Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Hà Sĩ Phu - VĂN HÓA và NHÂN QUYỀN trong trào lưu Cộng sản (Tầm Văn hóa thấp của trào lưu Cộng sản ) (*)



Hà Sĩ Phu - 

1- Quan hệ giữa Tranh đấu, Nhân quyền và Văn hóa

Mọi hoạt động Tranh đấu của con người từ cổ chí kim, không có gì ra ngoài ý nghĩa của chữ QUYỀN CON NGƯỜI. “Quyền Con người” ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu không nước nào có thể lẩn tránh, điều ấy đánh dấu một bước bước trưởng thành khổng lồ của văn minh nhân loại. Ở đâu có áp bức bất công, ở đâu con người bị đối xử phi lý đều có thể tìm nơi “Quyền Con người” một điểm tựa để tranh đấu, ít nhất cũng là điểm tựa tinh thần. Mặt khác, từ ánh sáng chung nhất về “Quyền Con người”, con người có thể nhìn lại những trào lưu Tranh đấu của mình một cách có cơ sở khách quan, khoa học và sáng suốt hơn.


Đã có nhiều cách tiếp cận để phân loại Quyền Con người, nhưng cách tiếp cận sáng tỏ nhất cho nhận thức là tiếp cận từ quan điểm Tiến hóa. Khi từ bầy đàn chuyển thành xã hội, Con người cũng chuyển từ cuộc sống Sinh vật sang cuộc sống Con người, rồi từ chưa văn minh đến văn minh hơn... Càng văn minh, nội dung tính “Người” càng mở rộng, thì “Quyền Con người” cũng do đó được nâng cao dần. Càng cao bao nhiêu thì càng có tính VĂN HÓA bấy nhiêu.

Với cách tiếp cận Tiến hóa, cũng là cách tiếp cận mang tính Văn hóa, nội dung Nhân quyền có thể và cần phải xếp thành ba bậc:
a) Quyền làm Người trước hết là QUYỀN ĐƯỢC SỐNG, hay quyền sinh tồn một cách tối thiểu như một sinh vật, tức quyền được sống và tự do về thân thể. Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 1”.
b) Tiếp sau đó là QUYỀN ĐƯỢC “ẤM NO”, nói rộng ra là quyền được chia sẻ những tiện nghi vật chất với những người trong cộng đồng trong đó con người sinh sống và làm việc. Quyền này tuy mang tính vật chất, nhưng cũng là sản phẩm đặc hiệu của xã hội loài người.
Quyền này tuy đã có tính VĂN HÓA, nhưng còn thấp (Văn hóa theo nghĩa rộng, là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy, trong sự tương tác với tự nhiên và xã hội.). Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 2”, phần nào tương đương với “quyền Kinh tế”.
c) Cao nhất là những quyền của “Con người văn minh”, là những quyền mang giá trị “tinh thần”, gồm các sinh hoạt tư tưởng, khoa học, văn hóa, nghệ thuật... liên quan đến các nhu cầu hưởng thụ cao, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị tinh thần,và nhu cầu làm chủ xã hội. Tạm gọi là “NHÂN QUYỀN BẬC 3” (hay QUYỀN TỰ DO-DÂN CHỦ). Đây là những quyền có tính VĂN HÓA cao.
(Tất cả những khái niệm vẫn được dùng trong Quyền Con người như quyền kinh tế-xã hội, quyền chính trị, quyền dân sự, quyền văn hóa..., rồi quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, vân vân, đều mang những nội dung không thể tách biệt rành mạch, chỉ nên hiểu một cách linh động, qui ước thôi).

2- Vị trí của phong trào CỘNG SẢN trong tiến trình phát triển VĂN HÓA và QUYỀN CON NGƯỜI

Ba bậc thang nói trên của Quyền Con người không hoàn toàn tách rời nhau, song về cơ bản nếu chưa có nhân quyền bậc thấp thì chưa thể có nhân quyền bậc cao hơn, ví dụ chưa được sống và được ăn thì chưa thể nói đến quyền tự do ứng cử!

Chưa có bậc thang nào thì phải đấu tranh cho bậc thang đó. Loài người phát triển không đều, nên cả ba cấp Văn hóa, ba cấp Nhân quyền, và do đó ba cấp Tranh đấu luôn cùng có mặt trên thế giới. Trong khi người này, ở đây, đang đòi quyền tự do tư tưởng, tự do ứng cử (nhân quyền bậc 3) thì người kia, ở kia còn phải đòi quyền được làm việc và trả lương công bằng (nhân quyền bậc 2), và có khi ở ngay nơi đó, có người chỉ mong đòi cho được quyền tự do thân thể, an toàn sinh mạng (nhân quyền bậc 1).

Trong bài “Đôi điều suy nghĩ của một công dân” trước đây, tôi đã đưa ra khái niệm “Quan hệ dọc” và “Quan hệ ngang” trong sự tiến hóa xã hội. Một “Hình thái Kinh tế-Xã hội” tốt hay xấu cho thấy mối quan hệ dọc của xã hội ấy trong dòng thời gian, là tiến hóa hay thoái hóa. Nhưng không phải mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng (hay bị chịu đựng) mức độ cao hay thấp của xã hội ấy. Có sự không đồng đều hay sự lệch pha văn minh giữa các quốc gia đương thời, thậm chí giữa các nhóm người trong cùng một xã hội, gây nên áp bức bất công, đó là mối quan hệ ngang trong không gian địa cầu giữa những người đang sống. Quan hệ dọc và ngang độc lập với nhau nhưng tác động tương hỗ với nhau.

Thế kỷ 18-19, con tàu Văn minh Công nghiệp bắt đầu tăng tốc, gây sốc mạnh trên khắp thế giới, khiến cho khoảng cách Nhân quyền tách ra rất xa. Trong “quan hệ dọc”, đây là sự tiến bộ rất lớn của xã hội, nhưng trong “quan hệ ngang” nó tạo ra sự mất công bằng ghê gớm. Một loạt ông chủ thành tỷ phú trong khi vô số người khác bị bần cùng hóa. Hình thành một “giai cấp Vô sản” đông đảo, chẳng những bị bần cùng hóa mà bị đe dọa cả sự sống còn. Được trang bị bằng lý luận Mác xít, họ cùng với những người lao khổ khác trở thành lực lượng trung tâm của phong trào Cộng sản.

Từ một mức sống thấp như vậy, cả về vật chất cũng như tinh thần, họ đứng lên đòi Quyền Con người, thực chất là đòi Quyền sinh tồn tối thiểu và Quyền được “ấm no”, tức là tranh đấu cho bậc thang thứ nhất và thứ hai của thang Nhân quyền, ứng với tầm Văn hóa thấp, như trên đã trình bày.

(Có thể họ có ước mơ xây dựng một cuộc sống Cộng sản rất cao sau này, nhưng đấy lại là chuyện khác, chuyện ấy không thuộc phạm vi “tranh đấu” và “đòi”. Ai ước mơ gì cứ việc ước mơ, nhưng không ai có thể đòi xã hội cái sản phẩm mà chưa ở đâu có, lại càng không có quyền bắt người khác phải ước mơ như mình.)

Nội dung phong trào Cộng sản gồm hai mặt:
* Nhu cầu có tính chất khách quan đối với trào lưu “Cộng sản” là một cuộc đòi “Quyền Con người tối thiểu” cho những người cùng khổ, tức là để giải quyết mối “quan hệ ngang” về sự công bằng, trong đó có sự công bằng giữa các dân tộc. Ở thời điểm lịch sử này phong trào Cộng sản đã có những đóng góp xuất sắc.
* Còn việc muốn tạo ra một xã hội mới khác hẳn, văn minh hơn, giải quyết sự nghiệp tiến hóa trong “quan hệ dọc”, thì đây là một hoang tưởng, phi khoa học. Hoang tưởng này tuy có cung cấp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh trên kia, nhưng không được “lịch sử giao phó” nên lịch sử cũng không cung cấp những tiền đề, do đó chẳng những không thành sự nghiệp gì mà trái lại còn gây ra những điều kỳ quái, mà bây giờ “lịch sử” đang đòi hỏi, đang “giao nhiệm vụ” phải sửa chữa, xếp dọn lại tất cả những ngổn ngang bê bối do ảo tưởng Cộng sản gây ra.

Tóm lại Cộng sản là một trào lưu đấu tranh cho Nhân quyền tối thiểu, lật đổ vì nhu cầu sinh tồn, nhưng còn ở tầm Văn hóa thấp, có lý và chỉ có ích cho những xứ sở còn chậm phát triển. Giai đoạn”phá” thành công nhưng giai đoạn “xây” thất bại nên kết quả cuối cùng là tác hại, gây khó cho con đường phát triển. 

Muốn hiểu điều này, cần phân biệt giữa tính chính đáng hay tính bức thiết của một phong trào tranh đấu với tầm văn hóa của phong trào ấy. Thật dễ hiểu, cuộc tranh đấu cho những nhu cầu càng ở tầm sinh tồn sinh vật bao nhiêu thì càng bức thiết, càng chính đáng bấy nhiêu, bởi không có nó thì xin đừng đòi hỏi nhu cầu Văn hóa gì hết. Tuy nhiên, tính “chính nghĩa” không đồng nghĩa với tầm cao Văn hóa. Nổi dậy chống bất công là chính đáng, nhưng sau đó xây dựng thế nào là điều quan trọng hơn.

Điều thứ hai cần đề cập là quan hệ giữa Chiến thắng và Văn hóa. Về toàn cục thì kẻ chiến thắng sau cùng là Văn hóa, nhưng trong một trận cọ xát trưc tiếp thì thường xảy ra điều ngược lại: càng có tầm văn hóa thấp càng dễ chiến thắng, cái bạo tàn dễ thắng cái văn minh. Quy luật này thấy rõ ngay trong đời sống hàng ngày. Cũng dễ hiểu vì ở tầm văn hóa cao người ta bị hạn chế bởi rất nhiều điều không thể làm nên tự mình trói tay mình, còn kẻ văn hóa thấp thì có thể giành chiến thắng bằng mọi giá, có thể “phóng tay phát động quần chúng”… Chủ nghĩa Cộng sản sẵn sàng hy sinh cả 100 triệu người thì chiến thắng nhất thời là dễ hiểu.

Tính Văn hóa thấp của “Quốc tế” Cộng sản được in dấu ở tất cả mọi mặt của phong trào ấy. Chỉ cần dẫn ra mấy dấu vết đã in vào bài “Quốc tế ca” cũng đủ chứng minh:
Về lời ca để hiệu triệu và tập hợp lực lượng: “Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn...”. Những đối tượng này là ở bậc thang đáy của xã hội. Xã hội phải bức thiết dành hết tình cảm cho họ, phải bức thiết đem lại ngay quyền sống cho họ, nhưng trào lưu tranh đấu mà do họ “lãnh đạo” thì chỉ có thể là một trào lưu ở tầm văn hóa thấp, tương xứng với họ, chắc chắn sẽ bị kẻ gian lợi dụng, là điều quá hiển nhiên.

“Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình” là động cơ thật của cuộc tranh đấu. Biện pháp giải quyết là “phá sạch tan tành”, “quyết phen này sống chết mà thôi” để “tước đoạt lại kẻ đã tước đoạt” như Chủ nghĩa đã chỉ rõ.

Cả đối tượng, mục tiêu lẫn biện pháp đều ở tầm văn hóa thấp.

Bây giờ nhiều người trong đội ngũ Vô sản ấy đã thành đại hữu sản do tước đoạt. Họ sẽ nghĩ sao nếu những người dưới mức nghèo khổ đông đảo ở nước ta bây giờ cũng theo chủ nghĩa Mác hô hào nhau lặp lại một phong trào tước đoạt lại như thế? Hẳn họ phải lên án đó là cách làm vô văn hóa chứ gì nữa? 

Nếu thấy cần làm lại những bài ca, thì đáng lẽ phải làm lại bài “Quốc tế ca” này chứ không phải làm lại Quốc ca như đã từng chủ trương! Sản phẩm nào của phần “Dân tộc” nói chung là lành mạnh, chỉ những sản phẩm của phần “cách mạng” “giai cấp” mới là cái cần được làm lại!

Nhưng nói vậy thôi. Cái đáng phải làm lại nhất là “làm lại” toàn bộ Học thuyết, mà tính khoa học của nó đã được ngộ nhận hoặc được châm chước, bởi khi ấy người ta nghĩ rằng “đấu tranh đây là trận cuối cùng”. Cốt sao lợi quyền về tay cái đã. Ta đấu tranh rồi, ta tước đoạt được rồi thì trường đấu tranh từ đây khóa sổ, không ai được đấu tranh lộn xộn gì nữa, từ đây là hợp lý rồi, không phải “xét lại” nữa, ai chống lại ngai vàng mà ta cướp đoạt thì quy thành phản động hết?

Liệu như thế có phải là “qua cầu rút ván” chăng? Tầm Văn hóa như vậy là cao hay thấp?

Ý tưởng lấy Búa và Liềm làm biểu tượng cho lực lượng tiên tiến nhất, tiêu biểu cho Thời đại cũng là một cảm hứng ở tầm Văn hóa ấy. Nhưng có thể nào khác được, khi trào lưu “Tiến hóa” ấy lấy động lực ở người cùng khổ, lấy điểm tựa ở sự bần cùng?

Ở một cuộc tranh đấu có tầm văn hóa cao, sự chọn lựa chỉ là giữa cái đã tốt (tương đối) với cái tốt hơn, tức là đấu tranh trong hòa bình, không có tình huống “một mất một còn”.

Cuộc đấu tranh giai cấp “một mất một còn” luôn gắn liền với bạo lực và chiến tranh, nó sẵn sàng mua chiến thắng bằng cách hủy diệt môi trường, hủy diệt những công trình văn hóa, và hủy diệt con người thì dẫu có anh hùng và chính nghĩa đến đâu cũng chỉ là những trào lưu có tính văn hóa thấp. Khi nào vươn được tới tầm văn hóa cao hơn, người ta sẽ thấy những chiến thắng ấy thật đáng ghê sợ. Lúc ấy hồi tưởng lại những bà mẹ đã tự hào vì cống hiến cả chồng và 7-8 người con cho cách mạng, người ta sẽ rùng mình hơn là kính phục.

Ở tầm văn hóa cao, người tranh đấu không bao giờ chỉ quan tâm đến chiến thắng của mình mà quên những giá trị chung của xã hội. Ở tầm văn hóa cao thì sự tranh giành quyền lãnh đạo sẽ xảy ra giữa những người đã ở tầm cao, có tài sản và sự nghiệp để bảo hành. Trong thực tế, không ai dám chơi với những kẻ “nếu mất, nó chỉ mất cái xiềng, còn nếu được thì lại được cả thế giới” (!). Vì trong trường hợp ấy, con người không còn gì để đắn đo cân nhắc, nó chỉ có một con đường là lao vào cuộc sinh tử (quyết phen này sống chết mà thôi!), và sẵn sàng “phá sạch tan tành” tất cả những gì cản đường. (Ta nhận rõ tính kém văn hóa của những người ấy nhưng không quy lỗi cho họ!). Họ sẽ tuyệt đối hóa mục tiêu “Thiện” một cách chủ quan và sẵn sàng làm mọi việc Ác mà không hề phải cắn rứt lương tâm. Họ sẽ quyết định những điều hệ trọng một cách đơn giản, họ sẽ coi rẻ sinh mạng của họ cũng như sinh mạng của cả dân tộc!

Một sức mạnh như thế rất khó cho việc chống lại, nhưng lại rất dễ cho việc lợi dụng! Stalin, Mao Trạch Đông... đã là “những nhà lợi dụng vĩ đại”, và đã đào tạo biết bao nhiêu học trò!

Nhân đây, tôi xin “mở ngoặc” để nói đôi lời về những tác phẩm viết về chiến tranh.

Người ta thấy Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là không chấp nhận được. Quan điểm Cộng sản không cho phép được buồn trong chiến tranh, trên đường ra trận phải vui như trẩy hội (!). Bây giờ hãy ví dụ: gia đình ta đang sống yên ổn thì bị cướp. Đương nhiên cả nhà phải đứng dậy đánh cướp, bỗng dưng ta thành những kẻ phải giết người để tự vệ. Giả sử ta đã giết sạch được cả mười tên cướp chết nhăn răng ra, thì khi phải nhìn lại cuộc chiến đấu ấy ta có nên kể lại một cách hứng khởi, vênh váo hay nên coi đó là một kỷ niệm “buồn” trong đời? Tôi nghĩ chẳng những phải biết “buồn” mà suốt đời còn phải tự day dứt. Càng phải day dứt hơn nếu đã hy sinh mất những người thân và những người ưu tú. Càng có văn hóa càng thấy day dứt. Bởi mình còn tồi, còn kém nên có nhiều cuộc chiến tranh bất đắc dĩ phải làm, nhưng không có cuộc chiến tranh nào lại đáng tự hào cả.

3- Đâu là tương lai của nền Văn hóa Vô sản

Mỗi Thời đại có Văn hóa đặc trưng của nó. Bằng biện pháp “Cách mạng”, với bạo lực quần chúng và tận dụng thời cơ, người Cộng sản có thể cướp chính quyền ngay tức khắc, nhưng văn hóa thì không cướp được; có xây dựng nổi nền Văn hóa đặc trưng của mình hay không, điều ấy mới xác định vị trí của mình trong lịch sử là có thật hay không. Thành bại cuối cùng là ở Văn hóa.

Hãy nhìn lại xem việc xây dựng nền Văn hóa Vô sản thành bại ra sao?

3a- Chiến dịch xây dựng “Con người mới”
- Suốt từ những năm 60-70, khi ấy tôi dạy học nên được chứng kiến một chiến dịch dai dẳng và vất vả để cố xây dựng cho được hình mẫu “Con người mới Xã hội Chủ nghĩa” (vì “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa”).

Sách giáo khoa, tài liệu tuyên giáo, truyện ngắn, truyện dài, sân khấu, điện ảnh, báo chí, phong trào Đoàn Thanh niên Cộng sản, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh... xây mãi mà không mẫu nào có thể đứng được. Nếu không bám víu vào những phẩm chất của “con người cũ truyền thống” như lòng yêu nước, lao động cần cù, chịu đựng gian khổ hy sinh, thương người hoạn nạn... thì “Con người mới” không còn có xương có thịt gì cả.

Cái chất “mới” và “xã hội chủ nghĩa”, chất “giai cấp”, chất “Đảng”, chất “thời đại” tô vẽ mãi vẫn cứ mờ nhạt, khô cứng, thậm chí (nhiều nhà văn, nhà báo kể cho tôi nghe) khối lời nói anh hùng, nhân vật anh hùng là do ta bịa ra. Nhưng ngần ấy thứ con người mới giả vẫn không địch nổi cái đội ngũ hùng hậu của những “con người mới thật”, tệ hại, bằng xương bằng thịt cứ tuôn ra từ cuộc đời thật, ngày càng đông về số lượng và chủng loại, càng điển hình và độc đáo về phẩm chất.

Học dốt, bị cô giáo cho điểm kém, bèn lừa lúc cô một mình trong lớp, dùng dao dọa, bắt cô đứng lên bàn, tụt quần ra, thế thôi!... Con muốn lấy tiền của bố, bèn cắt tiết bố hứng vào chậu hẳn hoi rồi cho lợn ăn. Chồng băm thịt vợ cho vào chum nước rồi dùng dây may-xo để nấu. Công an bảo vệ trên cầu Chương Dương Hà Nội cũng cướp của, giết người (mà có cấp chính quyền còn định bao che), vân vân. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh nổi tiếng nhiều độc giả nhất vì chuyển tải được cái vốn “người tốt việc tốt “ rất phong phú ấy!

Xe khách đang chạy, bỗng trước mặt hiện ra hai ông Công an mặc sắc phục, cầm “dùi cui” đàng hoàng, đưa còi lên miệng. Người tài xế bảo phụ lái: “Hôm nay làm ăn không được, mày “thí” cho chúng nó 5 đồng thôi!”. Rồi quay sang cười với tôi: “Bây giờ đâu cũng thế cả, bác đừng cười!”. Anh phụ lái giở cái giấy phép ra, khéo léo kẹp tờ 5 ngàn vào giữa, hơi thò ra một tý để ai có tình ý thì nhìn thấy, rồi nhảy xuống để trình…! Xe lại chạy ngay chẳng cần kiểm tra.

Giữa giờ, một anh bạn đến thăm tôi. Tôi hỏi đùa: Đang “giờ chính quyền” mà đi được à? Anh bạn tôi cũng cười: “Mình không có tài ăn cắp thì ăn cắp tý thời gian vậy. Ăn cắp thời gian bây giờ là lương thiện nhất đấy ông ạ!”. Tôi bảo: “Sao bây giờ cậu ăn nói “mất lập trường” thế?”. Anh lại bô bô: “Mình là “con người cũ” nên cứ nói toẹt ra, chứ có phải “con người mới” đâu mà vòng vo!”.

Trong một cục diện xã hội như thế, “con người mới” lý tưởng nào có thể sống được?

Có thể nói 90 phần trăm tác phẩm văn học được giải trong những năm gần đây là tác phẩm “phản diện” mang tính phê phán, và những “điển hình” xây dựng thành công là những điển hình về mặt trái của Con người và xã hội. Người ta bảo: hãy quên chuyện “Con người mới” đi! hãy tìm lại những “Con người cũ” tử tế. Nhiều bài báo viết: Bao giờ cho đến Ngày xưa?

Rất nhiều cuộc “Về nguồn” được tổ chức: Nào thi sáng tác văn thơ “Về nguồn”, đua xe đạp “Về nguồn”! Nào thi học sinh giỏi theo nghi thức thời cổ “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ!"... Chưa biết trong đục thế nào, và mỗi người “Về nguồn” với một ý đồ khác nhau, nhưng người ta đua nhau “Về nguồn”, vì ai cũng thấy trước mắt mình nhiều cái “mới” nhăng nhít quá! Có lời bình rằng: Trước đây bỏ “nguồn” để đi tìm Thiên đường Cộng sản, nay lại hò nhau Về nguồn, thật như đèn cù!

Còn đang cố tìm một mẫu người “Trung với Đảng, Hiếu với Dân” thì đùng một cái, một ông cán bộ Cộng sản khá cao cấp là Thân Trung Hiếu, đầy đủ cả “Trung” cả “Hiếu”, làm tiêu luôn của Dân 48 tỷ đồng! Dân bảo: Tay này chắc là “Trung”, nhưng mà bất “Hiếu”!

Truyện”Con người mới” kể cả ngày không hết. Không gì bê bối hơn một nền Văn hóa như thế.
- Nói đến Văn hóa Vô sản không thể quên nước Cộng sản lớn, quê hương của “Con người mới” Lôi Phong, của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, với mười mấy triệu Hồng vệ binh vô học choai choai, dám đốt hết sách vở và lôi cả những nhà Văn hóa ra đấu tố, quét sơn đỏ khắp người rồi lôi đi diễu trên đường phố, với hàng đoàn xe tăng đi nghiến nát những em sinh viên nhịn đói để đòi dân chủ, với công đào tạo ra những tên lính Polpot ở tuổi chưa ráo máu đầu đã một mình dùng cuốc đập chết cả ngàn người trong tay!...

Những hiện tượng “đại văn hóa” ấy mà không phải do bản chất thì do ngẫu nhiên chăng? Hay do Đế quốc Phong kiến để lại? Hay chỉ có thể từ Văn hóa Vô sản, Văn hóa Đảng mà ra?

Không phải ngẫu nhiên mà cái pháo đài Cộng sản nổi tiếng giáo điều với quan điểm “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, “gió Đông thổi bạt gió Tây”... lại cũng chính là nơi sản sinh ra quan điểm “đổi mới” thực dụng nổi tiếng “mèo trắng mèo đen” không quan trọng, miễn là “bắt được chuột”! Có thể coi hai thái độ cực tả và cực hữu ngược nhau ấy (từ quá giáo điều sang quá thực dụng) là quan hệ bù trừ, nhân quả, nhưng nghĩ lại thì thấy hai thái độ ấy cũng từ một gốc mà thôi, đều phản ánh cùng một bản chất duy lợi của tầng lớp cầm quyền, cùng một xảo thuật tuyên truyền, và cùng một tầm văn hóa.

Khi trước giáo điều bao nhiêu thì nay lại thực dụng bấy nhiêu, ta với Tàu cũng “một mẹ sinh ra” cả!

Tóm lại, khi mẫu người Phong kiến đã hết thời thì phải hướng con người theo những giá trị phổ quát của thế giới hôm nay: con người của văn minh công nghiệp và tin học, của kinh tế thị trường, của dân chủ pháp trị. Nếu cứ chập chờn, nghĩ đến một thứ “con người mới xã hội chủ nghĩa” giả định nào đấy, thì kết quả là dứt con người ra khỏi văn minh nhân loại, nếu không ù lỳ như những bóng ma ảo tưởng cổ lỗ lỗi thời thì lại thành những kẻ lừa đảo, lưu manh… rất hiện đại!

3b-Thiếu Văn hóa từ gốc
Một nền văn hóa có thể bị băng hoại dần dần do những sa sút của chính trị và kinh tế.

Nhưng nền Văn hóa Vô sản tự nó đã có những khiếm khuyết, ngay cả lúc còn thịnh trị.

* Nền Đạo đức Vô sản thâu nạp đủ điều đạo đức của Nho giáo, từ Trung, Hiếu, Đức, Tài, Lễ, Nghĩa, đến Cần, Kiệm, Liêm, Chính, đến Chính tâm tu thân, đến kế hoạch trăm năm trồng người, đến điều lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ, đến Dân là gốc, coi cán bộ là nô bộc của dân, dĩ bất biến ứng vạn biến... tất cả đều đã có trong sách vở Nho giáo.

Duy có chữ QUÂN TỬ là cái tử tế nhất của Nho giáo thì ta tránh hẳn.

Các nhà lý luận viện cớ rằng Quân tử là tầng lớp bóc lột nên ta không học.
Nếu những phạm trù NHÂN, THIỆN, ĐỨC còn mang tính lý tưởng, hoặc còn chung chung, trừu tượng, thì phạm trù QUÂN TỬ đưa thiện-ác vào tới con người cụ thể, tới tình huống cụ thể, thái độ ứng xử cụ thể. Mỗi tình huống ấy là một cuộc thử thách quyết liệt: anh nói anh “thiện”, anh “đạo đức” thì anh thể hiện ra đi, quyết định lấy một thái độ ứng xử đi; hoặc là hành động một cách”QUÂN TỬ”, hoặc là hành động một cách “TIỂU NHÂN”!

Những bài học về QUÂN TỬ thiết thực lắm. QUÂN TỬ rất gần với TRƯỢNG PHU và THƯỢNG VÕ. Người ta thua trận, người ta nằm trong tay anh rồi, anh làm gì người ta cũng phải chịu, thì anh sẽ đối xử thế nào? Hoặc là anh học người xưa, đem tất cả sổ sách thù hận đốt đi để coi nhau như anh em, hay anh lục đống hồ sơ cũ ra, bới lông tìm vết để phân biệt đối xử?

Anh có mọi quyền lực trong tay, anh muốn nói gì, nói cả ngày cũng được, thì anh có nhường một tờ báo, một diễn đàn cho những người khác trình bày tiếng nói của họ hay không?

Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bày đặt cái gì cũng được, thì anh có dành cho Nhân dân một Hội đồng thật sự để giúp anh thu thập tiếng nói của Dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy sang phụ trách luôn “Hội đồng Nhân dân” cho nhất quán?
Anh có quyền ký một chữ thì người khác có nhà ở, vậy anh có thắng nổi cái lòng tham của con người, dám trọng nghĩa khinh tài mà từ chối mấy lạng vàng đút lót để dành cái nhà ấy cho một thầy giáo nghèo được không?

Người Cộng sản thích chơi trò “Đạo đức” nhưng không dám chơi trò “Quân tử”, thiệt đến quyền lợi sát sườn ngay! Mặc dù trên đời cái gì cũng có thể làm giả nhưng thực tế cho thấy Đạo đức giả thì dễ nhưng Quân tử giả thì khó hơn nhiều. Chủ nghĩa Phong kiến so với ngày nay thì vô cùng tồi tệ, nhưng thời thịnh trị nó đã cung cấp cho loài người rất nhiều Người Lớn, là nhờ có một tinh thần QUÂN TỬ. Dùng Đạo đức, con người vẫn có thể lừa cả mình, nhưng khi trong lòng đã cất lên tiếng QUÂN TỬ thì con người phải đối diện với chính lương tâm nó, khó trốn tránh hơn.

* QUÂN TỬ thì phải CHÍNH DANH! Có người bảo “Chính danh” là thủ đoạn của bọn thống trị nhằm phân biệt ngôi thứ. Không đúng! Công bằng hay không là ở chỗ “định danh”, định nội hàm của Danh, chứ khi định Danh rồi thì phải theo Danh mà làm! “Danh” một đàng “Thực” một nẻo thì đại loạn.

Trước tình hình giáo dục lộn xộn bát nháo phải kêu gọi “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” là rất đúng, là phải “chính danh”!

Nhạc trưởng cũng phải ra Nhạc trưởng! Anh muốn điều khiển dàn nhạc thì anh đứng ra giữa sân khấu mà bắt nhịp cho mọi người trông thấy, chứ không thể chơi trò “giật dây” từ trong hậu trường, hay đứng lấp ló ở chỗ “cánh gà” sân khấu, chờ xem nếu được hoan hô thì ra nhận hoa, mà bị la ó thì chuồn thẳng, tìm mãi chẳng biết ai vừa chỉ huy!

Anh muốn chỉ huy cũng được (cứ cho là “được” đi), nhưng nếu chỉ “hiến định” sự chỉ huy, mà không “luật hóa” sự chỉ huy ấy thì ai chẳng thích chỉ huy? Mà phải là luật của Dân, chứ Đảng Cộng sản tự làm luật cho mình thì đâu cũng hoàn đó. Nếu có “luật lãnh đạo” cho nghiêm minh (lãnh đạo kém, gây thiệt hại lớn sẽ bị đi tù!) thì chắc Đảng sẽ tự xin rút điều 4 trong Hiến pháp. Có luật ấy thì khối lãnh tụ Cộng sản đã đi tù lâu rồi, không tin cứ đưa ông Lê Đức Thọ ra Toà án của Nhân dân làm ví dụ thử xem.

Trong dân mình có thói khôn vặt: nói thế mà không phải thế! Nói “dzậy” mà không phải “dzậy” nên khi gặp chủ nghĩa Mác Lê thì tâm đắc vô cùng, cả hai đều thích “nhân danh” nhưng không thích CHÍNH DANH.

Trong cuốn Đề cương giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh Xây dựng chủ nghĩa Xã hội trong thời kỳ quá độ (tức Cương lĩnh của Đại hội Đảng lần thứ 7) có câu: “Nguyên tắc thứ nhất nói về xây dựng Xã hội chủ nghĩa, tuy không dùng chữ Chuyên chính Vô sản, nhưng nội dung của nó vẫn quán triệt bản chất Chuyên chính Vô sản” (sđd.trang 15). Thế thì còn đâu là chính danh?

Có lẽ do quá quen với “phương pháp luận” Mác xít nên người viết câu ấy không cảm thấy tính TIỂU NHÂN trong đó. Thử hỏi tại sao lại thế: nếu thấy Chuyên chính Vô sản là hay thì phải công khai bảo vệ luận điểm ấy, nếu thấy là dở thì phải thực tâm từ bỏ, chứ ngoài mặt nói với dân không có Chuyên chính mà nội bộ Đảng thì lại dặn nhau: Cứ Chuyên chính mà làm! Thì chẳng Quân tử tí nào.

Điều nói dối ấy đã làm dân mất lòng tin, đã đành, nhưng trong Đảng thì đấy chính là sự dạy nhau nói dối, và Đảng viên sẽ dùng cách ấy để ứng xử với Đảng: Nghị quyết nói thì cứ để Nghị quyết nói, mình có cách “vận dụng” của mình, Nghị quyết “dzậy” mà không phải “dzậy”!

Người Việt Nam muốn ra người Quân tử đã khó, người Cộng sản Việt Nam muốn ra người Quân tử lại càng khó hơn. Bởi thế tôi thật kính trọng thái độ Quân tử của tướng Trần Độ khi ông viết cho Đảng những dòng sau đây: “Cần phải dứt khoát chọn một trong hai tư tưởng chỉ đạo: Hoặc thực hiện Chuyên chính Vô sản, mà Đảng là đại diện và nhân danh (liệu có dám ngang nhiên như vậy không – HSP bổ sung). Hoặc thực hiện một Nhà nước Dân chủ pháp quyền, một Nhà nước của Dân, do Dân, vì Dân. Không thể cứ nói nửa nọ nửa kia nhập nhằng.”

* QUÂN TỬ lại gắn với LIÊM SỈ. Liêm sỉ là biết tự xấu hổ, trước hết là với lương tâm mình. Bậc trượng phu không được lấy nê vì Nghĩa lớn mà bước qua những điều Sỉ nhỏ. Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương tuy không có tội, nhưng xấu hổ vì không làm tròn nhiệm vụ giữ thành nên quyết tự vẫn. Càng là bậc đàn anh thiên hạ, lòng tự sỉ càng phải lớn. Có khi đời tha cho mình mà mình không tha cho mình được. Ở ta, người Cộng sản làm hỏng việc thì tìm cách chuồn lên ghế cao hơn (mà lại chuồn được!). Chuyện ấy địa phương nào cũng có, Trung ương lại càng điển hình. Phải chăng vì bài ca “lợi quyền” kia đã ngấm vào xương thịt?

Để riễu cái thói đạo đức giả nhưng lại vô sỉ, bám ghế đến cùng, người dân nhại lời các quan chức “cách mạng giả cầy” thế này: “Ông không ham chức quyền, ông chỉ ham phục vụ, ông quyết ở lại làm đầy tớ của dân! Đứa nào ngăn không cho ông làm đầy tớ ông đánh bỏ mẹ.” (!)

Nhiều lúc tôi tưởng tượng như cả dân tộc mình đang ở trong trạng thái thôi miên.

Tôi nghĩ đến một ví dụ khác, một người đủ tư cách thay mặt cho Đảng. Tôi không có ý định chỉ trích cá nhân ông, nhưng trường hợp của ông lại rất điển hình. Trước đây ông nổi tiếng là người Mác xít gang thép, chẳng những trong việc “đánh Đế quốc Mỹ và tay sai”, mà cả trong việc đánh đồng bào mình, những nhà “công thương nghiệp tư bản tư doanh” (họ mang tiếng là Tư sản nhưng chưa giàu bằng các vị Tư sản đỏ bây giờ). Hiện ông cũng đang rất gang thép trong việc kiên trì Mác-Lê và định hướng Xã hội chủ nghĩa. Ấy thế mà đùng một cái, ông ngồi sánh vai với “ bọn tay sai Nam Hàn” (cái “bọn” mà tôi còn nhớ trước đây chúng “giết bộ đội mình như ngóe”), ngồi để ký kết những chương trình mà chắc chắn là phản lại cái “chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” của ông trước đây (và nhận quà biếu tới 2 triệu đô-la). Tôi tự giải thích: có thể sự quay ngoắt 180 độ này là một sự tỉnh ngộ, đổi mới chân thành, muốn làm bạn với tất cả mọi người.

Có thể thế lắm chứ! Nếu ông đổi mới như vậy thật thì quá tốt.

Nhưng, người sám hối có những “triệu chứng lâm sàng” rất dễ nhận thấy. Biểu hiện buộc phải có là “ngượng”, là “thẹn”, khiến cho những người khó tính nhất cũng phải tha thứ.

Trong trường hợp này, các “triệu chứng lâm sàng” đáng yêu kia hoàn toàn không có. Người đã có sai lầm tội lỗi chẳng những cứ thản nhiên cười nói, mà còn giữ tư thế huấn thị, kiên trì chủ nghĩa, xử tội, “chém tay” quát nạt thiên hạ, thì đây chỉ có thể là sự thiếu nhân cách đến vô liêm sỉ.
Điều lạ nữa là tại sao tất cả những cán bộ xung quanh, trước hết là những người hữu quan, lại không ai lấy thế làm xấu hổ, một thứ xấu hổ mà chỉ cần là một người có nhân cách bình thường thôi cũng không chịu nổi! Mà đâu phải riêng việc đó, bao nhiêu điều quay quắt, lộn ngược lộn xuôi rành rành trước mắt, mà lại có thể tươi tỉnh như không? Mà đều nghĩ được cách giải thích, mà lại tiếp tục làm tuyên huấn cho mọi ngưòi không hề ngượng mồm?

Tôi không muốn lên án riêng ai, bởi thế tôi thấy chỉ có thể giải thích đây là một trạng thái thôi miên tập thể. Bên tai mọi người hình như luôn nghe thấy lời ám thị:” Hãy coi chừng! không được trái ý Mác-Lê! Hãy coi chừng, không được trái ý Mác Lê!” như sợ một bóng ma trong tiềm thức, một tay cầm gậy một tay cầm củ cà rốt. Mác-Lê thế nào mấy ai biết? Có khi Mác-Lê giống mấy ông Công an, giống bà trưởng phòng Tổ chức, giống khoản lương hưu, giống xấp đô-la, giống những kỷ niệm kinh hoàng một thời đói rách, giống ngôi biệt thự với chiếc xe con, giống két bia lon với cô thư ký, hoặc có khi chỉ là một cái bóng ma rất thiêng trên bàn thờ... Mác-Lê muôn màu muôn vẻ, nhưng đã thành một ám thị tập thể. Trong khí quyển thôi miên ấy, con người phải quên nhân cách riêng, đặc biệt là cấm không được hổ thẹn!. Cái gọi là “Lý tưởng Cộng sản”(mà chưa biết một thế kỷ nữa có thực hay không) bây giờ chỉ còn là cái bình phong tự lừa dối lương tâm để làm điều vô liêm sỉ, phá bỏ chiếc bình phong che mặt ấy chính là giúp người ta trở về con người có nhân cách thật, đó là việc làm nhân ái, cứu người! Bởi Dối trá là điều kiện cần và đủ cho cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản tồn tại và phá phách xã hội. Không có vị anh hùng dân tộc nào đủ sức chống lại con Quỷ dối trá ấy, trừ phi mỗi người công dân dám tự dấn thân một lần “Nói thật để cứu nước”! 

Khi học môn giải phẫu cơ thể, chúng tôi nhớ mãi một dây thần kinh chỉ huy việc khép đùi nên tên là dây “thần kinh thẹn”. Bây giờ mỗi khi cùng nhau tâm sự chuyện đời, chúng tôi lại nhìn nhau chua chát: Bọn mình bị liệt mất dây “thần kinh thẹn” rồi. (Nhưng khi nghe những thằng bạn thao thao bất tuyệt trên Ti-vi chúng tôi vẫn thấy thẹn thay). Cảm ơn Tạo hóa đã cho Con người biết thẹn, nếu không, ai giữ Văn hóa cho Người!

3c- Hiện tình “Văn học Cách mạng”

Tính cách Dân tộc ấy, hoàn cảnh lịch sử ấy, bản chất ý thức hệ ấy đã quyện vào nhau nhào nặn nên một tổng thể Văn hóa “đặc sắc” không bút nào tả nổi. Nền Văn học “hiện thực xã hội chủ nghĩa” cố kéo dài hơi thở hào hùng thời kháng chiến một cách đuối sức, tỏ ra bất lực và mất phương hướng trước một thực tế mà nó không nhận thức nổi hay không dám nhận thức. Một số tác phẩm bắt đầu bứt ra, thì tránh được sự giả tạo và đạt được sự phê phán sâu cay, nhưng càng sâu cay càng không có lối ra. Giải thưởng Văn học nào cũng “có chuyện”. Làm sao có thể tổ chức nổi một cuộc thi cho tử tế khi mà bộ Từ vựng của xã hội đang đòi phải làm lại, làm lại những từ ngữ cơ bản, viết lại những mệnh đề cơ bản: chẳng hạn “Cách mạng” nghĩa là gì? “Phản động” nghĩa là gì? “Yêu Chủ nghĩa xã hội” có phải là “yêu nước” không?, vân vân. Người chấm thi bị xé về hai chiều, “con người chính trị “ phải đạo không còn chung sống nổi với “con người văn học” trong một thể xác như ở giai đoạn trước, và mỗi “con người” ấy trả lời những câu hỏi trên một cách trái ngược nhau.

Tất cả những giá trị văn học chân chính lâu dài mà ta đã gặt hái được trong mấy chục năm mà ta gọi là “Cách mạng” thực chất không có gì khác ngoài giá trị Văn học yêu nước và nhân bản, còn cái chất “chuyên chính vô sản” nếu có đóng góp thì chủ yếu là gây nên cái mặt trái của nền văn học đó.

Làm sao có được “tác phẩm tương xứng với thời đại” khi nhà văn không thể nhìn thẳng vào thời đại bằng con mắt của riêng mình? Vừa phải nhìn bằng con mắt của người khác, lại vừa nơm nớp lo không biết trong cặp mắt kia bên nào mắt thật bên nào mắt giả. Mắt vẫn mở, mồm vẫn lắp bắp, tay vẫn hí hoáy viết đấy nhưng bị thôi miên rồi.

Trong xã hội quái đản ấy đã bật ra bút pháp Nguyễn Huy Thiệp: Cái khốn nạn, lưu manh hết chỗ nói mà cứ bình thường như không, thương nó cũng dở, giết nó không nỡ, không lần được cái đầu mối khốn nạn nó nằm ở đâu. Làm điều đồi bại mà cứ như vô tình... Cái Thiện, cái Mỹ thì mong manh như mây khói. Phải chửi Trí thức! Phải chửi Đạo đức! Phải tốc ngược lịch sử lên để nhìn rõ những chân dung ngụy tạo! Cái nhạy cảm đạo đức tuyệt vời thiên phú của anh xui anh làm thế! Trong tấn tuồng đời, các vai đạo đức đã bị những kẻ vô đạo giành đóng hết rồi!

Nhưng anh phải nén tấm lòng xót xa ấy, xã hội không cho anh xót xa, đất nước đang đi lên không được xuýt xoa. Vì thương con người mà không thể thương con người (tôi thích lời bình luận ấy của Hoàng Ngọc Hiến), vì quá xúc động nên phải viết lời vô cảm! Đọc những câu văn tục tĩu, vô cảm hoặc độc ác của anh tôi cứ ứa nước mắt. Chỉ riêng cái “vỏ” bút pháp của anh đã chứa hết cái ruột gan của xã hội trong đó rồi. Cốt chuyện chỉ còn là cái cớ, lúc thực lúc hư.

Xã hội quái đản ấy cũng buộc phải đẻ ra thơ “Bút Tre” để phản ánh nó, khi văn học chính thống cứ ngồi lù lù đó một cách vô tích sự. Tôi không nói ông Bút Tre ở Vĩnh Phú mà ông Ngô Quang Nam vừa mới viết sách ca ngợi. Cái ngớ ngẩn một cách chân thành,và chân thành một cách ngớ ngẩn, của người cán bộ văn hóa Vĩnh Phú kia chỉ là cái cớ để dân gian tải cái ngớ ngẩn giả vờ của mình, để riễu cợt những giá trị mà công khai họ cứ phải “hoan hô”. Thơ “Bút Tre thật” không ai thuộc làm gì, đọc rồi cũng không nhớ được, còn “Bút Tre dân gian” thì mỗi lần nghe người ta đọc, tôi lại thấy cái sức sống mới mẻ, say sưa như thể chính người ấy đang sáng tác. Câu thơ Bút Tre chính xác và thông minh, đa nghĩa, lại núp dưới cái vỏ ngô nghê đơn nghĩa, để nhại chính cái thứ văn học công nông đại chúng tùy tiện giáo điều. Cười bò ra, rồi chảy nước mắt...vì đau trong ruột. Tiếc rằng chưa tiện trích dẫn ở đây.

Còn những “cây đa cây đề” trong nền Văn học cách mạng thì cuộc đời văn học đều bị chia đôi:
“Vị nghệ thuật” nửa cuộc đời,
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên!
(Xuân Sách, Chân dung Nhà văn)

Cái còn lại của những tài năng văn học tiêu biểu ấy là những tác phẩm thanh xuân đầu đời, của người nghệ sĩ tự do, những Điêu tàn, Lửa thiêng..., còn nửa sau là cái nửa “lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa” (Xuân Sách, Chân dung Nhà văn) nên hỏng cả sự nghiệp lẫn nhân cách. Người bị mất chung quy là Dân tộc. Những bài thơ di cảo Bánh vẽ, Trừ đi, Ai, tôi của nhà thơ Chế Lan Viên lỗi lạc đủ để tự phủ định toàn bộ cái nửa đời sau của cả một thế hệ văn nhân, nhưng những ngày cuối cùng của ông lại cho thấy những nghệ sĩ đã mất nửa đời người ấy họ đâu có thể tự do “về nguồn” theo lương tri của mình! Bởi họ không đủ điều kiện để thẳng thắn trả lời câu hỏi:
Cuộc đời hai nửa vì đâu?
Nửa say Quỷ kế, nửa đau Nhân tình!
(HSP, Thư gửi Xuân Sách)

Dòng Văn học mới không thể không “phản tỉnh”, tự mình “lật tẩy” mình để tự vượt qua, vượt qua mình, vượt qua một vùng Văn hóa thấp mà về với loài người văn minh.

*

Tóm lại không thể xây dựng nổi một nền Văn hóa Vô sản, vì không có một “giai cấp Vô sản tiêu biểu cho thời đại” như Mác tưởng tượng. Những xã hội trước đây đã lao theo con đường của Mác thì nay chẳng có con đường nào khác ngoài con đường trở về với Dân tộc truyền thống và mau chóng gia nhập vào Thời đại, mà nội dung hoàn toàn khác với nội dung Thời đại mà các Đảng Cộng sản thế giới trước đây ấn định.

Tình hình xã hội trong giai đoạn chuyển đổi tất nhiên rất phức tạp. Muốn có lối ra tốt đẹp nhất cho Dân tộc thì phải bắt đầu bằng cái nhìn Văn hóa và phải giải quyết một cách Văn hóa. Nếu tiếp tục duy trì trạng thái Văn hóa cũ đã kém sức sống thì tình trạng tranh tối tranh sáng sẽ là cơ hội để những thứ Văn hóa không lành mạnh xâm nhập và chiếm lĩnh. Trong điều kiện ấy xã hội sẽ có sự ổn định bề ngoài nhưng thoái hóa bên trong, xã hội có thể đạt những tiến bộ nhất định về Kinh tế nhưng sẽ thoái hóa về Văn hóa nói chung. Văn hóa thấp kém sẽ phá hoại tất cả!.

H.S.P (1995)

----------------------------------------- 
(*) Đây là một phần trong bài Chia tay Ý thức hệ, với đôi chút chỉnh lý. 
ĐÔI LỜI VIẾT THÊM NĂM 2013
Thực tiễn 18 năm qua chỉ cung cấp thêm những ví dụ ngày càng phong phú minh chứng cho bài viết này. Dân chết trong tay công an, sự đàn áp kèm thêm màu sắc “còn Đảng còn mình”, màu sắc côn đồ và thú tính tình dục… là những biểu hiện sa đọa mới của một hệ thống quyền lực văn hóa thấp, thiếu tự tin, thiếu quân tử, thiếu chính danh và liêm sỉ.
Sự đàn áp, vi phạm nhân quyền luôn song hành với sa đọa văn hóa như một cặp bài trùng, đương nhiên làm gia tăng sự đấu tranh của dân chúng, lập thành ba mặt tương sinh của thực tiễn xã hội, như được đặt ra ngay từ đầu bài viết. 
Thực tiễn ấy củng cố thêm cho nhận thức sau đây:
- Gia tăng đàn áp, vi phạm nhân quyền không phải là phương thuốc giữ ổn định xã hội, mà ngược lại, có nâng cao văn hóa cai trị và thực sự tôn trọng nhân quyền mới có một xã hội ổn định bền vững.
- Trên cái nền thấp về văn hóa không thể có giá trị cao về nhân quyền. Trào lưu Cộng sản mới chỉ thỏa mãn những nhu cầu ở tầm thấp về văn hóa không thể làm nền cho sự phát triển cao về nhân quyền. Bởi đặt “đảng quyền” trùm lên trên nhân quyền và dân quyền nên hệ thống Cộng sản quốc tế tất yếu phải sụp đổ. Dẫu cố gắng cải tổ bao nhiêu ở trên ngọn cũng không thể bù đắp cho những khuyết tật từ trong gốc rễ.
Một nước chưa ra khỏi quỹ đạo Cộng sản (tức chế độ Phong kiến mới, Phong kiến biến tướng) không thể có vị trí cao trong nền Nhân quyền của thế giới văn minh. Còn nhớ trong chế độ Phong kiến cũ ngày trước cũng đã có những chức “lý trưởng mua”, “chánh tổng mua”… nhưng đó chỉ là những tước vị để trang trí cho những anh trọc phú mua danh mà thôi. Song, mua danh cũng tốt, vì đã có chút danh cũng không thể dễ dàng làm những điều ô danh như trước.

H. S. P.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Lê Mạnh Hùng - Hai cách nhìn của Châu Âu về chương trình do thám của Mỹ


Lê Mạnh Hùng - 

Bà Vera Lengsfeld đầu tiên nhận thức được rằng nhà nước Ðông Ðức đang theo dõi bà là khi đột nhiên thấy xe hơi xuất hiện đằng trước nhà mình. Năm đó là năm 1982 và xe hơi còn hiếm đủ ở thủ đô Ðông Berlin để người ta phải để ý, nhất là khi chúng xuất hiện thành từ nhóm ba chiếc một.


Chẳng bao lâu thì lại thấy có những chàng thanh niên đứng lảng vảng tại cầu thang dẫn đến căn apartment của bà. Ðiện thoại bà bị nghe lén. Thành ra khi hai vợ chồng bà Lengsfeld muốn nói chuyện gì riêng tư thì họ dẫn nhau đi ra ngoài đường nói chuyện. Chỉ có điều là, sau khi bức tường Berlin sụp đổ và các hồ sơ của cơ quan mật vụ Ðông Ðức Stasi được bạch hóa, bà mới biết rằng chính chồng bà là một trong 49 tên điểm chỉ báo cáo với cơ quan Stasi về bà. Thành ra khi nói đến việc bảo vệ đời tư cá nhân, bà Lengsfeld, một nhà văn và một thành viên của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Thủ Tướng Angela Merkel có một lập trường rất rõ ràng, “Tôi có những quan ngại rất lớn về những cơ quan mật vụ dù loại gì chăng nữa, kể cả những cơ quan của một nước dân chủ.”

Tại một quốc gia mà đã nảy sinh ra những cơ quan khủng khiếp như Gestapo và Stasi, những danh từ mà nay đã trở thành biểu tượng cho sự tàn bạo của công an nhà nước đối với dân chúng, chương trình do thám điện tử của cơ quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (National Security Agency - NSA) đã tạo ra những phản ứng gay gắt. Và điều đó gợi cho ta một câu hỏi, phải chăng đây là một phản ứng đặc biệt của người Ðức hay là nó báo hiệu một sự chuyển biến tại Châu Âu về thái độ đối với Mỹ?

Tuần qua, tuần báo Ðức Der Spiegel đăng một loạt bài đòi cho Edward Snowden, tên làm hợp đồng cho NSA vốn đào thoát và tiết lộ tất cả các chương trình do thám của cơ quan này, được tỵ nạn chính trị tại Ðức. Lời kêu gọi này của báo Der Spiegel đã được 51 nhà chính trị, lãnh đạo nghiệp đoàn và chủ doanh nghiệp ủng hộ. Và hiện nay chính phủ của bà Angela Merkel đang nghiên cứu làm sao để cho Snowden có thể ra điều trần trước một ủy ban Quốc Hội Ðức đang điều tra về vụ Mỹ nghe lén điện thoại cầm tay của bà thủ tướng cũng như thực hiện các hoạt động gián điệp tại ngay khuôn viên tòa Ðại Sứ Mỹ tại Berlin.

Nhưng nếu Ðức với một quá khứ lịch sử đặc biệt nằm tại một đầu của quang phổ chính trị phản ứng với việc các hoạt động do thám điện tử của Mỹ tại Châu Âu thì Anh với một quá trình quan hệ đặc biệt với Mỹ lại nằm ở đầu kia của quang phổ.

Thủ Tướng David Cameron của Anh đã bác bỏ những tố cáo của những người chỉ trích là “dớ dẩn.” Nhật báo The Guardian, tờ báo đầu tiên phổ biến các tài liệu của ông Snowden, đã bị một phụ tá của ông Cameron đến “thăm hỏi” và đòi nhật báo phải phá hủy trước mặt ông một máy điện toán có chứa những tài liệu mật bị tiết lộ. Khi người cầm đầu cơ quan MI 5, cơ quan an ninh nội địa của Anh tố cáo rằng những người phổ biến các tài liệu đó là đã “cho đám khủng bố một món quà,” một số báo chí đã đăng những bài xã luận hưởng ứng.

Với tư cách là đồng minh chính của Mỹ tại Iraq và Afghanistan, người Anh cảm thấy họ bị đe dọa bởi khủng bố hơn là hầu hết những người Âu khác. Vụ tấn công vào hệ thống xe điện ngầm của Luân Ðôn ngày 7 tháng 7 năm 2005 đã ảnh hưởng mạnh đến quan điểm của người ta về một sự cân đối giữa an ninh tập thể và tự do cá nhân.

Người dân Anh cũng chưa bao giờ phải sống dưới một xã hội toàn trị do công an chi phối. Trái lại các cơ quan tình báo của Anh từ lâu vẫn được sùng kính về những đóng góp của họ trong việc bảo vệ an toàn và độc lập cho tổ quốc. Họ phá vỡ được mật mã Enigma của Ðức Quốc Xã, mở đường cho chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai. Ðiều này đã giúp các cơ quan này một vị trí đặc biệt trong lòng một xã hội mà niềm tự hào sau khi giải thể đế quốc chỉ còn là việc chiến thắng trong cuộc chiến chống lại Hitler. Sử gia Timothy Garton Ash của trường Ðại Học Oxford nhận xét, “Người Anh kính trọng các cơ quan mật vụ của họ ở một mức mà nhiều nước không có.”

Ông Ash hiểu rất rõ những khác biệt giữa Anh và Ðức. Sau khi sống tại Ðông Berlin trong những năm 1980, ông cuối cùng cũng được biết rằng cơ quan Stasi có một hồ sơ về ông. Trong cuốn sách “The File,” một cuốn mà ông kể lại kinh nghiệm này, ông nói sau khi chế độ Ðông Ðức sụp đổ, ông tìm đến viên chức cao cấp nhất lo về hồ sơ theo dõi ông, tướng công an Gunther Kratsch và hỏi tại sao một thanh niên mới ra trường như ông lại đáng có được một hồ sơ theo dõi dầy đến 325 trang. Tướng Kratsch trả lời rằng ngay từ những ngày đầu học tại trường gián điệp ông đã được dạy về cơ quan tình báo đầy huyền thoại của Anh. Thành ra “mỗi khi mà có một người Anh nào chỉ hơi có vẻ khả nghi mà thôi” xuất hiện là họ phải điều tra ngay.

Sự kính trọng này nay có thể đã bị xói mòn khi cơ quan GCHQ , cơ quan phụ trách tình báo điện tử của Anh bị tố cáo là hợp tác với NSA, ít nhất là ở nước ngoài. Ðại sứ Anh tại Ðức đã bị Bộ Ngoại Giao Ðức gọi đến chất vấn về các hoạt động tình báo của Anh tại Ðức, một biểu tượng của sự phân hóa trong vấn đề này giữa các nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu.

Người ta hiện còn chưa biết liệu phần còn lại của Châu Âu có nghiêng về phía Ðức, nước có nền kinh tế số một trong vùng, hay là nghiêng về phía Anh, nhịp cầu nối liền Châu Âu với Mỹ và liệu sự hợp tác xuyên Ðại Tây Dương, nền tảng của sự ổn định từ nhiều thập niên nay của thế giới, có bị xói mòn một cách vĩnh viễn hay không.


Ghé thăm các Blogs: 22/11/2013


BLOG ĐÀO TUẤN

 Nguyên Bộ trưởng Trần Văn Tuấn có lần bảo “Không biết tinh giảm ai thì có khi người ta giảm anh trước”. Sau phiên chất vấn, cử tri chỉ ước lời ông Tuấn đáng lẽ không phải là một câu nói đùa

Một câu chuyện hài vừa diễn ra trước Quốc hội. Ấy là sau 3 năm thực hiện “tinh giảm biên chế”, chúng ta có được một kết quả: Giảm 28 ngàn. Tăng 69 ngàn. Tức là kết quả của “phép trừ tinh giảm” là một con số gấp 148% số trừ.

Chưa hết, sau khi sắp sếp bộ máy, “Phép trừ tinh giảm” cho ra kết quả: Giảm được 4 bộ, trong khi số Tổng cục từ con số 82 tăng lên thành 110.

Nhớ nửa năm trước, trong một hội nghị về tinh giảm biên chế của chính ngành Nội vụ, người tiền nhiệm của Bộ trưởng Bình là ông Trần Văn Tuấn đã “triết tự” như sau: “Phát biểu bên ngoài thì người ta dùng “giảm biên chế”, nhưng tại các diễn đàn thì nói “tinh giản biên chế”, nghĩa là có giảm có tăng, người nào không đáp ứng yêu cầu thì giảm, nhưng khi cần tăng vẫn phải tăng”.

“Trước ta cứ nói giảm 30%, nhưng chuẩn giảm không có, chỉ là sốt ruột, thấy đông thì bảo giảm. Nhưng tại sao đông thì cũng không ai lý giải”- ông Tuấn nói thêm.

Ra là chuyện tìm người kém để giảm, nhưng khó tìm quá. Bởi chính Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình có lần khẳng định như đinh đóng cột “tỷ lệ cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ trên dưới 1%”.

Mở ngoặc nói thêm, trước câu hỏi về con số 30% công chức cắp ô, Bộ trưởng giải thích: “Đây không phải ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Hôm qua, trước khi đi nước ngoài công tác Phó Thủ tướng cũng nói lại với chúng tôi là có ý kiến cho là như vậy. Tôi cho rằng đây là phản ảnh, kiến nghị, mong muốn cần đổi mới công vụ, công chức nhiều hơn”.

Như thế là chỉ 1% không hoàn thành nhiệm vụ, vậy thì bói đâu ra 29% nữa mà đặt chỉ tiêu giảm 30%.

Và kết quả tinh giảm được Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình giải thích là “Tăng do nhu cầu phát triển ngành, lĩnh vực cần tập trung chuyên sâu để đảm bảo nhiệm vụ, đảm bảo cơ cấu”.

Nhưng như thế phải là “tinh tăng” chứ đẩu phải “tinh giảm”!

“Phép trừ tinh giảm” của chúng ta đang diễn ra trong hoàn cảnh dường như ai, bộ ngành, địa phương nào cũng nghĩ đó là “chuyện của hàng xóm”. Chính cựu Bộ trưởng Trần Văn Tuấn đã nói tới “cái đà” là “các tỉnh đều “phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc trung ương”, nghĩa là tách phần nông thôn thành một tỉnh khác, là lại tăng tiền và bộ máy, trong khi kinh tế chưa chắc đã lên”. Còn các cơ quan đơn vị thì luôn nhiều cái lý. Cái lý nào cũng thấy hợp lý.

Thật trùng hợp, phiên chất vấn về đội ngũ cán bộ có quá nhiều khoảng lặng giữa các nhịp trả lời của Bộ trưởng. Rất nhiều điệu cười của ĐBQH. Chủ tịch QH liên tục nhắc Bộ trưởng trả lời thẳng vào câu hỏi. Cử tri đếm hết một bàn tay chưa hết những “Sẽ nghiên cứu”, “Sẽ có hướng dẫn”, “Sẽ ban hành”, “Trong thời gian tới”. Còn Bộ trưởng ê a thủng thẳng trả lời theo kiểu “nói có đầu có đuôi một chút”. (Đến nỗi ĐBQH Danh Út sốt ruột bảo rằng “Nghiên cứu 2 năm là đủ rồi”).

Nguyên Bộ trưởng Trần Văn Tuấn có lần bảo “Cứ bảo xác định vị trí việc làm là khó, nhưng một thủ trưởng không biết cơ quan mình cần bao nhiêu người thì làm thủ trưởng làm gì”. Và ông nói đùa “Không biết tinh giảm ai thì có khi người ta giảm anh trước”.

Phiên chất vấn đã không vô ích. Đồng bào cử tri nhân đó, cũng nhận ra nhiều điều. Rằng muốn tinh giảm thực sự là một phép trừ toán học, có thể, cần phải tinh giảm ngay hai chữ tinh giảm. Và rằng lời ông Tuấn đáng lẽ không phải là một câu nói đùa.

BLOG HÀ HIỀN

Hà Hiển

 Theo tin trên các báo hôm nay, sinh viên 24 tuổi Tạ Quang Nghĩa, thuộc Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội vừa bị TAND Hà Nội phạt 20 năm tù về tội giết người.

Nhưng theo thông tin chi tiết hơn thì nạn nhân của vụ “giết người” chỉ bị thương tổn 15% sức khỏe. Với hậu quả này, thì việc tuyên một án tù lâu năm như vậy đối với một thanh niên 24 tuổi quả là quá nặng!

Cũng theo thông tin báo chí thì sở dĩ bị cáo Nghĩa bị phạt nặng như vậy vì nạn nhân là thầy giáo của Nghĩa. Và điều này được tòa án coi là tình tiết tăng nặng.

Mình cho rằng tình tiết tăng nặng này không thuyết phục.

Vì nạn nhân là thầy giáo của Nghĩa nên ngoài việc phải thi hành một bản án công bằng của pháp luật, bị cáo sẽ chịu sự lên án của dư luận về hành vi phi đạo đức ấy của mình. Người viết bài này cũng cho rằng hành vi phi đạo đức của Nghĩa cần phải được dư luận lên án mạnh mẽ.

Nhưng dù dư luận có lên án mạnh mẽ thế nào thì việc xét xử của tòa án  không thể bị chi phối bởi các vấn đề về đạo đức nếu chúng không được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật. Các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ không thể tùy thuộc vào các phán xét về đạo đức của ông quan tòa hay dư luận của người này người khác mà phải được quy định một cách rõ ràng trong các bộ luật. Trong trường hợp này, theo thiển ý của người viết bài này, nếu nạn nhân là trẻ em thì đó có thể là tình tiết tăng nặng nếu căn cứ thêm vào các quy định luật pháp về bảo vệ trẻ em.

Còn việc nạn nhân là thầy giáo thì chưa thể được coi là tình tiết để tăng nặng hình phạt vì pháp luật chưa quy định. Mặc dù rất kính trọng các thầy cô giáo và ngay trong gia đình mình, bố mẹ và nhiều người thân khác cũng là các thầy cô giáo, và ngày mai là ngày của các nhà giáo VN, mình cũng vẫn xin được nói thẳng như vậy.

Thế thì có tình tiết nào giảm nhẹ không?

Theo thông tin trên báo chí thì nạn nhân là ông thầy dạy môn Kinh tế chính trị và đã “công bố trước lớp của Nghĩa về việc sẽ chấm điểm “chặt”, sinh viên nghỉ học không lý do sẽ không được thi hết môn. Với 3 buổi nghỉ học, Nghĩa hiểu sẽ không được dự thi hết môn nên tức tối và nảy sinh ý định trả thù…”

Nếu ai đã từng học đại học thì sẽ thấy cái môn “Kinh tế chính trị” là một trong những môn học tẻ nhạt nhất. Hơn nữa, những môn này hầu như không có một chút áp dụng thực tiễn nào trong quá trình học cũng như khi đã tốt nghiệp rồi đi làm.

Thế nhưng nhiều môn học vô bổ như vậy lại là những môn học bắt buộc phải thi đạt yêu cầu thì mới lấy được bằng đại học ở tất cả các trường đại học ở nước ta, bất kể thuộc chuyên ngành nào. (*)

Mình cũng biết có những ông thầy dạy những môn này, do cũng thấu hiểu cái tình cảnh ấy nên cũng tìm cách này hay cách khác để thả lỏng cho sinh viên “qua” hết các môn ấy. Riêng chuyện này thì mình đánh giá rất cao những ông thầy ấy về sự thức thời của họ. Sinh viên cũng rất quý trọng các ông thầy này theo tinh thần “vẫn tôn sư dù không trọng đạo”.

Nhưng cũng có những ông thầy biết mấy cái môn mình dạy ấy chẳng được sinh viên coi trọng lắm thì lại càng “chặt chém” sinh viên “tàn bạo” hơn, siết chặt hơn việc thi cử để sinh viên phải thấy được “tầm quan trọng” của những môn học ấy.

Mình nghĩ nếu có tình tiết nào có thể giảm nhẹ tội cho bị cáo trong vụ án này thì đó chính là tình tiết trên, mặc dù vẫn biết rằng chẳng có ông quan tòa nào dám lấy đó làm tình tiết giảm nhẹ.

Nhưng nếu mình là ông thầy ấy – là nạn nhân chỉ bị thương tổn 15% sức khỏe trong vụ án này thì mình sẽ làm đơn xin giảm nhẹ tội cho Nghĩa!

Bởi nếu chỉ vì cái địa vị là “thầy” của mình – cái địa vị trở thành “tình tiết tăng nặng” của vụ án – mà làm cho học trò của mình phải chịu một mức án tù nặng tới 20 năm như trong hoàn cảnh  này thì  đó cũng chẳng khác gì một hòn đá sẽ đè nặng lên trái tim mình trong từng ấy năm!


BLOG HÀ HIỂN

21/11/2013  
Hà Hiển

 Cử tri: Bệnh viện thì quá tải, y đức xuống cấp trầm trọng, trẻ em vừa tiêm văc xin xong thì chết, các phòng mạch tư không ai quản lý, bác sĩ thì vứt xác bệnh nhân xuống sông, bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế nhưng không có phong bì thì bị phân biệt đối xử….

Bộ Y:  Thôi, xin các vị, biết rồi khổ lắm nói mãi, ngành nào cũng xuống cấp cả, xin quý vị bao dung cho ngành y chúng tôi!

Cử tri: Chặt phá rừng bừa bãi, xây thủy điện tràn lan rồi xả lũ vào dân, các ông tính sao đây?

Bộ Công: Thì biết tính sao bây giờ. Tất cả là tại chúng ta. Xin cử tri bao dung cho chúng ta, trong đó có chính quý vị!

Cử tri:  Công sai thì tra tấn bức cung, án oan sai nhiều quá!

Bộ Hình: Điều tra viên nước Vệ được khen là giỏi nhất thế giới đấy!  Tại sao các vị không thông cảm và bao dung?

Cử tri: Chương trình giáo dục thì lạc hậu so với thế giới, thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò, rồi nạn “học giả bằng thật”…

Bộ Học: Chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục. Xin quý vị hai chữ bao dung.

Cử tri: Mỗi năm hàng chục ngàn người chết vì tai nạn giao thông, đường sá xệp xệ, vừa làm xong đã hỏng, phương tiện cứ gặp nhau lại mất lái hoặc mất phanh rồi đâm sầm vào nhau,  rồi mấy ông lãnh đạo đăng kiểm thì bị tố ăn hối lộ, thực hư thế nào?

Bộ Thông: Chúng tôi đang phối hợp với các bộ các ngành để giải quyết. Còn nếu chưa giải quyết được thì mong quý vị thông cảm, xin bao dung cho ngành giao thông rồi tăng cường cầu siêu cho các nạn nhân.

Cử tri: Tình trạng chạy chức chạy quyền không thuyên giảm. Cán bộ nhà nước thì vô cảm hoặc xách nhiễu dân, một số lớn công chức không chịu làm việc, sáng cắp ô đi tối cắp ô về …

Bộ Nội: Khổ lắm! Những vấn đề này rất nhạy cảm! Xin quý vị đưa ra bằng chứng chúng tôi sẽ xử lý ngay! Còn nếu không thì lại xin các vị hai chữ bao dung.

Cử tri:  Pháp luật về đất đai thì lạc hậu, cán bộ thì tham nhũng tiếp tay cho tư thương cướp đất của dân, tập đoàn kinh tế nhà nước thì gây thất thoát tiền của nhân dân…

Chủ xị (cắt ngang) : Thôi thôi. Không cần phải phát biểu gì thêm nữa. Biết rồi khổ lắm nói mãi! Tóm lại vấn đề chỉ là thế này thôi: ngành nào cũng cần phải được bao dung! Nhân dân chúng ta thì rất bao dung, cần phải phát huy hơn nữa tinh thần bao dung này, đưa nó lên một tầm cao mới. Đấy là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề.

Cử tri: Vâng, thần dân chúng con sẽ cố gắng bao dung hết sức. Nhưng chúng con phải tiếp tục bao dung như thế này đến bao giờ ạ?

Thái Thượng hoàng: Thì ta đã nói rồi đấy thôi! Không biết đến hết thế kỷ này chúng ta có hoàn thiện hay không. Đề nghị các ngươi tiếp tục thấm nhuần và kiên định tinh thần bao dung và giáo dục các thế hệ con cháu các ngươi trường kỳ bao dung cho, phải chăng cũng phải vài trăm năm nữa?

Blog Quê Choa
Ngụy biện ác tàn

Hà Văn Thịnh

40 người chết và mất tích, 243.000 nhà dân bị lũ cuốn trôi hoặc bị hư hỏng, 3.000 ha lúa và hoa màu bị phá hủy (NLĐ, 18.11.2013)…, chỉ mới là những con số thiệt hại sơ bộ do cơn lũ (thiên tai thì ít) và do con người (nhân tai thì nhiều) xả nước vô cảm, vô nhân… Vậy mà, các quan chức cứ đổ lỗi vòng quanh, tìm mọi cách để lấp liếm sự thật. Chưa hề thấy một chút xót xa, đồng cảm với nỗi đau của người dân một chút gọi là. Chưa bao giờ và chưa thấy ở đâu có những quan chức “vì dân” tệ hại và ác tàn như thế!

Ngụy biện 1

Họ cho rằng lập ra hàng trăm đập thủy điện là có quyết sách từ cấp cao nhất nên bên dưới (các bộ, ngành, địa phương) không hề sai. Nếu thế, người dân biết trông chờ vào ai, vào đâu khi phải chết oan chết uổng, khi phải màn trời chiếu đất, khi phải mất trắng cả đàn gia súc, gia cầm, ruộng lúa, đồng khoai? Việc phải dừng hàng trăm dự án thủy điện chỉ nói lên cái đúng một phần của sức ép dư luận nhưng cái cơ bản nhất chính là: Nó làm tòe loe những bộ mặt, “kế hoạch”, “tầm nhìn” vừa dốt, vừa tham của đủ loại quan chức đang cầm cân nẩy mực làm cho xã hội, tương lai của đất nước, giống nòi điêu tàn, đau đớn.

Ngụy biện 2

Cái gọi là “điều tiết” trong những trận lũ hồi tháng 9 và mới đây được các cơ quan “chức năng” lý giải là do thiên nhiên, “nếu không xả thì thiệt hại sẽ nặng hơn”… chỉ là sự ngụy biện trơ tráo. Thử hỏi, khi thi công bất kỳ công trình liên quan đến tác động của tự nhiên nào (kể cả nhà ở) có tính đủ, tính đúng đến sức nước, sức gió, động đất hay không? Tính sai, tính qua loa, tính kém, tính tiền là tính chính nên mới gây ra các tai họa liên tiếp như thế. Mặt khác, trong điều kiện người dân thiếu thông tin (mất điện, không biết mở đài, mở TV giờ nào; trong khi lại xả lũ giữa đêm, ngay cả khi không mưa…). Tại sao không thể điều 5-10 chiếc trực thăng phát loa đến tận xóm làng? Không có bão nên không thể đổ thừa cho bão là không bay được; còn, tốn kém vài tỷ đồng tiền xăng dầu, chi phí cho mấy chuyến bay chẳng lẽ là việc không thể làm được sao?

Ngụy biện 3

50.000 ha hay hàng trăm ngàn ha rừng bị tàn phá chủ yếu là do “mượn” thủy điện để ăn cướp tài nguyên rừng vô tội vạ. Có mùa lũ nào mà dân bị lũ không vớt được hàng ngàn m3 gỗ trôi từ phía các đập thủy điện trôi về? Chuyện đâu phải chỉ năm nay mà nhiều năm trước đã có rồi. Đã có ai, cơ quan nào chịu trách nhiệm hay chưa? Chẳng lẽ gỗ nó tự đứt, tự trôi?

Ngụy biện 4

Thủy điện được coi là nguồn điện năng rẻ nhất nhưng đầu tư càng nhiều thì giá điện lại càng… tăng? Nếu tính chi li từ các khoản tăng giá điện và các khoản nợ (mỗi người dân phải gánh vài triệu đồng cho các dự án) thì ngành điện đang ăn nên làm ra từ nỗi đau của hàng triệu con người. Thử thống kê xem có nước nào trên thế giới có chuyện cười ra nước mắt vậy không?

Ngụy biện 5

Nếu tính đủ các thông số bão, lũ từ hàng trăm năm qua sẽ không có chuyện các đập thủy điện không chịu được sức ép của lũ. Đập xây cao, xây chắc thì tốn kém về đầu tư, chậm thu hồi vốn. Vả lại, mục đích phá rừng, ăn bớt vật liệu là chính nên chỉ cần mưa nhiều hơn một chút là đua nhau xả lũ ầm ầm. Không có một cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm nên bây giờ mới mất bò, lo chuồng, thành lập vội vàng Ban điều hành… Hãy xem thông báo sau đây của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương thì biết rõ ngay rằng chẳng có biến động thời tiết nào phức tạp cả, vậy mà dân vẫn chết oan thì mới thấy đau và nhục đến mức nào! 

NHẬN ĐỊNH XU THẾ THỜI TIẾT THÁNG 11 NĂM 2013 CÁC KHU VỰC TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC: Lượng mưa tại các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ với TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa dao động trong khoảng từ -20% đến 20% so với TBNN cùng thời kỳ. Các tỉnh Nam Trung Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa thấp hơn từ 20% đến 40% so với TBNN.

Những người phụ trách các đập thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi cuộc sống, sinh mạng của người dân như cỏ rác phải bồi thường và phải bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc. Những cơ quan lập ra dự án, tạo ra vô số tai ương cho đất nước cũng phải chịu trách nhiệm tương tự. Không thể có một đất nước mà mọi sai lầm đều đổ hết lên đầu dân còn quan chức cứ cò cưa ngụy biện vòng quanh, ngang nhiên ve vẩy những nụ cười thỏa mãn vô lương. Việc UBNN Phường Thủy Châu, TX Thủy Xuân, TTH ăn chơi, nhảy múa chỉ là “một con sâu” bị báo chí bắt gặp trong khi hàng đàn sâu khác đang tung tăng bơi cùng dòng nước lũ! Chợt nhớ đến sự thật xót xa hồi nào nay vẫn còn nóng hổi: Năm nay có lẽ cán bộ ăn tết to hơn vì có bão lụt!...

Huế, 7h00, 19.11.2013.

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả


Lê Diễn Đức - Tiếng kêu từ đại hồng thuỷ miền Trung


Lê Diễn Đức - 

Vị thế địa lý đã mang lại cho miền Trung Việt Nam nhiều bất hạnh. Như cơ thể oằn lưng hứng mọi cơn bão từ biển Đông tràn vào, năm này qua năm khác.


Miền Trung lại là xứ nghèo, thiên nhiên chẳng ưu đãi gì nhiều về vật chất. Kiếp nghèo lại nghèo thêm vì thiên tai. Nhưng "nhân tai" từ mấy năm nay cũng tạo ra nhiều bi kịch.

"Sự phát triển ồ ạt của các nhà máy thủy điện tại miền Trung đã bắt đầu có những tác động tiêu cực đến môi trường, dân sinh... Suốt dọc các tỉnh miền Trung, ở đâu cũng thấy những “túi nước” khổng lồ có thể “dội” vào đầu hàng triệu người dân bất kỳ lúc nào, nhất là mùa mưa, lũ. Ðiển hình là 4 tỉnh gồm Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, Kontum và Ðắc Nông có gần 150 dự án thủy điện lớn nhỏ đã, đang và sẽ triển khai, tờ Tin Mới Online ngày 9/9/2011 viết.

Báo Mới nói ông Lê La Sơn, chi cục trưởng Chi Cục Thủy Lợi Quảng Trị phát biểu rằng, “Tôi thấy, cứ ở đâu có nhà máy thủy điện là người dân đều khổ. Ðó là người dân mất đất, nhà nước mất rừng. Ðời sống nơi tái định cư thiếu thốn đủ thứ, kể cả điện chiếu sáng. Trong khi đó, cứ đến mùa mưa lũ thì chính họ cũng là người hứng chịu những ‘túi nước’ do chính các nhà máy thủy điện xả xuống”.

Năm ngoái đã có vài đập chắn thủy điện bị vỡ cuốn trôi hàng chục tấn hoa màu, thiệt hại khoảng hàng chục tỷ đồng.

Trong lúc bão lụt ở Philippines hàng ngàn người chết, hàng triệu người bơ vơ không nhà cửa, không còn điều kiện sinh sống, các chiến dịch cứu trợ được phát động trên thế giới, thì ở miền Trung Việt Nam cũng ngập tràn trong cơn đại hồng thuỷ.

Tính đến hết ngày 16/11, tại 6 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã phải gánh chịu cơn áp suất thấp nhiệt đới, hậu bão số 15, tạo nên trận lũ lịch sử từ trước đến nay, làm 41 người chết, 5 người mất tích, hàng trăm ngàn ngôi nhà bị nhấn chìm, giao thông chia cắt...

Bài "Ai chịu trách nhiệm về việc xả lũ vào dân?" trên tờ Đất Việt Online ngày 18/11/2013, mô tả cảnh màn trời, chiếu nước của dân chúng miền Trung: "thương thay miền Trung, vừa thoát bão thì nay lại lũ ập xuống đầu...".

Tờ báo cũng cho hay, nguyên do mà trong đó "phần chính là nước từ 15 hồ thủy điện đồng loạt xả tràn" và đặt câu hỏi "Chết người, mất tài sản, ai phải chịu trách nhiệm?".

Ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Gia Lai đã khẳng định "các hồ chứa nước thủy điện xả lũ mà báo trước quá gấp nên dân trở tay không kịp, nhiều gia đình chỉ kịp chạy tháo thân mà không kịp mang theo gì, tất cả tài sản bị nhấn chìm dưới nước".

Trong cuộc chất vấn tại Quốc hội ngày 19/11, đại biểu Nguyễn Văn Phúc nhắc lại thực tế, khi kỳ họp khai mạc, người dân miền Trung đang phải đối phó với bão lũ và giờ phút này "bà con ở Nam Trung Bộ đang khốn khổ vì ngập lụt".

"Không thể chấp nhận được việc xả lũ mà chính quyền địa phương và người dân không biết. Phải điều tra, xử lý hình sự, không thể để hàng chục người chết như thế, bao nhiêu tài sản bị thiệt hại mà không ai bị xử lý", ông Phúc nói, và thẳng thắn và đề nghị cần điều tra, xử lý nghiêm các vụ phá rừng và làm nhà tránh lũ cho người dân.

Còn ông Đỗ Văn Đương xót xa, khi Quốc hội ngồi họp thì đồng bào miền Trung ngập tràn trong lũ, được cho là do thủy điện gây ra, mong chờ câu trả lời từ Bộ trưởng Công thương. Thế nhưng, lỗi được Bộ Công thương đá qua cho Bộ Nông nghiệp. Cấp Bộ đổ lỗi cho cấp địa phương phê duyệt quy hoạch, nhưng cấp địa phương lại phản pháo cho rằng không lãnh đạo địa phương nào dám đặt bút ký quy hoạch thủy điện của địa phương mình nếu không có sự đồng thuận của Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Cả hệ thống chính trị vô cảm và hững hờ trước cảnh nước lũ mênh mông nhấn chìm nhà cửa, dân chúng bồng bế nhau di tản, "rối ren như kiến chạy mưa".

Không thấy một cán bộ cao cấp nào tới hiện trường quan sát vào lúc lũ tràn. Không trực thăng, tàu thuyền, xe lội nước cứu trợ, những thứ mà trong cuộc diễn tập chống "tụ tập đông người" chống nhân dân đã có đầy đủ. Dân chúng chỉ còn biết tự thân chịu đựng, nỗ lực chống lại cái chết, đói và cầu nguyện may mắn.

Tôi vẫn nhớ trận lụt năm 2010 tại Ba Lan, vào tháng 8, khi các đại biểu quốc hội Ba Lan trong mùa nghỉ phép đã đi nghỉ ở khắp nơi trên thế giới. Những nhân viên các câu lạc bộ của quốc hội đã gọi điện thoại gọi từng người một, thậm chí cả từ những nơi xa tận Á Châu như Thái Lan, đề nghị họ trở về Ba Lan để họp thông qua một đạo luật đặc biệt nhằm khắc phục hậu quả lụt và giúp đỡ người bị thiệt hại vì lụt.

Nghĩ đến đồng bào đang gặp khó khăn, cùng với tinh thần trách nhiệm của một người đại biểu khi dân cần đến, các đại biểu đã quy tụ về thủ đô đủ cơ số để bỏ phiếu.

Ấy là vì Ba Lan là nước dân chủ, quốc hội do dân lựa chọn trực tiếp qua bầu cử tự do. Bất kỳ sự sao nhãng, tắc trách nào cũng đồng nghĩa với việc mất đi lá phiếu của người dân trong kỳ bầu cử tiếp theo. Quyền lực do dân tạo dựng và vì quyền lợi của dân, cơ quan đại diện là quốc hội phải gánh vác kịp thời vào những lúc cần thiết.

Ở Việt Nam hiện nay, quốc hội được xem là cơ quan quyền lực cao nhất, đều do đảng cử, dân bầu (lấy lệ), chỉ làm một việc duy nhất là hợp thức hoá, hành chính hoá các quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

Toàn bộ thực quyền nằm trong tay một nhóm lãnh đạo của ĐCSVN, họ vung tay phê duyệt các quy hoạch ở cấp Bộ, nơi mà lẽ ra phải có những người trách nhiệm kiểm tra chấn chỉnh hoạt động của thủy điện tại các địa phương. Thế nhưng, cùng trong băng nhóm lợi ích, trung ương và địa phương đã ngoắc nhau trục lợi. Chẳng cần phải tính đền tầm dài hạn của một dự án, những hệ lụy nghiêm trọng của nó với môi trường và cuộc sống an lành của dân chúng.

Văn hoá từ chức là sự xa xỉ, thậm chí chưa bao giờ có, của hệ thống chính trị hiện hành. Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tự khen mình chưa kỷ luật ai, còn ông Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói kỷ luật hết thì lấy ai làm việc. Vả lại, nếu hiếm hoi xảy ra với một vài Bộ trưởng, thì cũng chỉ là hình thức, bởi vì những người đứng đầu nhà nước, quốc hội, chính phủ vẫn nguyên vẹn. Vị trí của họ do ĐCSVN ấn định, có cần dân bầu bán gì đâu. Cái ghế của họ chẳng hề suy chuyển và có khi còn tiếp tục cao hơn nữa. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc trong điều hành quản lý. Vô trách nhiệm trở thành chuyện thường ngày, chẳng gây ra ảnh hưởng gì đáng kể. Mấy chục người đã chết và bao nhiêu người mất tích, sẽ chẳng có ai kết luận vì sao họ chết và trách nhiệm tại ai?

Tờ báo Đất Việt bức xúc:

"Thật sợ hãi biết bao khi trước những tai họa mà người dân đang hàng ngày gánh chịu, những người chịu trách nhiệm là đại-biểu-của-dân, để bảo vệ quyền lợi của dân lại im lặng, thờ ơ, vô cảm thế này.

Sự thờ ơ, nín câm, vô cảm này đang gây ra “nhân tai” cho chính chúng ta, và cái thứ “nhân tai” này mới đáng sợ làm sao, ghê rợn hơn nhiều “thiên tai” khi nó đến từ sự dốt nát và lạnh lùng của chính con người".
   
Sự bức xúc của tờ Đất Việt chỉ đúng một phần. Xả lũ không thèm báo trước, gây nên cái chết cho hàng chục người là một tội ác tàn nhẫn, là tội phạm hình sự. Không mấy khó khăn để xác định ai là người ra lệnh, ai là người thực hiện mệnh lệnh. Phải đưa họ ra trước toà án và phải bồi thường thiệt hại về người và của cho dân chúng, nếu như còn có một cái gì đó được gọi là luật pháp.

Ở đây cần nhấn mạnh rằng, không phải là "sự dốt nát và lạnh lùng" của những con người cụ thể, như tờ báo viết, mà là hậu quả đau lòng tất yếu từ hệ thống chính trị. Một hệ thống mà trong đó, quyền và tiền đã làm mờ ảo, bất chấp mọi giá trị nhân văn. Còn hệ thống chính trị này, dân nghèo còn khổ và không bao giờ hết được cảnh "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" và còn chịu đựng cả thiên tai và "nhân tai".

Mất mùa bởi tại thiên tai
Chết người cũng bởi... "thiên tài" đảng ta!

Nhưng đáng buồn hơn là không hề thấy sự phản kháng nào của người dân. Có vẻ như mọi thứ chỉ dừng lại ở sự ca thán, bực dọc, phẫn nộ. Tinh thần phản kháng đã tắt lịm trong nỗi thống khổ bị đè nén hàng chục năm và sự cam chịu của thân phận nô lệ. Dường như người nông dân lao động không hiểu thế nào là hạnh phúc và công bằng xã hội. Tiếng kêu của họ từ cơn hồng thuỷ chỉ vọng vào đêm tối của lợi ích quyền-tiền, nơi mà lũ ma quỷ mang mặt người thi nhau nhảy múa.

© Lê Diễn Đức – RFA


Người Buôn Gió - Đại Vệ Chí Dị - Tinh hoa khế ước



Người Buôn Gió - 


Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 68.

Mùa đông năm ấy, họp dân biểu ở kinh thành. Đại thần tổng quản nghị trường là Sanh Hường chủ trì đại hội dân biểu.


Trước ngày đại hội dân biểu, Vệ Kính Vương tâm tính bất an, lo lắng việc ban bố khế ước lấy ý kiến trong dân không được ủng hộ trong bá tính như mong đợi. Vương mới gọi Sanh Hùng vào phủ nói.

- Đại hội lần này, làm sao phải cho dân biểu nhất trí trăm phần trăm bản khế ước đất nước mà vừa rồi bản vương soạn.

Sanh Hường thưa.

- Bẩm vương, trước hết phải để dư luận lạc hướng, xin vời đại thần tuyên huấn cùng hợp tác. Về phần thần, thần sẽ bỏ phần bàn thảo khế ước tại hội nghị để giảm bớt sự chú ý, cũng là không cho kẻ nào phản đối có điều kiện mở mồm. Thần sẽ cho chúng viết ý kiến bỏ vào hòm, chả ai biết chúng ý kiến gì mà bàn. Rồi ta cứ bảo đa số đồng tình, một số ít có ý kiến khác.

Vương gọi Đường Hoang đến. Đường Hoang mặt lưỡi cày, mắt diều dâu, miệng mỏng dính. Xưa làm báo chí chuyên thêu dệt chuyên hoang đường, khiến dân chúng mụ mị, một lòng chỉ biết tin vào nhà Sản vì thế thiên hạ gọi y là Đường Hoang. Xét công ấy cả triều nhất trí cho Đường Hoang vào hàng đại thần. Hoang  vốn là thủ túc tin cậy của Vương, cùng dòng múa mép ăn tiền, hay còn gọi là tuyên giáo. Hoang vào phủ Vương, nghe qua câu chuyện đang bàn, nhếch mép cười nói.

- Chuyện này nhỏ, dân xứ Vệ phàm hiếu kỳ. Thần bây lâu coi nghề này đã phân loại. Loại một phần đông là thích cướp giết hiếp. Loại thứ hai là quan tâm tới phát ngôn , hành động khác lạ của quan lại triều đình. Giờ có hai miếng mồi ấy tung ra, bá tính mải mê hút vào đó. Bẵng chuyện khế ước đi, đến ngày đó đại thần Sanh Hùng chỉ cần đọc giới thiệu khế ước xong. Hô một tiếng toàn dân nhất trí, tức khắc mọi việc đâu vào đó.

Vương nghe lời nói cứng, bụng vững tâm, nói như trút gánh nặng ngàn cân.

- Chuyện này mong cả vào hai vị. Nhà Sản còn tồn tại với non sông quế nguyệt hay không là nhờ vào tài năng của hai vị lúc lúc này mà thôi.

Đường Hoang về phủ, gọi bầy tôi tâm phúc là Ba Sòn lại bảo như vầy...như vầy.

Ba Sòn vâng dạ liên tục. Trở về bộ tuyên truyền. Ba  Sòn nhân chuyện bác sĩ vất xác bệnh nhân xuống sông chưa tìm thấy, hàng này cho đưa tin chuyện ấy, cứ cách ba ngày lại giật một tin tìm thấy xác trên sông, thiên hạ xúm vào lại thông báo là không phải. May nhờ ơn tiên đế phù hộ mà độ ấy xác người Vệ bỗng nhiên chết trôi sông cũng nhiều, chưa đầy một tháng mà có đến 8 cái xác người Vệ trôi sông không rõ lý do. Dân chúng chúi đầu nín thở nghe ngóng xem xác ai. Xểnh lúc xác người trôi sông chưa thấy cái mới, trời đổ mưa, đập nước xả lũ bất ngờ làm trôi bao nhiêu nhà cửa hoa màu, chết thêm mấy chục mạng... Sòn nhờ thế mà làm ăn thuận lợi , tin tức liên miên người chết trôi sông, trôi lũ lềnh phềnh nhan nhản trên mặt báo. Đã thế lại còn mấy vụ giết nhau vì tình, tiền cực kỳ man rợ. Như có kẻ thấy con vịt nhà hàng xóm định bắt về làm mồi nhậu, bị hai đứa bé nhà nọ phát hiệt, bèn lấy cuốc bổ cho mỗi đứa bé mấy nhát vào đầu. Chưa hết trai gái yêu nhau, thấy gia đình ngăn cản là cùng nhau quyên sinh, nặng hơn là rút dao đâm cho người yêu mấy nhát rồi cắt cổ mình tự vẫn... dân tình loại một đọc tin xong rùng mình ngẫm- đến cái mạng mình còn không biết nay sống mai chết thế nào, hồn vía lên mây, chuyện sinh tử sờ sờ trước mắt hàng ngày. Ra đường xe cán chết, tránh được xe cán thì gặp công sai lúc quan quân bực mình cũng bị đánh chết...cái chết cận kề thế. Đứa dân nào hồn phách đâu mà còn nghĩ chuyện khế ước đất nước ra sao.

Sòn thấy dư luận quần chúng nhân dân cũng đã xa rời việc khế ước, vào phủ yết kiến Đường Hoang tấu trình công việc. Đường Hoang đọc tấu và những tin tức Sòn đưa hài lòng ra mặt. Hoang nói.

- Giờ bọn này tạm ổn, mai kia đến ngày đó, lúc phiên ngươi ra đối chất với dân biểu, phải nói những lời kỳ lạ.  Cứ nói thoải mái, đại thần chủ trì hội nghị sẽ làm ngơ cho ngươi.

Ba Sòn về nghiền ngẫm binh thư, đến đoạn người nước Sở bán mâu, gặp khách hỏi mua mâu, người Sở nói.

- Cái mâu này đâm cái gì cũng thủng.

Bữa sau có người đến hỏi mua thuẫn. Người Sở nói.

- Cái thuẫn này không cái gì đâm thủng.

Sòn lấy làm khoái trá, định dùng kế này để ra dân biểu nói. Nhưng vẫn còn hơi e ngại, mới gọi thuộc hạ vào để bàn xem có nói được vậy mà thiên hạ nghe không. Nhất là Đường Hoang có không làm khó dễ không. Thuộc hạ nói.

- Ngài chẳng phải ngại ngần, chuyện này trước kia có quan thượng thư Võ Linh đã nói khi người ta hỏi về chuyện giá cả chất đốt. Lúc đó Võ Linh nói đại khái rằng - khi giá bên ngoài giảm thì cần trích quỹ bình ổn, khi giá bên ngoài tăng thì trích quỹ ổn bình. Bởi vậy chất đốt bên ngoài giảm mà bên trong chúng ta chưa giảm là thế- Nhờ nói thế mà sau này Võ Linh làm phó tể tướng.  Nước Vệ này đâu phải mình ngài làm chuyện ấy đâu mà sợ. Như Vệ Kính Vương đang ngồi ngôi báu đó, lúc trước còn nói chuyện biển đảo là không phải chỉ biển đảo, nói biển đảo là nói cái ngoài biển đảo, trong cái ngoài biển đảo còn có cái bên trong của biển đảo. Ai cũng khen Vương lý luận tài. Còn chuyện Bạo tể tướng nói với bá tánh rằng ngài yêu sự thật, ghét sự giả dối, thích sự ngay thẳng, mến người thẳng ngay....chuyện nói thế này đến Vương, Tể Tướng , Phó Tể Tướng còn nói ...ngài đã ăn thua gì mà lo.

Sòn nghe thấy thủ hạ nói bụng cũng xuôi, chợt Sòn nhận ra điều gì, vỗ đùi hét.

- Chẳng phải Sanh Hường khi xưa làm phó tể tướng cũng nói rằng- nếu tôi có tiền tôi dốc hết mua chứng khoán lúc này sao.? Sau đó chứng khoán xuống thê thảm, có ai nói gì đâu nhỉ.? Có thế mà ta không nghĩ ra.

Đến phiên dân biểu chất vấn Sòn. Hỏi đến chuyện tăng giá thư báo, viễn thông. Sòn liếc mắt lên phía trên nhìn Sanh Hùng rồi nói.

- Tăng giá là để cạnh tranh lành mạnh, tăng giá thì là tăng ngân sách cho nước nhà. Có chi đâu mà lạ.

Thiên hạ ngã bổ chửng, sau nhỏm dậy ngơ ngác không hiểu Sòn nói gì. Tranh cãi rầm rộ. Bấy giờ sau màn trong Vệ Kính Vương theo dõi cuộc chất vấn đang mỉm cười đắc chí, Vương quay sang nói với Đường Hoang.

- Giờ chỉ còn phần việc kết thúc của đại thần Sanh Hùng mà thôi.  Nhà Sản ta lại bền vững muôn đời.

Đại hội dân biểu năm ấy nhà Sản thành công tốt đẹp, tuyệt đại đa số đều coi bản khế ước do Vương soạn ra là tinh hoa của nhân loại và nhất trí đồng tình. 

Lời bàn ; Một số kẻ hủ nho chế giễu rằng bản khế ước đấy không xứng đáng gọi là tinh hoa. Thật là biết một mà không biết hai. Ngay cái cách đưa khế ước ra dẫn dụ toàn dân chúng nhất trí nghe theo, đó chẳng phải là tinh hoa rồi sao.?


Hoàng Ngọc-Tuấn - “Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là cái quái gì vậy?


Hoàng Ngọc-Tuấn -  
Ngày 23/10/2013 vừa rồi, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố trước Quốc Hội:“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” Câu nói của ông Trọng đã gây nên một làn sóng dư luận đầy phẫn nộ và chua chát, bởi nó hàm ý rằng nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu đựng và hy sinh “tất cả vì chủ nghĩa xã hội” thêm một trăm năm nữa, thậm chí đến lúc đó thì cũng chưa chắc đã có kết quả gì!
http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/576098/du-thao-chua-vang-vong-nhu-loi-hieu-trieu.html

Ngay sau khi đọc câu nói đó của ông Trọng trên báo
 Tuổi Trẻ, tôi không thể nín cười, vì thấy cái trò hứa hẹn hão của Đảng CSVN giờ đây đã đi tới mức tận cùng của sự lố bịch.
“Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là cái quái gì vậy?
Nó chưa từng có trên đời này, nên chẳng ai có thể biết nó là cái quái gì, ngoại trừ những hình ảnh do Marx và Engels tưởng tượng và viết ra trong mấy cuốn sách cách đây gần hai thế kỷ. Tuy nhiên, có lẽ cho đến nay đại đa số người trên thế giới đều đã biết rõ rằng những hình ảnh tưởng tượng đó đã làm tiêu phí hàng trăm triệu sinh mạng trong nhân loại.
Từ những năm 20 của thế kỷ trước, Stalin đã không ngừng hứa hẹn với nhân dân Liên Xô về những hình ảnh của một “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” trong tưởng tượng; và để biến những hình ảnh tưởng tượng đó thành hiện thực, Stalin đã tịch thu tài sản, ruộng đất của hàng chục triệu người, đã bắt bớ, giam cầm, đày ải hàng chục triệu người, đã giết hàng chục triệu người, và đã đẩy gần 170 triệu người vào một cuộc sống khốn cùng. Sau khi Stalin chết (1953), Nikita Khrushchev lên thay thế và tiết lộ một phần của những tội ác ngút trời của Stalin, nhưng chính Khrushchev vẫn tiếp tục hứa hẹn với nhân dân Liên Xô về một “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”. Rồi cứ thế, các lãnh tụ tiếp theo vẫn tiếp tục lải nhải cái điệp khúc “xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” cho đến khi Liên Xô hoàn toàn sụp đổ vào năm 1991.
Ở Trung Quốc cũng vậy. Suốt hơn 60 năm nay, nhân dân Trung Quốc vẫn phải luôn luôn nghe cái điệp khúc “xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”, và chỉ riêng dưới thời Mao Trạch Đông thì đã có gần 70 triệu người phải chết oan để lót đường cho cái “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” ấy. Và đến bây giờ thì Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn cho rằng Trung Quốc chỉ mới xây dựng “những bước đầu tiên” của “chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là chưa biết đến chừng nào mới có được một cái gọi là “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”!
Không chỉ ở những nước lớn như Liên Xô hay Trung Quốc, mà cả ở một nước cộng sản nhỏ bé và nghèo đói triền miên, như Cuba chẳng hạn, nhân dân cũng phải luôn luôn nghe cái điệp khúc quái ác đó. Trước khi Liên Xô sụp đổ, Chủ tịch Fidel Castro của Cuba vừa không ngừng ngửa tay nhận viện trợ của Liên Xô, vừa không ngừng gáy vang cái khẩu hiệu “xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”, làm ra vẻ như đó không phải một ảo ảnh, nhưng là một thực tế trước mắt, dù năm 1970 ông ta đã phải thú nhận sự thất bại thảm hại về kinh tế của Cuba. Thế rồi, năm 1991 Liên Xô sụp đổ, và chỉ 2 năm sau đó, chính Fidel Castro lại tuyên bố vào ngày 26/7/1993: “Hôm nay chúng ta không thể nói về cái chủ nghĩa xã hội tinh tuyền, lý tưởng, hoàn thiện mà chúng ta mơ ước, bởi vì cuộc sống bắt buộc chúng ta phải thoái bộ.”
Thì ra, khi Cuba còn nhận viện trợ của Liên Xô thì Fidel Castro làm ra vẻ như cái “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” đang trở thành hiện thực, nhưng khi Liên Xô sụp đổ và Cuba bắt đầu đói, thì cái “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” ấy lại chỉ còn là một… giấc mơ!
Một năm sau đó, năm 1994, Cuba bắt đầu lâm vào cảnh khốn đốn. Em ruột của Fidel là Raúl Castro, lúc đó là bộ trưởng quốc phòng, tuyên bố: “Sự đe doạ chính yếu không phải là những khẩu súng của Mỹ, mà là những hạt đậu — những hạt đậu mà dân Cuba không thể có để ăn”.
A ha, khi đói thì cũng phải dẹp luôn cả cái giấc mơ “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”! Nhưng ai đã đẩy dân Cuba vào cảnh khốn cùng, không có đậu để ăn? Tất nhiên Fidel và Raúl Castro cũng như toàn Đảng không hề thú nhận rằng chính họ là thủ phạm. Họ đổ lỗi cho một thủ phạm vô cùng mơ hồ: thủ phạm đó là… “cuộc sống”, như lời tuyên bố của Fidel năm 1993: “… cuộc sống bắt buộc chúng ta phải thoái bộ.”
Sau đó, tình trạng kinh tế của Cuba càng lúc càng trở nên tệ hại, và đến năm 2008 thì Fidel Castro… chạy làng, nhường ghế Chủ tịch lại cho Raúl Castro. Tháng 12/2010, Raúl Castro tuyên bố trước Quốc Hội: “Chúng ta đang dẫm bước lên một con đường mà con đường đó chạy dọc theo một bờ vực thẳm; chúng ta phải chỉnh đốn lại tình trạng này ngay bây giờ, nếu không thì quá trễ và chúng ta sẽ rơi xuống vực thẳm.”
Điều khôi hài lố bịch là Raúl Castro cố làm ra vẻ rằng cái “con đường chạy dọc theo bờ vực thẳm” ấy là do một thứ thiên tai vô hình và huyền bí nào đó thình lình tạo ra chứ không phải là do anh em nhà Castro và Đảng đã tạo ra sau suốt 50 năm cầm quyền. Trong tình trạng kinh tế khốn cùng, Raúl Castro kêu lên như vậy là để tự bào chữa cho việc chuyển hướng sang dạng thức kinh tế thị trường, cái dạng thức kinh tế tư bản chủ nghĩa mà suốt mấy mươi năm ròng rã Fidel Castro đã không ngừng chống lại và xem như là kẻ thù của “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”. Tiếp lời Raúl Castro, Ricardo Alarcón, Chủ tịch Quốc Hội, nói: Vâng, Cuba sẽ mở cửa để đón nhận thị trường thế giới — đón nhận chủ nghĩa tư bản. Chúng ta sẽ ráng hết sức để duy trì chủ nghĩa xã hội, không phải là cái chủ nghĩa xã hội hoàn thiện mà tất cả chúng ta mơ ước, nhưng loại chủ nghĩa xã hội có thể có được ở đây, dưới những điều kiện mà chúng ta đang đối phó. Và chúng ta đã có sẵn những cơ chế thị trường ở Cuba.”
A ha, sau hơn 50 năm Castro và Đảng gáy vang về một “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”, rốt cuộc thì cái “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” ấy vẫn chỉ là một giấc mơ, rồi thậm chí họ không còn dám mơ cái giấc mơ ấy nữa, đành phải “ráng hết sức để duy trì” một thứ “chủ nghĩa xã hội” sống nhờ đường lối kinh tế tư bản!
Đó là chỉ mới nói đến sự thất bại ê chề của đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa, chứ chưa nói đến những hậu quả khủng khiếp khác. Thực trạng hiện nay ở mấy nước Cộng Sản cuối cùng trên thế giới cho thấy rằng, sau nhiều thập kỷ “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, mọi phương diện của đời sống ở những nước đó đều trở nên càng ngày càng thảm hại, đạo đức càng ngày càng suy đồi, lương tâm càng ngày càng táng tận, những sự tham nhũng, thối nát, bất công, bạo ngược, áp bức, gian dối, lừa đảo càng ngày càng tăng nhanh. Nghĩa là, chỉ cần nhìn vào hiện trạng của những nước Cộng Sản hiện nay, thì một kẻ ngây dại nhất cũng có thể thấy ngay rằng cái hình ảnh của một “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là một điều tuyệt đối bất khả.
Thế thì tại sao cho đến bây giờ các nhà cầm quyền của mấy nước Cộng Sản cuối cùng trên thế giới vẫn cố bám vào cái hình ảnh “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện”? Liệu họ có thực tâm tin rằng “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là cái mà họ sẽ có thể xây dựng được thành hiện thực?
Tôi cho rằng đến hôm nay thì trong hàng ngũ các nhà cầm quyền của mấy nước Cộng Sản cuối cùng trên thế giới không còn ai ngây thơ và ngu xuẩn đến mức tin rằng “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là cái có thể trở thành hiện thực. Họ dư biết đó chỉ là ảo tưởng, nhưng họ vẫn cố sử dụng cái hình ảnh “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” để lừa đảo nhân dân của họ, hòng tiếp tục duy trì quyền lực, mà trong khối nhân dân ấy có những người vì đã bị tẩy não suốt nhiều thập kỷ nên vẫn tin theo, còn những người chưa bị tẩy não thì bị bạo lực vây quanh và chưa có điều kiện để chống lại và lật đổ chế độ.
Cộng Sản duy trì quyền lực bằng cách liên tục tung ra những chiêu bài “chính nghĩa” và “lý tưởng” dối trá nhằm lừa đảo nhân dân, và dùng mọi biện pháp quỷ quyệt và tàn ác nhất để tẩy não nhân dân và khống chế nhân dân.
Nguyễn Phú Trọng nói: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” Nói như thế là tận cùng của sự lố bịch, nhưng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Suốt bao nhiêu năm qua, trên đường phố ở Việt Nam, ta vẫn luôn luôn thấy những khẩu hiệu to tướng: “NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM” và “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM”. Đọc kỹ những khẩu hiệu đó và ngẫm nghĩ một chút thì nhiều người có thể thấy ra cả một sự lừa đảo khủng khiếp.
Theo lý thuyết Marx-Lenin thì Chủ Nghĩa Xã Hội chỉ là giai đoạn chuyển tiếp lên Chủ Nghĩa Cộng Sản. Khi lên đến Chủ Nghĩa Cộng Sản rồi thì nhà nước tự tan rã, không còn Đảng Cộng Sản lãnh đạo nữa. Thế nhưng cái khẩu hiệu “NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM” lại hàm ý là cái giai đoạn chuyển tiếp “xã hội chủ nghĩa” này sẽ dài “MUÔN NĂM”, nghĩa là cho đến “MUÔN NĂM” nữa, nước Việt Nam này vẫn còn là “NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”, và sẽ không bao giờ tiến lên đến Chủ Nghĩa Cộng Sản! Và vì vậy cho nên “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM” sẽ tiếp tục lãnh đạo một cách “QUANG VINH” cho đến “MUÔN NĂM”! Xin nhấn mạnh: “MUÔN NĂM” chứ không phải chỉ một hay vài thế kỷ!
Điều này chứng tỏ rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có tham vọng quyền lực vô hạn; và để thoả mãn tham vọng quyền lực vô hạn này, họ đã, đang và sẽ sử dụng mọi biện pháp và thủ đoạn gian manh và tàn độc nhất để cai trị nhân dân. Đối với những kẻ có tham vọng quyền lực vô hạn thì xương máu của nhân dân chỉ là bạc lẻ.
Hoàng Ngọc-Tuấn
Sydney
, Australia



Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Phạm Chí Dũng - Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?


Phạm Chí Dũng (RFA)

Một đại biểu cầm phiếu bầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản tại Hà Nội vào ngày 17/1/2011, ảnh minh họa. AFP photo

Không những không còn “của dân” và “vì dân”, Quốc hội còn tiếp thêm một lực hút soi móc nữa đối với bầu ngân sách vốn đã bị các nhóm lợi ích xuyên đục đến tận cùng.

Từ ngủ gật…

Dù chưa kết thúc, nhưng kỳ họp thứ 6 khóa XIII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nổi lên dấu ấn lặng cúi thấy rõ so với kỳ họp gần nhất và rõ hơn nhiều nếu nhìn lại thời gian cuối năm 2011.

40% trong tổng số đại biểu Quốc hội đã “im lặng” khi được hỏi về việc chọn người chất vấn. Tỷ lệ này vươn lên gấp đôi so với kỳ họp lần thứ 5 vào giữa năm 2013 – thời điểm mà ngay cả những quan chức cao cấp của Quốc hội cũng phải bộc lộ nỗi bức xúc không hẳn là giả dối “hàng trăm đại biểu không có ý kiến gì trong suốt vài kỳ họp Quốc hội”.

Dấu ấn duy nhất mang lại hy vọng cho cử tri vào kỳ họp thứ 5 đó chỉ là hình ảnh lóe sáng nhất thời của 32% đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm thấp cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và 42% cho Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình. Một hy vọng lấy lại những gì đã mất đối với khối cử tri, bằng vào hành động hiếm hoi trong một đánh giá có tính thực chất về tình cảnh điều hành bị coi là quá yếu kém của lớp quan chức chính phủ trong ít nhất hai năm từ giữa 2011 đến giữa 2013.

Nhưng chừng đó vẫn là chưa đủ, và còn xa mới thỏa mãn được cơn bức bối uất nghẹn không thể thốt lên của cử tri toàn quốc. Tối thiểu, những gì mà người dân muốn là các đại biểu Quốc hội không được ngủ gật trong một khán phòng như ngủ lặng cùng bản hiến pháp bị xem là “ngủ đông”.

… tới ngủ đông

Ngay vào ngày đầu tiên của kỳ họp Quốc hội lần này, một đại biểu từng cố gắng chống lại cơn ngủ gật trong ba kỳ Quốc hội trước đã thẳng thừng tuyên bố với báo chí: “Sẽ không nói gì về hiến pháp nữa”.

Dĩ nhiên, nếu vị đại biểu trên còn tỏ ra minh mẫn thì bản dự thảo sửa đổi hiến pháp lại diễn biến theo tâm thế ngược lại.

Sau lời chốt đóng sổ sửa đổi hiến pháp của Chủ tịch Quốc hội, cử tri đang tự hỏi liệu tâm thế lộn ngược của dự thảo sửa đổi hiến pháp có thật “tập trung tinh hoa trí tuệ” như ông Nguyễn Sinh Hùng mặc định hay không?

Hay chỉ là lớp trình diễn của một tầng lớp “tinh hoa” nào đó và mang tính khu biệt trong nội bộ – những người được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc cách “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp”?

Thời quá khứ, ông Nguyễn Sinh Hùng từng là một quan chức chính phủ. Và ông cũng là một đại biểu thâm dày ở nơi mà nhiều ý kiến cho rằng “Quốc hội đã chẳng làm được gì cho dân”.

Những câu chuyện xưa cũ đến lê mòn cứ trôi dạt vào một góc phòng vô định chốn nghị trường. Quốc hội Việt Nam sẽ đi về đâu với những ảo ảnh không có cơ may nào được hiện thực hóa của nó?

Hiện thời, câu trả lời thực dụng nhất chỉ là nếu những chất vấn thê thiết nhất của cử tri đã bị số đại biểu quan chức lấp liếm hết kỳ họp này sang kỳ họp khác, thì đừng trông mong bất kỳ tốt lành nào cho vận mệnh đất nước.

Những kẻ “giết sống”

Người dân di chuyển đồ đạc từ một ngôi nhà bị ngập lụt trong thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định hôm 16/11/2013. AFP photo

Hàng chục vạn ngôi nhà, xóm, làng, khu phố bị chìm ngập trong biển nước. Hàng vạn hecta đồng ruộng, hồ ao, đầm nuôi cá đến kỳ thu hoạch đã mất trắng… Đó là hình ảnh thống thiết thường thấy qua mỗi mùa mưa bão.

Nhưng sau chuỗi thời gian trầm nghẹn quá lâu, vào lúc này báo chí trong nước đã phải thét lên “Nhân tai!”.

Chỉ mới đây, cùng với tuyên bố tuyệt thực, Yeb Sano – trưởng đoàn đàm phán Philippines tại hội nghị Công ước khung của Liên hiệp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 19 – cất tiếng kêu xé lòng: “Chúng ta phải thôi gọi những sự kiện như vậy là tai họa tự nhiên…”.

Quằn quặn Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam…, tiếng khóc xé lòng dội khắp xóm làng sau cú xả lũ vào dân của các nhà máy thủy điện.

Song một điều kinh khủng là ngay cả bốn chục sinh mạng dân chúng bị cơn lũ thủy điện dã man chưa từng thấy cướp trắng ngay trong thời gian kỳ họp thứ 6 cũng không khiến nhiều đại biểu Quốc hội bận lòng.

Cũng chẳng có bất cứ kẻ “giết sống” dân nào phải ra trước vành móng ngựa từ trước đến nay.
Hình ảnh an ủi duy nhất chỉ là những chiếc áo xanh bộ đội và cả những cán bộ, chiến sĩ công an oằn mình cứu hộ cho dân.

Nhưng bức tranh khác hơn rất nhiều là sau khi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cố gắng lấp liếm về trách nhiệm của ban lãnh đạo Bộ Công thương, đã chỉ có vài đại biểu Quốc hội dám lên tiếng về trách nhiệm không thể loại bỏ này.

Cho dù trong thâm tâm, rất có thể đa số dân biểu đều hiểu rằng trách nhiệm của toàn bộ chiến dịch xả lũ đó trước hết thuộc về Bộ Công thương, với gương mặt trơn bóng cùng những lời điều trần trơn tuột của bộ trưởng Vũ Huy Hoàng trước toàn thể Quốc hội về “chúng ta” – ngôi thứ ba số ít mà đã trở thành một thứ dịch bệnh tồn trữ quá lâu trong lòng chế độ.

Trách nhiệm đó cũng thuộc về cá nhân bộ trưởng Vũ Huy Hoàng – người liên đới trực tiếp với những cú “áp phe” quy hoạch thủy điện và phê duyệt các dự án thủy điện.

Bất chấp những lời dẫn dụ đầy ngụy biện của giới quan chức chính phủ và bộ ngành, tất cả đều đã quá chậm. Bất chấp vài trăm dự án thủy điện cuối cùng cũng buộc phải gạt ra khỏi quy hoạch, hàng trăm dự án thủy điện còn lại đã quét đi hơn 50.000 hecta rừng, hàng ngàn hecta đất ở, đất trồng trọt của người dân… khiến dân chúng phải chuyển nhà, chuyển cửa, mất nghề… khốn đốn trong sinh hoạt.

Nhiều người dân trắng tay và cũng trắng xóa lòng tin vào chế độ.

Những nén nhang và tiếng khóc thảm thiết của người dân huyện Đồng Xuân ở Phú Yên năm 2010 vẫn còn vang vọng. Chết mà không biết vì sao số phận lại quyên sinh đột ngột đến thế, cũng không biết kẻ nào đã cướp đi sinh mạng đời mình mà không một lời tạ tội.

Nhưng cùng với bệnh dịch quy hoạch thủy điện, những lãnh đạo của Bộ Công thương vẫn tiếp tay cho hàng loạt đợt tăng giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) – một địa chỉ mà đã gây ra cơn thảm họa lỗ lã 34.000 tỷ đồng từ đầu tư trái ngành vào chứng khoán và bất động sản. Còn Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng – người không có bất cứ thành tích nổi bật nào từ khi thành lập chính phủ mới vào giữa năm 2011 đến nay – là tác giả gián tiếp cho những trận đánh đẹp bù lỗ vào dân như thế.

Do những “thành tích” về điều hành quản lý và đặc biệt mối quan hệ quá gần gũi với các doanh nghiệp điện lực và xăng dầu, ông Vũ Huy Hoàng đã nhận được 25% phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ họp Quốc hội giữa năm 2013 – một thứ hạng chỉ xếp sau Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng trong lúc báo giới trong nước thường xuyên bị cấm cản đưa tin bài về nguồn cơn thực chất gây ra chết người do xả lũ, đã không một tiếng nói đủ liêm sỉ nào được cất lên từ Bộ Công thương hay Chính phủ để kềm giữ hành động đổ lỗ lên đầu người dân của EVN.

“Nhóm lợi ích Quốc hội”?

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong lễ khai mạc phiên họp thường niên thứ hai của Quốc hội tại Hà Nội vào ngày 21/10/2013. AFP photo

Thói vô lương tâm của quan chức vẫn luôn dẫn tới vô số trác táng trên bàn tiệc và những cuộc chơi bất tận thâu đêm, bất kể cảnh khốn cùng và bất chấp lời nguyền rủa từ những kẻ đóng thuế bất hạnh.

Toàn bộ sự thể trên hẳn là nguồn cơn sâu xa giải thích cho hiện tượng ngày càng xuất hiện quá nhiều đại biểu Quốc hội “cấm khẩu” – một tâm lý mệt mỏi và chán nản đến mức không thể động mồm, bất chấp chỗ ngồi của họ vẫn ngốn đến một tỷ đồng cho mỗi ngày họp.

Từ tiền đóng thuế của tuyệt đại đa số cử tri.

Không những không còn “của dân” và “vì dân”, Quốc hội còn tiếp thêm một lực hút soi móc nữa đối với bầu ngân sách vốn đã bị các nhóm lợi ích xuyên đục đến tận cùng.

Phải chăng vì sự thể này mà gần đây đã hiện ra mối nghi ngờ từ không ít cử tri “Có phải Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?”.

P. C. D.


Thụy My - Tòa án Tây Ban Nha ra lệnh truy nã quốc tế Giang Trạch Dân và Lý Bằng


Thụy My
(RFI)

Tư pháp Tây Ban Nha hôm qua 19/11/2013 đã ra lệnh truy nã quốc tế cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và cựu Thủ tướng Lý Bằng, trong khuôn khổ một vụ án được thụ lý từ năm 2006 vì tội « diệt chủng » đối với người Tây Tạng trong thập niên 80-90. Trung Quốc hôm nay lên tiếng đòi Tây Ban Nha phải « làm rõ » vấn đề.

Một cuộc biểu tình của cộng đồng Tây Tạng lưu vong - Reuters

Tòa án quốc gia ở Madrid nhận thấy có thẩm quyền điều tra vì một trong số các nguyên đơn là Thubten Wangchen, một người Tây Tạng lưu vong mang quốc tịch Tây Ban Nha ; và tư pháp Trung Quốc không mở điều tra về vụ kiện này. 

Từ năm 2005, tư pháp Tây Ban Nha có thẩm quyền trên toàn cầu để truy tố các tội phạm hàng loạt như tội diệt chủng, với điều kiện là chưa được điều tra tại nước liên quan.

Trong phán quyết hôm qua, tòa án Madrid nhận định có « những dấu hiệu cho thấy có sự tham gia » của Giang Trạch Dân, Lý Bằng và ba lãnh đạo khác vào thời đó vào tội ác diệt chủng người Tây Tạng. Đó là do « trách nhiệm về chính trị và quân sự của từng người trong suốt một thời kỳ dài được điều tra ». Xét các yếu tố trên, tòa án Madrid « cho rằng cần thiết phải ra lệnh truy nã quốc tế » đối với họ.

Đơn kiện chủ yếu do Ủy ban Ủng hộ Tây Tạng (CAT) và quỹ « Nhà Tây Tạng » đệ trình, tố cáo năm người này về tội « diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tra tấn và khủng bố đối với nhân dân Tây Tạng » trong thập niên 80-90.

Ba bị cáo khác là cựu lãnh đạo ngành an ninh Trung Quốc Kiều Thạch (Qiao Shi), cựu Bí thư Khu tự trị Tây Tạng (1992-2000) Trần Khuê Nguyên (Chen Kuiyuan), và cựu Bộ trưởng Kế hoạch hóa gia đình thập niên 80 Bành Bội Vân (Peng Pelyun).

Hôm 11/10, tòa án Madrid đã mở rộng điều tra đến cựu Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vì không còn được quyền đặc miễn từ khi thôi chức Chủ tịch nước vào tháng 11/2012. 

Cũng như các nguyên đơn, tòa án Tây Ban Nha cho rằng Hồ Cẩm Đào, nguyên Bí thư Tây Tạng, « có thẩm quyền và quyền hạn đủ để tiến hành một loạt các hoạt động trong những chiến dịch nhắm vào việc quấy nhiễu nhân dân Tây Tạng ». Và ông Hồ Cẩm Đào « là cựu Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Tây Tạng, trong nhiều chiến dịch đàn áp khác nhau ở vùng này trong những năm 1988-1992 ».

Hơn nữa, tòa án nhắc lại các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc nhìn nhận rằng « chính quyền Trung Quốc đã quyết định tiến hành một loạt hành động nhắm vào việc loại trừ tính đặc thù và sự hiện hữu của đất nước Tây Tạng, bằng cách áp đặt lệnh thiết quân luật, cưỡng bức di dời, tung ra các chiến dịch triệt sản hàng loạt, tra tấn các nhà ly khai ».

Hôm nay Bắc Kinh cho biết đã đòi hỏi Madrid « làm rõ » về lệnh truy nã này. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết « hết sức bất bình và kiên quyết phản đối các định chế liên quan của Tây Ban Nha ». Bắc Kinh hy vọng chính quyền Tây Ban Nha sẽ không «tiến hành những hành động có thể gây tổn hại cho Trung Quốc và cho quan hệ hai nước ».