Thứ Tư, 24 tháng 6, 2020

Diễm Thi, RFA: Báo chí Việt Nam thời Pháp bị ông Hồ Chí Minh đánh giá sai sự thật?

Tự do báo chí thời Pháp


Trong cuốn “Đây ‘công lý’ của thực dân Pháp ở Đông Dương!” của tác giả Nguyễn Ái Quốc được NXB Sự Thật phát hành ở Hà Nội năm 1962 có bài viết về ‘Chế độ báo chí’. Nguyễn Ái Quốc là tên ông Hồ Chí Minh sử dụng từ ngày 18 tháng 6 năm 1919 đến ngày 13 tháng 8 năm 1942.

Ở trang 81 tác giả viết rằng: “Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi…

Mãi đến bây giờ, chưa có người Việt Nam nào được phép xuất bản một tờ báo cả. Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở các nước Châu Âu hay Châu Á khác, chứ không phải là một tờ báo do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hóa và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy.”

Nhà báo độc lập Ngô Nhật Đăng nêu quan điểm của ông về phát biểu vừa nêu mà ông Hồ Chí Minh đề cập đến báo chí Việt Nam thời Pháp:

“Vấn đề này chúng ta phải nhìn lại lịch sử. Năm 1925 ở Pháp, ông Nguyễn Ái Quốc tố cáo chuyện ở Đông Dương không có tự do báo chí. Chuyện đó là hoàn toàn sai.

Báo chí Sài Gòn được hưởng chế độ như Pháp, hoàn toàn có thể tự do ra báo. Nếu báo bằng tiếng Việt Nam thì cần phải xin phép nhưng không bị kiểm duyệt. Đến năm 1915 thì báo chí tự do bắt đầu ra Bắc và tự do báo chí ngày đó rất dễ dàng. Điều này chúng ta có thể tìm hiểu qua lịch sử hoặc qua hồi ký của ông Vũ Bằng, cuốn “40 năm nói láo”. Qua đó chúng ta thấy thời Pháp thuộc Việt Nam hoàn toàn có tự do báo chí chứ không phải như ông Nguyễn Ái Quốc nói.”

Thụy My (RFI): Trung Quốc, nguồn gốc tất cả mọi xung đột ở châu Á-Thái Bình Dương

Tất cả các điểm nóng hiện nay tại châu Á-Thái Bình Dương đều có liên quan đến Trung Quốc. « Bộ tứ Quad +3 » sẽ tham gia vào « chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương », một khái niệm làm Bắc Kinh đau đầu. Các chuyên gia của đại học Thanh Hoa nhìn nhận, sự thống trị của Hoa Kỳ có lẽ đã là quá khứ, nhưng thế giới vẫn chưa thể thuộc về Trung Quốc.

Liên quan đến châu Á, trong bài « Chiến lược của Bắc Kinh trong căng thẳng tại châu Á-Thái Bình Dương », thông tín viên Simon Leplâtre của Le Monde nhận định, trong lúc các vụ đụng độ liên tục xảy ra trong khu vực, các nước láng giềng của Trung Quốc cố gắng giảm bị lệ thuộc.

Trung Quốc : Chiếc mặt nạ đã rơi !


Viện trưởng Viện Quan hệ Quốc tế thuộc trường đại học Thanh Hoa, ông Diêm Học Thông (Yan Xuetong) khi chủ trì « World Peace Forum » ở Bắc Kinh hôm 16/06/2020 đã tuyên bố : « Sẽ không còn lãnh đạo toàn cầu trong những thập niên tới, vai trò của các tổ chức quốc tế giảm sút, trật tự thế giới sẽ là một trật tự xấu ». Nhận định này cách xa cả ngàn dặm so với « cộng đồng nhân loại cùng chung vận mệnh » của Tập Cận Bình, trong khi ông Diêm là một trong những nhà tư tưởng chính của ngành ngoại giao Trung Quốc.

Vô số điểm nóng hiện nay : xung đột đẫm máu Ấn-Trung trên rặng Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn), Bắc Triều Tiên cho nổ văn phòng liên lạc với Hàn Quốc, Bắc Kinh áp đặt luật an ninh quốc gia lên Hồng Kông bất chấp sự phản đối của G7, nhiều vụ tập trận bất thường xung quanh Đài Loan…

Ngô Ngọc Trai: Những lề lối nhận thức lạc hậu đã kết án Hồ Duy Hải

Có thể nói, quan điểm đường lối kết tội vụ Hồ Duy Hải là một lề lối giải quyết án có tính chất khung, có thể áp dụng trong nhiều vụ án khác.

Cho nên nếu nói Hồ Duy Hải bị oan thì chính cái lối nhận thức và lối làm án là cái gây oan cho Hồ Duy Hải.

Ở đây cần thừa nhận, Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao gồm những người có chuyên môn kinh nghiệm và có thể thực sự tin rằng việc kết án Hồ Duy Hải có tội là đúng đắn, công lý.

Các Thẩm phán đó đã hằn sâu nhận thức về một đường lối làm án, một lề lối nhận thức đã thành nếp, thành thói quen, họ không thấy có vấn đề gì với một cung cách đánh giá chứng cứ và kết án như vậy.

Hồ sơ vụ án khi chuyển đến họ sẽ nghiên cứu trong vài tháng, thấy rằng có nhiều lời khai nhận tội và mọi thứ phù hợp với nhau, thì khi đó đã tạo thành niềm tin nội tâm bị cáo có tội.

Vậy giờ đây những người muốn cứu Hồ Duy Hải thì phải cứu bằng cách nào?

Làm sao để vượt qua được nhận thức của các Thẩm phán?

Chỉ có một cách, đó là nâng cao tiêu chuẩn xét xử.

Tức là đòi hỏi phải nâng cao điều kiện cơ sở kết tội, nhất là án tử hình, yêu cầu phải xác lập những cơ sở vững chắc cho việc kết tội.

Bằng cách đó một mặt sẽ giữ được thể diện cho ngành Tòa án, động viên họ rằng việc kết tội như vậy là không sai với những gì đã là truyền thống lâu nay, từ đó tạo khả năng chấp thuận về việc thảo luận và xây dựng một tiêu chuẩn cao hơn cho việc xét xử.

Khi không bị quy trách nhiệm người ta mới có lý do cho sự hợp tác thay đổi.

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2020

Tuấn Khanh: Báo chí đảng & báo chí người Việt


Cũng cần có lúc, các nhà nghiên cứu về lịch sử nên đặt lại câu hỏi, vì sao ngày 21-6 hàng năm, được gọi là ngày Báo chí Việt Nam, chứ không phải gọi đúng tên là ngày báo chí của đảng Cộng sản Việt Nam? Dĩ nhiên, việc xét lại này, cần dựa trên lòng tự trọng và sự tử tế của trí thức Việt Nam có suy nghĩ tự do, không tư tưởng nô lệ đảng phái nào.

Theo những gì mà tư liệu của nhà nước hiện nay đưa ra, ngày 21-6-1925 là ngày mà ông Lý Thụy (tức Hồ Chí Minh) cho ra đời tờ Thanh Niên, một tờ báo có nội dung cho phong trào kháng Pháp. Nhưng quan trọng hơn, tờ báo này còn nhằm tạo ảnh hưởng cho khuynh hướng chủ nghĩa cộng sản và phong trào cách mạng của ông Lý Thụy – một bí danh được đặt từ Trung Quốc.

Tờ Thanh Niên, so với những bậc tiền bối của báo chí Việt ngữ, ra đời muộn hơn và thật lòng mà nói, ngoài chuyện chính trị, thì việc đóng góp mở mang nghề nghiệp không thể bì được các tờ hàng đầu như Gia Định Báo (15-4-1865), Nông Cổ Mín Đàm (1-8-1901), Nam Phong Tạp Chí (1-7-1917), Nữ Giới Chung (tháng 7-1918)… Về lịch sử, Thanh Niên có hình thức như truyền đơn, in trên giấy sáp, tên báo viết bằng chữ Việt và chữ Hán, đầu trang 1 bên trái có hình ngôi sao 5 cánh, giữa ngôi sao có chữ số là số kỳ của tờ báo phát hành. Báo phát hành bí mật và bất định kỳ, (200 – 300 bản/kỳ), mỗi kỳ hai trang, có lúc 4 trang, khổ giấy nhỏ 13×18).

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Mừng Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Là nhà báo 50 năm cầm bút, tôi phải đau lòng nói rằng chưa bao giờ uy tín báo chí giảm sút như hiện nay.

Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến. 

Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013. Xin trích dẫn đôi ba đoạn ngắn: 

“Những người trong giới trí thức, nghệ sĩ miền Bắc chuyển vào Sài Gòn ấp ủ bao nhiêu hoài bão để thực hiện ở quê hương mới. Tuy nhiên, dù có nổi tiếng thì họ cũng phải đối diện với bao khó khăn để hòa nhập vào đô thị mà họ sẽ sống lâu dài này. Báo Đời Mới năm 1954 đã làm một chuỗi phóng sự. Hồi mới vào của các văn nghệ sĩ, có nhiều chuyện cảm động đáng suy gẫm về những gì họ đã gặp.

Nhà văn Thượng Sỹ, một nhà văn nổi danh từ thời tiền chiến mà trong cuốn Bốn mươi năm nói láo, nhà văn Vũ Bằng thường nhắc tới. Gia đình ông vào Sài Gòn định cư chỉ có bốn người, gồm hai vợ chồng, đứa con nhỏ và chị giữ em. Tuy nhẹ gánh gia đình, tên tuổi từng nổi tiếng là nhà phê bình văn chương, cả nhà ông cũng gặp những khó khăn ban đầu… 

Một bữa, ra chợ mua đồ, bà vợ ông gặp một chị không quen, hỏi thăm qua lại thế nào mà chị nói ngay: ‘Thôi, chị cứ theo tôi về nhà ba má tôi. Chị nhận là bạn cũ của tôi, thế nào ông bà cũng cho ở đậu’. Cả nhà lại đến đó ở, một căn nhà lá rộng rãi ở đường Quang Trung, Gò Vấp. Ông bà chủ nhà đã lớn tuổi, còn làm việc được, chuyên nghề đúc ống cống xi măng.

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Khải - Dòng Chúa Cứu Thế: Đừng sợ ! Thái độ và cách ứng xử của Mục tử nhân lành

Chúa Giêsu nói: ĐỪNG SỢ!

ĐGH Gioan Phaolô II không ngừng lập lại: ĐỪNG SỢ.

Trong bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đừng sợ bạo quyền. Nhân dịp này tôi xin kể hai chuyện liên quan đến hai vị mục tử tôi gặp trong đời.

1.


Ngày trước, lúc tôi còn ở Tu viện DCCT Kỳ Đồng, Sài Gòn, cán bộ công an tôn giáo-chính trị tên B.P cùng các nhân viên thỉnh thoảng đến sách nhiễu và làm áp lực với Cha Bề Trên Giuse Cao Đình Trị về việc một số anh em thường nói và làm những việc mà nhà cầm quyền không thích, nhất là việc lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền.

Công an áp lực ngài không cho các anh em kia giảng dạy ở nhà thờ, không được ký tên vào các bản tuyên bố, không được tham gia vào Hội đồng Liên tôn, không được đi thăm các nhân vật đấu tranh đang bị quản chế hay tù đầy, không được đi giúp từ thiện cho các tín đồ của các tôn giáo tại những nơi bị đàn áp,nhất là các tín đồ Hòa Hảo chân truyền của cụ Lê Quang Liêm, vân vân.

Có lần tôi nghe Cha Cao Đình Trị nói lại thế này với hai viên CA tên B.P và T.M: Tại sao các ông cứ đến hạch hỏi tôi, sách nhiễu tôi và áp lực lên tôi? Tôi làm Bề Trên thật, nhưng đối với các vấn đề xã hội, các anh em linh mục kia nói gì, làm gì là quyền của họ. Họ có tự do của họ. Tôi không thể ngăn cản họ và không có quyền ngăn cản họ. Tôi chỉ có thể nhắc nhở họ và thậm chí cấm họ làm mục vụ khi họ làm sai giáo lý, sai giáo luật và luật Dòng mà thôi! Đừng tưởng tôi là bề trên thì có toàn quyền trên họ!

Thiên Hạ Luận (VOA Blog): Bắt Triệu Quân Sự là chuyện nhỏ…


(Hình: Trích xuất từ VnExpress.net)

So với nhiều sự kiện, vấn đề trong tuần, chuyện công an đã bắt – vô hiệu hóa Triệu Quân Sự rõ ràng là nhỏ nhưng nếu chịu khó ngẫm nghĩ, có thể thấy đây là dịp để thấy tường tận hơn về bản chất của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Việt Nam…

***

Triệu Quân Sự, 29 tuổi, nguyên quán ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một quân nhân từng phạm nhiều tội: Giết người, cướp tài sản, đào ngũ, vượt ngục, trộm cắp, cố ý gây thương tích nên bị Tòa án Quân sự phạt “tù chung thân”.

Hồi đầu tháng này, Sự tiếp tục vượt ngục và một viên đại tá quân đội là Giám thị Trại giam Quân đội Khu vực miền Trung, tọa lạc tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã cấp báo cho hệthống công quyền các tỉnh lân cận, đề nghị hỗ trợ truy nã Sự.

Cũng vì vậy, ngoài các đơn vị hữu trách của Quân khu 5 – Bộ Quốc phòng, còn có công an nhiều tỉnh ở khu vực miền Trung tham gia lùng bắt Sự, kèm cảnh báo gửi cho công chúng, nhắc họ phải hết sức cảnh giác vì Sự là đối tượng “đặc biệt nguy hiểm”!

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2020

Hồ Đắc Túc: Đem theo ký ức thành phố


Nhà thờ Kiruna - Ảnh Hồ Đắc Túc

Tôi đang ở một nơi gần Bắc cực, nơi người ta đang dời một thị trấn nhỏ. Và không khỏi nhớ đến cách người ta đối xử với các thành phố cũ trên quê hương.

Kiruna là thị trấn cực bắc của Thụy Điển, nằm trong Vòng Bắc Cực. Mùa đông, mặt trời hiện lúc gần trưa đến hai giờ chiều là biến. Mùa hè, mặt trời mọc giữa đêm. Tôi đến vào giữa mùa đông, đầu tháng 1 năm 2019. Lúc đó đã gần bảy giờ tối. Bác tài xe buýt thả xuống đâu đó, ân cần chỉ hướng tìm nhà khách. Tuyết kêu ken két dưới chân. Những hạt tuyết mịn thong thả rơi óng ả lấp lánh. Ánh đèn đường vàng vàng dọi xuống, màu tuyết trắng hắt nhẹ lên. Đôi khi một chiếc xe chậm rãi đi ngang. Cả không gian trắng sáng và trắng mờ ảo ảo. Âm 12 độ C.Không gay gắt, buốt giá hay tê tái gì cả. Lạnh một cách bình thản.

Giáng sinh đã đi qua nhưng dọc đường còn cây Noel trước vài sân nhỏ. Những căn nhà ở đây thấp, ánh sáng từ bên trong lọt qua khe cửa một dải vàng in trên tuyết. Đêm đông.

Quang Dũng: Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

— Phù Lưu Chanh, 1948

Phạm Viêm Phương: Phỏng Vấn Nhà Văn Cung Tích Biền (Kỳ 2)

Kỳ II.  Tiếng Nói của Đời. Tiếng Nói của Chữ.


“Văn chương, gọi là sống, khi nó còn Tiếng Nói. Tiếng Nói cho hôm nay. Tiếng Nói vì mai sau”. 

Phạm Viêm Phương: Nhân nói về tác phẩm của ông, tôi muốn hỏi về bộ hồi ký. Đọc bài phỏng vấn ông trên trang mạng www.talawas.org năm 2007, tôi thấy Lý Đợi có đề cập tới bộ hồi ký của ông. Hồi ký cũng là thể loại độc giả luôn tìm đọc Trên một thập niên rồi hẳn ông đã hoàn thành? 

Cung Tích Biền: Chưa hoàn thành. Chỉ có thể hoàn thành khi chính tôi phải tuân thủ một số tiêu chí nghiêm ngặt khi viết hồi ký.

Hồi ký là một loại rất dễ viết, nhưng với tôi, lại rất khó. 

Phạm Viêm Phương: Vì sao lại trớ trêu, khó lẫn dễ trong thể loại này?

Cung Tích Biền: Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả. 

Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký. 

Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu. 

Đàm Duy Tạo: Chương 32 Kim Vân Kiều Đính Giải

CHƯƠNG 32
KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp 
hiệu đính và phổ biến năm 2020
* * * * *
CÂU 3187 ĐẾN CÂU 3240
“Tình xưa điệu mới, khổ tận cam lai”


3187. Thoắt thôi tay lại cầm tay,
Càng yêu vì nết càng say vì tình.
3189. Thêm nến giá nối hương bình, [1]
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan. [2]
3191. Tình xưa lai láng khôn hàn,
Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
3193. Nàng rằng: Vì mấy đường tơ, [3]
Lầm người cho đến bây giờ mới thôi! [4]
3195. Ăn năn thì sự đã rồi!
Nể lòng người cũ vâng lời một phen.
3197. Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa. [5]
3199. Khúc đâu đầm ấm dương hòa, [6]
Ấy là Hồ điệp hay là Trang sinh. [7]
3201. Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ quyên? [8]
3203. Trong sao châu nhỏ duềnh quyên, [9]
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông ! [10, 11] 
3205. Lọt tai nghe suốt năm cung, [12]
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao. [13] 
3207. Chàng rằng: Phổ ấy tay nào,
Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy?
3209. Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai? [14]

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

Phạm Viêm Phương: Phỏng Vấn Nhà Văn Cung Tích Biền (Kỳ 1)

Kỳ I. Một cách Ra-Đi. Một Đời viết.


“Cái đuôi con thằn lằn đứt lìa này
biết bao giờ ráp lại 
cái thân mình thương tật Việt Nam”
[Lời Nhà văn Cung Tích Biền trả lời phỏng vấn]

Phạm Viêm Phương: Thưa Nhà văn, ông đã qua xứ người được hơn ba năm rồi, và chắc mọi sinh hoạt đã đi vào nề nếp ổn định?

Cung Tích Biền: Thưa anh, nói về sự ổn định của một người cầm bút thì hơi khó, dù “ổn định” hiểu theo cái nghĩa thông thường nhất.

Tôi xin nói thật một điều. Tôi nguyện ở lại với quê nhà, và đã ở được hơn bốn mươi một [41] năm, kể từ tháng Tư năm 1975. Nay phải sang Mỹ định cư, vì vợ, các con và các cháu của tôi đã có quốc tịch từ lâu bên ấy; và, vì tuổi tác gia đình không đành để tôi sống một mình thiếu người chăm sóc tại Sàigòn; những điều kiện ấy buộc tôi phải đành lòng.

Tôi vốn thức ngủ, từ hơn ba mươi năm nay, với nhiều căn bệnh nan nguy lẫn những bệnh mãn tính cần thường trực phải có thuốc chữa trị hằng ngày tới suốt đời. Tôi là một bệnh-nhân-chuyên-nghiệp của nhiều khoa, mà tiêu biểu là hai khoa ung thư và tiểu đường, tại bệnh viện FV [Pháp Việt] Sàigòn, rất hao tiền tốn của. Tại Xứ người, tôi được cung cấp đầy đủ không sót một món thuốc trị bệnh và vật dụng y khoa nào. Có thể nói là được cấp thừa những thứ mình cần có. Bốn tháng bắt buộc xét nghiệm máu toàn bộ, và tái khám một lần. Tất cả chi phí khám bệnh, chăm sóc y tế, tiền thuốc men là do nhà nước cho không, tôi không phải chi trả một đồng cắc nào. Lại được sống trong một đất nước tương đối là có đủ các quyền tự do hành xử, một xã hội văn minh, mọi người luôn dành lòng thân ái cho nhau.

Tôi xin mở một dấu ngoặc. Tôi không có ý ca ngợi nước Mỹ, điều ấy là không cần thiết. Văn minh hay lạc hậu, giàu nghèo, xấu tốt, nơi đáng sống hay nơi đang bị cướp mất quyền sống của con người, đó là những hiện thực, cái đang-là, trên mỗi đất nước. Định mệnh đã sẵn vậy rồi. Khi trả lời,nếu những điều tôi nói có liên quan tới người Mỹ, nước Mỹ, đó chỉ là những cứ liệu cần thiết phải nêu ra, để minh chứng, khi trả lời câu hỏi, mà thôi. 

Trần Hồng Nam: Chày tre cối đất

(Nhạc sĩ Phạm Duy đã mượn ý của bài thơ này để sáng tác ca khúc Tình Nghèo nổi tiếng từ giữa thập niên 1950)

Nhớ thuở nào
Anh cày thuê
Em chăn trâu
Bóng mát dưới cầu
Quen nhau
Một cỗ trầu cau
Nên đôi chồng vợ
Túp lều tre nứa
Dựng cuối vườn làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng
Chầy tre cối đất nhịp nhàng đã vui

Thế rồi
Mõ giục từng hồi
Giặc tràn mấy xứ
Lúa khoai mầu mỡ
Ai đi không tiếc ruộng đồng
Đường quê thiên hạ tiễn chồng

Em đưa anh ra lính
Giặc vào anh đánh
Giặc tan anh về
Làm sao đuổi hết giặc đi
Để cho cối đất chày tre nhịp nhàng
Bao giờ giặc chết trên ngàn
Giặc tan ngoài bể

Hoàng Quân: Tình Xưa

Nghe chương trình 70 Năm Tình Ca của nhà báo Hoài Nam là một trong những tiết mục giải trí giúp tôi “quẳng gánh lo đi mà vui sống”. Đi làm về, vội vàng cho xong những việc thường nhật ở nhà, tôi mở máy nghe nhà báo Hoài Nam kể chuyện. Nhà báo Hoài Nam dẫn dắt thính giả đi qua mấy chục năm tình ca Việt Nam. Hôm nay, ông kể về thời kỳ sau 1975.

… Thưa quý thính giả...

… giữa thập niên 1980, Bảo Chấn phụ trách hòa âm dĩa nhạc Sài Gòn. Giữa thập niên 1990 Bảo Chấn sáng tác các ca khúc… Cuối 1990 nhiều ca khúc được ưa chuộng... 

Nhạc tình thời kỳ trước 1975, tôi biết hầu hết các nhạc sĩ ông Hoài Nam nhắc đến. Rất nhiều bài hát ông trích dẫn, là những ca khúc tôi say đắm của những nhạc sĩ tôi ngưỡng mộ. Nhưng tôi lơ là với dòng nhạc sáng tác ở Việt Nam sau 1975 và ít khi tìm thấy bài hát “ruột” cho mình.

Bảo Chấn… từ trên đỉnh cao rơi xuống vực thẳm qua vụ án đạo nhạc đầu tiên tại Việt Nam. Tình Thôi Xót Xa …, giống tới …% bài hát I've Never Been to Me, của Charlene...

Nghe đến đây, tôi khựng lại. Bỗng nhiên, trong trí tôi văng vẳng nhạc điệu là la lááá la laa làà laa. Tôi vội vàng vào YouTube tìm bài hát. La la là, lá là la, la lá la là... Đây rồi! Đúng rồi! Đây là nhạc điệu của một trong những bài hát đã hớp hồn tôi trong những năm đầu ở Đức. Phút chốc, những kỷ niệm của thuở ban đầu ở Đức hơn 30 năm trước lũ lượt kéo về. Đây là căn nhà ở thành phố Duisburg, sáu chị em tôi xúm xít gần lò sưởi than, radio trong phòng khách ra rả suốt ngày. Kia là tòa nhà của trường học Đức ngữ ở tỉnh Heilbronn. Trong phòng chung 4 người, chị Thanh Tâm và tôi chia giường hai tầng. Tôi áp sát tai vào máy cassette hiệu Palladium bé tí nghe nhạc. Đó là ngôi trường trung học với ký túc xá ở làng Wolfhagen. Máy cassette nho nhỏ vẫn siêng năng ca hát cho tôi. Nhưng bấy giờ, âm thanh có thể hay hơn, vì nhờ các anh bạn cùng trường thâu nhạc từ những dàn máy hiện đại có amplifier Sony, Philips...

Trần Ngươn Phiêu: Gặp Hồ Hữu Tường (Trích từ tự truyện Gió Mùa Đông Bắc)

Lễ Giáng Sinh năm thứ Hai của Triệu ở Pháp, nhân dịp biết tin Mới nay đã kết hôn và vừa sanh được một cháu gái, Triệu lấy quyết định lên Paris để gặp lại Mới. Sinh viên ở Pháp thật ra rất ít người muốn lập gia đình sớm vì tất cả đều trông mong mau tốt nghiệp trước khi tính đến chuyện tương lai. Mới đã kết hôn với Huệ, một bạn gái gặp ở Pháp vì lỡ đã có con với nhau. Triệu vẫn biết là Mới là một sinh viên luôn luôn tích cực hoạt động trong giới Việt kiều ở Paris, từ việc in ấn sách báo hô hào ủng hộ công việc kháng chiến trong nước đến tổ chức các buổi trình diễn văn nghệ nhân những ngày lễ lớn. Vì bận rộn công việc cho cộng đồng nên Mới đã trễ nải việc học hành khiến Mới đã chưa qua được kỳ thi cuối năm thứ Nhất Y khoa. Gia đình của Mới ở Việt Nam vô cùng lo lắng và đã viết nhiều thơ cho Triệu, mong Triệu có dịp lên Paris gặp Mới để biết tình trạng gia đình Mới ra sao. Lúc Mới còn ở Việt Nam, Triệu đã thường có dịp đến thăm gia đình của Mới. Ba, Má của Mới đã thân mật coi Triệu như con trong gia đình. Cho Mới xuất ngoại du học là một hi sinh lớn đối với Ông bà. Nay bỗng nhiên Mới xin lập gia đình rồi việc học lại bị thất bại nên gia đình vô cùng lo lắng. Gia đình muốn nhờ Triệu tìm biết rõ tình hình và cũng mong Triệu ảnh hưởng được phần nào trong việc thuyết phục Mới phải lo việc tiếp tục học cho thành công. Thân mẫu của Mới còn có ý định xin vợ chồng Mới gởi con về Việt Nam để bà lo cho cháu, mong cho Mới khỏi bận tâm để tiếp tục việc học hành.

Nếu lần đầu tiên gặp Mới, Triệu đã phải theo Mới thay đổi từ Métro qua bus để ra ngoại ô Kremlin Bicêtre thì nay Mới đã mướn được một phòng nhỏ ngay trong trung tâm giới sinh viên Quartier Latin. Mới và Huệ, người bạn đời đồng tuổi đã cùng sống hạnh phúc ở chiếc phòng nhỏ này trong con đường hẹp có tên ngộ nghĩnh Rue de l’Abbé de l’Épée (Linh Mục mang kiếm). Triệu thường đùa với vợ chồng Mới: “Ông linh mục này chắc mang kiếm gỗ?” Con đường này đâm thẳng ra Đại lộ Saint Michel, con đường mà sinh viên nào học ở Paris cũng có dịp lê chân mòn gót giày lui tới. Phòng chỉ vừa đủ để kê một giường ngủ, một bàn nhỏ, một tủ đứng và một bồn rửa mặt. Thật ra với sinh viên mà có được một phòng ở ngay Quartier Latin là một việc vô cùng quý giá.

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

Vũ Quý Hạo Nhiên: George Floyd Là Thế Nào Mà Đám Tang To Dữ Vậy?

"Tôi nhìn ông ta (George Floyd) và tôi thật sự nghĩ người đó đã có thể là tôi." Đó là điều mà vị Surgeon General (Y sĩ trưởng) Jerome Adams nói về Floyd.

Tại sao vị bác sĩ đứng đầu ngành Y chính phủ liên bang Hoa Kỳ, một nhân vật cấp cao từng đứng chung sân khấu với TT Trump trong những buổi họp báo về coronavirus, lại tự so sánh mình với Floyd, một người tiền án tiền sự đầy một danh sách?

Vì Bác sĩ Adams biết một điều mà người da đen nào cũng biết nhưng nhiều người Việt Nam có vẻ không biết, đó là xã hội Mỹ, trong đó có cảnh sát, đối xử với người da đen bất công, không như với các sắc dân khác, bất kể người da đen đó là ai, giàu nghèo ra sao.

Kenneth Frazier cũng nói tương tự. George Floyd "đã có thể là tôi."

Kenneth Frazier là ai? Frazier là triệu phú, luật sư, CEO công ty dược phẩm Merck (ở nước khác như VN được gọi tên là MSD). Merck là công ty dược phẩm lớn thứ nhì ở Mỹ. Trong 500 công ty lớn nhất nước Mỹ, chỉ có 4 CEO người da đen và Kenneth Frazier là một.

Cũng như Bác sĩ Adams, tại sao ông Frazier tại tự so sánh mình với một người có tiền án tiền sự?

Cùng một lý do. Vì họ biết xã hội này bất công với mọi người da đen chứ không chỉ một mình George Floyd.

Ông Frazier nói cộng đồng người gốc Phi Châu xem video đó và nhìn thấy "người đàn ông gốc Phi Châu đó, đã có thể là tôi hay bất kỳ một người đàn ông Mỹ gốc Phi Châu nào, bị đối xử không như một con người."

Bác sĩ Adams kể ông nhiều lần bị cảnh sát hay bảo vệ chặn lại trong siêu thị, trong các cửa hàng, bị vu cáo những điều ông không hề làm.

Katsuji Nakazawa: Kịch tính trên chính trường Trung Quốc và sự bất an của Tập Cận Bình (Trần Hùng dịch)

Tin đồn đã lan truyền từ ngày hôm trước trong một số đảng viên Cộng sản Trung Quốc là sẽ có một thông báo quan trọng sắp xảy ra. Hóa ra đó là một món quà sinh nhật bất ngờ khiến các chuyên gia phải bàn tán không ngừng.

Trên trang nhất ngày 15 tháng 6 của tờ Học tập, một ấn phẩm chính thức của Trường Đảng Trung ương, là một bài viết toàn trang với dòng tít lớn kêu gọi đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” – tư tưởng chính trị đặt theo tên của nhà lãnh đạo – trở thành “Chủ nghĩa Mác của thế kỷ 21.”

Bài báo được viết bởi Hà Nghị Đình (He Yiting), phó giám đốc điều hành của Trường Đảng Trung ương và là một trợ lý thân cận của Tập, đóng một vai trò quan trọng trong việc biên soạn lý thuyết chính trị cho Tập, vốn được đưa vào Điều lệ Đảng tại Đại hội toàn quốc năm 2017.

Ông ta không chỉ đơn thuần là tìm cách lấy lòng Tập hay chơi chữ. Một tham vọng lớn được ẩn giấu đằng sau động thái này.

Về bản chất, đó là một nỗ lực nhằm tôn vinh hệ tư tưởng của Tập như một triết lý trăm năm có một dẫn đường cho tất cả người dân Trung Quốc và qua đó làm cho nó còn quan trọng hơn cả “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, hệ tư tưởng của người sáng lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Lời đề nghị này quả thật “hoành tráng” đến nỗi ngay cả Karl Marx chắc cũng sẽ phải ngạc nhiên ở thế giới bên kia. Trong bài viết, Hà Nghị Đình đưa ra lập luận rằng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Hoa ngày nay đã viết nên “chương tuyệt vời nhất của chủ nghĩa xã hội thế giới trong 500 năm qua” (?!).

Nói về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, Hà viết rằng “hai hệ tư tưởng, hai học thuyết và hai hệ thống của thế giới đang trải qua những biến đổi sâu sắc có lợi cho chủ nghĩa xã hội”.

Có nhiều hàm ý trong việc này. Việc bài viết được xuất bản đúng vào sinh nhật lần thứ 67 của Tập cũng có thâm ý lớn.

Trân Văn (VOA Blog): Còn đảng còn… ngập!



(Hình: Trích xuất từ website VnExpress.net)

Sau nhiều ngày cứ mưa là ngập (1), sinh hoạt xã hội bị lộn ngược (2), một số tờ báo ở TP.HCM vừa loan báo: Ban Cán sự đảng của UBND TP.HCM vừa trình Ban Thường trực Thành ủy TP.HCM đề nghị điều chỉnh Qui hoạch tổng thể Hệ thống thoát nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để có sự đồng bộ, làm cơ sở cho việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp hệ thống thoát nước ở TP.HCM. Cụ thể là sẽ mở rộng diện tích được qui hoạch cho thoát nước từ 650 km2 thành 2.095 km2 (3)

Tại sao đến giờ Qui hoạch tổng thể Hệ thống thoát nước cho TP.HCM vẫn nằm trong tay… Ban Cán sự đảng của UBND TP.HCM và nơi xem xét, quyết định chủ trương đầu tư để vẫn là… Ban Thường trực Thành ủy TP.HCM?..

***

Những cơn mưa mùa hè trong tuần trước và tuần này ở TP.HCM đã biến “Siêu dự án chống ngập” của TP.HCM thành trò hề đắt giá. Khoảng 10.000 tỉ đồng đã trút vào “Siêu dự án chống ngập” dường như chỉ có tác dụng làm… tắc hệ thống thoát nước.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hậu Coronavirus & Tập Cận Bình



Cuồng vọng là căn bệnh ung thư về đạo đức đối với tất cả những kẻ độc tài, càng là những kẻ độc tài nhiều quyền lực càng cuồng vọng, không cần nhắc tới nước ngoài, chỉ cần Trung Quốc thôi cũng đã có Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Minh Thái Tổ, Khang Hy, Càn Long, Mao Trạch Đông… ví dụ quá đầy đủ! Những nhân vật chính trị đầy quyền lực này cũng đầy đủ năng lực để cưỡng ép, khuếch tán những tế bào ung thư ra toàn xã hội.


Bữa mừng sinh nhật bác Hồ, Cậu Bẩy nổi hứng đọc mấy câu vè (nghe) không thanh tao lắm: 

Nếu ngày ấy, Paris trời trở lạnh
Cục gạch hồng không đủ ấm qua đêm
Bác chết cóng trên mình cô đầm nái
Thì ngày nay tổ quốc đã êm đềm

Vì không có khả năng sáng tác những câu thơ huê dạng (Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác hay Bác về … im lặng/ Con chim hót/ Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ) và cũng chả làm được mấy câu vè bỗ bã nên tôi chỉ giản dị nghĩ rằng: Người đi đâu cũng đặng, về lúc nào cũng xong, miễn là “cái tôi” của Bác nhỏ lại tí xíu – xíu nữa thôi – thì đỡ cho trăm dân muôn họ biết chừng nào! 

Hai ông Chế Lan Viên và Tố Hữu đỡ phải mang tiếng là những kẻ xu thời, ton hót. Cậu Bẩy cũng đỡ phải thốt lời cay đắng, mỉa mai. Cây rừng thì đỡ bị đốn chặt, để làm giấy in hằng trăm ngàn cuốn sách mà Bác tự viết về mình nhưng (làm bộ) ghi tên ai khác cho nó đỡ kỳ. Và bá tánh thì khỏi lâm vào cảnh chiến tranh (đến đôi ba bận) vì buộc phải đi theo “con đường mà Đảng và Bác kính yêu đã chọn.”

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

Tô Văn Trường: Phải đào tạo lại các quan toà



Cư tri cả nước vẫn còn nhớ phát biểu sau khi tuyên thệ nhậm chức Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, ông Nguyễn Hòa Bình hứa sẽ cùng tập thể lãnh đạo Tòa án Nhân dân Tối cao: “Chăm lo xây dựng đội ngũ thẩm phán giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, để nhân danh Nhà nước đưa ra những phán quyết thượng tôn pháp luật, nghiêm minh và công bằng”.

Ông Nguyễn Hòa Bình cũng đề nghị: “Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội ủng hộ và tăng cường giám sát hoạt động của Tòa án các cấp”. Có thể coi lời hứa của ông Nguyễn Hòa Bình trước Quốc hội cũng là lời hứa trước nhân dân cả nước bởi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân.

Nếu “cơ chế” mà biết nói năng, khi chứng kiến trên diễn đàn Quốc hội trong phiên thảo luận về kinh tế xã hội vừa qua tranh luận đánh giá về lĩnh vực tư pháp cụ thể là ngành tòa án, cử tri thấy cảnh tượng “ông nói gà, bà nói vịt” chắc nó sẽ phải thú nhận rằng:

“Tại ai cũng chẳng tại ai cả
Thôi cứ cho rằng nó tại tôi”

Cánh Cò (Blog RFA): Cởi truồng - thành tích mới của tòa án Việt Nam


Chị Phan Thị Mỹ Xuyên, một giáo viên, và cha chị là ông Phan Văn Tuấn đã cởi truồng để gây chú ý trước đoàn đại biểu Quốc Hội và công luận về vụ oan sai của gia đình mình. (Hình: Facebook Luân Lê)

Mấy hôm nay trên mạng xã hội xuất hiện một livestream ghi lại hình ảnh hai cha con cởi truồng chặn đoàn xe đại biểu Quốc Hội tại Hà Nội để kêu oan lấn lướt mọi tin tức thời sự đang xảy ra trong nước.

Người cha và chị con gái chạy như điên cuồng trước đám đông hiếu kỳ nhằm tiếp cận chiếc xe một cách tuyệt vọng. Chị con gái nằm lăn ra đường còn người cha cầm tấm biều ngữ cuống quýt chạy chung quanh con gái vừa như che chở vừa như cho con gái biết rằng cha vẫn ở đây, vẫn chảy dòng nước mắt căm phẫn với con một cách tuyệt vọng.

Hình ảnh ấy làm lương tri con người thắt lại. Hai cha con họ cũng là người Việt Nam, cũng nói tiếng Việt, thứ ngôn ngữ chung của hơn 90 triệu con người đang nói. Ai cũng hiểu họ muốn gì và ai cũng hiểu tại sao câu chuyện thương tâm này lại xảy ra.

Chị Phan Thị Mỹ Xuyên – một giáo viên, và cha chị là ông Phan Văn Tuấn đã đi khắp nơi kêu oan mấy năm qua, trong ấy có Tòa Án Nhân Dân Tối Cao nơi ông Nguyễn Hòa Bình làm chánh án nhưng không hề được trả lời. Vụ án oan của gia đình ông Tuấn cho thấy nền tư pháp tùy tiện của Việt Nam đã khiến không biết bao nhiêu gia đình đổ vỡ. Không biết bao nhiêu số phận trở thành bất hạnh và hai cha con ông Tuấn không phải là những người sau cùng.

Trần Thanh Cảnh: Thử bàn về đường lối phát triển kinh tế



Trước hết phải nói rõ: Tôi đã từng là đảng viên cộng sản, kết nạp từ hồi bộ đội trên biên giới phía Bắc kia. Nhưng đã lâu rồi, tôi không đi sinh hoạt, cũng chẳng đóng đảng phí, nên hiện giờ chắc chắn tôi không còn trong danh sách đảng viên. Thế nhưng tôi vẫn quan tâm đến đường lối chính trị của đảng, bởi nó thực sự ảnh hưởng rõ rệt đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Nhân hôm nọ đọc bài tham luận đại hội của một bạn văn, hiện vẫn đang là đảng viên. Nhân hôm nay lại có người đưa cho tập văn kiện, đánh dấu một chỗ cẩn thận và phàn nàn: "Đến giờ phút này họ vẫn u mê lú lẫn thế này thì dân tộc này, đất nước này còn khốn nạn! Bao nhiêu bài học từ quá khứ và ngay hiện tại sờ sờ mà họ vẫn dám ghi vào văn kiện trình đại hội... KINH TẾ NHÀ NƯỚC GIỮ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO... thì hết nói được điều gì thêm nữa!".

Tôi chợt nhớ lại...

Hồi chuẩn bị Đại hội 10, tôi đang là bí thư một chi bộ doanh nghiệp. Giám đốc nữa. Cũng tổ chức đại hội như ai. Một ông bạn, đảng ủy cấp trên bảo: "Sao ông chẳng đóng góp gì cho văn kiện vậy?". "Đóng các ông cũng có nghe đâu mà đóng?"." Nhưng vẫn phải có!". "Ok, sẽ có ngay"!

Tôi về soạn văn bản, đóng dấu ký tên đàng hoàng, gửi đảng ủy cấp trên. Đóng góp 2 ý kiến mà dân doanh nghiệp chúng tôi khi ấy thảo luận rất nhiều trong những buổi gặp nhau rưọu chè bia bọt tiếp khách:

Mai Vân (RFI): Biển Đông - Mỹ dùng chiến thuật “áp lực tối đa” đối với Trung Quốc

Ba hàng không mẫu hạm Mỹ đồng thời tuần tra ở châu Á, oanh tạc cơ B-1B được triển khai trên đảo Guam miền tây Thái Bình Dương, từ đó tiến hành các phi vụ trên Biển Đông, máy bay trinh sát không người lái Global Hawk cũng được đưa tới Nhật Bản để làm nhiệm vụ trong khu vực... 

Đối với giới phân tích, rất hiếm khi Hoa Kỳ tung một lực lượng hùng hậu như vậy đến vùng biển châu Á, một quyết định gắn liền với việc Trung Quốc ngày càng gia tăng các hành động khống chế Biển Đông.

Trong một bài viết ngày 15/06/2020 mang tựa đề khá châm biếm: “Ba tàu sân bay Mỹ tuần tra cùng một lúc ở Thái Bình Dương. Và Trung Quốc không vui - Three US Navy aircraft carriers are patrolling the Pacific Ocean at the same time. And China's not happy”, kênh truyền thông Mỹ CNN đã nêu bật phản ứng tức tối của Bắc Kinh trước hành động phô trương lực lượng để răn đe của Mỹ.

Ba hàng không mẫu hạm đồng thời hoạt động ở Thái Bình Dương


CNN trước hết xác nhận sự hiện diện đồng thời của ba hàng không mẫu hạm Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương, hai chiếc ở miền tây, chiếc còn lại đã tiến vào khu vực phía đông.

Trích dẫn các thông cáo báo chí do chính Hải Quân Mỹ công bố, CNN cho biết là hai chiếc tàu sân bay USS Ronald Reagan và USS Theodore Roosevelt đang tuần tra ở vùng biển miền tây Thái Bình Dương, trong lúc chiếc USS Nimitz cùng với hải đội hộ tống - rời cảng San Diego ở California ngày 08/06 – hiện đã có mặt ở phía đông.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Phạm Phú Khải: Nước Mỹ và vấn nạn nô lệ thời lập quốc


Biểu tình tại Los Angeles liên quan đến cái chết của ông George Floyd. Hình MARK RALSTON/AFP via Getty Images

“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.” – Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, công bố ngày 4 tháng Bảy năm 1776.

Một trong năm tác giả chính của tuyên ngôn này là Thomas Jefferson, như chúng ta đã biết [1]. Vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, vì thế, đã trở thành biểu tượng của tự do, bình đẳng, và nhân quyền trên toàn cầu.

Mọi người là gồm những ai?


Vấn đề là, Jefferson vào lúc đó có xem người da đen, người nô lệ, là con người không?

Không riêng gì Jefferson, những nhà lập quốc Hoa Kỳ khác, như George Washington, James Madison (một trong các tác giả chính của Hiến pháp Hoa Kỳ), Benjamin Franklin, James Monroe v.v… nghĩ sao về người da đen, về vấn đề nô lệ?

VOA Tiếng Việt: Chuyên gia Việt Nam- Hà Nội ‘đồng thuận’, ‘tích cực’ chuẩn bị khởi kiện về Biển Đông

Việt Nam chuẩn bị cho việc kiện Trung Quốc về Biển Đông trong hai năm qua và đang tích cực đẩy nhanh công việc, hai nhà nghiên cứu người Việt cho VOA biết hôm 16/6, ít ngày sau khi một viện trưởng cấp quốc gia của Trung Quốc nói Hà Nội “sẽ trả giá đắt” nếu kiện Bắc Kinh.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, thuộc Viện ISEAS-Yusof Ishak, nói trong giới lãnh đạo Việt Nam có “sự đồng thuận” về chính sách và chiến lược liên quan đến việc kiện Trung Quốc tại một cơ quan tài phán quốc tế.

Hà Nội tính toán kỹ


Các bước đi của phía Việt Nam và các phản ứng có thể đến từ phía Trung Quốc dường như đã được Hà Nội tính toán kỹ, tiến sĩ Hà Hoàng Hợp cho hay.

Các chuyên gia Việt Nam tham gia công tác chuẩn bị có nhiều liên lạc với các đối tác Mỹ, Anh, Pháp… trong những tháng gần đây, dù bị ảnh hưởng một chút vì dịch COVID-19 cản trở các cuộc gặp gỡ trực tiếp, ông Hợp nói thêm.

Việt Nam “đã làm rất nhiều, thúc đẩy quan hệ với các tòa án quốc tế, trong đó có PCA [Tòa Trọng tài Thường trực]”, thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên một ban nghiên cứu luật biển, hải đảo ở Việt Nam, nói với VOA.

Theo thạc sĩ Hoàng Việt, Hà Nội đến nay đã “tiệm cận gần hơn” và ông mô tả rằng việc chuẩn bị “cũng rất đầy đủ”.

Như VOA đã đưa tin, hôm 12/6, tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải Quốc gia của Trung Quốc, đăng một bài viết cho chương trình “Sáng kiến Tìm hiểu Tình hình Chiến lược Nam Hải” (tức Biển Đông), thuộc Viện Nghiên cứu Hải dương tại Đại học Bắc Kinh.

Minh Anh (FRI): Căng thẳng Mỹ - Trung và ba kiểu chiến tranh có thể xảy ra

Từ những điểm nóng địa chiến lược ở Biển Đông cho đến Đài Loan, rồi chiến tranh thương mại, tiền tệ, và công nghệ, xác suất đối đầu Mỹ - Trung dường như là khá cao, thậm chí một số chuyên gia cho rằng là không thể tránh khỏi.

Thời báo châu Á (Asia Times) đặt câu hỏi : Liệu những căng thẳng này có gây ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc hay không ? Và nếu có thì dưới hình thức nào ? Theo trang báo mạng Hồng Kông, những bài học trong lịch sử cho phép suy đoán có ba kịch bản chiến tranh có thể xảy ra giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới : Chiến Tranh Thế Giới lần 3 ; Chiến Tranh Lạnh 2.0 và các cuộc chiến khu vực ủy nhiệm.

Kịch bản thứ nhất có lẽ sẽ là một cuộc chiến tàn khốc nhất. Khi xem Trung Quốc như là một mối họa cho an ninh thế giới, tìm kiếm một sự bá quyền bằng cách bành trướng quân sự, liệu có nên ví nước này như là một Nhật Bản hay Đức Quốc Xã trong hai cuộc đại thế chiến đã qua ? Nếu như vậy, liệu Trung Quốc sẽ đi xâm lược, chiếm đóng, theo đuổi mô hình thực dân đế quốc, sẽ phạm những tội ác diệt chủng hay không ?... Tương tự, nếu cuộc chiến phải nổ ra giữa hai ông khổng lồ của hành tinh, điều gì có thể thúc đẩy Hoa Kỳ tham chiến ? Một sự kiện tương tự như cuộc tấn công Trân Châu Cảng chẳng hạn ?

Hình thức chiến tranh thứ hai chính là Chiến Tranh Lạnh 2.0 (phiên bản hai) với nhiều điểm khác biệt so với cuộc chiến tranh lạnh trước đây. Đây sẽ không còn là một cuộc chiến hệ tư tưởng, không gian và làm chủ công nghệ hạt nhân nữa, mà đó sẽ là một cuộc chiến thương mại, cuộc chiến tiền tệ, công nghệ, tin học, hay thậm chí là một cuộc chiến hỗn hợp, kết hợp nhiều yếu tố của tất cả hay một phần của những điều trên.

Cuộc tranh đua thống trị các định chế đa phương là một trong những mặt trận rất có thể của cuộc đọ sức 2.0 và điều này sẽ gây chia rẽ các nước trong quá trình phân cực mà ví dụ điển hình là dự án Vành Đai và Con Đường của Trung Quốc và chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

RFA: ĐBQH nói - “Không nên mượn bóng ma ‘thế lực thù địch’ để công kích người góp ý”

Tranh luận của ĐBQH gây chú ý dư luận


Nghị trường Quốc hội vào ngày 13/6 được cho là nóng lên khi nhiều Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) bày tỏ không đồng ý với ĐBQH Phạm Hồng Phong, hiện là Phó Chánh án TAND Cấp cao tại TP.HCM qua phát biểu liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải đang được dư luận đặc biệt quan tâm.

Trước vấn đề được ĐBQH nêu lên về sự hoài nghi của công luận đối với phán quyết của tòa án trong vụ Hồ Duy Hải, ông Phạm Hồng Phong tuyên bố rằng:

“Không nên chỉ qua một vài trang giấy hoặc bình luận của báo để nhận định quyết định của toà là không đúng. Hiện nay có nhiều thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước đòi tam quyền phân lập nên cần hết sức cảnh giác.”

Truyền thông trong nước tường thuật các ĐBQH đã tranh luận lại ý kiến này của ĐBQH Phạm Hồng Phong. Chẳng hạn như ĐBQH Hoàng Đức Thắng, tỉnh Quảng Trị cho rằng phát biểu của ĐBQH Phạm Hồng Phong “vô hình trung dẫn dắt suy nghĩ là ĐBQH nói theo báo chí, dư luận phản động, dễ dẫn tới tổn thương tư cách đại biểu". ĐBQH Trương Trọng Nghĩa, thuộc cử tri đoàn TP.HCM cũng phản bác lại qua trưng dẫn câu nói của Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng “không phải cứ thấy đỏ mà tưởng là chín”.

Tại phiên họp Quốc hội vào chiều ngày 15/6, ý kiến của ĐBQH Trương Trọng Nghĩa tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận khi tuyên bố rằng “trong hội trường Diên Hồng, thế lực thù địch chỉ tồn tại trong suy nghĩ người quy chụp”. Vị ĐBQH đến từ TP.HCM còn khẳng định “tất nhiên phải tìm cho ra, cho đúng thế lực thù địch để nghiêm trị, song không nên mượn bóng ma của chúng để công kích những người góp ý”. Ông Trương Trọng nghĩa nhấn mạnh:

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

Francis Fukuyama: Đại dịch và trật tự chính trị (Bản dịch của Mặc Lý)

Ba yếu tố quan trọng trong việc đối phó hữu hiệu với đại dịch là khả năng của nhà nước, lòng tin của xã hội và lãnh đạo (Francis Fukuyama).

(Bài “The Pandemic and Political Order” của Francis Fukuyama, đăng trên tạp chí Foreign Affairs số Jul/Aug 2020. Francis Fukuyama là một học giả về khoa chính trị học, kinh tế chính trị học và là một cây bút thường xuyên trên các tạp chí kinh tế và chính trị. Hiện nay ông là Olivier Nomellini Senior Fellow tại viện nghiên cứu Freeman Spogli Institute for International Studies, đại học Stanford. Ông là tác giả cuốn sách “Identity: The Demand for Dignity and the Politics of Resentment.)

Cuộc khủng hoảng lớn nào cũng kèm theo những hệ quả lớn, thường là khó thấy trước được. Cuộc Đại Khủng Hoảng thập niên 1930s đã kích thích chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Thế Chiến 2 nhưng đồng thời cũng dẫn đến chính sách Kinh Tế Mới, sự trỗi dậy của nước Mỹ như một siêu cường thế giới và cuối cùng là việc phá bỏ chế độ thực dân trên toàn thế giới. Cuộc tấn công 9/11 đã gây ra hai cuộc chiến mà nước Mỹ đã can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và những dạng Hồi Giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 làm nổi lên phong trào dân túy chống lại những định chế cũ, làm thay đổi nhiều lãnh đạo trên thế giới. Các sử gia sau này sẽ truy ra những hệ quả to lớn từ đại dịch gây ra bởi con vi trùng corona chủng mới này. Nhưng với chúng ta, sự thách đố là hình dung được những hệ quả này, ngay từ thời điểm này.

Lý do tại sao cho đến nay vài quốc gia đối phó với đại dịch hữu hiệu hơn những quốc gia khác thì khá rõ và chúng ta cũng có lý do để tin là sự đối phó hữu hiệu này sẽ tiếp tục như vậy. Đó không phải là vấn đề thể chế chính trị. Vài thể chế dân chủ đối phó cơn dịch tốt trong khi các thể chế dân chủ khác lại tệ hại, và ngược lại. Điều này cũng đúng với các chế độ độc tài chuyên chế. Ba yếu tố quan trọng trong việc đối phó hữu hiệu với đại dịch là khả năng của nhà nước, lòng tin của xã hội và lãnh đạo. Quốc gia nào có cả ba yếu tố này: guồng máy nhà nước vận hành tốt đẹp, một chính phủ mà người dân tin tưởng và lắng nghe , và lãnh đạo quốc gia có năng lực thì sẽ đối phó đại dịch rất hữu hiệu, giới hạn được thiệt hại phải chịu đựng. Những quốc gia nào có bộ máy nhà nước vận hành tồi tệ, xã hội phân rã và lãnh đạo yếu kém thì đối phó cơn dịch cũng tồi tệ, làm sinh mạng người dân và kinh tế của họ chịu thiệt hại nặng nề.

Bình dân Học vụ: Hỏi nhanh đáp gọn về vụ Đồng Tâm

Một điều ít người biết là, không nhất thiết phải trở thành người học luật hay chuyên gia về luật thì mới có thể nói về lẽ công bằng và bất công, oan sai trong xã hội. Nhìn chung, chỉ cần là một con người bình thường, lương thiện, với tư duy ở mức trung bình, là đã có thể có cảm nhận về công lý, và như thế là đủ để nhìn ra vô số bất cập, bất ổn trong xã hội ta hiện nay.

Bài viết này sẽ giải đáp một số thắc mắc về vụ Đồng Tâm dưới góc nhìn của một người bình thường như vậy.

1. Đất Đồng Tâm thực sự là của ai?


Để trả lời câu hỏi này, bạn phải tìm hiểu về lịch sử vùng đất này cũng như toàn bộ lịch sử tranh chấp giữa nhà nước và dân xung quanh nó. Đây là một việc khó và mất thời gian. Tuy nhiên, như đã nêu trên, bạn không cần phải biết chính xác đất này của ai thì mới có thể lên tiếng về vụ tấn công của công an vào thôn Hoành, xã Đồng Tâm (đêm mùng 8, rạng sáng mùng 9/1/2020). Đó là một chuyện hoàn toàn khác.

Xin nhắc lại, vấn đề tranh chấp đất ở khu vực cánh đồng Sênh (xã Đồng Tâm) và vụ tấn công của công an vào khu dân cư thôn Hoành (cũng xã Đồng Tâm) là hai vụ việc có bản chất pháp lý khác nhau, dù có liên quan với nhau nhưng phải được xem xét một cách độc lập về mặt pháp lý.

2. Nhưng theo Hiến pháp và luật pháp Việt Nam hiện hành, toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý, đúng không?


Đúng vậy. Điều 53 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

VOA Tiếng Việt: CDC chỉ đạo nhân viên không phản hồi yêu cầu phỏng vấn của VOA


Văn phòng CDC ở Atlanta, Georgia.

Một email của Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), được công bố theo Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA), chỉ đạo các nhân viên truyền thông không phản hồi trước các yêu cầu phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), theo tài liệu vừa được Viện Knight First Amendment Institute công bố.

Các tài liệu được công bố theo Đạo luật FOIA bao gồm email ngày 30/4 được gửi từ bà Michawn Rich với chủ đề là ‘Rundown.’ Email này mô tả quy trình xử lý các câu hỏi của báo chí gửi đến CDC để giúp một đồng nghiệp tên là Rachael ‘chuyển sang vai trò mới [của bà].”

Bà Rich, một phát ngôn viên của Bộ Nông nghiệp, đã được thuyên chuyển đến CDC để giúp xửlý các câu hỏi của báo chí liên quan đến đại dịch Covid-19 hồi đầu năm nay, theo trang Politico.Trong phần phê duyệt các câu hỏi báo chí trước khi chúng được trình lên Bộ Y tế và Dịch vụNhân sinh hay Văn phòng Phó Tổng thống, email nêu rõ: “LƯU Ý: theo quy định, không trình lên các yêu cầu của bà Greta Van Sustern [nguyên văn] hoặc bất cứ ai liên quan đến Đài tiếng nói Hoa Kỳ [VOA].”

Nguyễn Hùng: Khi người Anh giật tượng ‘cha già’ Bristol

Tháng Sáu này người Anh khởi đầu phong trào kéo đổ tượng đài của những nhân vật lịch sử đang đổ thêm dầu vào ngọn lửa chống phân biệt chủng tộc vốn bùng lên từ Hoa Kỳ sau cái chết tức tưởi của ông George Floyd.

Tượng của một mạnh thường quân có tiếng ở thành phố Bristol và cũng là người kiếm bộn tiền từ buôn nô lệ, ông Edward Colston, đã bị kéo đổthả xuống hồ hôm Chủ Nhật, ngày 7/6 trong cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc với sự tham gia của 10.000 người.

Ông Colston thực sự là cha già của thành phố Bristol nơi đường phố, trường học, khán phòng và trại tế bần mang tên của thương gia và chính trị gia qua đời từ năm 1721 nhưng tài sản ông để lại trong di chúc cho các hoạt động xã hội vẫn có tác dụng cho tới ngày nay. Sách giới thiệu về ông có tại Thư viện Bristol không lảng tránh chuyện ông từng tham gia buôn nô lệ và từng là lãnh đạo cao cấp của công ty buôn nô lệ thời thế kỷ 17 mang tên Royal African Company. Nhưng họ có ý nói ông cũng còn kiếm tiền bằng nhiều cách khác chứ không chỉ từ buôn nô lệ. Tác giả sách không lên án ông Colston mà chú ý tới các điểm son của ông. Chẳng hạn họ dẫn lời ông nói với bạn bè khi bị giục lấy vợ rằng ‘mỗi bà quá cơ nhỡ là vợ tôi và những đứa con mồ côi khốn khó của họ là con tôi’. Hay chuyện ông nói trong di chúc rằng ông chỉ mong có một đám tang khiêm tốn dù người ta vẫn cứ tổ chức lễ rước linh cữu linh đình.

Nhưng nhiều người không thể quên sự dính líu của Colston từ hơn ba thế kỷ trước tới công ty có nhiều năm độc quyền buôn nô lệ và bị buộc trách nhiệm đã quẳng hàng chục ngàn nô lệ xuống biển khi họ chết trên đường từ châu Phi tới các đồn điền ở Bắc Mỹ. Công ty Royal African Company cũng được cho là thường đóng ba chữ viết tắt của tên công ty RAC lên ngực của các nô lệ phi Châu, từ trẻ tới già. Những tranh cãi về quá khứ bất hảo của ông Colston đã khiến một số cơ sở ở Bristol trong đó có một trường học và một khán phòng đã bỏ tên ông ra khỏi tên trường và tên khán phòng trong vài năm gần đây. Nhưng một số nơi khác vẫn giữ trong đó có cả tên đường nơi có tượng bị kéo đổ của ông Colston.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

Đỗ Quý Toàn: Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (Tiệp ký. Bản mới 2020 - Kỳ 3)

Mắt nhìn và tiếng nói hồn nhiên


Tiếng mẹ đẻ là một phần của con người chúng ta. Được dùng tiếng mẹ đẻ là được sống đầy đủ hơn, dù chúng ta dùng để làm thơ, để viết thư, để nói điện thoại viễn liên, tâm sự lòng thòng, ngôi lê đôi mách.

Một trong những nỗi hận của Cao Tần, năm 1975 chạy qua Mỹ phải sống xa quê hương, là:

Chiều đi bát phố gặp toàn Tây
Bỗng tiếc xưa không làm quen cả xóm
…………………………………………..
Ngày ngày phất phơ giữa rừng mũi lõ
Tìm người tình Việt chưa biết tìm đâu.

Khi xưa Nguyễn Du sang sứ bên Tàu, biết sẽ trở về trong một thời gian ngắn chừng dưới một năm, mà đã than: Xa quê hương cả năm lòng đau như chết – Ra đường chỉ thấy toàn mặt lạ!

Kinh niên khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh

Nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ rất tự nhiên, và tiếng nói hồn nhiên, đột khởi nhất là thơ. Vì vậy có các tác giả trước giờ không từng in thơ cho ai coi, giờ đã ấn hành cả tập thơ chau chuốt, như Mai Thảo. Võ Phiến còn giữ kín những bài lục bát rất đẹp và xúc tích. Và trong Cao Tần, thơ bỗng thảng thốt cất lên không thể kiềm lại được. Có lẽ cuộc sống xa quê hương, phải nói và nghe thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ, đã tạo nên nhu cầu trở về với tiếng mẹ, thứ tiếng mà người ta hay thốt lên khi yêu đương, khi văng tục, chửi thề, hoặc kêu lên khi xúc động, đau đớn, mê man.

Nguyễn Văn Thùy: Nói Thơ Trong Văn Học Miền Nam

LTS. Bài này được trích từ cuốn sách “Phong Tục Tập Quán Miền Nam” của Nguyễn Văn Thùy, do Sự-thật Thật xuất bản tháng 5-2020. Đề bài do tòa soạn DĐTK đặt. 

Địa chỉ liên lạc mua sách :
1740 Sunningdale Road, #16-j
Seal Beach, CA 90740
E-mail: suthatthat.2013@gmail.com
 
DĐTK

Nói thơ là một loại diễn đạt dân gian dựa vào các truyện thơ mà người trình diễn thêm vào đó giai điệu, cách ngân nga, đưa hơi, tiếng đệm biểu thị đặc biệt của Miền Nam thành điệu nói thơ riêng. Các truyện thơđược người bình dân thay đổi tiết điệu để thố lộ theo kiểu "nghĩ sao nói vậy", lấy cảm hứng từ cuộc sống thường ngày.

Điệu nói thơ

Điệu nói thơ phổ biến nhứt là nói thơ quốc ngữ Lục Vân Tiên. Sau đó, nhiều điệu nói thơ khác ra đời như nói thơ Sáu Trọng, nói thơ Hai Miêng, nói thơ Thày Thông Chánh, hoặc mấy truyện thơ Nôm như Lâm Sanh-Xuân Nương, Phạm Công-Cúc Hoa. Sau hết phải kể đến điệu nói thơ Bạc Liêu do Thái Đắc Hàng sáng tác năm 1948.

Hình thức nói thơ Miền Nam có lẽ do di dân từ miền Trung du nhập trong quá trình Nam tiến, được xác định qua câu ca dao:

Kẻ cò người hén độc huyền,
Nói thơ Sáu Trọng kiếm tiền cho xong.

Nhưng phải công nhận, khơi nguồn nói thơ là truyện thơ Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu.

Người Miền Nam thưởng thức không phải bằng cách đọc, ngâm, cũng không phải hát. Mà là nói! Đấy là cách đặt tâm trí vào những vần thơ đặng thưởng thức thơ ca. Nói thơ là nói tiếng lòng của mình. Phần lớn các điệu nói thơ thường theo thể lục bát, có làn điệu u buồn, sinh ra nhiều suy tư.

Đàm Trung Pháp: Trở Lại Nghề Cũ Nơi Tạm Dung Mới (Tự Truyện Của Nhà Giáo Đàm Trung Pháp 2020)

SAN ANTONIO, TEXAS – HÈ 1976

Sau cả một năm trời như kẻ mất hồn vì quá tiếc thương những ngày tháng cũ, vào đầu hè 1976 tôi được tuyển làm “chủ biên tài liệu huấn luyện” (training materials editor) cho Northrop Aircraft Corporation mới trúng thầu khế ước huấn luyện Anh ngữ căn bản cho quân nhân không lực hoàng gia Saudi Arabia qua Defense Language Institute (DLI) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Gia đình tôi gấp rút chuyển cư từ Georgia đến San Antonio, Texas để tôi nhận việc làm trong Lackland Air Force Base khổng lồ. Công việc làm văn phòng nhẹ nhàng và phù hợp khả năng, với trách nhiệm “hiệu đính” (editing) và “đọc kỹ lần chót” (final proofreading) các tài liệu huấn luyện trước khi nộp cho nhà in, mà lợi tức cũng đủ mưu sinh cho gia đình. Đáng lý phải vui mừng ghê lắm chứ, vậy mà sao tôi vẫn một lòng xót xa tiếc nhớ – có lúc tới mức thẫn thờ – khung trời đại học Saigon thân yêu của tôi ! Giờ đây nghĩ lại, bảy niên học (1968-1975) gắn bó với Đại Học Sư Phạm Saigon thuở ấy vẫn còn là quãng đời nghề nghiệp “nhiều ý nghĩa nhất” cho tôi vì được phục vụ giáo dục tại chính đất nước mình. Trong bảy niên học ấy tôi – một giảng sư ngữ học Anh của ĐHSP – cùng các đồng nghiệp đã giúp trường đào tạo ít nhất là 250 giáo chức Anh văn trung học đệ nhất và đệ nhị cấp. Đồng thời, vì kiêm nhiệm chức vụ giám đốc Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ (lúc đó trực thuộc Bộ Giáo Dục để công chức sắp đi Mỹ sử dụng) tôi đã giúp Bộ soạn thảo toàn bộ học trình để nâng cơ sở giáo dục này lên cấp đại học với danh xưng mới là Trung Tâm Sinh Ngữ (được Bộ Giáo Dục chuyển giao cho Đại Học Sư Phạm Saigon năm 1971 và vẫn do tôi làm giám đốc). Cơ sở tân lập này có nhiệm vụ tổ chức các học trình chuyên giảng dạy Anh văn, Pháp văn, Nhật văn, và Hoa văn bậc đại học (2 năm), khai trương từ niên học 1972-1973, với một số nhân viên giảng huấn do các tòa đại sứ liên hệ tại Saigon cung cấp để tăng cường cho nhân viên giảng huấn cơ hữu của Trung Tâm. Kế hoạch nâng học trình Trung Tâm lên mức cử nhân (4 năm) và xây cất thêm lớp học đang tiến hành thuận lợi thì xảy ra quốc nạn 30-4-1975. Tiếc ơi là tiếc !

Phạm Phú Minh: Đỗ Ngọc Yến, Tuổi Học Trò

Lửa hồng cháy... cháy trong đêm dài...
Lửa là hồn trai soi vào đêm thâu
cho đời tươi mãi...
... Chập chờn trước mắt là ánh lửa soi
chập chùng sau lưng là non là núi
Lửa hồng cháy... lửa hồng ơi...
Đời người thanh niên là ánh lửa soi
Lửa hồng đốt cháy buồn bã sầu ai
Lửa hồng cháy... lửa hồng ơi...

Lớp Đệ Tam C Petrus Ký, đầu năm 1958
Đêm lạnh giá ở Đà Lạt, tháng Tư năm 1958, bên hồ Than Thở, cả bọn ngồi quanh đống lửa củi thông cháy phừng phừng say sưa hát. Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến, Phạm Phú Minh cùng ba người bạn lớp Đệ Tam C Petrus Ký đã làm một chuyến đi trại đầy mạo hiểm nhân kỳ nghỉ lễ Phục Sinh năm ấy. Tuổi học trò, mỗi thằng mang theo một cái xắc đeo vai đựng gạo và áo quần ấm, một chiếc xe đạp, đi xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt, vào giữa rừng thông bên hồ Than Thở dựng lều và sống ở đó bảy ngày. Tất cả do Đỗ Ngọc Yến làm đầu têu...

Đậu xong Trung học đệ nhất cấp mùa hè năm 1957, tôi từ Quảng Nam vào Sài Gòn để tiếp tục việc học. Vừa vào đến nơi tôi đọc báo thấy tin có cuộc biểu tình của học sinh ở trước cổng trường Petrus Ký đòi nhà nước mở thêm lớp để tất cả học sinh lớp Đệ tứ được lên thẳng lớp Đệ tam, chứ không phải qua cuộc thi tuyển như một quy định mới của bộ Giáo dục. Vì tôi xin vào Đệ Tam C trường Trương Vĩnh Ký được nhận ngay nên cũng không rõ chuyện ấy rồi ra đi tới đâu, và hầu như mọi việc nhanh chóng đi vào quên lãng. Trong lớp học mới, Yến và Lộc là những người bạn đầu tiên của tôi trên đất lạ. Tôi đã định sẽ học ban B, nhưng chỉ vì một câu nói của một người ở Hội An: “Anh có khiếu văn chương, sao lại học toán?” thế là tôi đổi luôn, vào ban C. Người ấy... thôi, đó là chuyện khác, tôi muốn nhắc chỉ vì câu nói đó mà tôi gặp và làm bạn với Yến và Lộc vào năm ấy.

Ban C là ban ít người học, vì hướng đi nghề nghiệp về sau không rộng mở như những ban khoa học. Người học ban C có thể vì tự cảm thấy mình “có khiếu văn chương” nhưng cũng có thể đơn giản vì dốt toán, hoặc ngại những môn khoa học như lý hóa, vạn vật. Vì

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2020

Thảo Trường: Trong Hẻm

Tôi không thể ngờ rằng ở nước Mỹ lại có một con đường hẻm như con đường hẻm gia đình tôi đang cư ngụ. Chúng tôi là một gia đình tị nạn cộng sản vì mất nước và bị tù đày nên phải lưu vong sang đây. Trên danh nghĩa là di cư đoàn tụ nhưng lại chính thức khởi đầu của một thời ly tán. Tôi và anh con trai út còn độc thân dọn đến cái xóm Mỹ lạ lùng này, ở trong một phòng thuê lại của một gia đình đồng hương nghèo tốt bụng. Nếu không tình cờ gặp người đồng hương cắt cỏ thì chúng tôi đã không biết tới cái xóm nhỏ này và đã không trở thành cư dân ở đây. Gia đình tôi xuất cảnh sang Mỹ vì tôi là sĩ quan QLVNCH bị cầm tù trong các nhà giam của cộng sản sau khi chế độ cộng hòa bị bàn giao cho chế độ cộng sản. Đáng lẽ tôi thuộc diện tị nạn chính trị có trợ cấp và bảo hiểm y tế, nhưng sau khi phỏng vấn, chính phủ Mỹ đã “hạch toán kinh tế” rất thực dụng, “bàn giao” tôi cho con gái và con rể tôi là những người đã bảo lãnh. Và tôi trở thành diện đoàn tụ trong tinh thần nhân đạo. Bao nhiêu phí tổn di chuyển từ Việt Nam qua và tái định cư tại Mỹ trong tinh thần nhân đạo ấy cho gia đình tôi, đều do con gái và con rể tôi đài thọ. Trong chiến tranh Việt Nam, để chống lại làn sóng bành trướng của cộng sản chỉ có các quân nhân QLVNCH chiến đấu và hình như đồng minh Mỹ tham dự, con gái và con rể tôi hồi đó còn bé tí, bây giờ, họ chịu trách nhiệm cho các lệnh hành quân ấy vì chúng tôi là những tù binh vô thừa nhận. Có người nói rằng hậu quả di hại của cuộc chiến là lâu dài, có lẽ, ít ra, cũng đúng trong những trường hợp như thế này. Hồi tôi nằm trong trại tù cộng sản, ở nhà vợ tôi đã tìm cách cho đàn con vượt biên, nhưng thất bại thì nhiều, chỉ may mắn có được một người con gái lớn đi thoát trong một chuyến cùng với một gia đình bà con trong họ. Con gái tôi nay đã có gia đình ba đứa con, vợ chồng nó đều có việc làm. Chúng đang hòa hợp với nhau để xây dựng một mái ấm gia đình với những đứa con đầy triển vọng. Khi đón bố mẹ và thằng em út sang để ở tạm trong nhà, tôi thấy đó đã là một sự hy sinh lớn của vợ chồng nó. Rồi thì phải giúp cho bố mẹ làm thủ tục giấy tờ, giúp cho đứa em trai đi học và đi làm giờ, giúp cho cả nhà làm quen với xã hội Mỹ... rồi thỉnh thoảng còn phải gửi về Việt Nam chút ít tiền giúp bốn đứa em còn ở lại vì chúng đã có gia đình và trên hai mươi tuổi. Bà vợ già của tôi coi sóc mấy đứa cháu ngoại cũng được vợ chồng nó trả cho mỗi tháng mấy trăm. Có lần đứa cháu ngoại ba tuổi ngô ngọng nói: 

– Ngoại ơi, tháng này Mom đã trả lương cho ngoại chưa? 

Nghe con trẻ ngây thơ hỏi, ngoại suýt bật khóc. Hồi còn ở Việt Nam có lần bà đi thăm ông trong tù cũng dắt theo một đứa cháu nội, lần đầu tiên ông cháu gặp nhau, ông bồng cháu cho ngồi trên đùi mà rung, nói chuyện với bà, thằng cu vểnh tai nghe ông bà nó rù rì bèn thắc mắc: 

– Nội ơi, sao ông nội lại gọi bà nội là... em? 

Vũ Hoàng Chương: Đăng Trình

Bao nhiêu hạt cát bến sông này
Đã bấy nhiêu ngàn thế kỷ nay
Ta vượt ngàn năm đường ánh sáng
Tự ngoài Vô Tận đến nơi đây

Trái Đất mừng ta nhạc vút cao
Băng sơn gầm thét hỏa sơn gào
Bóng ta in xuống chân trời mới
Nhật Nguyệt hai phương ngửa mặt chào

Muôn màu chen dự lễ đăng quang
Biển nước xanh lơ biển cát vàng
Hoa tím buông lơi sườn cỏ biếc
Ôi rừng trinh bạch đảo hồng hoang !

Nhưng vẻ thiên nhiên tự buổi đầu
Với thời gian đã mất về đâu ?
Núi sông mòn mỏi bao hưng phế
Hiện nét già nua mặt địa cầu

Đại lục buồn soi bóng đại dương
Cỏ hoa rừng đảo úa dần hương
Cũng như Trái Đất khô dần nhựa
Còn, chỉ còn dư vị chán chường

Đêm đêm ta giõi mấy tầng cao
Tìm một không gian mới lạ nào
Lấp lánh Quê Trời thơ hẹn bến
Giam mình Quê Đất mãi hay sao !

Nhân loại ra đi chẳng một lần
Hợp tan nào khác mảnh phù vân
Trên đà tốc độ siêu quang ấy
Một chuyến đăng trình một hóa thân

Này lúc vèo qua hệ Thái Dương
Ném sau ngàn đốm lửa kim cương
Mạn phi thuyền cháy lên rừng rực
Ta gõ mà ca : Thiên nhất phương !

(Hoa Đăng)


Phạm Phú Minh: Công việc xuất bản và phát hành tại miền Nam trước 1975

(Đã được tác giả thuyết trình vào ngày 6 tháng 12 năm 2014, trong cuộc hội thảo về Văn Học Miền Nam trước 1975 tổ chức tại Little Saigon, miền Nam California)

Nhà văn Phạm Phú Minh

Nếu so sánh nền văn học của một quốc gia như là phần trí tuệ và tình cảm của một con người thì việc in sách, phát hành sách, việc mua bán sách lại có thể ví như chuyện ăn uống, tiêu hóa, dinh dưỡng cho cơ thể của con người đó. Ít ra cái này cũng là điều kiện sinh tồn cho cái kia. Sách viết ra mà không có nhà xuất bản coi sóc in ấn, không có nhà phát hành phân phối để tới tay người dân mua về đọc và thưởng thức, thì coi như cuốn sách đó chưa hiện hữu trong đời sống của một quốc gia, của một cộng đồng. 

Chắc chắn rằng nghiên cứu về chính nền văn học của thời 1954 đến 1975 của miền Nam thì có phần dễ hơn là tìm hiểu một phần nào về việc in, xuất bản và phát hành sách của thời đó. Lý do là sách vở báo chí của thời Việt Nam Cộng Hòa miền Nam dù sao cũng còn có thể tìm lại dễ dàng, còn chuyện làm sao một bản thảo biến thành một cuốn sách, làm sao cuốn sách ấy tới tay người đọc thì chẳng có một tài liệu chính thức nào cả. Những điều chúng tôi sắp trình bày là một bức hình ghép từ nhiều mảnh ký ức, trước hết từ một số người đã làm công việc xuất bản thời trước 1975 như ông Võ Thắng Tiết (tức thầy Từ Mẫn), nguyên giám đốc nhà xuất bản Lá Bối, như ông Trí Đăng nguyên giám đốc nhà xuất bản Trí Đăng, và bà Võ Phiến là người trực tiếp điều hành nhà xuất bản Thời Mới. Một số

Vương Tân (Hồi ký): Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, Ông Ngô Đình Nhu và Luật sư Lê Quang Luật.

Sau khi Vương Tân với bút danh Hồ Nam công bố trên tuần báo Việt Chính của nhà thơ Hồ Hán Sơn, công trình lý luận Vượt Mác từ A tới Z, nhà chính luận Nguyễn Phan Châu tên khai sinh Tạ Chí Diệp đến kiếm Vương Tân tại tòa soạn tuần báo Việt Chính số 47Trần Hưng Đạo quận nhì Saigon, nói với Vương Tân là ông Ngô Đình Nhu muốn gặp để nói chuyện về văn hóa. Nguyễn Phan Châu - Tạ Chí Diệp là người từng lập chiến khu chống Cộng ở Bình Định cùng với nhà văn Võ Phiến. Ông Châu bị Cộng Sản tuyên án tử hình khuyết diện. Cuối năm 1954, trong khi tướng Nguyễn Văn Hinh nắm Quân Đội Quốc Gia VN với chức Tổng Tham Mưu trưởng lên đài phát thanh Quân Đội tuyên bố Quân Đội Quốc Gia không còn tín nhiệmThủ Tướng Ngô Đình Diệm, Nguyễn Phan Châu đã cùng Thái Quang Hoàng, Đỗ Mậu lập chiến khu Đông tại huyện Bác Ái tỉnh Phan Rang chống tướng Nguyễn Văn Hinh, ủng hộ thủ tướng Ngô Đình Diệm. Như vậy, Nguyễn Phan Châu tuy là con tinh thần của học giả Hồ Hữu Tường, và học giả Tường vì tham gia Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia của Đức Hộ Pháp của đạo Cao Đài Phạm Công Tắc, đã phải tránh mặt ra Rừng Sát, Nguyễn Phan Châu - Tạ Chí Diệp đưa cho Vương Tân tờ tạp chí Xã Hội và nói:

-Tất cả lý thuyết về Cần Lao Nhân Vị của ông Ngô Đình Nhu đăng trong tờ báo này qua bài nói chuyện của ông Ngô Đình Nhu tại trường Võ bị Quốc gia VN ở Đà Lạt mà Đỗ La Lam đã tóm lược toàn bộ, với sự góp ý của đích thân chủ nhiệm kiêm chủ bút Ngô Đình Nhu.

Bài nói chuyện về lý thuyết Cần Lao Nhân Vị của ông Nhu tại trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt sau này, được các lý thuyết gia của Đảng Cần Lao Nhân Vị dùng làm cái khung để xây dựng chính cương Đảng Cần Lao Nhân Vị mà ông Nhu có ý muốn để ông chú của Vương Tân là cụ Tạ Chương Phùng làm Tổng bí thư, nhưng ông chú của Vương Tân đã từ chối. Tôi nói, thì ông cứ đọc đi và cho ý kiến. Ông bảo:

- Gặp ông Nhu thì gặp nhưng mình nói trước không bàn chuyện chính trường.

-Mình sẽ gặp lại ông Nhu và sau đó thống nhất ngày gặp nhé.

Tôi hỏi ông Nguyễn Phan Châu rằng:

-Tôi sẽ đi xe Mô bi lét như ông vô dinh Độc Lập được không?

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

VOA Tiếng Việt: Thủ tướng Úc khẳng định không chấp nhận bị Trung Quốc đe dọa


Thủ tướng Úc Scott Morrison, Hình Sam Mooy/Getty Images

Thủ tướng Úc Scott Morrison hôm 11/6 nói rằng ông sẽ không để bị đe dọa trước “sự cưỡng ép”, sau khi Trung Quốc hạn chế một số hàng xuất khẩu của Úc và kêu gọi khách du lịch và sinh viên Trung Quốc tránh đến Úc, theo Reuters.

Căng thẳng ngoại giao giữa Bắc Kinh và Canberra đã trở nên tồi tệ kể từ khi Úc kêu gọi một cuộc điều tra quốc tế về nguồn gốc và sự lây lan của chủng virus corona mới, vốn xuất hiện đầu tiên ở thành phố Vũ Hán của Trung Quốc.

Vận động hành lang của Úc và Liên hiệp châu Âu đã khiến Hội đồng Y tế Thế giới hồi tháng trước ủng hộ một đánh giá độc lập về đại dịch virus corona.

Hôm 9/6, Bộ Giáo dục Trung Quốc khuyên sinh viên nước này nên xem xét lại việc chọn học tại Úc.

Giáo dục quốc tế đang là ngành xuất khẩu lớn thứ tư của Úc hiện nay, với trị giá 38 tỷ đô la Úc (26 tỷ USD) hàng năm.

“Chúng tôi là một quốc gia giao dịch mở, là bạn bè, nhưng sẽ không bao giờ đánh đổi các giá trị của mình vì sự cưỡng ép đến từ bất cứ đâu”, Reuters dẫn lại lời Thủ tướng Morrison nói với đài phát thanh 2GB hôm 11/6.

Thanh Hà (RFI): Trung Quốc, bài toán đau đầu của Liên Hiệp Châu Âu

Bruxelles đang tìm một chiến lược mới trong quan hệ với Bắc Kinh cho giai đoạn hậu Covid-19. Với Trung Quốc, Liên Hiệp Châu Âu dùng đòn “vừa đấm vừa xoa”, tránh lao vào một cuộc “chiến tranh lạnh” như thể để giữ khoảng cách với đồng minh Hoa Kỳ trước một đối tác thương mại quan trọng là Trung Quốc.

Trong thông cáo của Ủy Ban Châu Âu chiều ngày 10/06/2020 liên quan đến chiến lược chống xuyên tạc thông tin, Trung Quốc cùng với Nga bị Liên Âu nêu đích danh nhúng tay vào “các chiến dịch gây ảnh hưởng trong công luận và phao tin thất thiệt” liên quan đến đại dịch Covid-19. Mục tiêu của các chiến dịch bóp méo thông tin đó, theo Bruxelles, là nhằm phá hoại các tranh luận lành mạnh của các nền dân chủ châu Âu, gây chia rẽ trong công luận châu Âu.

Tuy nhiên lãnh đạo ngành ngoại giao Liên Âu, Josep Borrell cho biết trong cuộc họp trực tuyến hôm 09/06/2020 với đồng nhiệm Trung Quốc, ngoại trưởng Vương Nghị, ông đã trấn an Bắc Kinh rằng kịch bản “chiến tranh lạnh” sẽ không xảy ra và lưu ý chiến dịch chống bóp méo thông tin của Liên Âu không nhắm vào Trung Quốc.

Châu Âu không chỉ xoa dịu Trung Quốc trên mặt trận thông tin, mà ngay cả về phương diện quân sự. Ngày 09/06/2020, đối thoại chiến lược Âu – Trung lần thứ 10 đã diễn ra lâu hơn dự kiến. Josep Borrell và Vương Nghị đã thảo luận trong hơn ba giờ đồng hồ, và sau đó phía Bruxelles đã khẳng định rằng Liên Âu “không xem Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự”, “không đe dọa hòa bình thế giới” cho dù Liên Âu từng xem Trung Quốc là một “đối thủ mang tính hệ thống – systemic rival”.

Điều đó không cấm cản Josep Borrell khi trả lời báo chí đã nhìn nhận rằng Trung Quốc có thói quen “nói một đằng làm một nẻo” : Ngoại trưởng Vương Nghị đã nhấn mạnh với đồng nhiệm châu Âu “Trung Quốc không có tham vọng quân sự” nhưng Bruxelles “hoàn toàn ý thức được rằng Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng”.

Nguyễn Thuỳ Dương: Sự thật trần trụi

Hôm qua, tại Hà Nội, dân oan khỏa thân chặn xe đoàn Đại biểu Quốc hội. Tôi không lạ hình ảnh đó, tôi không chê trách họ. Không bao giờ, tôi mảy may có ý định đó trong đầu. Họ đã chạm tới tận cùng nỗi đau của kiếp nhân sinh. Cách đây vài tháng cũng tại mảnh đất Thủ Đô, cụ già 80 tuổi khỏa thân kêu oan. Đau đớn chưa? Nếu ai nhìn nhận hình ảnh đó đáng xấu hổ vô văn hóa, tôi lại nhìn thấy đó là hình ảnh đáng xấu hổ của lãnh đạo khi để dân phải thể hiện như thế.

Làm người, có ai muốn mình xấu xí, bất hạnh, khổ đau, mất mát đâu?

Làm người, có ai muốn mình nhục nhã, ô uế, bần cùng hèn hạ đâu?

Bao nhiêu lối rẽ, vậy mà, có những lối rẽ không phải do sai lầm bản thân mà do chính từ nguyên nhân chủ quan của người lãnh đạo, cơ quan hành pháp, cơ chết đất nước. Họ lột sạch quần áo, họ la hét nhố nhăng, họ gào thét khóc lóc, họ hung tợn cho đến không còn liêm sỉ là vì đâu? Vì ai đó đã đối với họ như súc vật, như con thú bị ép đến đường cùng. Họ còn gì để mất?

Thể diện, lịch thiệp, chờ đợi có ăn được không? Có bù đắp nỗi đau mất mát của họ được không? Bao nhiêu lần rồi hả quý vị Đại biểu? Bao nhiêu lần quý vị bước xuống xe hứa hươu hứa vượn, hứa nhăng hứa cuội, rồi kết cục được mấy ai viên mãn? Lãnh đạo Đất nước này chắc không lạ khi người dân lao ra trước đầu xe nộp đơn đâu nhỉ? Các vị biết không, một lá đơn được nhận gửi vào muôn vạn hy vọng của bao nhiêu ngày cùng cực đến tận cùng.

Để dân khỏa thân diễu phố kêu gào, lỗi của quý Đại biểu tính sao cho xiết? Lỗi của lãnh đạo Đất Nước lấy gì chứa hết?

Dân oan! Hai tiếng đơn giản, đau tận tim gan, nghẽn từng hơi thở. Bao nhiêu dự án thông qua với sự Biểu Quyết của Hội Đồng Nhân Dân, của Quốc hội, hoặc dự án được phê duyệt cấp Chính phủ là gần như từng ấy vùng đất, dân chúng chịu cảnh oán thán.

Sự thật chỉ có thể bị che giấu chứ không thể bị mất đi, dù có cố gắng đuổi dân oan khỏi Thủ đô, gây khó dễ để họ không thể tiếp tục đi đòi quyền lợi, thì sự thật dân oan vẫn tồn tại, dưới tên gọi này hoặc tên gọi khác.

Jeremy Page & Chun Hang Wong: Không chỉ ở Hồng Kông, Tập Cận Bình đang ‘thổi lửa’ ở các nơi khác như thế nào? (Nguyễn Thanh Hải biên dịch)

Chưa đầy bốn tháng trước, Tập Cận Bình đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất trong nhiệm kỳ lãnh đạo của mình khi ông hứng chịu nhiều chỉ trích vì những phản ứng lúng túng ban đầu trong cách xử lý dịch bệnh do coronavirus gây ra.

Kể từ lúc đó, ông Tập đã đảo ngược tình thế một cách ngoạn mục khi khống chế được sự lây lan của virus theo như báo cáo của Bắc Kinh trong khi Hoa Kỳ và nhiều nền dân chủ khác vẫn đang vật lộn với nó. Ông Tập đã nắm bắt được thời cơ để thúc đẩy một số khía cạnh quan trọng đối với “giấc mộng Trung Hoa” của ông về một Trung Quốc ở vị trí trung tâm trong tư cách một quốc gia thống nhất và hùng mạnh, sánh ngang hoặc vượt qua Hoa Kỳ, trong khi gạt qua một bên những thiếu sót của chính quyền trong việc đối phó dịch bệnh.

Hình minh hoạ, NICOLAS ASFOURI/AFP via Getty Images


Trong lúc Washington và các đồng minh bị phân tâm bởi đại dịch Covid-19 và sự đi xuống của nền kinh tế, ông Tập đã thực hiện những bước đi đầy táo bạo trong các vấn đề về Hồng Kông, Đài Loan, Biển Đông và tranh chấp biên giới với Ấn Độ, vốn là những vấn đề thường gặp phải phản ứng từ cộng đồng quốc tế.

Ông Shi Yinhong, cố vấn chính phủ và giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh cho biết: “Giới lãnh đạo cấp cao cho rằng Trung Quốc đang tương đối mạnh so với Hoa Kỳ vào thời điểm hiện tại” và “họ đương nhiên thấy đây là một cơ hội mang tính chiến lược”.

Các chuyên gia về chính trị Trung Quốc cho biết: Ông Tập đã đưa việc thiết lập quyền kiểm soát đối với các lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trở thành một phần không thể thiếu trong chương trình nghị sự của mình, và hiện ông Tập đang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ công chúng cũng như từ những thành phần diều hâu trong giới lãnh đạo chóp bu về việc đạt được những mục tiêu đó khi mà Covid-19 đã ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, cũng là một lời hứa khác của ông Tập.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

NHÀ VĂN NHẬT THỊNH ĐÃ QUA ĐỜI

Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được Cáo Phó của gia đình nhà văn Nhật Thịnh báo tin

Ông ĐINH NHẬT THỊNH

Pháp danh : PHÁP THÍCH

Bút hiệu NHẬT THỊNH

Chủ biên tuần báo văn học nghệ thuật Đất Đứng

Cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa

Đã qua đời ngày 5 tháng 6, 2020 (nhằm ngày 14 tháng Tư năm Canh Tý) tại bệnh viện UC Davis Health, Sacramento, tiểu bang California

Hưởng thọ 86 tuổi.


Tác phẩm nhiều người biết đến của nhà văn Nhật Thịnh là cuốn Chân Dung Nhất Linh, khởi viết từ năm 1964, xuất bản tại Sài Gòn khoảng năm 1966. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết, cho chúng tôi biết : “Tôi quen anh Nhật Thịnh từ năm 1964, khi anh viết cuốn Chân Dung Nhất Linh. Anh có đến nhà tôi ở chợ An Đông, hỏi mẹ tôi một số chi tiết về ông cụ, và tôi cung cấp cho anh một số ảnh để in trong sách. Cuốn sách này, cùng với cuốn Thân thế và Sự nghiệp Nhất Linh của giáo sư Lê Hữu Mục (xuất bản trước 1963), được giới nghiên cứu văn học xem là hai cuốn căn bản để nghiên cứu về Nhất Linh.”Sau 1975 tại Hoa Kỳ cuốn Chân Dung Nhất Linh đã được nhà Đại Nam tái bản bằng cách chụp và in lại.

Ra hải ngoại, định cư tại Sacremento thủ phủ của California, nhà văn Nhật Thịnh chủ trương tuần báo văn học nghệ thuật Đất Đứng, xuất bản đều đặn trong nhiều năm cho tới cuối năm 2019.

Trước sự ra đi của nhà văn Nhật Thịnh, Diễn Đàn Thế Kỷ xin chân thành chia buồn cùng phu nhân nhà văn, bà Nguyễn Thị Khuê Giung, cùng Tang Quyến.

Nguyện cầu Hương Linh Pháp Thích Đinh Nhật Thịnh sớm được vãng sanh cõi Tây Phương Cực Lạc Quốc.

DĐTK