Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Trần Viễn Du Bảo Nam - Sài Gòn: nhìn lại 50 năm, 1963-2013

Trần Viễn Du Bảo Nam - 


Chút rưu hng đây, xin rưi xung,
Gii oan cho cuc bin dâu này.”
(Ta về - Tô Thùy Yên)



Bài này tập hợp nhiều đoạn văn rời và ngắn, cốt đi kèm nhiều hình ảnh thu thập từ mùa hè 1963 lúc nhóm người viết ở các lớp Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6-10 bây giờ), mới lên ghế trung học hay sửa soạn vào đời trong bầu không khí dầu sôi lửa bỏng của chính trị miền Nam do biến cố Phật giáo. Và kéo dài đến bây giờ, mùa hè 2013, lúc  người viết đã chạm tuổi hưu trí bắt buộc trong bối cảnh Việt Nam,  qua cơn dâu bể lớn nhất khi Saigon đã đổi tên đổi chủ.


Nhưng hơn thế, bài này mong ghi lại những mảnh đời, trong một thời gian dài của thế hệ lớn lên ở miền Nam trong hai hoàn cảnh và ở hai không gian hoàn toàn khác biệt. Bài  viết cũng  nhằm ghi lại vài nét chấm phá cho những bức ảnh  lịch sử, ghi nhận vài sự kiện tuy không tránh khỏi chủ quan, nhưng không có ý phán xét, phê bình hay lý luận sâu sa.

Thế hệ đó nay thuộc vào giới trung niên. Vì đã lớn lên trong chiến tranh ở miền Nam, thuở niên thiếu đã mang nặng hình ảnh và day dứt của cuộc chiến, không có được những bình yên trong ý nghĩ tuổi thơ hay cái hồn nhiên mê đá bóng hay đua xe máy như lớp thiếu niên cùng thành phố lớn lên sau này ở quê nhà. Những ám ảnh về cuộc chiến trở thành một hành trang nặng nề lúc ra đi sống ở nước ngoài trong một thời gian dài. Vì thế luôn ấp ủ chút kỷ niệm đẹp về tuổi thơ ở quê nhà, nâng niu từng hình ảnh với người thân trong gia đình và bạn bè bằng hữu lúc còn sống ở đó.

Ra đi và sống ở nhiều nước trên thế giới: Canada, Mỹ, Pháp và vài nước khác do công việc đòi hỏi. Nhưng tâm tư vẫn luôn quay về chốn cũ, hoài niệm những tia nắng ấm quê hương trong cái giá buốt của tuyết lạnh Bắc Mỹ, nhớ lại những dòng sông nơi quê nhà mỗi lần đứng bên dòng St-Laurent ở Quebec hay dòng Potomac chảy qua  Washington, D.C, ngay cả lúc sang đến tận Phi châu làm việc, chịu cơn nóng thiêu đốt vì thiếu mưa, vẫn còn bâng khuâng nhớ đến những cơn mưa dài của Sài Gòn thuở nào. 

Người viết cũng đã ghi lại nhiều hình ảnh xứ người bằng văn chương, nhưng lại  chủ ý ghi dấu tâm tư so sánh với quê nhà, tựu chung cũng là để “tìm lại khoảng thời gian đã mất”, như Marcel Proust đã viết. Đôi khi hơi thiếu khách quan vì đã ca tụng quê hương mình thái quá .

Thế hệ trên tương phản với các thanh niên bây giờ ở quê nhà, sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Những lớp trẻ mới này phần lớn không còn mang chút dấu vết gì về cuộc chiến, sống thuở thơ ấu vô tư của một đất nước thanh bình và trưởng thành trong một xã hội tương đối bắt đầu no đủ, suốt ngày nghe các phương tiện truyền thông nhắc nhở chuyện hội nhập quốc tế. Họ luôn ôm những khao khát trông nhìn ra thế giới bên ngoài, giờ đây nhờ vào những  tiến bộ khoa học, các mạng lưới tin học phổ cập khắp toàn cầu, thêm vào tin tức thế giới được cập nhật hóa từng phút qua các kênh mạng thông tin. Rồi nhờ các cơ hội nghề nghiệp, được thỏa mộng viễn du qua các chuyến công tác, để từ đó luôn ghi vội hình ảnh những chuyến đi, con người đã gặp, những gì đã thấy đã nghe. Và trong cái sôi nổi được thấy cảnh mới người lạ, cùng óc cầu tiến của  người trẻ, thấy cái gì của bên ngoài cũng hay cũng đáng học.

Lúc lý thú nhất có lẽ là khi hai thế hệ đó gặp nhau. Cùng nhận ra mẫu số chung là những băn khoăn, mong ước cho một đất nước tươi sáng phú cường. Cùng chia xẻ những ước vọng và dự phóng tương lai cho quê hương bằng những hình ảnh từ xứ người. Chúng ta hãy tưởng tượng  các cuộc gặp gỡ ấy qua  những hình ảnh của Saigon xưa và nay, và tự xem thử những thay đổi lớn trong chính ta khốc liệt đến dường nào.

Một người ở xa có thể ngồi viết những dòng này từ một khu phố nhỏ bên dòng St-Laurent. Và người trẻ kia đang viết ở quê nhà một chiều mưa, ngồi trong một căn phố nhìn ra sông Saigon. Nhưng cả hai đều muốn trao đổi qua những dòng bút ký chung, chút gì gọi là “tình tự dân tộc”, là điều muốn nói lên với rất nhiều người khác cùng dòng máu Việt ở bất cứ đâu. Về Saigon ngày xưa 1963 hay Saigon bây giờ 2013 sau 50 năm, dù trời Saigon đang mưa hay nắng.

Saigon 1963
http://1.bp.blogspot.com/-wQSfByP5iNI/UeQXu9MxFhI/AAAAAAAACHY/hhI37EKgWvc/s1600/NgoDinhDiem.jpg
Chính phủ Ngô Đình Diệm

Trừ những lúc có cơn mưa nặng hột và dài thường xuyên đổ xuống xối xả, trời Saigon oi bức lạ thường hè năm đó, do không khí chính trị ngột ngạt của miền Nam với biến cố Phật giáo và những năm tháng cuối cùng của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Các trường trung và đại học cùng tham gia vào không khí sôi nổi đó một cách bộc phát mà không suy nghĩ sâu sa. Nhưng  sau một đời người nhìn lại và đọc nhiều sách lịch sử mới hiểu  lúc đó  mình  chỉ là những con chốt.

http://4.bp.blogspot.com/-qcZ8rTbB8a0/UeQZD8ny2-I/AAAAAAAACHw/fCILyykJgY0/s320/Thang+9-1963.jpg
Phong trào tranh đấu Phật giáo 1963
http://4.bp.blogspot.com/-m_YN4REsKew/UeQYmEPUZFI/AAAAAAAACHo/4ekzNIlLNiE/s320/Su+bieu+tinh+1963.jpg
Sư biểu tình 1963
Những phố phường còn vắng, các ngôi nhà cao tầng xây cất giản dị, tuy Saigon đang mang danh “Hòn ngọc Viễn đông”, nơi các phố Nguyễn Huệ, Tự Do, Lê Lợi luôn tràn đầy khách du lịch hạng sang từ vài nước láng giềng, nhất là Singapore khao khát ngắm cảnh lạ và  tìm mua các mặt hàng xa xỉ.

http://4.bp.blogspot.com/-X6T_brjkL3Q/UeQYMOXnGhI/AAAAAAAACHg/cQuovNOwKIk/s320/Tu+thieu+1963.jpg
TT Thích Quảng Đức tự thiêu 1963
http://3.bp.blogspot.com/-lIp3KmpAyHE/UeQZu-lDqMI/AAAAAAAACH8/s-uBJNmoFUE/s320/Qu%C3%9F+%C3%A6c+H%C3%9F+%C3%96i-+Bis.jpg
Quốc Hội VNCH
Từ nhiều năm, thành phố đã hưởng sự yên bình đáng kể, đời sống kinh tế khá sung túc ổn định. Đã qua những cái Tết 1956-63 an vui tràn đầy, với những cành mai vàng khoe sắc, với tiếng pháo nổ ran từ giữa đêm giao thừa thiêng liêng và xác pháo đỏ ngập đường phố ba ngày Tết. Tuy đời sống vật chất hàng ngày còn tương đối đạm bạc.

Tuổi thanh thiếu niên lúc đó tràn đầy lý tưởng. Không khí học hành sôi nổi, các trường thi đua trong các kỳ thi tổ chức qui củ. Giấc mơ du học hình thành nơi một số nhỏ có khả năng hay điều kiện. Ý tưởng học xong trở về nước phục vụ còn ngút ngàn. Nền tảng tổ chức một xã hội công dân bắt đầu hình thành, cho thanh niên mới lớn giấc mơ giản dị là sẽ phục vụ đất nước bằng con đường học vấn, giống như bất cứ người trẻ nào trong các nước láng giềng. Mong ước xây dựng một Nam Việt Nam trù phú hùng cường, tương tự giấc mơ của Nam Hàn ba thập niên sau, nung nấu tâm can những người trẻ, dù việc thực hiện giấc mơ đó được hay không sau này mới hiểu là do “thiên định”.

Vài đàn anh lớn đi trước, đã tốt nghiệp hoặc đã đi dậy trên bục giảng đường đại học ngoại quốc, nhưng đa số mới bắt đầu lên đường năm thứ nhất, tạo phong trào cho các thế hệ đàn em vài năm sau đó. Nền giáo dục vẫn bị chỉ trích thường xuyên do sự cầu tiến, nhưng công bằng mà nói, những sinh viên phát xuất từ những ngôi trường VN dạo đó, đã xuất sắc ở những trường Âu Mỹ vào các kỳ thi tốt nghiệp, ghi lại thành tích đáng kể của nền giáo dục nước nhà lúc đó.


Nhưng sự ổn định chấm dứt sau cuộc chính biến 1/11/1963, chính phủ  Ngô Đình Diệm được thay bằng nhiều chính phủ lâm thời, có khi chỉ kéo dài vài tháng. Các xáo trộn kinh tế, xã hội, giáo dục nặng nề nhiều năm sau đó, đã là hệ quả tất nhiên của cuộc thay đổi chính trị này mà lịch sử mấy chục năm sau mới giải thích được.

Các năm 1963-1975

Một số thanh niên du học, bao gồm các người viết, đã rời nước ra đi trong hoàn cảnh đó, nhìn lại đất nước quê hương từ xa như chứng nhân thụ động bất đắc dĩ.
Những chính phủ quân nhân hay dân sự trên đã làm rối đi chính trường miền Nam. Cuộc chiến đồng thời leo thang trầm trọng, rồi thành khốc liệt trong suốt 12 năm tiếp nối khi miền Bắc gia tăng áp lực. Rồi kéo theo sự hỗ trợ của Hoa kỳ và đồng minh. Cuộc chiến bước sang giai đoạn hủy diệt, thay đổi toàn bộ xã hội miền Nam. Những tang tóc đau thương hằn lên dấu vết cho từng gia đình. Từ bên kia trái đất, chúng tôi theo dõi truyền hình hàng đêm tin tức chiến sự quê nhà, rồi thao thức trằn trọc thâu đêm.
http://2.bp.blogspot.com/-SXsGgC6U-KM/UealBevBhBI/AAAAAAAACOE/J-PqJy_W-kk/s640/1975dongminh.jpg
http://1.bp.blogspot.com/-1vzBivGuXT8/UeaS42Sg38I/AAAAAAAACNk/LBilbiXl2w8/s200/mauthan1968.jpg
Mậu Thân 1968
Biến cố Mậu Thân 1968 đã là biến cố gây đậm nét đau thương nhất trong vài năm đầu xa quê hương. Ngoài vài bạn từ Huế có hung tin ngay từ sớm, đem tang chung cho cộng đồng sinh viên du học, mối âu lo kéo dài nhiều ngày. Cảnh các nhóm túm tụm nhau trong vài phòng, bỏ học và uống bia say suốt đêm, đã là kỷ niệm khó quên gần như suốt đời du học và sau này ra đời làm việc.

Cuộc chiến đi vào khốc liệt hơn từ sau 1971, với sự đổ vỡ mất mát toàn diện cho miền Nam từ 30-4-1975. Biến cố 1975 như một cuộc đổi đời. Đám sinh viên tốt nghiệp trở thành lạc lõng, mất định hướng hoàn toàn trên xứ người, rải rác ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều người lại nặng gánh, phải lo cho cả gia đình mới sang định cư. Hình ảnh VN xa mờ dần, rất đông tự nhủ cố gắng “xin nhận nơi này làm quê hương” trên các miền đất hứa, coi như từ nay chia tay vĩnh viễn miền đất bên kia địa cầu.
Nhưng rồi cũng đến một ngày với nhiều sự thay đổi. Vì nhu cầu kinh tế cấp bách, miền đất đó phải thay đổi phần nào các chính sách. “Đổi Mới” là tên gọi cho hai thập niên mở cửa nền kinh tế, áp dụng các chính sách thị trường dù còn hạn hẹp. Kết quả là đã có những tiến bộ vật chất nhất định,  như các chỉ số tăng trưởng, bộ mặt đời sống được cải thiện đáng kể ở những thành thị, dù nhiều vùng nông thôn còn chìm đắm trong nghèo khó cố hữu.
Một số người chợt quyết định muốn trở về nhìn lại quê hương, dù trong tâm tư “Từ Thức về làng”. Và một trong những người đó ghi lại tâm trạng như sau.
Những năm sau 1975 về thăm Saigon: Còn Đó Nỗi Buồn

Người viết phải trở về Sài Gòn nhiều lần trong đầu thập niên 90, mới chợt tìm thấy một lúc muốn ngồi xuống, bình tâm viết lại vài xúc cảm về thành phố đã ôm ấp biết  bao kỷ niệm đẹp của tuổi mới lớn, với bao hoài bão lý tưởng cho cuộc đời sau này.
Vốn sinh ra ở Hà Nội, thời trung học tôi nâng niu những quyển sách Tự Lực Văn Đoàn của các nhà văn kể chuyện về đất Thăng Long. Những năm gần đây nhất, đọc bao tùy bút và hồi ký ở hải ngoại phần lớn nói về Hà Nội, tôi cũng tưởng mình sẽ chỉ muốn viết về thành phố huyền thoại ấy. Nhưng sau nhiều chuyến công tác ngắn ghé thăm Việt Nam, tuy Hà Nội có quyến rũ, thơ mộng nhưng tôi chợt nhận ra sự gần gũi chỉ tìm thấy ở Saigon.

Đó mới là “thành phố của tôi”, trở về mà không phải cần bản đồ để tìm đường, không phải nhờ người hướng dẫn du lịch, chỉ chỗ xem phong cảnh hay vài chỗ ăn uống nổi tiếng. Những con đường quen thuộc, chỉ đổi tên mới, vẫn còn đó. Những hàng me ướt lá sau cơn mưa chiều vẫn còn nguyên vẹn nét trữ tình, chờ đợi... Mái tóc kẻ bộ hành bây giờ đã ngả dần sang hai mầu, khác xa những ngày tháng cũ thuở trung học tóc còn mướt đen ướt đẫm vì chạy vội dưới cơn mưa rào, hay mơ mộng thả bộ đón nhận những hạt mưa bụi bay nhẹ theo lối về một trường nữ quen thuộc sắp đến giờ tan học.

http://3.bp.blogspot.com/-5H6TOHMtFcA/UeRbUbu82rI/AAAAAAAACK0/zmjVGVWon4Q/s320/L%252B%25C2%25AC+L%25C3%259F%252B%25C3%25BAi+%2526+Nguy%25C3%259F%252B%25C3%25A0n+Hu%25C3%259F%252B%25C3%25A7-+Bis1.jpg
Góc Lê Lợi và Tự Do
Lần đầu tiên trở về trong niềm xôn xao khó tả trong lòng, từ lúc phi cơ đáp xuống Tân Sơn Nhất, thấy những ngôi nhà cũ, các hầm trú bê tông cho máy bay từ thời chiến tranh, đến lúc ở giữa dòng giao thông đông đúc chạy theo con đường Công Lý. Rồi rẽ trái Dinh Độc Lập ra đường Thống Nhất, qua khu nhà thờ Đức Bà về khách sạn Caravelle ở trung tâm thành phố gồm những địa danh cũ: toà nhà Quốc Hội, rạp ciné Rex, khách sạn Continental, hiệu kem Givral góc đường Tự Do và Lê Lợi, đường Nguyễn Huệ tráng lệ chạy dài từ Toà Đô Chính ra đến bến Bạch Đằng gồm những kiosques bán hoa, băng nhạc, rửa phim, mứt rượu Đà Lạt và nhiều thứ hàng tạp hoá. Bây giờ những quán này đã được gỡ bỏ, làm cho con đường trở thành sạch rộng hơn trước nhiều, nhưng lại mất vẻ thân quen cho khách xưa.

Cái nóng oi bức, bụi khói của những chiếc xe Honda vẫn là bức tranh khó quên của đường phố Sài Gòn dạo trước. Sau hơn hai mươi năm với dân số tăng gần gấp ba, số nhà cửa, xe cộ làm thành phố chật hẹp lại nhiều và lộ rõ áp lực nạn nhân mãn của các đô thị Á Châu bây giờ. Tuy nhiên khu vực công trường ở trước nhà bưu điện chính bao quanh nhà thờ Đức Bà vẫn còn vẻ đẹp uy nghi, giữ lại nét diễm lệ của nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông.

http://2.bp.blogspot.com/-xvHfpBsYs8w/UeRcvEVliQI/AAAAAAAACLI/KACdnc8HqQU/s320/Banh+mi+Huong+Lan+2-Bis.jpg
Quán Hương Lan (Bưu điện Saigon)
Ngày xưa mỗi chủ nhật tôi vẫn thường phóng mobylette đến khu vực này để tìm mua những ổ bánh mì Bưu Điện ngon, bọc sạch sẽ trong giấy màu trắng ngà. Bây giờ không còn tìm thấy quán Hương Lan nữa và hình như những ổ bánh mì hấp dẫn cũng thất truyền luôn, mặc dù có những quán mới sang trọng hơn như Bánh Mì Ta, Bánh Mì Tươi, làm buồn những chuyến xe cuối tuần ra Vũng Tầu muốn ngồi nhấm nháp một ổ bánh mì cũ trên đường đi!

http://4.bp.blogspot.com/-nn1VSrfJZUg/UeRcHonwoUI/AAAAAAAACK8/HoBR37RZnWo/s320/choHoaNguyenHue.jpg
Chợ hoa Nguyễn Huệ 1971

Những ngày trở lại Sài Gòn tuy ngắn ngủi, nhưng tôi đã bỏ khá nhiều thì giờ tản bộ trên những hè phố quanh khu trung tâm Tự Do-Nguyễn Huệ-Lê Lợi. Đặc biệt mỗi sáng sớm, tôi có thói quen đi dạo từ khu khách sạn “mini” ở đường Tự Do xuống nhà thờ Đức Bà, qua công trường “con Rùa” nơi có viện Đại Học. Rồi trở lại đường Duy Tân, tôi qua trường Luật tìm ngôi nhà cũ của mình ở góc Hiền Vương. Con đường cây dài bóng mát ngày xưa bây giờ đã khác đi nhiều , đã mất bớt cây cối và chật hẹp bẩn hơn vì những quán hàng la liệt hai bên vỉa hè. Ngày xưa con đường này chỉ toàn những villa nhà ở sang trọng, bây giờ mở những cửa hiệu nhỏ, hay được đập đi thành những khu văn phòng cho người ngoại quốc thuê.

http://1.bp.blogspot.com/-rqfgbLfaZs8/UeRdaN5ElKI/AAAAAAAACLM/BD9G2Btb2rI/s400/H%C3%9F+%C3%B4+con+r+_a-Bis.jpg
Hổ Con Rùa - Đường Duy Tân
Dừng lại trước địa chỉ cũ của ngôi nhà dấu yêu, nơi tôi đã sống những ngày thơ ấu, tôi bàng hoàng khi thấy căn nhà đó biến mất và được thay thế bằng cao ốc sáu tầng trụ sở của một hãng thuốc Thuỵ Sĩ. Cảm xúc vì tiếc nuối, ngỡ ngàng dâng lên mãnh liệt, nhắc nhở thực tại Từ Thức về chốn cũ. Tôi bắt đầu những ngày ở Sài Gòn chỉ đi tìm về những nơi hay lui tới dạo trước, cố quay lại những khúc phim cũ trong ký ức để so sánh với những cái mình thấy bây giờ.

http://4.bp.blogspot.com/-t8trJMf2ckA/UeReWMlHVzI/AAAAAAAACLg/fqnzIjzEHi0/s320/saigon50-1.jpg

Đầu tiên tôi tìm lại một nhóm bạn bè Y Dược cũ (ngày trước, tôi đã theo học vài tháng dự bị cả Y và Dược khoa trước khi bỏ đi du học) lập nên nhóm J&B rất vui nhộn và thân, chỉ chuyên gặp nhau uống cà phê buổi sáng hay thỉnh thoảng ăn nhậu với chai whisky J&B (tạo thành tên của nhóm). Mỗi sáng thứ bảy, tụi này hẹn gặp nhau ở một quán trước cửa nhà thờ Huyện Sĩ trên đường Nguyễn Trãi, địa điểm được chọn lựa ở cạnh hiệu thuốc Huyện Sĩ. Ngồi nói chuyện rỉ rả mọi chuyện cũ mới bên tách cà phê rồi kéo đi ăn sáng, đấy là niềm vui lớn cuối tuần từ lúc tôi về lại Sài gòn.

http://1.bp.blogspot.com/-8j9ANcmHGaw/UeRduPc4TXI/AAAAAAAACLU/6csjW_8z2ls/s320/Nha+thuoc+Huyen+Si-Bis.jpg
Nhà thuốc Huyện Sĩ
http://3.bp.blogspot.com/-LIzKFBbu0fE/UeResgCCWII/AAAAAAAACLo/L8wcvqL0sms/s1600/Truong+chu+van+An-+Bis.jpg
Cổng trường Chu Văn An
Một nơi khác mà tôi cũng cố tìm tới là khu nhà thờ Ngã Sáu ở Minh Mạng thăm lại toà nhà của ngôi trường Chu Văn An cũ. Tôi bước vào lớp học cũ, nhìn lại từng dẫy xe đạp, bâng khuâng hoài niệm những khuôn mặt thầy bạn cũ của một thời làm báo học trò, của những mối tình si nhẹ nhàng lúc bỏ sang Trưng Vương thả hồn theo các tà áo  trắng trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.
http://2.bp.blogspot.com/-mu7ewv6Q1Dk/UeRfQZE6mQI/AAAAAAAACL0/S42wxtYAgp4/s320/TruongChuVanAn.jpg
Trường Trưng Vương
Tìm mãi mà tôi không nhận ra đâu là khu nhà nhỏ của bác gác gian nổi tiếng của trường, nơi vẫn bán xôi lạp xưởng và chè đậu đen đầy kỷ niệm cho hàng bao thế hệ Chu Văn An. Tôi chỉ còn nhớ căn buồng dùng làm khu sinh hoạt học đường trong dãy nhà ngoài cùng nơi vẫn đến tập múa hát hay hội họp làm báo. Ba năm trung học với những kỷ niệm hoạt động học đường, lo lắng thi cử, những tình yêu học trò chợt đến chợt đi. Vài mộng mị lý tưởng cho tuổi mới lớn khi tình yêu quê hương vừa hình thành một cách đứng đắn, đan kết bởi những dằn vặt suy tư của một thế hệ lớn lên trong bối cảnh chiến tranh thời đó.

Ra khỏi cổng trường cũ, tôi tìm về Ngã Sáu lúc trước có những hàng bán nghêu đầy dẫy dọc đường. Những chiếc ghế gỗ thấp cập kễnh trên lớp vỏ nghêu bên lề đường. Khách gọi từng thau nghêu ra húp với nước mắm dấm ớt tỏi và những chai bia con cọp xếp thành hàng dài. Khu đó bây giờ cũng biến mất, làm trôi thêm một kỷ niệm học trò. Dọc theo con đường Phan Thanh Giản, vẫn còn thấy ngôi nhà cũ của trường Phan Sào Nam. Rồi rạp Long Vân nơi đóng đô của những giờ buồn ngủ “cúp cua” học ra ngồi xem ciné sau khi ghé mua vài cây kem Lan Hương (hiệu có hai cô bán hàng xinh xinh!). Đi tiếp xuống Phan Thanh Giản, qua bệnh viện Saint Paul, gặp ngôi trường Gia Long cũ, vẫn những tà áo trắng, nhưng các cô bé nữ sinh trung học trông nhỏ hẳn đi như chỉ đang ở tiểu học.

http://3.bp.blogspot.com/-BxD8cUJ3eVk/UeRfjYU1NuI/AAAAAAAACL8/YxOoNUl1RsI/s200/Chua+Xa+Loi-+Bis.jpg
Chùa Xá Lợi
http://3.bp.blogspot.com/-1EgkaKjmQWk/UeRfktu8VWI/AAAAAAAACME/5t3Nw5BsKyQ/s320/Ch+_a+V-%C2%ACnh+Nghi+%C2%ACm-+Bis.jpg
Chùa Vĩnh Nghiêm
Cắt ngang là đường Bà Huyện Thanh Quan êm đềm với chùa Xá Lợi giờ đây trông nhỏ bé quạnh hiu. Khác với chùa Xá lợi, chùa Vĩnh Nghiêm ở đường Công Lý trông bề thế, nhộn nhịp hơn, lúc nào cũng khói hương nghi ngút với số người đi lễ đông gần như thường trực. Chùa Vĩnh Nghiêm và Vương Cung Thánh Đường gần như là hai “thắng cảnh” đặc biệt cho những người ở xa về.

http://2.bp.blogspot.com/-zH5Elrlb-v0/UeRgCmLPAnI/AAAAAAAACMM/9xof_FfyayA/s320/Nh+%C3%A1+th%C3%9F+%C3%98+-%C3%89%C3%9F+%C2%ACc+B+%C3%A1-+Bis.jpg
Nhà thờ Đức Bà

Nhưng tôi xúc cảm nhiều hơn lúc đi theo đường Trương Minh Giảng, vượt qua cầu và ngôi chợ nhỏ. Tìm đến ngôi chùa Pháp Hoa rất nhỏ, đặt nén hương cho những người thân có ảnh nằm đó trong bình yên vĩnh cửu. Người đàn ông ngũ tuần chợt thấy mắt nhạt nhoà trước hai khung ảnh gắn trên bình tro của bà nội tôi và ba tôi. Bao người xưa đã nằm xuống, một số khác đã đi ngoại quốc, bạn bè thân đã vội bỏ mình hay tản mát nơi đâu sau mấy chục năm?

Tôi quay về đây chợt thấy lạc lõng dù đó là thành phố mộng tưởng của các năm dài sống ở bên Mỹ. Những ngày ở khách sạn Sài Gòn, ba buổi đi tìm hiệu ăn. Thiếu vắng một bữa cơm nóng đơn giản trong ngôi nhà quen thuộc, đã làm cho tôi nhận rõ cảm tưởng chua chát mình chỉ là khách du lịch ngay trên quê hương, dù vài người thân họ hàng vẫn niềm nở tiếp đãi. Không khí ngày Tết hay Giáng Sinh có nhộn nhịp chào đón và gợi cảnh cũ, tôi vẫn thấy mình đếm rõ từng bước cô đơn trên các hè phố cũ quen thuộc.

Trong ánh mắt nhìn của đa số họ hàng, bạn bè vẫn còn chút tò mò tìm hiểu kẻ lạ trước mặt là tôi. Và dù muốn tự dối mình, tôi cũng không thể hiện diện như những người bình thường trong cuộc sống hàng ngày ở đây. Tôi vẫn là “người lạ”, càng cố làm ra vẻ tự nhiên hoà đồng lại càng thấy ngượng nghịu, có chút tính chất “kịch” trong đó. Ở vài nơi tiếp xúc làm việc, tôi càng nhận ra điều đó. Tôi đã được đào tạo trong môi trường khác, với cách suy nghĩ  hoàn toàn xa lạ với những anh em đồng nghiệp chung quanh.

Nếu tôi đến họ với tư cách doanh nhân hay đại diện một cơ quan nước ngoài, công việc có phần thuận lợi hơn trong cách cư xử. Nhưng nếu tôi muốn trở về “nhập cuộc” trong một cơ sở Việt Nam như một nhân viên bản xứ, sự hội nhập sẽ khó khăn và gần như không tưởng. Hiệu năng làm việc chắc sẽ rất khiêm tốn vì những hàng rào ngăn cách trong công việc và giao tế. Tôi ngỡ ngàng khi nhận ra điểm đó sau vài chuyến về nhà. Nếu tôi còn bị xa lạ như thế sau khi đã trưởng thành ở Việt Nam và không bị khó khăn về ngôn ngữ đối thoại, làm sao các thế hệ đàn em trẻ có cơ hội trở về khi họ chỉ bập bẹ tiếng Việt, đọc chữ không thông, đừng nói gì đến quay về sống và làm việc. Liệu quê hương có là một địa danh du lịch hấp dẫn trong tâm tưởng nhóm đàn em ở hải ngoại này không?

Những ý nghĩ trên càng đi sâu vào trong tâm tưởng tôi như một nỗi buồn gậm nhấm trong các chuyến về kế tiếp. Tôi vẫn tâm tưởng đến những quán cơm Việt. Tôi cũng mê say đến hiệu phở Hoà khu đường Pasteur, phở Tàu Bay Lý Thái Tổ, hay phở Tương Lai Nguyễn Tri Phương, dù vị phở có phần kém ngày trước có lẽ vì khẩu vị mình đã hoàn toàn thay đổi.

http://2.bp.blogspot.com/-Jtmeyaz8ugg/UeRgYbkLwnI/AAAAAAAACMU/Tzbkhgf_Bco/s320/Brodard-+Bis+1+.jpg
Quán Brodard
Tuy nhiên tôi vẫn hay ra ăn ở Givral có chỗ ngồi thi vị. Chỉ nhớ tiếc những tách cà phê sữa nóng bốc khói với vị bơ thơm lừng của Pôle Nord, hay bánh ngọt của Brodard và Givral ngày xưa. Buổi trưa hay chiều đến những tiệm cơm ‘bình dân” (dù giá bắt đầu lên khá đắt cho mức sinh hoạt của người dân ở nhà) ở đường Ngô Đức Kế có các tiệm mới như Hoàng Yến, Hiệu 13, Cây Dù Vàng đang có tiếng, nhắc nhở đến hiệu ăn Bà Cả Đọi với các món Bắc trong gia đình như thịt đông, dưa giá, đậu kho, cá rán v.v... Sang hơn nữa cho cơm Việt Nam là nhà hàng Thanh Niên (đường Nguyễn Văn Chiêm, gần nhà thờ Đức Bà) với những món miền Nam hấp dẫn, có bàn ăn trong vườn sạch và lịch sự, mỗi tối thêm phần nhạc phụ diễn và khung cảnh thơ mộng.
Khách cũng có thể tìm ăn cơm Tây bình dân ở chợ Cũ nhưng vẫn tiếc nhớ món soupe bouillabaisse hay thỏ nấu rượu vang ở Chez Albert (Đa Kao) hay Vọng Nguyệt, món bí- tết Choeng Nam, crème de vollaille chợ Cũ. Các hiệu Tầu danh tiếng ngày xưa như Á Đông, Động Phát, Ngọc Lan Đình thì đã đóng cửa hay đổi tên và bây giờ không còn hiệu nào đặc biệt. Mấy hiệu Tầu trong vài khách sạn năm sao mới mở là máy chém mà ăn không ngon lắm, chỉ được cái sang! Các món Tầu bình dân như trong các hiệu mì phần lớn dọn lên khu Đinh Tiên Hoàng ở Đa Kao. Tiệm mì Cây Nhãn cũ ở khu Đinh Tiên Hoàng không biết dọn đi đâu?

Mỗi lần trở về Mỹ, tôi ít có dịp kể lại đầy đủ các chuyện trên cho bạn bè, nhất là nếu chưa đủ thân thiết, vì đa số những lập luận hay câu chuyện đều hướng về công việc làm ăn hay những dự định tậu nhà, mua xe mới cho đời sống “bên này”. “ Bên kia” chỉ nên được coi như là thiên đường đã mất hay trong trí tưởng. Lý luận của bạn bè hay họ hàng chắc nịch như vậy nên tôi cả nể thường im lặng, chỉ kể qua loa về nếp sống ở Sài Gòn sau những chuyến công tác hay thăm viếng ngắn. Tôi chỉ quyết định viết những điều dài dòng này về Sài Gòn sau khi đọc rất nhiều sách báo về Hà Nội, và cảm thấy ẩn nhẫn bất công cho Sài Gòn, nơi đã cho tôi bao kỷ niệm đẹp thơ ấu và còn cho tôi sự quen thuộc gần gũi mỗi lần trở về, dù phần lớn chỉ để hoài niệm những ngày tháng đã qua trong thành phố thân yêu ấy.
Và có lúc tôi đã muốn kêu to: Saigon, ôi người tình nhân đã khuất!...

Và hôm nay, hè 2013
Những năm thay đổi đã cho Saigon một bộ mặt mới hào nhoáng hơn nhiều, tiêu biểu nhất là trong những bức hình của khu trung tâm Eden ở quận Nhất ngày xưa. Tòa nhà có cà phê Givral đã được thay thế bằng một building mới sang trọng như ở Paris, London...Ngồi lại trong chiếc ghế của quán mới, khó ai nghĩ mình không đang ở một thành phố lớn hiện đại của trời Âu.

http://2.bp.blogspot.com/--ECU0i3hZfI/UeRg0C-5h0I/AAAAAAAACMk/icVw6ydppbY/s320/Givral+(2)+2013-+Bis.jpg
Givral
Nhưng, người biết rõ xã hội miền Nam ngày trước có mặt hôm nay, không thể không nói đến cái giá đắt phải trả. Người thanh niên trẻ của xã hội mới không thể dấu mọi chuyện với người bạn thế hệ cũ mới gặp, nói đến ở đoạn mở đầu bài viết này.

Đất nước hôm nay chứng kiến sự băng hoại của cả một xã hội cũ trong cái hào nhoáng mới hình thành. Con người đã thay đổi quá nhiều, đức tính thành thật trong giao tiếp hàng ngày gần như đã mất. Các giá trị tinh thần được đánh giá dần dần bằng các thước đo vật chất.
Có nhiều dấu hiệu cho thấy lý tưởng thanh niên đang bị lung lay không có chỗ dựa. Người ta có thể vội vàng nhận xét nhóm người tuổi trẻ hôm nay chỉ sống vội, ồn ào, theo đuổi vật chất, và gần như vô cảm. Nhưng thật sự họ là những người cô đơn nhất. Một đất nước có thống kê chỉ rõ tuổi trung bình là 24, và 65% dân số dưới tuổi 35, nhưng lại ít chú ý chăm sóc giới trẻ nhiều tiềm năng đó qua giáo dục và phát triển tinh thần.

Hiện trạng của đất nước không tạo được cảm hứng hay nuôi dưỡng các ý tưởng phục vụ cho thế hệ trẻ hôm nay. Tương lai với họ như thiếu chắc chắn, vì các giá trị dân chủ, công bằng và nhân ái cần thiết cho một xã hội hiện đại đều thiếu vắng. Ngay cả sự tiến bộ kinh tế, điểm sáng của hai mươi năm qua, cũng đang trở thành mong manh tạm bợ.

Tăng trưởng đã chậm lại rõ rệt từ vài năm nay do sự bế tắc chính sách, điển hình nhất là do sự chi phối của các bè nhóm vì lợi ích riêng tư. Đồng thời phẩm chất cuộc sống đi xuống, nhiễm độc môi trường và thức ăn trở thành mối đe dọa trực tiếp hàng ngày cho đời sống của  mọi giai tầng xã hội. Trên tất cả, nền kinh tế bị đe dọa sụp đổ từ 2 năm nay, khi quả bong bóng bất động sản và hệ thống ngân hàng có thể vỡ bất cứ lúc nào với mức nợ xấu quá mức chịu đựng, nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp cấp thời. Nợ xấu khổng lồ làm tê liệt hệ thống tín dụng ngân hàng và gánh nặng nợ công lớn không kém hình như đang được đẩy cho các thế hệ tương lai gánh chịu, với sự dồn món nợ công hiện tại thành những món nợ lớn tương lai qua giải pháp phát hành trái phiếu công dài hạn.

Nhiều người bàn đến các giải pháp kinh tế xã hội ngắn hạn. Nhưng trong con mắt chuyên viên, khó có thể có một ‘quick fix’ (sửa chữa nhanh) hay ‘a sugar high’ (một ảo tưởng), mà phải là những thay đổi thể chế và chính sách kinh tế cơ bản dài hạn, tái lập các giá trị nhân văn căn bản qua giáo dục và hướng dẫn cho tuổi trẻ.

Thế hệ trẻ không thể không biết và thờ ơ với viễn ảnh tương lai đó. Thiếu niềm tin, họ đang trả lời bằng sự chán chường những giá trị sống hiện tại, dồn đam mê đời sống vào các mác xe máy đắt tiền và những chiếc điện thoại smart thời trang, tỏ lộ hừng khí tuổi trẻ đơn giản bằng các cuộc đua xe tốc độ hay, khá hơn, diễn tả lòng yêu nước bằng cổ vũ chiến thắng bóng đá cuồng nhiệt trong các trận ‘thư hùng’ với các đội quốc gia vùng.

Nhưng mùa hè Saigon năm nay chợt thành ngột ngạt thêm  vì những biến cố thời cuộc, và sự sôi sục của cả thế hệ thanh niên muốn nói lên tiếng nói yêu nước của mình. Cùng lúc các ức chế xã hội cộng thêm những khó khăn về đời sống hàng ngày hình như đã góp phần gây thêm những tội phạm xã hội ngày càng cao hơn, cho các dấu hiệu của một xã hội đang trên đà xuống dốc trầm trọng.

Trong bối cảnh đó, người viết chỉ còn biết tìm đến một dòng sông nhỏ, hay một chiều Sài Gòn đi dạo trời mưa dưới những hàng me lá đổ, vẫn còn cố tìm về quê hương trong tâm tưởng, dù thời gian có trôi qua và các khuôn mặt cũ đã khuất bóng. Và chợt cảm thấy hạnh phúc muốn dừng ở đó, vì các thay đổi  lớn khác sẽ phải đến, những con người, những định chế cũng sẽ theo luật thời gian.

Nhưng quê hương vẫn còn đó, là dòng sông Hồng, là nhánh Cửu Long, là Hương giang, và ở đâu dòng nước đó vẫn lặng lờ trôi, lòng có thể tĩnh lặng nhận biết mình vẫn thuộc về nó: một quê hương không bao giờ mất, một dân tộc sẽ mãi trường tồn bên những biển dâu, riêng tuổi trẻ hôm nay sẽ tìm lại được niềm tin như các thế hệ đàn anh của thuở nào...

http://4.bp.blogspot.com/-YErDp1p3nTI/UeRhmGvH0WI/AAAAAAAACM8/QbfzHFz4yhM/s400/song+hong+ha-+Bis.jpg
Sông Hồng
http://3.bp.blogspot.com/-g3dnWmfTOyw/UeRhmUk4eYI/AAAAAAAACNI/BSWUm5tTqOQ/s400/Song+Huong+-+Bis.jpg
Sông Hương
http://2.bp.blogspot.com/--2lu-fLbAoE/UeRhl922HSI/AAAAAAAACM4/kNFTcq4k6cI/s400/Song+C__u+long-+Bis.jpg
Sông Cửu Long

Trần Viễn Du
Bảo Nam
Tháng Mười Một 2013
  




Phạm Lưu Vũ - Thư giãn Chủ Nhật: Thầy của Khổng Tử (Trích Luận ngữ Tân thư)



Phạm Lưu Vũ - 

Tục nhân lỡ một người thầy thì ôm hận suốt đời. Thánh nhân lỡ một người thầy thì ôm hận nghìn thu. Tục nhân ôm hận vì không gặp cơ hội được trên người. Thánh nhân ôm hận vì cảm thấy có lỗi nặng với những đời sau. Việc hôm nay, té ra có nguyên do từ bao đời trước nữa. Ví dụ cái chuyện thật, giả của muôn đời. Muôn đời thật thà là món trang sức rẻ tiền của dối trá, dối trá là chủ nhân đích thực của thật thà. Than ôi! cái đạo nói thật chẳng phải tầm thường. Đến thánh nhân cũng muốn cầu còn chẳng được. Thế gian xưa nay vẫn leo lẻo đấy, cứ tưởng mọi chuyện rồi sẽ rõ như ban ngày. Vậy mà rốt cuộc, tìm mãi có thấy tí sự thật nào đâu. Chung quy cũng tại một bận lỡ làng của bậc Vạn Thế Sư mà sinh ra cả… 


Vẫn “Lời tựa“ trong Luận ngữ Tân thư. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó: 
Khổng Tử có lúc dạy tới ba ngàn học trò. Vậy mà vẫn lũ lượt người đến xin học. Vì thế mới đặt ra lệ phải kiểm tra, phỏng vấn trước khi nhận, đại khái cũng hao hao như thi đại học hoặc cao đẳng bây giờ. Phụ trách khâu tuyển sinh này gồm các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ, Tử Thâm, Tử Thượng, Tử Hạ. Toàn những thầy mà đời sau xếp vào bậc Tiên hiền cả. Từ khi đặt ra lệ ấy, thiên hạ càng đua nhau đến xin nhập học, công việc giáo dục phát đạt lên trông thấy. Bận rộn nhất là các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ. Các thầy thay nhau bán hồ sơ, xét duyệt hồ sơ, kiểm tra thí sinh bằng mồm, bằng mũi, bằng mắt, cả bằng tay… nữa. Kẻ thì cho nhập học, kẻ thì đuổi thẳng cổ. Chung quy cái việc thi tuyển thì xưa nay đều có trong, có đục cả, không có gì đáng chép lại. Chỉ xin chép ra đây mấy chuyện lạ xảy ra trong lúc tuyển sinh ấy. Không hiểu sao lại chỉ rơi vào các thầy Tử Thâm, Tử Thượng và Tử Hạ. 

Một hôm, có một lão già nom hơi cổ quái, gương mặt tuy gồ ghề song hai mắt rất long lanh, dáng đi nhanh nhẹn, hoạt bát đến gõ cửa xin nhập học. Tử Thâm được phân công ra tiếp. Tử Thâm hỏi: 
“Cụ già thế này, sắp xuống lỗ rồi còn học làm gì nữa cho mệt?”.

Lão kia trả lời: 
“Lão chẳng học cái gì khác. Song trước khi xuống lỗ cũng muốn học cho được mỗi cái cách nói thật đó mà thôi”. 

Tử Thâm ngạc nhiên hỏi lại: 
“Tại sao cụ phải học cách nói thật?”. 

Lão kia trả lời: 
“Lão từng nghe cổ nhân truyền lại rằng nói thật một câu sẽ kinh động đến cả trời đất, quỷ thần. Vậy mà lão sống ngần này tuổi đầu rồi, tuyệt chẳng bao giờ thấy trời đất, quỷ thần động lòng gì cả. Điều đó phải chăng vì thiên hạ toàn kẻ nói dối. Tất nhiên trong đó có cả lão nữa. Vì thế lão mới phải đến đây để học cái đạo nói thật. Rất mong Phu Tử chiếu cố chỉ giáo cho, dẫu lão nói thật được một câu rồi chui xuống lỗ cũng hả lòng”. 

Tử Thâm nghe ra bèn bảo: 
“Rất tiếc ở đây chỉ dạy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Không dạy nói thật. Cụ đi tìm nơi khác mà học thôi”. 

Lão kia nghe Tử Thâm nói thì có vẻ hơi thất vọng, song vẫn cố vớt vát: 
“Lão nghe tiếng Phu Tử nức nở cả thiên hạ. Vậy ngoài Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ra, Phu Tử còn dạy cái gì nữa?“. 

Tử Thâm trả lời: 
“Dạy đủ lục nghệ. Từ làm chính trị đến đi buôn, từ làm hàng thật đến hàng giả, từ chế đồ xịn đến đồ lô… Học đến đâu sáng ra đến đó. Cứ gọi là vua ra vua, tôi ra tôi. Bố ra bố, con ra con. Chồng ra chồng, vợ ra vợ. Thầy ra thầy, trò ra trò. Trên đời này động đến môn nào Phu Tử cũng tuyệt đối tinh thông cả. Duy có cái môn nói thật ấy thì bản sự đây quả chưa nghe nói đến bao giờ”. 

Lão kia nghe thấy thế thì thất vọng quá, bèn thở dài một tiếng rồi than: 
“Thế mà lão phu đây cứ tưởng bở. Ôi! Đến cửa này cũng không học được cách nói thật nữa thì lão đành nói dối cho trọn kiếp cùng với thiên hạ thôi”. 

Than xong, lão ta vái Tử Thâm một cái rồi đi ra. Tử Thâm bèn vào kể lại toàn bộ đầu đuôi với Khổng Tử. Khổng Tử nghe kể đến đâu ngạc nhiên đến đấy. Nghe xong, Ngài trầm ngâm một lát rồi bảo: 
“Ngươi chưa nghe nói đến cái môn nói thật bao giờ cũng phải. Học thuyết của ta toàn thị là chính trị. Mà đã gọi là chính trị thì cần gì phải biết cách nói thật. Thời thế này mà vẫn còn người muốn học cái đạo nói thật ư? Thì chính ta cũng đang muốn tìm thầy để học cái môn đệ nhất ngu ngốc ấy mà chưa tìm ra đấy”. 

Một hôm khác, có người ăn mặc sang trọng ra dáng một vị quan to, xe cộ rình rang, tiền hô hậu ủng đến xin học. Tử Thượng được phân công ra tiếp. Tử Thượng lễ phép hỏi: 
“Dám xin hỏi ông làm chức quan gì?”. 

Ông kia trả lời: 
“Chức gì lớn nhất mà thầy có thể nghĩ tới được”. 

Tử Thượng hỏi tiếp: 
“Vậy ông còn muốn học Phu Tử để làm gì nữa?”. 

Ông kia trả lời: 
“Ta học để bịt mõm thiên hạ”. 

Tử Thượng nghe thấy hơi lạ tai. Bèn hỏi tiếp: 
“Thế nào là bịt mõm thiên hạ?”. 

Ông kia trả lời: 
“Thầy còn giả đò không biết ư? Ta vốn xuất thân làm nghề hoạn lợn, song từ khi thành đạt thì chẳng thiếu thứ gì. Tước vị, bổng lộc, quyền hành, vây cánh… đủ cả. Chỉ phải cái bọn kẻ sĩ trong thiên hạ thấy ta không học hành gì, cứ chửi vụng ta là đồ thượng đẳng vô học. Ta thì không thèm chấp, song vợ con, cháu chắt ta thì không khỏi có lúc phiền lòng. Nay ta đến đây cốt để bù cái chỗ khiếm khuyết duy nhất ấy của mình mà thôi, để chúng nó không còn chửi vào đâu được nữa”. 

Tử Thượng nghe ông ta nói, lưỡng lự không biết giải quyết ra sao. Cũng đành phải vào thưa lại với Khổng Tử. Khổng Tử thản nhiên phán ngay: 
“Kẻ ấy đâu có cần học hành gì. Hắn đến đây chỉ cốt cho thiên hạ trông thấy hắn cũng từ cửa ta mà đi ra giống như những kẻ sĩ khác đó thôi”. 

Tử Thượng nghe thầy nói chợt tỉnh ngộ, bèn lập tức trở ra. Quả nhiên thấy ông kia cùng đám lâu la, xe cộ đã rầm rĩ quay ra đến cổng, vừa đi vừa quảng cáo oang oang, cố tình cho thiên hạ chú ý. Chẳng thèm nói gì đến chuyện xin học nữa. Tử Thượng phục Khổng Tử quá, chỉ biết vừa nhìn theo vừa lẩm bẩm: 
“Ta ở ngay trong nhà thầy, đọc sách thầy, nghe thầy giảng… Mà đến bây giờ mới hiểu được ý nghĩa của hai chữ: Cửa Khổng”. 

Lại một hôm khác, có người đội nón tơi, đi chân đất, dáng như ăn mày đến xin nhập học. Cố nhiên là Tử Hạ được phân công ra tiếp. Tử Hạ hỏi: 
“Anh muốn làm học trò của Phu Tử với mục đích gì?”. 

Bất ngờ người ấy không trả lời mà hỏi lại: 
“Thầy hãy cho tôi hỏi trước. Thầy học Phu Tử để làm gì?”. 

Tử Hạ thấy thế thì hơi cáu, song vẫn nhã nhặn trả lời: 
“Bình sinh ta học Phu Tử chỉ cốt để làm người”. 

Người ấy hỏi tiếp: 
“Thế đã làm người được chưa?”. 

Tử Hạ vẫn cố gắng nhã nhặn: 
“Tất nhiên là chưa. Vậy cho nên vẫn đang phải học tiếp”. 

Người ấy bảo:
“Thì ra thiên hạ đều cùng một giuộc cả. Kẻ nào cũng chỉ được cái leo lẻo cái lỗ mồm. Có biết đâu rằng làm người mà dở dang thì chi bằng làm vật quách cho rồi. Còn tôi muốn làm học trò của Ngài chỉ cốt được ăn thịt”. 

Tử Hạ tròn mắt ngạc nhiên, bởi chưa nghe ai trả lời như thế bao giờ. Bèn hỏi tiếp: 
“Tại sao anh lại nghĩ rằng làm học trò của Phu Tử thì sẽ được ăn thịt?”. 

Người ấy trả lời: 
“Tôi nghe nói Phu Tử thịt thái không vuông thì không ăn. Mà con lợn, con gà, con dê, con bò… có con nào vuông đâu. Thế thì dứt khoát sẽ có nhiều chỗ phải bỏ đi. Tôi chỉ xin được chén những chỗ bỏ đi ấy mà thôi”. 

Tử Hạ nghe nói cảm thấy hơi có lý. Song cũng chẳng biết quyết định ra sao, đành phải vào thưa lại nguyên văn với Khổng Tử. Khổng Tử ngẩn người ra một lát rồi mừng quớ lên bảo: 
“Kẻ ấy chính là thầy ta đó. Ta vốn đã để ý dò tìm bấy lâu nay mà chưa tìm thấy. Ngươi mau mau ra mời y vào đây, để chính ta phải làm lễ bái sư”. 

Tử Hạ vội vàng chạy ra thì người kia đã bỏ đi đâu mất. Làm cho không những Khổng Tử, mà những đời sau, cho đến tận bây giờ, ai nghe đến câu chuyện này cũng than thở, tiếc rẻ mãi. 

Về sau, cũng nhân chuyện này, có ông Mục công người đất Kinh còn bình luận một câu đại ý: “Chỗ bỏ đi hay là phần còn lại. Thế gian này, trừ thánh nhân ra, chính cái phần còn lại ấy của thiên hạ mới là thầy của thánh nhân vậy”. 

P. L. V.
Nguồn: http://phamluuvu.wordpress.com


James R. Homes - Quyền lực mềm Trung Quốc: Một nạn nhân khác của bão Hải Yến


James R. Homes, The Diplomat - 
14 tháng Mười Một 2013

Trần Ngọc Cư dịch

Món tiền cứu trợ nhỏ nhoi ngoài mức tưởng tượng mà Bắc Kinh gửi cho Manila đánh dấu một kỷ nguyên ngoại giao chế nhạo mới [a new era of sneer diplomacy].

Trung Quốc không bao giờ hết làm cho thế giới sững sờ. Lãnh đạo Trung Quốc không những hủy hoại cả một chiến dịch quyền lực mềm đầy hứa hẹn được thai nghén trong nhiều năm. Nó còn san bằng cả nền móng quyền lực mềm của chính mình, rồi đổ muối lên trên tàn tích khiến cho không có gì cỏ thể bén rễ trở lại được. Lý do tại sao vẫn còn là một điều bí ẩn.

Dấu hiệu mới nhất cho thấy Trung Quốc có vấn đề hiện ra sau khi trận bão Hải Yến đánh vào Philippines cuối tuần qua, giết chết ít nhất trên 1.800 người, tính cho đến hôm nay [tức ngày 14 tháng Mười Một]. Giáo sư [Walter Russell] Mead đăng một bài trên blog bày tỏ sự ngạc nhiên về số tiền bé tẹo mà Bắc Kinh dành cho việc cứu trợ thiên tai tại Philippines. Khi đọc bài báo, tôi tin chắc Mead đã bỏ sót hai hay ba số zê-rô. Nhưng đối chiếu bài bình luận của ông với một bản tin của hãng Reuters, thì y như rằng, con số ông ta viết ra là đúng: 100.000 USD tiền cứu trợ trực tiếp, và thêm 100.000 USD nữa thông qua Hội Chữ thập đỏ. [Thật ra, về sau Trung Quốc tăng thêm 1.620.000 USD nữa – DG.] Những con số chiếu lệ này làm ô danh chủ nghĩa chiếu lệ.

Ta hãy quên đi cái ngoại giao bằng nụ cười. Đây là cái ngoại giao bằng sự nhạo báng. Nhiều nhà quan sát, trong đó có tôi, gán sự bất động của Trung Quốc tiếp theo sau thảm họa tsunami Ấn Độ Dương 2004 cho khả năng còn non nớt của nước này. Lúc đó, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) chưa sử dụng được những khả năng viễn chinh cần thiết để cứu trợ ở những nơi xa bờ biển Trung Quốc. Bắc Kinh làm ít vì nó chỉ đủ sức làm ít vậy thôi. Tuy nhiên, các lực lượng Trung Quốc hiện nay đã có những phương tiện cứu hộ như tàu bệnh viện Peace Ark [Tàu Nô-ê Hoà bình]. Nhưng các lực lượng này vẫn bất động, không chịu làm gì cả. Thật khó mà không kết luận rằng Bắc Kinh từ chối giúp đỡ nạn nhân trận bão chỉ vì có thù oán với Philippines. Dẫu sao, Manila dám liều lĩnh lặp đi lặp lại rằng khu đặc quyền kinh tế của mình, vâng, là khu đặc quyền kinh tế của mình. Thái độ trả đũa chính trị của Trung Quốc có vẻ đã vượt lên trên việc xoa dịu nỗi đau khổ của con người.

Cách đây không lâu, ít ai nghĩ rằng cách ứng xử này có thể xảy ra, khi Trung Quốc khôn khéo gắn liền khuôn mặt của các nhân vật như Khổng Tử và Đô đốc Trịnh Hoà của Nhà Minh với sự trỗi dậy của một đại cường. Với thông điệp: Trung Quốc là một đại cường nhân ái duy nhất, không có khả năng ngược đãi các tiểu quốc láng giềng.

Những mời gọi này có hiệu quả bao lâu mà Bắc Kinh theo đúng những điều mình rêu rao. Quyền lực mềm chính là “sức thu hút,” theo Giáo sư Joe Nye, cha đỡ đầu của khái niệm này. Đồng tác giả Toshi Yoshihara trên Naval Diplomat Blog thích đặt câu hỏi, liệu quyền lực mềm là một loại hương thầm [pheromone] hay chỉ là một thoáng nước hoa. Trả lời: một hương thầm.

Văn hóa, định chế, và chính sách – những suối nguồn của quyền lực mềm – cần phải giữ được tính nhất quán qua những quãng thời gian dài để tạo được sự chờ đợi nơi những khối thính giả trong tầm ngắm. Hành vi bất nhất, hay cách ứng xử mâu thuẫn với hình ảnh mà một nước muốn trưng ra, nhất định sẽ gây ấn tượng giả dối trong mắt người quan sát. Hay nói đúng ra, loại hành vi này sẽ bôi bác chính những điều mà nước ấy rêu rao. Một chuẩn mực ứng xử xuống cấp thì chẳng còn gì là chuẩn mực. Chủ nghĩa hoài nghi, nếu không phải là sự mất niềm tin, sẽ đón chào chính sách ngoại giao Trung Quốc trong tương lai cứ mỗi lần Bắc Kinh cố xức lên mình một chút nước hoa. Một mùi hôi thối sẽ thoang thoảng bay qua.

Từ quan điểm của Mỹ, cách ứng xử của Trung Quốc vẫn có mặt tốt của nó: Trung Quốc đã làm cho mình nom giống một tên tiểu nhân, một đứa keo kiệt, chứ không phải là một cường quốc cao thượng đáng vai lãnh đạo khu vực. Đây là hành vi tự hại mình ở mức xuẩn động cao. Việc chi mà ta phải can ngăn một đối thủ chiến lược có ý định cầm súng tự bắn vào chân mình. Mày cứ bắn đi!

J. R. H.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.


Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Trần Trung Đạo - Sự Im Lặng Của Biển


Trần Trung Đạo - 

 (Để nhớ những ngày ở Palawan, Philippines) 

Tôi sinh ra ở miền núi nhưng hai mươi năm qua, số phận lại đẩy về miền biển. Thành phố tôi đang sống là thành phố biển. Ngôi trường tôi học trước đây cũng nhìn ra biển và văn phòng tôi đang làm việc hiện nay được xây trên mặt vịnh Boston, bên kia là Đại Tây Dương bát ngát.


Thời gian dài trôi qua, cuộc sống tạm quen dần nhưng ngày mới về đây thật là khó chịu. Nhất là những ngày mưa bão, biển đổi thành màu đen sậm, xa xa một chiếc ghe đánh cá đang về trễ, tăng thêm phần ảm đạm. Biển vừa làm cho tôi sợ hãi khi liên tưởng đến những ngày còn lênh đênh hơn hai mươi năm trước, nhưng đồng thời cũng vừa có một sức hút vô hình khiến nhiều khi tôi đã đứng hàng giờ đăm đăm nhìn ra biển.

Các triết gia thường nói trong mỗi phút giây chúng ta đang sống đều có bóng dáng của quá khứ và dấu hiệu của tương lai. Tôi nghĩ họ nói đúng. Đối với một người Việt Nam tỵ nạn, quá khứ và tương lai không chỉ là bóng dáng và dấu hiệu thôi, hơn thế nữa, là hai cuộc đời cùng sống, cùng tồn tại, cùng níu kéo nhau, xô đẩy nhau vô cùng mãnh liệt. Một giọt mưa rơi, một chiếc lá rụng ngoài hiên, một tiếng sóng vỗ vào bờ đá cũng làm chúng ta choàng thức dậy, lắng nghe như tiếng có chân ai đang bước. Từ tâm cảm đó, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần đã viết trong bài Từ tiếng hát tiếp nối của anh:”Bàn chân đi, lòng vẫn mong về”.

Dù sao, các văn nghệ sĩ vẫn là người may mắn vì ít ra họ có cơ hội để làm vơi bớt đi nỗi u uất trong lòng qua thi ca nhạc họa, bao nhiêu đồng bào khác, không có năng khiếu văn chương, âm nhạc, phải âm thầm chịu đựng. Nếu cuộc sống ở hải ngoại không phải quần quật áo cơm, đầu tắt mặt tối, nhiều người Việt có thể đã chết vì khủng hoảng tinh thần.

Những ngày còn ở Việt Nam, khi nghe bài thơ, tôi chỉ nhớ mỗi câu đầu: “Ra biển chiều nay thấy màu máu đỏ”, được đọc trên đài VOA hay BBC gì đó, mô tả cảnh vượt biên thật hãi hùng. Hẳn nhiên tôi không nghĩ vượt biên sẽ nhẹ nhàng như ngồi trên chiếc du thuyền nhưng tôi cũng không cảm nhận được mức độ của kinh hoàng cho đến khi chính mình ngồi trên thành ghe mong manh vừa chết máy và đang bồng bền trên biển tháng 6 năm 1981.

Thời gian chầm chậm trôi qua. Một giờ rồi hai giờ. Tiếng cầu kinh đã dừng lại trên những vành môi khô. Lời niệm Phật đã ngưng trong những thân xác mệt mỏi. Đất trời đều im lặng. Không ai nói với nhau một lời nào. Trống vắng. Trống vắng ngay cả trong suy nghĩ của con người. Nhớ thương, hờn giận đều biết mất. Tất cả như đang dọn mình để bước vào một cuộc đời khác. Không ai tuyệt vọng bởi vì chẳng còn ai hy vọng. Và như thế cho đến khi tiếng máy ghe lại nổ, cuộc hải hành tiếp tục.

Biển mang tôi về lại bãi cát trắng và hàng dương liễu, nơi tôi đứng thẩn thờ nhìn chiếc trực thăng bay xa, bay xa, mang theo người thân yêu nhất của tôi. Biển mang tôi về lại phường Cổ Mân, Quận Ba, Đà Nẵng, nơi tôi sống những ngày đầu tiên không gia đình với người anh họ. Không ai biết và sẽ không bao giờ ai biết, trên những đồi cát trắng dọc bờ biển Sơn Chà, từng có một thằng bé mỗi chiều âm thầm đứng nhìn về phía biển để chờ đợi một tin vui. Tin vui đó đã không bao giờ đến với nó. Nếu mai mốt trở về tôi nhất định sẽ đi tìm thằng bé. Tôi nhớ rất rõ thân hình ốm tong teo của nó khi đứng chờ những chuyến xe Mỹ chở hàng để xin quá giang qua Đà Nẵng. Tôi nhớ rất rõ chiếc áo sờn vai thằng bé mặc trong mùa đông, chiếc chiếu rách, chiếc giường tre nơi nó ngủ. Và tôi cũng nhớ nó, một thằng bé can đảm, nửa đêm thức dậy ra đi, dù chưa biết sẽ đi đâu. Trên cồn cát trắng kia, sau ba mươi năm, vẫn còn in dấu chân của nó như đã hằn sâu trong ký ức con người.

Tôi từng được dạy rằng tôi là chủ nhân của chính mình chứ không ai khác và ý chí của tôi quyết định cho hành động của tôi chứ không từ đâu khác. Học và hiểu thường không quá khó khăn nhưng thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng như thế. Tôi đi qua cuộc đời này như một chiếc lá vàng khi chưa đủ tuổi để xanh. Tôi bay trong giông bão và bay qua nhiều biển cả mênh mông, bao nhiêu lần đã tưởng chừng rơi rụng và mục nát trong một góc chân tường nào đó.

Những chiều mưa bên Đại Tây Dương, tôi cũng bàng hoàng nhớ lại Thái Bình Dương, nhớ lại ngày trên biển, nhớ Manila, Palawan, nhớ đến những người không may mắn như tôi. Dọc bờ biển đó, nơi tôi lắng nghe tâm sự của những em bé, câu chuyện về những đồng bào bất hạnh, sự chịu đựng của những người sống sót, để rồi những tháng năm sau, tôi ghi lại trong Em bé Việt Nam và viên sỏi, Thưa mẹ chúng con đi, và những bài thơ khác.

Trong những người Việt Nam bất hạnh đó có người anh tôi đã mang ơn, người đã giúp tôi cơ hội vượt biên. Những dòng chữ này như nén hương để tưởng nhớ về anh.

Tôi vẫn nhớ ngày anh đưa chiếc ghe về, tôi hỏi anh sẽ dùng nó làm gì. Anh đáp gọn “vượt biên”. Tôi cười không tin anh nói thật, khi nhìn chiếc ghe quá nhỏ, nhưng cũng chẳng nói gì thêm. Chuyện tàu bè không phải là việc của tôi, biết hay không cũng chẳng ích gì. Anh mướn người sửa lại, cắt nửa trên của chiếc ghe và đóng thêm một lớp ván bên ngoài, sửa mũi và lái cao hơn. Anh mua một chiếc máy nhỏ ở đường Bến Chương Dương đem về gắn vào. Tháng sau tôi trở lại sông, chiếc ghe cũ đã thành chiếc tàu có chiều dài mười mét và chiều ngang chỉ một mét rưỡi. Tuy nhỏ nhưng có dáng dấp một chiếc tàu đánh cá hơn là chiếc ghe đi sông trước đây. Anh bảo tôi vì bụng của tàu vốn là một chiếc ghe nên chỉ có thể nối cao đến thế là cùng.

Tôi được mấy người thợ đóng ghe đưa đi một vòng quanh sông. Ngồi trên sàn ghe nhìn nước sông Nhà Bè màu vàng đục, một cảm giác bất an chợt dâng lên trong lòng khi nghĩ đến ngày nào đó sẽ ra biển với chiếc ghe vỏn vẹn mười mét này. Anh bảo đừng sợ, sẽ đi biển được. Anh dặn tôi xuống tàu sống với anh tài công và đóng vai thủy thủ. Tôi lại cười vì tôi không rành bơi lội và cũng chưa hề làm nghề buôn bán trên sông, trên biển bao giờ. Anh nghiêm giọng “Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra trên bờ thì chú mày cũng có thể đi thoát được.”

Tôi biết anh sắp xếp như thế vì lo cho tôi nhưng một phần khác để tôi khỏi có cơ hội kéo đám bạn bè của tôi theo. Dù đồng ý hay không, tôi cũng không có chọn lựa nào khác. Tiền bạc và công sức đều là của anh. Anh xem tôi như một đứa em nhỏ. Mỗi chiều khi anh ở ngoài sông về, chúng tôi thường hẹn nhau trong một quán rượu. Anh em chúng tôi mướn chỗ để trò chuyện hơn là nhậu nhẹt vì cả hai đều không biết uống rượu. Hoàn cảnh của anh rất giống tôi. Anh cũng lớn lên từ Đà Nẵng chiến tranh và nghèo khó. Anh vào Sài Gòn học và học chung trường đại học với tôi, khác nhau ở chỗ, khi anh lên bậc cao học tôi còn là sinh viên năm thứ nhất.

Chuyến đi khá bất ngờ. Anh chỉ cho tôi đủ thời gian để về chào mẹ tôi. Anh không cho biết chính xác ngày giờ vì ngại tôi sẽ dắt theo bè bạn. Anh biết tính tôi. Tôi hứa hẹn với nhiều người. Một phần tôi chẳng tốn kém gì, phần khác vì tánh tôi hay chìu lòng bạn. Những đứa được tôi hứa dắt theo đều bị bỏ lại. Điều này đã gây ra nhiều giận hờn đáng tiếc giữa chúng tôi cho tới tận ngày nay. Ngày đi tôi đóng vai thủy thủ thật. Anh hẹn mọi người tại một con lạch nhỏ ngoài bìa làng Chu Hải. Tôi theo ghe đến Chu Hải và ngủ đêm lại trong con lạch để chờ khách vượt biên.

Trời gần sáng nhưng không thấy ai đến cả. Chúng tôi thức dậy nhìn ra sông. Nước rút hết. Con lạch khô như một con đường làng hẹp. Chiếc ghe vượt biên của chúng tôi nằm chênh vênh bên bờ lạch. Chiếc bánh lái nhỏ như chiếc quạt để bàn đang phơi mình trên cạn. Nhìn bánh lái, tôi thầm tự hỏi, với món đồ chơi trẻ em này làm sao chẻ nổi sóng biển Đông. Mãi đến sáu giờ sáng, nước bắt đầu dâng lên và khách vượt biên không biết từ đâu cũng dần dần xuất hiện. Mọi người lo ngại nhìn chiếc ghe nhỏ nhoi trong lúc mặt trời sắp mọc. Công an và du kích có thể đến bất cứ lúc nào. Nhiều người lo sợ bỏ về. Anh tài công lẽ ra phải lái chiếc ghe cũng bỏ cuộc. Nhưng nhiều người khác, trong đó có tôi, quyết chí ra đi. Một người khách tự động nhận trách nhiệm lái chiếc tàu. Và như thế, chúng tôi đi. Chiếc ghe nhỏ trôi bồng bềnh trên biển Đông hai ngày hai đêm. Mệt mỏi nhiều hơn là đói khát. Cuối cùng sau bốn chục giờ và một lần máy chết, tưởng như sẽ chết, chúng tôi được một tàu hải quân Mỹ vớt.

Tôi nhận thư anh trong thời gian tạm trú ở đảo Palawan. Anh đang lo đóng một chiếc ghe khác, lớn hơn và chắc chắn hơn nhiều so với chiếc ghe bầu sửa lại mà tôi đã đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở đảo, nếu không kịp, hứa sẽ tìm nhau dù ở nơi nào. Trong lá thư cuối cùng, anh báo tin đang chuẩn bị ra đi.

Anh ra đi thật nhưng không bao giờ đến. Bà con anh ở Đà Nẵng và khách vượt biên gần cả trăm người cùng đi với anh cũng không bao giờ đến. Anh đã chết như hàng trăm ngàn đồng bào khác đã chết trên biển Đông. Tôi mang ơn anh nhiều lắm. Không có sự giúp đỡ của anh, hôm nay có thể tôi còn lang thang một nơi nào đó ở Việt Nam. Tôi đặt tên đứa con gái út của tôi cùng tên với con gái duy nhất của anh để kỷ niệm cho tình anh em tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến cố của chúng tôi.

Bao nhiêu người Việt đã chết trên biển khơi như anh. Theo ước lượng của nhiều cơ quan thiện nguyện quốc tế, khoảng nửa triệu người đã chết trong gió bão, trong đói khát, trong bàn tay hải tặc từ sau 1975. Thật ra, con số đó cũng chỉ là con số tượng trưng, cần đó để điền vào khoảng trống của một bảng thống kê. Tôi tin không ai biết và sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu người Việt Nam đã chết trên biển Đông từ sau mùa bão lửa 1975.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn đọc những lời kêu gọi, những giải sáng tác văn thơ, tự truyện, khuyến khích đồng hương còn sống sót, viết lại, kể lại cuộc đời tỵ nạn, kinh nghiệm vượt biên như những bài học lưu truyền cho hậu thế. Vâng, đó là những cố gắng tốt nhưng ai sẽ là người cầm bút viết ra đây.

Tôi và một số bà con khác đã kể lại vì chuyến đi của chúng tôi tuy hồi hộp nhưng không gây nhiều thiệt thòi, mất mát. Trong lúc những câu chuyện cần được nghe, những bài học cần được kể lại, sẽ không bao giờ được kể.

Làm sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá?

Làm sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị hải tặp hiếp dâm trước mắt?
Làm sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống biển sâu?

Làm sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông?

Không, những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển.

Bên trong chiếc cửa kính dày của văn phòng làm việc, vào những ngày giông bão, những ngọn sóng lớn đánh vào bờ đá, tung bọt cao đến tận chân tường, gió thổi mạnh đến nỗi xé nát những tấm bảng quảng cáo cắm dọc bến tàu. Những lần như thế, tôi ngồi tưởng tượng đến những điều kỳ lạ có thể đang xảy ra trong vùng nước phía bên kia. Tôi cảm giác như có một xác chết đang trôi, một bàn tay vừa nhô lên mặt nước, một tia máu vừa phọt ra từ miệng cá.

Tôi cố lắng tai nghe nhưng không nghe gì cả. Lớp kiếng cách âm dày đã ngăn giữa căn phòng ấm áp nơi tôi làm việc và giông bão phía bên kia như ngăn cách giữa hiện tại no đủ và quá khứ đầy thiếu thốn của tôi.

Nhưng nếu không có lớp kính dày kia liệu tôi có nghe được gì không?

Vẫn có thể là không. Cuộc sống xứ người đã cuốn tôi đi xa, xa đến mức nhiều khi không còn biết mình là ai nữa. Tôi vẫn đọc mỗi ngày bao nhiêu tin buồn về đất nước, tôi đã thấy mỗi ngày bao nhiêu cảnh bất công đè nặng lên số phận đồng bào. Nhưng, ngoài trừ những bài thơ, bài văn viết khi nhàn rỗi, tôi vẫn dửng dưng nhìn bàn tay của những em bé Việt Nam năm sáu tuổi đang vẫy mời những khách mua dâm ở Campuchia và tôi vẫn lạnh lùng nhìn giọt nước mắt của những cô gái Việt Nam đang chảy trên đường phố Đài Loan.

Phải chăng con đập áo cơm đã ngăn đôi dòng sông lý tưởng thời tuổi trẻ của tôi?

Phải chăng hàng rào danh lợi đã che khuất đi khả năng để biết lắng nghe tiếng kêu gào thống thiết của quê hương và cả tiếng gọi của chính trái tim mình?

Có thể cả hai. Biển, vì thế, vẫn lặng yên, câm nín như nỗi đau của đồng bào tôi và đất nước tôi.

Trần Trung Đạo


Ngô Nhân Dụng - Kinh tế củ mài ăn xuông


Ngô Nhân Dụng - 

Trong hai tuần rồi, mục này trình bày những bước cải tổ kinh tế mới của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chúng ta đã thấy, Tập Cận Bình đang cố thay đổi cơ chế để “thị trường hóa” nền kinh tế nhiều hơn. Còn ở Việt Nam thì họ thấy sao?


Hãy nghe ông Bùi Quang Vinh, bộ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư nói chuyện ở Quốc hội vào cuối tháng Mười, năm 2013. 

Ông Vinh tuyên bố: “Việt Nam phải đổi mới, không đổi mới thì không tiến lên được. Tôi đã báo cáo trước chính phủ... 

Nhiều thứ lộn xộn, mệt mỏi lắm, nên tôi nói với các đồng chí là nếu chúng ta không đổi mới thì chúng sẽ chết thôi, chúng ta sẽ củ mài ăn xuông thôi.” Nghe ông Vinh nói, thấy là ở nước ta cũng có nhiều người đồng ý phải thay đổi cơ chế. Nhưng không làm được. Tại sao? Cũng ông Bùi Quang Vinh nói: “Bộ máy nhà nước xây dựng chính sách mà dốt thì làm sao có chính sách tốt được.”

Ông Bùi Quang Vinh đã thành khẩn khai báo với Quốc hội về công việc của ông kể từ khi lên làm bộ trưởng, cuối năm 2011. Nói chung: Bi đát. Ông cũng biết rằng: “Chúng ta phải đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế của chúng ta... Thể chế kinh tế ở đây là gì, là tạo ra môi trường cho tất cả mọi thành phần kinh tế để người ta có điều kiện thuận lợi nhất để phát huy tất cả những gì trong khả năng người ta có thể làm được, để cho mỗi một chủ thể kinh tế mang toàn bộ tài năng, tâm huyết của mình ra làm cho đất nước phát triển.” Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam chưa dám đổi mới như vậy. Chính ông Vinh thú nhận: “Nền kinh tế của chúng ta chưa thể thay đổi được. Gọi là tái cơ cấu nhưng đã làm được gì đâu mà tái cơ cấu, mới loe hoe thôi.”

Vì tình trạng “cải tổ loe hoe” như thế, cho nên ông Vinh cũng báo động: “Chúng ta sẽ tụt hậu rất nhanh so với các nước bên cạnh. Chúng ta còn đang lo lắng là chúng ta tụt hậu so với những nước mà trước đây, bây giờ không dám so với Thái Lan, Indonesia, Malaysia đâu, tôi đang lo rằng là (sẽ tụt hậu) cả với những nước Campuchia, Lào...”

Cơ chế kinh tế Việt Nam hiện vẫn bị đảng Cộng sản kìm hãm theo lối kinh tế chỉ huy từ thời chịu ảnh hưởng của Stalin và Mao Trạch Ðông; tức là “bao cấp.” Thí dụ, giá điện được bao cấp cho nên rẻ, chỉ bằng 70% giá trên thị trường thế giới. 

Cho nên người nước ngoài không ai bỏ tiền đầu tư vào ngành điện. Nhưng, “những ngành như xi măng, thép nó nhảy vào ào ạt, không cản được,” lời ông Vinh nói. Tại sao: Vì các xí nghiệp này đều dùng điện trong công việc sản xuất. Họ kiếm được lời chính là vì họ được hưởng giá điện rẻ. Ông Vinh phân tích: “Nhà nước bù cho điện thì doanh nghiệp nước ngoài và trong nước lấy tất. Nhân dân không được gì, nhà nước thì mất đơn mất kép. Ông hỏi: “Vậy xã hội chủ nghĩa ở đâu?” 

Và ông tự trả lời: “Hội đồng lý luận cứ tranh luận mãi, cứ muốn tìm ra mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cứ loay hoay mãi mà có tìm ra đâu.”

Làm bộ trưởng lo chuyện đầu tư, nhưng ông Vinh thú thật rằng số vốn đầu tư ở nước ta đang tụt dần, tụt dần. Vì nhà nước cạn tiền! Ông Vinh nói: “Ngân sách đang thâm hụt một cách nghiêm trọng, chưa từng có.” Ông cho các con số. Trong những năm từ 2006 đến 2010, tổng chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 37% đến 40% của GDP (Tổng sản lượng nội địa). 

Nhưng “năm 2013 chỉ còn 29,1% tổng đầu tư toàn xã hội, tức là mọi nguồn vốn huy động của dân, tư nhân, nhà nước, đầu tư nước ngoài chỉ có được như thế.” Không có tiền, cho nên, “Từ lúc tôi lên bộ trưởng,... toàn là đi chữa cháy cái cũ đang làm dở...” Ông Vinh nhậm chức đã được hai năm, mà chính phủ không có mục đầu tư nào mới cả. Trong khi đó những “dự án đầu tư từ những năm trước để lại thì suốt nhiệm kỳ của tôi gánh vác cũng không hết.”

Khi chính quyền Việt Nam không có tiền góp làm vốn, thì cũng mất luôn không hưởng được những món tiền do các nước khác giúp để đầu tư, gọi là ODA, cho vay với lãi suất rất thấp. Việt Nam không có tiền góp vốn đối ứng, khoảng hai đến ba phần mười của tổng số vốn, thì sẽ không thể rút số tiền mà họ đã hứa cho! Hậu quả là có thể sẽ mất 16-17 tỷ đô la Mỹ, vì người ta cho mà không được dùng.

Ông Vinh hỏi: Mà đây là những công trình đầu tư nào? Trả lời: “Ðó là cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống, cầu Nhật Tân, sân bay Nội Bài, sân bay Long Thành... Những công trình khổng lồ.” Nếu chính phủ Việt Nam không thể góp 20%, 30% tiền vốn thì các công trình đó sẽ không được bắt đầu. Ông Vinh nói thêm: “Cả đất nước có mỗi cái đường Quốc lộ 1 và quốc lộ 14 nói mãi mà không làm được.” Mà các con đường đó, “thật ra đến hôm nay phải xong rồi.”

Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chấp nhận mục tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2014 chỉ là 5.8%. Nhưng ông Vinh lo rằng tỷ số khiêm tốn này cũng không đạt được; vì tổng số đầu tư thấp quá. Vì “mức 5,8% thì cũng chỉ đạt trong điều kiện tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% trở lên,” ông Vinh giải thích. Với “dự báo tổng mức đầu tư toàn xã hội (năm 2014) chỉ còn 26-27% thôi... như vậy thì không bao giờ chúng ta có thể đạt được mức tăng trưởng 5.8%. Chúng tôi đã tính ra là cố gắng lắm thì chỉ đạt được 5%.”

Ông Vinh nhắc đến những thứ cần đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam: giáo dục, y tế; cả hai đều là đầu tư vào con người. Ông nhận xét rất đúng: Trong đời sống kinh tế hiện nay, tài nguyên quan trọng nhất là con người. Nhân đó, ông cũng cho biết: 

“Tôi nói thật 5 năm nữa hết dầu khí là không còn cái gì để bán mà thu tiền vào. Chúng ta đào bới tài nguyên thô đi bán hết rồi. Dầu khí từ 18 triệu tấn, xuống dần 17, 15, 14 rồi 1 triệu và cuối cùng là (sẽ) đóng cửa. Và chúng ta sẽ tụt hậu.”

Nhưng trong nền kinh tế Việt Nam bây giờ, hai ngành giáo dục và y tế đang xuống, cũng vì đảng Cộng sản chủ trương can thiệp, không cho thị trường tự do điều chỉnh. “Vậy thì làm sao mà thu hút và sử dụng nhân tài” và kết luận: “Một nền kinh tế như thế thì không bao giờ có thể phát triển được.”

Khi ông Bùi Quang Vinh chê bộ máy nhà nước làm chính sách dốt, cho nên không làm sao có chính sách tốt được, chắc ông cũng gồm cả một bánh xe trong bộ máy làm chính sách đó, là quốc hội. Ông Vinh nhắc nhở các đại biểu quốc hội họ đã nhầm lẫn dốt nát như thế nào. Năm ngoái, ông Vinh đưa sang quốc hội một dự thảo nghị quyết phát hành trái phiếu chính phủ; nhưng “Ðến khi Quốc Hội thông qua chả hiểu thế nào nó lại (biến) thành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh” (thêm có hai chữ, bảo lãnh). Chỉ có thể giải thích là các ông bà ở quốc hội nghị gật chẳng thấy hai thứ đó khác nhau thế nào. Ông Bùi Quang Vinh phải dạy cho họ một bài học tại chỗ: Một bên là các trái phiếu phính phủ, do chính phủ đứng tên vay tiền. Bên kia là trái phiếu phính phủ bảo lãnh, tức là do các công ty đứng vay, nhưng được chính phủ bảo đảm sẽ đền nếu người vay không trả được nợ. Các ông bà quốc hội không phân biệt được hai thứ, cho nên trông gà hóa quốc! Bùi Quang Vinh kể, “Tôi bảo anh Giàu là ông đọc thế nào mà nó lại sửa mẹ nó thành trái phiếu chính phủ bảo lãnh. Hai cái khác nhau hoàn toàn!... Vậy mà Quốc hội thống nhất 90% chả mấy ai phản đối.”

Một ông bộ trưởng nói trước Quốc hội mà lại văng tục “nó lại sửa mẹ nó thành...” thật là cảnh hiếm khi xảy ra. Nhưng đứng trước cái dốt nát của con người, rất đông người, lắm lúc cũng đáng nổi giận mà văng tục thật! Ông Giàu kể trên chắc là ông Nguyễn Văn Giàu, đại biểu tỉnh An Giang, chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ông Giàu được nghe văng tục; vì các dự luật về kinh tế phải đi qua bàn giấy của ông trước. Nhưng chính ông Giàu này đã từng làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam! Không lẽ một thống đốc Ngân hàng Nhà nước mà không phân biệt được hai loại trái phiếu đó khác nhau hay sao?

Cái dốt của bộ máy chính quyền không nằm riêng trong quốc hội mà ở khắp mọi nơi. Như ông Vinh kể, bây giờ họ bầy đặt sẽ bỏ phiếu tín nhiệm các bộ trưởng. Ðiều mâu thuẫn là “thể chế thì một đảng, lại học bỏ phiếu theo kiểu phương Tây đa đảng!”

Trở lại câu hỏi trên đầu bài: Trung Cộng tiến thêm một bước trên đường cải tổ kinh tế, còn Việt Nam thì sao?

Ông Bùi Quang Vinh có câu trả lời. Ông than rằng ông không có quyền quyết định: “Mình có quyết được cái quái gì. Mình đề xuất bao nhiêu chế độ, chính sách nhằm đổi mới đất nước, cuối cùng chả thấy đâu. Vậy thì quyết cái gì? Làm sao mà chịu được, làm sao mà đổi mới được.”

Nếu không đổi mới ngay bây giờ thì trong tương lai, nước Việt Nam sẽ chịu thua kém không những các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia mà còn lẹt đẹt đi sau cả Lào và Campuchia. Ðất nước đang tiến tới nền Kinh tế Củ mài Ăn xuông, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông Bùi Quang Vinh đã báo trước.


Bùi Tín - Món nợ không thể quịt

Bùi Tín - 

 Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ tại Geneva.

Thế là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ. Nhân dân ta vui hay buồn? Tùy lập trường chính trị, cách suy nghĩ, trên tư cách công dân. Có người thông tin cho nhau, ngỡ ngàng, khó hiểu. Có bạn còn bực bội, “không sao hiểu nổi”, nước nổi tiếng chà đạp nhân quyền bỗng nhiên được khen thưởng, vinh dự gia nhập cơ quan có sứ mệnh cao quý là phổ cập quyền sống có nhân phẩm khắp nơi trên trái đất. Cứ như một học sinh kém, xếp loại cuối lớp được bằng khen. Có bạn trách móc LHQ với uy tín quốc tế lớn để xảy ra một việc bất xứng, phi lý, ngược ngạo ngay giữa một phiên họp của Đại hội đồng.


Rất cần bình tâm để đánh giá đúng tình hình, không rơi vào bi quan nản chí, thậm chí hoang mang, cay cú.

Vì sao báo chí chính thức trong nước lại không tỏ ra vui mừng, hồ hởi như thường lệ? Vì sao những báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tiền Phong, Lao Động…lại chỉ đưa tin một cách hình thức, qua loa, nhạt nhẽo, ở vị trí rất thấp, thậm chí không một lời bình.

Chỉ có mỗi một ông đại biểu Quốc hội Trần Văn Hằng cao hứng, huênh hoang với phóng viên đài Hà Nội ngày 17 /11 vừa qua rằng “đây là đòn đánh mạnh mẽ vào các đối tượng bấy lâu cố tình bôi nhọ chúng ta”. Ông Hằng là Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, vẫn giữ kiểu ăn nói lấy được, vẫn theo kiểu cách dọa nạt, vu cáo các công dân đứng dậy đòi lại nhân phẩm cho toàn dân. Ông hý hửng hơi bị sớm quá đấy!

Thật ra Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đảng, Ban Thường vụ Quốc hội vừa mừng vừa lo khi được tin Việt Nam vào được Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Nếu họ biết điều, tỉnh táo, họ sẽ vui một, lo đến mười phần.

Nếu như hàng ngũ anh chị em công dân trong ngoài nước hiến thân cho tự do, dân chủ và nhân quyền tỉnh táo nhìn rõ tình hình một cách chân thực, sẽ thấy nhiều điều kiện thuận lợi mới chưa từng có đang mở ra cho chúng ta, chỉ cần chúng ta biết tận dụng một cách sáng tạo và sâu rộng.

Bởi lẽ chính quyền đảng trị trong nước đã buộc phải đưa ra một loạt lời hứa và cam kết với Liên Hiệp Quốc, với Hội đồng Nhân quyền mà Việt Nam nay là một thành viên, nghĩa là với toàn thế giới và với toàn dân Việt Nam. Đây là lời hứa danh dự của một chính quyền của một nước gần 100 triệu dân, long trọng cam kết thực thi không chậm trễ một loạt việc làm, bước đi, cải cách, đổi mới, dưới sự kiểm soát, thanh tra, quan sát thường xuyên tại chỗ của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, cũng như dưới sự theo dõi, quan sát, kiểm tra của toàn dân VN.

Điều cực kỳ hệ trọng là tất cả 14 điều “hứa hẹn và cam kết” (Pledges and Commitments) đều là những vấn đề chính quyền toàn trị xưa nay cố tình tránh né, trì hoãn, khi thì viện cớ chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm, khi thì vin vào điều kiện kinh tế xã hội chưa chín. Cho đến nay nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế với các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền VN, đã tạo nên sức ép đủ mạnh buộc chính quyền trong nước không thể nào không lùi bước, nhượng bộ, chịu hứa hẹn và cam kết công khai long trọng trên giấy trắng mực đen.

Xin kể ra dưới đây những lời hứa và cam kết quan trọng nhất.

Trước hết Việt Nam hứa và cam kết thúc đẩy việc thực thi và bảo vệ những giá trị nhân quyền do Liên Hiệp Quốc đề xướng, và tuyên bố tự nguyện ứng cử để thành một thành viên của Hội đồng Nhân quyền.

Do đó, VN cam kết thực hiện những điều sau:

1. VN tuân theo và áp dụng những chuẩn mực phổ cập về Nhân quyền của LHQ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và quan hệ quốc tế.
2. VN thực thi những mục tiêu được LHQ đề ra cho Thiên niên kỷ.
3. VN xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tư pháp theo tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền, trong đó có nội dung tôn trọng nhân quyền.
4. VN bảo đảm an ninh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm công lý cho những người dễ bị tổn thương như: phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, dân tộc thiểu số.
5. VN quan tâm tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cán bộ, nhân viên về thực thi nhân quyền trong xã hội.
6. VN thực hiện các khuyến cáo về mục tiêu nhân quyền theo các chu kỳ kiểm điểm 1 và chu kỳ 2 của UPR (Universal Periodic Review). Chu kỳ 1 đã thực hiện năm 2009, chu kỳ 2 sắp tới.
7. VN thực hiện nền dân chủ từ cơ sở, huy động toàn dân tham gia cùng các tổ chức xã hội trên tinh thần chủ dân nhằm phổ cập nhân quyền sâu rộng.
8. VN tích cực hoạt động có trách nhiệm trong Hội đồng Nhân quyền nhằm thúc đẩy việc tôn trọng nhân quyền trên thế giới, với tinh thần minh bạch, trong sáng, khách quan.
9. VN mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác, đối thoại với LHQ, với các cơ quan của LHQ, với Cao ủy Nhân quyền của LHQ, kể cả việc mời thăm VN để quan sát.
10. VN thực hiện sự hợp tác liên chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.
11. VN thực hiện hợp tác với các nước ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền, thúc đẩy việc thực thi Tuyên bố về nhân quyền của ASEAN.
12. VN mở rộng hợp tác song phương với các đối tác nhằm thực thi nhân quyền rộng rãi.
13. VN sớm tham gia Công ước chống tra tấn.
14. VN tham gia việc hoàn thành Công ước về quyền của người khuyết tật.

Có thể nói từ nay, theo lý lẽ và pháp lý, sau khi nhà cầm quyền CS tuyên bố tự nguyện tích cực truyền bá, bảo vệ nhân quyền một cách có trách nhiệm, họ phải nhận ngay các chiến sỹ bảo vệ nhân quyền đang bị cầm tù là đồng minh, đồng chí của họ.

Nếu họ tự trọng, giữ đúng lời hứa và cam kết, họ phải nhận những Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên cùng biết bao chiến sỹ nhân quyền khác là bạn thân, là bạn đồng minh, mới phải lẽ.

Ai cũng biết họ không làm thế. Vì họ không thật lòng. Họ chỉ hứa và cam kết để tiếp tục được nhận những khoản tiền FDI và ODA cực lớn, không thì chết cả nút. Vì họ không thể sống một mình, quay lưng với LHQ. Họ sẽ giở nhiều thủ đoạn, ù lỳ, ngụy biện, có khi trâng tráo, như ông Trần Văn Hằng nói trên, mua thêm thời gian để hưởng đặc lợi.

Nhưng lần này họ bị kẹt đủ thứ. Việc thông qua Hiến pháp mới khó bề trôi chảy. Bởi lẽ học thuyết Mác - Lênin, chủ nghĩa CS, khái niệm kinh tế nhà nước là chủ đạo đều đi ngược với nhân quyền. Luật đất đai sửa đổi cũng đầy vướng mắc. Nợ quốc gia chạm đáy. Xã hội băng hoại do quan chức mọi cấp bất tài tham nhũng hư hỏng tận cùng. Có tử hình vài tên chỉ càng lộ là nước cờ hạ sách, thí tốt đen, vì những vụ to hơn nhiều, khủng hơn nhiều vẫn ở ngoài pháp luật. Họ thí vài tên làng nhàng, chừa ra ối kẻ tham ô loại bự, không bận tâm đến bầy sâu lúc nhúc khắp nơi.

Đặt bút ký lời thề và cam kết về nhân quyền, chế độ toàn trị đã sa vào bẫy tự hủy diệt, nếu không tự thay đổi về bản chất, để trở thành một chính quyền dân chủ, lương thiện, tôn trọng nhân quyền một cách tự giác.

Đã thành quy luật nhân quyền càng mở rộng, chế độ độc đảng toàn trị càng teo quắt lại. Đã hứa, đã cam kết phải giữ lời hứa, phải tôn trọng 14 lời cam kết. Đó là món nợ không thể quịt được.


Trần Gia Phụng - ĐẢNG QUYỀN, NHÂN QUYỀN VÀ THANH NIÊN


Trần Gia Phụng - 

Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) là hậu thân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) điều khiển.  Chế độ CSVN là chế độ độc tài đảng trị toàn trị, đặt quyền lợi của đảng lên bậc tối thượng, có thể gọi là chế độ đảng quyền.


Chế độ đảng quyền Việt Nam chỉ biết có quyền lợi của đảng CSVN, xem thường tất cả các quyền khác của con người (nhân quyền) và của công dân (dân quyền).  Hiến pháp CSVN tự đặt đảng CSVN lên trên toàn thể nhân dân Việt Nam, tự phong là “đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” (điều 4)

Chẳng những hiến pháp, mà luật lệ, điều lệ, quy định của tất cả các tổ chức công quyền cũng như tổ chức xã hội dưới chế độ CS Việt Nam hiện nay đều tôn xưng, củng cố quyền lực của đảng CSVN.  Điều 13 Luật an ninh quốc gia áp dụng từ ngày 1-7-2005 quy định rằng: “Các hành vi bị nghiêm cấm: tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm… xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam…”.

Hai lực lượng chính yếu bảo vệ quốc gia là quân đội và an ninh đều được sử dụng để phục vụ đảng CSVN hơn là phục vụ dân tộc.  Quân đội CSVN gọi là quân đội nhân dân, lấy câu nói của Hồ Chí Minh ngày 22-12-1964 làm kim chỉ nam hoạt động: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội...” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11 (1963-1965), Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000 tr. 351.)  Ngành công an CSVN cũng được gọi là công an nhân dân, sinh hoạt theo châm ngôn: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình.”  Hai tổ chức dân sự là Mặt trận Tổ quốc và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản cũng chỉ là công cụ của đảng CS mà thôi.

Nhà nước CSVN không bao giờ cho phổ biến những tài liệu về nhân quyền hay bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (TNQTNQ) do Liên Hiệp Quốc (LHQ) công bố ngày 10-12-1948.  Nền giáo dục của chế độ CSVN là nền giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ đảng cộng sản.  Chính sách giáo dục nầy nhằm mục đích đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, và biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. 

Trong chương trình giáo dục cộng sản, có môn chính trị ở trung và đại học về chủ nghĩa CS, lịch sử đảng CS, lịch sử Quốc tế CS,  nhằm phục vụ chủ nghĩa CS, chứ không có môn Công dân giáo dục để dạy về bổn phận và quyền lợi công dân, và hoàn toàn không có chuyện học hay phổ biến bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ.  Ở Bắc Việt trước năm 1975 không có Đại học luật khoa.  Sau năm 1975, khi chiếm được miền Nam Việt Nam cho đến nay, cũng không có môn Công dân giáo dục ở học đường và không bao giờ có việc phổ biến ở trong trường cũng như ngoài xã hội bản QTNQ.  Sách báo CS chỉ có một luận điệu duy nhất là nhồi sọ mọi người về đảng quyền CSVN mà thôi.

Phải dài dòng như thế để thấy rằng những người sống dưới chế độ CS từ 1945, rồi những người sinh ra và lớn lên ở Bắc Việt Nam sau năm 1954, và những người sinh ra sau 1975 ở trên toàn quốc Việt Nam, hoàn toàn không có điều kiện để tiếp cận về Tổ chức nhân quyền và bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ. 

Dân số Việt Nam được sắp hạng là dân số trẻ trên thế giới.  Năm 1975 dân số Việt Nam cả Bắc lẫn Nam Việt Nam khoảng từ 45 đến 50 triệu.  Hiện nay dân số lên đến khoảng 90 triệu.  Số tăng trưởng đó đều sinh sau năm 1975, cùng với số trẻ trước năm 1975 cộng lại, có thể nói hơn một nửa dân số thuộc giới trẻ. 

Giới trẻ Việt Nam trong nước hiện nay dưới chế độ đảng quyền CS, hoàn toàn không được công khai giảng dạy, học hỏi về dân quyền, nhân quyền căn bản và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ; mà chỉ được đảng CSVN hướng dẫn về nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa của CS, tức nhân quyền giới hạn dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN.  Tất cả những ai đòi hỏi nhân quyền ra ngoài định hướng xã hội chủ nghĩa đều bị trấn áp, tấn công, đày đọa và tù đày suốt đời.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy giới trẻ hiện nay ở trong nước ý thức rất rõ quyền làm người của mình, thông qua đấu tranh chống những bất công xã hội hiện nay.  Chính những bóc lột trắng trợn, bất công chồng chất, đàn áp dã man của CSVN đã dạy cho tuổi trẻ những bài học nhớ đời về nhân quyền.  Tuổi trẻ Việt Nam đã tự học hỏi về nhân quyền qua những chứng nghiệm thực tế từng trải trong xã hội mà mình đang sống.  Từ dân oan kiện tụng, đến tự do ngôn luận, viết blog góp ý, tự do tôn giáo, đến cả tỏ bày lòng yêu nước cũng bị đàn áp, như Việt Khang đã viết: “Xin hỏi anh là ai?/ Không cho tôi xuống đường để tỏ bày, / Tình yêu quê hương này, dân tộc này, đã quá nhiều đắng cay.”

Vì vậy phong trào tranh đấu đòi hỏi nhân quyền căn bản đích thực của con người hiện nay ở Việt Nam, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.  Lúc đầu, chỉ một vài người đi tiên phong và bị đàn áp, nhưng lạ lùng thay, càng bị đàn áp, thì tuổi trẻ Việt Nam càng vươn lên, tranh đấu cho tự do và nhân quyền, đúng như câu nói của một nhà lý thuyết cộng sản: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.  Danh sách những nhà tranh đấu nhân quyền càng ngày càng dài, và sẽ tiếp tục dài thêm nữa khi chế độ đảng quyền còn tồn tại. 

Do những cuộc tranh đấu liên tục ở trong nước, do những cuộc đàn áp dã man, những bản án bất công, những tù tội phi lý, mà chế độ đảng quyền CHXHCNVN trở thành nổi tiếng khắp thế giới về tài năng đàn áp nhân quyền.  Điều nầy không cần ví dụ hay trích dẫn.  Có thể vì vậy, trong năm nay, CHXHCNVN nạp đơn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ để kiếm cách rửa lại và lau chùi bộ mặt nhân quyền của chế độ. 

Trước khi Đại hội đồng LHQ biểu quyết tại New York (Hoa Kỳ) bầu chọn đại diện mới vào HĐNQ, thì nhà cầm quyền CSVN đã thực hiện hai động tác gần như cùng một lúc: 

1)  Ngày 7-11-2013, tại New York, đại diện CHXHCNVN ký vào bản “Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (United Nations Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment).  Bản công ước được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10-12-1984 và có hiệu lực từ ngày 26-6-1987. (Danh sách cập nhật, xem United Nations Treaty Collection, http://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx).  Hơn 15 năm sau, CSVN mới ký vào văn kiện nầy.

2)  Tại Hà Nội bộ Tư pháp và Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương của CSVN tổ chức lễ công bố “Ngày Pháp luật” nước CHXHCN Việt Nam tối 8-11-2013, do Quốc hội CS thông qua Luật phổ biến giáo dục pháp luật, và chọn ngày 9-11 hằng năm làm ngày Pháp luật Việt Nam. 

Để quảng cáo với các nước trên thế giới, và dọn đường cho LHQ dễ chấp thuận cho CHXHCNVN vào HĐNQ, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN phát biểu tại buổi lễ ở Hà Nội rằng Ngày pháp luật “có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng và củng cố văn hóa lập hiến, văn hóa pháp luật dựa trên các nền tảng “đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” như Hiến pháp 1946 quy định. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thông điệp gửi đến nhân dân thế giới, các nhà đầu tư nước ngoài, đồng bào ta ở nước ngoài hình ảnh của một nước Việt Nam đang đổi mới và xây dựng một đất nước thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.” (Báo Công Thương, Hà Nội ngày 9-11-2013)

Thật ra Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là hiến pháp chết yểu, vì sau khi được quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 thì chỉ năm ngày sau, tức ngày 14-9-1946, cũng chính quốc hội nầy, dưới áp lực của đảng CS, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp. (Ở đây xin mở ngoặc là viên thủ tướng CS trưng dẫn bản hiến pháp chết yểu 1946 có nghĩa là bản hiến pháp nầy có giá trị hơn các bản Hiến pháp của CSVN được thông qua vào các ngày 31-12-1959, 18-12-1980 và 15-4-1992.)

Quốc hội CHXHCNVN chọn ngày 9-11 làm Ngày Pháp luật nhằm nhắc nhở ngày 9-11-1946 thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Tuy nhiên, căn cứ trên một hiến pháp chỉ có trên giấy tờ nhưng không có giá trị thực hành, chưa bao giờ thực hành, thì không khác gì mời khách ăn bánh vẽ.  Nguyễn Tấn Dũng lập lờ nói đến hình ảnh một nước Việt Nam đổi mới với các nhà đầu tư quốc tế nhằm lôi cuốn các nước chấp thuận cho CHXHCNVN gia nhập HĐNQLHQ.

Cuối cùng, ngày 12-11-2013 vừa qua, vì chỉ có 4 ứng viên cho 4 ghế trong khu vực Á Châu nên CHXHCNVN đương nhiên đắc cử vào HĐNQLHQ.  Báo chí cộng sản trong nước hết lời ca tụng đây là thành tích ngoại giao vẻ vang của CHXHCNVN, trong khi báo chí nước ngoài cho rằng LHQ trao gươm lầm tướng cướp.  Thật ra chẳng có ai để trao gươm nên LHQ đành trao cho tướng cướp.  Như thế là một nhà nước đảng quyền hết sức phản động, chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, lại gặp thời gia nhập vào Hội đồng bảo vệ nhân quyền trên thế giới.

Khi ký vào bản “Công ước chống tra trấn” và gia nhập vào HĐNQLHQ, đương nhiên CHXHCNVN phải cam kết với LHQ là tôn trọng chủ trương của Công ước và của HĐNQ.  Tuy cam kết như thế, nhưng không lấy gì bảo đảm rằng CHXHCNVN sẽ tôn trọng nhân quyền ở trong nước Việt Nam.  Dầu vậy, việc ký vào bản Công ước chống tra tấn và việc xin gia nhập vào HĐNQLHQ là hành động đầu tiên của nhà nước CHXHCNVN công khai thừa nhận con người có nhân quyền đích thực  như LHQ định nghĩa, khác với thứ nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa do CSVN quy định.  Sự kiện nầy mở ra hai thử thách về cả hai phía:

Phía nhà cầm quyền CSVN phải lựa chọn một trong hai thái độ: hoặc tiếp tục chủ trương nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đàn áp trước những đòi hỏi càng ngày càng cao của dân chúng Việt Nam về những quyền căn bản đích thực của con người; hoặc đã vào sân chơi của HĐNQ là phải tôn trọng luật chơi, nghĩa là tôn trọng những quyền tự do căn bản đã quy định trong bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948. 

Phía người dân Việt Nam, hiện nay đại đa số là giới trẻ, sẽ dựa vào cơ hội nầy để đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN tôn trọng luật chơi.  Trước đây, nhà cầm quyền CSVN không công nhận nhân quyền, tùy tiện đàn áp trắng trợn.  Bây giờ, mang danh vào HĐNQ thì phải tôn trọng điều lệ, nội quy, chính sách của HĐNQ.

Việc đầu tiên có lẽ giới trẻ sẽ đòi hỏi là CHXHCNVN đã là thành viên của HĐNQ, thì ít nhất bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ có thể được công khai phổ biến.  Nếu nhà nước CHXHCNVN “quên” phổ biến, thì dân chúng có thể phổ biến “giùm”hai văn kiện nầy một cách rộng rãi đến mọi người dân ở trong nước.

Trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa không phải là thành viên của LHQ, cũng không phải là hội viên HĐNQ vì lúc đó chưa có HĐNQ, mà vẫn công khai phổ biến bản tuyên ngôn nầy.  Chẳng những chính quyền VNCH tổ chức lễ kỷ niệm hàng năm vào ngày 10-12, VNCH còn đưa vào chương trình giảng dạy bậc trung học ở lớp 9, rồi lớp 12 và ở các trường Đại học Luật khoa.

Nay CHXHCNVN đã long trọng ký kết vào bản Công ước chống tra tấn, đồng thời gia nhập vào HĐNQLHQ, thì bản Công ước và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 đều là văn kiện của nhà nước CHXHCNVN.  Giới trẻ có thể phổ biến giùm một cách công khai, rộng rãi, bất bạo động hai văn kiện nầy mà Công an CSVN không có lý do gì cấm đoán hay đàn áp, vì đây là hai tài liệu của đảng và chứ không chống đảng.  Điều nầy cần nhấn mạnh để cho toàn thể dân chúng Việt Nam, kể cá cán bộ, quân đội, công an CS mạnh dạn giúp tiếp tay phổ biến tài liệu của nhà nước.

Phổ biến bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ nhằm nâng cao hiểu biết của quần chúng bị áp bức và cả hiểu biết của đảng viên CS, là bước khởi đầu trong việc đòi hỏi giải quyết khiếu nại, kiện tụng của dân oan về quyền tư hữu đất đai, chấm dứt những cảnh tấn công, đánh đập, bịt miệng một cách thiếu văn hóa, giải quyết những vấn đề tự do tôn giáo, giải quyết những bản án bất công đối với những tù nhân lương tâm, mở rộng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…

Chắc chắn lúc đầu nhà nước CHXHCNVN sẽ vùng vẫy, gây khó khăn, trở ngại, nhưng nếu CHXHCNVN muốn tiếp tục cuộc chơi thì bắt buộc nhà cầm quyền CHXHCNVN phải tôn trọng luật lệ quốc tế.  Cũng chắc chắn những đòi hỏi hợp tình hợp lý về nhân quyền đích thực của công dân sẽ bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp, có thể cả tiếp tục tù đày,  nhưng xin nhớ đến câu nói của nhà cách mạng Phan Châu Trinh cách đây hơn 100 năm: "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì mọi việc khác có thể lần được.” (Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, tr. 116.)  CHẮC CHẮN THANH NIÊN VIỆT NAM THỪA CAN ĐẢM TIẾN LÊN.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 20-11-2013)