Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

AP
Liên quan đến biến c 30 tháng Tư 1975, có mt câu nói ca mt quan sát viên quc tế mà tôi rt tâm đắc: “Không có ai chiến thng c. Tt c đều là nn nhân” (There were no winners, only victims).
Nhưng ti sao li không có người chiến thng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì na, người min Nam chc chn là nhng người thua cuc và t đó, là nhng nn nhân không nhng ca chiến tranh mà còn ca hoà bình vi hàng trăm ngàn người b bt đi ci to, hàng triu người liu mng vượt bin để tìm t do và hu như tt c đều sng trong cnh va lm than va b áp bc.

Đoan Trang - Hà Nội hãy biết yêu những gì mình có


Tôi yêu màu lá xanh mướt của mùa xuân. Nổi trong đám lá xà cừ xanh thẫm, đôi khi lại có màu xanh nõn nà của lá bồ đề, lá sấu. Và khi xuân sang, buổi sáng sớm bước ra đường, lẫn trong khói bụi ô nhiễm, vẫn thấy một mùi thơm mát mà tôi gọi là mùi “hoa cỏ mùa xuân”.

Tôi yêu sắc đỏ rực trời của hoa phượng. Đôi khi tình cờ nhớ đến những ngày ở nước Mỹ, tôi nhớ xứ Cali cũng có hoa phượng, nhưng là phượng tím, jacaranda. Có những đoạn đường, hai bên một màu tím ngát, hoa nhiều hơn lá. Phượng tím cũng đẹp lắm. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn yêu cái màu cháy đỏ nao lòng của phượng hồng Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… những thành phố của Việt Nam mà tôi đã đi qua. Nhớ đến phượng là nhớ đến những câu hát xao xuyến: “Phượng hay bâng khuâng, tưởng chừng như cô đơn”, “xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn, phượng ơi”.

Peter R. Kann - LỜI AI ĐIẾU CHO NAM VIỆT NAM


Wall Street Journal- Ngày 2 tháng 5 năm 1975

Người dịch: Nguyễn Đức Tùng

Peter R. Kann – phóng viên, chủ bút, doanh nhân Hoa Kỳ – sinh năm 1942, ở Princeton, New Jersey. Tốt nghiệp Đại học Harvard ngành báo chí. Gia nhập The Wall Street Journal năm 1963. Năm 1967 là phóng viên thường trú đầu tiên của The Wall Street Journal tại Việt Nam. Từ 1969-1975 làm việc tại trụ sở ở Hồng Kông nhưng đảm trách mọi tin tức về chiến tranh Việt Nam và những vùng Đông Nam Á. Năm 1972 đoạt giải Pulitzer với loạt ký sự về chiến tranh Ấn Độ - Pakistan ở Bangladesh. Năm 1976 trở thành chủ bút và người sáng lập tờ The Wall Street Journal Asia. Trở về Hoa Kỳ năm 1979. Từ năm 1992 đến năm 2006 là Giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị của Dow Jones & Company. Giảng dạy ở Institute of Advanced Study in Princeton và The Columbia University Graduate School of Journalism. 

Lê Diễn Đức - Hệ quả tất yếu của xã hội

Dưới thời cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam xã hội Việt Nam các giá trị đạo đức ngày càng bị suy thoái và hủy hoại không thể nào cứu vãn.

Nhng s vic xy ra thường xuyên lôi cun c mt đám đông ln tham gia, đặc bit đa s là gii tr, chng t con người trong xã hi đã b lon v tâm lý, hành động theo bn năng, vô thc.

Nhng chuyn tranh cướp bia, hôi ca, cướp hoa, giành vé tm cũng có cùng mu s vi nhng cuc gim đạp lên nhau giành git mt qu cu phết, lc thánh.

VOA - Tổng thư ký ASEAN chỉ trích dự án 'lấn biển xây đảo' của TQ ở Biển Đông

Tổng Thư Ký ASEAN Lê Lương Minh.
Thủ Tướng Malaysia khẳng định ASEAN sẽ duy trì hướng tiếp cận ôn hoà để giải quyết vấn đề Biển Đông trong khi Tổng Thư Ký ASEAN khẳng định các dự án lấn biển xây đảo của Trung Quốc đi ngược lại một thoả thuận giữa Trung Quốc và ASEAN.

Lãnh đạo nước chủ nhà của hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm nay, Thủ Tướng Malaysia Najib Razak, tuyên bố rằng các nước hội viên ASEAN sẽ duy trì phương hướng tiếp cận ‘không đối đầu’ trong nỗ lực gấp rút hình thành một bộ Quy tắc Ứng xử trên biển COC ở Biển Đông.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Trùng Dương - Vài nhận xét về Đại hội Điện ảnh Việt Film Fest 2015

Đây là lần thứ ba tôi có dịp tham dự Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) gồm các bạn trẻ thuộc thế hệ từ 1.5 tổ chức. Đây là kỳ đại hội thứ  tám của Việt Film Fest, kể từ kỳ đại hội đầu tiên vào năm 2003. Và cũng kể từ năm ngoái, đại hội thay vì hai năm một kỳ đã trở thành thường niên. Và khác với mọi năm, năm nay mọi buổi sinh hoạt và chiếu phim cùng diễn ra tại cùng một địa điểm, đó là rạp UltraLuxe Cinemas tại thành phố Anaheim, Calif., thay vì rải rác tại các địa điểm khác nhau trong Quận Cam, nơi tập trung đông đảo người Việt nhất tại Hoa Kỳ, như mấy kỳ trước.

Cảm giác đầu tiên, như mỗi lần có dịp tham dự các đại hội của giới trẻ Mỹ gốc Việt, là sự tổ chức chu đáo, quy củ, như của bất kỳ đại hội có tính chuyên nghiệp nào tại Mỹ mà tôi đã có dịp tham dự, với sự đóng góp của nhiều tình nguyện viên thuộc thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ hai, ra đời và lớn lên tại Mỹ. Nghe vài em tình nguyện trọ trẹ tiếng Việt trả lời những câu hỏi rất thông thường, tôi không khỏi mỉm cười và thường chuyển sang tiếng Anh cho các em được tự nhiên thoải mái.

Trái, bích chương Đại hội Điện ảnh Việt Film Fest 2015. Phải, đêm ra mắt của đại hội, từ trái, đồng giám đốc điều hành Viet Film Fest 2015 Giana Nguyễn Foster và Thuý Võ-Đặng; cô Dina Đinh, đại diện nhà băng Wells Fargo, nhà tài trợ chính của Viet Film Fest 2015; và hai đồng giám đốc nghệ thuật Lê Đình Ysa và Trâm Lê. (Ảnh Trùng Dương)
Tiêu chuẩn tuyển chọn để trình chiếu của VFF là phim do người Việt hay gốc Việt thực hiện, hoặc do người không  cùng chủng tộc nhưng khai thác đề tài liên quan đến văn hoá và đời sống Việt ở trong hay ngoài Việt Nam. Tổng số 31 phim  (10 phim dài, còn gọi là feature, và 21 phim ngắn đủ thể loại, từ truyện tới ký sự, tài liệu) được trình chiếu, gồm những phim được thực hiện tại Việt Nam, Úc, Canada, Nhật, Brazil và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì ngay cả những đạo diễn gốc Việt, như Charlie Nguyễn (phim “Fool for Love - Để Mai Tính 2”), Hàm Trần (“Hollow - Đoạt Hồn”), Cường Ngô (“Rise – Hương Ga”), Siu Pham (“Homostratus – Mother’s Room”), và Nguyễn Võ Nghiêm Minh (“Nước 2030”),  có phim dài/feature (trên 90 phút) trình chiếu trong đại hội năm nay cũng được thực hiện tại Việt Nam vì những lý do thực tế, trong đó phải kể tới việc làm phim ở Việt Nam ít tốn kém. Vì thế cho nên, trên nguyên tắc, phim của họ trở thành phim phát xuất từ Việt Nam, gồm 18 cuốn (trên tổng số 31), vừa ngắn vừa dài, kể cả hai phim VN đồng sản xuất với một hay vài quốc gia khác.

Bùi Tín - Về ngày 30/4: Chỗ đứng của Đảng CS phải là vành móng ngựa


Chiến cuộc hơn 30 năm trên đất nước Việt Nam đã được nhận định, tranh luận, mổ xẻ trong một thời gian dài, đến nay những ý kiến trái ngược nhau vẫn còn tồn tại dai dẳng.

Một bên cho đó là “sự nghiệp chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc VN”, một dân tộc anh hùng đã đánh bại phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thuộc ba lục địa Á, Âu, Mỹ, đánh bại hoàn toàn «ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn, tay sai đế quốc Mỹ», thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên «xã hội chủ nghĩa cho cả nước». Công đầu thuộc về «Đảng CSVN quang vinh». Do đó ngày 30/4/1975 là ngày «lịch sử oai hùng» của dân tộc. Năm nay kỷ niệm 40 năm ngày «chiến thắng vẻ vang» đó, Bộ Chính trị đảng CS quyết định tổ chức kỷ niệm long trọng trong cả nước, đặc biệt là ở các thành phố lớn: Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Hải Phòng, Cần Thơ…có mit-tinh, duyệt binh, bắn pháo hoa, mở hội liên hoan quần chúng.

Mai Loan - KHI BÀ HILLARY CLINTON NHẬP CUỘC


2016: ĐƯỜNG VÀO TOÀ BẠCH ỐC

Lời giới thiệu: Tuy lá phiếu của cử tri gốc Việt không hề có chút ảnh hưởng nào lên kết quả sau cùng do bởi những ngẫu nhiên của lịch sử với luật lệ về bầu cử phức tạp theo quy chế bầu cử tri đoàn của từng tiểu bang, và cộng đồng người Việt lại cư ngụ phần lớn tại những tiểu bang không ngang ngửa (swing states), nhưng cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vẫn là sự kiện thời sự được nhiều người chú ý nhất mỗi 4 năm 1 lần. Loạt bài này nhằm giúp người đọc hiểu rõ thêm về nhiều góc cạnh lý thú và đa dạng của nó trong sinh hoạt chính trị đặc thù của nước Mỹ.

Cuối cùng thì mọi người cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi bà Hillary Clinton chính thức loan báo sẽ ra tranh cử tổng thống vào năm 2016 tới đây, một điều đã được hầu hết các chuyên gia thời sự tiên đoán từ lâu, và dù rằng trước đó bà Clinton đã nói bóng gió xa gần rằng dường như bà đã không còn có tham vọng chính trị gì nữa sau khi quyết định rời khỏi chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao vào đầu năm 2013.

Bùi Kiến Thành (trả lời BBC) - Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

Phía ngoài Nhà hát ln Sài Gòn trước năm 1975
Vit Nam ngày nay nên hc chế độ Vit Nam Cng Hòa trong cách nhìn v kinh tế th trường cũng như cách đào to, trng dng nhân tài.
Nhn định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, mt Vit kiu M nay đang sng Vit Nam, đưa ra trong cuc phng vn vi BBC ngày 23/4.

GS Nguyễn Văn Tuấn - Tưởng niệm và kỉ niệm

Tháng 4 năm nay giữa Úc và Việt Nam có một sự trùng hợp mang tính lịch sử. Úc kỉ niệm 100 năm ngày lính Úc và Tân Tây Lan đổ bộ lên bán đảo Gallipoli (Thổ Nhĩ Kì), gọi là Ngày ANZAC. Còn Việt Nam thì kỉ niệm 40 năm ngày "giải phóng miền Nam". Đối với Úc, Ngày ANZAC là tưởng niệm sự hi sinh của lính Úc trong trận chiến mà Úc là phía chiến bại, còn đối với Việt Nam thì đó là ngày kỉ niệm chiến thắng. Nhưng quan sát hai nơi kỉ niệm ngày trọng đại đó làm tôi suy nghĩ Việt Nam nên thay đổi cách kỉ niệm trong tương lai: nên dành ngày 30/4 hàng năm để tưởng niệm những người lính và đồng bào của hai miền đã hi sinh trong cuộc chiến.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

NGÔ THẾ VINH - BỐN MƯƠI NĂM VÕ PHIẾN NHÀ VĂN LƯU ĐẦY


Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.
 
Võ Phiến

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.

Truyện của HÀ KỲ LAM - VÙNG ĐÁ NGẦM


LỜI GIỚI THIỆU. Ngày 30 tháng 4 lại sắp đến. Trong khi cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới đang tưởng niệm biến cố lịch sử đau thương ấy bốn mươi năm xưa của Miền Nam Việt Nam (VNCH), ký ức về hiện tượng thuyền nhân trên Biển Đông cũng được khơi dậy, vì đó là một hệ quả không thể tách rời của biến cố kia.
Từ sau 30-4-1975 - sau ngày VNCH bại trận trong cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 - hàng trăm nhìn người Việt đã liều lĩnh trốn khỏi nước bằng đường biển trên những chiếc xuồng máy nhỏ bé, mong manh. Những hành trình nầy – mà ngôn ngữ thời ấy gọi là “vượt biên” – là những cuộc đào tẩu gian nan, đầy hiểm nguy, bất trắc. Một số người may mắn tới được bến bờ, hay được cứu trên biển; một số không nhỏ đã bị tử vong trên biển vì bệnh tật, đói khát, bão tố… Theo báo cáo của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, khoảng 840 nghìn người Việt vượt biển tìm tự do, đã tới được bến bờ, và khoảng 250 nghìn người đã bỏ mạng trên đường đi.
Truyện “Vùng Đá Ngầm” của Hà Kỳ Lam không phải là sản phẩm của tưởng tượng, hay hư cấu văn chương. Tác giả đã ghi lại mọi chi tiết trung thực từ đầu đến cuối của một chuyến vượt biên qua lời kể của một nhân chứng sống! Ông đã trình bày thiên ký sự nầy dưới dạng một truyện ngắn để gây hứng thú cho người đọc. Chỉ có danh tính nhân vật trong cuộc được biến đổi để tôn trọng sự riêng tư của họ. Nhân dịp “Tháng Tư Đen” lại về, chúng tôi xin đăng lại “Vùng Đá Ngầm” của Hà Kỳ Lam, một câu chuyện thật về thuyền nhân, để cống hiến quí độc giả. DĐTK. 

Ngự Thuyết - 30/4/1975


1975 – 2015. 40 năm đã trôi qua! Đối với đời người, đó là một thời gian dài. Biết bao nhiêu chuyện đã xẩy ra, thử nhìn lại quãng thời gian đằng đẵng ấy, nhớ quên chồng chất lên nhau. Nhiều khi chuyện đáng nhớ lại quên, và ngược lại.

Nhưng thời thơ ấu thì nhớ lắm. Trí nhớ như những sợi dây mong manh bắt từ hiện tại nối vào quá khứ. Những sợi dây có khi bị đứt đoạn, có khi thẳng băng, có khi cuốn tròn, có khi thắt nút, có khi mòn mỏi phôi pha. Tôi thử tháo gỡ, phanh phui những vùng tối trong ký ức, cũng gặp được nhiều điều tưởng như đã rời bỏ tôi vĩnh viễn. Chẳng hạn vài ba câu hát thật xưa: “Đời ta bao tươi vui như hoa hồng thắm ...”, “Nắng trên khóm cây, xuân sáng ngời ...”, “Đoàn niên thiếu ta, hát đùa vui suốt ngày ...” Cả mấy câu hát tiếng Bà Ngư (tiếng một bộ tộc người Thượng vùng Đà Lạt) cũng tình cờ hiện lên dù tôi không hiểu nghĩa, “Mạch non dù ni – Báng phí du xề non ...”,và cả hình ảnh thằng bé con ở trần, đóng khố, mặt bôi lọ nghẹ, hai tay chống nạnh, mông lắc, vừa co ro bước vì trời lạnh quá vừa hát mấy câu trên theo tiếng vỗ tay của thầy dạy Nhạc. Thời thơ ấu đẹp. Oái ăm thay, đấy cũng là thời gian ách đô hộ tàn bạo của Pháp đè nặng. Về sau, trừ mấy năm thanh bình ngắn ngủi sau khi đất nước chia đôi và khi Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chưa ra đời, với tôi, với thế hệ chúng tôi, toàn là những ngày máu lửa, chém giết, hận thù.

Trangđài Glasssey-Trầnguyễn - CHÀO ĐỜI KHÔNG CHA


Tôi mới hai tuần tuổi.
 
Mẹ đem tôi theo trên chuyến xe buýt liên tỉnh để đi từ quê tôi tới chỗ dạy mới. Đi cả nửa ngày mới tới. Cái lệnh đổi trường này là cách chính quyền mới trừng phạt người thân của những quân nhân miền Nam.
Mẹ gói tôi trong miếng vải tốt nhất kiếm được ở nhà. Trước cuộc đổi đời, Mẹ thường mua vải cô-tông tốt nhất và mướn người may áo quần cho anh chị tôi. Mẹ móc vớ, nón, và áo lạnh trắng thật đẹp cho mỗi đứa mặc lúc mới sanh. Mẹ khéo lắm, và lúc nào cũng dồn sự sáng tạo của mình cho con cái. 
Miếng vải cô-tông mềm duy nhất mà Mẹ kiếm được cũng không lớn đủ để gói tôi. Mẹ gói thêm vài miếng vải thô mà Dì Thơ mót được trong rương ngày hôm qua. Những vật quý giá trong rương đã bị tịch thu năm tháng trước, hồi tháng Năm. Cái rương phản ảnh một cách xác đáng cảnh nhà chúng tôi: dở khóc dở cười, trơ trụi, buồn thiu, và bị lột sạch. 

Nguyễn thị Hải Hà - Bạn bây giờ đã quên


Tôi tìm cái giếngrồi nói vọng vào
chuyện không thể nóiám ảnh suốt đờiân tình đứt đoạntrói buộc khôn nguôi[1]  

Bây giờ, tôi không còn nhớ mặt bà nữa. Nếu có đi trên phố chạm mặt nhau tôi không chắc là tôi có thể nhận ra bà. Tôi gặp bà đúng hai lần. Bà có dáng cao, mảnh mai, dễ nhìn, dù không trang điểm. Không còn nhớ nét mặt bà nhưng tôi vẫn nhớ trường hợp chúng tôi gặp nhau. Và chính cái trường hợp ấy đã khiến tôi thầm xem bà như bạn. 

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Ngô Nhân Dụng - Ngày mất tự do cũng là Ngày Tìm Tự Do


Quốc Hội Canada đã thông qua dự luật (Bill S-219) quy định ngày 30 Tháng Tư mỗi năm là ngày “Tìm Tự Do” (Journey to Freedom), và đạo luật đã được ban hành một tuần trước ngày kỷ niệm 40 năm dân miền Nam bị Cộng Sản cướp mất tự do.

Năm ngoái, Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đề nghị dự luật này với tên là “Ngày Tháng Tư Ðen” (Black April Day). Khi thảo luận tại Thượng Viện, nhiều nghị sĩ đề nghị đổi tên để mang một ý nghĩa tích cực hơn và dễ được người Canada thuộc các sắc dân khác ủng hộ; do đó đề nghị đổi tên thành luật Hành Trình Tìm Tự Do. Nhiều người Việt không thỏa mãn với tên gọi không phản ảnh nỗi đau buồn và uất hận vì mất tự do. Nhưng đổi tên là một thỏa hiệp khôn ngoan để đạt mục đích muốn cả nước Canada ghi nhận phong trào vượt biển tị nạn của người Việt sau ngày 30 Tháng Tư 1975 là một biểu tượng cho khát vọng tự do của con người. Chưa một sắc dân nào ở Canada được Quốc Hội đối xử đặc biệt như vậy.

Thụy Khuê: Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long - Chương 8


Hịch của Quang Trung 
Sau khi đại phá quân Thanh năm 1789, uy thế Quang Trung lừng lẫy, nhưng sự kiện anh em bất hoà từ 1787 vẫn còn hằn vết. Giang sơn chia hai, Nguyễn Huệ giữ từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Nhạc từ Quảng Nam tới Quy Nhơn. Đất Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, trên nguyên tắc của Nguyễn Nhạc, nhưng là vùng tranh chấp thường xuyên. Nguyễn Ánh giữ miền Nam. Họ xưng là "ba nước".
Về phía Nguyễn Ánh, sự bình định miền Nam đã xong, cơ sở hành chính và quân đội đã vững. Kế hoạch chiến tranh cũng được vạch rõ: sẽ không đánh liên tục mà đánh theo gió mùa, thuận gió thì đem tầu thuyền ra tấn công chiếm đất, để quân, tướng, ở lại giữ; hết gió, lại rút về Gia Định, cho quân làm ruộng, đợi năm sau. Chính sách khi có giặc thì đánh, khi nghỉ thì cho quân về làm ruộng, có từ thời nhà Đường; ở ta, các đời vua đều ít nhiều sử dụng, không phải do Bá Đa Lộc "dạy" như Faure viết, rồi những người sau chép lại.

Nguyễn Văn Tuấn - Một cõi đi về …


Mượn tựa đề của một bài hát của Trịnh Công Sơn để mô tả cảm giác của tôi về sự “qui cố hương” của Đại tá Lê Bá Hùng. Thật ra, nói “qui cố hương” là không đúng; anh ta chỉ viếng thăm chính thức thôi. Ngày rời quê mẹ là một cậu bé 5 tuổi, ngày trở về là một đại tá, chỉ huy cả hai chiếm hạm thuộc loại hiện đại nhất của hải quân Mĩ. Sự trở về của anh ta, một lần nữa, minh chứng cho câu nói bất hủ của ông Phạm Văn Đồng … quá bậy bạ. (Ông trả lời báo chí Tây và nói rằng những người vượt biên là “thành phần đĩ điếm, xì ke, trộm cướp chạy theo tàn dư Mỹ Nguỵ”). Dĩ nhiên, người di tản không phải là thành phần trộm cướp, mà thời đó là thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam. Họ là những người học hành đàng hoàng (không có bằng dỏm tràn lan như ngày nay), họ được đào tạo bài bản từ các nước tiên tiến hay ngay trong nước, họ là những chuyên gia rất tài giỏi của chế độ VNCH. Họ có thể không tốt trong việc đánh đấm ngoài chiến trường, nhưng họ là những người có học nghiêm chỉnh và có lòng nhân từ bác ái. Nếu có đi tị nạn thời đó và có dịp sống trong các trại tị nạn Đông Nam Á thời đó, các bạn thấy họ là những chuyên gia thứ thiệt, nói tiếng Anh không hề thua kém, thậm chí hơn hẳn, các quan chức Thái. Khi đến Thái Lan, họ rất dễ làm việc với người Mĩ và phương Tây vì cùng “bộ lạc” và nói cùng ngôn ngữ [tiếng Anh] nên rất dễ biết nhau.

Du Tử Lê - Ai là người đầu tiên xuất bản sách cách đây 40 năm?

Cách đây 40 năm, khi lớp người Việt tỵ nạn đầu tiên, như những chiếc lá lìa cành bị vung vãi khắp cùng nước Mỹ thì, bên cạnh nhu cầu âm nhạc, lớp người này cũng còn có nhu cầu đọc, thấy tiếng mẹ đẻ trên những trang sách - -Nhất là khi tập thể đó, chưa có một tờ báo nào, được phát hành rộng rãi như hiện tại.

Ông Ðỗ Ngọc Tùng (phải) và nhà báo Ngọc Hoài Phương. (Hình: NHP)
Trước khao khát tinh thần cháy bỏng này, người đầu tiên có sáng kiến in lại tất cả những đầu sách đủ loại - Từ ưu tiên tự điển hay sách học tiếng Anh, các loại sách phổ thông, giải trí như truyện chưởng, truyện dịch Quỳnh Giao, truyện của các tác giả miền Nam, không phân biệt giá trị, tên tuổi, tới những cuốn sách dạy về gia chánh, nấu ăn, v.v... cũng đã được khẩn cấp in lại, như một nỗ lực đáp ứng khoảng trống quá lớn trong đời sống tinh thần của người tỵ nạn hồi tháng 4, 1975.

Hiền Hòa - Tiểu thuyết quốc ngữ diễm tình đầu tiên của Việt Nam

Đầu tháng 10/2014, PGS - TS Võ Văn Nhơn (Đại học KHXH & NV TPHCM) đã tìm lại được bản in bộ tiểu thuyết vốn ra đời từ 100 năm trước - tác phẩm Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu (1879-1941) tại Thư viện Quốc gia Pháp.
Mới đây, ông đã hoàn tất việc khảo cứu để có thể dẫn đến kết luận: Đây là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, lại thuộc thể loại diễm tình.
Nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn trong chuyến đi làm việc ở Paris.
Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi với ông về bộ tiểu thuyết từng gây tranh cãi nảy lửa, làm hao tốn rất nhiều bút mực này.