Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

canhco - Trái sung và đèn lồng


canhco -

- Không biết từ năm nào mình đã mất hẳn thú vui may áo mới cho con vào những ngày cuối năm. Cũng mất luôn thói quen không thể thiếu là nấu bánh vào ngày 30 tết. Có người bảo siêu thị bán bánh ngon hơn, tiện lợi cho gia đình để bà nội trợ không phải lo toan vào những việc nấu nướng như thế này. Thời gian dôi ra để dành cho việc khác.

Làm sao đồng ý với cách suy nghĩ như thế nhỉ? May áo mới cho con là hạnh phúc của người đàn bà và người mẹ. Đường kim mũi chỉ và sự nhẫn nại, nắn nót sẽ được trả công bằng nụ cười trẻ thơ có phải là phần thưởng lớn nhất của một ngày cuối năm hay không? Tết không phải để ăn để mặc dù dân gian vẫn gọi là ăn tết. Cao hơn những cái bình thường ấy là những kết nối không thể thiếu trong tinh thần ngày tết.
Nồi bánh đêm giao thừa là chiếc cầu nối ký ức vào hiện tại, không phải chỉ một năm đâu mà nhiều năm đã qua, có chuyện đã quên chợt sống dậy làm mình mỉm cười và cũng lắm chuyện làm mình muốn khóc. Chiếc cầu ấy bị gẫy gập vì con người chứ nào phải đời sống công nghiệp? Nồi bánh chưng không cạnh tranh nỗi với nồi bánh siêu thị chỉ vì lòng người đã sơ tán mất rồi.
Chúng ta sơ tán, bỏ thói quen thuần Việt để chạy về vùng đất được gọi là công nghiệp. Ban đầu là sơ tán vì còn nghĩ đến ngày trở lại, bây giờ không còn đường về thì thôi đành ngồi nhớ nồi bánh chưng ngày ba mươi tết như nhớ một kỷ niệm đẹp đã bị đánh bom trong những ngày xưa của Hà Nội.
- Bạn gửi thư về từ Mỹ, vùng đất bình yên mà hàng triệu người muốn tới. Bạn không chào hỏi cũng chẳng chúc tết hay hỏi han người nào. Bạn viết một lèo những câu chữ mình không đọc kịp.
- Bà biết không, hai mươi ba năm ở Mỹ tôi không bao giờ ăn tết. Có gì là tết đâu mà ăn. Tôi dửng dưng với mọi việc vào những ngày giáp tết. Người ta mua tất cả những gì thuộc về tết để đặt trên bàn chỉ nhà tôi là không. Hình ảnh tết rất gượng, rất giả và rất tội nghiệp. Tôi thấy lạ, tại sao người ta lại giả vờ ăn tết trong cái không khí cực kỳ lạnh giá của đất nước này.
Lạnh theo cả hai nghĩa bóng và đen. Cuối đông nên tuyết ngập đầy mọi nơi. Tết nhưng vẫn lò mò tới sở làm nếu không muốn ngày mai ăn tết không lương. Hoa thì hầu hết là nilon, bánh chưng hoa quả mua ở chợ đem về chất đống. Sáng ra con cái tới trường nếu tết rơi vào ngày thứ Hai, hai vợ chồng mỗi người một chiếc xe, một cạp lồng đến sở. Tết đấy.
Mà bà ơi năm nay tôi sẽ ăn tết như người ta. Bà biết tại sao không? Hôm qua tôi ra chợ định mua thức ăn về nấu cuối tuần bất chợt gặp một thứ trái cây rất lạ đối với Mỹ nhưng lại rất quen thuộc với người Việt mình, bà biết trái gì không? Trái sung!
Ôi trời, tôi chỉ biết thầm thì trong lòng khi thấy loại trái quê mùa ấy nằm ngay giữa siêu thị của nước Mỹ. Sao mà nó tội nghiệp như chính tôi vậy bà ơi. Tôi biết nó đang lưu lạc từ quê nhà sang đây vì cái tết của người Việt xa xứ. Đến cái trái vô tri mà còn bị ảnh hưởng như thế thì huống gì con người da thịt như mình.
Tôi sẽ ăn tết năm nay, như một khởi đầu về nguồn trong tâm hồn. Tôi không thể ăn tết như bà và bạn bè mình bên đó nhưng đối với tôi chỉ một trái sung là đủ. Nó hơn hẳn những thức ăn đỏ chót lòe loẹt trên bàn của mọi gia đình. Trái sung ấy mang tới cho tôi một cảm giác gần gũi, ấm áp và gợi mở không biết bao nhiêu là nỗi niềm.
- Bức thư chỉ có thế nhưng làm tôi ngơ ngẩn suốt một buổi chiều. Bạn tôi ra đi với một tinh thần luôn luôn cảm thấy cạn kiệt còn chúng tôi ở lại với một cuộc sống đầy ắp những lo toan và chắc gì tinh thần không thiếu thốn, tổn thương?


Trái sung nhỏ bé hiền lành và còn dính đầy đất cát phù sa mà bạn tôi gặp ở xứ người đã gợi cho bạn ấy một nỗi nhớ nhà gay gắt. Trong khi người ở lại như chúng tôi cũng gay gắt không kém khi mỗi năm màu đỏ của ngày tết càng đỏ thêm. Cái màu đỏ không còn tượng trưng cho thịnh vượng nữa mà nó gợi lên sự phân tán trong lòng mỗi người Việt Nam.
Màu đỏ của máu thắm Hoàng Sa Trường Sa. Màu đỏ của đèn lồng Trung Quốc tràn ngập các tỉnh phía bắc. Màu đỏ ấy còn ám ảnh chúng tôi lâu lắm khi mà hàng hóa lẫn con người Trung Quốc hiện diện một cách kiêu hãnh mọi nơi trên dải đất này.
Bạn ơi cứ ăn tết như thế. Cũng giống chúng tôi vẫn ăn tết như thế. Chúng ta trong hay ngoài gì cũng như nhau, cái mất lớn nhất không phải là tết hay không tết mà là tương lai. Tôi thấy cả dân tộc chúng ta sắp trở thành đứa trẻ Tân Cương bị người lớn Trung Quốc đánh đập, sỉ vả ngay giữa đất nước của họ trên một video mà người ta quay được.
Bạn sẽ buồn và đau đớn khi việc này xảy ra, tuy nhiên bạn vẫn ở xa, sự chia cắt đôi khi làm người ta nhẹ thở. Còn chúng tôi, những sinh vật mang tên là người nhưng không biết có làm người được nữa hay không khi Việt Nam tự nguyện hiến thân cho những ngày tết có lời chúc đầu năm đến từ phương Bắc?
Vậy đó, trái sung làm bạn nhớ quê và đèn lồng làm chúng tôi muốn khóc.



Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Mai Thanh Truyết - CỐ BS DƯƠNG QUỲNH HOA: CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT RẤT BUỒN CỦA MỘT CON NGƯỜI CHÍNH TRỰC


Mai Thanh Truyết - 


Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà. (Blog Bs Hồ Hải)
Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH)
Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH)
Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân”. Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội: ”Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%."

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: ”Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: ”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: ”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York. 

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH.

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.



Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cường quyền.

Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Asia Clinic, 9h02' ngày thứ Hai, 27/01/2013


Lê Diễn Đức - Những suy nghĩ cuối năm qua năm mới


Lê Diễn Đức - 
Lâu lắm rồi không về Việt Nam nên dường như tôi không cảm thấy cái không khí rạo rực của những ngày sắp Tết.

Tại Hoa Kỳ, để hưởng cái không khí từa tựa như ở Việt Nam thì phải về nam California, Little Saigon, thủ đô của người Việt tị nạn cộng sản. Nơi đây chợ Tết sầm uất, trong các khu thương mại tấp nập người mua kẻ bán, những chương trình văn hoá nghệ thuật được các hội đoàn tổ chức vui nhộn. Vào đêm giao thừa, sáng mồng Một Tết, các thành phố của Orange County cho phép đốt pháo xả giàn, xác pháo vung vãi ngập đầy ở trước các tiệm ăn, cửa hàng kinh doanh. Trong các trụ sở văn phòng người ta chúc tụng nhau. Ai là người Việt thấy cũng háo hức, bồn chồn, trong bối cảnh xuân về.


Thế nhưng, ở các bang khác, đặc biệt những bang ít người Việt, Tết thường chỉ gói gọn trong không khí gia đình. Những người tha hương, đặc biệt với những người chưa "an cư" như tôi, Tết chẳng có ý nghĩa gì, dù vẫn có những liên tưởng gắn bó. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Không bánh chưng, cũng chả bánh tét, càng không có cả hoa luôn. "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", thưởng thức hoa với ai?

Ngoài đường, thiên hạ càng chẳng có khái niệm gì về ngày Tết, được gọi là Lunar New Year. Người ta vẫn tấp nập, ngược xuôi, vẫn phải đi làm và bận rộn với muôn chuyện của đời sống thường nhật sau một mùa lễ thường kéo dài kéo dài từ cuối tháng 11, từ lễ Thanksgiving, đến Năm Mới Dương lịch.

Một năm cũ Quý Tỵ 2013 trôi qua, năm mới Giáp Ngọ 2014 tới với những dự báo chẳng lấy gì làm phấn khởi.

Năm 2013 là năm mà tình hình nhân quyền ở Việt Nam tuột dốc, tệ hại hơn những năm trước, theo báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mặc dù Việt Nam lọt vào làm thành viên của Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Nó được ghi lại bằng các đợt đàn áp nặng nề và nghiêm trọng nhằm vào những người lên tiếng phê phán chính quyền, trong đó có những nhà hoạt động ôn hòa bị kết án tù nhiều năm với “tội danh” chống đối nhà nước.

Năm 2013 là năm kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro, bế tắc với các biện pháp vĩ mô xử lý các vấn đề nợ công và nợ của doanh nghiệp nhà nước lên tới gần 1,5 triệu tỷ đồng (không tính vào nợ công). Những yếu kém và thiếu minh bạch liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng đã ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và sẽ tiếp tục cản trở sự tăng trưởng của Việt Nam. Thật khó làm sao khi kinh tế nhà nước mà doanh nghiệp nhà nước là chủ thể, nắm vai trò chủ đạo, lại có thể xử lý được bài toán này. Tái cơ cấu, giải thể, hay cổ phần hoá chỉ là những động tác đánh bùn sang ao, bởi vì đống nợ mà là nợ xấu, không có khả năng thanh toán, vẫn nằm chình ình ra đó.

Trong tăng trưởng GDP trên 5,2% của năm 2013 phải lưu ý các công ty vốn 100% nước ngoài FDI đóng góp tới khoảng 20% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Về thực chất các công ty FDI thúc đẩy tăng trưởng, thu hút lao động, tạo công ăn việc làm nhưng đóng góp vào ngân sách thấp. Nó cũng cho thấy khoảng cách lớn về tổng thu nhập của các doanh nghiệp trong nước. Khả năng tăng trưởng kinh tế cao hơn trong năm 2014 quả là nan giải.

Năm 2013 thị trường bất động sản vẫn đóng băng, các doanh nghiệp bất động sản vừa và nhỏ âm thầm chết hàng loạt, không ít các đại gia đang ôm những món nợ khổng lồ. Nhận định lạc quan của Bộ Xây dựng về tình hình phục hồi, ấm lên lên của thị trường này, không làm tươi sắc màu cho năm 2014.

Năm nay, chấn động dư luận và sẽ còn kéo theo nhiều hệ lụy từ hai vụ đại án, một xét xử Dương Tấn Dũng, cựu chủ tịch Hội đồng Quản Trị Vinalines; và hai, xét xử Huỳnh Thị Huyền Như với Vietinbank.

Vụ án xử Dương Chí Dũng và tiếp theo là Dương Tự Trọng, em trai của ông ta, cho thấy một chế độ thối nát từ trung ương tới địa phương. Băng nhóm lợi ích, ăn chia trục lợi từ các dự án được thiết lập từ những mắt xích thấp nhất- doanh nghiệp, lên tận lãnh đạo Trung ương. Muốn "thay đổi công năng cảng Sài Gòn" thì phải có ý kiến của Hà Nội. Những khoản tiền mặt lót tay khổng lồ sẽ là quyết định cho bên nào giành phần thắng. Vụ án này cũng là cơ hội cho việc tranh chấp quyền lực giữa Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ĐCSVN, Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội Chính, và phe nhóm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tuy nhiên "giao tranh" ác liệt bao nhiêu thì cuối cùng nhân dân vẫn là người thất bại, bởi vì sự tồn tại của ĐCSVN không cho phép đi xa hơn. Không có ảo tưởng nào về sự tiến bộ của hệ thống chính trị này.

Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như cho thấy một ngân hàng thương mại vô trách nhiệm, bất tín như thế nào. Người ta mang tiền đến ngân hàng để gửi chứ không phải mang ra chợ trời. Mệnh giá của đồng bạc Việt Nam rất lớn, mà con số gửi vào ngân hàng lên tới nhiều tỷ đồng một lần, một số lượng lớn, cần phải có chỗ chứa. Bà Huỳnh Thị Huyền Như là cán bộ của ngân hàng chứ không phải là bà bán cá không tên tuổi. Bà ta giả mạo giấy tờ để biển thủ 4.000 tỷ đồng không thể không có sự đồng loã của các nhân viên khác.

Chứng minh của ngân hàng ACB cho thấy số tiền gửi đã vào tài khoản của ngân hàng trước khi 700 tỷ đồng bị bay biến. Hội đồng xét xử thiên về ý xử vô can cho Vietinbank cho thấy có thể suy luận về hành động che giấu một âm mưu có tổ chức trong vụ này. Áp lực dư luận khiến toà phải hoãn xử nhiều lần, thể hiện một cái gì đó mờ ám đứng đàng sau toàn bộ sự việc. Những người bị dính vụ siêu lừa này là nạn nhân của cả hệ thống ngân hàng đầy rủi ro, của sự suy thoái của đạo đức kinh doanh và tính mánh mung, chụp giật lên ngôi. Cùng với nụ cười có vẻ nhạo báng công lý của Dương Chí Dũng khi nói chuyện với công an trong phiên toà, là nụ cười tươi của Huỳnh Thị Huyền Như trong xe chở tù, bộc lộ bản chất của phi vụ tai tiếng này. 

Nụ cười của Huỳnh Thị Huyền Như - Ảnh: OnTheNet

Một số người mơ tưởng, nghĩ về sấm của Trạng Trình:

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Và họ cho rằng, năm mã (ngựa) sẽ có nhiều biến động, là cái mốc của sự thay đổi và sau đó hai năm, năm Thân và năm Dậu sẽ thái bình yên lành. Một sự ngây thơ dễ thương!

Xã hội Việt Nam hôm nay không tích luỹ bất cứ điều gì cho sự thay đổi chính trị. Có chăng cũng chỉ là sự manh nha yếu ớt, là ngọn nến le lói trong đường hầm thiếu không khí. Một xã hội bế tắc về ý thức chính trị, cam phận bị đè đầu cưỡi cổ bởi giới quan lại có chức quyền, đa phần bị lừa gạt, dối trá bởi cái vỏ bọc nếu không có đảng đâu có ngày nay. Cái ngày nay là những gì tệ nhất đang diễn ra trong xã hội mà một đảng cầm quyền có thể mang lại: bất công ngút ngàn, tham nhũng phổ biến thành văn hoá sống, suy thái đạo đức, bất khả kháng trước chủ quyền lãnh thổ của đất nước bị chiếm đoạt.

Tết về là những rộn ràng chuẩn bị của những người có của ăn của để, nhưng cũng là "nỗi lo lại hằn trên khuôn mặt của những phận nghèo mòn mỏi mưu sinh nơi bến cá, đánh giày, bán vé số giữa chốn thị thành" (Tiền Phong ngày 25/01/2014).


Tất bật lo toan những ngày trước Tết - Ảnh Tiền Phong

Giữa sự giàu sang, rủng rỉnh của một giới nhỏ nhờ trục lợi từ hệ thống chính trị thối nát, thì là sự lo toan của những người lao động. Đến chạy cái vé tàu về quê cũng khốn khổ. Thời buổi hôm nay mà vẫn phải mua vé tàu qua cò, để rồi phải bao vây nhà ga Sài Gòn trả vé vì không phù hợp tên tuổi hay số chứng minh nhân dân ghi trên vé. Khoảng cách giữa giàu và nghèo, giữa sự văn minh hiện đại và sự lạc hậu là hố ngăn ngày mỗi sâu hơn.

Nhưng dù sao ngày Tết vẫn là truyền thống, tập quán lâu đời. Hãy cố gắng "số tôi không giàu thì nghèo, ba mươi tết có thịt treo trong nhà". Gạt đi mọi nỗi buồn và những hy vọng đổi thay trong năm mới, xin chúc mọi nguời đón xuân trong không khí đầm ấm của gia đình.

© Lê Diễn Đức - RFA




KHÓC LÊ HIẾU ĐẰNG và MƯA ĐẤT LẠ

 

Đọc trên mạng thấy hai bài thơ làm mình xúc động. Một của Bùi Chí Vinh, một của Phạm Thành, xin chép lại ra đây (Blog Huỳnh Ngọc Chênh).

KHÓC LÊ HIẾU ĐẰNG
Thắp nén nhang cho Lê Hiếu Đằng và nhìn di hài anh ở chùa Xá Lợi đêm Ông Táo về trời 23 tháng chạp, tôi có cảm giác môi anh mím lại như không cam chịu một cái chết được báo trước. Quá đau xót nên viết bài thơ này…

Bùi Chí Vinh

Chết là hết hay chưa là hết
Có người chết đi để được phong thần
Có người chết đi để làm ma quỷ
Nhưng anh chết đi để thành nhân dân

Được phong thần chưa chắc đã không gian
Thành ma quỷ vì sinh thời ở ác
Anh bỏ triều đình về với nhân dân
Nên khi chết vẫn quang minh lỗi lạc

Giữa thời kỳ mạng người như rơm rác
Cái chết chẳng qua một chuyến luân hồi
Đã dám sống một đời bất khuất
Thì chết cũng là bất tử anh ơi !



24-1-2014
BCV


mưa đất lạ
Phạm Thành
23 Tháng Giêng 2014 lúc 16:22

Quê nhà như bến đợi
Nơi đầu một con sông
Mà đời người lữ thứ
Đã lạc mãi cuối dòng,

Ba mươi năm biền biệt
Ước vọng đã tàn hoa
Lỡ thì đời cô phụ
Khô đại đóa vô thường,

Đêm đông !
Tiếng đàn xưa xa vắng
Lỗi nhịp đập
quen rồi quãng tim đau ...

Người đi ?
Tôi về ?
Cầu viễn xứ nhạt nhòa mưa đất khách.

paris 23.1.14




Ghé thăm các Blogs: 28/01/2013


BLOG NHƯ CÂY TRE VIỆT NAM  


(Bilingual)

Phạm Hồng Sơn

Franz Kafka chết lúc 41 tuổi trong lặng lẽ gần như tuyệt đối, vì không mấy ai biết Kafka là Kafka. Nhưng những trang viết, cả đã in lẫn di cảo, của Kafka, dù sinh thời Kafka cũng coi thường, đã được xếp vào hạng tuyệt phẩm của trí tuệ trong thế kỷ 20.

Évariste Galois vội vã chủ động đón nhận một cái chết rất đau đớn khi đang ở tuổi 21. Nhưng Galois đã thành một tượng đài vĩnh viễn trong toán học.

Vũ Trọng Phụng chết lúc chưa đầy 27 tuổi vào một thứ Sáu, ngày 13 tháng 10 năm 1939. Cả văn đàn nước Việt khi đó chết lặng. Đầu tháng 12, Tao Đàn ra một số đặc biệt: Vũ Trọng Phụng. Trong số đó, Trương Tửu viết: “Tài nghệ ông không làm bằng sự bắt chước. Nó làm bằng kinh nghiệm cá nhân và nỗ lực cá nhân. Bởi vậy, trong đô thành văn học Việt Nam hiện đại, ông giữ riêng một ngọn cờ mà chính tay ông đã dệt thành.” Đó là văn phẩm. Còn nhân phẩm, Ngô Tất Tố kể: “một điều đáng trọng hơn nữa là đời ông luôn luôn thấy sự túng thiếu, nhưng không lúc nào ông tự đem sự túng thiếu của mình mà làm phiền lụy người nào, dù khi túng thiếu cực điểm cũng vậy.” Chưa đầy 2 năm sau, khi dựng bộ Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan hạ bút kết thúc phần Vũ Trọng Phụng: “Về phần ông, tấn tuồng đã xong rồi; ông có thể hoàn toàn sung sướng, vì cái vai trò về đường trí thức và tinh thần của ông, tuy ông đóng không bền, mà đã lỗi lạc, hơn nhiều người múa mang từ lâu trên sân khấu.” Văn tài, tư cách và những nhận định vừa kể không chỉ vẫn sống mà còn xuyên thủng cả khối vùi dập khổng lồ đã được đè xuống bằng thời gian, hiềm tỵ, không gian, cùng những đố kỵ chính trị của độc tài cộng sản. Năm 2002, Peter Zinoman, giáo sư trên đất Hoa Kỳ, đã thừa nhận Vũ Trọng Phụng là người “sớm lộ một tài năng chói lọi” với “sự nhạy bén hiện đại hóa ở mức triệt để”.[i]

Ông Lê Hiếu Đằng, cựu đảng viên cộng sản, đã qua đời ở tuổi 70 vào ngày 22/01/2014. Cái chết của ông Đằng cũng gợi lại sự vô lý nếu tuổi đời cứ muốn xen vào việc định phẩm giá hay định thọ đích thực cho con người. Trong tiểu sử, người ta có thể phải bỏ đi gần hết cuộc đời của một người vì nhiều lý do, nhưng nếu có trí nhớ và còn liêm sỷ, dù ít, không ai lại lược đi đoạn đời gần hai tháng cuối cùng của ông Đằng. Song, sẽ là quá sớm để nói nhiều về ý nghĩa từ đoạn đời ngắn đó. Nhưng ít nhất, cái đoạn chỉ có xấp xỉ hai tháng đó, khi ông Đằng từ hẳn khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể đã góp được phần làm nguôi một lời nguyền đang treo lơ lửng trên đầu nước Việt: 

“Đừng nghe những gì người cộng sản nói, mà hãy xem những việc họ làm.” 

Ông Đằng không chỉ than, không chỉ nói lên nỗi chán Đảng, khinh Đảng mà còn đưa tay, trong đơn độc, phủi cái đảng đó đi trước công luận. Và, cái chết của Ông có thể còn làm rung một lời nguyền khác: “Đa thọ, đa nhục.”○

How good not how long

Pham Hong Son

Mr Le Hieu Dang, aged 70, died of cancer on January 22, 2014 in Saigon. Mr Dang was a Viet Cong – a term referring to Vietnamese southerners who secretly followed the Communist Party of Vietnam (CPV) in invading and taking over the former Republic of Vietnam before 1975. Mr Dang Viet Cong was so fierce that he was once sentenced in absentia to death penalty by the former Republic of Vietnam. Since Saigon collapsed in April 1975 Mr Dang has served as a high-level official in a CPV-controlled umbrella civil organization the Central Committee of the Father Land. 

Mr Dang came out to the public notice few years ago when he joined and spoke for anti-China demonstrations. More noticeably, in August 2013 while being a bed-ridden man of a final phase-cancer Mr Dang issued a call to form another political party to support or compete with the CPV, which has never accepted any political competitions, and on December 04, 2013 he declared self-removing from the CPV. So far there have been many CPV members speaking the same things as Mr Dang but a few defected from the CPV.

Although Mr Dang defected from the CPV for only about two months and never admitted his mistake in following the CPV as other former Viet Cong, like Mr Truong Nhu Tang, Dr Duong Quynh Hoa, Mr Huynh Nhat Hai, Mr Huynh Nhat Tan, did, many people, including pro-democracy activists and former officials of the former Republic of Vietnam – Mr Dang’s former enemy, paid tribute to his life and showed regret over his death.

The death of Mr Dang recalls a truth: for human existence, how good not how long does matter.○
________________________________________

[i] “Phung’s precocious brilliance is widely recognized today”, “his significance lies in a radically modernist sensibility found in his work.”, Peter Zinoman, Vũ Trọng Phụng’s Dumb Luck and the Nature of Vietnamese Modernism, The University of Michigan Press, 2002 (có thể xem trong Dumb Luck: A Novel by Vu Trong Phung, bản in lại của Nxb Lao Động, 2013, trang 23)


Blog Người Buôn Gió


Trong hai năm tới Việt Nam sẽ thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nhiều năm qua sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ qua những khoản nợ khổng lồ. Mặc dù chúng được ưu đãi rất nhiều. Với tình trạng điều hành, quản lý mà lỗ mãi như thế thì bán là chuyện tất nhiên. Những doanh nghiệp công ty này do nhà nước sở hữu, giờ được phép bán đến 60% cổ phần, tức là quyền kiểm soát không thuộc về nhà nước Việt Nam nữa. Vì sao phải 60%, vì nếu dưới 50% cổ phần được bán ra thì sở hữu lớn nhất vẫn là của những người đã từng làm doanh nghiệp thua lỗ được quyền điều hành doanh nghiệp.

Làm ăn lỗ thì phải bán, chuyện thường.

Nhưng đặc thù là một nước XHCN do Đảng lãnh đạo, mọi doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo là thành nếp từ xưa đến nay. Mới đây ĐCSVN còn lập ra ban kinh tế Trung Ương để nắm kinh tế đất nước. Nay lại bán các doanh nghiệp đi. Vậy Đảng hay ban kinh tế của Đảng sẽ còn gì để quản lý kinh tế khi mà bán hết các doanh nghiệp nhà nước sở hữu?

Chắc ban kinh tế trung ương lập ra để giải quyết việc cổ phần hóa doanh nghiệp? Chứ không phải là quản lý như trước đây.

Có thể, vì sau khi tuyên bố ban kinh tế trung ương nắm quyền kiểm soát kinh tế đất nước thì sau đó là quyết định  phải gấp rút cổ phần hóa doanh nghiệp để giải quyết tình trạng thua lỗ và để đủ tiêu chuẩn cho Việt Nam tham gia TPP.

Nếu vậy ĐCSVN đã xác định thời gian tới đây sẽ buông dần quản lý kinh tế đất nước qua những doanh nghiệp mình sở hữu. Một khi đã bán cho người nước ngoài, tham gia TPP, đảng không thể còn ra những chính sách kinh tế theo ý mình, mà phải còn cân nhắc đến các yếu tố bên ngoài. Thế còn gì là CNXH nữa nhỉ, phải chăng đây mới là điểm mà ông TBT Trọng nói - còn trăm năm nữa chưa biết đến CNXH hay không?

Một khi đã lập ra ban kinh tế trung ương để chủ trương việc bán cổ phần doanh nghiệp nhà nước sở hữu cho nước ngoài và tư nhân, thì mặc nhiên ai cũng thấy con đường CNXH chuyên chính, kinh tế chủ đạo đất nước do giai cấp vô sản nắm giữ đã trở thành mờ nhạt.

Vấn đề là ai sẽ là người mua cổ phần các doanh nghiệp này. Người Trung Quốc hay người Mỹ.? Hay đồng chí X, Y nào đó đánh giá rẻ mạt một doanh nghiệp, để người nhà đồng chí  lập công ty vay tiền ngân hàng mua lại doanh nghiệp đó (có khi nói tiền vay ngân hàng nhưng ngân hàng lại chính do người nhà các đồng chí nắm cổ phần).

Hãy hình dung, người Trung Quốc mua doanh nghiệp và người của đồng chí X, Y nào đó mua doanh nghiệp nhà nước. Các doanh  nghiệp cổ phần đổi tên mới, phải cơ cấu, cải tổ, lợi nhuận thu về để đóng thuế chẳng hy vọng là bao. Chưa kể được miễn thuế khi đổi tên, đổi chức năng làm mới từ đầu. Chưa kể là có cổ phần của đồng chí X, Y nào nên khoản thuế má được châm chước.

Số tiền bán được các doanh nghiệp này sẽ dùng vào mục đích gì.? Tất nhiên là mục đích quốc gia như trả nợ nước ngoài , trả lương hưu cho cán bộ lão thành, trả lương bổng cho các chiến sĩ lực lượng vũ trang. Ít nhất vài năm nữa quỹ lương hưu sẽ không vỡ, các chiến sĩ lực lượng vũ trang không phải lo lắng về cuộc sống.

Cám ơn chính sách của Đảng và quyết định cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Không bán thì để còn lỗ mà không hợp điều kiện mới khi sắp vào TPP. Bán đi cắt lỗ lại có tiền trang trải việc khác. Nhờ thế tình hình chính trị xã hội của Việt Nam còn ổn định được vài năm nữa.

Sau vài năm đấy, các ông chủ người Trung Quốc (hoặc Mỹ) cùng với các ông chủ là con cháu đồng chí X, Y sẽ lo lắng gánh vác nền kinh tế đất nước qua các doanh nghiệp họ nắm giữ,  cùng với dàn thiên tài lãnh đạo trẻ mới nổi gần đây là Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh, Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình. Những giai cấp mới và trẻ trung năng động này sẽ đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như ước nguyện của chủ tịch HCM vĩ đại.

Nhân dân ta phải cám ơn những nhà lãnh đạo CSVN đã lo lắng. Đúng như họ vẫn nói - mọi việc đã có Đảng và nhà nước lo- Quả thật cái từ băng rôn ở vòng hoa của một đám ma mà còn để ý lo được, thì có gì mà Đảng ta không bao quát hết được.
Được đăng bởi nguoibuongio1972 vào lúc 03:36 




BLOG LÊ ANH HÙNG
THỨ BẢY, NGÀY 25 THÁNG 1 NĂM 2014


Theo Đài PT-TH Điện Biên (trang mạng “lề đảng” duy nhất đưa tin về việc xây dựng nghĩa trang này trước khi sớm gỡ xuống) thì “nghĩa trang người Trung Quốc tại thị xã Mường Lay là nơi yên nghỉ của 52 liệt sỹ đã hy sinh trong thời kỳ Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng tuyến đường Hữu nghị 12 vào những năm 1967–1972”.

 Ngày 18.1.2014, blog Lê Anh Hùng đã đăng bài “Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải chỉ đạo xây ‘nghĩa trang liệt sỹ’ 25 tỷ cho 52 người Trung Quốc”. Bài viết đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều độc giả.

Thông tin trên khiến độc giả không khỏi “băn khoăn” là không hiểu những “liệt sỹ” kia đã từng giúp Việt Nam làm đường như thế nào? 
Việc tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi này quả thực không dễ, bởi từ trước đến nay nhà cầm quyền Việt Nam vẫn luôn tránh đề cập đến sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trên đất Việt Nam.

Tuy nhiên, mặc dù phía Việt Nam luôn tìm cách che dấu nhưng Trung Quốc thì đã công khai chuyện này từ lâu. Ngày 16.5.1989, lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận đã gửi 320.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam (nguồn:Reuters). Và 52 “liệt sỹ” đã giúp Việt Nam làm đường nói trên nằm trong số 320.000 “quân tình nguyện” này.

Mới đây, tác giả Hoa Bảy có bài “Trung Quốc, Việt Nam, ai nợ ai?” được đăng trên một loạt trang mạng. Bài viết này đã giúp giải đáp phần nào câu hỏi mà nhiều độc giả còn “thắc mắc” ở trên:
...Nếu kể cho rạch ròi thì nhiều thứ TQ “giúp” đã gây hại, trước mắt và về lâu về dài. Chẳng hạn, đưa quân sang giúp làm đường (do TQ đòi đưa quân sang đánh “giúp”, VN phải lảng tránh bằng cách nhờ giúp làm đường) thì tàn phá môi trường, cảnh quan (trong đó có việc đặt mìn tiêu huỷ “hòn đá Liễu Thăng” [Xin dẫn thêm một vài ví dụ trong trăm ngàn ví dụ: ở Côn Sơn, nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi, họ đã đào xuyên ngang dọc quả núi thành đường hầm, hiện cửa vào bị bít, không ai biết họ làm gì trong đó. Nhiều di tích như di tích An Sinh, nơi gần đây mới xây đền thờ các vị vua Trần, hết thảy tượng đá thời Trần đều bị phạt cụt đầu hoặc bắn vào bụng. Ở Ngọa Vân am, không những tháp Phật Hoàng đựng xá lị hoàng đế Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm cổ kính cao lừng lững bị đào rỗng ruột, toàn bộ bài vị trong tháp bị đập cho tan nát, tấm bia Trịnh Căn cho lập để kỉ niệm một lần ông đưa con trai và con gái trèo núi lên chiêm bái vị anh hùng cũng bị đập thành ba bảy mảnh, mà 13 ngọn tháp đứng theo một hàng thẳng tắp chạy thoai thoải xuống phía Tây Nam cách nhau chừng 50 mét một đều bị phạt ngang, phía dưới có một đường hầm lộ thiên đào thông tháp nọ với tháp kia. Họ định phá long mạch của nhà Trần lừng lẫy chiến công chống giặc Bắc, cũng tức là phá long mạch của Việt Nam chăng?]), khai thác trộm của cải, thăm dò ngầm tài nguyên, địa thế...

Chừng đó thôi cũng đủ cho thấy là liệu nhân dân Việt Nam có nên "đời đời nhớ ơn" các "liệt sỹ" Trung Quốc hay không. (Việc Trung Quốc lợi dụng “giúp” Việt Nam “làm đường” để lấn chiếm lãnh thổ bằng cách di dời cột mốc biên giới cũng đã được nhiều người nhắc đến.)

Cả văn hoá phương Đông lẫn phương Tây đều coi trọng chuyện mồ mả cho người đã khuất. Và có lẽ chẳng mấy ai trên đời lại muốn nằm lại ở nơi “đất khách quê người” cả. 

Chẳng thế mà người Mỹ luôn sốt sắng trong việc tìm kiếm hài cốt lính Mỹ mất tích ở Việt Nam, dù chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, còn Việt Nam thì vẫn đang huy động nhiều sức người sức của cho công cuộc tìm kiếm và quy tập hài cốt của hàng trăm nghìn người đã ngã xuống ở chiến trường miền Nam, cũng như trên đất Lào và Campuchia, mà chưa xác định được nơi chôn cất để trao trả cho thân nhân của họ.

Chính vì thế, việc Trung Quốc không chịu đưa số hài cốt với danh tính cụ thể nói trên về nước rõ ràng là có ý đồ chính trị, nhất là khi đích thân ngài Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải lại chỉ đạo chi hơn 25 tỷ VNĐ tiền thuế của nhân dân để làm nghĩa trang hoành tráng cho 52 “liệt sỹ” kia, để rồi đến lúc, chẳng hạn, hình ảnh dưới đây sẽ lặp lại với “nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc” đó:  


BLOG KIM DUNG/KỲ DUYÊN
THÁNG MỘT 26, 2014 BY KIM DUNG/KỲ DUYÊN


Tác giả: Trần Gia Lạc

KD: Blog Kim Dung/ Kỳ Duyên vừa nhận được bài viết của một bạn đọc ký tên Trần Gia Lạc. Mình không biết tác giả là ai, tên thật hay chỉ là bút danh? Đọc bài thấy nhắc tới bài viết “Vì sao Dương Tự Trọng giúp anh trai bỏ trốn không thành?‘’, vội vào Google tra, thì thấy ghi chú, bài viết đã bị gỡ bỏ.

Thú thực, trước vụ án Dương Chí Dũng- Dương Tự Trọng, có rất nhiều bài viết. Riêng báo của anh Nguyễn Như Phong quan điểm khác hẳn. Mình vẫn đưa bài của anh NNP lên, vì trước hết, là một Tổng BT, anh NNP hẳn có thông tin riêng của ảnh, và có quan điểm riêng, thì ảnh hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết cũng như uy tín của tờ báo PetroTimes. Đó hoàn toàn là điều bình thường.

Nhưng khi đưa bài viết của Kim Triêu, Kim Triều gì đó về vụ Dương Tự Trọng, quả thật khó có thể chấp nhận về một thứ tư duy làm báo vừa hời hợt, nông cạn, và vừa sai lạc, coi thường cả luật pháp.

Việc đưa những bài báo tư duy xa lạ như vậy chỉ làm tổn hại uy tín của tờ báo mà thôi.

” Tổng biên tập Webseite PetroTimes (PTO) Nguyễn Như Phong, sáng 9/1/2014 (tại đây), đăng trên Petrotimes (PTO) của ông bài viết : ‘’Suy ngẫm về lời khai của Dương Chí Dũng cho Tướng Phạm Quý Ngọ”. Bài viết dài với đủ lí lẽ, dẫn chứng… có thể tóm gọn thành 3 điểm:
1.Tướng Ngọ chức vụ cao, có tài… được Chủ tịch nước vinh danh, (gắn sao Thượng tướng) thì… không thể ’’mắc sai lầm như vậy’’…

2.Dương Chí Dũng đã khai ’’tiên hậu bất nhất’’(tuy có nguyên do…) nên lời khai của anh ta không đáng tin, có ngầm ý vu cáo PQN làm mất uy tín của Đảng(UVTƯ) và lãnh đạo Bộ CA…

3. Yêu cầu các cơ quan tố tụng (Viện KSTC , tòa án NDTC…) và cơ quan điều tra BCA làm rõ, trả lại sự trong sạch cho Thứ trưởng, Thượng Tướng PhạmQuý Ngọ.

16 ngày sau, hôm 25.1.2014, trên cũng trên PetroTimes tựa đề : ’’Vì sao Dương Tự Trọng giúp anh trai bỏ trốn không thành?‘’ (bài này đã bị xóa không còn truy tìm trên Google). Khác bài của TBT Nguyễn Như Phong, tác giả bài viết không bào chữa cho PQN, nhưng tỏ ý ‘’luyến tiếc’’ cho hành động của DTT và ’’ê kíp’’đã không thành công khi anh ta’biết luật – phạm luật’’ tổ chức cho kẻ phạm pháp trốn chạy khỏi sự trùng phạt của luật pháp của nhà nước.

Bài viết thực sự’’Vẽ đường cho (những con) hươu chạy’’!

Điều đáng chú ý: Đọc xong, chúng ta cảm nhận được người này đã gửi tới (những nhóm tội phạm nằm trong sự thao túng của các nhóm lợi ích) : Những gợi ý, những kinh nghiệm cần có cho những ‘’phi vụ’’tương tự khác sau này, nếu có để…trốn chạy thành công !

Công cuộc chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đã, đang bắt đầu tiến hành, cac diễn tiến đã, đang ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt. Hai bài báo của tờ PTO trên đây chẳng những tạo ra những nghi ngờ vô căn cứ đối với các cơ quan chức năng (…) mà cái chính: Đã tác động ngược, làm chỗ dựa cho ’’một bộ phận nhỏ’’ của các nhóm lợi ích không hối cải, cải tà quy chính mà vẫn luồn lách, chống đỡ để tiếp tục tham nhũng !

Tờ báo mạng PTO của Đại tá công an Nguyễn Như Phong (và ê kíp của ông) đã là tờ báo duy nhất trong số gần 1000 tờ bao (cả báo giấy lẫn báo mạng) thời gian qua, chẳng những có biểu hiện làm vai trò tiên phong, đi ngược lại chủ trương Nghị quyết của các hội nghị TƯ, của ban chỉ đạo Phòng Chống Tham Nhũng TƯ, Ban Nội Chính TƯ, góp phần ’’làm trong sạch đảng’’, mà còn chống lại’ ’ý đảng – lòng dân’’ trong công cuộc chống căn bệnh hiểm nghèo của đất nước đã nhờn thuốc. Tham nhũng thực sự đã ngăn trở sự phát triển bền vững, đi lên, làm nghèo đất nước, làm nhân dân thêm khổ cực. 

Rất mong các cơ quan tố tụng khẩn trương vào cuộc, điều tra cho ra sự thực (kết bài viết của Nguyễn Như Phong bào chữa cho PQN) ? Rồi đây, khi thông điệp đầu năm 2014 của TT Nguyễn Tấn Dũng thực sự đi vào cuộc sống của đất nước, ê kíp PTO liệu sẽ còn có những bài viết theo xu hướng này, nữa không ?

————
Bài này, Blog Kim Dung/ Kỳ Duyên đã biên tập



Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Nguyễn Hưng Quốc - Huyền thoại: chất dinh dưỡng của độc tài


Viết bài Sự mù quáng vô tận, tôi không nhắm đến mục tiêu phê phán người dân Trung Quốc. Tôi chỉ muốn chứng minh hai điều:


Một, dù có nhiều điểm tương đồng, giữa độc tài phát-xít và độc tài Mác-xít vẫn có một điểm khác biệt lớn: Trong khi chủ nghĩa phát-xít dựa trên một số niềm tin gắn liền với một số thành kiến về chủng tộc và với một thứ chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, chủ nghĩa Mác-xít lại dựa trên một nền tảng triết học có vẻ rất đồ sộ và nguy nga, nhờ thế, một mặt, nó dễ dàng thuyết phục được giới trí thức, và mặt khác, cũng rất dễ được huyền thoại hóa.


Hai, vì yếu tố huyền thoại ấy, độc tài Mác-xít sống dai dẳng hơn hẳn độc tài phát-xít. Chủ nghĩa phát-xít, lúc còn mạnh, không làm dấy lên một phong trào văn học nghệ thuật tương ứng nào, và khi bị sụp đổ, là sụp đổ hoàn toàn, cả trong hiện thực lẫn trong ký ức. Chủ nghĩa Mác-xít, ngược lại, ngay từ đầu, đã gắn liền với cả một phong trào văn nghệ rộng lớn dưới nhãn hiệu chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, qua đó, thấm nhiễm sâu sắc vào đáy sâu tâm thức của từng người; hậu quả là, ngay cả khi chủ nghĩa cộng sản, với tư cách một thể chế và một ý thức hệ, đã bị phá sản, dư âm của nó vẫn còn lại. Sự kéo dài của dư âm ấy cũng đồng thời là sự kéo dài của họa độc tài.

Sự sùng bái của nhiều người dân Trung Quốc hiện nay đối với thần tượng Mao Trạch Đông của họ chính là một minh chứng hùng hồn cho sự kéo dài ấy.

Hiện tượng ấy lại cho thấy sự khó khăn và gập ghềnh trong tiến trình dân chủ hóa ở khắp nơi, đặc biệt, ở các nước độc tài từng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác.

Liên quan đến vấn đề dân chủ hóa, nói chung, có mấy đặc điểm chính: Một, đó là một xu hướng chung của thế giới. Giới nghiên cứu - đi tiên phong và tiêu biểu nhất là Samuel Huntington - chia tiến trình dân chủ hóa ấy thành từng đợt, giống như đợt sóng, hết đợt thứ nhất (từ khoảng 1810 đến khoảng 1922) đến đợt thứ hai (khoảng 1944-1957), thứ ba (khoảng từ 1974 đến đầu thập niên 1990), và gần đây, với sự sụp đổ của nhiều chế độ độc tài ở Trung Đông và châu Phi, nhiều người lại nói đến đợt sóng dân chủ thứ tư. Hai, tuy nhìn chung, các đợt sóng dân chủ hóa ấy có sức mạnh mãnh liệt, hết càn quét chế độ độc tài ở nước này lại càn quét chế độ độc tài ở nước khác, tiến trình dân chủ hóa vẫn có những thoái trào nhất định: thay vì phát triển theo đường thẳng, nó lại chạy lòng vòng hoặc theo những đường cong đầy khúc khuỷu, như những gì chúng ta đang nhìn thấy ở các nước Hồi giáo Trung Đông và Bắc Phi. Ba, trong sự phát triển của dân chủ, có một số nơi dường như may mắn, ở đó, dân chủ một khi đã xuất hiện cứ ngày một nảy nở xum xuê; ở một số nơi khác, ngược lại, nó cứ còi cọc, quặt quẹo, lúc nào cũng có nguy cơ bị chết héo.

Đặc điểm thứ ba vừa nêu thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu. Họ đặt câu hỏi: Tại sao? Tại sao dân chủ có thể phát triển dễ dàng ở nơi này hơn ở nơi khác? Tại sao, trên lý thuyết, dân chủ nhắm đến việc phát huy quyền tự do của mỗi người, đáng lẽ mọi người phải hân hoan đón nhận, thế nhưng, ngược lại, nhiều người, rất nhiều người, kể cả những người thiếu tự do nhất, lại dửng dưng, thậm chí, run sợ, muốn quay mặt đi? Tại sao?

Tất cả những câu hỏi tại sao ấy lại dẫn đến một câu hỏi khác: Vậy, điều kiện, hoặc những điều kiện chính của dân chủ là gì?

Câu hỏi này sẽ dẫn đến một câu hỏi khác có tính thực dụng và thực tiễn hơn: Để xây dựng một chế độ dân chủ thực sự, yếu tố nào cần được xây dựng trước?

Trong cuốn Người Đông Á quan niệm về dân chủ như thế nào (How East Asians View Democracy) do Columbia University Press xuất bản năm 2010, các nhà biên tập, Yun-han Chu, Larry Diamond, Andrew J. Nathan và Doh Chull Shin, trong lời giới thiệu, đã chia cuộc hành trình nhận thức về dân chủ thành ba giai đoạn chính:

Thứ nhất, giai đoạn đầu, từ thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, các lý thuyết gia cho rằng có nhiều yếu tố tác động đến quá trình tiến hóa của dân chủ, trong đó, có yếu tố văn hóa chính trị. Đi tiên phong trong giai đoạn này là Dankwart Rustow, người cho rằng cuộc dân chủ hóa nào cũng bắt đầu, trước hết, bằng sự thống nhất của quốc gia, sau đó, bằng việc tranh đấu để chấm dứt sự bất bình đẳng về các phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, sau đó, là quyết định xây dựng các thiết chế cần thiết cho dân chủ; và cuối cùng, mọi người, từ trí thức đến bình dân, dần dần làm quen với dân chủ để ứng xử theo các nguyên tắc dân chủ.

Thứ hai, suốt thập niên 1970 và thập niên 1980, không hiểu sao giới nghiên cứu lại xao nhãng yếu tố văn hóa chính trị. Mọi người đều chỉ tập trung vào cấu trúc xã hội, những thay đổi trong giới trí thức và các thiết chế chính trị.



Thứ ba, từ thập niên 1990 đến nay, người ta lại chú ý đến văn hóa chính trị, hơn nữa, xem văn hóa chính trị như là yếu tố trung tâm trong tiến trình dân chủ hóa. Trong cái gọi là văn hóa chính trị ấy, người ta không những chỉ tập trung vào giới trí thức mà còn cả giới bình dân, nếu không muốn nói, đặc biệt là giới bình dân: Chính niềm tin và thái độ của giới bình dân là một trong những yếu tố quyết định vận mệnh của dân chủ.

Nói một cách tóm tắt, hiện nay, phần lớn giới nghiên cứu về chính trị học đều tin là, để có dân chủ, người ta cần có nhiều thứ, ví dụ, một, sự thức tỉnh và dấn thân của giới trí thức; hai, sự phát triển của kinh tế phải đến một mức độ nào đó, để, một mặt, có một tầng lớp trung lưu tương đối mạnh, mặt khác, để mọi người không còn chỉ biết hùng hục lo cho miếng cơm manh áo, những nhu cầu sơ đẳng và nhỏ nhặt hằng ngày; ba, một môi trường quốc tế thích hợp và có tác động tích cực đến xu hướng dân chủ hóa; và bốn, quan trọng nhất, là thái độ của quần chúng.

Nhìn vào tình hình chính trị ở châu Á những năm gầy đây, các nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết các nền dân chủ non trẻ ở đây đều gặp thử thách nghiêm trọng. Không kể Trung Quốc, nơi chưa có dân chủ, từ Hong Kong đến Đài Loan, từ Thái Lan đến Mông Cổ, từ Hàn Quốc đến Nhật Bản, ở đâu cũng có những đợt khủng hoảng, với những mức độ khác nhau, về dân chủ.

Lý do chính, theo các tác giả của cuốn Người Đông Á quan niệm về dân chủ như thế nào là vì nền tảng của tính chính đáng của dân chủ ở đó còn rất yếu ớt và mong manh. Một mặt, nhiều người dân vẫn nuối tiếc cái thời độc tài đã qua. Tự do gắn liền với cạnh tranh; cạnh tranh cần sự quyết liệt và có sự hơn thua rõ ràng: Những người thua cuộc, nhất là trong cuộc chạy đua về kinh tế và quyền lực, dễ có tâm lý bất mãn. Tâm lý này, thật ra, cũng rất dễ nhìn thấy ở Nga và Đông Âu hiện nay: người ta thấy cuộc sống dưới chế độ độc tài cộng sản trước đây có vẻ dễ dàng hơn, ở đó, ai an phận nấy, cứ đến tháng lại cầm sổ lương thực đi mua thịt mua cá, không phải tính toán hay cố gắng gì nhiều, dù với cái giá người ta phải trả là mất tự do. Mặt khác, người ta vẫn chưa quen với trò chơi dân chủ, chưa phục tùng quyết định của đa số, vẫn muốn dùng sức mạnh, hoặc bằng bạo lực hoặc của đám đông qua các cuộc xuống đường biểu tình để xóa bỏ kết quả của các cuộc bầu cử.

Điều cuối cùng vừa nêu thấy rõ nhất là ở Thái Lan. Cứ bất mãn chính phủ điều gì là người ta lại xuống đường biểu tình để đòi thay chính phủ, bất chấp sự kiện chính phủ ấy đã chiến thắng trong cuộc bỏ phiếu trước đó. Xin lưu ý là ở các quốc gia có truyền thống dân chủ lâu dài và vững chắc ở Tây phương, người ta cũng thường xuống đường biểu tình nhưng mục tiêu của các cuộc biểu tình ấy là nhằm để gây sức ép làm thay đổi một số chính sách nào đó chứ không phải là thay đổi bản thân chính phủ. Việc thay đổi chính phủ, người ta để các lá phiếu quyết định.

Ở đây, chúng ta thấy có sự khác biệt quan trọng trong nội dung của văn hóa chính trị ở các nước đã có dân chủ, dù là dân chủ non trẻ và ở các nước chưa có dân chủ. Điều kiện để nuôi dưỡng dân chủ, ở các nước đã ít nhiều có dân chủ, là sự tin tưởng vào thể chế và giới hạn mục tiêu tranh đấu vào lãnh vực chính sách, trong khi đó, ở các nước chưa có dân chủ, điều kiện thiết yếu là sự bất tín nhiệm đối với thể chế hiện hữu và nhắm đến mục tiêu thay đổi thể chế.

Trong trường hợp thứ hai, tiến trình dân chủ hóa ở các nước chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác gặp nhiều khó khăn hơn, chủ yếu, vì áp lực của các huyền thoại giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vốn được hệ thống tuyên truyền của nhà nước nuôi dưỡng quá lâu. Với các huyền thoại ấy, người ta hoặc vẫn tiếp tục có ảo tưởng vào một tương lai tươi sáng nào đó hoặc đâm ra dễ dàng tha thứ cho các tội ác trong hiện tại, xem chúng như những cái giá cần phải trả cho một thiên đường mai hậu. Đó là chưa kể, vì sống quá lâu dưới ách độc tài, chỉ cần một lời hứa hẹn hoặc một sự thay đổi nho nhỏ, người ta đã thấy thỏa mãn.

Chính sự thỏa mãn ấy là dưỡng khí cần thiết của các chế độ độc tài.