Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Trần Gia Phụng - ĐẢNG QUYỀN, NHÂN QUYỀN VÀ THANH NIÊN


Trần Gia Phụng - 

Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) là hậu thân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) điều khiển.  Chế độ CSVN là chế độ độc tài đảng trị toàn trị, đặt quyền lợi của đảng lên bậc tối thượng, có thể gọi là chế độ đảng quyền.


Chế độ đảng quyền Việt Nam chỉ biết có quyền lợi của đảng CSVN, xem thường tất cả các quyền khác của con người (nhân quyền) và của công dân (dân quyền).  Hiến pháp CSVN tự đặt đảng CSVN lên trên toàn thể nhân dân Việt Nam, tự phong là “đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” (điều 4)

Chẳng những hiến pháp, mà luật lệ, điều lệ, quy định của tất cả các tổ chức công quyền cũng như tổ chức xã hội dưới chế độ CS Việt Nam hiện nay đều tôn xưng, củng cố quyền lực của đảng CSVN.  Điều 13 Luật an ninh quốc gia áp dụng từ ngày 1-7-2005 quy định rằng: “Các hành vi bị nghiêm cấm: tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm… xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam…”.

Hai lực lượng chính yếu bảo vệ quốc gia là quân đội và an ninh đều được sử dụng để phục vụ đảng CSVN hơn là phục vụ dân tộc.  Quân đội CSVN gọi là quân đội nhân dân, lấy câu nói của Hồ Chí Minh ngày 22-12-1964 làm kim chỉ nam hoạt động: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội...” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11 (1963-1965), Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000 tr. 351.)  Ngành công an CSVN cũng được gọi là công an nhân dân, sinh hoạt theo châm ngôn: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình.”  Hai tổ chức dân sự là Mặt trận Tổ quốc và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản cũng chỉ là công cụ của đảng CS mà thôi.

Nhà nước CSVN không bao giờ cho phổ biến những tài liệu về nhân quyền hay bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (TNQTNQ) do Liên Hiệp Quốc (LHQ) công bố ngày 10-12-1948.  Nền giáo dục của chế độ CSVN là nền giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ đảng cộng sản.  Chính sách giáo dục nầy nhằm mục đích đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, và biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. 

Trong chương trình giáo dục cộng sản, có môn chính trị ở trung và đại học về chủ nghĩa CS, lịch sử đảng CS, lịch sử Quốc tế CS,  nhằm phục vụ chủ nghĩa CS, chứ không có môn Công dân giáo dục để dạy về bổn phận và quyền lợi công dân, và hoàn toàn không có chuyện học hay phổ biến bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ.  Ở Bắc Việt trước năm 1975 không có Đại học luật khoa.  Sau năm 1975, khi chiếm được miền Nam Việt Nam cho đến nay, cũng không có môn Công dân giáo dục ở học đường và không bao giờ có việc phổ biến ở trong trường cũng như ngoài xã hội bản QTNQ.  Sách báo CS chỉ có một luận điệu duy nhất là nhồi sọ mọi người về đảng quyền CSVN mà thôi.

Phải dài dòng như thế để thấy rằng những người sống dưới chế độ CS từ 1945, rồi những người sinh ra và lớn lên ở Bắc Việt Nam sau năm 1954, và những người sinh ra sau 1975 ở trên toàn quốc Việt Nam, hoàn toàn không có điều kiện để tiếp cận về Tổ chức nhân quyền và bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ. 

Dân số Việt Nam được sắp hạng là dân số trẻ trên thế giới.  Năm 1975 dân số Việt Nam cả Bắc lẫn Nam Việt Nam khoảng từ 45 đến 50 triệu.  Hiện nay dân số lên đến khoảng 90 triệu.  Số tăng trưởng đó đều sinh sau năm 1975, cùng với số trẻ trước năm 1975 cộng lại, có thể nói hơn một nửa dân số thuộc giới trẻ. 

Giới trẻ Việt Nam trong nước hiện nay dưới chế độ đảng quyền CS, hoàn toàn không được công khai giảng dạy, học hỏi về dân quyền, nhân quyền căn bản và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ; mà chỉ được đảng CSVN hướng dẫn về nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa của CS, tức nhân quyền giới hạn dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN.  Tất cả những ai đòi hỏi nhân quyền ra ngoài định hướng xã hội chủ nghĩa đều bị trấn áp, tấn công, đày đọa và tù đày suốt đời.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy giới trẻ hiện nay ở trong nước ý thức rất rõ quyền làm người của mình, thông qua đấu tranh chống những bất công xã hội hiện nay.  Chính những bóc lột trắng trợn, bất công chồng chất, đàn áp dã man của CSVN đã dạy cho tuổi trẻ những bài học nhớ đời về nhân quyền.  Tuổi trẻ Việt Nam đã tự học hỏi về nhân quyền qua những chứng nghiệm thực tế từng trải trong xã hội mà mình đang sống.  Từ dân oan kiện tụng, đến tự do ngôn luận, viết blog góp ý, tự do tôn giáo, đến cả tỏ bày lòng yêu nước cũng bị đàn áp, như Việt Khang đã viết: “Xin hỏi anh là ai?/ Không cho tôi xuống đường để tỏ bày, / Tình yêu quê hương này, dân tộc này, đã quá nhiều đắng cay.”

Vì vậy phong trào tranh đấu đòi hỏi nhân quyền căn bản đích thực của con người hiện nay ở Việt Nam, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.  Lúc đầu, chỉ một vài người đi tiên phong và bị đàn áp, nhưng lạ lùng thay, càng bị đàn áp, thì tuổi trẻ Việt Nam càng vươn lên, tranh đấu cho tự do và nhân quyền, đúng như câu nói của một nhà lý thuyết cộng sản: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.  Danh sách những nhà tranh đấu nhân quyền càng ngày càng dài, và sẽ tiếp tục dài thêm nữa khi chế độ đảng quyền còn tồn tại. 

Do những cuộc tranh đấu liên tục ở trong nước, do những cuộc đàn áp dã man, những bản án bất công, những tù tội phi lý, mà chế độ đảng quyền CHXHCNVN trở thành nổi tiếng khắp thế giới về tài năng đàn áp nhân quyền.  Điều nầy không cần ví dụ hay trích dẫn.  Có thể vì vậy, trong năm nay, CHXHCNVN nạp đơn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ để kiếm cách rửa lại và lau chùi bộ mặt nhân quyền của chế độ. 

Trước khi Đại hội đồng LHQ biểu quyết tại New York (Hoa Kỳ) bầu chọn đại diện mới vào HĐNQ, thì nhà cầm quyền CSVN đã thực hiện hai động tác gần như cùng một lúc: 

1)  Ngày 7-11-2013, tại New York, đại diện CHXHCNVN ký vào bản “Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (United Nations Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment).  Bản công ước được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10-12-1984 và có hiệu lực từ ngày 26-6-1987. (Danh sách cập nhật, xem United Nations Treaty Collection, http://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx).  Hơn 15 năm sau, CSVN mới ký vào văn kiện nầy.

2)  Tại Hà Nội bộ Tư pháp và Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương của CSVN tổ chức lễ công bố “Ngày Pháp luật” nước CHXHCN Việt Nam tối 8-11-2013, do Quốc hội CS thông qua Luật phổ biến giáo dục pháp luật, và chọn ngày 9-11 hằng năm làm ngày Pháp luật Việt Nam. 

Để quảng cáo với các nước trên thế giới, và dọn đường cho LHQ dễ chấp thuận cho CHXHCNVN vào HĐNQ, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN phát biểu tại buổi lễ ở Hà Nội rằng Ngày pháp luật “có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng và củng cố văn hóa lập hiến, văn hóa pháp luật dựa trên các nền tảng “đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” như Hiến pháp 1946 quy định. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thông điệp gửi đến nhân dân thế giới, các nhà đầu tư nước ngoài, đồng bào ta ở nước ngoài hình ảnh của một nước Việt Nam đang đổi mới và xây dựng một đất nước thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.” (Báo Công Thương, Hà Nội ngày 9-11-2013)

Thật ra Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là hiến pháp chết yểu, vì sau khi được quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 thì chỉ năm ngày sau, tức ngày 14-9-1946, cũng chính quốc hội nầy, dưới áp lực của đảng CS, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp. (Ở đây xin mở ngoặc là viên thủ tướng CS trưng dẫn bản hiến pháp chết yểu 1946 có nghĩa là bản hiến pháp nầy có giá trị hơn các bản Hiến pháp của CSVN được thông qua vào các ngày 31-12-1959, 18-12-1980 và 15-4-1992.)

Quốc hội CHXHCNVN chọn ngày 9-11 làm Ngày Pháp luật nhằm nhắc nhở ngày 9-11-1946 thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Tuy nhiên, căn cứ trên một hiến pháp chỉ có trên giấy tờ nhưng không có giá trị thực hành, chưa bao giờ thực hành, thì không khác gì mời khách ăn bánh vẽ.  Nguyễn Tấn Dũng lập lờ nói đến hình ảnh một nước Việt Nam đổi mới với các nhà đầu tư quốc tế nhằm lôi cuốn các nước chấp thuận cho CHXHCNVN gia nhập HĐNQLHQ.

Cuối cùng, ngày 12-11-2013 vừa qua, vì chỉ có 4 ứng viên cho 4 ghế trong khu vực Á Châu nên CHXHCNVN đương nhiên đắc cử vào HĐNQLHQ.  Báo chí cộng sản trong nước hết lời ca tụng đây là thành tích ngoại giao vẻ vang của CHXHCNVN, trong khi báo chí nước ngoài cho rằng LHQ trao gươm lầm tướng cướp.  Thật ra chẳng có ai để trao gươm nên LHQ đành trao cho tướng cướp.  Như thế là một nhà nước đảng quyền hết sức phản động, chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, lại gặp thời gia nhập vào Hội đồng bảo vệ nhân quyền trên thế giới.

Khi ký vào bản “Công ước chống tra trấn” và gia nhập vào HĐNQLHQ, đương nhiên CHXHCNVN phải cam kết với LHQ là tôn trọng chủ trương của Công ước và của HĐNQ.  Tuy cam kết như thế, nhưng không lấy gì bảo đảm rằng CHXHCNVN sẽ tôn trọng nhân quyền ở trong nước Việt Nam.  Dầu vậy, việc ký vào bản Công ước chống tra tấn và việc xin gia nhập vào HĐNQLHQ là hành động đầu tiên của nhà nước CHXHCNVN công khai thừa nhận con người có nhân quyền đích thực  như LHQ định nghĩa, khác với thứ nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa do CSVN quy định.  Sự kiện nầy mở ra hai thử thách về cả hai phía:

Phía nhà cầm quyền CSVN phải lựa chọn một trong hai thái độ: hoặc tiếp tục chủ trương nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đàn áp trước những đòi hỏi càng ngày càng cao của dân chúng Việt Nam về những quyền căn bản đích thực của con người; hoặc đã vào sân chơi của HĐNQ là phải tôn trọng luật chơi, nghĩa là tôn trọng những quyền tự do căn bản đã quy định trong bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948. 

Phía người dân Việt Nam, hiện nay đại đa số là giới trẻ, sẽ dựa vào cơ hội nầy để đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN tôn trọng luật chơi.  Trước đây, nhà cầm quyền CSVN không công nhận nhân quyền, tùy tiện đàn áp trắng trợn.  Bây giờ, mang danh vào HĐNQ thì phải tôn trọng điều lệ, nội quy, chính sách của HĐNQ.

Việc đầu tiên có lẽ giới trẻ sẽ đòi hỏi là CHXHCNVN đã là thành viên của HĐNQ, thì ít nhất bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ có thể được công khai phổ biến.  Nếu nhà nước CHXHCNVN “quên” phổ biến, thì dân chúng có thể phổ biến “giùm”hai văn kiện nầy một cách rộng rãi đến mọi người dân ở trong nước.

Trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa không phải là thành viên của LHQ, cũng không phải là hội viên HĐNQ vì lúc đó chưa có HĐNQ, mà vẫn công khai phổ biến bản tuyên ngôn nầy.  Chẳng những chính quyền VNCH tổ chức lễ kỷ niệm hàng năm vào ngày 10-12, VNCH còn đưa vào chương trình giảng dạy bậc trung học ở lớp 9, rồi lớp 12 và ở các trường Đại học Luật khoa.

Nay CHXHCNVN đã long trọng ký kết vào bản Công ước chống tra tấn, đồng thời gia nhập vào HĐNQLHQ, thì bản Công ước và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 đều là văn kiện của nhà nước CHXHCNVN.  Giới trẻ có thể phổ biến giùm một cách công khai, rộng rãi, bất bạo động hai văn kiện nầy mà Công an CSVN không có lý do gì cấm đoán hay đàn áp, vì đây là hai tài liệu của đảng và chứ không chống đảng.  Điều nầy cần nhấn mạnh để cho toàn thể dân chúng Việt Nam, kể cá cán bộ, quân đội, công an CS mạnh dạn giúp tiếp tay phổ biến tài liệu của nhà nước.

Phổ biến bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ nhằm nâng cao hiểu biết của quần chúng bị áp bức và cả hiểu biết của đảng viên CS, là bước khởi đầu trong việc đòi hỏi giải quyết khiếu nại, kiện tụng của dân oan về quyền tư hữu đất đai, chấm dứt những cảnh tấn công, đánh đập, bịt miệng một cách thiếu văn hóa, giải quyết những vấn đề tự do tôn giáo, giải quyết những bản án bất công đối với những tù nhân lương tâm, mở rộng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…

Chắc chắn lúc đầu nhà nước CHXHCNVN sẽ vùng vẫy, gây khó khăn, trở ngại, nhưng nếu CHXHCNVN muốn tiếp tục cuộc chơi thì bắt buộc nhà cầm quyền CHXHCNVN phải tôn trọng luật lệ quốc tế.  Cũng chắc chắn những đòi hỏi hợp tình hợp lý về nhân quyền đích thực của công dân sẽ bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp, có thể cả tiếp tục tù đày,  nhưng xin nhớ đến câu nói của nhà cách mạng Phan Châu Trinh cách đây hơn 100 năm: "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì mọi việc khác có thể lần được.” (Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, tr. 116.)  CHẮC CHẮN THANH NIÊN VIỆT NAM THỪA CAN ĐẢM TIẾN LÊN.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 20-11-2013)

Hà Sĩ Phu - VĂN HÓA và NHÂN QUYỀN trong trào lưu Cộng sản (Tầm Văn hóa thấp của trào lưu Cộng sản ) (*)



Hà Sĩ Phu - 

1- Quan hệ giữa Tranh đấu, Nhân quyền và Văn hóa

Mọi hoạt động Tranh đấu của con người từ cổ chí kim, không có gì ra ngoài ý nghĩa của chữ QUYỀN CON NGƯỜI. “Quyền Con người” ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu không nước nào có thể lẩn tránh, điều ấy đánh dấu một bước bước trưởng thành khổng lồ của văn minh nhân loại. Ở đâu có áp bức bất công, ở đâu con người bị đối xử phi lý đều có thể tìm nơi “Quyền Con người” một điểm tựa để tranh đấu, ít nhất cũng là điểm tựa tinh thần. Mặt khác, từ ánh sáng chung nhất về “Quyền Con người”, con người có thể nhìn lại những trào lưu Tranh đấu của mình một cách có cơ sở khách quan, khoa học và sáng suốt hơn.


Đã có nhiều cách tiếp cận để phân loại Quyền Con người, nhưng cách tiếp cận sáng tỏ nhất cho nhận thức là tiếp cận từ quan điểm Tiến hóa. Khi từ bầy đàn chuyển thành xã hội, Con người cũng chuyển từ cuộc sống Sinh vật sang cuộc sống Con người, rồi từ chưa văn minh đến văn minh hơn... Càng văn minh, nội dung tính “Người” càng mở rộng, thì “Quyền Con người” cũng do đó được nâng cao dần. Càng cao bao nhiêu thì càng có tính VĂN HÓA bấy nhiêu.

Với cách tiếp cận Tiến hóa, cũng là cách tiếp cận mang tính Văn hóa, nội dung Nhân quyền có thể và cần phải xếp thành ba bậc:
a) Quyền làm Người trước hết là QUYỀN ĐƯỢC SỐNG, hay quyền sinh tồn một cách tối thiểu như một sinh vật, tức quyền được sống và tự do về thân thể. Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 1”.
b) Tiếp sau đó là QUYỀN ĐƯỢC “ẤM NO”, nói rộng ra là quyền được chia sẻ những tiện nghi vật chất với những người trong cộng đồng trong đó con người sinh sống và làm việc. Quyền này tuy mang tính vật chất, nhưng cũng là sản phẩm đặc hiệu của xã hội loài người.
Quyền này tuy đã có tính VĂN HÓA, nhưng còn thấp (Văn hóa theo nghĩa rộng, là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy, trong sự tương tác với tự nhiên và xã hội.). Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 2”, phần nào tương đương với “quyền Kinh tế”.
c) Cao nhất là những quyền của “Con người văn minh”, là những quyền mang giá trị “tinh thần”, gồm các sinh hoạt tư tưởng, khoa học, văn hóa, nghệ thuật... liên quan đến các nhu cầu hưởng thụ cao, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị tinh thần,và nhu cầu làm chủ xã hội. Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 3” (hay QUYỀN TỰ DO-DÂN CHỦ). Đây là những quyền có tính VĂN HÓA cao.
(Tất cả những khái niệm vẫn được dùng trong Quyền Con người như quyền kinh tế-xã hội, quyền chính trị, quyền dân sự, quyền văn hóa..., rồi quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, vân vân, đều mang những nội dung không thể tách biệt rành mạch, chỉ nên hiểu một cách linh động, qui ước thôi).

2- Vị trí của phong trào CỘNG SẢN trong tiến trình phát triển VĂN HÓA và QUYỀN CON NGƯỜI

Ba bậc thang nói trên của Quyền Con người không hoàn toàn tách rời nhau, song về cơ bản nếu chưa có nhân quyền bậc thấp thì chưa thể có nhân quyền bậc cao hơn, ví dụ chưa được sống và được ăn thì chưa thể nói đến quyền tự do ứng cử!

Chưa có bậc thang nào thì phải đấu tranh cho bậc thang đó. Loài người phát triển không đều, nên cả ba cấp Văn hóa, ba cấp Nhân quyền, và do đó ba cấp Tranh đấu luôn cùng có mặt trên thế giới. Trong khi người này, ở đây, đang đòi quyền tự do tư tưởng, tự do ứng cử (nhân quyền bậc 3) thì người kia, ở kia còn phải đòi quyền được làm việc và trả lương công bằng (nhân quyền bậc 2), và có khi ở ngay nơi đó, có người chỉ mong đòi cho được quyền tự do thân thể, an toàn sinh mạng (nhân quyền bậc 1).

Trong bài “Đôi điều suy nghĩ của một công dân” trước đây, tôi đã đưa ra khái niệm “Quan hệ dọc” và “Quan hệ ngang” trong sự tiến hóa xã hội. Một “Hình thái Kinh tế-Xã hội” tốt hay xấu cho thấy mối quan hệ dọc của xã hội ấy trong dòng thời gian, là tiến hóa hay thoái hóa. Nhưng không phải mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng (hay bị chịu đựng) mức độ cao hay thấp của xã hội ấy. Có sự không đồng đều hay sự lệch pha văn minh giữa các quốc gia đương thời, thậm chí giữa các nhóm người trong cùng một xã hội, gây nên áp bức bất công, đó là mối quan hệ ngang trong không gian địa cầu giữa những người đang sống. Quan hệ dọc và ngang độc lập với nhau nhưng tác động tương hỗ với nhau.

Thế kỷ 18-19, con tàu Văn minh Công nghiệp bắt đầu tăng tốc, gây sốc mạnh trên khắp thế giới, khiến cho khoảng cách Nhân quyền tách ra rất xa. Trong “quan hệ dọc”, đây là sự tiến bộ rất lớn của xã hội, nhưng trong “quan hệ ngang” nó tạo ra sự mất công bằng ghê gớm. Một loạt ông chủ thành tỷ phú trong khi vô số người khác bị bần cùng hóa. Hình thành một “giai cấp Vô sản” đông đảo, chẳng những bị bần cùng hóa mà bị đe dọa cả sự sống còn. Được trang bị bằng lý luận Mác xít, họ cùng với những người lao khổ khác trở thành lực lượng trung tâm của phong trào Cộng sản.

Từ một mức sống thấp như vậy, cả về vật chất cũng như tinh thần, họ đứng lên đòi Quyền Con người, thực chất là đòi Quyền sinh tồn tối thiểu và Quyền được “ấm no”, tức là tranh đấu cho bậc thang thứ nhất và thứ hai của thang Nhân quyền, ứng với tầm Văn hóa thấp, như trên đã trình bày.

(Có thể họ có ước mơ xây dựng một cuộc sống Cộng sản rất cao sau này, nhưng đấy lại là chuyện khác, chuyện ấy không thuộc phạm vi “tranh đấu” và “đòi”. Ai ước mơ gì cứ việc ước mơ, nhưng không ai có thể đòi xã hội cái sản phẩm mà chưa ở đâu có, lại càng không có quyền bắt người khác phải ước mơ như mình.)

Nội dung phong trào Cộng sản gồm hai mặt:
* Nhu cầu có tính chất khách quan đối với trào lưu “Cộng sản” là một cuộc đòi “Quyền Con người tối thiểu” cho những người cùng khổ, tức là để giải quyết mối “quan hệ ngang” về sự công bằng, trong đó có sự công bằng giữa các dân tộc. Ở thời điểm lịch sử này phong trào Cộng sản đã có những đóng góp xuất sắc.
* Còn việc muốn tạo ra một xã hội mới khác hẳn, văn minh hơn, giải quyết sự nghiệp tiến hóa trong “quan hệ dọc”, thì đây là một hoang tưởng, phi khoa học. Hoang tưởng này tuy có cung cấp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh trên kia, nhưng không được “lịch sử giao phó” nên lịch sử cũng không cung cấp những tiền đề, do đó chẳng những không thành sự nghiệp gì mà trái lại còn gây ra những điều kỳ quái, mà bây giờ “lịch sử” đang đòi hỏi, đang “giao nhiệm vụ” phải sửa chữa, xếp dọn lại tất cả những ngổn ngang bê bối do ảo tưởng Cộng sản gây ra.

Tóm lại Cộng sản là một trào lưu đấu tranh cho Nhân quyền tối thiểu, lật đổ vì nhu cầu sinh tồn, nhưng còn ở tầm Văn hóa thấp, có lý và chỉ có ích cho những xứ sở còn chậm phát triển. Giai đoạn”phá” thành công nhưng giai đoạn “xây” thất bại nên kết quả cuối cùng là tác hại, gây khó cho con đường phát triển. 

Muốn hiểu điều này, cần phân biệt giữa tính chính đáng hay tính bức thiết của một phong trào tranh đấu với tầm văn hóa của phong trào ấy. Thật dễ hiểu, cuộc tranh đấu cho những nhu cầu càng ở tầm sinh tồn sinh vật bao nhiêu thì càng bức thiết, càng chính đáng bấy nhiêu, bởi không có nó thì xin đừng đòi hỏi nhu cầu Văn hóa gì hết. Tuy nhiên, tính “chính nghĩa” không đồng nghĩa với tầm cao Văn hóa. Nổi dậy chống bất công là chính đáng, nhưng sau đó xây dựng thế nào là điều quan trọng hơn.

Điều thứ hai cần đề cập là quan hệ giữa Chiến thắng và Văn hóa. Về toàn cục thì kẻ chiến thắng sau cùng là Văn hóa, nhưng trong một trận cọ xát trưc tiếp thì thường xảy ra điều ngược lại: càng có tầm văn hóa thấp càng dễ chiến thắng, cái bạo tàn dễ thắng cái văn minh. Quy luật này thấy rõ ngay trong đời sống hàng ngày. Cũng dễ hiểu vì ở tầm văn hóa cao người ta bị hạn chế bởi rất nhiều điều không thể làm nên tự mình trói tay mình, còn kẻ văn hóa thấp thì có thể giành chiến thắng bằng mọi giá, có thể “phóng tay phát động quần chúng”… Chủ nghĩa Cộng sản sẵn sàng hy sinh cả 100 triệu người thì chiến thắng nhất thời là dễ hiểu.

Tính Văn hóa thấp của “Quốc tế” Cộng sản được in dấu ở tất cả mọi mặt của phong trào ấy. Chỉ cần dẫn ra mấy dấu vết đã in vào bài “Quốc tế ca” cũng đủ chứng minh:
Về lời ca để hiệu triệu và tập hợp lực lượng: “Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn...”. Những đối tượng này là ở bậc thang đáy của xã hội. Xã hội phải bức thiết dành hết tình cảm cho họ, phải bức thiết đem lại ngay quyền sống cho họ, nhưng trào lưu tranh đấu mà do họ “lãnh đạo” thì chỉ có thể là một trào lưu ở tầm văn hóa thấp, tương xứng với họ, chắc chắn sẽ bị kẻ gian lợi dụng, là điều quá hiển nhiên.

“Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình” là động cơ thật của cuộc tranh đấu. Biện pháp giải quyết là “phá sạch tan tành”, “quyết phen này sống chết mà thôi” để “tước đoạt lại kẻ đã tước đoạt” như Chủ nghĩa đã chỉ rõ.

Cả đối tượng, mục tiêu lẫn biện pháp đều ở tầm văn hóa thấp.

Bây giờ nhiều người trong đội ngũ Vô sản ấy đã thành đại hữu sản do tước đoạt. Họ sẽ nghĩ sao nếu những người dưới mức nghèo khổ đông đảo ở nước ta bây giờ cũng theo chủ nghĩa Mác hô hào nhau lặp lại một phong trào tước đoạt lại như thế? Hẳn họ phải lên án đó là cách làm vô văn hóa chứ gì nữa? 

Nếu thấy cần làm lại những bài ca, thì đáng lẽ phải làm lại bài “Quốc tế ca” này chứ không phải làm lại Quốc ca như đã từng chủ trương! Sản phẩm nào của phần “Dân tộc” nói chung là lành mạnh, chỉ những sản phẩm của phần “cách mạng” “giai cấp” mới là cái cần được làm lại!

Nhưng nói vậy thôi. Cái đáng phải làm lại nhất là “làm lại” toàn bộ Học thuyết, mà tính khoa học của nó đã được ngộ nhận hoặc được châm chước, bởi khi ấy người ta nghĩ rằng “đấu tranh đây là trận cuối cùng”. Cốt sao lợi quyền về tay cái đã. Ta đấu tranh rồi, ta tước đoạt được rồi thì trường đấu tranh từ đây khóa sổ, không ai được đấu tranh lộn xộn gì nữa, từ đây là hợp lý rồi, không phải “xét lại” nữa, ai chống lại ngai vàng mà ta cướp đoạt thì quy thành phản động hết?

Liệu như thế có phải là “qua cầu rút ván” chăng? Tầm Văn hóa như vậy là cao hay thấp?

Ý tưởng lấy Búa và Liềm làm biểu tượng cho lực lượng tiên tiến nhất, tiêu biểu cho Thời đại cũng là một cảm hứng ở tầm Văn hóa ấy. Nhưng có thể nào khác được, khi trào lưu “Tiến hóa” ấy lấy động lực ở người cùng khổ, lấy điểm tựa ở sự bần cùng?

Ở một cuộc tranh đấu có tầm văn hóa cao, sự chọn lựa chỉ là giữa cái đã tốt (tương đối) với cái tốt hơn, tức là đấu tranh trong hòa bình, không có tình huống “một mất một còn”.

Cuộc đấu tranh giai cấp “một mất một còn” luôn gắn liền với bạo lực và chiến tranh, nó sẵn sàng mua chiến thắng bằng cách hủy diệt môi trường, hủy diệt những công trình văn hóa, và hủy diệt con người thì dẫu có anh hùng và chính nghĩa đến đâu cũng chỉ là những trào lưu có tính văn hóa thấp. Khi nào vươn được tới tầm văn hóa cao hơn, người ta sẽ thấy những chiến thắng ấy thật đáng ghê sợ. Lúc ấy hồi tưởng lại những bà mẹ đã tự hào vì cống hiến cả chồng và 7-8 người con cho cách mạng, người ta sẽ rùng mình hơn là kính phục.

Ở tầm văn hóa cao, người tranh đấu không bao giờ chỉ quan tâm đến chiến thắng của mình mà quên những giá trị chung của xã hội. Ở tầm văn hóa cao thì sự tranh giành quyền lãnh đạo sẽ xảy ra giữa những người đã ở tầm cao, có tài sản và sự nghiệp để bảo hành. Trong thực tế, không ai dám chơi với những kẻ “nếu mất, nó chỉ mất cái xiềng, còn nếu được thì lại được cả thế giới” (!). Vì trong trường hợp ấy, con người không còn gì để đắn đo cân nhắc, nó chỉ có một con đường là lao vào cuộc sinh tử (quyết phen này sống chết mà thôi!), và sẵn sàng “phá sạch tan tành” tất cả những gì cản đường. (Ta nhận rõ tính kém văn hóa của những người ấy nhưng không quy lỗi cho họ!). Họ sẽ tuyệt đối hóa mục tiêu “Thiện” một cách chủ quan và sẵn sàng làm mọi việc Ác mà không hề phải cắn rứt lương tâm. Họ sẽ quyết định những điều hệ trọng một cách đơn giản, họ sẽ coi rẻ sinh mạng của họ cũng như sinh mạng của cả dân tộc!

Một sức mạnh như thế rất khó cho việc chống lại, nhưng lại rất dễ cho việc lợi dụng! Stalin, Mao Trạch Đông... đã là “những nhà lợi dụng vĩ đại”, và đã đào tạo biết bao nhiêu học trò!

Nhân đây, tôi xin “mở ngoặc” để nói đôi lời về những tác phẩm viết về chiến tranh.

Người ta thấy Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là không chấp nhận được. Quan điểm Cộng sản không cho phép được buồn trong chiến tranh, trên đường ra trận phải vui như trẩy hội (!). Bây giờ hãy ví dụ: gia đình ta đang sống yên ổn thì bị cướp. Đương nhiên cả nhà phải đứng dậy đánh cướp, bỗng dưng ta thành những kẻ phải giết người để tự vệ. Giả sử ta đã giết sạch được cả mười tên cướp chết nhăn răng ra, thì khi phải nhìn lại cuộc chiến đấu ấy ta có nên kể lại một cách hứng khởi, vênh váo hay nên coi đó là một kỷ niệm “buồn” trong đời? Tôi nghĩ chẳng những phải biết “buồn” mà suốt đời còn phải tự day dứt. Càng phải day dứt hơn nếu đã hy sinh mất những người thân và những người ưu tú. Càng có văn hóa càng thấy day dứt. Bởi mình còn tồi, còn kém nên có nhiều cuộc chiến tranh bất đắc dĩ phải làm, nhưng không có cuộc chiến tranh nào lại đáng tự hào cả.

3- Đâu là tương lai của nền Văn hóa Vô sản

Mỗi Thời đại có Văn hóa đặc trưng của nó. Bằng biện pháp “Cách mạng”, với bạo lực quần chúng và tận dụng thời cơ, người Cộng sản có thể cướp chính quyền ngay tức khắc, nhưng văn hóa thì không cướp được; có xây dựng nổi nền Văn hóa đặc trưng của mình hay không, điều ấy mới xác định vị trí của mình trong lịch sử là có thật hay không. Thành bại cuối cùng là ở Văn hóa.

Hãy nhìn lại xem việc xây dựng nền Văn hóa Vô sản thành bại ra sao?

3a- Chiến dịch xây dựng “Con người mới”
- Suốt từ những năm 60-70, khi ấy tôi dạy học nên được chứng kiến một chiến dịch dai dẳng và vất vả để cố xây dựng cho được hình mẫu “Con người mới Xã hội Chủ nghĩa” (vì “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa”).

Sách giáo khoa, tài liệu tuyên giáo, truyện ngắn, truyện dài, sân khấu, điện ảnh, báo chí, phong trào Đoàn Thanh niên Cộng sản, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh... xây mãi mà không mẫu nào có thể đứng được. Nếu không bám víu vào những phẩm chất của “con người cũ truyền thống” như lòng yêu nước, lao động cần cù, chịu đựng gian khổ hy sinh, thương người hoạn nạn... thì “Con người mới” không còn có xương có thịt gì cả.

Cái chất “mới” và “xã hội chủ nghĩa”, chất “giai cấp”, chất “Đảng”, chất “thời đại” tô vẽ mãi vẫn cứ mờ nhạt, khô cứng, thậm chí (nhiều nhà văn, nhà báo kể cho tôi nghe) khối lời nói anh hùng, nhân vật anh hùng là do ta bịa ra. Nhưng ngần ấy thứ con người mới giả vẫn không địch nổi cái đội ngũ hùng hậu của những “con người mới thật”, tệ hại, bằng xương bằng thịt cứ tuôn ra từ cuộc đời thật, ngày càng đông về số lượng và chủng loại, càng điển hình và độc đáo về phẩm chất.

Học dốt, bị cô giáo cho điểm kém, bèn lừa lúc cô một mình trong lớp, dùng dao dọa, bắt cô đứng lên bàn, tụt quần ra, thế thôi!... Con muốn lấy tiền của bố, bèn cắt tiết bố hứng vào chậu hẳn hoi rồi cho lợn ăn. Chồng băm thịt vợ cho vào chum nước rồi dùng dây may-xo để nấu. Công an bảo vệ trên cầu Chương Dương Hà Nội cũng cướp của, giết người (mà có cấp chính quyền còn định bao che), vân vân. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh nổi tiếng nhiều độc giả nhất vì chuyển tải được cái vốn “người tốt việc tốt “ rất phong phú ấy!

Xe khách đang chạy, bỗng trước mặt hiện ra hai ông Công an mặc sắc phục, cầm “dùi cui” đàng hoàng, đưa còi lên miệng. Người tài xế bảo phụ lái: “Hôm nay làm ăn không được, mày “thí” cho chúng nó 5 đồng thôi!”. Rồi quay sang cười với tôi: “Bây giờ đâu cũng thế cả, bác đừng cười!”. Anh phụ lái giở cái giấy phép ra, khéo léo kẹp tờ 5 ngàn vào giữa, hơi thò ra một tý để ai có tình ý thì nhìn thấy, rồi nhảy xuống để trình…! Xe lại chạy ngay chẳng cần kiểm tra.

Giữa giờ, một anh bạn đến thăm tôi. Tôi hỏi đùa: Đang “giờ chính quyền” mà đi được à? Anh bạn tôi cũng cười: “Mình không có tài ăn cắp thì ăn cắp tý thời gian vậy. Ăn cắp thời gian bây giờ là lương thiện nhất đấy ông ạ!”. Tôi bảo: “Sao bây giờ cậu ăn nói “mất lập trường” thế?”. Anh lại bô bô: “Mình là “con người cũ” nên cứ nói toẹt ra, chứ có phải “con người mới” đâu mà vòng vo!”.

Trong một cục diện xã hội như thế, “con người mới” lý tưởng nào có thể sống được?

Có thể nói 90 phần trăm tác phẩm văn học được giải trong những năm gần đây là tác phẩm “phản diện” mang tính phê phán, và những “điển hình” xây dựng thành công là những điển hình về mặt trái của Con người và xã hội. Người ta bảo: hãy quên chuyện “Con người mới” đi! hãy tìm lại những “Con người cũ” tử tế. Nhiều bài báo viết: Bao giờ cho đến Ngày xưa?

Rất nhiều cuộc “Về nguồn” được tổ chức: Nào thi sáng tác văn thơ “Về nguồn”, đua xe đạp “Về nguồn”! Nào thi học sinh giỏi theo nghi thức thời cổ “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ!"... Chưa biết trong đục thế nào, và mỗi người “Về nguồn” với một ý đồ khác nhau, nhưng người ta đua nhau “Về nguồn”, vì ai cũng thấy trước mắt mình nhiều cái “mới” nhăng nhít quá! Có lời bình rằng: Trước đây bỏ “nguồn” để đi tìm Thiên đường Cộng sản, nay lại hò nhau Về nguồn, thật như đèn cù!

Còn đang cố tìm một mẫu người “Trung với Đảng, Hiếu với Dân” thì đùng một cái, một ông cán bộ Cộng sản khá cao cấp là Thân Trung Hiếu, đầy đủ cả “Trung” cả “Hiếu”, làm tiêu luôn của Dân 48 tỷ đồng! Dân bảo: Tay này chắc là “Trung”, nhưng mà bất “Hiếu”!

Truyện”Con người mới” kể cả ngày không hết. Không gì bê bối hơn một nền Văn hóa như thế.
- Nói đến Văn hóa Vô sản không thể quên nước Cộng sản lớn, quê hương của “Con người mới” Lôi Phong, của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, với mười mấy triệu Hồng vệ binh vô học choai choai, dám đốt hết sách vở và lôi cả những nhà Văn hóa ra đấu tố, quét sơn đỏ khắp người rồi lôi đi diễu trên đường phố, với hàng đoàn xe tăng đi nghiến nát những em sinh viên nhịn đói để đòi dân chủ, với công đào tạo ra những tên lính Polpot ở tuổi chưa ráo máu đầu đã một mình dùng cuốc đập chết cả ngàn người trong tay!...

Những hiện tượng “đại văn hóa” ấy mà không phải do bản chất thì do ngẫu nhiên chăng? Hay do Đế quốc Phong kiến để lại? Hay chỉ có thể từ Văn hóa Vô sản, Văn hóa Đảng mà ra?

Không phải ngẫu nhiên mà cái pháo đài Cộng sản nổi tiếng giáo điều với quan điểm “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, “gió Đông thổi bạt gió Tây”... lại cũng chính là nơi sản sinh ra quan điểm “đổi mới” thực dụng nổi tiếng “mèo trắng mèo đen” không quan trọng, miễn là “bắt được chuột”! Có thể coi hai thái độ cực tả và cực hữu ngược nhau ấy (từ quá giáo điều sang quá thực dụng) là quan hệ bù trừ, nhân quả, nhưng nghĩ lại thì thấy hai thái độ ấy cũng từ một gốc mà thôi, đều phản ánh cùng một bản chất duy lợi của tầng lớp cầm quyền, cùng một xảo thuật tuyên truyền, và cùng một tầm văn hóa.

Khi trước giáo điều bao nhiêu thì nay lại thực dụng bấy nhiêu, ta với Tàu cũng “một mẹ sinh ra” cả!

Tóm lại, khi mẫu người Phong kiến đã hết thời thì phải hướng con người theo những giá trị phổ quát của thế giới hôm nay: con người của văn minh công nghiệp và tin học, của kinh tế thị trường, của dân chủ pháp trị. Nếu cứ chập chờn, nghĩ đến một thứ “con người mới xã hội chủ nghĩa” giả định nào đấy, thì kết quả là dứt con người ra khỏi văn minh nhân loại, nếu không ù lỳ như những bóng ma ảo tưởng cổ lỗ lỗi thời thì lại thành những kẻ lừa đảo, lưu manh… rất hiện đại!

3b-Thiếu Văn hóa từ gốc
Một nền văn hóa có thể bị băng hoại dần dần do những sa sút của chính trị và kinh tế.

Nhưng nền Văn hóa Vô sản tự nó đã có những khiếm khuyết, ngay cả lúc còn thịnh trị.

* Nền Đạo đức Vô sản thâu nạp đủ điều đạo đức của Nho giáo, từ Trung, Hiếu, Đức, Tài, Lễ, Nghĩa, đến Cần, Kiệm, Liêm, Chính, đến Chính tâm tu thân, đến kế hoạch trăm năm trồng người, đến điều lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ, đến Dân là gốc, coi cán bộ là nô bộc của dân, dĩ bất biến ứng vạn biến... tất cả đều đã có trong sách vở Nho giáo.

Duy có chữ QUÂN TỬ là cái tử tế nhất của Nho giáo thì ta tránh hẳn.

Các nhà lý luận viện cớ rằng Quân tử là tầng lớp bóc lột nên ta không học.
Nếu những phạm trù NHÂN, THIỆN, ĐỨC còn mang tính lý tưởng, hoặc còn chung chung, trừu tượng, thì phạm trù QUÂN TỬ đưa thiện-ác vào tới con người cụ thể, tới tình huống cụ thể, thái độ ứng xử cụ thể. Mỗi tình huống ấy là một cuộc thử thách quyết liệt: anh nói anh “thiện”, anh “đạo đức” thì anh thể hiện ra đi, quyết định lấy một thái độ ứng xử đi; hoặc là hành động một cách”QUÂN TỬ”, hoặc là hành động một cách “TIỂU NHÂN”!

Những bài học về QUÂN TỬ thiết thực lắm. QUÂN TỬ rất gần với TRƯỢNG PHU và THƯỢNG VÕ. Người ta thua trận, người ta nằm trong tay anh rồi, anh làm gì người ta cũng phải chịu, thì anh sẽ đối xử thế nào? Hoặc là anh học người xưa, đem tất cả sổ sách thù hận đốt đi để coi nhau như anh em, hay anh lục đống hồ sơ cũ ra, bới lông tìm vết để phân biệt đối xử?

Anh có mọi quyền lực trong tay, anh muốn nói gì, nói cả ngày cũng được, thì anh có nhường một tờ báo, một diễn đàn cho những người khác trình bày tiếng nói của họ hay không?

Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bày đặt cái gì cũng được, thì anh có dành cho Nhân dân một Hội đồng thật sự để giúp anh thu thập tiếng nói của Dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy sang phụ trách luôn “Hội đồng Nhân dân” cho nhất quán?
Anh có quyền ký một chữ thì người khác có nhà ở, vậy anh có thắng nổi cái lòng tham của con người, dám trọng nghĩa khinh tài mà từ chối mấy lạng vàng đút lót để dành cái nhà ấy cho một thầy giáo nghèo được không?

Người Cộng sản thích chơi trò “Đạo đức” nhưng không dám chơi trò “Quân tử”, thiệt đến quyền lợi sát sườn ngay! Mặc dù trên đời cái gì cũng có thể làm giả nhưng thực tế cho thấy Đạo đức giả thì dễ nhưng Quân tử giả thì khó hơn nhiều. Chủ nghĩa Phong kiến so với ngày nay thì vô cùng tồi tệ, nhưng thời thịnh trị nó đã cung cấp cho loài người rất nhiều Người Lớn, là nhờ có một tinh thần QUÂN TỬ. Dùng Đạo đức, con người vẫn có thể lừa cả mình, nhưng khi trong lòng đã cất lên tiếng QUÂN TỬ thì con người phải đối diện với chính lương tâm nó, khó trốn tránh hơn.

* QUÂN TỬ thì phải CHÍNH DANH! Có người bảo “Chính danh” là thủ đoạn của bọn thống trị nhằm phân biệt ngôi thứ. Không đúng! Công bằng hay không là ở chỗ “định danh”, định nội hàm của Danh, chứ khi định Danh rồi thì phải theo Danh mà làm! “Danh” một đàng “Thực” một nẻo thì đại loạn.

Trước tình hình giáo dục lộn xộn bát nháo phải kêu gọi “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” là rất đúng, là phải “chính danh”!

Nhạc trưởng cũng phải ra Nhạc trưởng! Anh muốn điều khiển dàn nhạc thì anh đứng ra giữa sân khấu mà bắt nhịp cho mọi người trông thấy, chứ không thể chơi trò “giật dây” từ trong hậu trường, hay đứng lấp ló ở chỗ “cánh gà” sân khấu, chờ xem nếu được hoan hô thì ra nhận hoa, mà bị la ó thì chuồn thẳng, tìm mãi chẳng biết ai vừa chỉ huy!

Anh muốn chỉ huy cũng được (cứ cho là “được” đi), nhưng nếu chỉ “hiến định” sự chỉ huy, mà không “luật hóa” sự chỉ huy ấy thì ai chẳng thích chỉ huy? Mà phải là luật của Dân, chứ Đảng Cộng sản tự làm luật cho mình thì đâu cũng hoàn đó. Nếu có “luật lãnh đạo” cho nghiêm minh (lãnh đạo kém, gây thiệt hại lớn sẽ bị đi tù!) thì chắc Đảng sẽ tự xin rút điều 4 trong Hiến pháp. Có luật ấy thì khối lãnh tụ Cộng sản đã đi tù lâu rồi, không tin cứ đưa ông Lê Đức Thọ ra Toà án của Nhân dân làm ví dụ thử xem.

Trong dân mình có thói khôn vặt: nói thế mà không phải thế! Nói “dzậy” mà không phải “dzậy” nên khi gặp chủ nghĩa Mác Lê thì tâm đắc vô cùng, cả hai đều thích “nhân danh” nhưng không thích CHÍNH DANH.

Trong cuốn Đề cương giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh Xây dựng chủ nghĩa Xã hội trong thời kỳ quá độ (tức Cương lĩnh của Đại hội Đảng lần thứ 7) có câu: “Nguyên tắc thứ nhất nói về xây dựng Xã hội chủ nghĩa, tuy không dùng chữ Chuyên chính Vô sản, nhưng nội dung của nó vẫn quán triệt bản chất Chuyên chính Vô sản” (sđd.trang 15). Thế thì còn đâu là chính danh?

Có lẽ do quá quen với “phương pháp luận” Mác xít nên người viết câu ấy không cảm thấy tính TIỂU NHÂN trong đó. Thử hỏi tại sao lại thế: nếu thấy Chuyên chính Vô sản là hay thì phải công khai bảo vệ luận điểm ấy, nếu thấy là dở thì phải thực tâm từ bỏ, chứ ngoài mặt nói với dân không có Chuyên chính mà nội bộ Đảng thì lại dặn nhau: Cứ Chuyên chính mà làm! Thì chẳng Quân tử tí nào.

Điều nói dối ấy đã làm dân mất lòng tin, đã đành, nhưng trong Đảng thì đấy chính là sự dạy nhau nói dối, và Đảng viên sẽ dùng cách ấy để ứng xử với Đảng: Nghị quyết nói thì cứ để Nghị quyết nói, mình có cách “vận dụng” của mình, Nghị quyết “dzậy” mà không phải “dzậy”!

Người Việt Nam muốn ra người Quân tử đã khó, người Cộng sản Việt Nam muốn ra người Quân tử lại càng khó hơn. Bởi thế tôi thật kính trọng thái độ Quân tử của tướng Trần Độ khi ông viết cho Đảng những dòng sau đây: “Cần phải dứt khoát chọn một trong hai tư tưởng chỉ đạo: Hoặc thực hiện Chuyên chính Vô sản, mà Đảng là đại diện và nhân danh (liệu có dám ngang nhiên như vậy không – HSP bổ sung). Hoặc thực hiện một Nhà nước Dân chủ pháp quyền, một Nhà nước của Dân, do Dân, vì Dân. Không thể cứ nói nửa nọ nửa kia nhập nhằng.”

* QUÂN TỬ lại gắn với LIÊM SỈ. Liêm sỉ là biết tự xấu hổ, trước hết là với lương tâm mình. Bậc trượng phu không được lấy nê vì Nghĩa lớn mà bước qua những điều Sỉ nhỏ. Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương tuy không có tội, nhưng xấu hổ vì không làm tròn nhiệm vụ giữ thành nên quyết tự vẫn. Càng là bậc đàn anh thiên hạ, lòng tự sỉ càng phải lớn. Có khi đời tha cho mình mà mình không tha cho mình được. Ở ta, người Cộng sản làm hỏng việc thì tìm cách chuồn lên ghế cao hơn (mà lại chuồn được!). Chuyện ấy địa phương nào cũng có, Trung ương lại càng điển hình. Phải chăng vì bài ca “lợi quyền” kia đã ngấm vào xương thịt?

Để riễu cái thói đạo đức giả nhưng lại vô sỉ, bám ghế đến cùng, người dân nhại lời các quan chức “cách mạng giả cầy” thế này: “Ông không ham chức quyền, ông chỉ ham phục vụ, ông quyết ở lại làm đầy tớ của dân! Đứa nào ngăn không cho ông làm đầy tớ ông đánh bỏ mẹ.” (!)

Nhiều lúc tôi tưởng tượng như cả dân tộc mình đang ở trong trạng thái thôi miên.

Tôi nghĩ đến một ví dụ khác, một người đủ tư cách thay mặt cho Đảng. Tôi không có ý định chỉ trích cá nhân ông, nhưng trường hợp của ông lại rất điển hình. Trước đây ông nổi tiếng là người Mác xít gang thép, chẳng những trong việc “đánh Đế quốc Mỹ và tay sai”, mà cả trong việc đánh đồng bào mình, những nhà “công thương nghiệp tư bản tư doanh” (họ mang tiếng là Tư sản nhưng chưa giàu bằng các vị Tư sản đỏ bây giờ). Hiện ông cũng đang rất gang thép trong việc kiên trì Mác-Lê và định hướng Xã hội chủ nghĩa. Ấy thế mà đùng một cái, ông ngồi sánh vai với “ bọn tay sai Nam Hàn” (cái “bọn” mà tôi còn nhớ trước đây chúng “giết bộ đội mình như ngóe”), ngồi để ký kết những chương trình mà chắc chắn là phản lại cái “chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” của ông trước đây (và nhận quà biếu tới 2 triệu đô-la). Tôi tự giải thích: có thể sự quay ngoắt 180 độ này là một sự tỉnh ngộ, đổi mới chân thành, muốn làm bạn với tất cả mọi người.

Có thể thế lắm chứ! Nếu ông đổi mới như vậy thật thì quá tốt.

Nhưng, người sám hối có những “triệu chứng lâm sàng” rất dễ nhận thấy. Biểu hiện buộc phải có là “ngượng”, là “thẹn”, khiến cho những người khó tính nhất cũng phải tha thứ.

Trong trường hợp này, các “triệu chứng lâm sàng” đáng yêu kia hoàn toàn không có. Người đã có sai lầm tội lỗi chẳng những cứ thản nhiên cười nói, mà còn giữ tư thế huấn thị, kiên trì chủ nghĩa, xử tội, “chém tay” quát nạt thiên hạ, thì đây chỉ có thể là sự thiếu nhân cách đến vô liêm sỉ.
Điều lạ nữa là tại sao tất cả những cán bộ xung quanh, trước hết là những người hữu quan, lại không ai lấy thế làm xấu hổ, một thứ xấu hổ mà chỉ cần là một người có nhân cách bình thường thôi cũng không chịu nổi! Mà đâu phải riêng việc đó, bao nhiêu điều quay quắt, lộn ngược lộn xuôi rành rành trước mắt, mà lại có thể tươi tỉnh như không? Mà đều nghĩ được cách giải thích, mà lại tiếp tục làm tuyên huấn cho mọi ngưòi không hề ngượng mồm?

Tôi không muốn lên án riêng ai, bởi thế tôi thấy chỉ có thể giải thích đây là một trạng thái thôi miên tập thể. Bên tai mọi người hình như luôn nghe thấy lời ám thị:” Hãy coi chừng! không được trái ý Mác-Lê! Hãy coi chừng, không được trái ý Mác Lê!” như sợ một bóng ma trong tiềm thức, một tay cầm gậy một tay cầm củ cà rốt. Mác-Lê thế nào mấy ai biết? Có khi Mác-Lê giống mấy ông Công an, giống bà trưởng phòng Tổ chức, giống khoản lương hưu, giống xấp đô-la, giống những kỷ niệm kinh hoàng một thời đói rách, giống ngôi biệt thự với chiếc xe con, giống két bia lon với cô thư ký, hoặc có khi chỉ là một cái bóng ma rất thiêng trên bàn thờ... Mác-Lê muôn màu muôn vẻ, nhưng đã thành một ám thị tập thể. Trong khí quyển thôi miên ấy, con người phải quên nhân cách riêng, đặc biệt là cấm không được hổ thẹn!. Cái gọi là “Lý tưởng Cộng sản”(mà chưa biết một thế kỷ nữa có thực hay không) bây giờ chỉ còn là cái bình phong tự lừa dối lương tâm để làm điều vô liêm sỉ, phá bỏ chiếc bình phong che mặt ấy chính là giúp người ta trở về con người có nhân cách thật, đó là việc làm nhân ái, cứu người! Bởi Dối trá là điều kiện cần và đủ cho cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản tồn tại và phá phách xã hội. Không có vị anh hùng dân tộc nào đủ sức chống lại con Quỷ dối trá ấy, trừ phi mỗi người công dân dám tự dấn thân một lần “Nói thật để cứu nước”! 

Khi học môn giải phẫu cơ thể, chúng tôi nhớ mãi một dây thần kinh chỉ huy việc khép đùi nên tên là dây “thần kinh thẹn”. Bây giờ mỗi khi cùng nhau tâm sự chuyện đời, chúng tôi lại nhìn nhau chua chát: Bọn mình bị liệt mất dây “thần kinh thẹn” rồi. (Nhưng khi nghe những thằng bạn thao thao bất tuyệt trên Ti-vi chúng tôi vẫn thấy thẹn thay). Cảm ơn Tạo hóa đã cho Con người biết thẹn, nếu không, ai giữ Văn hóa cho Người!

3c- Hiện tình “Văn học Cách mạng”

Tính cách Dân tộc ấy, hoàn cảnh lịch sử ấy, bản chất ý thức hệ ấy đã quyện vào nhau nhào nặn nên một tổng thể Văn hóa “đặc sắc” không bút nào tả nổi. Nền Văn học “hiện thực xã hội chủ nghĩa” cố kéo dài hơi thở hào hùng thời kháng chiến một cách đuối sức, tỏ ra bất lực và mất phương hướng trước một thực tế mà nó không nhận thức nổi hay không dám nhận thức. Một số tác phẩm bắt đầu bứt ra, thì tránh được sự giả tạo và đạt được sự phê phán sâu cay, nhưng càng sâu cay càng không có lối ra. Giải thưởng Văn học nào cũng “có chuyện”. Làm sao có thể tổ chức nổi một cuộc thi cho tử tế khi mà bộ Từ vựng của xã hội đang đòi phải làm lại, làm lại những từ ngữ cơ bản, viết lại những mệnh đề cơ bản: chẳng hạn “Cách mạng” nghĩa là gì? “Phản động” nghĩa là gì? “Yêu Chủ nghĩa xã hội” có phải là “yêu nước” không?, vân vân. Người chấm thi bị xé về hai chiều, “con người chính trị “ phải đạo không còn chung sống nổi với “con người văn học” trong một thể xác như ở giai đoạn trước, và mỗi “con người” ấy trả lời những câu hỏi trên một cách trái ngược nhau.

Tất cả những giá trị văn học chân chính lâu dài mà ta đã gặt hái được trong mấy chục năm mà ta gọi là “Cách mạng” thực chất không có gì khác ngoài giá trị Văn học yêu nước và nhân bản, còn cái chất “chuyên chính vô sản” nếu có đóng góp thì chủ yếu là gây nên cái mặt trái của nền văn học đó.

Làm sao có được “tác phẩm tương xứng với thời đại” khi nhà văn không thể nhìn thẳng vào thời đại bằng con mắt của riêng mình? Vừa phải nhìn bằng con mắt của người khác, lại vừa nơm nớp lo không biết trong cặp mắt kia bên nào mắt thật bên nào mắt giả. Mắt vẫn mở, mồm vẫn lắp bắp, tay vẫn hí hoáy viết đấy nhưng bị thôi miên rồi.

Trong xã hội quái đản ấy đã bật ra bút pháp Nguyễn Huy Thiệp: Cái khốn nạn, lưu manh hết chỗ nói mà cứ bình thường như không, thương nó cũng dở, giết nó không nỡ, không lần được cái đầu mối khốn nạn nó nằm ở đâu. Làm điều đồi bại mà cứ như vô tình... Cái Thiện, cái Mỹ thì mong manh như mây khói. Phải chửi Trí thức! Phải chửi Đạo đức! Phải tốc ngược lịch sử lên để nhìn rõ những chân dung ngụy tạo! Cái nhạy cảm đạo đức tuyệt vời thiên phú của anh xui anh làm thế! Trong tấn tuồng đời, các vai đạo đức đã bị những kẻ vô đạo giành đóng hết rồi!

Nhưng anh phải nén tấm lòng xót xa ấy, xã hội không cho anh xót xa, đất nước đang đi lên không được xuýt xoa. Vì thương con người mà không thể thương con người (tôi thích lời bình luận ấy của Hoàng Ngọc Hiến), vì quá xúc động nên phải viết lời vô cảm! Đọc những câu văn tục tĩu, vô cảm hoặc độc ác của anh tôi cứ ứa nước mắt. Chỉ riêng cái “vỏ” bút pháp của anh đã chứa hết cái ruột gan của xã hội trong đó rồi. Cốt chuyện chỉ còn là cái cớ, lúc thực lúc hư.

Xã hội quái đản ấy cũng buộc phải đẻ ra thơ “Bút Tre” để phản ánh nó, khi văn học chính thống cứ ngồi lù lù đó một cách vô tích sự. Tôi không nói ông Bút Tre ở Vĩnh Phú mà ông Ngô Quang Nam vừa mới viết sách ca ngợi. Cái ngớ ngẩn một cách chân thành,và chân thành một cách ngớ ngẩn, của người cán bộ văn hóa Vĩnh Phú kia chỉ là cái cớ để dân gian tải cái ngớ ngẩn giả vờ của mình, để riễu cợt những giá trị mà công khai họ cứ phải “hoan hô”. Thơ “Bút Tre thật” không ai thuộc làm gì, đọc rồi cũng không nhớ được, còn “Bút Tre dân gian” thì mỗi lần nghe người ta đọc, tôi lại thấy cái sức sống mới mẻ, say sưa như thể chính người ấy đang sáng tác. Câu thơ Bút Tre chính xác và thông minh, đa nghĩa, lại núp dưới cái vỏ ngô nghê đơn nghĩa, để nhại chính cái thứ văn học công nông đại chúng tùy tiện giáo điều. Cười bò ra, rồi chảy nước mắt...vì đau trong ruột. Tiếc rằng chưa tiện trích dẫn ở đây.

Còn những “cây đa cây đề” trong nền Văn học cách mạng thì cuộc đời văn học đều bị chia đôi:
“Vị nghệ thuật” nửa cuộc đời,
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên!
(Xuân Sách, Chân dung Nhà văn)

Cái còn lại của những tài năng văn học tiêu biểu ấy là những tác phẩm thanh xuân đầu đời, của người nghệ sĩ tự do, những Điêu tàn, Lửa thiêng..., còn nửa sau là cái nửa “lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa” (Xuân Sách, Chân dung Nhà văn) nên hỏng cả sự nghiệp lẫn nhân cách. Người bị mất chung quy là Dân tộc. Những bài thơ di cảo Bánh vẽ, Trừ đi, Ai, tôi của nhà thơ Chế Lan Viên lỗi lạc đủ để tự phủ định toàn bộ cái nửa đời sau của cả một thế hệ văn nhân, nhưng những ngày cuối cùng của ông lại cho thấy những nghệ sĩ đã mất nửa đời người ấy họ đâu có thể tự do “về nguồn” theo lương tri của mình! Bởi họ không đủ điều kiện để thẳng thắn trả lời câu hỏi:
Cuộc đời hai nửa vì đâu?
Nửa say Quỷ kế, nửa đau Nhân tình!
(HSP, Thư gửi Xuân Sách)

Dòng Văn học mới không thể không “phản tỉnh”, tự mình “lật tẩy” mình để tự vượt qua, vượt qua mình, vượt qua một vùng Văn hóa thấp mà về với loài người văn minh.

*

Tóm lại không thể xây dựng nổi một nền Văn hóa Vô sản, vì không có một “giai cấp Vô sản tiêu biểu cho thời đại” như Mác tưởng tượng. Những xã hội trước đây đã lao theo con đường của Mác thì nay chẳng có con đường nào khác ngoài con đường trở về với Dân tộc truyền thống và mau chóng gia nhập vào Thời đại, mà nội dung hoàn toàn khác với nội dung Thời đại mà các Đảng Cộng sản thế giới trước đây ấn định.

Tình hình xã hội trong giai đoạn chuyển đổi tất nhiên rất phức tạp. Muốn có lối ra tốt đẹp nhất cho Dân tộc thì phải bắt đầu bằng cái nhìn Văn hóa và phải giải quyết một cách Văn hóa. Nếu tiếp tục duy trì trạng thái Văn hóa cũ đã kém sức sống thì tình trạng tranh tối tranh sáng sẽ là cơ hội để những thứ Văn hóa không lành mạnh xâm nhập và chiếm lĩnh. Trong điều kiện ấy xã hội sẽ có sự ổn định bề ngoài nhưng thoái hóa bên trong, xã hội có thể đạt những tiến bộ nhất định về Kinh tế nhưng sẽ thoái hóa về Văn hóa nói chung. Văn hóa thấp kém sẽ phá hoại tất cả!.

H.S.P (1995)

----------------------------------------- 
(*) Đây là một phần trong bài Chia tay Ý thức hệ, với đôi chút chỉnh lý. 
ĐÔI LỜI VIẾT THÊM NĂM 2013
Thực tiễn 18 năm qua chỉ cung cấp thêm những ví dụ ngày càng phong phú minh chứng cho bài viết này. Dân chết trong tay công an, sự đàn áp kèm thêm màu sắc “còn Đảng còn mình”, màu sắc côn đồ và thú tính tình dục… là những biểu hiện sa đọa mới của một hệ thống quyền lực văn hóa thấp, thiếu tự tin, thiếu quân tử, thiếu chính danh và liêm sỉ.
Sự đàn áp, vi phạm nhân quyền luôn song hành với sa đọa văn hóa như một cặp bài trùng, đương nhiên làm gia tăng sự đấu tranh của dân chúng, lập thành ba mặt tương sinh của thực tiễn xã hội, như được đặt ra ngay từ đầu bài viết. 
Thực tiễn ấy củng cố thêm cho nhận thức sau đây:
- Gia tăng đàn áp, vi phạm nhân quyền không phải là phương thuốc giữ ổn định xã hội, mà ngược lại, có nâng cao văn hóa cai trị và thực sự tôn trọng nhân quyền mới có một xã hội ổn định bền vững.
- Trên cái nền thấp về văn hóa không thể có giá trị cao về nhân quyền. Trào lưu Cộng sản mới chỉ thỏa mãn những nhu cầu ở tầm thấp về văn hóa không thể làm nền cho sự phát triển cao về nhân quyền. Bởi đặt “đảng quyền” trùm lên trên nhân quyền và dân quyền nên hệ thống Cộng sản quốc tế tất yếu phải sụp đổ. Dẫu cố gắng cải tổ bao nhiêu ở trên ngọn cũng không thể bù đắp cho những khuyết tật từ trong gốc rễ.
Một nước chưa ra khỏi quỹ đạo Cộng sản (tức chế độ Phong kiến mới, Phong kiến biến tướng) không thể có vị trí cao trong nền Nhân quyền của thế giới văn minh. Còn nhớ trong chế độ Phong kiến cũ ngày trước cũng đã có những chức “lý trưởng mua”, “chánh tổng mua”… nhưng đó chỉ là những tước vị để trang trí cho những anh trọc phú mua danh mà thôi. Song, mua danh cũng tốt, vì đã có chút danh cũng không thể dễ dàng làm những điều ô danh như trước.

H. S. P.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Lê Mạnh Hùng - Hai cách nhìn của Châu Âu về chương trình do thám của Mỹ


Lê Mạnh Hùng - 

Bà Vera Lengsfeld đầu tiên nhận thức được rằng nhà nước Ðông Ðức đang theo dõi bà là khi đột nhiên thấy xe hơi xuất hiện đằng trước nhà mình. Năm đó là năm 1982 và xe hơi còn hiếm đủ ở thủ đô Ðông Berlin để người ta phải để ý, nhất là khi chúng xuất hiện thành từ nhóm ba chiếc một.


Chẳng bao lâu thì lại thấy có những chàng thanh niên đứng lảng vảng tại cầu thang dẫn đến căn apartment của bà. Ðiện thoại bà bị nghe lén. Thành ra khi hai vợ chồng bà Lengsfeld muốn nói chuyện gì riêng tư thì họ dẫn nhau đi ra ngoài đường nói chuyện. Chỉ có điều là, sau khi bức tường Berlin sụp đổ và các hồ sơ của cơ quan mật vụ Ðông Ðức Stasi được bạch hóa, bà mới biết rằng chính chồng bà là một trong 49 tên điểm chỉ báo cáo với cơ quan Stasi về bà. Thành ra khi nói đến việc bảo vệ đời tư cá nhân, bà Lengsfeld, một nhà văn và một thành viên của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Thủ Tướng Angela Merkel có một lập trường rất rõ ràng, “Tôi có những quan ngại rất lớn về những cơ quan mật vụ dù loại gì chăng nữa, kể cả những cơ quan của một nước dân chủ.”

Tại một quốc gia mà đã nảy sinh ra những cơ quan khủng khiếp như Gestapo và Stasi, những danh từ mà nay đã trở thành biểu tượng cho sự tàn bạo của công an nhà nước đối với dân chúng, chương trình do thám điện tử của cơ quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (National Security Agency - NSA) đã tạo ra những phản ứng gay gắt. Và điều đó gợi cho ta một câu hỏi, phải chăng đây là một phản ứng đặc biệt của người Ðức hay là nó báo hiệu một sự chuyển biến tại Châu Âu về thái độ đối với Mỹ?

Tuần qua, tuần báo Ðức Der Spiegel đăng một loạt bài đòi cho Edward Snowden, tên làm hợp đồng cho NSA vốn đào thoát và tiết lộ tất cả các chương trình do thám của cơ quan này, được tỵ nạn chính trị tại Ðức. Lời kêu gọi này của báo Der Spiegel đã được 51 nhà chính trị, lãnh đạo nghiệp đoàn và chủ doanh nghiệp ủng hộ. Và hiện nay chính phủ của bà Angela Merkel đang nghiên cứu làm sao để cho Snowden có thể ra điều trần trước một ủy ban Quốc Hội Ðức đang điều tra về vụ Mỹ nghe lén điện thoại cầm tay của bà thủ tướng cũng như thực hiện các hoạt động gián điệp tại ngay khuôn viên tòa Ðại Sứ Mỹ tại Berlin.

Nhưng nếu Ðức với một quá khứ lịch sử đặc biệt nằm tại một đầu của quang phổ chính trị phản ứng với việc các hoạt động do thám điện tử của Mỹ tại Châu Âu thì Anh với một quá trình quan hệ đặc biệt với Mỹ lại nằm ở đầu kia của quang phổ.

Thủ Tướng David Cameron của Anh đã bác bỏ những tố cáo của những người chỉ trích là “dớ dẩn.” Nhật báo The Guardian, tờ báo đầu tiên phổ biến các tài liệu của ông Snowden, đã bị một phụ tá của ông Cameron đến “thăm hỏi” và đòi nhật báo phải phá hủy trước mặt ông một máy điện toán có chứa những tài liệu mật bị tiết lộ. Khi người cầm đầu cơ quan MI 5, cơ quan an ninh nội địa của Anh tố cáo rằng những người phổ biến các tài liệu đó là đã “cho đám khủng bố một món quà,” một số báo chí đã đăng những bài xã luận hưởng ứng.

Với tư cách là đồng minh chính của Mỹ tại Iraq và Afghanistan, người Anh cảm thấy họ bị đe dọa bởi khủng bố hơn là hầu hết những người Âu khác. Vụ tấn công vào hệ thống xe điện ngầm của Luân Ðôn ngày 7 tháng 7 năm 2005 đã ảnh hưởng mạnh đến quan điểm của người ta về một sự cân đối giữa an ninh tập thể và tự do cá nhân.

Người dân Anh cũng chưa bao giờ phải sống dưới một xã hội toàn trị do công an chi phối. Trái lại các cơ quan tình báo của Anh từ lâu vẫn được sùng kính về những đóng góp của họ trong việc bảo vệ an toàn và độc lập cho tổ quốc. Họ phá vỡ được mật mã Enigma của Ðức Quốc Xã, mở đường cho chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai. Ðiều này đã giúp các cơ quan này một vị trí đặc biệt trong lòng một xã hội mà niềm tự hào sau khi giải thể đế quốc chỉ còn là việc chiến thắng trong cuộc chiến chống lại Hitler. Sử gia Timothy Garton Ash của trường Ðại Học Oxford nhận xét, “Người Anh kính trọng các cơ quan mật vụ của họ ở một mức mà nhiều nước không có.”

Ông Ash hiểu rất rõ những khác biệt giữa Anh và Ðức. Sau khi sống tại Ðông Berlin trong những năm 1980, ông cuối cùng cũng được biết rằng cơ quan Stasi có một hồ sơ về ông. Trong cuốn sách “The File,” một cuốn mà ông kể lại kinh nghiệm này, ông nói sau khi chế độ Ðông Ðức sụp đổ, ông tìm đến viên chức cao cấp nhất lo về hồ sơ theo dõi ông, tướng công an Gunther Kratsch và hỏi tại sao một thanh niên mới ra trường như ông lại đáng có được một hồ sơ theo dõi dầy đến 325 trang. Tướng Kratsch trả lời rằng ngay từ những ngày đầu học tại trường gián điệp ông đã được dạy về cơ quan tình báo đầy huyền thoại của Anh. Thành ra “mỗi khi mà có một người Anh nào chỉ hơi có vẻ khả nghi mà thôi” xuất hiện là họ phải điều tra ngay.

Sự kính trọng này nay có thể đã bị xói mòn khi cơ quan GCHQ , cơ quan phụ trách tình báo điện tử của Anh bị tố cáo là hợp tác với NSA, ít nhất là ở nước ngoài. Ðại sứ Anh tại Ðức đã bị Bộ Ngoại Giao Ðức gọi đến chất vấn về các hoạt động tình báo của Anh tại Ðức, một biểu tượng của sự phân hóa trong vấn đề này giữa các nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu.

Người ta hiện còn chưa biết liệu phần còn lại của Châu Âu có nghiêng về phía Ðức, nước có nền kinh tế số một trong vùng, hay là nghiêng về phía Anh, nhịp cầu nối liền Châu Âu với Mỹ và liệu sự hợp tác xuyên Ðại Tây Dương, nền tảng của sự ổn định từ nhiều thập niên nay của thế giới, có bị xói mòn một cách vĩnh viễn hay không.


Ghé thăm các Blogs: 22/11/2013


BLOG ĐÀO TUẤN

 Nguyên Bộ trưởng Trần Văn Tuấn có lần bảo “Không biết tinh giảm ai thì có khi người ta giảm anh trước”. Sau phiên chất vấn, cử tri chỉ ước lời ông Tuấn đáng lẽ không phải là một câu nói đùa

Một câu chuyện hài vừa diễn ra trước Quốc hội. Ấy là sau 3 năm thực hiện “tinh giảm biên chế”, chúng ta có được một kết quả: Giảm 28 ngàn. Tăng 69 ngàn. Tức là kết quả của “phép trừ tinh giảm” là một con số gấp 148% số trừ.

Chưa hết, sau khi sắp sếp bộ máy, “Phép trừ tinh giảm” cho ra kết quả: Giảm được 4 bộ, trong khi số Tổng cục từ con số 82 tăng lên thành 110.

Nhớ nửa năm trước, trong một hội nghị về tinh giảm biên chế của chính ngành Nội vụ, người tiền nhiệm của Bộ trưởng Bình là ông Trần Văn Tuấn đã “triết tự” như sau: “Phát biểu bên ngoài thì người ta dùng “giảm biên chế”, nhưng tại các diễn đàn thì nói “tinh giản biên chế”, nghĩa là có giảm có tăng, người nào không đáp ứng yêu cầu thì giảm, nhưng khi cần tăng vẫn phải tăng”.

“Trước ta cứ nói giảm 30%, nhưng chuẩn giảm không có, chỉ là sốt ruột, thấy đông thì bảo giảm. Nhưng tại sao đông thì cũng không ai lý giải”- ông Tuấn nói thêm.

Ra là chuyện tìm người kém để giảm, nhưng khó tìm quá. Bởi chính Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình có lần khẳng định như đinh đóng cột “tỷ lệ cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ trên dưới 1%”.

Mở ngoặc nói thêm, trước câu hỏi về con số 30% công chức cắp ô, Bộ trưởng giải thích: “Đây không phải ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Hôm qua, trước khi đi nước ngoài công tác Phó Thủ tướng cũng nói lại với chúng tôi là có ý kiến cho là như vậy. Tôi cho rằng đây là phản ảnh, kiến nghị, mong muốn cần đổi mới công vụ, công chức nhiều hơn”.

Như thế là chỉ 1% không hoàn thành nhiệm vụ, vậy thì bói đâu ra 29% nữa mà đặt chỉ tiêu giảm 30%.

Và kết quả tinh giảm được Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình giải thích là “Tăng do nhu cầu phát triển ngành, lĩnh vực cần tập trung chuyên sâu để đảm bảo nhiệm vụ, đảm bảo cơ cấu”.

Nhưng như thế phải là “tinh tăng” chứ đẩu phải “tinh giảm”!

“Phép trừ tinh giảm” của chúng ta đang diễn ra trong hoàn cảnh dường như ai, bộ ngành, địa phương nào cũng nghĩ đó là “chuyện của hàng xóm”. Chính cựu Bộ trưởng Trần Văn Tuấn đã nói tới “cái đà” là “các tỉnh đều “phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc trung ương”, nghĩa là tách phần nông thôn thành một tỉnh khác, là lại tăng tiền và bộ máy, trong khi kinh tế chưa chắc đã lên”. Còn các cơ quan đơn vị thì luôn nhiều cái lý. Cái lý nào cũng thấy hợp lý.

Thật trùng hợp, phiên chất vấn về đội ngũ cán bộ có quá nhiều khoảng lặng giữa các nhịp trả lời của Bộ trưởng. Rất nhiều điệu cười của ĐBQH. Chủ tịch QH liên tục nhắc Bộ trưởng trả lời thẳng vào câu hỏi. Cử tri đếm hết một bàn tay chưa hết những “Sẽ nghiên cứu”, “Sẽ có hướng dẫn”, “Sẽ ban hành”, “Trong thời gian tới”. Còn Bộ trưởng ê a thủng thẳng trả lời theo kiểu “nói có đầu có đuôi một chút”. (Đến nỗi ĐBQH Danh Út sốt ruột bảo rằng “Nghiên cứu 2 năm là đủ rồi”).

Nguyên Bộ trưởng Trần Văn Tuấn có lần bảo “Cứ bảo xác định vị trí việc làm là khó, nhưng một thủ trưởng không biết cơ quan mình cần bao nhiêu người thì làm thủ trưởng làm gì”. Và ông nói đùa “Không biết tinh giảm ai thì có khi người ta giảm anh trước”.

Phiên chất vấn đã không vô ích. Đồng bào cử tri nhân đó, cũng nhận ra nhiều điều. Rằng muốn tinh giảm thực sự là một phép trừ toán học, có thể, cần phải tinh giảm ngay hai chữ tinh giảm. Và rằng lời ông Tuấn đáng lẽ không phải là một câu nói đùa.

BLOG HÀ HIỀN

Hà Hiển

 Theo tin trên các báo hôm nay, sinh viên 24 tuổi Tạ Quang Nghĩa, thuộc Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội vừa bị TAND Hà Nội phạt 20 năm tù về tội giết người.

Nhưng theo thông tin chi tiết hơn thì nạn nhân của vụ “giết người” chỉ bị thương tổn 15% sức khỏe. Với hậu quả này, thì việc tuyên một án tù lâu năm như vậy đối với một thanh niên 24 tuổi quả là quá nặng!

Cũng theo thông tin báo chí thì sở dĩ bị cáo Nghĩa bị phạt nặng như vậy vì nạn nhân là thầy giáo của Nghĩa. Và điều này được tòa án coi là tình tiết tăng nặng.

Mình cho rằng tình tiết tăng nặng này không thuyết phục.

Vì nạn nhân là thầy giáo của Nghĩa nên ngoài việc phải thi hành một bản án công bằng của pháp luật, bị cáo sẽ chịu sự lên án của dư luận về hành vi phi đạo đức ấy của mình. Người viết bài này cũng cho rằng hành vi phi đạo đức của Nghĩa cần phải được dư luận lên án mạnh mẽ.

Nhưng dù dư luận có lên án mạnh mẽ thế nào thì việc xét xử của tòa án  không thể bị chi phối bởi các vấn đề về đạo đức nếu chúng không được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật. Các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ không thể tùy thuộc vào các phán xét về đạo đức của ông quan tòa hay dư luận của người này người khác mà phải được quy định một cách rõ ràng trong các bộ luật. Trong trường hợp này, theo thiển ý của người viết bài này, nếu nạn nhân là trẻ em thì đó có thể là tình tiết tăng nặng nếu căn cứ thêm vào các quy định luật pháp về bảo vệ trẻ em.

Còn việc nạn nhân là thầy giáo thì chưa thể được coi là tình tiết để tăng nặng hình phạt vì pháp luật chưa quy định. Mặc dù rất kính trọng các thầy cô giáo và ngay trong gia đình mình, bố mẹ và nhiều người thân khác cũng là các thầy cô giáo, và ngày mai là ngày của các nhà giáo VN, mình cũng vẫn xin được nói thẳng như vậy.

Thế thì có tình tiết nào giảm nhẹ không?

Theo thông tin trên báo chí thì nạn nhân là ông thầy dạy môn Kinh tế chính trị và đã “công bố trước lớp của Nghĩa về việc sẽ chấm điểm “chặt”, sinh viên nghỉ học không lý do sẽ không được thi hết môn. Với 3 buổi nghỉ học, Nghĩa hiểu sẽ không được dự thi hết môn nên tức tối và nảy sinh ý định trả thù…”

Nếu ai đã từng học đại học thì sẽ thấy cái môn “Kinh tế chính trị” là một trong những môn học tẻ nhạt nhất. Hơn nữa, những môn này hầu như không có một chút áp dụng thực tiễn nào trong quá trình học cũng như khi đã tốt nghiệp rồi đi làm.

Thế nhưng nhiều môn học vô bổ như vậy lại là những môn học bắt buộc phải thi đạt yêu cầu thì mới lấy được bằng đại học ở tất cả các trường đại học ở nước ta, bất kể thuộc chuyên ngành nào. (*)

Mình cũng biết có những ông thầy dạy những môn này, do cũng thấu hiểu cái tình cảnh ấy nên cũng tìm cách này hay cách khác để thả lỏng cho sinh viên “qua” hết các môn ấy. Riêng chuyện này thì mình đánh giá rất cao những ông thầy ấy về sự thức thời của họ. Sinh viên cũng rất quý trọng các ông thầy này theo tinh thần “vẫn tôn sư dù không trọng đạo”.

Nhưng cũng có những ông thầy biết mấy cái môn mình dạy ấy chẳng được sinh viên coi trọng lắm thì lại càng “chặt chém” sinh viên “tàn bạo” hơn, siết chặt hơn việc thi cử để sinh viên phải thấy được “tầm quan trọng” của những môn học ấy.

Mình nghĩ nếu có tình tiết nào có thể giảm nhẹ tội cho bị cáo trong vụ án này thì đó chính là tình tiết trên, mặc dù vẫn biết rằng chẳng có ông quan tòa nào dám lấy đó làm tình tiết giảm nhẹ.

Nhưng nếu mình là ông thầy ấy – là nạn nhân chỉ bị thương tổn 15% sức khỏe trong vụ án này thì mình sẽ làm đơn xin giảm nhẹ tội cho Nghĩa!

Bởi nếu chỉ vì cái địa vị là “thầy” của mình – cái địa vị trở thành “tình tiết tăng nặng” của vụ án – mà làm cho học trò của mình phải chịu một mức án tù nặng tới 20 năm như trong hoàn cảnh  này thì  đó cũng chẳng khác gì một hòn đá sẽ đè nặng lên trái tim mình trong từng ấy năm!


BLOG HÀ HIỂN

21/11/2013  
Hà Hiển

 Cử tri: Bệnh viện thì quá tải, y đức xuống cấp trầm trọng, trẻ em vừa tiêm văc xin xong thì chết, các phòng mạch tư không ai quản lý, bác sĩ thì vứt xác bệnh nhân xuống sông, bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế nhưng không có phong bì thì bị phân biệt đối xử….

Bộ Y:  Thôi, xin các vị, biết rồi khổ lắm nói mãi, ngành nào cũng xuống cấp cả, xin quý vị bao dung cho ngành y chúng tôi!

Cử tri: Chặt phá rừng bừa bãi, xây thủy điện tràn lan rồi xả lũ vào dân, các ông tính sao đây?

Bộ Công: Thì biết tính sao bây giờ. Tất cả là tại chúng ta. Xin cử tri bao dung cho chúng ta, trong đó có chính quý vị!

Cử tri:  Công sai thì tra tấn bức cung, án oan sai nhiều quá!

Bộ Hình: Điều tra viên nước Vệ được khen là giỏi nhất thế giới đấy!  Tại sao các vị không thông cảm và bao dung?

Cử tri: Chương trình giáo dục thì lạc hậu so với thế giới, thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò, rồi nạn “học giả bằng thật”…

Bộ Học: Chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục. Xin quý vị hai chữ bao dung.

Cử tri: Mỗi năm hàng chục ngàn người chết vì tai nạn giao thông, đường sá xệp xệ, vừa làm xong đã hỏng, phương tiện cứ gặp nhau lại mất lái hoặc mất phanh rồi đâm sầm vào nhau,  rồi mấy ông lãnh đạo đăng kiểm thì bị tố ăn hối lộ, thực hư thế nào?

Bộ Thông: Chúng tôi đang phối hợp với các bộ các ngành để giải quyết. Còn nếu chưa giải quyết được thì mong quý vị thông cảm, xin bao dung cho ngành giao thông rồi tăng cường cầu siêu cho các nạn nhân.

Cử tri: Tình trạng chạy chức chạy quyền không thuyên giảm. Cán bộ nhà nước thì vô cảm hoặc xách nhiễu dân, một số lớn công chức không chịu làm việc, sáng cắp ô đi tối cắp ô về …

Bộ Nội: Khổ lắm! Những vấn đề này rất nhạy cảm! Xin quý vị đưa ra bằng chứng chúng tôi sẽ xử lý ngay! Còn nếu không thì lại xin các vị hai chữ bao dung.

Cử tri:  Pháp luật về đất đai thì lạc hậu, cán bộ thì tham nhũng tiếp tay cho tư thương cướp đất của dân, tập đoàn kinh tế nhà nước thì gây thất thoát tiền của nhân dân…

Chủ xị (cắt ngang) : Thôi thôi. Không cần phải phát biểu gì thêm nữa. Biết rồi khổ lắm nói mãi! Tóm lại vấn đề chỉ là thế này thôi: ngành nào cũng cần phải được bao dung! Nhân dân chúng ta thì rất bao dung, cần phải phát huy hơn nữa tinh thần bao dung này, đưa nó lên một tầm cao mới. Đấy là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề.

Cử tri: Vâng, thần dân chúng con sẽ cố gắng bao dung hết sức. Nhưng chúng con phải tiếp tục bao dung như thế này đến bao giờ ạ?

Thái Thượng hoàng: Thì ta đã nói rồi đấy thôi! Không biết đến hết thế kỷ này chúng ta có hoàn thiện hay không. Đề nghị các ngươi tiếp tục thấm nhuần và kiên định tinh thần bao dung và giáo dục các thế hệ con cháu các ngươi trường kỳ bao dung cho, phải chăng cũng phải vài trăm năm nữa?

Blog Quê Choa
Ngụy biện ác tàn

Hà Văn Thịnh

40 người chết và mất tích, 243.000 nhà dân bị lũ cuốn trôi hoặc bị hư hỏng, 3.000 ha lúa và hoa màu bị phá hủy (NLĐ, 18.11.2013)…, chỉ mới là những con số thiệt hại sơ bộ do cơn lũ (thiên tai thì ít) và do con người (nhân tai thì nhiều) xả nước vô cảm, vô nhân… Vậy mà, các quan chức cứ đổ lỗi vòng quanh, tìm mọi cách để lấp liếm sự thật. Chưa hề thấy một chút xót xa, đồng cảm với nỗi đau của người dân một chút gọi là. Chưa bao giờ và chưa thấy ở đâu có những quan chức “vì dân” tệ hại và ác tàn như thế!

Ngụy biện 1

Họ cho rằng lập ra hàng trăm đập thủy điện là có quyết sách từ cấp cao nhất nên bên dưới (các bộ, ngành, địa phương) không hề sai. Nếu thế, người dân biết trông chờ vào ai, vào đâu khi phải chết oan chết uổng, khi phải màn trời chiếu đất, khi phải mất trắng cả đàn gia súc, gia cầm, ruộng lúa, đồng khoai? Việc phải dừng hàng trăm dự án thủy điện chỉ nói lên cái đúng một phần của sức ép dư luận nhưng cái cơ bản nhất chính là: Nó làm tòe loe những bộ mặt, “kế hoạch”, “tầm nhìn” vừa dốt, vừa tham của đủ loại quan chức đang cầm cân nẩy mực làm cho xã hội, tương lai của đất nước, giống nòi điêu tàn, đau đớn.

Ngụy biện 2

Cái gọi là “điều tiết” trong những trận lũ hồi tháng 9 và mới đây được các cơ quan “chức năng” lý giải là do thiên nhiên, “nếu không xả thì thiệt hại sẽ nặng hơn”… chỉ là sự ngụy biện trơ tráo. Thử hỏi, khi thi công bất kỳ công trình liên quan đến tác động của tự nhiên nào (kể cả nhà ở) có tính đủ, tính đúng đến sức nước, sức gió, động đất hay không? Tính sai, tính qua loa, tính kém, tính tiền là tính chính nên mới gây ra các tai họa liên tiếp như thế. Mặt khác, trong điều kiện người dân thiếu thông tin (mất điện, không biết mở đài, mở TV giờ nào; trong khi lại xả lũ giữa đêm, ngay cả khi không mưa…). Tại sao không thể điều 5-10 chiếc trực thăng phát loa đến tận xóm làng? Không có bão nên không thể đổ thừa cho bão là không bay được; còn, tốn kém vài tỷ đồng tiền xăng dầu, chi phí cho mấy chuyến bay chẳng lẽ là việc không thể làm được sao?

Ngụy biện 3

50.000 ha hay hàng trăm ngàn ha rừng bị tàn phá chủ yếu là do “mượn” thủy điện để ăn cướp tài nguyên rừng vô tội vạ. Có mùa lũ nào mà dân bị lũ không vớt được hàng ngàn m3 gỗ trôi từ phía các đập thủy điện trôi về? Chuyện đâu phải chỉ năm nay mà nhiều năm trước đã có rồi. Đã có ai, cơ quan nào chịu trách nhiệm hay chưa? Chẳng lẽ gỗ nó tự đứt, tự trôi?

Ngụy biện 4

Thủy điện được coi là nguồn điện năng rẻ nhất nhưng đầu tư càng nhiều thì giá điện lại càng… tăng? Nếu tính chi li từ các khoản tăng giá điện và các khoản nợ (mỗi người dân phải gánh vài triệu đồng cho các dự án) thì ngành điện đang ăn nên làm ra từ nỗi đau của hàng triệu con người. Thử thống kê xem có nước nào trên thế giới có chuyện cười ra nước mắt vậy không?

Ngụy biện 5

Nếu tính đủ các thông số bão, lũ từ hàng trăm năm qua sẽ không có chuyện các đập thủy điện không chịu được sức ép của lũ. Đập xây cao, xây chắc thì tốn kém về đầu tư, chậm thu hồi vốn. Vả lại, mục đích phá rừng, ăn bớt vật liệu là chính nên chỉ cần mưa nhiều hơn một chút là đua nhau xả lũ ầm ầm. Không có một cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm nên bây giờ mới mất bò, lo chuồng, thành lập vội vàng Ban điều hành… Hãy xem thông báo sau đây của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương thì biết rõ ngay rằng chẳng có biến động thời tiết nào phức tạp cả, vậy mà dân vẫn chết oan thì mới thấy đau và nhục đến mức nào! 

NHẬN ĐỊNH XU THẾ THỜI TIẾT THÁNG 11 NĂM 2013 CÁC KHU VỰC TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC: Lượng mưa tại các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ với TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa dao động trong khoảng từ -20% đến 20% so với TBNN cùng thời kỳ. Các tỉnh Nam Trung Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa thấp hơn từ 20% đến 40% so với TBNN.

Những người phụ trách các đập thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi cuộc sống, sinh mạng của người dân như cỏ rác phải bồi thường và phải bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc. Những cơ quan lập ra dự án, tạo ra vô số tai ương cho đất nước cũng phải chịu trách nhiệm tương tự. Không thể có một đất nước mà mọi sai lầm đều đổ hết lên đầu dân còn quan chức cứ cò cưa ngụy biện vòng quanh, ngang nhiên ve vẩy những nụ cười thỏa mãn vô lương. Việc UBNN Phường Thủy Châu, TX Thủy Xuân, TTH ăn chơi, nhảy múa chỉ là “một con sâu” bị báo chí bắt gặp trong khi hàng đàn sâu khác đang tung tăng bơi cùng dòng nước lũ! Chợt nhớ đến sự thật xót xa hồi nào nay vẫn còn nóng hổi: Năm nay có lẽ cán bộ ăn tết to hơn vì có bão lụt!...

Huế, 7h00, 19.11.2013.

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả