Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Mặc Lý - Thư gửi các con


Mặc Lý - 


Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
(Vũ Đình Liên)

Chưa bao giờ trong lịch sử con người lại có nhiều thay đổi như trong thời đại ngày nay. Bố có cảm tưởng con người trải cả trăm năm chỉ trong chục năm. Thời bố mới lớn, máy tính là một cái gì cao siêu, nay thì ở trong mỗi gia đình. Những internet, laptop, tablet, GPS quá sức phổ thông ngày nay là những cái bố chưa bao giờ tưởng tượng ra được khi bố mới đến Canada gần ba mươi năm trước. Có những cái rất xa rất xưa nhờ máy tính, nhờ mạng, đã được mang lại ngay trước mắt. Nhưng ngược lại, khi con người thay đổi để thích nghi với môi trường biến động nhanh chóng ở chung quanh, có những điều quen thuộc trong vài chục năm trước đã trở thành xa lạ ngày nay. Một trong những cái đó là những giá trị mà trước kia được coi là mẫu mực của người đàn bà trong xã hội Việt Nam. Bố kể lại cho các con cuộc đời của bà nội, một người đàn bà tiêu biểu của thế kỷ trước. Một số điều bố biết qua lời kể của bà, một số điều từ người thân như những bà chị của bà vào Sài gòn thăm sau 1975, nhưng phần lớn thì bố lấy ra từ ngay trí nhớ của bố.

Ông bà cố, bố mẹ của bà nội, thuộc tầng lớp tương đối khá giả ở nông thôn miền Bắc. Ông bà cố có độ dăm mẫu ruộng, vừa có tá điền vừa làm ruộng lấy. Ông cố có mua một hàm Chánh Hội trong làng, gọi là có chút phẩm hàm trong làng. Tuy tương đối khá giả, nhưng ông bà cố vốn tính cần kiệm của miền Bắc quanh năm lụt lội hạn hán mất mùa đói khổ, nhà thường ăn cơm chấp quanh năm, nghĩa là cơm độn, độn ngô hay độn khoai lang. Ông bà cố các con lại theo thói xưa không cho con gái đi học, nghĩ rằng con gái  đi học thì chỉ viết thư cho trai nên nhà có bốn người con gái không ai được đi học cả. Con gái đến tuổi lớn là bước lên khung cửi dệt vải. Chỉ có bà nội các con, thèm biết chữ vì thấy nhiều người khác đọc sách được nên dùng tiền bòn nhặt những dịp lể Tết, hội hè, buổi tối sau khi xong việc dệt vải, bước xuống khung cửi, mượn một tá điền một tối hai xu dạy cho biết đọc biết viết. Chỉ sau vài tháng là bà nội con biết đọc biết viết kha khá rồi sau đó học một mình. Bà cố cũng ngạc nhiên, bảo ông cố "Quái, con T. này học bao giờ mà biết đọc vanh vách vậy nhỉ?"

Đến tuổi lấy chồng, đầu tiên ông bà cố tính gả bà nội các con cho một người gia đình khá giả trong làng nhưng bà nội cương quyết không chịu, vì chê anh này không có học. Ông bà cố ép không được đành chịu. Sau có một bà mai giới thiệu ông nội các con ở làng bên. Theo lời bà mai thì ông nội tuy nhà nghèo nhưng có tiếng học giỏi. Lúc đó ông nội mới học đệ tam niên ban Thành Chung, tức tương đương lớp tám bây giờ. Các con đừng cười, vì thời xưa ông nội các con đi học trễ, tuy học lớp tám nhưng lúc đó cũng đã trên mười tám tuổi chứ không còn nhỏ nữa. Mẹ của ông nội là người hiền, ông cố bố của ông nội chết khi ông nội các con, người con út,  mới lên ba tuổi. Bà cố ở vậy, buôn bán nuôi mẹ chồng và ba con trai. Khi bà nội lấy ông nội, mãi đến khi động phòng, bà nội mới biết mặt ông nội. Chuyện này phổ thông thời đó, nhưng chắc chắn các con ngày nay không tưởng tượng ra được. Đại gia đình bà cố gồm cả ba con trai đã lập gia đình nên nhà cửa chật chội, sau một năm lấy nhau thì ông bà nội các con ra ở riêng.
 
Hình 1: Thiếu phụ ngoài hai mươi

Bà nội là người tháo vát, sau khi ông nội đậu Thành Chung, tức tốt nghiệp lớp chín, ngỏ ý muốn tiếp tục học thêm thay vì đi làm, bà đã tìm cách buôn bán nuôi chồng ăn học. Bà buôn hàng gánh, gánh những mặt hàng từ vùng Việt Minh kiểm soát, chính yếu là vải vóc dệt tay, sang vùng tề (vùng Pháp kiểm soát) và  ngược lại từ vùng tề sang vùng Việt Minh những mặt hàng như thuốc tây, đá lửa.... Mỗi chuyến hàng gánh là gánh trên hai chục cây số, cả đêm, tránh đồn bót vùng tề lẫn trạm kiểm soát vùng Việt Minh. Bị bắt thì nhẹ ra hàng bị tịch thu mà nặng thì tù tội có khi mất mạng. Vì thế, gánh hàng chỉ gánh đi ban đêm, đến sáng mới đến được nhà người quen giao hàng rồi lại đi sắm hàng để đến tối lại gánh chuyến hàng trở về. Đầu tiên thì gánh thuê, nghĩa là vốn người khác bỏ ra, bà nội chỉ lấy công. Một thời gian sau bà mới có đủ vốn để sắm gánh hàng buôn riêng. Có lần bà gánh hàng, về đến nhà thì ngày hôm sau là nằm ổ, nghĩa là sinh bác N. chị lớn nhất của bố. Sinh xong bà mượn vú nuôi, ba ngày sau bà nội thắt bụng lại rồi đi buôn tiếp. Cảnh này gọi là:
Con cò lặn lội bờ sông 
Gánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non

Phải có một ý chí rất mạnh mới làm được những điều đó. Lúc vượt cạn bà chỉ một mình xoay xở là chính, vì ông nội đi học nơi xa, không gần nhà. Mãi đến khi ông nội đậu Tú Tài rồi động viên vào quân trường Thủ Đức trong Nam thì bà mới lên Hà Nội, gọi là biết chút văn minh tỉnh thành. Rồi chẳng bao lâu, hoàn cảnh đất nước chia đôi, ông bà nội các con di cư vào Nam, bỏ lại quê hương miền Bắc chôn nhau cắt rốn và hầu như toàn bộ đại gia đình hai bên. Ở lại miền Bắc, ông bà cố thời gian Cải Cách Ruộng Đất bị đấu tố là địa chủ, đến cả người thân cũng không dám giúp đỡ, sau may mắn được hạ xuống hàng phú nông, sống hơn chục năm sau rồi mất. Sau 1975, bà nội vẫn ngậm ngùi không có dịp đền đáp công ơn dưỡng dục của bậc sinh thành, nhưng biết sao được.

Vào trong miền Nam, trong thời gian đầu của đệ nhất Cộng Hòa, ông nội trong quân đội nhưng làm việc hành chánh ở Vũng Tàu nên có thời gian học thêm buổi tối cho đến khi đậu được cử nhân Luật. Trong thời gian đó, bà tuy có năm con vẫn tìm cách làm việc thêm kiếm tiền. Bà mướn một người giúp việc nhà, rồi làm mắm cua, mắm cáy hàng tháng từ Vũng Tàu mang về Sài gòn bán cho những người quen. Chắc chắn là mắm của bà nội không có tiếng như mắm Bà Giáo Thảo, nhưng đó là một nguồn thu nhập đáng kể trong thời gian gia đình ông bà nội ở Vũng Tầu.
 
Hình 2: Thiếu phụ ngoài ba mươi

Ông nội là mẫu người không để ý nhiều đến vật chất, đi làm về giao hết tiền lương cho bà tiêu pha sao thì tiêu pha, ngoài chuyện dạy con cái học hành chỉ thích nói chuyện văn chương chuyện chính trị với bạn bè cùng tâm tính. Do đó gánh nặng tài chánh, lo lắng chi tiêu trong gia đình coi như ở trên vai một mình bà nội các con.

Sau 1963, cả nhà dọn về Sài Gòn rồi một hai năm sau đó, ông nội chuyển ngành và dọn trước ra Nha Trang làm việc. Bà nội các con và các anh chị em của bố vẫn ở lại Sài Gòn một thời gian. Bà lấy tiền dành dụm, chạy đầu này đầu kia mua sắt thép xi măng xây nhà. Một thiếu phụ chưa đi học, đứng ra mướn thầu khoán, chỉ huy thợ thuyền xây một căn nhà ba tầng thì không phải dễ. Cái nào bà không biết thì hỏi những người có kinh nghiệm. Nhà nào cũng vậy, xây ở chưa dược dăm tháng, bà thấy  thì có lời lại bán lại. Gặp thời buổi chiến tranh sôi động, nhà cửa tại Sài Gòn lên giá nhanh chóng, bà xây nhà hai lần như vậy thì kiếm được một số vốn khá lớn thời đó.

Khi cả nhà di chuyển ra Nha Trang, ông bà nội các con có sang lại một nhà trong cư xá quân đội, dĩ nhiên giá cả rẻ hơn nhiều so với bên ngoài. Lúc này người giúp việc đã nghỉ vì vật giá leo thang, bà không kham nổi. Hơn nữa các bác các chú đã lớn có thể phụ đỡ đần việc nhà. Ngoài việc nội trợ, bà còn mua nhà mua đất ở Nha Trang và cả ở Cam Ranh để đầu tư, nhưng không sinh lời được như giai đoạn ở Sài Gòn. Lúc này lương ông nội không còn đủ để chi phí trong gia đình nên bà phải lấy tiền để dành từ trước ra phụ thêm. Bố còn nhớ trong suốt bẩy năm sống tại Nha Trang, những lần cả gia đình đi ăn tiệm có thể đếm trên đầu ngón tay, và những dịp như  vậy cũng thường là chỉ đến tiệm phở khi có gia đình ông bà L. là chị họ ông nội từ Sài Gòn ra chơi. Sau này bà thỉnh thoảng lại ân hận để con cái khổ cực, nhưng bố hiểu cái ưu tư lớn nhất đeo đẳng hầu như suốt đời của bà là có đủ tiền lo cho các bác các chú và bố học hành đến nơi đến chốn, không phải thất học như bà.
 
Hình 3: Thiếu phụ ngoài bốn mươi

Rồi đến cuộc đổi đời 30/04/1975. Ông nội như bao nhiêu sĩ quan và công chức khác của phe thua cuộc, đã khăn gói vào trại học tập cải tạo. Đây là một ngôn từ hoa mỹ, thực chất chỉ là một hình thức ở tù, không phải là tù giam thường mà tù khổ sai. Người đi vào tù thì cực thân cực trí nhưng không phải bương chải vì mọi chuyện nằm ngoài tầm tay của họ. Chuyện đó, chuyện lo toan xoay xở để gia đình sống còn, là chuyện của những người còn lại bên ngoài trại tù.
Bố không muốn nhắc lại những lỗi lầm tả khuynh ấu trĩ của nhà cầm quyền lúc đó, nhưng thực sự những người bên phe thua cuộc bị coi như một loại công dân hạng hai, nếu không có lý do ở lại thành phố thì bị liệt vào thành phần ăn bám xã hội, sẽ bị cưỡng ép đưa đi vùng kinh tế mới. Với các con sinh đẻ bên Canada, danh từ vùng kinh tế mới xa lạ với các con lắm. Đây là một vùng đất hoang, khô cằn, dĩ nhiên cần bàn tay người khai phá. Tuy nhiên các con ở bên này, bạn bè con mỗi người một cá tính một khả năng, các con chọn hướng học, chọn nghề nghiệp theo năng khiếu của mình. Nhà cầm quyền lúc đó không nghĩ vậy, thái độ trịch thượng với phe thua cuộc  và trí óc hẹp hòi của họ cho rằng chỉ có cày ruộng hay làm việc trong nhà máy mới là sản xuất, còn không là ăn bám xã hội tất. 

Trở lại chuyện lo toan xoay xở của những người ngoài vòng tù tội để sống còn, lúc đó mới lại thấy tài tháo vát của bà nội các con. Chỉ một hai tháng sau khi ông nội đi vào trại tù, bà và bác T. anh của bố, đã lên Hóc Môn, tìm những người quen học nghề dệt chiếu. Ý bà là muốn tạo một lý do để gia đình ở lại Sài Gòn vì ở thành phố lớn dù sao cũng đỡ bị đàn áp và dễ kiếm sống hơn. Học nghề xong, bà đặt giàn dệt chiếu ở nhà. Phòng khách dưới nhà của ông bà nội, sofa bàn ghế thì đem bán hết, còn lại đục lỗ trên nền gạch làm chỗ dệt chiếu. Thật sự dụng cụ dệt chiếu cũng đơn giản, chỉ cần một ghế dài, một go dệt và bốn cọc sắt bốn góc để căng go chiếu là xong. Bác T. sau khi lập giàn dệt chiếu tại nhà thì đi quanh xóm đễ lập giàn dệt chiếu cho những người trong phường cùng hoàn cảnh như gia đình bà nội các con, muốn tìm một chỗ bám víu vào thành phố khỏi bị đẩy đi kinh tế mới. Một giàn dệt chiếu như vậy, vừa dựng vừa chỉ cách dệt, làm độ một ngày là xong, bác T. lấy công khoảng mươi dồng. Lúc đó lương tháng của một công nhân trung bình khoảng  80 đồng. Bà nội còn được bầu làm tổ trưởng tổ dệt chiếu của phường vì là người tiên phong mang nghề dệt chiếu về phường. Vậy là các con của bà, nếu không học đại học hay đi làm, với nghề dệt chiếu được coi như nghề lao động không ăn bám xã hội, có lý do để sống tại thành phố. Mỗi đứa con được cắt giờ dệt chiếu tại nhà, sao cho từ sáng đến tối lúc nào công an đi qua lại trước nhà cũng thấy có người đang dệt chiếu, nghĩa là đang lao động. Còn phần bà thì lại đi phe, nghĩa là đi ra chợ xa nhà một chút, mua qua bán lại, mua đủ loại, thường là quần áo cũ, mua xong bán lại kiếm lời. Các con có trong thời buổi ấy mới thấy bà nội như một gà mẹ, thấp thoáng bóng diều hâu lượn thì vươn cánh ra che chở cho gà con.

Chút vốn liếng dành dụm cả đời, đến thời phong trào vượt biên nổi lên, bà nội đã dùng nó để gửi lần lượt từng đứa con ra đi tìm tự do. Mỗi lần tiễn con đi là mỗi lần đứt ruột, vì với bao hiểm nguy chờ đón trước mắt, không biết có còn gặp lại nhau nữa không. Đến khi bố là người con vượt biên sau cùng thì coi như bà nội gần như trắng tay. Cũng may lúc đó bác T. và bác O. đã đi làm được, gửi tiền về nuôi ông bà nội và cô út. Và bà nội cũng chỉ nhận tiền tối thiểu, đủ cho những sinh hoạt căn bản nhất trong nhà. Tiền còn dư thì bà nội lại theo các thầy các ni trong chùa Kim Cương gần nhà, đi mọi nơi tặng quà, làm việc từ thiện. Bà nội vẫn thường bảo đó là một trong những giai đoạn đẹp nhất đời bà nội vì bà nội không còn phải lo âu, không còn phải ký cóp dành dụm cho tương lai con cái nữa.

Khi sang đến Canada, như các con cũng thấy, bà nội hầu như chỉ quanh quẩn trong nhà tối ngày. Cuối tuần rảnh rỗi bố mới chở bà nội lên chùa. Giao tiếp khó khăn, tiếng Anh không biết, cuộc sống ở đây dù đã trên hai mươi năm với ông bà nội cũng chẳng phải là chốn quen thuộc, nơi chôn nhau cắt rốn cho được. Biết làm sao được? Sống ở đây thì cảm thấy xa lạ, sống ở Việt Nam thì suốt ngày thương con nhớ cháu. Cũng coi như sự đau khổ của ông bà nội là một phần đau khổ của dân tộc Việt Nam.
 
Hình 4: Bà nội khi gần cuối đời

Bà nội qua đời, nhẹ nhàng chóng vánh, bố cũng mừng khi bà nội không phải chịu nhiều cảnh khổ thứ ba của kiếp người. Cuộc đời của bà, cũng như  của trăm nghìn người đàn bà Việt Nam thế kỷ trước, không có niềm vui riêng, chỉ coi chồng con là niềm vui của chính mình. Bố không khuyên con gái của bố như vậy, vì bố biết mỗi thời mỗi khác. Cái đúng của trăm năm trước không còn là cái đúng thời nay. Nhưng bố nhắc lại chuyện đời bà nội cho các con biết, như là kể lại cho các con nghe một câu chuyện đẹp. Những cái này rồi sẽ dần dần lui vào quá khứ. Để rồi, chỉ có những người tò mò, thổi lớp bụi dầy của thời gian, mới tìm lại được.


Nguyễn Hưng Quốc - Rồi sẽ đến Biển Đông


Nguyễn Hưng Quốc - 

Trước nguy cơ xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc, ở Việt Nam, nhiều người nhấp nhỏm lo lắng và tức giận nhưng cũng không ít người khác, ngay cả các cán bộ cao cấp, có khi thuộc giới lãnh đạo trung ương, lại thờ ơ đến mức dửng dưng.


Hải quân Trung Quốc trên tàu sân bay Liêu Ninh.

Lý do của sự dửng dưng ấy là người ta cho cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa đều là những hòn đảo nhỏ xíu và xa lắc, phần lớn đều không có dân cư, hoặc nếu có, cũng cực kỳ ít ỏi, không đáng để chú ý, đừng nói là để phải hy sinh bất cứ một điều gì. Nói theo lời một cán bộ nào đó ở Việt Nam thường được nhắc nhở trên các tờ báo mạng: “Đó chỉ là những hòn đảo cho chim ỉa.”

Dễ ngỡ như có lý. Quần đảo Hoàng Sa bao gồm trên 30 đảo, bãi đá và cồn san hô, nhưng phần đất nổi lên khỏi mặt nước lại khá nhỏ, với tổng diện tích khoảng 8 cây số vuông. Trường Sa bao gồm trên 100 đảo và bãi san hô, nhưng phần đất nổi lại nhỏ hơn Hoàng Sa, chỉ khoảng 3 cây số vuông. Đất đai ở cả hai nơi hầu như đều không thể trồng trọt được; có nơi còn không có cả nước ngọt, do đó, dân cư đều rất thưa thớt, chỉ khoảng vài ba trăm người (không kể bộ đội).

Tuy nhiên, đó chỉ là một sự ngụy biện. Hơn nữa, một sự ngụy biện ngu xuẩn. Hơn thế nữa, một sự ngụy biện ngu xuẩn một cách nguy hiểm.

Ngu xuẩn bởi nó phủ nhận một thực tế khác: Ở đó không phải chỉ có đảo, có đá và có san hô mà còn có nhiều tài nguyên khác, từ những thứ gần và dễ thấy nhất là tài nguyên sinh vật (thủy sản), đến những thứ sâu kín và quý giá hơn là tài nguyên khoáng sản với trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên được giới nghiên cứu tiên đoán là rất dồi dào, lên đến hàng trăm tỉ thùng.

Ngu xuẩn cũng bởi nó bất chấp một khía cạnh khác, quan trọng không kém: ý thức quốc gia và lòng tự hào dân tộc. Bất cứ mảnh đất nào thuộc lãnh thổ một quốc gia cũng được xem là quý báu không phải chỉ vì giá trị vật chất mà còn vì những giá trị tinh thần của nó.

Người ta có thể cân đo đong đếm các trữ lượng tài nguyên nhưng không ai có thể cân đo đong đếm xương máu cha ông đã đổ ra để bảo vệ những mảnh đất ấy. Chính những xương máu ấy làm cho mọi mảnh đất đều trở thành thiêng liêng. Công việc bảo vệ những giá trị thiêng liêng ấy không còn thuộc phạm trù vật chất và quyền lợi mà thuộc về phạm trù tâm linh và đạo đức.

Sự ngu xuẩn ấy còn nguy hiểm vì hai lý do khác:

Thứ nhất, theo luật quốc tế, chủ quyền trên đảo bao giờ cũng đi liền với chủ quyền trên vùng biển chung quanh đảo. Quần đảo Hoàng Sa nhỏ, chỉ có mấy cây số vuông, nhưng vùng biển chung quanh nó lại lên đến 30.000 cây số vuông; diện tích vùng biển chung quanh quần đảo Trường Sa lên đến 410.000 cây số vuông. Đó là lý do tại sao, sau khi tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc ra tuyên bố chủ quyền trên cả vùng biển mênh mông với hình chữ U hiện đang gây xôn xao dư luận quốc tế. Nhân danh cái hình chữ U ấy, Trung Quốc đã ngăn cấm việc ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên vùng lãnh hải vốn, theo truyền thống và nguyên tắc, thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Thứ hai, chiếm đảo, Trung Quốc không những chiếm vùng biển chung quanh đảo mà còn sẽ chiếm cả vùng trời trên vùng biển ấy. Đó là những gì vừa mới xảy ra trong cuộc tranh chấp ở vùng biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Sau khi tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) / Senkaku (theo cách gọi của Nhật Bản), ngày 23 tháng 11 vừa qua, chính phủ Trung Quốc tuyên bố thành lập khu vực nhận diện phòng không (“Air Defence Identification Zone” được gọi tắt là ADIZ) bao trùm toàn bộ vùng trời tương ứng với vùng biển họ muốn chiếm đoạt.

Theo quy định của chính phủ Trung Quốc, từ nay, bất cứ một chiếc máy bay, quân sự hoặc dân sự, nào đi ngang qua vùng trời trên vùng biển chung quanh quần đảo Điếu Ngư / Senkaku cũng đều phải thông báo trước cho Trung Quốc và chịu sự kiểm soát của Trung Quốc. Các lời phát biểu của giới lãnh đạo Trung Quốc về quyết định này còn khá lập lờ, lúc cứng lúc mềm, lúc quyết liệt lúc khoan hòa, lúc nhân danh chủ quyền lúc nhân danh sự an toàn quốc tế, nhưng mục tiêu chính, ai cũng thấy, chỉ là một: đến một lúc nào đó, họ có thể cấm máy bay một số nước họ xem là thù nghịch bay qua vùng trời ấy.

Giới nghiên cứu chính trị gọi đó là chiến thuật Salami (Salami tactics), kiểu “tằm ăn dâu” trong cách nói của người Việt: Chiếm từ từ dần dần mỗi ngày một chút. Một chút thôi. Nhìn sự chiếm cứ “một chút” ấy, người ta tưởng là nhỏ nên không chú ý. Họ lại tiếp tục chiếm thêm “một chút” nữa. Cũng không ai chú ý. Đến lúc nào đó, giật mình nhìn lại, toàn bộ đảo, biển và trời đều nằm trong tay Trung Quốc!

Hiểu được điều đó, cả Đài Loan lẫn Philippines và Singapore đều lên tiếng lo ngại là trong tương lai không xa chính phủ Trung Quốc cũng sẽ thiết lập khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, tương ứng với vùng biển chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Cứ tưởng tượng, một lúc nào đó, cả tàu thủy lẫn máy bay của Việt Nam, mỗi lần đi ngang qua Biển Đông, dù dưới nước hay trên trời, cũng đều phải xin phép chính phủ Trung Quốc. Khi Chú Ba vui, gật đầu: Được đi. Khi Chú Ba buồn, lắc đầu: Cả máy bay lẫn tàu thủy, nếu không thể bất động, đành phải chọn con đường lòng vòng, lòng vòng. Trời đất!


Võ Phiến - Tả Cảnh


Võ Phiến - 


— Tiến bộ đâu chẳng thấy, đời cứ mỗi ngày mỗi tệ thêm. Chán thật.

— Ý bạn muốn bảo hạt cơm ngày nay ăn không ngon bằng đời Nghiêu Thuấn chăng, phi cơ bây giờ bay chậm hơn đời Nghiêu Thuấn chăng?

— Hừm! Người ta nói đây là nói về đường tinh thần. Về văn chương, nghệ thuật cơ.

— A! Tôi hiểu. Vậy chắc bạn cho rằng văn bây giờ không theo kịp Siêu Quát, thơ hôm nay thua thơ Lý Đỗ?

— Tôi không nói lên một cảm tưởng chung chung, vu vơ. Nên nói cái gì cụ thể, rõ ràng: Chuyện tả cảnh chẳng hạn. Ngày trước, khắp Đông Tây bao nhiêu là cây bút tả cảnh thần tình. Mãi sau này lớp Nguyễn Tuân, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ v.v...cũng có những bức tranh tuyệt vời về cảnh vật thiên nhiên. Mấy chục năm gần đây mở sách ra chỉ thấy toàn những nhân vật bấu xấu lẫn nhau, chộn rộn, nhố nhăng; chẳng thấy thiên nhiên đâu nữa, chẳng có mấy cảnh vật tả ra hồn. Úi dào!

— Bạn nói năng có khẩu khí.

— Thế à?

— Vâng. Nói cứ như một nhân vật lẫy lừng. Tức bà lão Chín Cân trong truyện Lỗ Tấn.1

— Không được láo nhé. Tôi có gì sai?

— Nói chung thì đúng. Còn cái riêng, sẽ xét sau.

— Kìa! Đúng, hãy bảo là đúng. Còn khẩu khí thế nào, mặc tôi. Khi nói lên một chân lý, tôi có quyền tuyên bố với khẩu khí đế vương chứ ạ.

— Giá bạn có được khẩu khí đế vương! Đàng này bạn phàn nàn, cằn nhằn... Xin lỗi, bạn có phần lố...

— Lại láo! Trước sự trạng đáng phàn nàn: phải phàn nàn thôi. Bạn có gì thắc mắc về sự trạng không? Bạn có cho rằng chúng ta càng ngày tả cảnh càng hay chăng? rằng trong tác phẩm văn chương của chúng ta có nhiều thiên nhiên hơn của tiền bối chăng?

— Không.

— Tốt. Thế về sự trạng, chẳng cần chứng minh nhá. Vả lại nếu bạn không nhìn thấy sự trạng như tôi, tôi chỉ có cách chấm dứt chuyện trò, mời bạn đọc sách lại, suy nghĩ lại thôi. Tôi không có số thống kê để chứng tỏ cái nhiều ít, tôi cũng không mời được một hội đồng giám định để quyết định cái hay dở.

— Bạn chỉ được tôi ban cho một sự may mắn. Từ sự đồng ý may mắn về sự trạng, chúng ta đi tới hai thái độ khác nhau. Bạn chê trách, phàn nàn...

— Còn bạn thì hoan hỉ? Đừng, bạn không cần phản đối. Hiện thời chưa cần biết thái độ gàn bướng của bạn là như thế nào. Bạn chê tôi, trước hãy để tôi biện minh. Theo tôi (và cũng là theo tất cả mọi người) đã kém tất nên phàn nàn. Huống hồ đây là cái kém trầm trọng; không phải chỉ là một sự kém sút về kỹ thuật, mà là một sa sút trong tâm hồn.

Tôi không cho tả cảnh là một vấn đề kỹ thuật. Ở trường thày có dạy trò những kỹ thuật căn bản về phép tả cảnh, nhưng tất nhiên không ai tin rằng cái dạy dỗ ấy có thể tạo nên những tài năng về tả cảnh. Nếu đó là cách đào tạo, lúc này những kẻ có năng khiếu kinh doanh tha hồ mở trung tâm huấn luyện thuật tả cảnh để hốt bạc. Giật được mấy chứng chỉ về tả cảnh, thêm mấy chứng chỉ về phép tả người, thêm một mớ chứng chỉ về phép dựng truyện nữa, từ trong trường bước ra tha hồ làm văn sĩ. Hoặc giả đang viết lách phăng phăng bỗng thấy có trục trặc, cứ mạnh dạn vào lớp bổ túc cẩn thận về môn tả cảnh, thế là “đổi mới” ngay. Lo quái gì.

Đàng này, không phải thế. Tả cảnh với không tả cảnh là hai trạng thái tâm hồn, là hai loại tâm hồn, hai loại người. Người không tả cảnh không phải là người không trông thấy cảnh, người yếu mắt, người cần đi bác sĩ nhãn khoa. Và theo tôi nghĩ, cũng không phải là người kém khả năng quan sát, cần được huấn luyện nữa. Không tả chẳng qua vì không thấy có gì đáng nói. Như vậy phải chứ. Như vậy là thường tình. Hễ thấy cảnh không có gì đáng nói thì không tả cảnh, thấy người không có gì đáng nói thì không tả người, thấy sự việc ở đời không có gì đáng kể thì không kể làm chi: ở đời biết bao nhiêu người vẫn như thế. Đó là phần tối đại đa số của nhân loại, cái phần không phải là văn nghệ sĩ.

Văn nghệ sĩ là phần tử không thường. Đêm đêm trăng sáng vẫn thế, Hàn Mặc Tử tự dưng lại thấy bao nhiêu là cái đáng nói, cần nói, rồi thì huyên thiên lên “Chơi giữa mùa trăng”. Bao người xung quanh ngày ngày vẫn vậy, vẫn đi lại trước mắt bạn bè, chẳng ai thấy gì khác lạ, bỗng dưng La Bruyère thấy ra bao nhiêu là điều cần nói, rồi huyên thiên lên (Les caractères). Xã hội vẫn hoạt động trước mắt mọi người, không ai thấy có vấn đề gì, Balzac lại nhìn thấy một tấn trò đời (La comédie humaine) nói mãi không dứt, Nhất Linh lại trông thấy ra vấn đề cô Loan, Hoàng Ngọc Phách lại thấy có câu chuyện Tố Tâm v.v... Những vị vừa kể tinh mắt hơn người chăng? Không. Mù mắt như Nguyễn Đình Chiểu vẫn thấy ra chuyện. Những cái ấy — cảnh, người, sự việc — không phải thấy bằng mắt, mà bằng tấm lòng.

— Khẩu khí bạn lâm ly ra phết.

— Tạm gác khẩu khí qua một bên đi. Tôi lấy một thí dụ. Nếu con đường này cũng như mọi đường khác thì việc gì mà quan sát, mà vác bút ra hè hụi tả nó làm chi, phải không? Tả là khi nhận ra nó có điểm đặc biệt nào đó, chẳng hạn nó... đìu hiu.

Khốn nỗi, trên mặt địa cầu chẳng có con đường nào tự nó đìu hiu cả. Đường, tự nó chỉ có đường dài đường ngắn, đường rộng đường hẹp, đường đất lở lói hay đường nhựa trơn tru... (Những cái ấy chỉ có thể đưa vào tiểu thuyết objectal thôi, nhưng thời của nó đã qua rồi.) Không những không có con đường đìu hiu mà cũng không có khu phố đìu hiu, họa chăng chỉ có khu phố mươi lăm nhà, khu phố nghìn nhà vạn nhà, khu phố nhà tranh, khu biệt thự lầu v.v...
Tóm lại không có con đường nào, bụi cỏ nào, mùa thu hay mùa đông nào đìu hiu cả. Cảnh vật tự nó không có hồn. Đìu hiu là cái mà hồn người trao cho cảnh vật: cho khóm lá, cho mùa thu... Một khi ta chẳng có gì để trao cho cảnh vật thì nó chẳng còn có gì đáng tả nữa. Tả làm chi cái cảnh: Trên trời lúc bấy giờ có đám mây to bằng sáu mươi tám lần chiếc bánh đa, màu xám tro, bên phải đậm bên trái nhạt, trôi theo hướng nam bắc, tốc độ ước chừng ba mươi lăm dặm một giờ v.v... Nếu cứ nhất định quan sát, nhất định tả cho kỳ được như tôi vừa tả, thì đọc có thấy “hay” không?

Bạn nghĩ coi: sự sa sút về tả cảnh tố cáo một cái gì lớn lao quá, thấy không? Một sa sút trong tâm hồn. Ta không còn gì để trao cho ngoại cảnh, cho thiên nhiên. Tâm hồn ta dần dần trở nên khô khấc. Tôi phàn nàn vì thế, bạn hiểu chứ?

— Tôi có hiểu. Và những điều bạn nói làm tôi phát run. Bạn bảo tối đại đa số nhân loại không có gì để trao cho cảnh vật, có phải ý bạn muốn nói họ không có... tâm hồn?

— Ấy chết! Ấy chết! Tôi không biết tôi đã nói năng ra sao. Thực ra ý tôi chỉ muốn bảo là đa số thiếu cái thiết tha đối với thiên nhiên thôi. Ở đời, gần như chẳng ai là không thiết tha. Có người thiết tha với vợ con, có kẻ thiết tha của cải, có hạng thiết tha quyền lực, có những vị thiết tha với tín ngưỡng, với lý tưởng v.v... Đối với bất cứ cái gì liên hệ đến đối tượng thiết tha của họ thì họ nhạy cảm. Kẻ thiết tha với tiền, hễ nghe phong phanh về chuyện có lợi là sáng cả mắt lên, người thiết tha quyền lực thì...

— Văn nghệ sĩ là cái thiểu số thiết tha với cảnh vật...
— Không hẳn thế. Văn nghệ không phải chỉ có ngâm hoa vịnh nguyệt. Tôi nghĩ người văn nghệ sĩ yêu cả cuộc sống. Họ thích thú ngắm nghía vần trăng, áng mây, mặt hồ, cành liễu; họ cũng say mê theo dõi hoặc mối tình ngang trái của Anna Karénine, hoặc cái tình thương con điên dại của cụ Goriot, hay những ngày đau đớn cuối cùng của Ivan Ilitch; họ lại tò mò về các diễn biến trong xã hội Nga suốt thời chiến tranh chống lại cuộc xâm lăng của Nã-phá-luân (Chiến tranh và hòa bình của Tolstoi), trong xã hội Pháp hồi tiền bán thế kỷ XIX (Trò đời của Balzac) v.v... Họ “mê” cuộc sống, mê dữ dội và bất vụ lợi; họ rình dò từng biểu hiện của cuộc sống dưới mọi hình thức, từng hơi thở của cuộc sống.

Cái tiếp cận của những con người như thế đối với cảnh vật là một tiếp cận nồng nàn, trong khi “thế nhân” tiếp cận hững hờ. Một tiếp cận nồng nàn mới khiến ta trông thấy cái đìu hiu của một con đường, trông thấy cái đáng nói đáng tả nơi cảnh vật. Ngày nay...

— Ngày nay, than ôi! bao nhiêu thiết tha vụ lợi đã xô giạt mất cái thiết tha bất vụ lợi của con người?

— Bạn không nghĩ vậy sao?

— Không.

— Thế bạn cho rằng bây giờ tình yêu thiên nhiên vẫn còn như xưa?

— Không. Tôi không dám bảo đảm thế.

— Ơ kìa! Thế bạn làm sao cắt nghĩa sự trạng mà bạn đã từng đồng ý với tôi?

— Tôi cần gì phải cắt nghĩa? Cổ nhân đã cắt nghĩa hộ tôi. “Xa mặt thì cách lòng”. Ngày nay chúng ta xa rời thôn quê rừng núi, dồn về sống ở đô thị, làm văn nghệ ở đô thị; xa thiên nhiên, chúng ta quên nó, vậy thôi.

— Ờ ờ, có thể.

— Có thể à? Sự thực là thế, còn gì hồ nghi nữa? Ngay cùng một lúc, cùng một nước, cùng một dân tộc, hễ sống trong môi trường nào thì viết lách theo môi trường nấy. Trong thơ văn Miền Bắc sau 1945 vẫn còn hình ảnh thiên nhiên: thôn xóm, ruộng đồng, cánh cò, núi rừng, hoa cỏ v.v... Những cái ấy dàn khắp các tác phẩm văn nghệ Miền Bắc là vì trong suốt ba mươi năm chiến tranh ngoài ấy đâu còn đô thị, thậm chí các tỉnh lỵ quận lỵ cũng xua dân tản cư về quê để sản xuất, để tránh địch. Không những về đồng quê, nam nữ thanh niên ngoài Bắc còn bị lùa lên Trường sơn, lên các mật khu, quanh năm mịt mù cây xanh. Trong thơ của Quang Dũng, trong văn của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v... làm sao thiếu thiên nhiên được. Trong lúc ấy, ở Miền Nam, phần lớn văn nghệ sĩ dồn về Sài Gòn, mấy ai chịu cam phận ở tỉnh lẻ, nói gì đến thôn lẻ, rừng lẻ. Thiên nhiên nào lặn lội mằn mò về được Sài Gòn mà lọt nổi vào tác phẩm văn nghệ? À này, tôi nhờ bạn giúp cho một việc, liệu bạn có vui lòng?

— Lại giở quẻ gì ra đấy?

— Có gì đâu. Tôi hiểu biết nông cạn, nhưng nhờ bấm độn thấy rằng ở xứ Ba-tây thiên nhiên tràn đầy nghệ phẩm; và xét tiền đồ văn hóa nước ấy, tính cho tới ngày tàn lụi của rừng rậm Amazone, thì văn nghệ Ba-tây vẫn nhuốm màu lục. Tôi muốn nhờ bạn nghiên cứu và kiểm điểm hộ cho, xem sai đúng thế nào. Ấy, tôi bảo tả cảnh trước nhiều sau ít nói chung là đúng, “nói riêng” không đúng, là như thế.

— Hầy! Hóa ra tả cảnh kém không hẳn là con người sút kém nhỉ.

— Hơn kém gì đâu. “Thế thành thị thế thôn quê, gặp thời thế thế thời phải thế”, vậy thôi. Ngày xưa trong thơ các cụ R. Burns, Wordsworth, E. Poe... có chuột, có bướm, có chim cu, chim sẻ, quà quạ, có hoa có cỏ... lung tung đủ thứ; bây giờ toàn một món trí tuệ. Mới đây, trong East of Eden nào rắn mối, nhện nước, ễnh ương v.v... đầy dẫy. Trong The grapes of wrath cũng của J. Steinbeck, một con rùa bò khệnh khà khệnh khạng suốt cả trang sách, và cũng mới đây thôi, trong Bác sĩ Jivago của B. Pasternak thiên nhiên còn tràn ngập; nhưng rồi đến John Updike, trong cả bộ truyện về gã Rabbit có trăng nào mọc có hoa nào tàn đâu. Một chiều hướng văn minh, một xu thế đổi thay trong lối sống thôi. Hơn kém gì.

— Hầy! Theo chiều hướng này, e ta còn lâu mới bắt kịp Âu Mỹ đa. Cũng lại là chuyện hơn kém nữa! Trong văn phẩm Miền Nam độ sau này đã nặng hơi hướng nếp sống đô thị, nhưng so với văn phẩm ra đời trong khung cảnh New York, Los Angeles, Paris, thì...

— Ta thua, vâng, ta thua. Xét theo lối ấy, có thế. Trong quá khứ, Á với Âu cùng nồng thắm tình yêu thiên nhiên: Huề. Chuyển sang văn minh kỹ nghệ, họ đi trước ta, họ yêu và họ ghét những kiểu xe cộ, những giọng hát tiếng kèn hộp đêm... trước ta. Chúng ta chẳng qua mới tập tành tí chút. Bây giờ bạn có còn tha thiết phục hưng tả cảnh nữa không?

— Tha thiết hay không tha thiết, chẳng có ai phục hưng được cái gì, cũng chẳng ai nhảy vọt gấp rút tới một cái gì. Dù là cảnh thiên nhiên hay cảnh đô thị, không phải ta muốn lôi chúng vô đâu thì lôi, muốn lôi lúc nào thì lôi. Không phải kể chuyện riết một hồi, sực nhớ chưa có cảnh bèn chạy đi “quan sát” núi đồi cẩn thận rồi tống vô sách, lại sực nhớ chưa có phòng trà ca sĩ bèn đẩy ngay vào mấy em ca-ve vài cậu da đen thổi kèn inh ỏi là xong việc. Có tiếp cận lâu dài với cảnh vật, có chung sống với nó trường kỳ mới đưa nó vào văn nghệ phẩm được. Đâu phải cứ lâu lâu đi Yellowstone hít khí hạo nhiên một phát rồi về nhà tha hồ tả cảnh.

Đối với người lớn lên ở đồng quê, tiếng sấm rền trong đêm mưa dông và kỷ niệm tang tóc nào đó là một; đối với kẻ sinh trưởng nơi thành phố tiếng còi tàu giữa khuya, tiếng xe cứu thương, tiếng xe thắng rít trên đường nhựa có thể gắn liền với một đau thương lớn trong đời, như hòa làm một. Cảnh nọ tình kia có tương quan xương thịt.

Nguyễn Du bảo: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Tôi sửa sai cụ Nguyễn một chút cho vui, nhé. Giữa tình với cảnh không có tuyệt nhiên định phận tại nhân tâm, không chia đôi ranh giới minh bạch như thế. Tình cảm thành hình trong khung cảnh nào, câu chuyện xảy ra trong khung cảnh nào thì nó cuốn luôn cảnh ấy vào văn nghệ phẩm thôi.

— Nhưng dù sống ở đâu, thành thị hay thôn quê, cũng chỉ có những người nghệ sĩ, yêu cuộc sống say mê và bất vụ lợi, mới thấy có điều để nói để tả chứ...

— Danh ngôn của ai đấy nhỉ? Của tôi à? Thế thì chính thị chân lý rồi, còn hỏi gì nữa!

6 – 1991

1 Nhân vật Cửu Cân lão thái trong truyện ‘Phong ba’ hễ mở miệng ra là kêu: “Giá chân thị nhất đại bất như nhất đại.” Ông Giản Chi (trong Lỗ Tấn tuyển tập) dịch: “Rõ thật mỗi đời một thêm kém sút.”




Trần Vũ - NGHĨ VỀ MỘT TẬP SAN QUÂN ĐỘI

Trần Vũ - 

Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được ví như một cuộc “chiến đấu thần kỳ” và trở thành biểu tượng của lương tri và phẩm giá con người. Mỗi chiến công trong cuộc chiến đấu ấy là một kỳ tích. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước là một chiến công như thế – tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Đại tướng Phùng Quang Thanh
Điều làm nên một quân nhân, là phẩm chất suy nghĩ độc lập biết lĩnh hội sức mạnh phản chiếu từ nhiều tấm gương lịch sử.
Gerhard von Scharnhorst

1. Tập san quân đội Pháp
Nhìn vào một tập san quân đội, trông thấy sức mạnh của quân đội ấy.
Không ngẫu nhiên mà vào thời hoàng kim của đế chế Pháp, đầu thế kỷ 19, Journal Militaire dầy 800 trang đậm đặc các tranh luận học thuật về đạn đạo, cự ly, cách vẽ xạ bảng hay phân bố đại bác trên trận địa… Pháo binh, là một vũ khí mới ở thời kỳ này. Trung pháo 75 ly là vũ khí xương sống làm nên sức mạnh của quân đội Pháp.
Từ giữa thế kỷ 19, Journal Militaire đổi tên thành Journal Militaire Officiel [Tập san Quân đội Chánh thức] mất dần đi chất học thuật, số trang mỏng đi và thay vào các chủ đề Hướng dẫn Tác xạ [Instructions du Tir] là những huấn thị của Bộ Quốc phòng, rồi danh sách các sĩ quan được thăng thưởng phía sau. Tính chất tuân thủ nhiều thêm, cùng lúc tính kỹ thuật giảm đi, và, một cách trùng hợp, quân đội Pháp suy yếu.
Khi chiến tranh tái diễn, các hậu duệ của Nã Phá Luân nhanh chóng thảm bại. Tuy quân số đông hơn và các chiến xa nặng Renault B1 được bọc thép dầy hơn, nhiều hơn, so với kẻ thù truyền kiếp là quân Đức, quân Pháp vẫn phải đầu hàng. Các sử gia đều đồng thuận khi phán quyết: Học thuyết chiến tranh của Pháp lỗi thời là nguyên nhân chính. Lấy vận tốc hành binh dựa trên bước chân bộ binh trong Thế chiến thứ nhất làm chuẩn, các tướng lãnh Pháp không theo kịp vận tốc động cơ của quân Đức. Vắn tắt, tụt hậu tư duy so với thời đại.
Journal Militaire Officiel trưng bày những tụt hậu này.
Khác tập san quân đội Đức đương thời tràn ngập các tiểu luận mổ xẻ ưu khuyết điểm giữa hai học phái quân sự đối nghịch, giữa Clausewitz Phổ và Antoine-Henri de Jomini từng làm tham mưu cho Nã Phá Luân, các khảo luận trên tập san quân đội Pháp về những trận đánh xưa cũ Marengo, Ulm, Austerlitz, Jena, Wagram thiên về ca ngợi thiên tài của Nã Phá Luân, hoặc, ca ngợi công trạng của Pétain và Foch khi viết về những trận đánh gần hơn nhưng không đúc kết, không đề xuất chiến lược mới. Một góc cạnh khác: Clausewitz gần như vắng bóng trên Journal Militaire Officiel, trong lúc Clausewitz đã trở thành bậc thầy tư duy của Bộ Tổng Tham mưu Đức. Các quân nhân Pháp sở hữu duy nhất một bản dịch Clausewitz của trung tá de Vatry xuất bản năm 1866 bị xem là rối rắm đầy lỗi. Cho đến bản dịch thứ nhì của Denise Naville in năm 1955, không có bản hiệu đính, chú giải hay diễn dịch nào khác. Không phân tích kẻ thù suy nghĩ gì nên không hiểu học thuyết chiến tranh của kẻ thù, là khiếm khuyết lớn nhất của quân đội Pháp. Khiếm khuyết càng nặng nề vì Moltke kế thừa Clausewitz, Schlieffen kế thừa Molkte và Manstein tiếp nối truyền thống. Chính các thống chế Đức kể trên tiêu hủy nền Đệ nhị rồi Đệ tam Cộng hòa Pháp.
Không phải đã không có những cố gắng cập nhật. Một vài trường hợp lẻ loi, như thiếu tá Henri Navarre thuộc Phòng Nhì, từ 1938 đến 1939 cho phiên dịch và đăng tải một số lý thuyết chiến xa của Guderian nhưng đã quá muộn, chiến tranh đã áp sát. Trước đó, trong một nỗ lực cá nhân về sau được xem là viễn kiến, trung tá de Gaulle yêu sách tái cơ cấu và cơ khí hóa tức khắc quân đội Pháp: thay vì phân tán các thiết đoàn thành những đơn vị độc lập làm nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh, cần tập trung chiến xa thành lập những sư đoàn thiết giáp làm nên mũi nhọn kỵ binh. Tiếng nói của de Gaulle lạc lõng trên mặt báo ưu tiên cho những trang về quy chế hưu bổng, cấp dưỡng, và chìm dưới các huấn lệnh của Weygand, Gamelin là những đại tướng của chiến tranh quá khứ. Tiểu luận Hướng về Quân đội Nhà nghề [Vers l’Armée de Métier] của de Gaulle không gây tiếng vang, không tạo ra tranh luận, ít tác động, vì hầu hết các tác giả viết bài trên Journal Militaire Officiel là những sĩ quan cao tuổi, quyền chức, trung thành với đường lối suy nghĩ của các thống chế Pétain, Joffre, Foch. Khái niệm “Vận tốc tương đương với hỏa lực” của de Gaulle, xa lạ đối với họ.
Có thể viết: Tập san quân đội Pháp vào nửa đầu thế kỷ 19 mang sức mạnh chinh phạt của quân đội Pháp; đến nửa đầu thế kỷ 20 phản ảnh tính cách hoài niệm thụ động của quân đội này. Tuy vinh danh Nã Phá Luân, nhưng quân đội Pháp không kế thừa vị hoàng đế. Thiếu tá Henri Navarre, mà về sau trở thành Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Đông Dương, không biết đến những phê phán kịch liệt của Moltke đối với tính hữu dụng của những pháo đài cố định. Nếu đã biết, Navarre sẽ, hay không xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ? Navarre biểu trưng cho giai cấp tướng lãnh quên đi lời dặn của Nã Phá Luân: “Một trong hai đối thủ, kẻ nào ngồi lại trong giao thông hào, kẻ đó bị tiêu diệt.” Điện Biên Phủ, chính là cánh tay nối dài của chiến lũy Maginot đã bất lực trước các xa đoàn Panzer của Guderian. Điện Biên Phủ sẽ bất lực trước Việt Minh.
Hôm nay khi sùng bái các chiến thắng anh hùng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tập san Quân đội Nhân dân Việt Nam khá giống với tập san Quân đội Pháp vào thời kỳ suy vi: Say sưa với Nã Phá Luân mà quên đi học thuật, trống vắng dự phóng vào tương lai, cùng lúc tránh né uy hiếp hiện tại. Càng giống ở tính chính thống lặp lại tư duy độc nhất của thượng tầng lãnh đạo quân đội. Tiếng nói của các sĩ quan trẻ bị gạt sang bên, như de Gaulle từng bị buộc im tiếng.

2. Tập san quân đội Đức
Nhìn vào một tập san quân đội, trông thấy sức mạnh của quân đội ấy.
Giám định này đúng với tập san quân đội Đức. Không ngẫu nhiên mà tập san Militär-Wochenblatt, xuất bản từ 1816 đến 1942, trải qua ba thời kỳ sinh động: Thời gian Moltke rồi Schlieffen làm Tổng Tham mưu trưởng và giai đoạn khi Hitler lên cầm quyền. Cả ba thời kỳ trên, đạt đến sức mạnh tối ưu, quân đội Đức làm nên những chiến thắng sấm sét: Sedan 1870, Tannenberg 1914, Sedan 1940, Kiev 1941, Sébastopol 1942 và Tobrouk cùng năm. Cũng vẫn trùng hợp như khi Journal Militaire Officiel đánh mất tính chất học thuật thì quân đội Pháp suy yếu, sau khi Militär-Wochenblatt phải đình bản vì bị kiểm duyệt, quân đội Đức đi từ thất bại này sang thất bại khác. Stalingrad, El Alamein, Koursk, Normandie là chuỗi thất trận mà những chiến thắng địa phương Monte Cassino, Kharkhov không thể cứu vãn. Cái chết của quân đội Wehrmacht, tuy vậy, vẫn không ngăn các sử gia đánh giá quân đội này như một đạo quân tiên phong trong nhiều lĩnh vực và giá trị học thuyết chiến tranh Đức tiếp tục được giảng dạy. Tập san quân đội Đức, trước và giữa hai Thế chiến, đóng góp không nhỏ cho sức mạnh trí tuệ của quân đội hoàng gia, rồi quân đội Cộng hòa Reichswehr, sau cùng quân đội Wehrmacht.
Hơn nửa thế kỷ sau, lật bất kỳ những số Militär-Wochenblatt nào in trong khoảng từ 1930 đến 1939, người đọc cũng đều choáng ngợp vì tính chất học thuật cao cấp của tuần san này. Đôi khi người đọc bắt gặp những tên tuổi sẽ lừng danh: Erich von Manstein phác thảo chiến lược Phòng ngự Co giãn [Elastische Verteidigung]; Walter Model, một trung tá đang đảm nhiệm giảng dạy môn lịch sử quân sự ở Bộ Quốc phòng đề xuất lập những Chiến đoàn Liên Binh chủng [Kampfgruppen] bên trong hệ thống sư đoàn mà về sau được Hoa Kỳ cấu trúc thành những Brigade Combat Team và tướng Jean de Lattre áp dụng xây dựng những Binh đoàn Lưu động trên chiến trường Đông Dương. Sang phần hồi ký, một đại úy khiêm tốn, Erwin Rommel khởi đăng những chương trong tập Bộ binh Tấn công [Infanterie greift an]. Đến phần dich thuật, Guderian giới thiệu những lý thuyết cấp tiến Anh-Pháp của John Frederick Charles Fuller, Liddell Hart và Charles de Gaulle. Vẫn chính Guderian sẽ tổng hợp các bài viết lý thuyết của mình làm nền cho binh chủng thiết giáp Đức dưới tựa Achtung Panzer! Không duy nhất dành riêng cho các sĩ quan Lục quân, Militär-Wochenblatt đăng tải nhiều nghiên cứu chiến tranh tiềm thủy đỉnh [U-bootswaffe und U-Bootkrieg] của đại tá hải quân Hugo von Waldeyer-Hartz và trung tá hải quân Karl Dönitz, bên cạnh các phân tích chiến thuật oanh kích đâm bổ của phóng pháo cơ Junkers 87 Stuka qua ngòi viết của trung tá Heinz Greiner và thiếu tá Braun. Nổi bật trên nhiều số báo là tranh luận giữa trung tướng pháo binh Ludwig Ritter von Eimannsberger và trung tá Heinz Guderian về học thuyết chiến xa. Với Guderian, nếu phải hành binh vì mục đích gì, toàn Xa đoàn Panzergruppe cùng hành quân tấn công mục tiêu ấy mà không nên phân tán từng đơn vị. Von Manstein thêm vào tranh luận này một tiên đề khác: Một quân đoàn thiết giáp Panzerkorps chỉ an toàn cạnh sườn một khi di chuyển liên tục khiến đối phương không bắt kịp vận tốc hành binh. Hai tiên đề trên gộp lại làm nên nguyên nhân thất trận của quân đội Pháp trên chiến trường Sedan tháng 5-1940. Von Manstein, Rommel, Model, Dönitz, Guderian là những gương mặt hoàn toàn vô danh khi ấy, và trừ von Manstein, hầu hết giữ những chức vụ thấp không quyền quyết định. Nhưng chính họ phô bày sức mạnh tri thức của quân đội Wehrmacht.
Đặc điểm của Militär-Wochenblatt là qua tiêu chí “Tuyển chọn các đề xuất quân sự khả thi do các sĩ quan trẻ đóng góp” đã tiếp nối một truyền thống có từ Moltke và Schlieffen. Một truyền thống xem tập san quân đội phải là diễn đàn của giai cấp sĩ quan trung cấp, nơi trao đổi những tư duy quân sự mới mẻ, chưa chính quy hóa, để từ đây Bộ Tổng Tham mưu quy nạp những phát kiến từ hạ tầng không thông qua hệ thống quân giai. Militär-Wochenblatt tuân thủ các yêu sách của Moltke: đặt việc nghiên cứu lịch sử chiến tranh trên mặt bằng sự thật làm tâm điểm phát triển tri thức quân sự của quân nhân, với điều kiện – phải xây dựng những chiến thuật thích ứng làm nền cho chiến lược mới; nếu không, việc nghiên cứu chỉ thỏa mãn duy nhất hành động thưởng ngoạn. Trong nhãn quan của Moltke, chính sức mạnh tri thức của một tập thể sĩ quan ưu tú tạo ra chiến pháp tinh vi và vũ khí tương ứng. Trước vũ khí tân kỳ uy hiếp của đối phương, cũng chính sức mạnh này tìm ra kế sách phòng ngự. Nếu một tri thức cần phô diễn và tranh luận, thì một tập san quân đội phải làm phương tiện truyền bá và kho trữ liệu đóng góp cho tri thức ấy. Tập san quân đội Đức không ra ngoài đề cương này.
Tập san Quân đội Nhân dân Việt Nam, ngược lại, không chú trọng chức năng trí tuệ này.

3. Tập san Quân đội Nhân dân Việt Nam
Bước sang thế kỷ 21, học thuyết Chiến tranh Nhân dân xây dựng trên lý thuyết của Mao và nguyên soái Chu Đức vẫn tiếp tục được đề cao trên tập san quân đội Việt Nam, tuy rất ít phân tích và trống vắng kiểm định. Trong bản đăng ngày 23 tháng 12-2012, sau khi đánh giá “chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh”, Đại tướng Phó Quân ủy Trung ương kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh viết: Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trên hết và hơn hết biểu hiện cho ý chí ngoan cường, dũng cảm, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, thể hiện trong phương châm chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” và thắng địch bằng “Mưu, Kế, Thế, Thời”.
Đại tướng Thanh không giải thích thế nào là Mưu, Kế, Thế, Thời và chừng như phương châm “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” chỉ là khẩu ngữ viết cho tranh cổ động. Trên thực tế chiến trường, Quân đội Nhân dân thường xuyên có khả năng mở đồng loạt nhiều mặt trận từ Quảng Trị lên Pleiku, xuống An Lộc, vào Tây Ninh cùng một lúc, tức đông quân và lấy lớn đánh lớn. Ngay trong chiến tranh Việt- Pháp, Quân đội Nhân dân luôn dụng nhiều đánh ít.
Trận Đông Khê tháng 9 năm 1950, Tổng bộ Việt Minh dùng hai trung đoàn chủ lực 174 và 209 đánh hai đại đội Lê dương của tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 Lê dương [II/3e REI] dưới quyền đại úy Allioux có cấp số 250 binh sĩ. Chưa tính đến trung đoàn Sông Lô 209 của Lê Trọng Tấn, chỉ riêng trung đoàn 174 Cao-Bắc-Lạng đã đông gấp 20 lần quân Pháp. Trong hồi ký Người lính già Đặng Văn Việt, Chiến sĩ Đường số 4 Anh hùng, Nxb Trẻ 2003, cựu trung tá Đặng Văn Việt, hùm xám đường biên giới, là trung đoàn trưởng trung đoàn 174 trong trận này, ở trang 149 ghi rõ: Thế và lực giữa ta và địch đã thay đổi. Để đẩy mạnh cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Bộ Tổng Tư lệnh và Trung ương Đảng cho thành lập hai trung đoàn mạnh – hai đơn vị chủ lực mạnh đầu tiên của của quân đội ta: E174 – E209. E174: Lập nên bởi các lực lượng tinh nhuệ của ba trung đoàn địa phương ba tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn: E74 + E72 + E28 = E174. Quân số lên đến 5.500 (gần một lữ) gồm 6 tiểu đoàn: 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (6 khẩu pháo 75 ly), 1 tiểu đoàn cao xạ (12 khẩu 12,7 ly), 1 đại đội trợ chiến (6 cối 81 ly, 6 súng không giật 75 ly), 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin liên lạc, 1 đại đội cảnh vệ. Chỉ huy: Đặng Văn Việt – trung đoàn trưởng, Chu Huy Mân – chính ủy.
Trận đồi Him Lam (đồi Béatrice) chiều 13 tháng 3-1954, hai trung đoàn 209 và 141 tràn ngập tiểu đoàn 3 của Bán Lữ đoàn 13 Lê dương [III/13e DBLE] dưới quyền thiếu tá Paul Pégot có quân số 450 binh sĩ. Không ngẫu nhiên phương Tây luôn nhìn huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp song hành với chiến thuận biển người. Đại tá Pierre Rocolle trong luận án Vì sao Điện Biên Phủ [Pourquoi Dien Bien Phu, Nxb Flammarion,1968] mô tả chiến thuật này: Theo những tiêu chuẩn của chiến thuật Việt Minh, tấn công một cứ điểm, cần tập trung nỗ lực trên một trận địa thật thâu hẹp (vào chừng vài trăm thước) hầu đánh thủng hệ thống phòng thủ tại một điểm. Tất nhiên cần lượng lớn súng cối và đại bác bộ binh đối diện khu vực tấn công, đồng thời tập trung các đơn vị được chỉ định xung phong đông từ 10 đến 20 lần quân trú phòng trong một hành lang hẹp trên địa thế chọn lựa. Thực hiện đầu tiên một xé rào rồi nới rộng dần bằng cách tung những làn sóng tiến công tiếp theo cho đến khi trọn chu vi phòng thủ đối phương bị tràn ngập. (trang 348)
Như thế, phương châm chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” của “nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo” mà đại tướng Phùng Quang Thanh ca ngợi, ít tính khả tín. Càng thêm khó hiểu khi đại tướng nhấn mạnh: tạo thế trận liên hoàn của “chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối biển”. Hôm nay trước uy hiếp của Hải quân Trung Quốc, dân Việt không khỏi băn khoăn làm cách nào dân miền Trung cách Trường Sa 248 hải lý có thể lấy đất ruộng đương đầu với hạm đội thủy chiến Trung Hoa, đặc biệt đương đầu với hàng không mẫu hạm Liêu Ninh mà chắc chắn Trường Sa sẽ là mục tiêu oanh kích? Chiến tranh Nhân dân, từng là học thuyết quân sự chánh thức trong quá khứ, cáo chung trên biển Đông. Ngay cả trong quá khứ, học thuyết này mang những giới hạn, vì ẩn vào dân khi yếu, dùng tai mắt dân quan sát, lấy thóc dân nuôi binh và dùng sức dân vận chuyển… không giúp ích cho một đạo quân tác chiến độc lập tách rời dân chúng. Như khi hành quân ngoại biên, Quân đội Nhân dân không bình định được Campuchia trong 10 năm chiếm đóng, chính vì dân xứ Khmer không theo. Trên mặt biển, các hải đoàn Việt Nam sẽ hoàn toàn cô độc trước hải lực hùng hậu của Trung Hoa.
Cập nhật học thuyết chiến tranh của quân đội trở nên cấp thiết.
Càng cấp bách khi chiến tranh có thể nổ ra bất kỳ lúc nào, một khi chính phủ đương quyền quyết định cương quyết trước Bắc Kinh. Cương quyết, đòi hỏi chuẩn bị chiến tranh. Nhưng nhìn vào tập san Quân đội Nhân dân, đọc trên tạp chí Quốc phòng Toàn dân, dân chúng không thấy bất kỳ một thảo luận nào về phương thức đối phó một khi xung đột bùng nổ. Không tranh luận về tình hình quân sự đất nước, không nghiên cứu học thuật thế giới, không phân tích chiến lược Bắc Kinh, không dịch thuật binh pháp, không tìm hiểu chiến thuật hiện đại của Giải Phóng quân Trung Quốc, không đề xuất phương cách phòng ngự… là đặc điểm của tập san quân đội của đất nước.

Một cách vô tình hay hữu ý, tập san quân sự chính thức của quốc gia rơi vào thường thức, đặt trọng tâm phổ biến các nghị quyết Đảng, rồi tường thuật các chuyến viếng thăm của lãnh đạo thượng tầng với vài văn bản tuyên dương công trạng chống Mỹ, bên cạnh là những thông tin thời sự xã hội, du lịch biển đảo, bận tâm kinh tế và giải trí thể thao, văn nghệ. Hình ảnh của các hoa hậu hoàn vũ hay siêu mẫu áo tắm càng làm người đọc thêm băn khoăn. Dân chúng hiểu, một quân nhân vẫn là một người đàn ông có nhu cầu nhìn ngắm da thịt phụ nữ, nhưng vì sao các phòng đọc sách của các trung đoàn không lưu hành các tạp chí đời thường cho các quân nhân muốn tìm hiểu thời trang mà phải dùng ngân quỹ quốc phòng do dân góp thuế cho nhu cầu này? Các tiết mục “văn hóa” này làm xa cách chức năng trí tuệ mà Moltke đòi hỏi.
Có thể phủ định: mỗi quân đội của mỗi quốc gia mang một đặc thù và mỗi tập san quân sự có một hình thái riêng. Không thể lấy chức năng của tập san này làm chuẩn cho tập san kia, không thể dùng Clausewitz và Moltke áp đặt lên hệ thống suy nghĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp tạo lập. Phủ định này không sai – nếu tập san Quân Đội Nhân dân có những đặc tính khác biệt và tư duy khác lạ so với các tập san quân sự thế giới. Phủ định này – trở nên dễ dãi – như cách nhìn ưu điểm ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên Hoàng Văn Thái là đã không qua hàn lâm viện nào. Tiểu sử Đại tướng Hoàng Văn Thái ghi: Tháng 3 năm 1945, ông chỉ huy nhóm đội viên, khi đó đã phát triển lên đến hơn 100 người, tiến về xây dựng cơ sở ở Chợ Đồn (Bắc Kạn). Ngày 7 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Bộ Tham mưu và chỉ định Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Với kinh nghiệm trận mạc duy nhất từ chỉ huy đội viên sau bốn tháng lên làm Tham mưu trưởng mà Hoàng Văn Thái vẫn tham mưu cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp chiến thắng lẫy lừng trận Điện Biên Phủ, thì lập luận không cần Moltke hay Clausewitz vẫn chiến thắng là không sai; nhưng lập luận ấy phải giải thích những tranh công của La Quý Ba, Trần Canh, Vy Quốc Thanh, là những cố vấn Trung Hoa đã khẳng định chiến thắng Biên giới và Điện Biên Phủ do một tay họ quyết định, lên sách lược, đề xuất và được Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn thuận. Có phải vì bề dầy trận mạc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái quá mỏng khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh phải viết thư xin Mao Chủ tịch chi viện các tướng lĩnh tài năng nhất làm cố vấn cho quân đội Việt Minh? Ít nhất, khi Vy Quốc Thanh phê phán khai trận ở đồng bằng châu thổ sông Hồng của Tổng bộ Việt Minh là sai lầm, nên đánh lên miền Thái nơi quân Pháp ít quân, Vy Quốc Thanh đã tuân theo binh pháp Tôn Tử: Đánh vào khoảng trống! Thất bại đẫm máu ở Vĩnh Yên, Đông Triều, Mao Trạch, Mạo Khê, Sông Đáy, Ninh Bình năm 1951 không làm tăng thêm thiên tài của tướng Giáp mà tôn vinh hổ tướng de Lattre, và, một cách gián tiếp, chứng thực luận cứ của Vy Quốc Thanh.
Có thể biện luận cách khác: Không thể viết ra hết suy nghĩ chiến lược của sĩ quan Việt Nam trên tập san Quân đội Nhân dân, vì như thế sẽ lộ bí mật quốc phòng và Bắc Kinh sẽ thấu rõ quyết sách của Việt Nam. Lập luận trên có thể đúng, tuy kiểm duyệt triệt tiêu phần lớn tính sáng tạo của quân nhân và phát kiến hạ tầng không nhất thiết phản ánh sách lược chính quy. Tập san quân đội Đức từng bị kiểm duyệt hai lần: Lần thứ nhất vào năm 1848, Militär-Wochenblatt phải chuyển sang đăng tải những chuyên luận khoa học để không vi phạm luật bảo vệ bí mật quốc phòng. Trong hai thập niên liền quân đội Đức giẫm chân trong học thuyết. Đến 1866, Hoàng đế Wilhelm Friedrich Ludwig quyết định trả lại cho Militär-Wochenblatt chức năng nguyên thủy: chức năng khai phá quân sự. Từ đây, dưới ảnh hưởng của Moltke, tập san quân đội Đức chuyển mình, đến 1904 trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu thay vì Bộ Quốc phòng. Đến 1942, Dr Paul Joseph Goebbels, quyền tương đương với chức Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, ra lệnh kiểm duyệt vì Martin Bormann, Chánh Văn phòng Trợ lí Quốc trưởng, nhân vật quyền lực số 2 ngay sau Hitler, nghi ngờ Bộ Tổng Tham mưu âm mưu đảo chánh. Tập san quân đội Đức hiện diện từ 1816 quyết định đình bản. Đình bản thay vì chịu kiểm duyệt, để giữ độc lập tinh thần và danh dự quân nhân. Lập luận gìn giữ bí mật quốc phòng trước đôi mắt Bắc Kinh đứng vững – nếu – tập san Quân đội Nhân dân biết thôi thúc tri thức quân sự Việt Nam bằng cách khác: nghiên cứu chiến tranh Việt-Pháp trên mặt bằng sự thật gạt bỏ tuyên truyền; nghiên cứu các canh tân quân đội thế giới và đặc biệt nghiên cứu chiến tranh tiềm thủy đỉnh, là vũ khí của kẻ yếu như Dönitz nhìn thấy ngay từ đầu. Các chủ đề trên, ít kỵ húy, ít vi phạm vùng cấm, ít đụng chạm bài vị thiêng liêng của các gia đình đương quyền, là cánh cửa rộng mở cho tri thức quân nhân Việt Nam đang phải đối diện với quân Tàu đã chiếm ngự biển.
Vì sao phải nghiên cứu chiến tranh Việt-Pháp quá xưa cũ khi hôm nay vũ khí hiện đại thay đổi hẳn diện mạo chiến tranh? Vì một khi chưa chấp nhận các thất bại đẫm máu thì Quân đội Nhân dân còn rơi chìm vào chủ nghĩa anh hùng lạc quan. Cần phân tích minh bạch những sai lầm phạm phải và ghi lại những tổn thất thật sự để giúp tập thể quân nhân rộng lớn có cái nhìn trung thực về hiệu năng của quân đội mình… Thiếu xác tín trận địa, các sĩ quan tham mưu không thể lượng định đúng mức chiến quả và càng nguy hiểm khi tạo ra ảo tưởng ở các đơn vị tác chiến. Vô vàn các chủ đề nghiên cứu cho tập san quân đội: như trận công đồn Phủ Thông Hóa không thành công hay trận đánh công kiên Xóm Pheo của trung đoàn 102 là trung đoàn Thủ đô của đại đoàn 308 để lại 800 xác chết mà không tiêu diệt được đồn, hoặc thất bại hoàn toàn của trận Mạo Khê mà chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở trang 170, dòng thứ 2, trong tập Đường tới Điện Biên Phủ, phải viết: Ngày 5 tháng 4 năm 1951 chiến dịch Hoàng Hoa Thám kết thúc. Chiến dịch để lại cho tôi một ấn tượng nặng nề.
Nếu nghiên cứu chiến tranh tiềm thủy đỉnh là thiết yếu, cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà không duy nhất tự bằng lòng với chiến thắng Điện Biên. “Người anh cả của quân đội” chịu ảnh hưởng của Clausewitz đến mức nào và để lại tư tưởng quân sự gì cho hôm nay? Nghệ thuật hành binh của Đại tướng khác ra sao với Nghệ thuật Hành binh [L’Art opératif] của Thống chế Nga Mikhaïl Nikolaïevitch Toukhatchevski rất có ảnh hưởng với những sĩ quan Sô-viết nhiệt huyết như Joukov, Vassilievski, Koniev hay Rokossovski?
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tướng lãnh hiếm của Quân đội Nhân dân trích dẫn Clausewitz. Không trong bản Việt ngữ của hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, nhưng trong phiên bản Pháp văn của hồi ký này: Mémoires, tome 1, La Résistance Encerclée, Editions Anako, Fontenay-sous-bois, 2003. Ở trang 105, Đại tướng cho biết ông đem theo bản dịch Clausewitz của Denise Naville khi rời Hà Nội lên Việt Bắc kháng chiến đầu năm 1947. Ông khẳng định đã suy nghiệm Clausewitz. Các trích đoạn dẫn chứng Clausewitz của Đại tướng đều trích từ bản dịch của Denise Naville. Tuy nhiên, bản dịch của Denise Naville do nhà xuất bản Minuit ấn hành, mãi đến năm 1955 mới ra mắt. Đa phần, đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ biết đến Clausewitz sau khi vào tiếp quản Hà Nội, do vậy ông không thể áp dụng trước đó. Hoặc áp dụng “thông thoáng”, vì bản dịch trước của trung tá de Vatry xuất bản 1866 bị giới nghiên cứu Pháp đánh giá dịch tối tăm và dịch sai các từ học thuật của Clausewitz. Bản dịch này cũng tuyệt bản từ rất lâu. Ở địa vị của Đại tướng, vì sao Đại tướng không khẳng quyết: “Tôi không cần biết đến Clausewitz của phương Tây, vẫn chiến thắng.” Vì sao Đại tướng phải cố gắng chứng minh ông am tường Clausewitz? Vì cần thuyết phục rằng các quyết định của ông đến từ suy nghiệm Clausewitz mà không từ đề xuất của Vy Quốc Thanh? Phương châm “đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh” của Đại tướng cũng khá gần với phương châm: “Không bao giờ tác chiến nếu cơ may quá mỏng (Ne jamais se battre si les chances sont trop minces)” của tướng Thomas Jonathan Jackson trong nội chiến Nam-Bắc Mỹ.
Nếu không thể nghiên cứu Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữa huyền thoại và thiên tài vì chạm đến bia mộ của người quá cố, vì bia mộ này gắn liền với ước mơ cầu an của Đại tướng sau khi chứng kiến cái chết của Lâm Bưu và Lưu Thiếu Kỳ do thanh trừng của Mao, nên cần thông cảm, thì tập san Quân đội Nhân dân vẫn có thể nghiên cứu trường hợp tiểu quốc của các quốc gia Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Phần Lan… là những tiểu quốc nằm cạnh các đế quốc. Tiệp Khắc đầu hàng Đức, Hung Gia Lợi chọn làm chư hầu rồi lầm than theo thăng trầm của quân đội Đức, cho đến khi cả Tiệp Khắc và Hung Gia Lợi đều bị Hồng quân Sô-viết chiếm đóng. Ngược lại, quân đội Phần Lan đã tử chiến đến cùng trước tham vọng lấn đất của Staline, buộc Staline phải chấp nhận đình chiến vì hiểu giá máu phải trả cho mỗi thước đất Phần Lan. Là một bán đảo như Việt Nam, sát cạnh Liên bang Sô-viết và có quá khứ gắn liền với Nga, không được Anh-Pháp-Hoa Kỳ và cả hai vương quốc láng giềng Na Uy và Thụy Điển hỗ trợ, nhưng chính thống chế Carl Gustaf Emil Mannerheim và quân đội Phần Lan đã làm nên sức mạnh phản chiếu từ tấm gương lịch sử mà Scharnhorst đặt để.
Hôm nay, trước lấn đất lấn biển đã diễn ra, không dân Việt nào không ưu tư khi nhìn vào tập san quân đội của quốc gia. Trước hiểm nguy Hán thuộc kề cận, đã áp sát, đã nhìn thấy, dân chúng không thể không đặt câu hỏi: Vì sao phải cần một trung tướng làm Tổng biên tập Tập san Quân đội Nhân dân, một thiếu tướng làm phó Tổng biên tập và ba đại tá với một thượng tá phụ trách ban biên tập cho một nội dung không chuyên ngành mà thường thức như trăm báo dân sự khác? Trống vắng tranh luận và hoang vu thao thức càng làm nảy sinh những câu hỏi khác: Vì sao tiếng nói của các sĩ quan trẻ ưu tú đang quan tâm đến tình hình đất nước không được cất lên trên chính diễn đàn của họ? Vì sao những lo lắng cho biển cả của tổ tiên đang bị cướp giật không được hiện diện trên trang Quân chủng Hải quân của chính tập thể đang mang trọng trách bảo vệ vùng biển ấy?
Nhìn vào một tập san quân đội, trông thấy sức mạnh của quân đội ấy. Nhìn vào Tập san Quân đội Nhân dân trông thấy kiểm duyệt. Một kiểm duyệt mang tính tội ác. Vì là tội của Lê Chiêu Thống.
Plano, 10 tháng 12-2013
© 2013 Trần Vũ & pro&contra