Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Huy Ðức - Tại sao lại cấm bán rượu sau 22:30?


Sáng kiến này có vẻ như xuất phát từ những người cứ khoảng sau 22:00 là ngủ. Họ không thể tưởng tượng trong xã hội có những người kiểu như nhà thơ Đỗ Trung Quân (Trung Quan Do), ban ngày thì ngủ khì, tối nổi hứng vác toan ra vẽ, vẽ thì thường thôi nhưng cũng cứ rung đùi khen hay; rồi liếm mép thấy nhàn nhạt thế là đưa tay quờ chai rượu, chẳng may rượu hết tự bao giờ, bèn xông ra quán!

Tuấn Khanh - Người chết nối linh thiêng vào đời


Thế giới như đang bước vào thời đại của những bữa tiệc về cái chết. Mỗi ngày, người ta nhìn thấy chết xuất hiện ở phía Đông, hướng Bắc, đâu đó trên hành tinh này và cũng xảy ra ngay chính ở nơi cư trú của mình. Sự kiện MH17 của Malaysia bị bắn rơi và 298 người chết vào giữa tháng 7/2014 này, lại vừa mở ra một thảm kịch mới. Trong một câu hát cũ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, những cái chết được mô tả rằng “người chết nối linh thiêng vào đời” lại gợi ra những suy nghĩ mới: Liệu những người chết đang nối nhau trên thế gian này, sẽ mang điều linh thiêng nào vào thế giới?

Nguyễn Ðình Bổn - Người cầm bút Việt Nam: Ý thức sáng tạo và ý thức công dân


Một người cầm bút thực sự, dù chuyên nghiệp hay không, luôn có ý thức sáng tạo trong các tác phẩm của mình bởi sáng tạo là cứu cánh của văn chương. Nhưng một nhà văn còn là một công dân của một quốc gia, một người mà, ý thức xã hội luôn được cảm nhận đặc biệt tinh tường.

Một nhà văn dù sáng tác theo trường phái nào, cũng không thể trốn chạy khỏi cái hiện thực xã hội mà anh ta đang đối mặt, do đó nhà văn không thể làm ngơ với hiện thực để theo đuổi những sáng tạo phi thực của mình.

Trần Phương Khanh - Nước Mắt Trông Theo


Như cơn gió lốc, thằng Tùng mở bung cửa, chạy thẳng tới bàn thờ, quơ tay cầm cái bọc nylon mở ra, lựa lấy cái áo thung màu olive của nó ôm vào ngực, và cũng lại như lúc vào, nó quay lưng chạy ra sân, phóng đi mất hút. Bà Thắng nãy giờ im lặng nhìn con trai, chưa kịp lên tiếng đã thấy nó bỏ đi. Bà hốt hoảng gọi với theo: “Tùng, Tùng ơi! Con về sao lại đi Tùng ơi.” Bà cũng vụt đuổi theo nó, vấp ngã ngay ngưỡng cửa.

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Nam Nguyên/RFA - "Bây giờ số phận của đất nước tùy thuộc vào nhân dân thôi."...


Trung Quốc âm mưu thôn tính biển Đông khóa chặt Việt Nam trong vòng lệ thuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng giữa ngã ba lịch sử, thân Trung Quốc để giữ đảng và vai trò độc quyền cai trị hay chấp nhận cải tổ chính trị, dân chủ hóa đất nước tìm chỗ dựa bảo vệ chủ quyền.

Trần Vinh Dự/VOA - Nạn bè phái và chủ nghĩa tư bản thân hữu trong giáo dục: Sự khởi đầu của EMG


Một trong những vấn đề thời sự “nóng” nhất ở Việt Nam, ít nhất là ở Sài Gòn, trong những ngày vừa qua là vụ tai tiếng đình đám liên quan đến Sở Giáo Dục của thành phố và một công ty giáo dục tư nhân mang tên EMG.

Theo hàng loạt các tờ báo như Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, Người Lao Ðộng, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn,VnExpress, Một Thế Giới... vụ việc này bắt đầu từ nhiều năm trước, khi một công ty giáo dục tư nhân mang tên EMG đã “vận động hành lang” (lobby) xin được giấy phép Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo cho triển khai thí điểm chương trình Cambridge tại các trường phổ thông công lập của Việt Nam.

Nguyễn Chí Dũng - 2014: Ai sẽ diện kiến Barak Obama?


Có lẽ Giáo Sư Carl Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc là một trong số ít ỏi học giả quốc tế có được nguồn thông tin tương đối xác thực về tình hình và những biến động trong triều chính Việt Nam. Cuộc trả lời phỏng vấn của ông với đài RFI Việt ngữ mới đây lại một lần nữa biểu tả những gì mà dư luận đang rất nghi ngại và nghi ngờ về “diễn biến nội bộ.”

“Nguyễn Tấn Dũng bị gạt qua một bên”?

Nguyễn Hưng Quốc - VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (1)



Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ không có giai đoạn nào chịu nhiều bất hạnh như giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở miền Nam. Theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học được đánh dấu bằng hai cuộc di cư: một, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam; và hai, cuộc vượt biên ồ ạt của cả triệu người hoặc trên đường bộ, băng qua Campuchia hoặc trên biển cả với cả mấy trăm ngàn người bị chết hoặc do hải tặc hoặc do bị đắm thuyền.

Một nền nông nghiệp thần kỳ

(Bài này nhận được từ Internet, không có xuất xứ và tên tác giả. DĐTK xin phép được đăng lại bài này vì nội dung bổ ích của nó, với lời xin lỗi đã không thể nêu tên tác giả và nguồn gốc của bài).


Israel có din tích rt nh, trên 20.000 km2, tc là ch ln hơn tnh Ngh An ca Vit Nam chút ít. Tuy nhiên Israel li được mnh danh là “thung lũng silicon” ca thế gii trong lĩnh vc nông nghip và công ngh nước. Ch vi 2,5% dân s làm nông nghip nhưng mi năm Israel xut khu chng 3 t USD nông sn, là mt trong nhng nước xut khu hàng đu thế gii. Ít ai biết rng, nhng sn phm rau qu t Arava – mt trong nhng nơi khô cn nht thế gii – li chiếm ti trên 60% tng sn lượng xut khu rau ca Israel và 10% tng sn lượng hoa xut khu.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Nguyễn Hưng Quốc - Văn học và chính trị

Tác phẩm sắp tái bản của NGUYỄN HƯNG QUỐC, Người Việt Books, 8/2014
Mấy năm gần đây, trên blog của tôi trên đài VOA, cũng như mấy tháng gần đây, trên Facebook, tôi hay viết về chính trị. Một số bạn bè hỏi: Tại sao?

Trước hết, cần khẳng định rõ ràng là tôi hoàn toàn không có tham vọng gì về chính trị, tuyệt đối không dính líu gì đến các sinh hoạt chính trị. Sau nữa, cũng cần khẳng định tiếp: Tôi viết với tư cách một trí thức muốn dùng kiến thức và khả năng nhận thức để mổ xẻ những ung nhọt của đất nước; tôi viết với tư cách một nạn nhân và một chứng nhân để ghi lại những kinh nghiệm và cảm nghiệm của mình; tôi viết để giải tỏa những u uẩn và u uất trong lòng; tôi viết để, may ra, gặp được những người đồng cảm và đồng điệu để những bận tâm đau đáu của mình không thành lẻ loi. Liên quan đến đất nước, nhất là một đất nước lớn có cả gần một trăm triệu dân, nghịch lý và phi lý nhất là cảm giác lẻ loi.

Phạm Thị Hoài - Lorca Nguyễn Văn Trỗi

Ian Gibson
Bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” của Thanh Thảo được đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 12 tập 1 năm học 2008/2009 và từ đó hay được chọn làm đề thi tốt nghiệp, thi thử đại học và thi đại học. Năm nay cũng như vậy.
Tôi không có gì phản đối. Mọi thứ đều tốt hơn ngủ vùi trong thời đại muôn thuở Vợ chồng A Phủ. Thực tình tôi đã ngại nó lại một lần nữa được chiếu cố, như một nén nhang cho cụ Tô Hoài, chúng ta thường thích những cử chỉ nghĩa tình và đa cảm. May rằng không phải như thế. Nhưng tôi đoán Thời đại Đàn ghi ta của Lorca cũng sẽ kéo dài vài thập kỉ. Mấy dòng sau đây là một lời an ủi cho những sĩ tử năm nay chống bút than “nếu em rớt, hãy chôn em với đề thi này”.

Huy Phương - Những nhà cai trị vô trách nhiệm

Ngày 27 Tháng Tư, 2014, Thủ Tướng Nam Hàn Chung Hong-won đệ đơn lên tổng thống xin từ chức sau vụ chìm phà Sewol làm cho 300 người tử vong. Vụ chìm phà Sewol không nằm trong sự kiểm soát trực tiếp của thủ tướng, nhưng ông Chung cho rằng ông có lỗi vì đã không ngăn được tai nạn thảm khốc này, và chính phủ phải có trách nhiệm về an sinh của dân chúng.

TV tại nơi tạm trú của người nhà nạn nhân chìm phà Sewol, Nam Hàn, cho thấy Thủ Tướng Chung Hong-won thông báo từ chức. (Hình: Ed Jones/AFP/Getty Images)

Hà Giang (tổng hợp) - Đi lại 'Hành Trình Sang Phía Tự Do'

Hà Nội những ngày cuối năm 1954 im lìm, ảm đạm giữa mùa Ðông lạnh giá.

Hà Nội những ngày ấy đã vắng hẳn một lớp người; thay vào đó là sự xuất hiện của những khuôn mặt lạ - đầu đội nón cối làm bằng nan tre, chân mang dép "Bình Trị Thiên." 

Bốn thủy thủ của chiến hạm USS Bayfield cầm biểu ngữ đón chào người dân di cư lên tàu vào Nam tại Hải Phòng, 3 Tháng Chín, 1954. (Hình: US Navy Department)

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Trùng Dương - 60 năm sau cuộc di cư lịch sử 1954

Trái, hình bìa cuốn “Operation Passage to Freedom – The United States navy in Vietnam, 1954-55” (Texas Tech University Press, Lubbock, Texas, 2007) (Ảnh Trùng Dương). Phải, tác giả Ronald B. Frankum, Jr, hiện dậy môn sử tại Millerville University of Pennsylvania, còn là tác giả và đồng tác giả một số sách nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. (Ảnh trích trong sách “Operation Passage to Freedom”)
Trong lịch sử Việt Nam có hai cuộc di cư vĩ đại, cả hai cùng để lánh nạn cộng sản, vào năm 1954 và 1975. Cuộc di cư 1975, kéo dài từ những ngày tháng 4, 1975 cho tới năm 1988, là năm đóng cửa các trại tị nạn ở Đông Nam Á với sự ra đời của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) sau bao thảm kịch vượt biên vuợt biển với khoảng 500 ngàn người bỏ mạng trên đường đi tìm tự do, theo một thống kê của Liên Hiệp Quốc. Cuộc di cư này đã có nhiều sách vở tài liệu cùng với hình ảnh đầy dẫy trong các thư viện cũng như trên Internet. Riêng cuộc di cư năm 1954-55 có thể nói là chưa có một tài liệu nào đúc kết lại tương đối đầy đủ, cho tới gần đây.

Trần Mộng Tú - Mưa như thấm đất


Mùa hè năm 1954 tôi mới được 10 tuổi. Tôi chưa học hết tiểu học. (Vì gia đình tôi hồi cư về Hà Nội trễ.) Hai bàn chân bé của tôi được tham dự vào “Cuộc bỏ phiếu bằng chân” của một triệu người miền Bắc di cư vào Nam.

Lúc đó ba tôi đang làm việc cho Sở Địa Chánh, Hải Phòng (Ba tôi từ Hà Nội thuyên chuyển xuống làm việc ở đây đã được gần 4 năm).

Sau những năm loạn lạc từ Hà Nội về Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định rồi hồi cư muộn màng về Hà Nội (vì sợ Pháp bắt lại dọc đường), cha mẹ tôi chắc chắn không còn chọn lựa nào khác ngoài việc vào Nam để tránh Cộng Sản. Phải bỏ nhà mà đi thôi.

Phạm Xuân Ðài - Năm 1954, tại Hội An


Tâm hồn tôi ngay từ khi còn bé đã được xây dựng với rất nhiều hình ảnh của đất Bắc, đặc biệt là Hà Nội, qua các sách tôi đọc. Sách Hồng, sách Truyền Bá Quốc Ngữ từ lúc vừa biết đọc, lớn lên một chút, tôi tiếp tục đọc sách Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài v.v... và tiếp nhận thông tin đủ mọi mặt của đời sống đất Bắc qua văn chương. Thuở ấy sách xuất bản từ Sài Gòn mà tôi có được thì tuyệt đối chỉ là truyện Tàu của nhà Yễm Yễm Thư Trang: Tam Quốc, Tây Du, Thủy Hử... rất hấp dẫn và có ích về kiến thức lịch sử, văn hóa Tàu, nhưng tất cả những gì về văn học Việt Nam thì đều đến từ Hà Nội. Nhưng cho đến cuộc di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 thì tôi mới thực sự bắt đầu tiếp xúc với người Bắc.

Võ Phiến - Hoạt cảnh II (Tiếp theo và hết)


Buổi chiều ở một miền cao nguyên này thật là nhiều màu sắc.

Thành phố Pleiku mà đoàn xe vừa rời bỏ la liệt những cây thông; sau trận mưa đêm trước, lá thông xanh sáng óng ánh. Mặt đường đất đỏ đậm màu.

Về chiều, bắt đầu lạnh. Một cái lạnh ráo khô. Mặt trời đỏ gấc giữa đám mây mù xông lên ngui ngút ở chân trời. Ðoàn xe chạy qua những đồi chè xanh ngắt. Chè xanh bên dưới, vượt cao lên trên là loại cây giống như cây muồng, hoa vàng tươi tràn lan. Chàng hỏi người tài xế, rất trẻ, ở bên cạnh:
– Anh biết tên giống cây này không?

Hồ Như - Tro Than


Tắm xong, Thuyền ra ngồi bên đống lửa hong tóc. Ðầu nghiêng nghiêng, chị lùa những ngón tay vào mái tóc ngang vai như chiếc lược cài. Ðại ngồi bên kia đống lửa, khuôn mặt nửa tối nửa sáng trong ánh lửa bập bùng. Thuyền nghiêng đầu thêm chút nữa, bỗng thấy mình trở về một khoảnh khắc mười năm trước. Lúc đó, mọi người không hiểu đi đâu hết, như bây giờ, chị ngồi vừa hong tóc vừa đùa tóc, ngẩng lên gặp ánh mắt của Ðại. Chị nghĩ mặt chị đã hồng hơn trong ánh lửa. Chị biết mình đã nín thở chờ một điều gì đấy. Một cử chỉ hay một lời nói nào đó của Ðại. Hay không chừng chỉ một điệu nhạc vu vơ từ cây đàn anh cầm trên tay.

Hồ Phú Bông - Níu kéo những giờ vui


* Các bạn Xướng, Tường, Thọ, Phát, Vinh, Thành và Thành.

Cuộc ly tán lớn nhất của người miền Nam là 30/4/1975.  Cuộc ly tán nhỏ hơn, bi tráng không kém và cũng của người miền Nam, là chia tay những người bạn khi lần lượt được ra khỏi lao tù cải tạo.  Vì chia tay lúc nầy mỗi cuộc đời lại nổi trôi vô định, cho dù trên giấy ra trại cũng có địa chỉ nơi nầy hay nơi khác, nhưng khi tìm về gia đình thì có vô số trường hợp đã không còn lại một dấu vết nào.  Với cụ Tú Xương bỡn cợt “khách hỏi nhà ông đến, nhà ông đã bán rồi, vợ lăm le ở vú, con tấp tễnh đi bồi” nhưng với người tù cải tạo về thì cay đắng rất nhiều. ‘Ông gõ cửa nhà ông, người lạ hoắc ra hỏi, “ông hỏi nhà ai đó?”, nhà ông đã mất rồi, vợ biệt tăm biệt tích, con vất vưởng phương nào’!

Lê Hữu - Ngược xuôi “những nẻo đường tiếng Việt”


 “Cái hoa hòe của chữ viết chỉ là văn chương,
tư tưởng con người mới là văn học.”
(“Những nẻo đường tiếng Việt”, BS Nguyễn Hy Vọng) 

Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi
Câu hát quen thuộc trong một bài nhạc cũ, “Gợi giấc mơ xưa”. Bài hát kể về một chuyện tình lỡ làng. Tác giả bài hát ấy, nhạc sĩ Lê Hoàng Long, có lần bộc lộ rằng “duyên kiếp lỡ làng” là vì ông bố người yêu của chàng không bằng lòng gả con gái mình cho anh chàng tối ngày chỉ biết kéo đàn violon. Hẳn là chàng nhạc sĩ phải nhiều tiếc nuối lắm nên hai tiếng “lỡ làng” được chàng đưa vào trong bài hát đến hai lần, “Em ơi, tình duyên lỡ làng rồi, còn đâu nữa mà chờ…