đẳng và vô lý cùng cực? Mỗi một địa chỉ như thế là một ngọn lửa âm ỉ hận thù.

Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã:

“Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?

Bốn mươi ngàn đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê…Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế. Nhưng buồn thay đó lại là sự thật.” 

Thế mà chỉ vài năm sau, trong tập bút ký mỏng phổ biến vào năm 2006 (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) nhà văn Nguyễn Khải đã “trình làng” bộ mặt của một nông thôn hoàn toàn khác hẳn:

“Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay.”

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2020

Người Việt: Một lệnh bắt đeo khẩu trang toàn quốc tiết kiệm $1 ngàn tỷ cho nền kinh tế

Thượng Nghị Sĩ Mitch McConnell (Cộng Hòa-Kentucky) kêu gọi dân Mỹ đeo khẩu trang. (Hình: AP Photo/Manuel Balce Ceneta)

NEW YORK, New York (NV) – Nghiên cứu mới của ngân hàng đầu tư Goldman Sach cho thấy một lệnh bắt buộc đeo khẩu trang toàn quốc sẽ tiết kiệm nền kinh tế Mỹ $1 ngàn tỷ.

Tạp chí đầu tư Forbes trích kết quả nghiên cứu của nghiên cứu của Goldman Sach đưa ra vào Thứ Ba, 30 Tháng Sáu, cho biết việc đeo khẩu trang làm chậm sự lây lan COVID-19, khiến không đưa đến tình trạng đóng cửa nền kinh tế một lần nữa, ước tính sẽ làm nền kinh tế bị mất đi 5% tổng sản lượng quốc gia.

Cuộc nghiên cứu cho thấy lệnh bắt buộc đeo khẩu trang liên bang sẽ làm mức lây lan giảm từ 1% xuống chỉ còn 0.6%.

Những nhà phân tích của Goldman Sach phân tích dữ kiện cho thấy việc đeo mặt nạ và đeo khẩu trang có mức độ tác động rõ rệt trong việc lan truyền bệnh dịch, đặc biệt, tại các tiểu bang không quy định đeo khẩu trang khi vừa mở cửa như Florida và Texas.

Nguyễn Đình Cống: Phải chăng đó là ý tưởng mới

Theo dõi sự tuyên truyền và thảo luận dự tháo báo cáo chính trị của ĐH 13 ĐCSVN tôi thấy có một điều được tôn vinh là ý tưởng mới. Đó là “Về chủ đề Đại hội XIII của Đảng, một trong những điểm mới lần này là gắn 'xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị' với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng…” 

Nghe mà quá buồn cười. Mới gì ý tưởng ấy. Phải chăng những đầu óc đã bị xơ cứng vì đặc sệt Mác Lê không thể nghĩ ra được cái gì hay hơn, trong lúc có nhu cầu phải nêu ra được “Cái Mới” để tuyên truyền nên phải vơ quàng vơ xiên.

Nói rằng mới, vậy phải chăng từ trước đến nay đảng không gắn các việc đó với nhau.

Không phải là không gắn mà đã gắn rất chặt. Vấn đề là hệ thống chính trị đã phạm nhiều sai lầm, cần tìm ra để sửa chữa hoặc loại bỏ chứ không phải gắn cái này với cái kia.

Thứ nhất là đảng nói chính quyền của dân, nhưng từ trước đến nay chính quyền là của đảng. Đây là sự dối trá có hệ thống.

Thứ hai là hệ thống quyền lực gồm 3 cấp (Đảng, Chính quyền, Mặt trận) với phương châm lãnh đạo, quản lý, làm chủ là quá nặng nề, dẫm đạp lên nhau, kém hiệu quả, bất lực trong một số việc quản lý xã hội.

Thứ ba là không chấp nhận thể chế Tam quyền phân lập, đặc biệt là quyền tư pháp. Gần đây nền tư pháp của VN gặp phải nhiều chuyện quá bê bối mà chủ yếu là không độc lập và quá kém năng lực.

Thứ tư là kiên trì Mác Lê, một thứ chủ nghĩa chứa nhiều độc hại cho dân tộc, chỉ chủ yếu mang lại quyền lợi lớn cho những nhóm nhỏ.

Phạm Trần (Dân Làm Báo): Lợi ích nhóm hay băng đảng cướp cơm dân?


“Lợi ích nhóm”, hay “nhóm lợi ích” là những tổ chức cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam đã chia bè, kết phái để cướp cơm dân và bảo vệ độc quyền cai trị cho đảng.

Chúng sinh ra và lớn lên từ Thôn, rồi leo lên Xã trước khi ngoai qua Huyện, ngóc đầu lên Tỉnh để ngênh ngang bước vào Trung ương. Lộ trình quan lộ của “lợi ích nhóm” công khai từ dưới lên trên, từ trung ương xuống cơ sở và từ nhà nước vào doanh nhân, xí nghiệp. Khối Doanh nghiệp nhà nước là ổ tham nhũng phá hoại đất nước và phản bội sức lao động của dân lớn nhất nhưng không bị trừng phạt mà còn được bảo vệ bởi các “Nhóm lợi ích” trong cơ quan đảng và bộ ngành nhà nước.

Thế nhưng, gần 10 năm qua, kể từ Khóa đảng XI (2011-2016) Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng, Thanh tra Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống Tham nhũng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đứng đầu đã không sao vạch được mặt, chỉ ra tên các “Nhóm lợi ích” để trừng phạt và tịch thu tài sản trả lại cho dân.

Con số trên 100 Cán bộ, Đảng viên, có người ở cấp cao đã bị bắt tù, bị truy tố, bắt đền bù tiền thu bất chính từ đầu Khóa đảng XII (từ 2016...) là một “thành tích” được báo, đài đảng tung hô để biểu dương ông Nguyễn Phú Trọng.

Nhưng không ai biết các thủ phạm nổi cộm đã bị ngồi tù như Đinh La Thăng (cựu Ủy viên Bộ Chính trị); Nguyễn Bắc Son (cựu Bộ trưởng Thông tin-Truyền Thông) và Trương Minh Tuấn (cựu Bộ trưởng Thông tin-Truyền Thông) thuộc “Nhóm lợi ích” nào trong đảng.

Hong Kong 1-7-2020

Bài 1 -“Để rồi xem” - Đặng Ngữ


Bằng việc thông qua luật an ninh đối với Hồng Kông, Trung Quốc đại lục đã chính thức “thu gom” phần lãnh thổ này.

Nhưng bằng việc thông qua luật an ninh với Hồng Kông, Trung Quốc đại lục sẽ trả một cái giá quá đắt đỏ có khi sẽ được trả bằng chính sự tồn tại của chế độ cộng sản tại đại lục.

Sẽ không người Đài Loan nào còn tin vào chủ trương “một quốc gia, hai chế độ” của Trung Quốc đại lục. Và nếu muốn “thu gom” Đài Loan, Trung Quốc đại lục tất yếu phải sử dụng chiến tranh. Một cuộc chiến tranh như thế sẽ rất, rất đắt đỏ với đại lục.

Sẽ không người Tạng, người Uighur nào còn tin vào lời hứa của Bắc Kinh nữa.

Trung Quốc sẽ không còn “dạy dỗ” được hay “lừa phỉnh” được các nước nhỏ ở phía Nam như Việt Nam và các nước Đông Nam Á về một sự trỗi dậy hoà bình nữa.

Trung Quốc trong con mắt các quốc gia phương Tây như Mỹ, Châu Âu hay các nước Đông Á như Nhật và Hàn Quốc... hiện hình đúng bản chất của một nhà nước lưu manh.

Trung Quốc tự mình lột “trần truồng” trước toàn thế giới. Không một đế quốc nào có thể tồn tại lâu mà không có sức hấp dẫn về văn hoá và/hoặc mô hình chính trị.

Có thể, chu trình tan rã của Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa đã chính thức khởi động.

Không ai biết chính xác lịch sử sẽ lặp lại như thế nào. Nhưng lịch sử vẫn thường hay lặp lại bởi vì bản chất con người vẫn không thay đổi mấy. Một người Trung Quốc cổ đại thời Tần Thuỷ Hoàng và một người Trung Quốc hiện đại thời Tập Cận Bình, xét về bản chất, không khác nhau mấy. Tần Thuỷ Hoàng và Tập Cận Bình, xét về cách thức hành động, cũng không khác nhau mấy.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Vesa Sirén: Làm thế nào để cứu vãn thế giới (Lê Lam dịch)

Đây là nội dung cuộc phỏng vấn với giáo sư Jared Diamond (sinh năm 1937), tác giả của cuốn sách “Upheaval: Turn Point for Nations in Crisis” (2019) cho báo Helsingin Sanomat, nhật báo hàng đầu ở Phần Lan. Jared Diamond cũng là tác giả đã giành giải Pulitzer năm 1997 với tác phẩm “Guns, Germs and Steel”.

Hỏi: Giáo sư Diamond, trong bài báo gần đây của ông trên tờ Financial Times (Thời báo Tài chính), ông đã viết rằng “không giống như nhiều dịch bệnh trong quá khứ, coronavirus không đe dọa gây ra thất bại quân sự, thay thế dân số hoặc sụp đổ, hoặc đất canh tác bị bỏ hoang”. Có phải chúng ta đã phản ứng thái quá?

Diamond: Không, dĩ nhiên, chúng ta đã không phản ứng thái quá với đại dịch. Vâng, nó đang giết chết một tỷ lệ người thấp hơn so với cái chết đen trong thời Trung cổ, nhưng nó xảy ra trên toàn thế giới, và chúng ta không thể chống lại điều đó. Vào thời cái chết đen, người Á-Âu đã có một lịch sử lâu dài tiếp xúc với virus, và kết quả là một số người đã đề kháng lây nhiễm nó. Ngày nay, chưa có ai đề kháng lây nhiễm với Covid.

Hỏi: Ông cũng đã viết rằng coronavirus có thể thống nhất thế giới như cuộc chiến chống Liên Xô thống nhất Phần Lan. Làm thế nào điều đó có thể xảy ra?

Diamond: Hầu như tất cả mọi người dân Phần Lan đều bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Tôi đã rất ngạc nhiên về chuyến thăm gần đây nhất của tôi đến Nghĩa trang Hietaniemi vào năm 2017, để xem hoa tươi trên các ngôi mộ. Khi trò chuyện với một gia đình Phần Lan đến thăm mộ, tôi đã nhận xét về những bông hoa, người lớn tuổi nhất trong gia đình, một người đàn ông khoảng 40 tuổi, có lẽ đã biết chiến tranh qua ông bà, giải thích với tôi, “hoa là vì mỗi gia đình Phần Lan mất một ai đó.

Covid là cuộc khủng hoảng toàn cầu đầu tiên trong lịch sử thế giới mà mọi người ở khắp nơi trên thế giới buộc phải thừa nhận là một cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Thụy My (Điểm báo Pháp của RFI): Vì sao Trung Quốc sẽ thủ lợi nếu Donald Trump tái đắc cử ?

Les Echos hôm nay 29/06/2020 có bài viết lý giải “Vì sao Bắc Kinh bầu cho ông Trump”. Theo thông tín viên của tờ báo, nếu tổng thống Donald Trump tái đắc cử vào tháng 11 tới, Trung Quốc không mấy buồn lòng vì sẽ lợi dụng được việc Mỹ co cụm để dấn tới trên trường quốc tế, trong khi Joe Biden có thể liên kết được các đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ.

Cộng Hòa và Dân Chủ Mỹ đều muốn đối đầu với Trung Quốc


Ông Trump trong bốn năm qua đã liên tục đối địch với Trung Quốc, tố cáo thâm hụt thương mại lớn lao, chỉ trích việc xử lý đại dịch “virus Trung Quốc”, cáo buộc Hoa Vi (Huawei) đe dọa an ninh quốc gia. Nhiều lần Donald Trump tuyên bố ”Không ai cứng rắn với Trung Quốc như tôi”, nói rằng Trung Quốc sẽ làm mọi cách khiến ông thất cử và mô tả đối thủ Joe Biden là một người nhu nhược trước Bắc Kinh. Tuy nhiên cuốn sách gây bão của cựu cố vấn an ninh John Bolton vẽ lên một chân dung ngược lại : một ông Trump muốn Trung Quốc mua nông sản Mỹ để ông có thể tái đắc cử, và làm ngơ trước các trại cải tạo Tân Cương.

Vương Nghĩa Nguy (Wang Yiwei), viện trưởng Viện quan hệ quốc tế của trường đại học Nhân Dân Trung Quốc, cũng cho rằng ”đó là ứng cử viên đỡ tệ hại nhất cho Trung Quốc”. Đối với các chuyên gia, rõ ràng là quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington tiếp tục xuống cấp, cho dù ông chủ sắp tới của Nhà Trắng là ai đi nữa. Tín Cường (Xin Qiang), phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Mỹ của trường đại học Phục Đán ở Thượng Hải, giải thích : ”Có một sự đồng thuận chiến lược giữa Cộng Hòa và Dân Chủ về việc Trung Quốc là một địch thủ cần phải kìm hãm lại”.

Trong những tháng gần đây, Quốc Hội Mỹ đã vượt qua những bất đồng nội bộ để gần như là đồng thuận trong việc tố cáo việc Bắc Kinh siết lại tự do của Hồng Kông, đàn áp người Duy Ngô Nhĩ. Đại dịch do virus xuất phát từ Vũ Hán gây ra chỉ làm cho quan điểm của phía Mỹ thêm cứng rắn.

Trump tái đắc cử : Đồng minh chia rẽ, Bắc Kinh thủ lợi


Phạm Phú Khải (VOA): Kỳ thị và bản sắc, nhìn từ nước Úc


Các thông điệp được ghi và gắn xung quanh tượng TT Andrew Jackson tại công viên Lafayette, đối diện tòa Bạch ốc, 15 tháng Sáu.

Làm người đi tìm sự thật hôm nay cũng thật khó!

Đa số người Mỹ cho rằng sự phẫn nộ về cái chết của người da đen dưới bàn tay của cảnh sát đưa đến các cuộc biểu tình khắp nước trong thời gian qua là điều chính đáng, mặc dầu họ không nhất thiết đồng tình với hành động xảy ra, theo khảo sát vào đầu tháng Sáu của trường đại học Monmouth. 76 phần trăm người Mỹ, kể cả 71 phần trăm người Mỹ da trắng, cho rằng kỳ thịchủng tộc và phân biệt là một vấn đề lớn tại Hoa Kỳ, tăng 26 phần trăm so với khảo sát năm 2015.

Mọi mạng sống đều quan trọng


Vào ngày 22 tháng Sáu, một chiếc phi cơ bay ngang sân Etihad Stadium khi hai đội banh Manchester City và Burnley thi đấu. Chiếc máy bay chở một tấm phướn lớn có chữ “White Lives Matter Burnley”. Liền sau đó, đội Burnley bị chỉ trích nặng nề vì bị cho rằng thông điệp này coi thường phong trào đấu tranh Black Lives Matter hiện nay. Giám đốc đội Burnley, ông Sean Mark Dyche, liền họp báo lên án hành động này và xin lỗi vì sự việc xảy ra ngoài ý muốn của ông. Còn đội trưởng Ben Mee cho biết anh cảm thấy nhục nhã và xấu hổ đối với những ủng hộ viên nồng nhiệt nhưng hành xử như thế.

Giám đốc đội Manchester City thì ôn tồn hơn khi phản ứng về sự kiện này. Ông Pep Guardiola cho rằng “Tất nhiên mạng sống người da trắng là quan trọng nhưng mạng sống người da đen cũng quan trọng. Con người quan trọng. Mọi người, chúng ta đều giống nhau. Mỗi ngày chúng ta phải chiến đấu không chỉ vì tình huống này mà còn vì tất cả những bất công trên toàn thếgiới.” Trước đó, vào ngày 18 tháng Sáu, khi nói về phong trào Black Lives Matter, Guardiola cũng nhận xét rằng ông cảm thấy "xấu hổ" về lịch sử đối xử của người da trắng đối với người da đen.

Tự hào hay phủ nhận bản sắc


Cái chết của ông George Floyd tại Mỹ do một cảnh sát da trắng quỳ gối lên cổ đã làm cho nhiều người phẫn nộ, trong đó những người da trắng tại Mỹ cũng như khắp nơi cảm thấy nhục nhã vì hành động này và vô tình cảm thấy xấu hổ lây vì mình là da trắng.

Một đàn ông da trắng Damian Cawthorne chụp tấm hình mình mặt áo có hàng chữ “Tôi yêu được làm người da trắng (I Love Being White), rồi phổ biến trên Twitter với lời giới thiệu “Một đàn ông da trắng người Anh tự hào” (Proud white English man).

Hân là một người bạn Việt Nam của tôi. Cô qua Úc lúc chỉ 7 tuổi nên cô rành tiếng Anh hơn tiếng Việt. Theo dõi phong trào Black Lives Matter trong những ngày qua, từ bên ủng hộ đến bên chống đối, cô liền dùng hình ảnh của Cawthorne để gửi cho 6 người bạn của cô trên Twitter, tất cả đều là da trắng, là công dân của Mỹ, Úc, Anh, Ba Lan, Tây Ban Nha, và Hoà Lan. Cô hỏi mấy anh nghĩ gì về tấm hình này? Tất cả đều trả lời Hân rằng gã đàn ông này quả thật ngu xuẩn, không tế nhị khi mặc áo và đăng các hình và chữ này, và có hàm ý ngầm là kỳ thị chủng tộc.

Hân ngạc nhiên hỏi sáu ông này rằng từ lúc nào tự hào về bản sắc của mình trở thành một vấn đề? Hân lý luận rằng kỳ thị chủng tộc là khi nào trong tư tưởng mình có suy nghĩ sắc tộc của mình ưu việt hơn một hay nhiều sắc tộc nào đó, và/hoặc như thế coi thường và đối xử phân biệt với sắc tộc đó. Còn ghi nhận và tự hào về bản sắc (identity) của mình thì đâu có gì sai. Hân biện luận “Các ông thấy không, tôi tự hào là người da vàng, tôi tự hào là người Việt Nam. Tôi không thể thay đổi màu da của tôi. Nhưng tôi tự hào về bản sắc của mình”.

Tất cả sáu người đàn ông da trắng này đều ngạc nhiên với lý luận của Hân. Quả thật họ không thể nghĩ ra hay nhìn vấn đề này ở khía cạnh như thế, nhất là khi các vấn đề tranh cãi qua phong trào Black Lives Matter trở thành vô cùng tế nhị và nhạy cảm hiện nay. Bởi nói không khéo người da trắng dễ làm cho người không phải da trắng nghĩ mình có óc kỳ thị. Cho nên có những người da trắng chọn thái độ nói khéo, nói an toàn, nói phải đạo (politically correct), để khỏi mất lòng hay gây hiểu lầm.

Một trong sáu người đàn ông này hỏi lại Hân rằng nếu ông ta nói “Tôi không muốn làm người Việt Nam. Người Việt Nam có những tính xấu. Vậy cô có tức giận không?”. Cô Hân trả lời “Không, tôi sẽ không tức giận. Bởi vì ông không phải là người Việt Nam. Ông là một người da trắng. Ông không có quyền hưởng làm người Việt Nam bởi vì ông không phải là vậy (You are not entitled to be Vietnamese, because you are simply not)”. Người đàn ông này kinh ngạc với cách nhìn của Hân bởi vì quen Hân đã lâu nhưng không ngờ Hân lại có lối suy nghĩ và biện luận như thế. Hân tiếp tục “Tuy nhiên, tôi sẽ tức giận nếu một người Việt Nam nào đó lại đi phủ nhận mình là người Việt Nam”. Hân kết luận “Chúng ta nên chấp nhận mình là ai, nên tự hào về bản sắc của mình, và nên tôn trọng các sắc tộc khác và tôn trọng sự khác biệt.”

Những trò “đấu tố” thời nay


Cũng qua sự kiện George Floyd, luật sư Trần Kiều Ngọc đại diện cho Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền có ra một thông cáo nhận định rằng “Chúng tôi luôn kiên định lập trường ủng hộ hoàn toàn các mục tiêu đấu tranh cho công lý, công bằng xã hội, và sự bình đẳng cho tất cả mọi sắc dân, chủng tộc.” Phong Trào cũng khẳng định “All Lives Matter (Mạng Sống Của Mọi Người Đều Quan Trọng).” Thông cáo này có thông điệp ôn hoà, quan điểm cũng không khác gì Pep Guardiola hay tổng thống George W. Bush.

Thông cáo này cho đến nay được 659 thích, và 531 còm. Số còm gần bằng số thích. Tuy có nhiều người ủng hộ hơn chống, phần lớn chỉ bấm thích nhưng không bình luận. Còn các còm thì phần lớn đều tố cáo cô Trần Kiều Ngọc và PTGTTGVNQ bằng mọi nhãn hiệu tồi tệ nhất có thể. Đặc biệt họ cho rằng cô lợi dụng cơ hội này để ủng hộ cho đảng Dân chủ và hạ bệ ông Donald Trump của đảng Cộng hoà, trong khi toàn nội dung chỉ nói về nhân quyền, và chẳng đềcập gì đến đảng phái chính trị tại Hoa Kỳ.

Không biết từ khi nào các cuộc tranh luận về quyền làm người, hay các cuộc đấu tranh cho nhân quyền nhân phẩm, lại bị tóm gọn và đơn giản hóa tối thiểu thành các khẩu hiệu chính trịnhư thế này.

Nhìn các trò ném đá này, những trò vu khống chụp mũ vô tội vạ trên mạng xã hội, tôi cứ nghĩ đến tác phẩm “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” của Hoàng Văn Chí, và cảm thấy rùng mình bởi các hình thức “đấu tố” thời đại mới.

Sẽ thật là tích cực và văn minh hơn, và hiệu quả hơn nếu muốn người khác thay đổi, khi chúng ta học cách phê bình nhau bằng những lời lẽ ôn tồn, với lý luận chính đáng và trình bày các bằng chứng khả tín.

Đi tìm sự thật lúc này cũng khó!


Giáo sư Nguyễn Thanh Việt có viết một nhận định ngắn trên Facebook rằng trong cùng một ngày, ông bị một người theo cánh tả bên Pháp gọi ông là con rối chống Cộng, trong khi người Việt tại Mỹ gọi ông là Cộng sản; ông cũng thường bị một số người Mỹ yêu nước bảo ông về lại nước Việt Nam Cộng Sản nếu ông yêu chủ nghĩa cộng sản nhiều như thế trong khi đó phần lớn những gì ông làm không được phép xuất bản tại Việt Nam. Thật là bối rối quá.

Quả là đi tìm sự thật hay dám nói lên những gì mình tin là đúng vào lúc này có rủi ro đụng chạm bao nhiêu xu hướng khác nhau trong xã hội: những người cả tin, những kẻ cuồng tín, những thành phần dân tộc quá khích, từ cực tả sang cực hữu v.v… Vì thế nên nhiều người ôn hoà chọn thái độ im lặng là vàng.

Nhưng vẫn có những tiếng nói công chính.

Vào ngày 2 tháng Sáu, sau sự kiện George Floys, cựu Tổng thống Hoa Kỳ George Walker Bush ra một tuyên bố có đoạn như sau:

“Những người hùng của nước Mỹ - từ Frederick Douglass đến Harriet Tubman, từ Abraham Lincoln đến Martin Luther King Jr. - là những vị anh hùng của sự đoàn kết. Lời kêu gọi của họkhông dành cho kẻ yếu tim. Họ thường tiết lộ sự cuồng tín và bóc lột - những vết nhơ của dân tộc mà đôi khi không dễ cho cộng đồng đa số suy xét. Chúng ta chỉ có thể nhìn ra nhu cầu của đất nước qua cặp mắt của người bị đe doạ, áp bức và bỏ rơi.”

Ông Bush quả quyết “Đạt được công lý cho tất cả là trách nhiệm của tất cả mọi người”, và kết luận “Tôi tin rằng cùng nhau người Mỹ sẽ chọn con đường tốt hơn”.

Tổng tống John Fitzgerald Kennedy từng nhận định rằng “Khi quyền của một người bị đe doạ, quyền của mọi người bị giảm sút theo.” (The rights of every man are diminished when the rights of one man are threatened.”

Tổng thống Franklin Delano Roosevelt thì xác định rằng “Tự do có nghĩa là sự thượng đẳng của nhân quyền mọi nơi. Chúng ta ủng hộ những ai đấu tranh để giành và giữ các quyền này. Sức mạnh của ta đến từ sự đoàn kết trong mục đích. Vì quan niệm cao cả đó, mục tiêu cuối cùng phải là chiến thắng.”

Kỳ thị và bản sắc có lẽ là hai đề tài phức tạp và nhạy cảm lớn hiện nay. Nhưng mọi thứ đều có thể đơn giản hơn nếu mỗi chúng ta bớt đi sự tự ti cũng như sự tự tôn. Tự tôn quá trở thành lốbịch và kỳ thị. Tự tin quá trở thành khôi hài và bị kỳ thị. Trắng hay đen, vàng hay nâu, cũng chỉ là màu, và chỉ là bề ngoài. Bên trong mỗi chúng ta, từ tâm thức đến hành động, mới là quan trọng. Muốn hiểu bên trong thì cần nhìn sâu một chút, lâu một chút, và bằng tấm lòng thành và sự đồng cảm của mình cho người khác, với tư cách là một con người đúng nghĩa.

Nguyễn Lân Thắng: Hai đường thẳng song song


Tác giả và chị Cấn Thị Thêu

Có một chuyện về nông dân Dương Nội hiếm ai biết được nếu chỉ là người ủng hộ và quan sát từ xa. Ấy là chuyện tôi đố ai tìm thấy bất cứ một hình chụp nào của chị Cấn Thị Thêu và chị Nguyễn Thị Tâm. Cùng là dân oan ở Dương Nội, cùng đi đòi đất, cùng tham gia đấu tranh trong các hoạt động khác như bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đòi hỏi thực thi công lý... trong suốt hơn 10 năm qua, nhưng hai người phụ nữ kiên cường này chưa bao giờ đứng cạnh nhau.

Chuyện kể ra thì dài lắm. Nếu nói cho ngọn ngành thì phải quay về bối cảnh từ hơn 10 năm về trước. Năm 2008 sau khi có chủ trương mở rộng Hà Nội, sát nhập Hà Tây, tập đoàn Nam Cường là một trong các chủ đầu tư lớn đã về Dương Nội để tiến hành đầu tư đô thị ở đây. Đất Dương Nội hồi đó là một vùng quê trù phú rộng mênh mông. Nhưng không rộng bằng lòng tham của kẻ có tiền và kẻ có con dấu đỏ. Từng bước một, những kẻ đó cấu kết với nhau để cướp đi từng thửa ruộng luống khoai của dân nghèo.

Suốt những năm đó, từ năm 2008 đến năm 2012, về cơ bản là hầu hết ruộng đất ở Dương Nội đã bị cướp xong. Người ta vẫn hay gọi những việc như thế này là "cưỡng chế" hay là "thu hồi" đất đai. Nhưng tôi muốn gọi nó thẳng thừng bằng một từ đơn giản là CƯỚP.

Tôi gọi là cướp bởi vì như chị Cấn Thị Thêu đã từng giải thích nhiều lần: