Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

SỐ BÁO TÂN NIÊN

Múa lân đốt pháo mừng Xuân, 05/02/2019, San Francisco. Hình Justin Sullivan/Getty Images

Hôm nay, mồng bốn Tết Kỷ Hợi, sau mấy ngày nghỉ đầu năm, Diễn Đàn Thế Kỷ lại xin tái ngộ cùng bạn đọc. 

Chúng tôi ở vùng Nam California đã trải qua những ngày đầu năm Kỷ Hợi ướt át và lạnh lẽo, khác với lệ thường thời tiết hằng năm của vùng này. Tuy nhiên qua ngày mồng Ba Tết thì như một phép lạ, cả bầu trời trở nên trong sáng không một vệt mây, mưa gió như chưa bao giờ xảy ra, đem lại cho bao người Việt Nam vùng Little Saigon niềm vui đích thực của Mùa Xuân Mới. 

Trong tâm trạng thuận lợi ấy, chúng tôi xin gửi đến các văn hữu, các cộng tác viên và tất cả quý độc giả lời Chào Đầu Năm. Chúng ta sẽ cùng nhau khởi hành vào Năm Kỷ Hợi với tất cả hứng khởi, tin cậy như chúng ta đã cùng nhau trải qua trong một thập niên qua. 

DĐTK 


Nguyễn Tường Thụy: Về quê ăn tết “không nói chuyện chính trị”

Nhiều từ liên quan đến chữ ăn chẳng còn mấy ý nghĩa nhưng vẫn được sử dụng đến bây giờ, có lẽ do người Việt ta đã trải qua nhiều thời kỳ đói kém nên việc ăn là quan trọng nhất. Bây giờ nó không phải là ăn tết mà là đón xuân vì cái sự ăn nó không quan trọng nữa. “Ăn cưới” thực chất là đi dự đám cưới. Rồi có những việc chẳng liên quan đến ăn như ăn hỏi. Mang đồ sính lễ đến nhà gái, đặt cơi trầu nói chuyện để tác thành cho cặp uyên ương mới là mục đích chính. Nếu nhà gái mời ở lại dùng cơm thì ngồi uống với nhau chén rượu, cụ thể hóa hơn những công việc sắp tới. Chỉ có “ăn cỗ đám ma” thì không gọi thế nữa. Chuyện ăn cỗ đám ma ngày xưa, người chết nằm đấy mà vẫn ăn uống như thường, bây giờ bỏ đoạn ăn uống, gọi là viếng đám tang. Còn ăn tết, ăn cưới, ăn hỏi... vẫn cứ nói như vậy. Thậm chí bây giờ, người ta uống là chủ yếu, uống đến độ cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau, gây án mạng nhưng chẳng ai gọi là uống tết, uống cưới hay uống hỏi. 

Vì tít bài viết có chữ ”ăn tết” nên xin tranh thủ tám mấy dòng cho vui chứ không có ý định bàn về ngôn ngữ. 

Hồn quê 


Sống với nhịp sống đô thị, mỗi dịp tết đến xuân sang, người người lại náo nức về quê, tìm ở đây cái tình nghĩa con người, tìm về cánh đồng lúa, lũy tre làng và cảnh mùa xuân, cảnh tết nhà quê. Về vào ngày phiên chợ, đi chơi chợ tết thật thú vị, gặp người quen, bạn cũ, ríu rít hỏi han, chúc tụng. 

Thấy quê hương thân thương lắm. Điều này giải thích tại sao, những bài thơ, ca khúc ca ngợi xuân quê, tết quê thì nhiều mà gần như không có những sáng tác cùng chủ đề ấy về thành thị. Nếu có thì cũng không thể hay được. 

Kính Hòa RFA: Việt Nam thoát nghèo hay không phụ thuộc vào giáo dục tốt và dân chủ

Cửa hàng bán điện thoại thông minh Samsung và những người bán hàng rong trên vỉa hè. Hà Nội 2003.

Theo một số thông tin được công bố thì mức thu nhập trung bình đầu người của Việt Nam vào năm 2008 đạt xấp xỉ 1000 đô la Mỹ. 

Mức thu nhập này được xem như là mức thu nhập trung bình, và bắt đầu từ lúc đó nhiều nhà quan sát kinh tế chính trị đã cảnh báo rằng Việt Nam sẽ bị rơi vào một cái bẫy gọi là bẫy thu nhập trung bình, trong đó nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc khai thác sức lao động rẻ và giản đơn. 

Đầu năm 2019, một viên chức cao cấp của Việt Nam là ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch- Đầu tư lặp lại lời cảnh báo đó với tình trạng Việt Nam hiện nay nằm trong bốn cái bẫy: chi phí lao động thấp, sản xuất có giá trị thấp, có công nghệ thấp, và thu nhập trung bình. 

Thực ra trong bốn điều vừa nêu thì điều thứ tư bao gồm ba điều còn lại gắn chặt với nhau, vì với lao động rẻ, giản đơn, chỉ có thể thao tác máy móc công nghệ thấp, hoặc không có máy móc, và vì thế tạo ra những sản phẩm không có giá trị cao. 

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, nhận xét về tình trạng thu nhập trung bình của Việt Nam hiện nay: 

“Chúng ta đã đạt được cái mức trung bình trong một thời gian khá dài rồi. (Năm nay) là xấp xỉ 2500, nhưng để đạt được mức 12000 đô la một đầu người, lại là một quá trình rất dài và khó khăn.” 

Phạm Chí Dũng: Trump - Kim tại Việt Nam: Trọng được gì?

Thượng đỉnh lần đầu tại Singapore.

Vì sao Donald Trump - người mà cho đến nay đã nổi lên như một trong những tổng thống Mỹ chống chủ nghĩa xã hội cuồng nhiệt nhất, lại dễ dàng được Nguyễn Phú Trọng - một đồ đệ trung thành và thậm chí còn có phần cuồng tín của lý thuyết chủ nghĩa này - mời mọc đến Việt Nam mà nơi đó Trump sẽ có cuộc đàm phán lần thứ hai với nhân vật lãnh đạo số một của Bắc Triều Tiên là Kim Jong Un vào cuối tháng 2 năm 2019? 

Và vì sao triết thuyết chống chủ nghĩa xã hội của Trump không chỉ là lời nói mà còn đang trở thành một hành động thực tế và ngày càng gần tính thực chất vào đầu năm 2019 - loại bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa của Maduro ở Venezuela, trong khi chính thể này lại được đảng của Nguyễn Phú Trọng xem là ‘sát cánh’ và ‘cùng nắm tay nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội’, lại không bị Trọng phản ứng theo đúng cái logic phải có của vấn đề này? 

Nhưng dấu hỏi trên chỉ là những bí mật của lịch sử quan hệ Việt - Mỹ hay sẽ được giải mật chỉ trong một sớm một chiều bằng vào lý lẽ đơn giản ‘ai cần ai hơn’? 

Tiền đề để đi Mỹ? 


Ngày 5/2/2019, Trump đã chính thức thông báo cuộc gặp thượng đỉnh lần 2 giữa ông và Kim Jong Un sẽ diễn ra tại Việt Nam trong hai ngày 27 và 28/2 năm 2019. Thông báo này mang tính khẳng định và pháp lý khi được lồng trong thông điệp liên bang mà Trump đọc tại Quốc hội Hoa Kỳ. Hầu như ngay sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã họp báo và ‘hoan nghênh’ cuộc gặp này. 

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019


KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Khai bút đầu năm gần như là một tục lệ của các văn nhân thời xưa. Những cảm hứng trong giờ phút đầu của một năm mới đã được viết xuống một cách mỹ thuật như một thú chơi văn chương tao nhã, mà ngày nay ít người còn nhớ tới.

Kính mời quý độc giả thưởng thức một bài khai bút của thi sĩ Vũ Hoàng Chương Tết năm Nhâm Tý 1972 cách đây đã 47 năm...


Trần Từ Mai: Sau đúng 60 năm, đọc lại bài thơ trừ tịch của Đặng Đức Siêu và Đông Hồ


BỎ RA 40 NĂM ĐỂ NGHĨ HAI CÂU THƠ:


Đúng 60 năm trước, nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 1959, trong một bài viết mang nhan đề ”Manh áo vá trên vai nàng Thơ,” đăng trên Bách Khoa số 50 đề ngày 1 tháng 2 năm 1959, thi sĩ Đông Hồ giới thiệu một bài thơ trừ tịch của Đặng Đức Siêu. Theo Đông Hồ, ông “chưa được thấy có bài thơ nào đến đúng với tâm hồn đêm giao thừa bằng bài thơ này.” Nhà thơ đất Hà Tiên cho rằng bài thơ của Đặng Đức Siêu “vừa bình tĩnh trang trọng, vừa lịch sự tao nhã.”

Điểm đáng chú ý là từ khi thi sĩ Đông Hồ được đọc bài thơ ấy lần đầu giữa đêm giao thừa năm Kỷ Mùi 1919 trên tạp chí Nam Phongsố 17, phát hành tháng 11 năm 1918, bài thơ (nguyên là một bài Đường luật bát cú với 8 câu) chỉ còn có 6 câu. Hai câu 5-6 đã bị thất truyền:

Tháng lụn năm cùng sự chẳng cùng
Nửa đêm xuân lại nửa đêm đông
Chi lan tiệc cũ hương man mác
Đào lý vườn xưa tuyết lạnh lùng

…………………………………

Gà kêu pháo nổ năm canh trót
Mừng cội mai già gặp chúa đông.

Trần Mộng Tú: Mùa Xuân và Tôi



Xuân cầm tay tôi đi vào mùa mới
bàn tay tôi khô bàn tay Xuân ấm
đi bên nhau nghe đất trời nẩy lộc
gót chân xanh và những ngón bỗng hồng
bầu trời trong veo mây xuống thật gần

Tôi ngồi xuống cùng với Xuân
vai kề vai rất đỗi tình nhân
mây xanh cứ rối vào tóc trắng
cuộn chỉ thời gian tung từng sợi thâm ân

Xuân và tôi cùng nằm trên cỏ
ngửa mặt nhìn trời nheo mắt bâng khuâng
cả hai cùng đắp chung chăn mới
hơi thở Xuân nồng ấm má thơm môi

Vũ Thư Hiên: Sương xuân và hoa đào



Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa xuân phải có một mùa đông. Mùa đông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể nào thiếu được để cho ta bước vào một cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà. Thành thử ở Sài Gòn trùng vào những dịp xuân sang tôi vẫn không thấy lòng mình rung động cảm giác về cái Tết ruột rà, cái Tết đích thực. Xin các bạn Sài Gòn tha lỗi cho tôi nếu trong những lời của tôi có gì làm các bạn phật ý, nhưng mãi tới nay, sau nhiều Tết Sài Gòn, tôi vẫn chưa quen được với một ngày đầu năm phải phơi đầu dưới cái nắng chói chang và trầm mình trong cái nóng hầm hập, làm cho con người phải tìm đến với trái dưa hấu mọng nước trước khi ngồi vào mâm cỗ Tết có đủ thịt mỡ và dưa hành, bánh chưng và giò thủ. Ở mỗi nhà vẫn nghi ngút trầm hương thật đấy, ngoài đường xác pháo toàn hồng vẫn tràn ngập lối đi thật đấy, nhưng cái Tết dường như vẫn còn lạc bước nẻo nào, nó chưa hẳn là Tết, chưa đủ là Tết. Đành phải viện hai câu thơ mà nhiều người vốn không yêu thơ cũng thuộc, để giải thích nỗi nhớ về đất Bắc, để biện hộ cho cái cảm xúc không phải đạo của mình trước đất Sài Gòn cũng đã trở thành không kém thân thương:

Tự thuở mang gươm đi mở cõi,
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. 
(Huỳnh Văn Nghệ)

Lê Hữu: Ông đồ trẻ, ông đồ già

(Ảnh: Hoàng Triều)
Chẳng tham ruộng cả, ao liền
Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

(Ca dao)

Nhà thơ Vũ Đình Liên, giá mà còn tại thế, dạo bước trên những hè phố đông vui vào những ngày cận Tết, hẳn ông sẽ ngạc nhiên và thích thú lắm khi được tận mắt trông thấy có lắm “ông đồ trẻ” đang mải mê “hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay”.(*)Biết đâu nhà thơ lại chẳng ngẫu hứng mà đổi ít chữ trong bài thơ cũ của mình cho hợp tình, hợp cảnh.

Mỗi năm hoa đào nở
lại thấy ông đồ già
cùng nhiều ông đồ trẻ
bên phố đông người qua

Những “Phố ông đồ” ngày xuân


Những “phố đông người qua” ấy ngày nay được gọi là “Phố ông đồ”, dập dìu tài tử giai nhân trong những ngày Tết đến xuân về. Thường thì các “Phố ông đồ” này khởi sự hoạt động từ trung tuần tháng Chạp và kéo dài cho đến ngày rằm tháng Giêng của năm mới. 

Hạ Long Bụt sĩ: Triết Lý Tranh Con Lợn Ngày Tết



Triết lý bình dân Việt Nam bao giờ cũng thực tế, không nằm ở trên mây mà nằm ở bụng, nằm ở tim chứ không kênh kiệu trên óc, như trong bài ca dao Thằng Bờm :

Thằng Bờm có cái quạt moPhú ông xin đổi ba bò chín trâu 
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâuPhú ông xin đổi một xâu cá mè 
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mèPhú ông xin đổi một bè gỗ lim 
Bờm rằng Bờm chẳng lấy limPhú ông xin đổi đôi chim đồi mồi 
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồiPhú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười !

Ở đây, tương phản giữa phú ông giầu có ba bò chín trâu...nhưng hẳn là nhức đầu bực bội với đống vật chất nặng nề vô tri gỗ lim, đồi mồi, vớithằng bờm nghèo đói nhưng thảnh thơi phe phảy quạt mo...tìm thấy hạnh phúc sung sướng giản dị ở một nắm xôi thực tế, no bụng có thực mớivực được đạo.Thằng Bờm chính là hình ảnh một thiền sư đắc đạo, không cầu tìm đâu xa, không phiền phức tô vẽ cuộc sống bằng những sự vật chết, mà thấy thoải mái, đói thì ăn, nóng thì quạt, cần thì đổi, đói quan trọng hơn nóng nên đổi quạt lấy xôi, là đúng !

Nguyễn Văn Thà: Tổ Phụ


Tổ phụ Abraham, theo Kinh Thánh Cựu Ước, là tổ phụ của dân Israel: Do Thái, đã nghe lời Đức Chúa Trời truyền dạy và đưa cả gia đình, tôi tớ, sản nghiệptừ thành phố quê hương Ur, vùng Kaldea, nay là miền Nam của Irắc, tới Haran, Thổ Nhĩ Kỳ, và sau đó tới Canaan, nay là Israel: Do Thái, ”miền đất hứa chảy sữa và mật ong” mà ĐCT hứa ban cho ông và con cháu ông. Lịch sử cổ trong Kinh Thánh Cựu Ước cũng là lịch sử của các giáo hội Kytô giáo, trong đó có giáo hội Công giáo. Tổ phụ Abraham của Do Thái, cũng là tổ phụ của cha tôi, người Công giáo, theo nghĩa thiêng liêng.

Không ai quên được quê hương mình dù quê nghèo, cũng như không ai quên được cha mẹ dù cha mẹ khổ. 

Tôi nay đã khá già, nghĩ lại quãng đời đã qua của mình, thấy mình sinh dưới một ngôi sao khá tốt. Tuy ở nhà quê, đất đai không được mầu mỡ cho lắm, đất pha cát, nhiều rừng, nhưng nếu biết khai phá, vẫn có đất: đất thịt pha cát để trồng lúa, đất cát trồng khoai; làm đủ ăn, có năm còn dư chút đỉnh. Lại còn có biển, bờ biển đẹp, rất đẹp với những đồi cát trắng tinh, mượt mà lượn theo gió, lung linh sáng theo mặt trời và huyền hoặc, thần tiên đêm trăng. Biển đẹp và còn có rất nhiều cá những năm mới đến lập cư, và còn đủ để ăn những năm sau này, nhưng cho tới ngày Việt Cộng vào cá mú hầu như tiệt. Lạ thiệt! Củi đuốc thì đã có rừng sát sau nhà. Có một ngôi thánh đường xinh xinh, xây theo kiểu một ngôi nhà thờ ở Pháp, do các sinh viên, học sinh quê của linh mục thừa sai

Nguyễn Văn Thực: Cuối Năm Nhớ Mẹ Cha Ta



Cuối năm nơi đây tuyết tuyết đổ
Nhà ấm, ghế êm làm thơ tình
Nhà ấm, bàn đẹp thảo tình khúc
Bao năm tụng đàn bà yêu tinh

Cuối năm pháo thăng thiên nổ nổ
Đèn giăng, hoa thơm, đồ ăn ngon
Rập rình nhạc xuân, rượu chảy chảy
Đầu óc ngầy ngầy, môi ai son

Mẹ cha ta héo một dòng thơ không có
Mẹ cha ta héo nửa nốt nhạc cũng không
Mẹ cha ta cho ta ăn và học
Bán nhà cho ta vượt Biển Đông

Mẹ cha ta gầy trăm đô chuyện hiếm
Mẹ cha ta buồn thăm hỏi dường không
Mẹ cha ta cho ta ăn và học
Đầy đủ, mẹ cha ôm bụng không

Cuối năm năm nay nước mắt nhỏ
Vợ nhằn vợ nhẳn, ta làm thơ
Con lơ con láo, ta làm nhạc
Thương mẹ cha ta ngày ấu thơ

Mẹ cha ơi, trong thư phòng nhỏ
Thơ sầu, nhạc muộn con xin dâng
Mẹ cha quê nhà nằm dưới mộ
Mẹ cha vì ta, đồ chết đâm

Tết 2019

*Song Thao: Tết

Nói tới “tết” người ta nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán. Nhưng tết đâu phải chỉ là thời gian giao mùa giữa năm mới và năm cũ. Ngoài Tết Nguyên Đán, chúng ta còn có Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu. Vậy tết là một ngày hội, một ngày vui được dân gian đón nhận. Những khi năm cùng tháng tận, tôi thường ôn lại dĩ vãng, nhớ lại những gì mình làm được cũng như chưa làm được trong năm cũ. Nhưng, từ bao năm nay, nỗi nhớ dằng dai hơn nhiều, từ ngày được tha khỏi cái gọi là trại cải tạo của Việt cộng. Đối với những người đã bước chân vào vòng tù mà không có tội, án cũng chẳng có, ngày tháng mênh mông như trong những đám mây, thời gian như một thách đố không có lời giải đáp, chuyện được thả cho về với gia đình là chuyện chết đi sống lại. Đó mới là ngày vui, ngày hội, ngày tết đích thực. Ngày về là…tết!

Lao động trong tù cải tạo.

Thường trong các dịp tết, trại cho một số trại viên về, như một trình diễn về cái gọi là nhân đạo của chế độ. Dù chẳng ai tin vào sự nhân đạo của một chế độ lấy chuyên chế làm kim chỉ nam, nhưng cứ được bước ra ngoài vòng cương tỏa của tù tội là tết rồi. Chuyện về là chuyện trúng số. Thần tài gõ vào đầu anh nào, anh ấy hưởng. Tôi may mắn được gõ đầu vào ngay cái tết đầu tiên trong tù. Trong truyện ngắn “Tết Trước Tết”, tôi đã tả lại giây phút…thiêng liêng đó. Sau ba chục ngày vô cũi, chuyện ra về là chuyện canh cánh bên lòng của chúng tôi. Cán bộ cứ ra rả tuyên truyền: “Về hay không là tùy các anh có học tập tốt không thôi!”. Chẳng ai nhét được câu dối trá này vào trong đầu. Rồi ngày định mệnh cũng tới. “Sáng hôm sau, 26 tết, cán bộ tất tưởi tay cầm cuộn giấy lên kêu họp

Thơ Phương Nghi



HỒNG NHAN


Em đứng bên sông tóc vẫn dài
Nụ cười con gái buổi ban mai
Chắc là em biết mùa xuân đến
Nên hé môi cười xuân có hay

Này em, em đã có ai chưa
Để lá trên cây mãi đợi chờ
Để rừng hò hẹn từ lâu lắm
Em bỏ đi rồi cây ngẩn ngơ

Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần): Mấy Đóa Hoa Xuân 
(Tạp bút thơ Đường) - Biên dịch Nguyễn Nam Trân

Bài viết này tổng hợp hai tạp bút của nhà văn Chin Shun Shin (Trần Thuấn Thần, 1924-2015) in trong tập Tôshi Shinsen (Đường thi Tân Tuyển, 1989) nhan đề Baika (Mai Hoa) và Botan (Mẫu Đơn) dưới một nhan đề đặt tạm.

Mai hoa



Hoa mai có nhiều tên gọi khác nhau. Nhân vì nó nở trước các loài hoa khác nên được chấm là hoa khôi. Ngoài ra còn mang một số tên khác như băng cơ, băng hồn, băng nhụy, băng diễm, toàn là tên bắt đầu bằng một chữ băng. Cũng được ví von là loài hoa có ngọc cốt hay tuyết cốt. Tô Thức 蘇軾đời Tống từng viết:

La Phù Sơn hạ mai hoa thôn,

羅浮山下梅花村

Ngọc tuyết vi cốt băng vi hồn.

玉雪為骨氷為魂

(Ý: Thôn trồng hoa mai (có thể là danh từ riêng, NNT) nằm dưới núi La Phù. Hoa trắng như ngọc tuyết, hồn tinh khiết như băng).

Đàm Trung Pháp: Bài Thơ Tết Cuối Đời Của Vũ Hoàng Chương



Theo Mạnh Tử, một chỉ dấu quan trọng của một người quân tử là lòng can đảm vẫn duy trì được nguyên tắc sống cao cả của mình bất chấp những đe dọa của vũ lực bạo tàn. Chỉ dấu bất khả tư nghị của khí tiết ấy được từ vựng Hán-Việt mệnh danh là “uy vũ bất năng khuất” (威武不能屈).

Thi nhân lỗi lạc Vũ Hoàng Chương (1915-1976) đã lộ rõ khí tiết này khi ông dám làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn” để châm biếm “bên thắng cuộc” nhân dịp ông nghinh xuân Bính thìn 1976 tại quê nhà. Và như đã tiên đoán, bài thơ miệt thị chế độ mới một cách công khai ấy đã khiến Vũ Hoàng Chương bị chúng bỏ tù cho đến lúc kiệt lực, cận kề cái chết. Năm ngày sau khi được thả, ông qua đời tại nhà vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.

Mời quý độc giả thưởng lãm bài thơ đường luật viết về tết cuối đời mang tên “Vịnh Tranh Gà Lợn” của Vũ Hoàng Chương – cùng với sự hiểu biết và suy luận hạn hẹp của tôi – dưới đây:

VỊNH TRANH GÀ LỢN

1. Sáng chưa sáng hẳn tối không đành
2. Gà lợn om xòm rối bức tranh
3. Rằng vách có tai thơ có họa
4. Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh
5. Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
6. Lòng lợn âm dương một tấc thành
7. Cục tác nữa chi ngừng ủn ỉn
8. Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Hồi ức của Hà Kỳ Lam: Bức Công Điện Chiều Cuối Năm

Lại một mùa xuân nữa sắp về. Lại một lần lục soát ký ức về những mùa xuân xưa - dấu hiệu của tuổi già, nhai lại những đoạn đường đã đi qua thay vì hướng tới những bước đường tương lai như những ngày trẻ trung. Và đột nhiên một buổi chiều cuối năm với nắng quái giữa núi rừng Dak Seang thuở nào hiện về trong ký ức. Nhưng câu chuyện sắp được kể dưới đây không vì buổi chiều có những tia nắng quái đó. Tôi chỉ muốn minh chứng một điều không minh chứng được: ngày mồng một Tết Nguyên Đán có một tác động huyền diệu suốt một năm…

Những giờ khắc của buổi chiều giáp Tết Đinh Mùi 1967 - buổi chiều cuối cùng của năm Bính Ngọ 1966 - thật êm đềm, thật tĩnh mịch giữa núi rừng Dak Seang vốn không ngớt tiếng súng, tiếng bom. Có lẽ đối phương cũng tôn trọng lệnh hưu chiến như đã hứa. Tôi đang đinh ninh sẽ đón những ngày đầu xuân tại căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt Dak Seang hẻo lánh này, như đã từng làm ở các căn cứ khác, thì vị sĩ quan trưởng căn cứ thông báo, “vừa có công điện khẩn từ Bộ Chỉ Huy B12 báo ngày mai sẽ có trực thăng đến bốc anh đi Plei Me. Thời gian công tác chưa biết bao lâu.” Tôi ngỡ ngàng giây lát, rồi trấn tĩnh ngay, vì bản tính thứ hai do nếp sống quân ngũ tập thành. Với con nhà lính, mọi chuyện đều bình thường, kể cả những điếu bất ngờ nhất. Hóa ra là trại Lực Lượng Đặc Biệt Plei Me đang thiếu vắng một người chỉ huy; vị sĩ quan Trưởng Trại đã rời nhiệm sở tác chiến về Sài Gòn theo tinh thần văn thư từ Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương yêu cầu Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt thuyên chuyển gấp đương sự về nơi ấy. Tôi tự nhủ, nếu có gì bất bình thường, thì đó chính là sự kiện Trại Plei Me bỗng dung bị “bỏ ngỏ” không người chỉ huy, chứ không phải bỗng dung tôi bị điều động đến đó để “coi nhà” hộ, chờ sự bổ nhiệm chính thức một tân trưởng trai!

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Chuyện ngày cuối năm

Hải trình chiếc Atlantic bắt đầu từ Houston xuống Nam Mỹ, mỗi chuyến đi dài năm hoặc sáu tuần. Sau đó quay trở lại Houston xuống hàng, lấy thực phẩm và thay người. Ðúng ra tôi được đổi về hôm trước Giáng Sinh. Nhưng vì ba cái vụ khủng bố trên đất Mỹ nên những người mang quốc tịch của mấy nước Hồi giáo tạm thời không được toà đại sứ Mỹ cấp chiếu kháng nhập cảnh. Ông đầu bếp thay tôi người In-đô chờ lo thêm thủ tục có thể ra Giêng mới xong. Những ngày cuối năm không được về với gia đình tôi cũng có hơi buồn. Tuy nhiên nghe tin tôi ở lại, từ thuyền trưởng tới thủy thủ đoàn trên tàu rất vui mừng. Họ vui chẳng qua vì hai bữa tiệc Giáng Sinh và Tết Tây năm nay họ được thưởng thức những món ăn thuần túy Việt Nam. 

Chuyến rồi tàu trở lại Houston, tôi với thuyền trưởng lên siêu thị Việt Nam mua thức ăn chở đầy nhóc chiếc tắc xi. Hôm Giáng Sinh ngoài con gà tây đúc lò ra tôi dọn thực đơn các món nhấm Việt Nam và nấu một nồi phở hai chục lít. Trong bữa tiệc những món ăn Việt Nam được bà con chiếu cố tận tình và nồi phở cũng hết sạch trong ngày hôm ấy. Chả giò, gỏi cuốn, tôm chiên bột sốt chua ngọt… đã loại con gà tây truyền thống Giáng Sinh ra khỏi bàn tiệc! Tôi để con gà Tây qua mấy ngày sau mà chẳng ma nào rớ tới, cuối cùng tôi gói con gà đem cho mấy người bốc vát trên bến cảng. 

*

Tàu cặp cảng Paramaribo khuya ba mươi rạng ngày ba mươi mốt tháng chạp. Sáng sớm, thuyền phó ra thông báo tàu sẽ đậu lại đây qua Tết mới khởi hành. Sau bữa điểm tâm, thuyền trưởng phân công: thủy thủ lau chùi tàu sạch sẽ, xong sớm nghỉ sớm, thuyền phó mua pháo và cái xiệc-điện (survolteur) cho dàn đèn tự động kết hàng chữ Merry Christmas & Happy New Year đã bị cháy trong đêm Giáng Sinh và đầu bếp đi chợ mua thêm thức ăn tươi, làm sao cho bữa tiệc giao thừa xôm tụ mới được. 

Phạm Kế Viêm: Tử Vi Phong Thủy Năm Kỷ Hợi 2019

( Tính từ TẾT Kỷ Hợi nhằm ngày Thứ Ba 5 / 2 / 2019
đến hết ngày Giao Thừa Thứ Sáu 24 / 1/ 2020 ).
Lập Xuân : Thứ Hai 4/2/2019 ( Âm Lịch : ngày Nhâm Thân – hành Kim )



Kính thưa quý độc giả,

Tết Kỷ Hợi năm nay Diễn Đàn Thế Kỷ rất hân hạnh nhận được một tài liệu soạn thảo rất công phu TỬ VI PHONG THỦY NĂM KỶ HỢI 2019 của giáo sư Phạm Kế Viêm từ Pháp gửi sang. Vì tài liệu khá dài với nhiều chi tiết, mời quý độc giả muốn xem số Tử vi của mình và người thân trong năm Kỷ Hợi, xin bấm vào đường nối sau đây :