Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Hạ Long Bụt sĩ - Nửa thế kỷ- 1963-2013, nhìn lại Sử Việt: Chính Biến Tháng 11-1963


Hạ Long Bụt sĩ

Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX ghi nhận 3 chính biến có tầm vóc lớn, huy động đông đảo quần chúng:
* Cuộc khởi nghĩa Yên Bái 1930, huy động được khối quần chúng châu thổ sông Hồng, tuy không thành công nhưng đã gieo được mầm cách mạng kháng chiến trong lòng dân tộc từ Bắc chí Nam. Chủ trương phong trào kháng Pháp này do các nhóm trí thức bậc trung, Nho sinh, giáo viên, hương sư, cai, đội... gần với đại khối bình dân.


* Cuộc kháng chiến mười lăm năm sau, 1945, thừa hưởng mầm cách mạng dân tộc, huy động quần chúng toàn quốc, hội đủ thời, thế và cơ, nên thành công. Tiếc rằng cáithế lại phải dựa vào thế đang lên của Cộng Sản quốc tế, nên cuộc kháng chiến tiến hành với âm mưu phục sẵn dẫn dắt vào quỹ đạo đỏ. Quần chúng yêu nước đổ xương máu bầy cỗ cho nhóm yêu Đảng ăn.

* Cuộc chống đối chính quyền họ Ngô, năm 1963 phức tạp hơn vì có dính líu tới tôn giáo và ngoại nhân (Hoa Kỳ), nhưng không thể phủ nhận tầm vóc quần chúng tham gia đông đảo chưa từng thấy sau 1945.

*

Chính quyền Ngô Ðình Diệm trong những năm đầu (1954 - 60) đã gặt hái nhiều thành quả và có hậu thuẫn quần chúng. Những chương trình kiến quốc đề ra như Dinh điền, Khu trù mật, Ấp chiến lược... đều đi đúng đường mặc dầu cấp thừa hành không thực hiện đến nơi đến chốn. Riêng năm 1960, những thành quả kinh tế đưa Nam VN lên hàng thứ 3 tại Á châu, hơn Đại Hàn, Ấn, Thái… (1) Đây là một chính quyền quốc gia vững mạnh nhất, có chủ đạo, có tổ chức, có nhân sự hậu thuẫn, có cốt lõi trung ương chỉ đạo, có quốc tế ủng hộ (khối Thiên Chúa Giáo) kể từ sau chính phủ Trần Trọng Kim 1945.

Những năm sau chính quyền họ Ngô càng ngày càng cô lập và gặp nhiều chống đối: Tổng thống Ngô Ðình Diệm bị mưu sát hụt năm 1958 ở Ban Mê Thuột, bị đảo chính hụt năm 1960, bị thả bom vào dinh Ðộc Lập năm 1962, cho nên chính biến kết liễu tháng 11-1963 chỉ là hệ quả của một chuỗi chống đối, trong đó yếu tố tôn giáo và Hoa Kỳ không đủ để giải thích.

Những nhân sĩ tư cách cao như Nguyễn Thế Truyền, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Tường Tam... chống đối họ Ngô chắc chắn không phải vì chống đối đạo Cơ Ðốc hoặc vì Mỹ mua chuộc, các sinh viên học sinh bãi khóa đánh nhau với Cảnh Sát Dã Chiến ở Sàigòn và ở nhiều tỉnh, người không làm chính trị bao giờ như Vũ Hoàng Chương... cũng phản đối chính quyền... đại khối quần chúng đã chống đối thì phải có nguyên nhân sâu xa hơn, đó là:

1- Khoảng cách giữa gia đình họ Ngô với quảng đại quần chúng mỗi ngày một xa, một đẳng cấp quan lại, khoa bảng thượng lưu có thể thành công ở thời bình và ở một nước đã ổn định, nhưng không thể thành công ở một xã hội chậm tiến, nghèo và giao thời, giao động mạnh vì Cộng Sản như Việt Nam. Chính quyền họ Ngô không có những nhân sự cán bộ bắt được tâm mạch quần chúng, vận động được cộng đồng và sống hòa nhịp với các giai tầng xã hội. Ðó cũng là lỗi lầm của Tưởng Giới Thạch và gia đình giầu sang họ Tống đã làm mất quần chúng về phe địch thời 1940 bên Tầu. Tổng quát, ta đã rơi vào bẫy chiến lược “ Lấy nông thôn bao vây thành thị ”  của Mao.

2- Sau ngày chia đôi đất nước 1954, các thành phần quốc gia đều tập hợp về miền Nam, ủng hộ họ Ngô trong công cuộc diệt Phong, Thực và Cộng. Mọi người đều chờ đợi quá nhiều vào lãnh tụ và lãnh tụ đã không đáp ứng được sự chờ đợi nôn nóng đó. Nhiều thành phần bắt đầu bất mãn và chống đối, chính quyền thay vì điều chỉnh cho hợp dân ý lại quay ra độc tôn, độc đoán, phá mất phên dậu miền Nam là các giáo phái. Chỉ cần một chút giao tế rộng lượng, lãnh tụ Ngô Ðình Diệm đã có thể quy tụ được nhiều thành phần quốc gia đảng phái trong cuộc chống Cộng cứu nước, chỉ cần một chút tế nhị khôn khéo ông đã có thể tránh được những va chạm tôn giáo tối kỵ trong lĩnh vực chính trị (2). Người dân trên mảnh đất miền Nam chờ đợi cuộc đại đoàn kết, họ Ngô lại gây chia rẽ địa phương, tôn giáo, phe phái; đảng phái quốc gia muốn đóng góp vào đại cuộc chống Cộng, họ Ngô lại muốn độc quyền chống Cộng. Ba chữ “Cần-Trung-Công” ( Cần Lao, Trung phần, Công giáo) trở thành dấu ấn, vô tình hay ác ý, của dân chúng gắn cho chính quyền.

 Thành ra từ một lãnh tụ có tư cách và được ủng hộ, họ Ngô đã lần lần từ bỏ những ưu điểm của mình để phơi bầy ra những nhược điểm và trở thành đối tượng chống đối của quần chúng đông đảo.

3- Quần chúng đông đảo dựa vào phong trào Phật giáo để chống đối hữu hiệu chính quyền họ Ngô nhưng không có nghĩa là chống lại đạo Công Giáo. Có chăng là chống lại một số người đi quá đà mang Công giáo vào chính quyền, cũng như quần chúng đã bỏ rơi phong trào Phật giáo tranh đấu khi có một số nhà tu kiêu ngạo và Phật tử đi quá lố vào thế tục chính trị, rất dễ cho CS xâm nhập, trong những năm 1964 - 65... Sau này người dân chống đối TT Nguyễn Văn Thiệu không phải vì ông theo đạo Chúa mà vì ông nghi kỵ nhân sự và dung túng tham nhũng. Thế nên ở Việt Nam có lẽ vấn đề địa phương có tầm mức quan trọng hơn là tôn giáo, tranh chấp tôn giáo nếu có cũng chỉ xảy ra lẻ tẻ và hạn hẹp . Trong xã hội, trong giáo dục, tuyệt nhiên không có sự hiềm khích với Công giáo, các giáo sư linh mục khả kính vẫn tiếp tục giảng dậy, sau chính biến 1963, tại các trường lớp từ tiểu học tới Đại học với các học sinh, sinh viên đa phần không Công giáo. Nước đục thả câu, CS khai thác triệt để, làm nước đục, đục thêm, bé xé ra to, tạo hỏa mù rồi đổ vấy !

4- Hai câu hỏi kế tiếp: tại sao phong trào Phật giáo đấu tranh lại nổ ra rất mạnh và kéo rất lâu ở vùng Huế, và tại sao Huế lại bị thảm sát cả ngàn người trong Tết Mậu Thân 1968?

Trong lịch sử Việt Nam cận đại Huế đã là một trung tâm chính trị văn hóa của Đàng Trong từ thế kỷ 16 với Chúa Nguyễn Hoàng và đã là thủ đô của nước Việt từ thế kỷ 19 tới 1945. Trong thời Pháp thuộc, Huế vẫn có vua và vẫn là linh hồn của nước Việt cổ truyền, Huế và lãnh thổ An Nam là cứ điểm cuối cùng của văn hóa dân tộc trong khi Hà Nội và Sài Gòn đã bị Âu hóa khá mạnh. Trung tâm văn hóa cổ truyền Huế cũng là một trung tâm Phật giáo lâu đời, suốt mấy trăm năm Phật giáo mặc nhiên giữ ngôi vị quốc giáo, người dân Huế sống trong không khí cổ kính đó nên dễ bị “xốc” khi có những ảnh hưởng Âu Tây tới. Một ngôi giáo đường Cơ Ðốc mới xây ở Sài Gòn, Vũng Tầu... có thể tạo nên những nét mới cho thành phố mới, nhưng nếu ở Huế, sẽ là những nét lạ không ăn khớp với bức tranh cổ. Thế nên nếu bị va chạm, dù chỉ là hình thức như cờ quạt phản ứng tâm lý trở thành một dị ứng mãnh liệt, nó ăn sâu vào tiềm thức, vào danh dự dân tộc, vào tập quán cộng thể. Có lẽ họ Ngô và thân cận không hiểu nổi chiều sâu của dị ứng đó, chỉ đánh giá như một phản ứng bất mãn tầm thường của quần chúng và đã đối lại bằng những phương pháp tầm thường như chữa bệnh nội tạng bằng thuốc ngoài da vậy, khi thấy dị ứng đó lan khắp cơ thể dân tộc thì lại đổ tất cả cho Cộng Sản nằm vùng, CIA dật giây mà không chịu tìm nguồn gốc sâu xa của phản ứng.

Trung tâm Huế là thành trì của tinh thần dân tộc cổ truyền, có một lớp tu sĩ đầy bản lãnh và khối quần chúng đông đảo có ý thức quốc gia và thuần thành Phật giáo, nên sẽ là một trở ngại lớn cho làn sóng Nam xâm Cộng Sản, vì thế, 5 năm sau 1963, trong Tết Mậu Thân 1968, Huế đã bị thảm sát tập thể nhiều ngàn người. Ngoài sự trả thù sân hận cá nhân, ân oán chính trị Quốc –Cộng vùng này rất nặng từ những năm 1940-50, đây là một kế hoạch có tính toán, cân nhắc giữa thất nhân tâm và thực tế chiến lược. Hà Nội thấy rõ mức quan trọng của tâm thức Huế đối với ý thức hệ Mác Lê nên đã thẳng tay san bằng thành trì dân tộc vững chắc này để dọn đường xa cho cuộc Nam xâm.

VÀI HỆ QUẢ TÍCH CỰC SAU CHÍNH BIẾN

Từ 1954-1963 chính quyền miền Nam quốc gia tiếp tục đường lối từ chính quyền Bảo Đại, giới lãnh đạo chính trị và ưu thế xã hội vẫn là giới cũ, trí thức khoa bảng và thân Pháp. Sau 11-1963 xã hội miền Nam thay đổi mạnh, tại học đường văn hoá dân tộc trỗi dậy, Phật học và Thiền học bắt đầu lấy lại chân đứng, lan tràn qua sách báo, cơ sở Phật giáo, thành lập Nha Tuyên úy Phật giáo, Đại học Vạn Hạnh... Giới thân Pháp, nhất là ở Đại học, co cụm lại, bỏ VN về Pháp, sinh viên quốc gia sinh hoạt mạnh mẽ hơn, từ tổ chức sinh viên, truyền thông báo chí, tới tôn giáo chính trị. Nhiều Phân khoa, như Y Nha Dược, dần dần bỏ chuyển ngữ Pháp sang Việt, số trường trung tiểu học Pháp cũng bắt đầu theo chương trình Việt.

Gia đình và bản thân TT Ngô Đình Diệm thuộc thế hệ cổ kính, có học thức, có tư cách, nhưng họ là những con người của thế hệ tiền chiến 1930-40, chứ không thể là thế hệ lãnh đạo của thập niên 1960, không bắt nhịp được với giới bình dân, không uyển chuyển nổi theo xu hướng thiên Anh Mỹ ở vòng đai Đông Nam Á, mà vẫn chịu ảnh hưởng lối nhìn nửa nạc nửa mỡ, nửa Hữu nửa Tả của Pháp. Nước nhược tiểu, vốn phải dựa vào đại cường, đại cường Mỹ lúc này chủ trương chống và cản CS, như đã làm ở Triều Tiên, thì Nam VN không thể có chiến lược riêng - như trung lập, như bắt tay với phe Tả v..v nhận viện trợ mà làm khác đi, thì khó mà được yên thân.

Sau chính quyền Ngô Đình Diệm, chiến tranh lan rộng hơn, quyền lực chuyển sang quân đội với thành phần trẻ trung cách cụ Diệm ( 1900) cụ Nhu ( 1910)... cả một thế hệ, như Nguyễn văn Thiệu (1924), Nguyễn Cao Kỳ (1930)… thành phần trẻ trung này, thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, non chính trị, nhưng được một ưu điểm : họ gần dân hơn, bớt kênh kiệu hơn, và họ có một khối ủng hộ đầy nhiệt huyết là đồng đội. Nước tao loạn, không lấy quân đội làm chủ chốt thì lấy ai ? Vả lại quân đội miền Nam đồng thời cũng là những người có ăn học, không làm mất giá trị truyền thống xã hội sĩ, nông, công, thương, trí thức vẫn được trọng dụng, nắm giữ các phủ, bộ, hành chánh, chuyên môn, khác hẳn thể chế độc tài CS tiêu diệt Trí, Phú…

*

Sau 50 năm trôi qua, 1963-2013, nhìn lại có 2 điều đáng tiếc:

• Lãnh tụ Ngô Ðình Diệm có đủ điều kiện để kiến tạo miền Nam nhưng đã để vụt mất cơ hội, làm mất dần thế đoàn kết quốc gia, thiếu vận động quốc tế làm sáng tỏ ngọn đuốc chính nghĩa, để địch thủ nắm cờ lộng giả thành chân, đi từ không đến có qua tuyên truyền như thời 1945. Rút cục miền Nam thiếu mất nền tảng vững chắc để sinh tồn tự chủ.

• Phong trào Phật giáo đã dấy động được quần chúng đông đảo, đã có thể tái dựng một nền tảng văn hoá quốc gia, có viễn kiến lịch sử, nhưng lại vướng mắc vào thế tục chính trị, tranh chấp nội bộ vì dị biệt đường lối, không thức thời và thiếu thực tế, nhiều ảo tưởng nên dễ bị phe Tả cực đoan lợi dụng, tương kế tựu kế. Thế nên phe quốc gia lại mất đi một nội lực huyết mạch đáng lẽ có thể phục hồi cơ thể dân tộc.

Chính ngã mạn đã đưa họ Ngô vào thảm kịch, cũng chính ngã mạn đã đưa Phật giáo đến đổ vỡ, đó là bài học của biến chính tháng 11-1963.

Hạ Long Bụt sĩ



Ghi Chú về Chủ thuyết Cần Lao Nhân Vị và ông Ngô Đình Nhu

Theo Ký Ức  tập I, của Huỳnh Văn Lang, chương 5 và 6, thì ông Ngô Đình Nhu xây dựng học thuyết này trong những năm ẩn dật ở Đà Lạt ( 1946-1952), về triết lý thì dựa trên Nhân vị thuyết ( Personalisme) của triết gia Pháp Emmanuel Mounier, hồn và xác là hai phần bổ túc cho nhau; về phương pháp thực tế, kinh tế nhân bản quân bình chú trọng tới nhu cầu người dân, phân phối lợi tức đồng đều, thì dựa vào cha Louis Lebret (người Bretagne, Pháp, 1897-1966- dòng Dominicain, chủ nhiệm tạp chí Economie & Humanisme-Kinh tế & Nhân bản, là tài liệu học tập nghiên cứu cốt lõi của nhóm ông Ngô Đình Nhu). Cha Lebret đến Việt Nam mấy lần và nghiên cứu về đời sống dân Việt, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cha có khuyến cáo TT Ngô Đình Diệm là nên có Thủ Tướng với ba Tổng bộ (Văn hoá Giáo dục Y tế - Kinh Tài Canh nông công chánh - Nội vụ Quốc phòng-Ngoại giao đứng riêng) và chính cha cũng cho rằng không nên có thứ quyền bính trong bóng tối (pouvoir obscur) như ông Ngô Đình Nhu đang làm, vì lịch sử đế quốc Roma và Hy Lạp đã chứng minh thứ chính phủ đen tối đó gây nhiều hệ luỵ bất hạnh! Cha Lebret cũng đã có lời hứa của ông Nhu là cải tổ chính phủ.

Thiết nghĩ lấy Công giáo làm chủ lực chống CS không phải là hoàn toàn vô lý, tiếc rằng trong bối cảnh miền Nam, Công giáo chỉ chiếm khoảng 7% dân số và chủ thuyết Nhân vị cũng không có gì mới lạ đối với tinh thần Nhân bản, Nhân chủ, bình sản, đồng tôn, trong tư tưởng Việt.

(1)Theo bài của Trần Đăng Hồng-Ph.D, 5-2013 (websiteTranDang.net) : So sánh GDP đầu người của VN và vài nước Á  Châu: GDP VNCH 1960 đứng thứ ba, sau Singapore, Mã Lai, Phi, nhưng đứng trên Nam Hàn, Thái Lan, Tầu, Ấn, nhờ xuất cảng gạo…

(2)Tự thiêu trong Phật giáo là một cách cúng dường thân xác cho chân lý, cuộc tự thiêu tự nguyện của Hòa thượng Quảng Đức từ 1963, cho đến nay, vẫn bị hiểu lầm, đến nỗi HT Tâm Châu gần đây vẫn còn phải giải tỏa cặn kẽ trên YouTube.


Thụy My - Khủng bố tại Thiên An Môn : Một vố đau đối với an ninh Trung Quốc


Th
y My
 - 

T nay được chính thc coi là mt v « tn công khng b », v chiếc xe jeep lao vào đám đông trên qung trường Thiên An Môn và phát n hôm th Hai 28/10/2013 là mt cú đòn đau điếng người cho b máy công an khng l ca Trung Quc – b thách thc ngay ti trung tâm biu tượng quyn lc Bc Kinh.
Khói bốc lên trước chân dung Mao Trạch Đông trên quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh) ngày 28/10/2013, sau sự cố được chính quyền Trung Quốc xác định là "tai nạn xe hơi".
REUTERS
David Tobin, giáo sư v chính tr Trung Quc đi hc Glasgow nhn xét, trong khi Bc Kinh là mt « vùng được giám sát nghiêm ngt », s kin trên « khiến Đng hết sc khng hong».

Trên qung trường ni tiếng ca th đô, mt chiếc xe jeep đã lao lên l đường chy khong 400 m, tông vào nhiu khách du lch và công an ngay trước cng vào T Cm Thành, ri bc cháy. Năm người đã thit mng và khong bn mươi người b thương.

Đài truyn hình Nhà nước CCTV hôm th Tư 30/10 vào bui ti thông báo trên tài khon tiu blog là năm nghi can đã b bt, và s kin này được đánh giá là mt v « tn công khng b ».
Kam Wong, cu viên chc cnh sát Hng Kông, nay là ging viên ca đi hc Xavier, Hoa Kỳ nhn mnh : « Nếu B Công an không có kh năng gi an ninh cho Thiên An Môn, điu này cho thy toàn đt nước Trung Quc không được an toàn, m ra cánh ca cho nhng hành đng thách thc mi tương t ».

Qung trường Thiên An Môn ngày cũng như đêm được b máy an ninh hùng hu mc sc phc ln thường phc giám sát, sn sàng dp tt nhng hành đng rc rch biu tình và trn áp nhng v ln xn mi bt đu.

Thiên An Môn mang nng tính biu tượng là trung tâm quyn lc, nơi chế đ Cng sn dìm trong bin máu phong trào đòi dân ch mùa xuân năm 1989.

Tng ngân sách được chính quyn Bc Kinh dành cho các cp đ duy trì trt t là mt s tin khng l và không ngng tăng lên : Năm nay gn 770 t nhân dân t (91 t euro), tăng hơn 200 t nhân dân t so vi năm 2010. Như vy, Trung Quc chi nhiu cho vic « duy trì n đnh » - mt cm t đ ch vic bt gi nhng người biu tình, giám sát các nhà ly khai và ngăn nga nhng v ln xn trong s 55 dân tc thiu s trên toàn quc – hơn là cho lc lượng vũ trang có quân s đông nht thế gii.

Giáo sư Lâm Hòa Lp (Willy Lam) ca Chinese University Hng Kông nói vi AFP: “Chính quyn đã b mt mt” vào lúc ch còn khong hơn mt chc ngày na là đến Hi ngh trung ương ln th ba Bc Kinh. Theo ông, chế đ cm quyn b lúng túng không ch do ca b máy an ninh b thy rõ có nhng thiếu sót, mà còn do trong s các nn nhân có c nhng công dân ngoi quc.

Tuy vy, các chuyên gia nêu ra tính th công thy rõ ca v tn công trên. David Tobin nhn mnh : « Khá là đơn gin khi lao chiếc xe jeep vào đám đông ri dùng cht gây cháy đ đt xe – điu này không mang du n ca bt kỳ mng lưới khng b xuyên quc gia nào. Đây có th là hành đng ca nhng cá nhân bt mãn ».

Truyn hình Trung Quc hôm th Tư dn ngun tin t công an nói rng ba người đi trên xe đã thit mng là các thành viên ca cùng mt gia đình. Ông David Tobin nhn xét : « Chc chn không th là mt v tn công như kiu người ta thường thy Trung Đông, vi vic s dng các k thut hoàn ho và phi hp hu cn quan trng ».

Công an Trung Quc đã nhanh chóng hướng cuc điu tra v phía các nhà hot đng Duy Ngô Nhĩ - dân tc thiu s theo Hi giáo t ra cng đu không chp nhn s đô h ca Bc Kinh ti Tân Cương, vùng đt rng mênh mông giàu tài nguyên biên gii Trung Á.

Ông Lâm Hòa Lp nhn thy : « Vic mt s kin như thế có th xy ra ti Bc Kinh cho thy nhng hn chế ca ngành công an khi phi đi phó vi quyết tâm kháng c cao đ, chng li chính sách ca Trung Quc đi vi người Duy Ngô Nhĩ ».

Chuyên gia này cho rng : « Điu này có nghĩa là nếu s bt mãn ca đi đa s người dân Duy Ngô Nhĩ tăng cao, rt có th din ra nhng v vic mi theo kiu này trong tương lai, và không có chế đ công an nào có th hiu qu trước mt s kháng c tp th » ca toàn th mt dân tc.



Mark Leonard - Vì Sao Đồng Qui Sinh Ra Xung Đột: Càng Trở Nên Giống Nhau, Trung Quốc Và Mỹ Lại Càng Xa Nhau



Mark Leonard
Trần Ngọc Cư dịch

pro&contra – Từ nhiều năm nay, mọi động thái đối ngoại của Hà Nội đều được dư luận đánh giá như những dấu hiệu hoặc là tiếp tục thân – thậm chí phụ thuộc – Bắc Kinh, hoặc là đang bắt đầu xích lại gần Washington, theo nghĩa hai khả năng đối lập. Trong bài viết sau đây, nhà nghiên cứu chính trị quốc tế Mark Leonard chỉ ra rằng Trung Quốc và Mỹ ngày càng trở nên giống nhau và hệ quả của điều đó trong trật tự thế giới hiện tại và sắp tới.

Nhiều người lo ngại rằng trong một tương lai không xa, thế giới sẽ bị chia ra nhiều mảng vì hố sâu ngăn cách giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng nới rộng. Họ nêu lên câu hỏi, vì sao một chế độ độc tài cộng sản và một chế độ dân chủ tư bản có thể bắc một chiếc cầu để khắc phục khoảng cách giữa hai bên? Nhưng đã đến lúc ta nên từ bỏ cái tư duy cho rằng hai nước này đến từ những hành tinh khác nhau và những căng thẳng giữa chúng là sản phẩm của những dị biệt giữa hai quốc gia. Trên thực tế, cho đến tương đối gần đây, Trung Quốc và Mỹ khá hòa hợp với nhau – chính vì những lợi ích và thuộc tính của hai nước khác nhau. Ngày nay, chính những tương đồng ngày càng gia tăng, chứ không phải những dị biệt, đang đẩy hai nước cách xa nhau.
Quan hệ Mỹ-Trung hoàn toàn tương phản với quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô, nước sau cùng đã thách thức quyền lực Mỹ. Trong Chiến tranh Lạnh, khi địa chính trị trước hết là một cuộc xung đột ý thức hệ, sự tiếp xúc ngày càng gia tăng và tính đồng qui ngày càng phát triển giữa hai xã hội phân cách nhau đã nuôi dưỡng được chính sách hoà hoãn.


Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau trên bình diện quốc tế trong thời đương đại đã đảo ngược tiến trình tương tác đó. Ngày nay, các nước cạnh tranh nhau vì địa vị quốc tế thì nhiều, mà vì ý thức hệ thì ít. Do đó, những dị biệt giữa các đại cường thường dẫn đến sự bổ túc cho nhau và hợp tác với nhau, trong khi sự tương đồng thường là nguyên nhân xung đột. Trong khi tái quân bình nền kinh tế và rà soát lại chính sách đối ngoại của mình, Bắc Kinh và Washington ngày một đối đầu về những lợi ích chung. Và hình như Sigmund Freud đã tiên đoán được trường hợp này: Trung Quốc và Mỹ càng trở nên giống nhau, thì hai nước lại càng ít thích nhau. Freud gọi hiện tượng này là “nỗi ám ảnh về những dị biệt tiểu tiết”: đó là xu thế tập trung vào những dị biệt rất nhỏ giữa những người vốn dĩ giống nhau để biện minh cho những tình cảm xung khắc của họ. Hẳn nhiên, hai nước này không hoàn toàn giống nhau. Nhưng hố sâu chia rẽ hai nước một thế hệ trước đây đã thu hẹp lại, và khi càng giống nhau thì càng dễ trở nên xung đột.

Vào thời điểm Tổng thống Mỹ Obama lên cầm quyền năm 2009, ông hi vọng đưa Trung Quốc vào các cơ chế toàn cầu và khuyến khích nước này đồng hóa lợi ích của mình với việc duy trì hệ thống quốc tế do phương Tây lãnh đạo sau Thế chiến. Nhưng chỉ gần năm năm sau, theo một quan chức Mỹ nắm vững tư duy Tổng thống Mỹ mà tôi có dịp trao đổi vào đầu năm nay, thái độ của Obama đối với Trung Quốc được mô tả chính xác nhất là “thất vọng”. Theo quan chức này, Obama thấy rằng phía Trung Quốc đã bác bỏ nỗ lực của ông trong việc tạo dựng một dạng “G-2” không chính thức trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đầu tiên của ông, tháng Mười Một 2009, và những bất đồng giữa Bắc Kinh và Washington về thay đổi khí hậu, về những vấn đề trên biển và an ninh mạng đã khiến Obama tin rằng Trung Quốc là một vấn nạn hơn là một đối tác.

Về phần mình, lãnh đạo Trung Quốc không muốn đề cao một trật tự quốc tế do phương Tây lãnh đạo, một trật tự mà họ không đóng vai trò tạo dựng. Đó là lý do tại sao, trong thời gian trước cuộc họp với Obama tháng Sáu vừa qua tại Khu nhà nghỉ Sunnylands tại California, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thúc đẩy thiết lập một “loại quan hệ đại cường mới” – một cách nói được mã hóa để người Trung Quốc nhắn nhủ người Mỹ phải tôn trọng Trung Quốc như một quốc gia ngang hàng với Mỹ, phải đáp ứng những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, và phải dự kiến Trung Quốc xác định lợi ích của mình chứ không hậu thuẫn những nghị trình quốc tế do phương Tây lãnh đạo. Trong khi hai cường quốc lớn nhất toàn cầu chiều chuộng chứng thần kinh của mình, phần còn lại của thế giới đâm ra lo lắng. Trong một loạt vấn đề kinh tế và địa chính trị quan trọng, Bắc Kinh và Washington ngày càng ra sức qua mặt nhau hơn là đầu tư vào những định chế chung. Điều này sẽ có hiệu ứng sâu xa trên thế giới. Mặc dù mậu dịch toàn cầu sẽ bành trướng và các định chế toàn cầu sẽ còn tồn tại, nhưng chính trị quốc tế sẽ không bị khống chế bởi các quốc gia giàu mạnh hay các tổ chức quốc tế mà bởi những cụm quốc gia xích lại gần nhau vì có lịch sử và mức độ giàu có giống nhau, và tin tưởng rằng lợi ích quốc gia của chúng bổ túc cho nhau. Những nhóm quốc gia thực tiễn và có phần tùy nghi này sẽ tìm cách phát triển thế mạnh của chúng từ trong nhóm ra ngoài, và sự tương tác giữa chúng với nhau sẽ làm lu mờ đội hình của cái trật tự tự do đa phương và thống nhất mà Mỹ và đồng minh đã cố gắng xây dựng từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt.

KẾT THÚC THỰC THỂ CHIMERICA
Trong gần hai thập kỷ qua, Trung Quốc và Mỹ đã tận hưởng một quan hệ cộng sinh gần như tuyệt hảo. Tiền tiết kiệm của Trung Quốc nuôi sức tiêu thụ của Mỹ. Các công ty Trung Quốc chế tạo những sản phẩm do các công ty hậu công nghiệp Mỹ thiết kế và bảo dưỡng. Và chính sách đối ngoại hướng nội của Trung Quốc trên cơ bản không làm lung lay vai trò bá quyền của Mỹ. Nhà sử học Niall Ferguson và nhà kinh tế Moritz Schularick cho rằng hai nước đã quyện chặt vào nhau đến nỗi họ bắt đầu gọi chúng như một thực thể riêng: “Chimerica” [China + America, ND].

Nếu quả thật từng có một Chimerica thì nó tồn tại nhờ cái thực tế là: mặc dù triết lý cai trị của hai quốc gia khác nhau sâu sắc, nhưng chúng chỉ khác nhau theo cung cách cái ổ khóa và cái chìa khóa khác nhau. Trung Quốc được điều hành theo “đồng thuận Đặng Tiểu Bình”, mang tên của nhà lãnh đạo Trung Quốc đã lùi về phía sau vào những năm 1990, nhưng viễn kiến của ông vẫn tiếp tục dẫn đường cho nước này nhiều năm nữa. Mục đích trước tiên của Đặng là duy trì ổn định quốc nội và quốc tế bằng cách tránh xa một nghị trình đầy tham vọng trong chính sách đối ngoại và, thay vào đó, chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế thông qua xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, tín lý cai trị của Mỹ trong thập niên 1990 dựa vào một chính sách đối ngoại theo chủ nghĩa can thiệp nhằm bảo vệ một trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, một trật tự đặt cơ sở trên tự do mậu dịch ở nước ngoài và tăng trưởng kinh tế trong nước nhờ sức mạnh tín dụng. Hai viễn kiến này không có gì giống nhau, nhưng chúng cũng ít khi đối đầu xung đột; thật ra, chúng thường bổ túc cho nhau. Hẳn nhiên, trong giai đoạn này, Bắc Kinh và Trung Quốc vẫn cạnh tranh với nhau. Nhưng vì hai nước xuất phát từ những mức quyền lực rất chênh lệch, cuộc đọ sức trở thành bất đối xứng đến nỗi ít gây ra cọ xát. Vả lại, hai cường quốc này thường theo đuổi những mục đích hoàn toàn khác nhau và dựa vào những phương tiện rất khác nhau. Tại châu Á, Mỹ tập trung vào việc duy trì vai trò siêu cường quân sự của mình và chống lại bất cứ sáng kiến kinh tế nào mà Mỹ không nắm quyền hoạch định – thậm chí cả khi chúng được đưa ra bởi một đồng minh như Nhật Bản là nước đã đề nghị thành lập một quỹ tiền tệ châu Á trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-98, một ý tưởng bị Washington bác bỏ. Trái lại, vào thời điểm đó, Trung Quốc đã tìm cách trấn an các nước láng giềng về “cuộc trỗi dậy hòa bình” của mình bằng cách hậu thuẫn việc hội nhập đa phương trong khu vực và hứa hẹn các nước này một phần thưởng kinh tế trong cuộc trỗi dậy của Trung Quốc thông qua các hợp đồng thương mại. Ở bên ngoài châu Á, lúc bấy giờ Bắc Kinh và Washington cũng tránh giẫm đạp lên chân nhau: Mỹ dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ với các nước dân chủ tiên tiến khác và các nước giàu năng lượng tại Trung Đông, còn Trung Quốc thì dồn các nỗ lực ngoại giao của mình vào việc tìm kiếm cơ hội tại châu Phi và châu Mỹ La tinh, những vùng mà Mỹ đã rút lui.

HOÁN CHUYỂN VỊ TRÍ
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã kết thúc kỷ nguyên Chimerica. Thức tỉnh vì nhận ra sự yếu kém của mình trước các lỗi hệ thống đã đưa đến cuộc khủng hoảng, Bắc Kinh và Washington cương quyết tái quân bình quan hệ kinh tế với nhau, một quan hệ mà cả hai nước đều nhận thấy đã trở nên thiếu lành mạnh. Nhưng trong khi rà soát lại chính sách đối nội và đối ngoại của mình để tìm cách thích nghi với nền kinh tế toàn cầu đột nhiên trở nên yếu kém, cả hai nước bắt đầu phản ánh lẫn nhau trong những cung cách có khả năng thúc đẩy tính cạnh tranh hơn là tính bổ túc.

Trong lãnh vực kinh tế, Trung Quốc đang tìm cách giảm bớt sự lệ thuộc lâu dài vào hàng xuất khẩu và đang cố gắng kích thích mức tiêu thụ trong nước và phát triển một nền kinh tế dịch vụ nội địa. Trong khi đó, Mỹ đang nâng đỡ khu vực chế tạo hàng hóa của mình, một phần bằng chủ trương hạ giá đồng Mỹ kim thông qua việc gia tăng nguồn tiền cho các ngân hàng [quantitative easing] và bằng việc trợ cấp khu vực chế tạo xe hơi, và khuyến khích tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu chủ đạo thông qua một loạt hợp đồng thương mại mới với các nước giàu, gồm Nhật Bản và các quốc gia trong khối Liên Âu.

Các nỗ lực sản xuất hàng hóa giá trị cao của Trung Quốc và những toan tính tái công nghiệp hóa của Mỹ sẽ dẫn đến tình trạng là hai nước sẽ cạnh tranh trực tiếp hơn, khi nước này tiến gần đến phương thức sản xuất và tiêu thụ truyền thống của nước kia. Chẳng hạn, Trung Quốc không còn muốn cung cấp các linh kiện rẻ tiền bên trong chiếc iPhone chỉ để đứng nhìn những lợi nhuận lớn nhất dồn vào tay một công ty Mỹ. Thay vào đó, Trung Quốc đang khuyến khích các công ty Trung Quốc nên theo gương Huawei, một công ty đặt trụ sở tại Quảng Đông đã cực kỳ thành công trong việc bán ra các điện thoại thông minh bắt chước chiếc iPhone, mà lợi nhuận của công ty này vẫn nằm trong nước. Tuy nhiên, trong quan hệ của mỗi nước với phần còn lại của thế giới, cả hai cường quốc đang trở nên giống nhau một cách rất ngoạn mục – trong một số trường hợp gần như đang hoán chuyển vai trò truyền thống của nhau. Trung Quốc đang phấn đấu để điều hành ảnh hưởng toàn cầu đang lên của mình. Giới tinh hoa trong chính sách đối ngoại của đất nước này đang lao vào một cuộc tái tư duy rộng lớn về chiến lược Trung Quốc; họ chất vấn mọi tín điều trong đường lối “ẩn mình để chờ thời cơ” của thời đại Đặng Tiểu Bình, gồm cả truyền thống tránh can thiệp vào nội bộ nước khác của Trung Quốc. Tiến trình này được thúc đẩy bởi cuộc chiến do NATO lãnh đạo năm 2011 nhằm lật đổ nhà lãnh đạo Libya Muammar al-Qaddafi, khi Trung Quốc kinh ngạc nhận ra rằng nhiều nước đang phát triển đã ủng hộ việc can thiệp của quốc tế. Sức ép đòi hỏi Trung Quốc phải có một chính sách đối ngoại ít thụ động hơn phát xuất từ các công ty Trung Quốc muốn được che chở tại những thị trường nguy hiểm ở nước ngoài; từ một đội ngũ trí thức theo chủ nghĩa toàn cầu chủ trương rằng trong một thế giới mà Trung Quốc hiện diện tại nhiều điểm nóng, Bắc Kinh phải từ bỏ sự dè dặt của mình để chấp nhận các hoạt động quốc tế; và từ những người hoạch định chính sách Trung Quốc hiếu chiến tin tưởng rằng Trung Quốc cần phải quyết đoán hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình ở nước ngoài. Thậm chí nếu những tranh luận này có thắng thế đi nữa, Trung Quốc sẽ không vội tung ra những cuộc can thiệp vì lý do nhân đạo theo kiểu Mỹ nhưng những người làm chính sách Trung Quốc sẽ bớt rụt rè hơn trong việc can thiệp vào nội bộ của nước khác. Như Diêm Học Thông (Yan Xuetong), Viện trưởng Viện Bang giao Quốc tế Hiện đại tại Đại học Thanh Hoa, đã nói với tôi, “Khi Trung Quốc mạnh bằng Mỹ, chúng tôi sẽ có một đường lối đối với vấn đề chủ quyền giống hệt như Mỹ.”

Và khi đề cập đến chính trị khu vực, những trí thức diều hâu như Diêm đang bày tỏ những hoài nghi về việc Trung Quốc có nên đặt lợi ích kinh tế cao hơn những mục tiêu chính trị hay không. Sự chuyển biến tư duy này có thể giải thích quyết định của chính phủ Trung Quốc năm 2010 trong việc tạm thời ngưng xuất khẩu khoáng sản đất hiếm sang Nhật Bản và quyết định của Trung Quốc hai năm sau đó trong việc giới hạn nhập khẩu trái cây từ Philippines trong thời gian hai nước xung đột về các đảo trong Biển Hoa Nam [Biển Đông Việt Nam – N.D.]. Những động thái này diễn ra song song với việc chính quyền có vẻ dung túng những cuộc biểu tình đôi khi bạo động được tổ chức bởi các phần tử dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc nhằm chống lại các công ty Nhật Bản đang hoạt động tại Trung Quốc, dù sự bất ổn đó đã khiến một số công ty này phải dời sang Việt Nam.

Trong một chuyển biến nhiều kịch tính hơn, giới hàn lâm Trung Quốc cũng đang tranh luận là liệu nước họ có nên xét lại việc chống đối các liên minh thường trực không. Năm ngoái, Diêm và các trí thức diều hâu khác công khai đề nghị rằng Trung Quốc nên phát triển các hình thức gần như liên minh với khoảng trên một chục nước, gồm các cộng hòa Trung Á, Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Pakistan, Nga, và Sri Lanka, cấp cho họ những đảm bảo an ninh và, đối với những nước nhỏ trên danh sách này, có lẽ cả sự che chở của chiếc dù hạt nhân Trung Quốc. Những động thái này không phải là điều mà nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Robert Zoellick nghĩ tới vào năm 2005 khi ông kêu gọi Trung Quốc nên trở thành một “thành viên có trách nhiệm” trong trật tự toàn cầu.

Tiếp sức cho tính quyết đoán quốc tế ngày một gia tăng của Trung Quốc là sự phát triển một hệ thống chính trị trong nước ngày càng tham gia bàn việc nước, trong đó nhiều trường phái khác nhau thi đua tranh luận vấn đề và cũng là nơi Internet và nhất là các phương tiện truyền thông xã hội đã tạo ra một công luận sinh động hơn trước nhiều. Trong quá khứ, các nhà làm chính sách phương Tây thường lên án Trung Quốc đã dùng thủ đoạn để nuôi dưỡng hận thù dân tộc rồi lấy cớ là hành động của mình bị hạn chế vì sự phẫn nộ của người dân. Nhưng ngày nay, tiếng trống thúc quân của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc có vẻ chân thật hơn là ngụy tạo. Trong Chiến tranh Lạnh, các nhà phân tích phương Tây cho rằng Đảng Cộng sản là xấu và xã hội dân sự là tốt. Nhưng ngày nay, Đảng Cộng sản có xu thế thúc đẩy một sự tự chế ở nước ngoài, trong khi người dân Trung Quốc bình thường lại đòi hỏi Đảng phải có hành động cứng rắn hơn.

Trong khi Trung Quốc cân nhắc phải làm thế nào để nới rộng ảnh hưởng quốc tế và những cam kết của mình, thì Mỹ đang ra sức hòa giải cái tham vọng siêu cường quốc tế của mình với tâm trạng thấm mệt chiến tranh của người dân và những đe dọa về nợ nần quốc gia. Obama đã tìm cách phát triển một mô hình lãnh đạo ít tốn kém: một phiên bản kiểu Mỹ của đường lối Đặng Tiểu Bình, với sự khác biệt là trong khi Đặng cố gắng che giấu sự giàu có đang gia tăng của Trung Quốc, thì Obama lại tìm cách che giấu sự thiếu hụt nguồn lực ngày càng trầm trọng của Mỹ. Trên thực tế, đường lối này của Mỹ gồm: trừng phạt các nước thù nghịch như Iran và Bắc Triều Tiên bằng biện pháp kinh tế, truy kích khủng bố bằng máy bay không người lái, tránh đơn phương can thiệp ở nước ngoài mà có xu thế “lãnh đạo từ đằng sau”, và thiết lập những quan hệ thực tiễn với các quốc gia hùng mạnh như Nga. Từ góc nhìn của Trung Quốc, dấu hiệu có vẻ báo nguy nhất đối với Trung Quốc là chiến lược “xoay trục” về châu Á của Mỹ có vẻ như mô phỏng theo chính sách ngoại giao đa phương và chiến lược thương mại của Bắc Kinh. Thật vậy, như một nhà chiến lược của Lầu Năm góc đã nói với tôi gần đây, “Thay vì chơi cờ tướng, chúng tôi đang chơi cờ vây”, một loại cờ bàn cổ đại của Trung Quốc. Nhưng thậm chí khi Trung Quốc và Mỹ phát triển những đường lối khác nhau để bành trướng ảnh hưởng, cả hai đều bám lấy một hình thức của chủ nghĩa biệt lệ [exceptionalism]. Cả hai đều tin rằng mình khỏi phải tuân theo một số yếu tố nhất định của luật pháp quốc tế và mình được định mệnh giao phó một vai trò khống chế khu vực tại châu Á. Tuy nhiên, cả hai nước đều khó có thể hòa hợp cái xác tín ấy với cảm giác mà mỗi bên đều có, rằng trong một thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau này mình đã bị nước kia chơi trội. Người Mỹ than phiền về mất công ăn việc làm, còn người Trung Quốc thì than phiền về việc đã mất đi những số tiền dành dụm bằng mồ hôi nước mắt. Washington than phiền rằng Bắc Kinh không chơi theo luật, còn Bắc Kinh thì phản bác rằng những luật này đều do phương Tây bày ra để kềm hãm các nước khác. Khi căng thẳng gia tăng, nhiều khía cạnh của quan hệ Mỹ-Trung mà đã có thời cả hai bên cho là cơ hội lại có vẻ đang ngày càng là những mối đe dọa.

HAI BÊN TÌM ĐƯỜNG TRÁNH NHAU
Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã tự do hóa nền kinh tế của mình, tạo ra một giai cấp trung lưu lên đến hàng trăm triệu người, và chứng kiến sự ra đời một công luận đích thực [a genuine public sphere] trong số hơn 500 triệu người dân Trung Quốc sử dụng Internet. Trung Quốc đã được đón mời vào các định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và G-20 và được nhiều Tổng thống Mỹ liên tiếp đối xử bằng những tuyên bố công khai bày tỏ sự kính trọng. Nhiều nhân vật tại Washington từng hi vọng rằng những chuyển biến này sẽ đi liền với việc Trung Quốc gia tăng hậu thuẫn đối với hệ thống quốc tế do phương Tây lãnh đạo. Nhưng họ đã thất vọng vì thấy Trung Quốc không đáp ứng theo mong muốn của mình.

Thật vậy, thay vì bị những định chế toàn cầu chuyển hóa, Trung Quốc theo đuổi chính sách ngoại giao đa phương rất tinh vi, làm thay đổi trật tự toàn cầu. Ở G-20, Trung Quốc đứng cùng phe với các nước chủ nợ, như Đức, một nước mà Trung Quốc đã liên minh năm 2010 khi người Đức chống lại một gói kích thích kinh tế toàn cầu do Mỹ đề xuất. Washington cũng thất vọng vì Bắc Kinh đã góp phần kết liễu Vòng đàm phán Doha về thương mại thế giới, bằng cách giữ thái độ bất động vào thời điểm các cuộc đàm phán có dấu hiệu lâm nguy. Tại LHQ, Trung Quốc đã đẩy lùi sự phát triển các qui phạm bảo vệ tự do: trong thời gian 1997-98, các quốc gia khác bỏ phiếu theo Washington về những vấn đề nhân quyền tại Đại hội đồng là 80% số lần; trái lại, vào năm đó, các nước “bỏ phiếu theo” Bắc Kinh về các vấn đề này là 40%. Vào năm 2009-2010, những con số này gần như bị đảo ngược: khoảng 40% bỏ phiếu theo Mỹ và gần 70% theo Trung Quốc trên các vấn đề nhân quyền. Sự thay đổi lập trường này một phần là do Trung Quốc giành được hậu thuẫn của các nước đang phát triển bằng cách cho vay nhẹ lãi, trực tiếp đầu tư, và hứa hẹn bảo vệ những nước này trong trường hợp Hội đồng Bảo an LHQ đưa ra những nghị quyết trừng phạt họ.

Trước sự thất vọng của phương Tây, các học giả Trung Quốc, như nhà sử học vai vế Thì Ân Hoành (Shi Yinhong), tranh luận rằng phương Tây không nên quá bận tâm về việc “thúc đẩy Trung Quốc hội nhập vào trật tự tự do của phương Tây”, mà thay vào đó nên điều chỉnh cái trật tự ấy “để đáp ứng nguyện vọng của Trung Quốc”, như Thì đã nói với tôi gần đây. Sự điều chỉnh này sẽ đòi hỏi một sự tái phân phối rộng lớn ảnh hưởng chính thức trong các định chế tài chính và an ninh toàn cầu, theo đó quyền lực được phân phối cho các quốc gia thành viên sẽ không tùy thuộc vào các khái niệm được định sẵn từ trước là ai sẽ có quyền cai quản, mà tùy thuộc vào “sức mạnh đích thực mà mỗi nước có được và sự đóng góp mà mỗi nước đã thể hiện”, như Thì lý giải. Trên thực tế, Thì tranh luận, Mỹ sẽ phải chấp nhận một thế cân bằng quân sự với Trung Quốc (chí ít ở phía đông Đài Loan), việc thống nhất bằng đường lối hòa bình của Trung Quốc và Đài Loan theo điều kiện của Bắc Kinh, và một khoảng “không gian chiến lược” nhỏ hẹp nhưng quan trọng đối với Trung Quốc ở tây Thái Bình Dương. Hơn thế nữa, hệ thống liên minh của Mỹ cần phải “giảm bớt tập trung vào quân sự và giảm bớt việc lấy Trung Quốc làm mục tiêu”.

Nhưng cho dù giới tinh hoa Trung Quốc có muốn gì đi nữa, phương Tây vẫn chưa sẵn sàng điều chỉnh trật tự thế giới hiện hữu để đáp ứng nguyện vọng của Trung Quốc. Và thay vì chấp nhận những nhượng bộ cần thiết cho một G-2 hay sự bế tắc của nguyên trạng, các cường quốc phương Tây đang tránh đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh trong khi theo đuổi những quan hệ và những chính sách nhằm hạn chế khả năng của Trung Quốc trong việc uốn nắn hệ thống quốc tế theo ý mình.

Trong những năm gần đây, chẳng hạn, một nhóm quốc gia có lợi tức cao do Mỹ lãnh đạo và gồm cả Australia, Canada, Malaysia, và Singapore đã bắt đầu đàm phán để thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, một thương ước cố ý loại trừ Trung Quốc và nhấn mạnh những tiêu chuẩn khắt khe đối với các doanh nghiệp nhà nước, với quyền lợi công nhân, với các biện pháp bảo vệ môi trường, và quyền sở hữu trí tuệ. Nếu cuối cùng Nhật Bản cũng gia nhập, các thành viên của TPP sẽ chiếm đến 40% GDP toàn cầu. Thậm chí còn tham vọng hơn cả TPP là những cuộc đàm phán được khởi động gần đây về Hiệp định Đối tác Đầu tư xuyên Đại Tây Dương, một kế hoạch đã được bàn bạc từ lâu nhằm tạo ra một hiệp ước tự do mậu dịch giữa EU và Mỹ, một hiệp ước sẽ cho các nước phương Tây những lợi thế đáng kể trong bất cứ một cuộc đàm phán thương mại nào sau này với Trung Quốc. Mục tiêu của những hiệp ước mới này không phải là để đẩy Trung Quốc ra khỏi nền mậu dịch quốc tế, mà để soạn ra các qui định không có sự tham gia của Trung Quốc để rồi sau này buộc Trung Quốc phải chấp nhận chúng. Phương Tây cũng đang có những nỗ lực song song trong lãnh vực an ninh. Mỹ đang cố gắng sử dụng chiến lược xoay trục hướng về châu Á để củng cố những quan hệ lâu đời với nhiều nước chung quanh Trung Quốc nhằm gây cản trở cho tham vọng bá quyền quân sự của Trung Quốc ở khu vực tây Thái Bình Dương. Trong các nỗ lực can thiệp quốc tế, phương Tây đang gia tăng “việc tìm kiếm diễn đàn” [forum shopping]: hợp tác với những tổ chức khu vực, như Liên đoàn Á rập và Liên hiệp châu Phi, và dựa vào những liên minh không chính thức, như Nhóm Bạn của Syria [Friends of Syria], bất cứ khi nào chính sách ngoại giao tại LHQ bị bế tắc. Trong khi đó, Trung Quốc cũng hoạt động ráo riết không kém để qua mặt phương Tây. Trung Quốc đã thành lập các định chế an ninh của chính mình, như Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, và đã ký kết các thoả ước mậu dịch đơn phương và đa phương với nhiều nước khắp thế giới. Trung Quốc cũng thường xuyên tổ chức các hội nghị thượng đỉnh với các đối tác BRICS và đang cố gắng thành lập một ngân hàng phát triển BRICS với tiềm năng nắm giữ một danh mục cho vay lớn gấp ba lần danh mục cho vay của Ngân hàng Thế giới. [BRICS: viết tắt của Brazil, Russia, India, China, South Africa, ND]

CHỦ NGHĨA TƯƠNG ĐỒNG ĐA PHƯƠNG
Đứng giữa các trật tự thế giới do Mỹ và Trung Quốc dẫn đầu là các cơ chế toàn cầu như Hội đồng Bảo an LHQ, Nhóm G-20, Quĩ Tiền tệ Quốc tế, và Ngân hàng Thế giới. Nhưng chúng thường gặp phải bế tắc do các bất đồng giữa những nước thành viên. Do đó, thay vì buộc các cường quốc mới nổi [emerging powers] phải thích nghi với các định chế phương Tây, hi vọng lớn nhất có thể có được từ những định chế này là chúng sẽ là nơi để các đại cường thảo luận những vấn đề đặc biệt bức thiết: chẳng hạn, cuộc tan chảy tài chính toàn cầu 2008 hay sự ngoan cố của Bắc Triều Tiên về vấn đề hạt nhân. Sự yếu kém và vô bổ của những định chế này có thể trở nên ngày một tồi tệ, vì đáng lẽ phải hợp tác để cải tổ những diễn đàn chung đã có sẵn, các cường quốc phương Tây lại cố gắng xây dựng “một thế giới phi-Trung Quốc” trong khi Trung Quốc và các nước đối tác cố gắng tạo ra cái mà một số nhà phân tích gọi là “một thế giới phi-Tây phương.” Chẳng hạn, Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương có thể ảnh hưởng [tiêu cực] đối với WTO. Như chuyên gia kinh tế Bỉ André Sapir đã lý giải, nếu các nước chiếm gần một nửa GDP toàn cầu thành lập hệ thống giải quyết tranh chấp riêng, tách khỏi WTO, thì cái WTO một thời kiêu hãnh này “sẽ giống như một tổ chức khác có trụ sở tại Geneva, Tổ chức Lao động Quốc tế, một nơi có mặt tiền xinh đẹp trên hồ Léman mà hằng năm các vị bộ trưởng đến đọc những bài diễn văn hay ho nhưng chẳng bao giờ lấy những quyết định quan trọng.”

Thay vì coi những cơ chế đa phương toàn cầu là tối cần, các nước sẽ dựa nhiều hơn nữa vào các mạng lưới mới thành lập giữa các quốc gia có cùng mức độ thịnh vượng. Xin tạm gọi hiện tượng này là “chủ nghĩa tương đồng đa phương” [similateralism]. Một trong những hậu quả của hiện tượng này sẽ là một hình thái lưỡng cực mới và lạ thường, bên ngoài có vẻ giống Chiến tranh Lạnh chứ không còn giống như thế giới của hai thập niên qua. Những khác biệt này sẽ bao gồm một nước Mỹ mất dần thanh thế, một đối thủ khôn ngoan hơn (và thành công hơn) ngang hàng với Washington, và các nước phi liên kết hùng mạnh hơn trước. Nhưng những động lực của chính trị toàn cầu trên cơ bản cũng sẽ khác với những động lực chi phối thế giới trong năm thập kỷ sau Thế chiến II.

Một, khác với Chiến tranh Lạnh, bản chất của cuộc đua này chủ yếu sẽ là địa kinh tế [geoeconomic] hơn là địa chính trị [geopolitical], do hậu quả của những tốn kém ngày một gia tăng của việc duy trì sức mạnh quân sự.

Hai, sự cạnh tranh Mỹ-Trung có đặc tính là: hai cường quốc đã lệ thuộc vào nhau ở mức độ cao, vì sự xâm nhập lẫn nhau giữa hai nền kinh tế là rất sâu đậm. Tuy nhiên, các nhà làm chính sách của hai nước lại coi sự lệ thuộc lẫn nhau này là một mối nguy cần phải giảm bớt và quản lý, chứ không coi đó là một công thức để xây dựng những quan hệ nồng ấm. Mỹ cần Trung Quốc tiếp tục mua trái phiếu chính phủ của Mỹ, và các bang của Mỹ đang cạnh tranh ráo riết để thu hút đầu tư Trung Quốc. Nhưng Washington cũng lo lắng về sự quá lệ thuộc vào vốn Trung Quốc và lo sợ gián điệp mạng Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc cần tìm một nơi an toàn để cất giữ những lượng tiền dự trữ của mình và cần đến công nghệ Mỹ để xây dựng một xã hội tri thức. Nhưng Bắc Kinh tức giận vì cho rằng chính sách gia tăng nguồn cung tiền [quantitative easing] của Cục dự trữ Liên bang Mỹ đang làm tiêu tán đống tiền của Trung Quốc và nghi ngờ rằng Washington đang hoạt động để thúc đẩy việc thay đổi thể chế tại Trung Quốc.

Ba, mặc dù nhiều nước phi liên kết cuối cùng phải chọn một chiến tuyến trong Chiến tranh Lạnh, nhưng trong những thập niên tới, những nước phi liên kết có thể khai thác sự hiện hữu của những khối quyền lực linh động hơn, không đòi hỏi nếu theo phe này phải loại bỏ phe kia. Hậu quả sẽ là một trật tự thế giới lang chạ [a promiscuous world order] trong đó các nước có thể ký kết các hiệp định với cả Trung Quốc lẫn Mỹ.

Sau cùng, Bắc Kinh và Washington sẽ kình chống nhau vì địa vị toàn cầu chứ không phải vì ý thức hệ. Cho đến nay Trung Quốc vẫn còn quá yếu và ở vào thế thủ, chưa đủ sức để đưa ra một phương án thay thế cho cái trật tự thế giới tự do do Mỹ lãnh đạo, nhưng tình hình này sắp thay đổi. Trung Quốc và Mỹ sẽ sử dụng cùng một thứ từ ngữ trong việc lý giải những động lực của mình như: “trật tự,” “tính chính đáng,” “tăng trưởng kinh tế,” và “trách nhiệm.” Nhưng, như người ta thường nói, hai nước này sẽ bị chia cách bởi cùng một ngôn ngữ.

MARK LEONARD là Đồng sáng lập viên kiêm Giám đốc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu và là Nhà nghiên cứu Chính sách công trong chương trình Bosch tại Học viện Xuyên Đại Tây dương. Ông là tác giả của hai cuốn sách gây tiếng vang và được dịch ra gần 20 thứ tiếng là Why Europe Will Run the 21st Century (2005) và What Does China Think? (2008).

Nguồn: Foreign Affairs, tháng Chín/tháng Mười 2013
Bản tiếng Việt © 2013 Trần Ngọc Cư & pro&contra


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Kẻ Ở Miền Xuôi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - 
 “Tô Hoài luôn hướng ngòi bút về phía người cùng khổ… bằng tất cả sự đồng cảm của trái tim. Đọc Truyện Tây Bắc của ông để hiểu thêm về cuộc sống của miền núi, với những mặt trái như những nỗi đau. Tập truyện có một chủ đề rất tập trung: những người dân miền núi vừa là nạn nhân của thực dân Pháp, của chế độ phong kiến, của chính những phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan của mình. Họ đã đứng lên đấu tranh, giải phóng…
Nhiều tác phẩm của Tô Hoài được trích dẫn, và giảng dậy trong chương trình học ở miền Nam. Ông cũng rất được yêu quí và được ghi nhận, với tất cả sự trân trọng, như là  một nhà văn của tuổi thơ:
Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng ai oán, thảm thương!
Ðoạn văn ngắn này, trong tập truyện O Chuột, tôi đã được cô giáo đọc cho nghe đôi lần – khi còn thơ ấu. Dù rất nhiều năm đã trôi qua, tôi vẫn tin rằng mình vừa ghi lại đúng nguyên văn, nếu không hoàn toàn đúng thì chắc cũng gần đúng (y) như thế. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà nhỏ côi cút “dáng còn bé tí teo, và có cảm tình hoài với người viết những dòng chữ ghi trên.
Sau khi đất nước thống nhất, Nam/Bắc hoà lời ca, tôi mới biết thêm là có một Tô Hoài khác – khác hẳn trong trí tưởng ấu thơ của mình – qua lời của nhà văn Nhật Tuấn:
Hội nhà văn Việt Nam hồi đó có hơn 150 Hội viên mà hàng năm chỉ có dăm bảy suất, bởi vậy đó là cuộc đấu tranh sinh tử, giành giật âm thầm và quyết liệt chẳng thua gì vũ đài quyền Anh...

Ấy thế mà riêng Tô Hoài, tổng kết lại trong thời bao cấp ông đã xuất ngoại tới cả trăm lượt, đủ  các nước Á, Âu, Mỹ , Úc, Phi.... Các bác Hội viên “cả đời chưa một lần đặt đít lên ghế  tàu bay” phải ca cẩm :cái thằng ranh ma thế, có mỗi con dế mèn mà bay khắp thế gian.

Tô Hoài không chỉ “bay” khắp năm Châu mà còn đi khắp nước. Ông tìm đến những nơi xa xôi để ghi lại những cảnh tình, và những mảnh đời (cơ cực) của người dân miền núi.

Năm 1956, Hội Văn Nghệ Việt Nam đã trao giải thưởng (hạng nhất) cho tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài. Tuyển tập này gồm ba truyện ngắn: Cứu Đất Cứu Mường,” Mường Giơn” và Vợ Chồng A Phủ.” Cả ba đều được coi là có giá trị cao vì đã thấm nhuần đường lối của Đảng” và “đã nói lên một cách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các dân tộc anh em ở vùng cao dưới ách chiếm đóng của thực dân Pháp và bè lũ tay sai là bọn quan bang, quan châu, phìa tạo, thống lý” theo như bình phẩm của giáo sư Phan Cự Đệ.

Đường lối của Đảng (xem ra) cũng chả tốt lành hay tử tế gì. Bởi vậy, một tác phẩm nghệ thuật mà “thấm nhuần” thì e khó tránh khỏi ít nhiều khiên cưỡng hay cường điệu – theo như nhận xét của nhà văn Nhật Tuấn và nhà văn Phạm Thị Hoài:
Có lẽ tôi không ưa “Vợ chồng A Phủ” cũng vì trong phần lớn các tác phẩm có mầu sắc folklore miền ngược, viết từ hình dung của người miền xuôi, các nhân vật đều được gán cho những cách nghĩ, cách nói, đặc biệt là cách xưng hô, có phần ngồ ngộ, ngu ngơ, sơ đẳng, ít nhiều bán khai...

Tôi còn e ngại rằng chính vì cái khuôn mẫu “có mầu sắc folklore miền ngược” của những cây viết tiên phong và cổ thụ (kiểu Tô Hoài) đã khiến những tác giả thuộc thế hệ sau vẫn cứ tiếp tục nhắm mắt gán cho tất cả sắc dân bản địa ở Việt Nam “những cách nghĩ, cách nói, đặc biệt là cách xưng hô, có phần ngồ ngộ, ngu ngơ, sơ đẳng, ít nhiều bán khai...” –  y hệt như nhau. Coi:
 Tham gia du kích xã từ năm 1962, đã hơn 70 mùa rẫy nhưng Ngút vẫn còn đủ sức làm hơn 1ha lúa nước. Nghe nhắc chuyện “dép Bác Hồ”, Đinh Ngút lục tìm trong gùi lấy ra một đôi dép đã mòn trơ cả bố. “Dép Bác Hồ mình làm hồi Bác mất đấy. Chẳng biết đã theo mình bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu lần cõng đạn cho bộ đội nữa”.

Ngừng một thoáng, vẻ mặt ông lão chợt nghiêm trang:

 - “Không dối lòng đâu, mỗi lần đi “dép Bác Hồ” là thấy bụng không nghĩ điều trái, chân không đi hai đường. Chẳng riêng mình, cả làng này ai cũng vậy...

Chiến tranh khỏi nói, hòa bình rồi có biết bao chuyện khó… Bông Rẫy hồi chiến tranh chỉ có 50 hộ, bây giờ đã lớn lên gần 120 hộ mà không còn ai đói, chỉ còn 10 hộ nghèo. Ai cũng có xe máy, hơn một nửa đã làm được nhà xây. Không ai nghe lời kẻ xấu vượt biên trái phép… Không nhờ phép lạ “dép Bác Hồ” sao được thế? Có “dép Bác Hồ” là thắng tất! (Lê Quang Hồi. “Làng Bông Rẫy Mang Dép Bác Hồ.” Quân Đội Nhân Dân 1 June 2009).

 Nhân dịp tái bản tập Truyện Tây Bắc, vào năm 2004, Tô Hoài có đôi lời tâm sự:

Năm 1952, tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng Tây Bắc...Cái kết quả lớn nhất và trước nhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều, không thể bao giờ quên. Không thể bao giờ quên được lúc vợ chồng A Phủ tiễn tôi ra khỏi dốc núi Tà Sùa rồi cũng vẫy tay gọi theo: “ Chéo lù! Chéo lù!’’ ( Trở lại! Trở lại! ). Không bao giờ quên được vợ chồng Lý Nủ Chu đưa chúng tôi dưới chân núi Cao Phạ, cùng vẫy tay kêu: Chéo lù! Chéo lù! Hai tiếng “ trở lại, trở lại’’ chẳng những nhắc tôi có ngày trở lại mà tôi phải đem trở lại cho những người thương ấy một kỷ niệm tấm lòng mình, một cái gì làm hiển hiện lại cuộc đời người HMông trung thực, chí tình, dù gian nan đến thế nào, bao giờ cũng đợi cán bộ, đợi bộ đội, bao giờ cũng mong anh em trở lại. Chéo lù! Trở lại! Trở lại! Chéo lù!

Sáu thập niên đã qua, Tô Hoài vẫn chưa có dịp “chéo lù” thì “những “người Hmông trung thực chí tình”  năm xưa đã “đổ về Hà Nội”, theo như tường thuật của blogger Trần Thị Cẩm Thanh:
Trong mấy ngày qua, trời Hà Nội mưa và gió lạnh, thông tin về những người H Mông bị bị công an quận Đống Đa đuổi ra khỏi nhà thờ trong đêm giá lạnh đã khiến cộng đồng không thể bàng hoàng, bàng hoàng vì tại sao con em nhân dân sau khi được tuyển vào ngành công an, ngành công an đã đào tạo họ như thế nào, môi trường sống và làm việc ra sao mà chúng nó lại trở nên tàn nhẫn như vậy…

Theo trình bày của người dân H Mông tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng thì tất cả dân tộc H Mông sống trong 4 tỉnh phía Bắc là Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đều bị đàn áp tàn nhẫn, cấm không cho sống đời sống văn minh mà bắt trở về với các thủ tục lạc hậu của dân tộc H Mông.

Người H’Mông biểu tình ở Hà Nội. Ảnh: Trần Thị Cẩm Thanh

Khác hẳn với gam mầu sắc folklore miền ngược(đậm nét trong truyện Vợ Chồng A Phủ”) cách ăn mặc cũng như ăn nói gẫy gọn, chững chạc, tự tín của những thanh niên H’moông nghe và thấy được qua youtubekhiến tôi hết sức ngạc ngạc nhiên và vô cùng xúc động:
Chính quyền từ trung ương đên địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc… chúng em cũng cảm thấy là có lẽ chúng tôi cần phải đứng lên để vạch trần, và đứng lên dũng cảm… để kiên nhẫn vượt qua khó khăn đó… để chúng tôi được sống và quyền làm người như các dân tộc khác.”

Ma Pá – Phát Ngôn Viên của đoàn người H’Mông biểu tình tại Hà Nội. Ảnh: Trần Thị Cẩm Thanh

 "Trên đấy nó cứ bắt cóc người dân tộc H Mông... bắt người vô cớ, không có 1 lý do gì, bà con rất hoang mang lo sợ, nên bà con bây giờ phải xuống đây để cho chính phủ giải quyết, phải có một văn bản để cho bà con yên tâm mà làm ăn thì bà con mới quay về, còn không có thì chúng tôi cứ ở đây thôi. Cho đến khi nào chính phủ công nhận, nhà nước bảo không bắt dân tộc này nữa, và không làm cho dân tộc này phải hoang mang lo sợ nữa thì chúng tôi sẽ về... không phải ở đây làm gì. Chúng tôi có nhà có cửa, có cuộc sống của chúng tôi, chẳng qua là do không công bằng nên chúng tôi phải đi đòi hỏi".

Không cần phải là thầy bói người ta cũng có thể đoán được “chính phủ” đã “giải quyết” sự việc “không công bằng” này ra ra sao. Từ Bangkok, hôm 24 tháng 10 năm 2013, biên tập viên Gia Minh RFA có bài tường thuật:
Thông tin truyền tải trên mạng Internet trong những ngày qua cho biết có một nhóm đồng bào người H’mông mấy chục người từ 4 tỉnh phía Bắc gồm Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang xuống Hà Nội khiếu kiện phải sống vật vạ tại Vườn hoa Mai Xuân Thưởng như những dân oan các tỉnh khác lâu nay phải bám trụ tại đó để tiếp tục khiếu kiện.

Một số người hảo tâm tại Hà Nội đã đến giúp đỡ cho họ trong suốt những ngày qua.

Thế nhưng đến đêm 23 tháng 10, lực lượng chức năng đã đến và đưa họ đi.

Một phụ nữ trong đoàn khi đang trên xe mà không biết bị đưa đi đâu, trả lời qua điện thoại kể lại chuyện bị bắt đưa đi như sau:
Người ta đến đánh, dùng roi điện giật bà con. Họ là công an thành phố kết hợp với công an trên tỉnh, họ có người mặc sắc phục, có người không. Bà con cầm tay nhau, những người bên trong thoát, nhưng phía ngoài lăn ra đất hết. Họ lôi ra xe buýt, đưa về đàn áp tại chỗ tiếp công dân. Sau đó đưa lên xe về Cao Bằng, có ba xe. Khi lên xe, tôi thấy một người nằm tại đống rác là các chiếu mà bà con Hà Nội cho dùng tạm, người đó không còn tính mạng nữa rồi!

Tô Hoài, nay, đã bước qua tuổi 90. Chưa chắc ông đã đến được vườn hoa Mai Xuân Thưởng để an ủi những người H’mông trong những đêm mưa giá lạnh. Tôi chỉ hy vọng (mỏng manh) rằng nay mai ông sẽ lên tiếng, ít nhất thì cũng là một lời ai điếu, cho những người Hmong vừa bị đánh chết tại Hà Nội tuần qua. Đây là con cháu của những người được chính Tô Hoài mô tả là “trung thực, chí tình” mà hơn nửa thế kỷ trước khi ông bước “ra khỏi dốc núi Tà Sùa rồi” mà họ “vẫy tay gọi theo: Chéo lù! Chéo lù! (Trở lại! Trở lại!)

Tuy nhiên, tưởng cũng cần phải nói thêm rằng “trung thực” và “chí tình” là những đức tính không dtìm nơi (rất nhiều) những kẻ ở miền xuôi.


K’Tien