Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

Hoàng Quân: Gừng Càng Già…

Soi Bóng- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Càng Cay


Xong đại học, tôi ngoài 35 tuổi. Như trúng số độc đắc, tôi nhận việc ở tổng hành dinh của một ngân hàng lớn trên nước Đức. Sếp cũng như đồng nghiệp, ngỡ tôi cùng tuổi với sinh viên (bình thường) mới ra trường, tức là ngấp nghé 25 tuổi. Bởi thế, họ chăm sóc tôi theo hàng con cháu. Tuổi không trẻ, tài không cao, là người Á châu duy nhất trong nhóm, tôi rét, đi đứng khép nép. Đồng nghiệp hướng dẫn điều gì, tôi ghi chép cẩn thận. Tôi để ý, bà Becker trong nhóm rất có uy. Tiếng nói của bà nặng ký lắm, có gang, có thép hẳn hoi. Nghe đâu, bà là dân kỳ cựu, chung vai, sát cánh với ngân hàng gần ba chục năm. Vì vậy, lúc nào được bà dạy dỗ, tôi nhất nhất khắc cốt, ghi tâm. Việc gì bà chỉ bảo tôi làm, sếp yên tâm, chẳng cần phải bới lông tìm vết. Sau vài tháng tôi gia nhập Phòng Tín Dụng Quốc Tế, tôi được dự sinh nhật của bà. Bà tròn năm mươi tuổi. Sếp nhỏ, sếp lớn đến chúc tụng. Mọi người cười nói vui vẻ, je oller, desto doller, càng già, càng gân. 

Tôi ngẫm nghĩ, ồ, thì ra, chuẩn mực gừng càng già, càng cay cũng có giá trị ở xứ này. Tôi cung kính chúc mừng sinh nhật bà. Bà tưởng tôi còn nhỏ, bằng tuổi con bà. Bà vỗ nhẹ vai tôi: “Mein Kind, Du hast noch viele, viele Jahre bis Du so alt bist wie ich. Con gái, còn nhiều, nhiều năm nữa con mới già bằng bác bây giờ”. Lúc đó, tôi tưởng chắc lâu lắm, tôi mới đến tuổi năm mươi. Mặc dầu làm phép tính đơn giản, chưa tới 15 năm, tôi sẽ bước vào tuổi ngũ tuần như bà. Tưởng tượng ít bữa, khi tuổi tôi tròn nửa thế kỷ, tôi được trọng vọng ra trò. 

Ba bài thất ngôn ngợi ca núi của Ngô Nguyên Dũng

Ảnh minh hoạ: Louis Đại Lượng Trần.

che không hết núi


mơ nghiêng bóng núi trườn lên ngực
một thế kỷ dài ôm nỗi đau
thấy ra góc chật xanh xao đất
rừng rú vàng chút lá chia nhau

đêm nghe trăng khuyết chiêm bao cạn
uống một ngụm trào búng huyết câm
săm soi tìm lại thanh xuân tóc
tay nhói thời gian di tích đâm

nguyệt tận tan nát bờ vũ trụ
sao rơi cứa vệt quá tầm tay
đời người ẩn hiện không quán trú
gió hú trùng vây cõi trong ngoài

Bùi Ngọc Tấn: Người ở cực bên kia

Tôi là Các-nô đây, thầy còn nhớ tôi không...
(Quốc văn giáo khoa thư)

Chiếc Toyota tay lái phải lượn sát hè, dừng lại rất êm. Máy vẫn nổ. Một người mở cửa bước ra. Mũ phớt, áo pôđơđanh lửng đến đùi, mặt tròn, da căng, miệng cười rất tươi. Người ấy giơ mũ chào hắn. Hắn biết ngay đấy là Đàm. Đúng, đấy chỉ có thể là vẻ mặt, là dáng người tự tin, thành đạt, là nụ cười rạng rỡ của các “sếp”.

Cửa hàng ghế sau bật mở. Hắn bước lên. Đàm ngồi ghế trên, cạnh lái xe, “ghế thủ trưởng”.

Ngồi cạnh hắn ở ghế sau, như Đàm giới thiệu là ông trưởng phòng tổ chức của Đàm.

Xe hiện đại, đệm nhung màu huyết dụ, lún người. Những đèn xanh, những kim đồng hồ đưa đi đưa lại trên bảng phía trước. Những bao thuốc lá “ba số” vứt cẩu thả trên xe. Tự nhiên hắn cảm thấy mình là người quyền quý. Ông trưởng phòng tổ chức mời hắn hút thuốc và một cách kính trọng đưa cho hắn cái bật lửa manhêtô xinh đẹp như một đồ trang sức. Đàm đã giới thiệu hắn là bạn. Là bạn của giám đốc, hắn xứng đáng được hưởng như vậy.

Hắn làm ra vẻ thân mật với Đàm. Thân mật và thông thạo:

- Cái xe này của các cậu, tàu Đ.N nó biếu phải không?

Đàm nháy mắt với hắn như muốn gạt ngay đi một đề tài kiêng kị.

Như vậy ông trưởng phòng tổ chức làm sao biết được đây là lần đầu tiên hắn với Đàm gặp nhau. Hắn bốc lên nói với Đàm và với ông trưởng phòng tổ chức một cách ngang hàng:

- Không mấy khi có bạn bè là các “sếp” thế này mà mình không có đứa con nào để nhờ vả. Ba đứa con lớn học ra trường đi làm rồi. Còn cháu út mới đang học lớp 12.

Đàm quay lại cười:

- Tưởng có đứa nào thì cứ quẳng hồ sơ cho anh Chí tôi đây.

Chí (tên ông trưởng phòng tổ chức) hoạ theo:

- Vâng. Cứ có chữ ký của thủ trưởng Đàm là “em” làm quyết định ngay.

Đó là một kiểu nói hắn đã nghe nhiều lần khi chầu chực các cửa xin việc cho ba đứa con lớn (tất nhiên cách nói không thân mật như thế này). Lúc đó hắn lặng người đi, rủa thầm: “Lại đồng đổ cho cốt, cốt đổ cho đồng”. Nhưng bây giờ hắn hóm hỉnh:

Võ Phiến: Một Chỗ Thật Tịch Mịch

Chàng vẫn tin rằng cứ đến giữa khung cảnh ấy mà an tọa, một mình, rồi lặng lẽ suy tưởng, thì chẳng mấy chốc sẽ có chim chóc đến làm tổ trên đầu. Một chiếc tổ chim thật rối trên đỉnh đầu, một vòng hoa tư tưởng đáng ước ao như thế có lúc chàng đã dám nghĩ là không khó. Chỉ cần đến đó, một mình. Chỉ cần có thế, nhưng ấy là điều chàng chưa bao giờ làm. Đâu khó gì? Chỉ vì chàng chưa bao giờ có cái duyên đối với một hành vi như thế.

Khung cảnh nọ cách xóm làng không xa. Nằm trên vùng đồi hơi cao. Xế trưa, thơ thẩn trên đồi, chàng trông xuống thấy dừa với tre trong xóm xanh um, nổi bồng lên cuồn cuộn như từng đám rong lớn trong hồ nước. Xóm làng coi xinh xắn, nhỏ hẳn đi. Nhà cửa thì thưa thớt, nằm khuất trong đám cây xanh. Và sự sinh hoạt của dân làng thì càng khuất xa hơn nữa. 

Tha hồ nhìn ngắm, vẫn không thấy động tĩnh gì. Lắng tai hàng giờ, không bắt được tiếng hát tiếng la nào. Họa hoằn, như có tiếng ai kêu ơi ới, nhưng tiếng văng vẳng rồi tắt ngay, mơ hồ, không rõ rệt.

Một đôi khi, mắt chàng bắt gặp một bóng người ngoài đồng, trên một con đường bờ ruộng ngoằn ngoèo nhỏ xíu. Một dáng người tí teo ngọ nguậy trong nắng xế bao la. Một chiếc nón trắng lấp lánh giữa đồng trống, tận xa tít... Chiếc nón lấp lánh, di động chậm chạp, trong lúc con ó rằn giăng đôi cánh xác xơ giữa nền trời, trong lúc con cuốc phát tiếng kêu đều đều trong nắng rưng rưng... Chàng càng có cảm tưởng xa cách cuộc sống khiêm tốn của xóm làng hơn bao giờ hết...

Chỉ cần dừng lại, an tọa, chẳng mấy chốc...

Nhưng chàng không đến đó để an tọa.

Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản

Bi Kịch Bản


Truyện dài

Trần Yên Hòa



Bạn Văn Nghệ xuất bản, 407 trang, giá $25. Liên lạc :

Trần Yên Hòa
2674 W Lincoln Ave # 225
Anaheim, CA 92801

tran_hao47@yahoo.com
(714) 360-7356





Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020

CẢM TẠ

Gia đình chúng tôi xin cảm tạ Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhật Báo Người Việt, Saigon Nhỏ, VOA, Trẻ Texas cùng những Bạn Thân, Bạn Văn, Độc Giả của Trần Mộng Tú ở trong và ngoài nước Mỹ đã đăng báo, điện thoại, điện thư, xin Lễ, cầu nguyện và chia xẻ với gia đình và cá nhân tmt về sự ra đi vĩnh viễn của em gái tôi là:

Đỗ Anh Tiến, khuê danh Trần Mộng Chi
Sinh ngày 5 tháng 4 năm 1946 - Mất ngày 16 tháng 3 năm 2020

Xin Ơn Trên đền đáp cho quý bạn và ban phúc lành cho tất cả chúng ta.

Thay mặt gia đình.

Đỗ Anh Tiến                                      Trần Mộng Tú

Im Lặng

(Buổi Sáng Tiễn Trần Mộng Chi)

Chiếc bình thân thể rỗng
Mỗi người đứng một góc
Tự ôm lấy mặt mình
Lẻ loi riêng mình khóc

Nhìn nhau nhìn nhau thôi
Bờ vai không cho gục
Bàn tay không cho nắm
Tự mình nắm tay mình
Ôi bàn tay cô độc!

TƯỞNG NIỆM THÁI THANH

1934 - 2020


Georges Etienne Gauthier: Nghĩ Về Nghệ Thuật của Thái Thanh (Bản dịch của Thu Thủy)

Trích từ tạp chí Bách Khoa số 372 xuất bản tại Sài Gòn ngày 1 tháng 7 năm 1972

Thái Thanh 1934-2020
“… Nàng là một người đàn bà hát như một người đàn bà. Nàng mang trong giọng hát những ngày vui tươi và những ngày sầu khổ của đời nàng, mang luôn cả những ngày hoan lạc nữa; khi thì là cái bộc trực của một tiếng thét, khi lại là những ngoắt ngoéo trong một trò đùa, có lúc là nỗi nhớ tiếc quãng đời đã qua, thường khi lại là niềm tin tưởng vào khoảng thời gian còn lại của cuộc sống; nhưng bao giờ nàng cũng mang trong giọng hát những đường nét của thân thể, những di động của mái tóc, những ngụ ý của ánh mắt, cho đến đỗi những ai biết nghe nàng hát cũng có thể như trông thấy được nàng. Không có gì là bí mật cả người đàn bà ấy là một nghệ sĩ xác quyết hơn bất cứ người nào khác, bởi vì ngay khi nàng thâm nhập vào một bài hát nào thì nàng trình bày lại cho chúng ta nghe với mối xúc động nhất, ý nhị nhất, khiến chúng ta hiểu bài hát ấy đến độ ngay lúc đó tất cả chúng ta đều trở thành nghệ sĩ cả …”

Những giòng này là viết về một nữ ca sĩ Gia-nã-đại chưa được biết đến ở Việt-Nam; nhưng tôi thấy nó hợp với Thái Thanh đến độ tôi không ngần ngại đem ra áp dụng vào trường hợp của nàng. Đôi khi người ta thường ngạc nhiên về sự gặp gỡ của hai định mệnh nơi Thái Thanh và Phạm Duy.

Thụy Khuê: Thái Thanh, tiếng hát lên trời

Thái Thanh - họa sĩ Đinh Trường Chinh

Trong những phút giây thiếu vắng trống trải nhất hay những nhớ nhung tha thiết nhất của cuộc đời, mọi hiện diện hữu hình đều vô nghĩa; ta chờ đợi một đổi trao, khát khao một giao cảm thì bỗng đâu, một hiện diện vô hình lóe lên tựa nguồn sáng, tựa tri âm: sự hiện diện của tiếng hát.

Nếu thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung, theo Valéry, hay thi ca là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào của con người, theo Croce, thì âm nhạc hẳn là tiếng nói của những trạng thái tâm hồn và nhạc công hay ca sĩ là nguồn chuyển tiếp, truyền đạt những rung động từ hồn nhạc sĩ đến tâm người nghe.

Thị giác giúp chúng ta đọc một bài văn, nghiền ngẫm một bài thơ, nhưng chẳng mấy ai có thể thưởng thức một bản nhạc bằng thị quan của riêng mình mà phải nhờ đến người trình diễn, đến ca công, ca kỹ. Ngàn xưa nếu người kỹ nữ bến Tầm Dương chẳng gieo "tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây" chắc gì ngàn sau còn lưu dấu vết Tỳ Bà Hành?

Sự biểu đạt tác phẩm nghệ thuật hay sự truyền thông cảm xúc từ nhạc bản đến thính giả, nơi một vài nghệ sĩ kỳ tài, không chỉ ngưng ở mực độ trình diễn mà còn đi xa hơn nữa, cao hơn nữa, tới một tầm mức nào đó, ca nhân đã sáng tạo, đã đi vào lãnh vực nghệ thuật: nghệ thuật vô hình của sự truyền cảm, nghệ thuật huyền diệu sai khiến con người tìm nhau trong bom lửa, tìm nhau trong mưa bão, nghệ thuật dị kỳ tái tạo bối cảnh quê hương đã nghìn trùng xa cách, nghệ thuật mời gọi những tâm hồn đơn lạc xích lại gần nhau dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu, nghệ thuật không tưởng đừng cho không gian đụng thời gian khi ca nương cất tiếng hát, tiếng hát của bầu trời, giao hưởng niềm đau và hạnh phúc: Thái Thanh. 

Quỳnh Giao: Thái Thanh, Lời Ru Của Mẹ


Cách đây đã hơn ba chục năm, khi viết về Thái Thanh với lời xưng tụng “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”, Mai Thảo không ngờ rằng chính lời phán xét ấy cũng đã... vượt thời gian. Thái Thanh hát từ đầu thập niên 1950. Sau thập niên 1970, tiếng hát ấy vẫn vang vọng thêm hai thập niên nữa. Và còn mãi mãi trong tâm tư chúng ta.

Cách đây rất lâu, trong dịp đi du lịch tại một xứ xa lạ và vào một nhà hàng Tầu (vì tên là Golden Lotus, Kim Lian) Quỳnh Giao bỗng thấy bồi hồi. Trong nhà hàng trang trí đỏ loét kiểu dáng Trung Hoa cho người ngoại quốc, âm thanh lại chất chứa hồn Việt.

Tiếng hát Thái Thanh, giữa một vùng xa lạ. Thời ấy ở tại vùng ấy, người ta chưa đủ tân tiến để hành hạ thực khách với loại ca khúc có giai điệu Hồng Kông, được gào lên bằng tiếng Việt theo kiểu Blues ở Bình Thạnh. Cho nên chủ nhà hàng, một phụ nữ Việt xa xứ từ trước thời thuyền nhân, chỉ có được một chút kỷ niệm gắn bó với cố hương vừa bị đẩy xa, là mấy băng nhạc Thái Thanh.

Lúc ấy, ngồi trong tiệm ăn Tầu mà nghe nhạc Việt, Quỳnh Giao đã nghĩ đến Thái Thanh như tiếng hát vượt cả thời gian lẫn không gian và chuyên chở cái tâm hồn Việt Nam trong một giai đoạn bi thương nhất.

Trong nửa sau của thế kỷ 20, tiếng hát Thái Thanh đã là di sản không thể mất của rất nhiều người Việt. Nó nổi trôi theo mệnh nước, nó thấm vào tâm tư chúng ta để thành tiếng hát tiêu biểu nhất từ thời phôi thai của tân nhạc cải cách, trải qua thời chiến tranh cho đến thời lưu vong và tàn tạ. Nếu chúng ta có thể thấy hạnh phúc và hãnh diện với tân nhạc Việt Nam thì thời kỳ nhiễu nhương nhất của lịch sử, từ những năm 1950 đến 1970, là thời kỳ đẹp nhất.

Và trong giai đoạn ấy, Thái Thanh là một tiếng hát không thể quên được.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

RFA: XHDS có vu cáo, xuyên tạc quân đội nhân dân Việt Nam?

Lực lượng quân đội Việt Nam.

Người giữ chức vụ cao nhất trong quân đội Việt Nam bị xử lý kỷ luật tính đến thời điểm hiện nay là cựu Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, nguyên Thứ trưởng Quốc Phòng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Ông Nguyễn Văn Hiến bị khởi tố từ ngày 22/10/2019 và vừa bị Viện kiểm sát Quân sự Trung ương hôm 17/3, truy tố về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng", theo điều 360 Bộ luật Hình sự 2015.

Cựu Đô đốc Nguyễn Văn Hiến bị truy tố vì liên quan vụ án Đinh Ngọc Hệ (tức Úc Trọc), Bùi Văn Nga và những tòng phạm về tội vi phạm các qui định về quản lý đất đai theo khoản 3 điều 229; và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 2015. Khoản tiền thiệt hại cho ngân sách mà ông Nguyễn Văn Hiến gây ra được nói gần 1000 tỷ đồng.

Và từ đầu năm 2019 đến nay, đã có hàng chục tướng, tá quân đội và công an khác bị kỷ luật, xử lý vì để xảy ra những vi phạm trong công tác quản lý đất đai, làm kinh tế.

Vào ngày 8/3/2020, Cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng đã bắt tạm giam, khám xét nhà riêng Đại tá Đỗ Văn Sang, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh đoàn 15 và Đại tá Phạm Văn Giang, nguyên Giám đốc Công ty 72 thuộc Binh đoàn 15 để điều tra về hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nguyễn Đình Cống: Lòng yêu nước, Đảng Cộng sản và Lập Quyền Dân



Trong hơn một thế kỷ qua chúng ta nói nhiều đến Lòng Yêu Nước. Nó đã là động lực của nhiều thế hệ trong công cuộc giành Độc lập. Nhưng hiện nay và trong tương lai nó sẽ tác động như thế nào?

Tuyên truyền của CSVN cho rằng chính họ đã là chỗ dựa cho Lòng yêu nước của dân Việt. Nhưng hình như không phải thế mà ngược lại!

ĐCS đã dựa vào lòng yêu nước của dân Việt để phát triển, giống như tầm gửi bám vào cây chủ. CS theo chủ thuyết Mác Lê về cách mạng vô sản, thế nhưng thời gian đầu họ phải dựa vào lòng yêu nước để tập hợp lực lượng. Phần đông người thuộc thế hệ đầu tiên gia nhập ĐCSVN, đặc biệt là các trí thức, chủ yếu vì lòng yêu nước, muốn đánh đổ thực dân, giành độc lập chứ mấy ai đã quan tâm đến đấu tranh giai cấp, đến vô sản chuyên chính.

ĐCSVN, ban đầu là đảng cách mạng dựa vào lòng yêu nước của dân để phát triển, khi giành được chính quyền rồi thì trở thành đảng thống trị. Họ tự tuyên bố là đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền, nhưng thực chất là đảng độc tài toàn trị. Họ tuyên truyền là giành chính quyền về tay nhân dân, nhưng thực ra là dùng sức dân để giành chính quyền cho họ. Thực chất ĐCS đã cướp quyền của dân. Họ lợi dụng và làm hoen ố Lòng yêu nước bằng cách bắt gắn nó với yêu CNXH, tức là yêu ĐCS. Họ dựa vào Lòng yêu nước của các đảng viên và của toàn dân để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, nhưng khi họ thực hành cách mạng vô sản, chuyên chính vô sản thì phạm phải nhiều thất bại như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, kinh tế quốc doanh, đàn áp tự do tư tưởng, độc quyền đảng trị , lệ thuộc Trung cộng, v.v.

Lê Quỳnh phỏng vấn BS Ngô Thế Vinh: Vũ Khí Giải Cứu Mekong - Chất Xám Và Tiếng Nói

Ngô Thế Vinh đứng bên chân con đập Mạn Loan 1,500 MW, con đập dòng chính đầu tiên trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam trên sông Lancang-Mekong. [photo by NVH 2002]
Lời Giới Thiệu: Đã tới năm 2020, mà vẫn còn một số bài viết mới phát tán trên mạng, và tác giả bài viết ấy chỉ dựa vào con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam là không đáng kể, đó như một biện minh che chắn cho những việc làm sai trái của Bắc Kinh trên dòng Mekong trong suốt hơn 3 thập niên qua. Xây chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỉ mét khối nước [thời điểm 2016], còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới hạ lưu. Thiếu nguồn nước ngọt, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng châu thổ phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa. Đó là tình cảnh bi thương của 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây 3 tháng đầu năm 2020 hiện nay. Bài "Phỏng vấn Bs Ngô Thế Vinh - người đi dọc 4,800 km sông Mekong" được phóng viên môi trường Lê Quỳnh thực hiện, đã được đăng trên báo in Người Đô Thị [25/04/2016] với tiêu đề: “Vũ khí giải cứu Mekong: chất xám và tiếng nói”, bài phỏng vấn đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, cũng để trả lời quan điểm sai trái cho rằng Cửu Long Cạn Dòng không phải do Trung Cộng xây chuỗi đập thuỷ điện trên thượng nguồn. [Viet Ecology Foundation]

Phỏng vấn Ngô Thế Vinh – người đi dọc 4.800 km sông Mekong


Thưa, dù đã 17 năm trôi qua, từ những chuyến đi dọc dòng sông Mekong dài 4.800km, bức tranh sống động mà ông “phác họa” về những tác hại khủng khiếp do các con đập thủy điện gây ra cho đời sống người dân lưu vực sông Mekong đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Từ những dự cảm rất sớm về những hậu quả do các đập thủy điện gây ra trên dòng Mekong và cho ĐBSCL nói riêng, ông nhận định gì về thực trạng hiện nay?

Năm 2000, khi nói “Cửu Long cạn dòng”, nhiều người xem đó là phát biểu “nghịch lý” bởi đó là năm có lụt lớn ở miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ, mới nghe tên cuốn sách đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói “Cửu Long cạn dòng” là thế nào?” Nhưng cần hiểu rằng lũ và hạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và đến nay thì mức độ càng trầm trọng và gay gắt. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho “thiên tai”, mà cần can đảm gọi cho đúng tên những yếu tố “nhân tai” bởi do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy từ nhiều thập niên qua, đã làm gãy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của dòng Mekong.

Vũ Quí Hạo Nhiên (VOA Blog): Mùa Corona cần biết - Cái gì dơ nhất?



Nhân dịch coronavirus, mới ngồi chém gió với hai đồng nghiệp trong khoa Sinh vật của Coastline College. Một bà là bác sĩ giải phẫu thần kinh (neurosurgeon), một ông là tiến sĩ siêu vi trùng học (virology).

Tạm ngưng chút để nói về ngôn ngữ. Trước 75 ở miền Nam gọi con bacteria là vi trùng và gọi con virus là siêu vi trùng. Phòng thí nghiệm laboratoire de virologie ở viện Pasteur chẳng hạn, dịch ra tiếng Việt là Phòng thí nghiệm Siêu vi trùng học. Hiện giờ trong nước gọi con bacteria là vi khuẩn và con virus phiên âm thành vi-rút chứ không dịch.

Cá nhân tôi thấy cả hai cách gọi đều có điểm hay và điểm không hay. Gọi là siêu vi trùng thì hay, vì là tiếng Việt, nhưng cũng có thể hiểu nhầm. Hiểu là một con “trùng siêu vi,” nhỏ vô cùng nhỏ, thì đúng, nhưng nếu hiểu thành một con “vi trùng siêu” thì sai, vì nó không phải vi trùng. Vi trùng có đầy đủ một tế bào, có nhân, có các thứ. Con virus không đủ một tế bào, không có nhân, không có mitochondria, ribosomes -- nói chung trong lớp học về tế bào dạy những từ ngữ nào thì virus không có cái đó.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

PHÂN ƯU

Được tin rất buồn, người em út của nhà thơ/nhà văn Trần Mộng Tú

Bà ĐỖ ANH TIẾN

Nhũ danh MARTHA TRẦN MỘNG CHI

Đã qua đời trong trận đại dịch Covid.19 tại Seattle, tiểu bang Washington 

Vào ngày 16 tháng 3, 2020

Hưởng thọ 74 tuổi.

Diễn Đàn Thế Kỷ cùng các văn hữu, thân hữu của nhà thơ/nhà văn/thành viên Nhóm Chủ Trương DĐTK Trần Mộng Tú xin chân thành chia sẻ nỗi mất mát này cùng Chị và toàn thể tang quyến.

Nguyện xin Thiên Chúa và Mẹ Maria đón nhận Linh hồn của Martha Trần Mộng Chi sớm về hưởng Nhan Thánh Ngài trên nước Thiên Đàng.

Hình Freepik

DIỄN ĐÀN THẾ KỶ
Và Thân Hữu, Văn Hữu :

Bà Võ Phiến, Bà Nguyễn Mộng Giác, Đoan Thư - Tôn Thất Kỳ, Trần Huy Bích, Song Chi, Tràm Cà Mau, Nguyễn Duy Chính, Nguyễn Đình Chu – Phạm Hảo, Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Dung, Nguyễn Tường Giang, Phạm Phú Thiện Giao, Nguyễn Kim Hằng, Phạm Lệ Hương, Bùi Bích Hà, Vũ Quý Hạo Nhiên, Lê Hữu – Nguyễn Nghiệm, Phạm Xuân Hy, Nguyễn Phi Hùng, Phạm Phú Minh, Trần Doãn Nho, Đàm Trung Pháp, Đinh Xuân Quân, Đỗ Quý Toàn, Trần Thị Thắm, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Tường Thiết – Thái Vân, Trịnh Y Thư, Lê Thành Tôn, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Tường Việt, Nguyễn Hùng Vũ, Nguyễn Vũ, Trương Huy Văn.


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU


Lê Phú Khải: Thư ngỏ gửi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam: Các vị phải hành động trách nhiệm để cấp cứu đồng bằng sông Cửu Long!

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang bị Trung cộng ích kỷ và đểu cáng bức tử, vì chúng đã xây dựng một chuỗi 8 con đập thuỷ điện với tổng công suất 15.400 MW ngay trên dòng chính thượng nguồn sông Mekong!

Trung cộng còn giúp đỡ các nước Thái Lan, Lào… xây các đập thuỷ điện trên dòng Mekong.

ĐBSCL đang bị bức tử. Hàng trăm ngàn hecta lúa chưa ngậm đòng đã chết lụi! Hàng trăm ngàn hộ dân ĐBSCL đang chết khát nước ngọt!

Vì lẽ đó, tôi rất đau đớn và phẫn nộ khi thấy những người đang cầm quyền – dù không được dân bầu – vẫn thờ ơ vô trách nhiệm, chỉ lo sắp đặt, cơ cấu cho phe cánh của mình ở đại hội 13 sắp tới.

Mỗi năm, dòng sông vĩ đại và thiêng liêng này chảy đi 500 tỷ mét khối nước, với lưu lượng 13.200 m3/giây, chuyên chở 1000 triệu tấn phù sa màu mỡ… Đó là sự “hẹn hò của lịch sử” chờ đón người Việt đi khai hoang mở đất về phương Nam.

Thưa quý vị, với tư cách là phóng viên thường trú của cơ quan ngôn luận cấp trung ương tại ĐBSCL hơn 10 năm, và đặc trách theo dõi đồng bằng 10 năm sau đó, tôi đã viết hằng ngàn tin, bài cho đài báo, và đã xuất bản 6 đầu sách về vùng đất ĐBSCL mà tôi yêu quý gắn bó. Ba trong sáu cuốn sách đó đã được tái bản, có cuốn được tái bản đến lần thứ hai như cuốn Đồng Tháp Mười hôm nay. Cuốn cuối cùng là Đồng bằng sông Cửu Long – 40 năm nhìn lại được in năm 2015 có độ dày 360 trang.

Trong những cuốn sách được viết bằng mồ hôi và trí tuệ đó của tôi, tôi đã phản ánh, dự báo tất cả những hiểm hoạ đe doạ ĐBSCL là thiếu ngọt và xâm nhập mặn. Sách được bán hết và còn tái bản, nhưng chỉ có các cháu sinh viên, các nhà trí thức, nhà nghiên cứu mua! Tức là những người không có quyền lực gì đọc (!). Tôi có “điều tra” phỏng vấn một vài vị bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng nông nghiệp và cán bộ lãnh đạo ở ĐBSCL, không ai đọc sách của tôi cả! Thậm chí, có Tổng bí thư, tôi gửi tặng sách, cũng không hề có hồi âm! Với tư duy nhiệm kỳ, người ta còn lo giữ ghế và vơ vét!

ĐBSCL tươi đẹp và đau khổ với 13% diện tích của cả nước, 18% dân số cả nước, có 47% diện tích đất lúa cả nước, có sản lượng 56% sản lượng lúa cả nước, chiếm 90% lượng gạo xuất khẩu hằng năm. ĐBSCL có 40% sản lượng thuỷ sản của cả nước và 60% sản lượng xuất khẩu thuỷ sản hằng năm. Riêng con cá tra (trong sổ tay phóng viên thường trú của tôi), năm 2008 sản lượng đạt 1,2 triệu tấn, xuất khẩu 640.829 tấn, trị giá xuất khẩu đạt 1,453 tỷ USD, chiếm 32,2% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản cả nước.

Diêm Liên Khoa: Sau Covid-19, Còn Điều Gì Nữa? (Bản dịch của Vũ Ngọc Khuê) 



Vào ngày 21 tháng Hai, Diêm Liên Khoa, nhà văn, giảng viên và chủ nhiệm khoa Văn hóa Trung Quốc tại Đại học Khoa học Kỹ thuật Hong Kong, đã giảng bài trực tuyến cho lớp sau đại học về coronavirus, ký ức cộng đồng và những người sáng tác sẽ nói về đại dịch này như thế nào. Dưới đây là chuyển ngữ của bài giảng đó, được xuất bản lần đầu tiên trên tờ ThinkChina.


Các trò thân mến,

Hôm nay là ngày học trực tuyến đầu tiên của chúng ta. Trước khi vào bài, cho phép tôi nói lạc đề một chút.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần mắc cùng một lỗi hai đến ba lần, cha mẹ thường lôi tôi ra trước mặt họ, chỉ tay lên trán tôi rồi nói:

“Sao mày nhanh quên thế?”

Trong lớp tiếng Trung, mỗi lần tôi quên bài đọc thuộc lòng sau khi đã đọc đi học lại không biết bao nhiêu lần, giáo viên sẽ yêu cầu tôi đứng lên và hỏi tôi trước cả lớp:

“Sao trò nhanh quên thế?”

Khả năng ghi nhớ là mảnh đất để các ký ức lớn lên, và ký ức là trái cây sinh ra từ mảnh đất đó. Có được ký ức và khả năng ghi nhớ là khác biệt căn bản giữa con người và động vật hay cây cỏ. Đó là điều kiện đầu tiên để chúng ta lớn lên và trưởng thành. Đã bao nhiêu lần, tôi cảm thấy rằng điều đó còn quan trọng hơn là ăn mặc, và cả hít thở — một khi ta quên đi các ký ức, ta sẽ quên cách làm sao để ăn, hay mất đi khả năng biết cày ruộng. Ta sẽ quên quần áo ta mặc ở đâu khi ngủ dậy mỗi sáng. Ta sẽ tin rằng vị hoàng đế lúc trần truồng sẽ đẹp hơn là khi mặc quần áo. Tại sao tôi lại nói ra những điều này vào ngày hôm nay? Đó là bởi vì Covid-19—một thảm họa của quốc gia và của toàn cầu—vẫn chưa hoàn toàn được kiểm soát; các gia đình vẫn ly tán, và những tiếng khóc than vẫn còn vọng từ Hồ Bắc, Vũ Hán và nhiều nơi khác. Thế nhưng, những khúc ca chiến thắng đã nổi lên từ nhiều nơi. Tất cả bởi vì các số liệu thống kê đã tốt đẹp hơn.

TS. Lê Đăng Doanh: Cơ hội để thay đổi, lớn lên (Phóng viên Thanh Giang báo Đại Đoàn Kết phỏng vấn)

“Chúng ta hội nhập quốc tế thì phải tìm cách để thích nghi. Không nên nghĩ rằng, các quy định nghiêm ngặt về chất lượng, tiêu chuẩn, môi trường lại trở thành rào cản hạn chế cho xuất khẩu. Doanh nghiệp phải xem đây là cơ hội để tự thay đổi, tự lớn lên”. Đó là nhận định của TS. Lê Đăng Doanh- chuyên gia kinh tế khi trao đổi với PV Đại Đoàn Kết.

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA). Đây là hiệp định lớn nhất, cao nhất mà Việt Nam ký với các nước. Sau bước ký kết, hai Hiệp định sẽ phải trải qua quá trình phê chuẩn nội bộ ở EU và Việt Nam để có thể chính thức có hiệu lực với hai bên. Tháng 5 Quốc hội Việt Nam sẽ họp để thông qua. Phía EU cũng có những điều khoản mà 27 Nghị viện thành viên của các nước EU thông qua. Dự tính, khoảng tháng 6 – 7 chúng ta bắt đầu hưởng lợi thế.

TS. Lê Đăng Doanh

PV: Lợi thế, cơ hội cho hàng hóa vào thị trường EU ở hiệp định này là gì, thưa ông?

TS. Lê Đăng Doanh: Ngay khi Hiệp định chính thức có hiệu lực, xuất khẩu của Việt Nam sẽ tận hưởng được nhiều ưu đãi. EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay.

Theo ông, ngành nào của Việt Nam có cơ hội nhiều nhất?

Trân Văn (VOA Blog): Cứ ‘nhậu thiếu, hát chịu’, đảng sẽ… ‘cân đối’!



Đừng nhìn sự kiện Huyện ủy, UBND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đơn thuần như biểu hiện về sự bệ rạc của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền của một địa phương. Nếu thử so sánh, ngẫm nghĩ kỹ hơn, chẳng hạn đối chiếu với chuyến công tác Ấn Độ, Anh của Tổ Biên tập thuộc Tiểu ban Kinh tế - Xã hội mà BCH TƯ đảng CSVN lập ra để chuẩn bị cho việc soạn thảo các “văn kiện”, phục vụ đại hội đảng toàn quốc lần thứ 13, ắt sẽ thấy, “nhậu thiếu, hát chịu” là vấn nạn quốc gia và trước hay sau, đảng ta cũng sẽ “cân đối” được, bất kể nợ nần quốc gia tăng tới mức nào!

***

Huyện ủy, UBND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đang thiếu nhiều cá nhân, tổ chức khoản tiền hơn năm tỉ đồng. Theo báo chí Việt Nam, khoản nợ này phát sinh trong giai đoạn từ 2011 – đến 2015, thời điểm ông Hoàng Cao Thắng làm Bí thư Huyện ủy và bà Ngô Thị Hoa làm Chủ tịch UBND huyện. Tờ Thanh Niên cho biết, đa số chủ nợ của Huyện ủy và UBND huyện Yên Định là những viên chức làm việc trong Huyện ủy và UBND huyện Yên Định. Một số có đầy đủ chứng từ, một số có nhiều nhân chứng, xác nhận đã dùng tiền riêng và đi vay thiên hạ cho Huyện ủy, UBND huyện chi tiêu.

Huyện ủy và UBND huyện Yên Định đã chỉ đạo viên chức bỏ tiền riêng cho huyện vay và đi vay cho huyện hơn 50 tỉ để làm gì? Câu trả lời là để cùng ăn nhậu, mua quà tặng nhau khi có các đại hội, lễ kỷ niệm,… và đãi khách ăn nghỉ. Các chỉ đạo vay mượn còn để có tiền sửa xe, đổ xăng khi đưa lãnh đạo và các cán bộ hữu trách trong huyện đi công tác. Đáng lưu ý là các “nạn nhân” cùng cho rằng, sở dĩ nợ nần tăng lên đến hơn 50 tỉ là vì nỗ lực đểYên Định được công nhận là… “huyện nông thôn mới”, phải đón rất nhiều đoàn đến khảo sát, kiểm tra, sau này là học tập kinh nghiệm, chia vui...

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

Tuấn Khanh: Làm người Việt không dễ — Chào 45 năm, sự biến mất của một nước Cộng hòa miền Nam —



Tôi là ai, giữa dòng định mệnh mang tên Việt Nam? Câu hỏi đó vẫn theo đuổi tôi, buộc tôi phải luôn nhìn lại mình, nhìn những khát vọng co rút lại như miếng da lừa, và đếm lại tuổi trẻ hoang phí, ngu ngơ trước cối xay gió thời cuộc bên đường.

Ký ức lớn nhất của những ngày thơ ấu mà tôi luôn bị ám ảnh, đó là một buổi sáng nắng gắt, trên mặt đường đầy quân trang vứt la liệt khắp nơi. Tiếng người gọi nhau. Tiếng xe hỗn loạn. Tay mẹ nắm chặt tôi như sợ tôi vụt mất đi, y như một quốc gia miền nam Việt Nam đã tan biến kỳ lạ sau cuộc chiến tranh dai dẳng hai mươi năm.

Từ lúc đó, tôi lớn lên, loay hoay nhiều năm với việc lựa chọn mình phải là gì, phải như thế nào để được chấp nhận là một sinh linh hợp pháp trong một quốc gia mới, có tên Cộng sản.

Cuộc sống của một người Việt Nam không đơn giản đâu bạn ạ. Nếu mười năm hay hai mươi năm nữa, khi được hỏi, tôi cũng sẽ nhắc lại, y như vậy không khác gì. Nhưng chúng ta vẫn có thể vẽ lại nó.

Năm lớp ba, tôi học ở ngôi trường cách không xa trung tâm Sài Gòn, nhưng hẻo lánh và nghèo nàn như một ngoại ô. Thằng bạn cùng tuổi có cuốn truyện tranh của chế độ mới, kể về anh bộ đội chiến đấu giỏi, mà tôi mượn mãi không được. Cuối cùng thì nó đồng ý cho mượn xem, nếu như tôi mang đồ ăn cho nó. Ấy vậy mà sau khi ngồm ngoàm hết món tôi đưa, nó vẫn không cho mượn. Giận quá, tôi gào lên với nó bằng một câu nói mà thời đó, tôi hay nghe người lớn chỉ vào mặt nhau: “Đồ bợ đít cộng sản”.