Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Nguyễn Hoài Vân - Nho Giáo


Nguyễn Hoài Vân

Tâm Vật Hợp Nhất:

Khi bước vào Nho Giáo, đây là điều đầu tiên cần chú ý. Xin đề nghị vài góp ý để phần nào tiếp cận quan điểm nền tảng này :

Ta chỉ biết được sự vật qua những ý niệm mà sự vật ấy gợi lên trong tâm của ta. Thấy cái bàn, ta có ý niệm cái bàn. Mỗi người có ý niệm cái bàn khác nhau, mỗi người "thấy" những khía cạnh, những đặc điểm khác nhau, dù có nhiều chỗ tương đồng. Chính nhờ những tương đồng ấy mà chúng ta thoả thuận gọi cái ấy là cái bàn.


Như vậy, điều quan trọng đối với ta là những ý niệm về sự vật, chứ sự vật thật sự, có quá nhiều khía cạnh ta không thể nắm hết nổi. Ý niệm ấy có được là nhờ ta có TÂM. Vương Thủ Nhân bảo nếu không có Tâm của ta thì ngay cả Trời Ịất, cũng nào ai biết đến?

Tuy thế Tâm không thể hoạt động khơi khơi mà phải có Vật ảnh hưởng vào thì ý niệm mới phát sinh được. Như vậy, ngoại giới, tức Vật, ảnh hưởng vào nội giới, tức Tâm, và nội giới cũng quy định, sắp xếp những cảm nhận tiếp thu được từ ngoại giới, theo những mô hình sẵn có, để làm thành ý niệm. Ý niệm hình thành không phải do vật, cũng không phải do Tâm, mà do cả hai.

Nói cách khác, vẫn với thí dụ cái bàn, ta có thể phân ra:
Cái bàn "vật lý" có thể được miêu tả bởi những tiêu chuẩn như : khối lượng, kích thước, màu sắc v.v...
Và cái bàn "tâm lý" không thể mô tả được theo cái "lý" của vật mà phải được "nhìn" với cái "lý" của tâm, tức là những tiên nghiệm, định kiến, những xúc động, kỷ niệm, mộng mơ, tư tưởng mà cái bàn ấy có thể gợi lên trong Tâm ta.

Thuyết Tâm Vật hợp nhứt cho rằng không có cái bàn vật lý, cũng không có cái bàn tâm lý tách rời khỏi thế giới hiện thực, mà chỉ có cái bàn vừa vật lý vừa tâm lý, qua đó "lý" của cả vật lẫn tâm hoà hợp trong ý niệm "cái bàn"

Quan điểm này tiềm tàng trong nhiều kinh sách, xưa nhất có lẽ là Hồng Phạm Cửu Trù, đoạn nói về ngũ hành và ngũ sự.

Rất gần với đề tài Tâm Vật hợp nhất, là vấn đề về Tinh Thần và Vật Chất trong phạm vi một cá nhân:

Thật vậy, trong mỗi con người có phần tinh thần và phần vật chất. Hai phần đó phải kết hợp lại mới ra con người. Bỏ bớt một thì hết là con người. Thậm chí hoạt động của một trong hai phần này mà kém sút thì hoạt động của toàn thể con người cũng kém đi. Thí dụ khi đau yếu mệt mỏi đói khát... thì tinh thần cũng suy kém, ý thức thành ra mơ hồ, tư tưởng có thể trở nên lệch lạc. Ngược lại, khi tinh thần bạc nhược, thân thể cũng bải hoải, tinh thần có bệnh lâu dần cơ thể cũng sanh bệnh, điều mà y khoa hiện đại ngày càng ngày càng nhận thức rõ.

Ý thức được điều này, người ta buộc phải có một cái nhìn toàn diện mỗi khi bàn đến những gì  liên quan đến con người.


Thiên Nhân Hợp Nhất :

Là điều thứ hai cần nắm vững khi bàn đến Nho Giáo.

ẪThiênỮ có thể được hiểu theo nhiều cách. Sau đây là hai cách chính:

"Thiên" tức Trời, là Ịấng Tối Cao, Vị Thần trên hết các vị Thần. Ở thời thái cổ, người ta nhận thấy dân nhà Thương hay dùng chữ Thượng Ịế, còn dân nhà Chu lại hay dung chữ Thiên, sau mới pha lẫn coi Thiên như Thượng Ịế. Cần nhận rõ: cách hiểu này gán cho Trời một nhân cách chủ quan.

"Thiên" cũng có thể chỉ nguyên lý điều hành Vũ Trụ vạn vật. Ở đây Trời không có nhân cách mà chỉ là một động lực khách quan.

Nhà Nho nghiêng về lối nhìn thứ hai, tuy đôi lúc vẫn thích gọi Trời là Cha, Ịất là Mẹ, cho  bớt vẻ trừu tượng. Thật ra ra khi gọi Trời là Cha Ịất là Mẹ, Nho Gia diễn dịch một tư tưởng cổ xưa cho rằng nguyên lý tự nhiên điều hành Vũ Trụ Vạn Vật cũng là cái đã SINH RA Vũ Trụ Vạn Vật. Ngoài ra họ cũng phát biểu niềm tin rằng thế lực tự nhiên ấy TỐT cho muôn vật nói chung và cho con người nói riêng, như hình ảnh cha mẹ bao bọc nuôi dạy con thơ, với cái ỡ lý ữ duy nhất là làm sao cho con cái triển nở tốt đẹp.

Một điều khác cần nói rõ là, theo Nho Gia, nguyên lý tự nhiên điều hành vạn vật cũng tiềm tàng trong vạn vật và đương nhiên là hiện hữu trong con người. Vạn vật chỉ là những hình thức phát biểu khác nhau của nguyên lý ấy. Nguyên lý ấy là BẢN THỂ của vạn vật.

Nếu ta tạm gọi Bản Thể này là THIÊN TÍNH, thì ta có thể nói như sau:

Vì có Thiên Tính tức Tính Trời nên con người hoà hợp được với Trời tức hoà hợp được với thế lực tự nhiên điều hành vũ trụ vạn vật.

Vì cùng mang Thiên Tính như vạn vật, nên con người cũng hoà hợp được với vũ trụ vạn vật, ví như anh em có cùng cha mẹ là Trời Ịất.

Hoà hợp với Trời và hoà hợp với Vạn Vật, nghĩ cho cùng thì cũng chỉ là một việc, suy từ sự chấp nhận có Thiên Tính trong con người cũng như trong vạn vật.

Ở đoạn trước ta đã nói Tâm Vật hợp nhất là hoà hợp nội giới với ngoại cảnh. Ý tưởng này càng rõ hơn với thuyết Thiên Nhân hợp nhất, con người, tức nội giới, hoà hợp với Trời Ịất Vũ Trụ Vạn Vật, tức ngoại cảnh. Ta có thể nói Thiên Nhân hợp nhất khai triển và biện minh cho Tâm Vật hợp nhất.

Tri Hành Hợp Nhất:

Là điều có thể gây nhiều thắc mắc nhất trong các lý thuyết của Nho Gia.

Thường nhà Nho dựa vào một câu trong Ịại Học mà cắt nghĩa Tri Hành hợp nhất, đại ý như sau :
Thấy cái đẹp liền ham, ngửi mùi thối liền ghét, thấy cái đẹp và ham cái đẹp là một, cũng như ngửi mùi thối và xa ghét cái thối. Nếu thấy cái đẹp mà không ham thích thì tại không biết cái ấy đẹp, gặp mùi thối mà không xa ghét thì tại chưa nhận ra mùi ấy thối, chứ nếu nhận ra cái đẹp hay mùi thối thì sự ham ghét đương nhiên gắn liền với cảm nhận không thể phân ra được.

Mặc dầu những lời giải thích kiểu này, nhiều người vẫn không chấp nhận được một cách thành thật ý tưởng Tri Hành hợp nhất. Chúng ta có thể lấy câu của Vương Dương Minh: "Biết mà không làm là không biết đến nơi đến chốn", để tự xét thấy nhiều khi mình biết rành rẽ chuyện gì tốt, chuyện gì phải làm, nhưng vì trăm ngàn lý do vẫn không chịu làm chuyện ấy. Ngược lại, biết rõ chuyện xấu, chuyện không nên làm, nhưng cũng vì trăm ngàn lý do vẫn cứ làm nó. Trong những trường hợp này ý tưởng "biết dễ làm khó" (tri dị hành nan) có vẻ đúng hơn là "biết, làm, là một" (tri hành hợp nhất).

Ngược lại, cũng có người cho là làm dễ, biết mới khó. Xin thuật vắn tắt câu chuyện một anh cán bộ của ông Phan Xích Long Hoàng Ðế. Ông Phan khởi nghĩa chống thực dân Pháp và mưu đánh Khám Lớn Sài Gòn. Một người cán bộ của ông được lệnh đến đó đặt trái nổ. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông Phan và một số nghĩa quân được "mời" ra Toà. Toà hỏi anh cán bộ: "Trái  phá  anh đặt có nổ chăng?" Ông Phan trả lời thay: "Tôi dạy nó phải đốt ngòi nổ. Nó sợ đốt cháy ngòi, lính canh sẽ nhìn thấy, nên lặng lẽ đặt trái phá rồi bỏ chạy, nếu quan Toà muốn biết có nổ hay không, thì xin cứ đốt thử !" Thì ra anh cán bộ có gan đi đặt chất nổ nhưng không nghĩ được là cần phải đốt ngòi. Làm thì dễ, mà biết mới khó, là vậy (tri nan hành dị).

Giữa "biết dễ làm khó", và "biết khó, làm dễ" làm sao biện minh được cho "biết, làm , là một"? Xin đề nghị vài suy nghĩ :

Ở trình độ của một "phàm phu tục tử" thì đương nhiên là Tri Hành không hợp nhất. Mình kiêu căng tự cho là biết tới nơi tới chốn, chứ thật ra cái biết của mình vẫn chỉ là phiến diện mà thôi chứ đã ăn thua gì đâu. Muốn cho biết với làm là một thì phải đi xa hơn cái biết thông thường mà soi thấu đến chỗ căn bản nhất của sự vật, đến bản thể của chúng. Nói cách khác là phải thấy được Thiên Tính trong mọi vật, như đã nói ở đoạn trước. Ở trình độ này, biết là làm, không còn trở ngại. Cái ẪTriỮ cực cao này gần với cái mà Vương Thủ Nhân gọi là ẪTrí Lương TriỮ.

Khi dùng chữ này thày Vương nâng cao ý tưởng "Trí tri" của Ịại Học lên đến trình độ đạt đạo, giác ngộ.

Thật ra lập luận ấy mang không ít ảnh hưởng Phật Giáo. Thày Vương Thủ Nhân cũng có một thời tu Thiền, không phải ngẫu nhiên vậy.

Nếu Thiên Nhân hợp nhất khai triển và biện minh cho Tâm Vật hợp nhất như đã nói, thì Tri Hành hợp nhất, hiểu theo ý nghĩa phải thấu suốt Thiên Tính trong mọi sự vật, chính là điều kiện của Thiên Nhân hợp nhất và của Tâm vật hợp nhất. Không thấu được Thiên Tính trong chính mình tức trong con người, và trong vạn vật, thì không thể Tri Hành hợp nhất đã đành, mà cũng khó hoà hợp được với Trời Ịất vạn vật, tức khó quan niệm được Thiên Nhân hợp nhất, đồng thời khó hoà hợp nội giới và ngoại cảnh, tức khó mà chứng nổi Tâm Vật hợp nhất.


ÐẠO NHÂN:

Những cái "hợp nhất" vừa được trình bày chung quy cũng chỉ để xác định tư thế của con người đối với Trời Ịất Vũ Trụ Vạn Vật. Khi đã thành thật chứng nghiệm được tư thế ấy, tự trong thâm tâm chứ không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi hay qua luận giải thông thái trên giấy tờ, thì con người không còn có thể nghi ngờ gì nữa đối với công việc mình phải làm, đối với bổn phận của mình trong Trời Ðất. Tri hành hợp nhất mà ! Tổng hợp bổn phận của con người trong Trời Ðất được Nho Gia gọi là Ðạo Nhân.

Ðầu tiên, NHÂN là đạo xử thế giữa người với người. Chiết tự chữ Nhân gồm bộ Nhân đứng và chữ Nhị để chỉ số nhiều.

Với ý nghĩa đó, nhà Nho đặt ra nhiều phạm vi "Ẫchuyên môn" cho Ịạo Nhân, thí dụ Nghĩa là Nhân trong sự ghét điều quấy ưa điều phải, Lễ là Nhân trong sự nhường nhịn, Trí là Nhân của sự sáng suốt phân biệt tốt xấu, hay dở, Tín là Nhân trong sự giao kết thành thật không xảo trá v.v...

Kinh sách cũng đề nghị những giai đoạn, những phương cách để con người có thể phát huy được Ịạo Nhân :
 Phát huy Ịạo Nhân nơi mình, gọi là Tu Thân, trong gia đình mình gọi là Tề Gia, trong nước mình gọi là Trị Quốc, và sau cùng là đem Ịạo Nhân đến khắp mọi nơi, gọi là Bình Thiên Hạ.

Rốt ráo thì Ðạo Nhân được nới rộng ra tới Vũ Trụ Vạn Vật. Vì Vạn Vật với ta cùng một thể (Vạn Vật dữ ngã nhất thể giã - Trình Minh Ðạo) nên ỡ Nhân ữ cũng là bảo bọc, từ ái, với muôn vật, với thiên nhiên, hoà hợp nhu cầu sống của mình với nhu cầu sống của thiên nhiên, không vì dục vọng của mình mà tàn phá sát hại thiên nhiên.

Vấn đề "Nhân Chủ":

Sách Trung Dung nói:
"Thiên Mệnh chi vị Tính; suất Tính chi vị Ðạo; tu Ịạo chi vị Giáo".

Nghĩa là:
Cái lý tự nhiên trong Vũ Trụ đem để vào con người thì gọi là cái Tính. Theo đúng Tính ấy mà sống thì gọi là Ðạo. Chăm lo tu sửa cho mọi việc luôn được đúng với Ðạo thì gọi là Giáo (theo  Phan Bội Châu - chữ Giáo ở đây bao gồm cả chính trị lẫn giáo dục).

Theo câu này ta có thể nói: sống thuận đạo Nhân là sống thuận với tính người, và đồng thời cũng là sống thuận Mệnh Trời. Ta gặp lại Thiên Nhân hợp nhất...

Câu của sách Trung Dung vừa trích dẫn cũng hàm chứa một ý tưởng quan trọng là: con người có thể làm chủ việc thực thi Thiên Mệnh. Thật vậy, Thiên Mệnh gửi nơi con người gọi là Tính, nhưng con người có thể quyết định sống thuận theo Tính ấy hay không, tức là làm chủ sự "suất Tính" và việc "tu Ðạo".

Quan niệm Nhân Chủ gần đây thường được nói tới. Ta cần để ý hiểu Nhân Chủ theo ý nghĩa vừa trình bày, chứ không nên nghĩ Nhân Chủ là con người làm chủ Thiên Nhiên, thống trị vạn vật.

Chính Danh:

Tuy nói rằng ta với mọi người mọi vật đều cùng một Thể (Dân ngô đồng bào, vật ngô dữ dã - Trương Tái) nhưng nhà Nho cũng ý thức cái "Thể" ấy khi phát sinh ra trong cuộc sống thì lại mỗi người, mỗi vật một khác, thiên hình vạn trạng. Vì thế, ta không thể đối xử với mọi người, mọi vật, như nhau (như trong thuyết kiêm ái) mà phải áp dụng Ðạo Nhân một cách thích nghi với từng trường hợp:
Thích nghi với địa vị của người thi hành Ðạo Nhân, đưa đến phân biệt Ịạo làm vua, Ðạo làm dân, Ðạo làm cha, làm con, đạo của nhà giáo dục, của kẻ đắc thời, người thất thế, kẻ giàu có, người nghèo khổ, kẻ khoẻ mạnh, người đau yếu tật nguyền v.v...

Thích nghi với đối tượng của Ðạo Nhân, như Nhân với cha mẹ, gọi là Hiếu, có chỗ khác với Nhân với anh em gọi là Ðễ, Nhân với người trưởng thượng thì thiên về tôn kính, Nhân với người nhỏ hơn mình thì lại nặng phần từ ái v.v...

Ngoài ra, người Nhân còn phải cư xử với những phần tử tệ hại, xấu xa. Ðức Nhân lúc ấy đương nhiên là cũng phải thích nghi để đôi khi trở thành nghiêm khắc.

Làm cho Nhân được thích nghi với từng địa vị, từng đối tượng, đó là chủ đích của thuyết CHÍNH DANH trong Nho học.

Dịch Lý:

Ở trên đã nói nhiều tới việc sống hợp với định luật tự nhiên trong Trời Ðất. Nhưng, định luật ấy dựa vào đâu mà tìm ra được ? Có thể nói : dựa vào quan sát, cảm nghiệm thiên nhiên, hòa với xét suy, luận giải.

Một trong những lý thuyết có thể giúp ích được trong công cuộc tìm kiếm này là Dịch Lý.

Vì có quá nhiều hiện tượng trong trời đất, mỗi hiện tượng lại biến hoá không ngừng (Dịch dã biến dã), nên việc nghiên cứu chúng cho rành rẽ, vô cùng phức tạp, muôn ngàn thế hệ chưa chắc đã xong được một phần nhỏ. Vì thế, người xưa mới nghĩ ra Dịch Lý như một sự đơn giản hóa, với những cái "khung" để đặt vào đó những chuyện có cùng chung một số tính chất nhất định, để giảm thiểu số đối tượng cần được xem xét.

Ðầu tiên, người ta chỉ đặt ra hai "khung" lớn, đó là ÂM và DƯƠNG. Âm được tượng trưng bằng một gạch đứt - - và Dương, một gạch liền -

Rồi người ta chia Âm Dương thành TỨ TƯỢNG, mỗi "tượng" có hai gạch gọi là "hào" chồng lên nhau: thái dương hai gạch liền, thái âm hai gạch đứt, thiếu âm với thiếu dương một gạch liền với một gạch đứt.

Khi xếp 3 hào lên nhau thành một "quẻ" thì người ta có 8 quẻ gọi là Bát Quái. Rồi xếp 6 hào vào chung trong một loại quẻ khác (hay sắp hai quẻ ba hào của bát quái chồng lên nhau) thì có 64 quẻ của kinh Chu Dịch.

Rồi cứ như thế, người ta lý luận trên những biểu tượng thay vì trên thực tế, và từ thế hệ này sang thế hệ khác nghiền ngẫm những biến hoá của các hào, các quẻ, tượng trưng cho mọi việc trong trời đất. Những suy nghĩ trải dài trong thời gian ấy, được ghi lại trong Kinh Dịch.

Sách Hệ Từ, thuộc Dịch Kinh, nói:

"Phù Dịch, Thánh Nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dã".

Ý nói Ðạo Dịch là kết quả của việc Thánh Nhân tìm đến chỗ cực sâu mà nghiên cứu động cơ tinh vi của mọi việc. "Cơ" là cơ chế của sự biến hoá trong vũ trụ. Biết được "cơ" thì cũng chọn đựơc THỜI thụân tiện cho một công việc nhất định, hay ngược lại, trong một thời điểm nhất định, chọn được công việc thích nghi nhất đối với thời điểm ấy.

Ðến đây ta gặp lại Ịạo Nhân với thêm một yếu tố, đó là yếu tố THỜI GIAN.

Thật vậy, nếu Ịạo Nhân cho ta biết việc ta phải làm, thuyết chính danh nhắc ta phải thích nghi công việc ấy với địa vị của ta và với từng đối tượng, thì đây, Dịch Lý cho ta biết lúc nào là lúc  thuận tiện nhất để làm một công việc.

TRUNG DUNG:

Trung dung là cái thắng để tránh sự quá khích, và là địa bàn giúp người tu Nhân sửa chữa những sai lầm của mình.

Thật vậy, chân lý luôn nằm trong sự dung hoà những đối nghịch, nhờ hiểu thấu thực chất của những đối nghịch ấy. Sự sai lạc thường do nghiêng về bên này hay bên kia thái quá làm cho mất quân bình, lỗi Trung Dung. Trở về với Trung Dung là trở về với Ðạo, là noi theo lẽ tự nhiên của Trời Ðất, tức "suất tính", tức thuận Thiên mệnh, như câu "ẪThiên Mệnh chi vị Tính, suất Tính chi vị Ðạo" đã được trích dẫn ở trên.

Người sống đạo Nhân, nắm lấy "chính danh", để thích nghi với VIỆC, tìm về Dịch Lý để thích nghi với THỜI, nhưng vẫn luôn giữ TRUNG DUNG để không mất cái cội rễ, cái cuống rốn nối liền mình với Ịạo, với Tính, với Thiên Mệnh, với cái nguyên lý cấu thành vạn vật.

NHẤT QUÁN:

Ða số những lý thuyết vừa được trình bày, nào Trung Dung, Dịch Lý, cũng như các tư tưởng Thiên Nhân, Tâm Vật, Tri Hành hợp nhứt, chẳng qua đều chỉ là những cách phát biểu đặc biệt của nguyên lý ÂM DƯƠNG, tức định luật hoà hợp những đối nghịch. Làm sao những đối nghịch có thể hoà hợp được với nhau? Là vì chúng đều có chung một BẢN THỂ, tuy Bản Thể ấy, khi thị hiện ra,  thì có muôn ngàn khác biệt, mang thiên hình vạn trạng. Nếu Âm Dương biểu tượng cho sự Ịối Nghịch thì cái gì biểu tượng cho sự Ịồng Nhất giữa muôn vật?

Ðó là nguồn của ÂM DƯƠNG, có khi gọi là ỊẠO.

Ðạo hay Thiên Tính hay Thiên Mệnh v.v... đều là những khái niệm gần với nhau. Sở dĩ có nhiều cách nói để diễn tả Ịạo là vì không có cách nào đúng cả. Ịạo là cái không thể nói ra được (Ðạo bất khả ngôn dã - Vương Dương Minh).

Xin thuật lại một đoạn của sách Luật Ngữ:

"Ðức Khổng Tử nói với Tăng Tử (tên thày là Sâm):
Anh Sâm à, Ðạo của ta chỉ cần một điều thôi là đủ bao quán hết.

Tăng Tử trả lời: dạ !"
(Tử viết: Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi. Tăng Tử viết: Duỵ !)

Ta nhận thấy Tăng Tử không cần hỏi lại coi cái bao quán hết Ịạo của thày mình là cái gì? Chỉ dạ. Ịức Khổng, sau khi thày Tăng trả lời dạ, cũng bỏ đi ra, không cần giảng giải cái nhất quán ấy như thế nào!


Nhu cầu giảm bớt "tiêu chuẩn":

Ðến đây, có lẽ bạn đọc cũng đồng ý với người viết là Ðạo Nho như vừa được trình bày quả là cực cao, cực khó. Nghiệm được Thiên Tính, đạt được Ðạo, hoà hợp được với Trời, với Vạn Vật v.v... đều là những chuyện dành cho bậc Thánh. Ðám "ăn tục nói phét" chúng ta chỉ bàn chơi cho vui thôi chứ nào dám dự vào trong muôn một?

Có lẽ người xưa cũng đã nghĩ tới điều ấy. Vì thế họ buộc phải "giảm tiêu chuẩn", bằng cách bày ra những lý tưởng thấp hơn cái mẫu mực dành cho Thánh Nhân kia, để người thường dễ noi theo. Thí dụ họ đặt ra một mẫu người ở giữa phàm phu và bực Thánh, gọi là Quân Tử, với những đức tính như hoà nhi bất đồng, căng nhi bất tranh, quần nhi bất đảng, thái nhi bất kiêu, cư vô cầu an, thực vô cầu bão (ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no - Nguyễn Công Trứ) v.v...

Nhiều khi lý tưởng quân tử cũng vẫn còn cao quá, cần bớt thêm chút nữa. Xin kể một đoạn đối thoại giữa Ịức Khổng và Thày Tử Lộ:

"Thày Tử Lộ hỏi làm sao cho nên người? Ðức Khổng trả lời: phải có trí khôn như Tang Võ Trọng, phải có lòng đạo đức, dẹp dục vọng như Công Xước, phải hùng dũng can đảm như Biện Trang Tử, phải có tài nghệ khéo léo về ngành nghề chuyên môn như Nhiệm Cầu, rồi lại phải thông thạo văn chương lễ nhạc, đủ hết tất cả những thứ ấy mới gọi được là nên người.

Thày Tử Lộ nghe qua phát ngán, mới trả lời Thày mình như sau: "Ở thời đại bây giờ muốn nên người cần gì phải lôi thôi dữ vậy! Thấy chuyện có lợi thì nghĩ ngay tới nghĩa, trái nghĩa thì không làm, thấy việc nguy hiểm mà khi cần thiết vẫn dám nhào vô, đã nói điều chi thì giữ lấy lời, không thất hứa với anh em, đại khái vậy cũng có thể nên người được rồi".

(Tử Lộ vấn thành nhân. Tử viết: Nhược Tang Vũ Trọng chi trí, Công Xước chi bất dục, Biện Trang Tử chi Dũng, Nhiệm Cầu chi nghệ, văn chi dĩ lễ nhạc, diệc khả dĩ vi thành Nhân hỹ. Tử Lộ viết: Kim chi thành nhân dã, hà tất nhiên ! Kiến lợi tư nghĩa, kiến nguy thụ mệnh, cửu yếu bất vong bình sinh chi ngôn, diệc khả dĩ vi thành nhân hỹ)

Kết:

LẬP TÂM là bước đầu để vào Nho Giáo như lời Tống Nho Trương Hoành Cừ: "Vị thiên địa lập Tâm". Lập Tâm rốt ráo thì đạt đến một quan niệm về Tâm bao trùm cả vũ trụ, trong đó Tâm và Vật, nội giới với ngoại cảnh, người và thiên nhiên, không còn cách trở, cảm thông hoà hợp.

Ích lợi của quan điểm này, ngay khi nó vừa hé lộ trong Tâm, là thay vì tự nghĩ mình như một "khối vật chất" tạm thời biết suy tư trong khi chờ đợi rữa nát, người ta có thể quan niệm rằng nếu Trời Ịất còn mãi thì ta cũng mãi còn với Vũ Trụ Vạn Vật. Khi ấy, sống thuận với cái lẽ Trời, mà mình chân thành cảm nhận, trở nên một lý tưởng. Người ta lấy đó làm thú vui trong mỗi giây lát của hiện tại, để  rồi, vào phút lâm chung, bình thản gửi mình cho Trời Ðất. Ịó là chương trình sống của Nho Gia.

Ðồng thời, khi đã Lập Tâm, thì người ta cũng ý thức ngay đến trách nhiệm (sứ mạng), không những với tha nhân, như ý nghĩa câu ỡ Vị nhân sinh lập mạng ữ cũng của Trương Hoành Cừ, mà cả với toàn thể thiên nhiên, với mọi sự vật quanh mình. Lập mạng, là làm điều Nhân quanh mình một cách an lạc tự tại, là sẵn sàng gánh vác việc thiên hạ, dù việc nhỏ, việc lớn, khó hay dễ,  thành công hay thất bại, vẫn chỉ lấy TẬN TÂM làm tiêu chuẩn. Từ Lập Tâm đến Tận Tâm, có lẽ  là một tóm lược khá đầy đủ của lý tưởng nhà Nho vậy.

Nguyễn Hoài Vân
1991

Đông Hương - Người Ðàn Bà Ði...


Đông Hương


người đàn bà đi khươi bồ rác
nhặt tình người đổi lấy bát thương
nhưng chén đã vỡ rồi, ngồi khóc
ngày mai đây trời có còn hồng

*
người đàn bà đi nhặt tình đời
hân hoan nhìn nơi cuối lòng người
thấy những gì. chỉ lo cơm áo
mặc kệ người ôm lạnh trên tay

*
người đàn bà đi mót hẹn thề
ai vất vào dĩ vãng đêm xưa 
thiên thu quên màu xanh hệ lụy
rã tan thành những mảnh tâm tư

*
người đàn bà đi buôn mây khói
định dành tiền mua áo phù vân
một đêm say, lửa thơ cháy rụi
trắng tay còn chỉ mỗi phong sương 

người đàn bà ôm trăng tìm bóng
dọc đường xưa trong quán ân tình
thoang thoáng nhớ dốc về cõi mộng
khoé ... nghiêng... Trời ! ...Hạnh Phúc ... YêuThương 
đht 


Hà Kỳ Lam - Ba Mươi Năm Ấy


Hà Kỳ Lam - 

Thị xã Pleiku, Việt Nam, 1967.

Cái thành phố cao nguyên đất đỏ ấy, mùa mưa thì nhớp nháp bùn dẻo, mùa hè và những ngày mùa đông lạnh và khô thì "bụi hồng" quyện theo từng cơn gió, chẳng có gì hấp dẫn hay ít ra làm khuây khỏa, nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, nỗi buồn chán của những con người tứ phương tập họp lại vì phận sự, vì sinh kế - những quân nhân, những công tư chức, già hay trẻ, những nữ chiêu đãi viên trong các quán rượu, v.v. Giá sinh hoạt thì đắt đỏ; mọi thứ, cá, tôm, cua đều phải vận chuyển từ Sài Gòn, và phải bằng đường hàng không mới đủ độ tươi. Phố xá thì nhỏ bé, tuy không đến nỗi "đi dăm phút đã về chốn cũ" như Vũ Hữu Ðịnh diễn tả, chỗ vui chơi giải trí và "đạp đổ" thì tìm đỏ mắt cũng không ra.



Ấy vậy mà từ cao độ của chiếc trực thăng sắp đáp, nhìn những mái nhà tôn, những mái ngói nâu rải rác bên dưới, tôi cảm thấy lòng lâng lâng với nỗi vui đuợc về thành phố; dĩ nhiên không rộn rã như mỗi lần về Sài Gòn. Từ rừng già Plei Me về, tôi có hai ngày, ngày mai và ngày kia, tại Bộ chỉ Huy này để họp - và dĩ nhiên tôi ngầm hiểu mình có hai đêm để vội vã tìm vui, để truy hoan trả đũa! Nhà binh có nhiều thứ ngầm hiểu để hoàn thành nhiệm vụ: tôi được đào tạo thế - nhận specified task và phải tự tìm ra implied task. Tôi quá giang một xe nhà binh từ phi trường ra phố, xuống xe trước khách sạn quen thuộc mọi lần.

Tắm rửa xong, vừa tròng trở lại bộ quân phục, định bách bộ ra phố tìm thức ăn thì có tiếng gõ cửa phòng. Tôi mở cửa và không ngạc nhiên khi thấy trước mặt mình là người hạ sĩ quan trẻ, vui tính của phòng nhân viên tại Bộ Chỉ Huy mà ngày mai tôi sẽ vào họp. Có nghìn cách để anh ta biết tôi về Pleiku lúc nào và tá túc ở đâu. Ngay khi chiếc trực thăng vừa nhấc bổng lên thì một bản báo cáo ngắn về ngày giờ tôi rời căn cứ Plei Me đã bay theo làn sóng điện và đáp trên bàn giấy trong văn phòng anh ta trước khi chiếc máy bay chạm đất ở phi trường. Hoặc giả một người nào đó báo tin, như người tài xế vừa cho tôi quá giang chẳng hạn. Cái tập thể của những người vận quần áo trận này có đông đúc thật - chả thế mà thị trấn này, nơi đặt bản doanh của một quân đoàn, đã được mệnh danh là thành phố của lính - nhưng người ta thường biết rõ nhau cả. Anh ta gặp tôi để chuyển đạt hai điều. Ðiều thứ nhất là chuyển lời vị xếp của anh ta thăm hỏi tôi có cần xe cộ gì không. Ðiều thứ hai thật bất ngờ và là một sự kiện sẽ hằng sâu trong ký ức tôi nhiều năm sau. Số là anh ta có một "thằng em" - một từ ngữ dùng thật rộng rãi từ thời nào tôi không rõ, để chỉ một người thân, từ em ruột, em họ, đến người dưng nước lã mà người ta cảm thấy đủ thân thiết để gọi thế - rất ghiền khiêu vũ. Hắn ta ghé Pleiku nhiều lần và nghe nói nhiều về Hội Quán Phượng Hoàng, nên đêm nay hắn muốn được vào cho biết. Ðiều phiền toái là không ai bảo lãnh cho hắn vào cổng. Thế là tôi được anh chàng trung sĩ phòng nhân viên nọ gửi gắm người anh em của anh ta. Chuyện như thế có thể cũng bình thường thôi, nếu anh ta không làm tôi khựng lại bằng mấy lời kể lể thêm. "Nó làm lơ xe đò chạy đường Sài Gòn - Pleiku. Hầu như tháng nào cũng ghé đây. Quần áo dính dầu nhớt dơ bẩn. Em phải cho nó mượn áo quần và giày để đi chơi tối nay." Trong một thoáng tôi bỗng tự trách mình sao quá dễ dãi; tôi muốn rút lại lời hứa bảo lãnh hắn nhưng lại ngại nói. Hắn ghiền khiêu vũ à? Có thật thế không? Lối giải trí này có thuộc thành phần như hắn không, hay là hắn xâm nhập Hội Quán vì một mục đính nào đó? Hằng đêm có biết bao sĩ quan, từ úy đến tá, thậm chí vị tướng tư lệnh vẫn thường lui tới đây. Có thể hắn là người của đối phương cũng nên. Rồi tôi bỗng thấy mình sợ hão huyền - đúng hơn, tôi muốn tin mình đã lo sợ hão huyền. Cuối cùng là hắn sẽ đợi tôi gần cổng Hội Quán lúc bảy giờ rưỡi đêm đó.

Tôi không biết Hội Quán Phượng Hoàng được lập ra hồi nào, và cũng chẳng có hơi sức đâu dò tìm ngọn nguồn của nó, vì phải dành hơi sức để lội suối băng ngàn và để truy hoan trả đũa! Nhưng qua những câu chuyện không đâu vào đâu chung quanh mình, tôi biết man mán nó là sáng kiến của một vị tư lệnh Quân Ðoàn II này. Dù sao thì phải nhận những thằng ghiền nhạc, ưa nhảy nhót, cũng như những kẻ chỉ ghiền không khí vũ trường như tôi, tất cả đều thầm cám ơn vị tướng ấy. Và Quân Ðoàn II đã điều hành Phượng Hoàng tuyệt cú mèo. Ðội ng? vũ nữ phải nói là "sạch nước cản" hết, trên trung bình hết. Chúng tôi có những lối nói riêng với nhau của những người trẻ; khi một cô gái được chấm điểm trên trung bình thì cả bọn đều hiểu về phương diện nào và theo tiêu chuẩn nào. Các vũ nữ ở nội trú trong dãy nhà đằng sau Hội Quán. Không khí vũ trường ấm cúng, nhiều tính chất nghệ thuật, và nhất là rất an toàn, một phần vì khách chơi không ô hợp lắm, một phần vì biện pháp an ninh chặt chẽ. Chỉ có sĩ quan mới được vào, và thường dân thì chỉ ai có thẻ hội viên mới được đến giải trí. Không được mang vũ khí, chất nổ, dao, v.v. vào Hội Quán. Nhân viên quân cảnh tại cổng thi hành nhiệm vụ đúng mức. Thú thực, tôi bước vào một vũ trường ở Sài Gòn hay một nơi nào khác với tâm trạng bất an thường trực. Với Hội Quán Phượng Hoàng thì không thế, từ lần đầu tiên cho đến những lần sau này khi đã thành ma cũ.

Người trung sĩ phòng nhân viên giới thiệu hắn với tôi khi chúng tôi vừa xuống xe ngoài cổng Hội Quán. Tôi vờ nhìn với vẻ chú ý xã giao của người mới gặp, trong khi kỳ thực cố vận dụng một độ quan sát "chụp ảnh" cái gương mặt xương xương có vẻ dãi dầu, đầu tóc lười chải kia. Hắn trạc tuổi tôi, hoặc nếu có vẻ lớn tuổi hơn chút đỉnh thì tôi nghĩ do cuộc sống lam lũ chứ không do năm tháng. Cái cảm nhận đầu tiên của tôi là hắn không có vẻ gian manh, cũng không dữ tợn; gương mặt toát ra một vẻ nh?n nhục và điềm đạm. Dù sao, tôi tự nhủ, thôi cũng đ?ợc, mình chả có gì mất mát cả. Tên hắn là Thanh. Ðêm đó tôi đi cùng hai người bạn nữa. Anh chàng trung sĩ làm xong bổn phận với "thằng em" mình liền xin phép chúng tôi cáo từ.

Qua khỏi cổng, cả bốn chúng tôi rẽ trái, theo lối đi tráng xi-măng thoai thoải dốc dẫn đến cửa vào Hội Quán. Thanh cố ý đi chậm nhường tôi bước trước. Dĩ nhiên, tôi là đầu đàn mà, và cũng theo qui ước ngầm nhà binh, đầu đàn thì phải làm "trưởng chi" lát nữa đây, khi tàn cuộc. Tôi biết hắn ta không có hậu ý đó; chẳng qua hắn muốn chứng tỏ với tôi thái độ của kẻ chịu ơn, và với nhóm chúng tôi thái độ của kẻ biết trên biết dưới.

Qua m?t hành lang ng?n có vài chi?c gh? d?a dài n?m d?c m?t bên l?i ?i ?? khách ng?i chuy?n vãn tr??c khi nh?p cu?c ho?c ch? ??i ng??i mình h?n hò, chúng tôi ti?n ??n c?a bên trái vào phòng khiêu v? - c?a bên ph?i d?n vào phòng ?n. Vén b?c màn nhung xanh s?m buông dài g?n ch?m n?n nhà, chúng tôi ch?m m?t không gian lào xào ti?ng nói c??i khe kh? và s?c mùi thu?c lá, n??c hoa, v?i ánh đèn màu m? ?o không soi rõ mọi vật. Tế bào thị giác hình que của chúng tôi chỉ tốn vài giây điều chỉnh để cho chúng tôi trông rõ toàn cảnh: giữa căn phòng là sàn nhảy hình chữ nhật lát gạch hoa, "âm" dưới nền có lẽ gần một tấc, được rọi sáng bằng những bóng đèn cẩn chung quanh bờ viền. Khoảng còn lại là bàn ghế sắp theo từng hàng và cách khoảng để chừa lối đi ngang và dọc. Quày rượu và quày thu tiền nằm cuối phòng, cạnh lối vào phòng vệ sinh. Ban nhạc bắt đầu chơi những tấu khúc vui nhộn để báo hiệu buổi khiêu vũ sắp bắt đầu.

Ðiều không may: viếng Phượng Hoàng vào một tối đông khách như đêm nay, và điều may mắn: còn duy nhất một bàn cho chúng tôi. Chúng tôi vừa yên vị thì bà tài-pán đến. Sau câu hỏi han đon đả cố hữu, bà ta vào đề ngay:
Chỉ còn hai cô chưa kẹt bàn.

Còn đào để nhảy là quí rồi.

Tôi đáp nhanh như để trấn áp nỗi thất vọng của mình. Chúng tôi gồm những bốn trự mà chỉ có hai cô gái nhảy để chia nhau thì thật không bỏ công của kẻ lâu ngày mới về thành phố! Lúc người đàn bà vừa quay lưng đi tôi dặn với theo:
Chúng tôi bao bàn các cô tối nay.

Bà ta quay lại, ngập ngừng một lát rồi nói:
Lệnh của sĩ quan quản lý không cho chúng tôi nhận bao bàn những tối đông khách, để các cô có thể chạy bàn tiếp khách. Nhưng để tôi cố thu xếp.

"Chạy bàn" là một từ ngữ trong thế giới vũ trường. Nó không đồng nghĩa với công việc của một bồi bàn trong tiệm ăn. Vũ nữ nhảy với khách bốn bản là đủ một tích-kê và được điều động chạy sang bàn khác trong thứ tự "đặt hàng."

Hai bóng dáng con gái từ từ tiến về phía bàn chúng tôi, một dong dỏng cao, và một hơi đẫy đà. Chút bực dọc còn sót lại trong tôi nãy giờ bỗng vụt tiêu tan khi tôi nhận ra Dung "mình dây" và Liên "Bắc Kỳ". Có thế chứ! Nhưng tôi không hiểu làm thế nào hai cô gái này lại không kẹt bàn trong một tối đông khách như đêm nay. Những người khách đến đầu tiên bao giờ cũng có điều kiện chọn người mình thích, và họ không dại gì mà không đòi cho được hai hoa khôi của Hội Quán.

Một trong hai người bạn tôi lên tiếng bày tỏ hân hoan vì may mắn đuợc gặp hai đệ nhất giai nhân. Liên Bắc Kỳ, một cây ăn nói trong đám vũ nữ tại đây, liến thoắng đáp:
Không dám. Anh quá khen. Phải nói là chúng em may mắn được ngồi với các anh đêm nay. Sáng nay Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn có gọi dặn phòng quản lý dành sẵn hai cô để tiếp thượng khách của ông từ Sài Gòn ra, và tụi em được lệnh chờ. Thế rồi khi nãy ông ấy gọi đến báo Hội Quán biết là chương trình đã hủy bỏ.

Tôi mới vỡ lẽ. Ít nhất mọi sự phải có nguyên ủy của nó! Tôi liếc Thanh. Hắn không chú ý nhiều đến hai cô gái. Chiếc bàn chỉ vừa cho bốn người ngồi lại phải dung nạp sáu mạng nên ngồi khá chen chúc. Dung ngồi chen vào giữa tôi và Thanh. Liên ngồi ở dãy ghế đối diện, giữa hai người bạn tôi. Thanh nhìn lơ đãng sàn nhảy và quang cảnh khắp phòng. Hắn không có vẻ mán rừng, vẻ nhà quê mới lên tỉnh.

Ánh sáng vụt đổi màu, trắng hơn một tí, giống như mặt đất âm u bỗng vụt sáng hơn vì mặt trời vừa ra khỏi đám mây đen. Cùng một lúc, nhịp điệu dồn dập, thúc giục của một bản paso doble trỗi lên. Ðêm khiêu vũ bắt đầu. Vài cặp đã bước ra sàn nhảy. Hai người bạn tôi cứ đùn hai cô gái cho chúng tôi, nói rằng để nhường cho tôi từ rừng sâu về và cho Thanh là khách mới đến. Thanh thoái thác, cho biết mình chỉ muốn ngồi nghe nhạc và nhìn vũ trường của Hội Quán Phượng Hoàng cho biết thôi chứ không sính nhảy nhót lắm. Tôi đứng dậy dìu Dung ra sàn nhảy.

Ðiệu paso doble vừa dứt, căn phòng bỗng mờ đi và âm thanh chuyển sang tiết điệu blue chậm rãi và dìu dặt. Thiên hạ lục tục kéo nhau ra sàn nhảy khá đông trong khi cô ca sĩ trên bục gỗ đang rên rĩ bản Sang Ngang của nhạc sĩ Ðỗ Lễ. Tôi vừa định trở về bàn để nhường cho Thanh nhảy với Dung thì cô nàng kéo tay tôi lại nói, "đi luôn bản này đi anh." Chúng tôi biết nhau qua mấy lần trước tôi ghé đây. Nàng nhớ mơ hồ khá lâu không thấy tôi trở lại. Thực ra, nàng đã nhớ chính xác, vì từ đêm nhảy sau cùng cách nay sáu tháng tuy tôi có về Pleiku đôi lần nhưng bận những tiết mục khác nên đã không viếng Phượng Hoàng.

Bước nhảy chậm rãi như thế này rất thích hợp cho những cặp yêu nhau thủ thỉ. Tôi cho rằng không cứ gì những đôi tình nhân mới thủ thỉ trong điệu slow; cô vũ nữ nào cũng hay ép mặt sát vào khách và thì thầm những chuyện không đâu vào đâu. Cả một nghệ thuật trong nghề đấy. Một người bạn tôi đã suýt bỏ vợ vì một ả anh ta gặp trong một vũ trường. Cô nàng có một giọng nói thỏ thẻ làm mê mệt khách, khiến anh ta đâm "ghiền", không đến thì nhớ quay quắt chịu không nổi. Tôi cũng khám phá ra một "chân lý" nữa trong giới vũ nữ: những ác cảm vô căn cứ. Ðừng tưởng các cô chỉ hành xử vì tiền thôi, mà còn vì cảm tính nữa. Các cô có những lựa chọn, những né tránh ngầm. Như cô ả Dung đêm nay. Chẳng phải cô ta mê gì tôi, chẳng qua muốn tránh khéo anh chàng Thanh mà cô cho là dở hơi. Với Liên, hay một ai khác, có lẽ tôi cũng có vài khoảnh khắc ngỡ ngàng trước thái độ này, và có khi còn khấp khởi mừng thầm chắc mình được yêu rồi. Với Dung, nổi tiếng ở Phượng Hoàng là tốc, là bất cần, là đạp đổ, thì tôi "thông cảm" ngay. Tôi nhớ có lần một người bạn cho tôi hay, "Dung nó đẹp nhất nhì ở đây, lại nhảy giỏi, nhưng kiếm ít tiền hơn các cô khác dung nhan kém hơn, nhảy tồi hơn, chỉ vì nó không chịu chài khách. Nó hành nghề vũ nữ nghệ sĩ lắm, tùy hứng lắm!" Chưa hết, tôi còn nghe một số huyền thoại nữa về Dung, nào là ngày trước cô ta thất tình vì một công tử con nhà giàu nên đâm ra ăn chơi, rồi sa chân vào đường vũ nữ, và từ đó nuôi trong long mối hận tình lẫn hận thù những khách chơi giàu có ném tiền qua cửa sổ; nào là Dung hành xử theo con tim, và con tim nàng có những tiêu chuẩn mọi người không hiểu nổi, v.v. Tôi không rõ những điều kia có đúng không, nhưng tôi được biết ít ra cũng có vài người tán gia bại sản hay điêu đứng vì chạy theo nàng.

Anh ấy là bạn anh?

Chỉ mới biết lần đầu.
Anh ta làm sao ấy, vẻ khinh khỉnh. Vào vũ trường mà không nhảy nhót thì  ngồi làm gì. Không chừng chẳng biết nhảy!

Tôi ậm ự cho qua, và nghĩ thầm, "sao cô ngốc thế, việc gì đến mình mà khó tính thế. Rồi người ta cướp hết khách cho mà đói meo!"

Chúng tôi ba đứa chia nhau nhảy với hai cô gái. Dàn nhạc đã chơi hơn một chu kỳ rồi, và mặc cho chúng tôi cứ thỉnh thoảng thúc giục, Thanh vẫn không chịu đứng lên dìu cô nào ra sàn nhảy. Cuối cùng tôi thấy - và có lẽ hai người bạn tôi cũng nghĩ thế - nên để hắn ta yên, vì chắc hắn ta không biết nhảy. Thoáng nghi ngờ lúc ban chiều về hắn lại trở về trong óc tôi.

Ðiệu bebop trỗi lên. Có hai cặp bước ra. Tự nhiên không ai bảo ai, ba chúng tôi chỉ thích ngồi nhìn người ta nhảy. Riêng tôi, một phần vì cũng chán nhảy rồi, phần khác vì tôi chỉ biết những bước căn bản của điệu nhảy này, như một học sinh mới tập làm luận văn chỉ biết viết những câu ngắn đúng văn phạm chứ chưa biết diễn tả bằng những câu bay bướm, cầu kỳ, nên không hứng thú lắm. Chính lúc đó Thanh ngỏ lời với chúng tôi, xin mượn hai cô gái. Tuy chưa rõ ý định của hắn, chúng tôi đều gật đầu hưởng ứng, hay khuyến khích thì cũng vậy. Thanh vừa đứng dậy vừa đưa hai tay nắm tay Dung và Liên. Dung rút tay lại, lên tiếng:
Không được đâu! Tôi chưa bao giờ nhảy kiểu này.

Thanh kh? mỉm cười với vẻ tự tin:
Ðừng lo, các cô chỉ theo tôi. Cứ đi như nhảy với một người. Phần tôi, tôi làm được.

Chúng tôi nhìn không chớp mắt bộ ba đó đang tiến ra sàn nhảy.

Trong khoảng bao nhiêu phút giây tiếp theo chúng tôi hầu như quên bẵng ý niệm thời gian, cứ dán mắt vào hai nữ và một nam đang quay, lộn, đẩy, kéo theo nhịp điệu bản nhạc đầy âm hưởng Trung Hoa, Rose de Chine. Tôi nhìn mỏi cả mắt cũng không sao hình dung được những động tác của Thanh, nói chi đến học lóm vài bước nhảy tân kỳ kia. Ðôi chân hắn ta thoăn thoắt, khi nện gót, khi dí mũi giày, trong khi hai tay không ngừng điều khiển Dung và Liên xoay, tiến, lui chung quanh mình. Ðầu hắn ngẩng cao, vẻ mặt linh hoạt, đôi mắt khi thì nhìn Dung, khi thì nhìn Liên, nhưng trong ánh mắt ấy tôi có cảm tưởng mình thấy được tia say đắm hướng vào một cõi xa xôi nào, cõi của âm thanh khi lãng đãng, khi dồn dập đang quyện trong không gian mờ ảo của vũ trường.

Thế rồi không còn cặp nào trên sàn nhảy nữa; mọi người chỉ muốn ngồi chiêm ngưỡng bộ tam vũ biểu diễn. Sàn nhảy trống chỗ, Thanh như con phượng hoàng có không gian rộng để vỗ cánh, càng lả lướt hơn, đã nới rộng những vòng quay cho Dung và Liên. Họ chiếm hẳn vùng trung tâm sàn nhảy.

Tôi đảo mắt một vòng quanh phòng, một phản xạ tự nhiên ngầm biểu lộ niềm hãnh diện vô căn cứ rằng thiên thần của vũ trường đêm nay là một người bạn của mình. Mọi con mắt đều dồn về ba người trên sàn nhảy; thậm chí không ai nói chuyện riêng, không buồn nâng ly uống. Tất cả vũ trường như bị thôi miên.

Trên bục của ban nhạc tôi vừa thoáng thấy anh chàng thổi saxophone, mà tôi đoán là trưởng ban nhạc vì tuổi tác lớn hơn cả, đang ghé tai nói điều gì với tay chơi dương cầm. Rồi dàn nhạc chuyển âm giai qua bản đàn khác, nhưng tiết điệu swing vẫn tiếp nối.

Lúc điệu nhảy chấm dứt, bản nhạc tạm biệt, bản Auld Lang Syne quen thuộc, bỗng trỗi lên gieo một âm hưởng lưu luyến báo hiệu cuộc vui đã tàn, và đèn vụt sáng trong khi tiếng vỗ tay đồng loạt vang lên như pháo nổ, rồi râm rang một lúc trước khi còn nghe lác đác và lịm dần ở cuối phòng. Tôi chưa từng thấy một sự tán thưởng như thế ở những buổi nhảy tại các khiêu vũ trường. Tôi cũng chưa từng thấy một dàn nhạc nào đã tỏ ra ưu ái với khách bằng cách chơi liên tiếp hai bản đàn cho một vũ điệu như thế.

Nét mặt Thanh vẫn bình thản, dường như hắn ta đã từng làm vua vũ trường với đôi chân vàng của mình. Nhưng hai cô gái thì không dấu nổi những nụ cười hài lòng. Tôi đoán họ cảm thấy hãnh diện lây vì là một thành phần bất khả phân trong màn biểu diễn của Thanh. Tôi liếc nhìn Dung. Vẻ đăm đăm, khó chịu lúc ban đầu biến mất trên gương mặt bây giờ xinh xắn, khả ái của cô ta. Nhưng cô nàng vẫn không "thân thiện" với anh chàng Thanh, trong khi Liên thì tíu tít khen bước nhảy của anh ta lúc cả bọn chúng tôi nối đuôi theo giòng người từ từ xê dịch ra phía cửa.

Ra khỏi phòng nhảy, chúng tôi đi dọc hành lang để ra cổng. Bên trái hành lang là phòng ăn của Hội Quán, với lác đác vài người vừa bước vào; phần đông khách chơi thích ăn ở các tiệm quán ngoài phố hơn. Tôi đề nghị đi ăn bún bò Nhà Xác thì hai cô gái và hai người bạn tôi tán thành ngay. Có lẽ đối với khách ăn đêm của Phượng Hoàng cái tên đó không những không gây ngạc nhiên hay sửng sốt mà còn kích thích cái dạ dày vào giờ đó đã bắt đầu cảm thấy cồn cào. Anh chàng Thanh mở to mắt nhìn tôi ra chiều không hiểu tôi đùa hay ngụ ý gì. Tôi giải thích cái tên "Nhà Xác" do đâu mà có: quán ăn lụp xụp do một tư nhân mở trong khu bệnh viện dân y, cạnh nhà xác. Có lẽ khắp Pleiku tôi không tìm đâu được một nơi bán bún bò ngon như ở đấy.

Và tại quán bún bò Nhà Xác đêm đó Thanh đã là một đề tài khá lạ lùng đối với chúng tôi. Sau này tôi được biết, ngoài tôi ra, cả bọn chúng tôi lúc đó ai cũng đang có trong đầu một giả thuyết bình thường và hữu lý về con người nhảy đẹp nhất kia, một giả thuyết có dị biệt về tiểu tiết nhưng tương tự ở đại thể. Chúng tôi tin rằng hắn ta đã có một thời ăn chơi có hạng ở Sài Gòn. Nếu không phải con nhà giàu thì ít ra cũng xuất thân từ một gia đình trung lưu, và vì lý do này hay lý do khác bị sa cơ thất thế nên mới ra thân phận như ngày nay. Một trong hai người bạn tôi hỏi Thanh có học qua lớp dạy khiêu vũ nào không; anh ta đề cập đến tên các vũ sư nổi tiếng của Sài Gòn. Thanh với vẻ mặt ngơ ngác trả lời rất gọn rằng không hề nghe tên các vị kia, bởi lẽ từ bé đến giờ có được học khiêu vũ "đàng hoàng" từ trường lớp nào đâu!

Không muốn để chúng tôi thắc mắc lâu, Thanh bắt đầu nói qua về tuổi thơ khốn khổ của mình. Hắn trốn khỏi viện mồ côi Long Thành lúc lên mười tuổi, và bắt đầu kiếp sống đầu đường xó chợ giữa cái thành phố một thời được mệnh danh hòn ngọc Viễn Ðông, một nơi mà cái giàu có, cái hào nhoáng xa hoa vẫn đi bên cạnh cái nghèo khó, cái lam lũ. Hắn trở thành cậu bé đánh giày ban ngày, và đêm đêm ngủ trong các chợ, hay dưới mái hiên nhà người ta. Rồi dần dần hắn tìm được một chỗ trú tốt hơn: ban đêm hắn đóng đô hẳn trong cái phòng nhỏ chứa dụng cụ của nhà hàng khiêu vũ Kim Sơn, do lòng tốt của viên quản lý tại đây. Hắn lớn dần, thành một cậu thiếu niên mười sáu tuổi lém lỉnh, sành sõi trong thế giới bọn đánh giày.

Hằng đêm hắn nhìn những cặp uyên ương vũ trường quay cuồng theo sóng nhạc. Hắn đâm thích khiêu vũ. Hắn học lóm bằng quan sát, bằng sự chỉ dẫn của những người chị "nuôi" vũ nữ vốn rất mến hắn, một tình thương mến dễ nẩy sinh giữa những kẻ cùng một nấc thang trong xã hội. Nhưng hắn có thiên bẩm về nhảy nhót. Hắn học một mà biết mười, hắn có óc sáng tạo, óc tổng hợp, có khả năng bắt chước. Tóm lại, hắn thâu tóm những tinh hoa nhảy nhót mà thiên hạ đem đến thi thố hằng đêm ở vũ trường, rồi biến hóa thành những bước riêng của mình!

Nghe xong những lời tự thuật không màu mè của Thanh, mối thiện cảm của chúng tôi đối với hắn ta bỗng tăng lên. Dung vụt miệng nói:
Anh dìu tuyệt quá. Em không ngờ dễ đi thế!

Tôi ngạc nhiên nghe tiếng "em" ngọt ngào thay thế tiếng "tôi" bướng bỉnh trong câu duy nhất Dung nói với Thanh ở phòng nhảy. Hai người bạn tôi ngỏ ý muốn Thanh chỉ vẽ thêm những bước nhảy mới lạ. Thanh vui vẻ nhận lời và cho biết mỗi tháng anh đều theo chuyến xe đò của hãng Nam Trung từ Sài Gòn ra Pleiku một vài ngày. Về phần mình, tôi cũng muốn tầm sư học đạo nhưng biết thân phận mình - không phải lính thành phố - nên chẳng nghĩ đến việc cầu học như các bạn tôi.

Mọi người đều công nhận danh bất hư truyền của quán bún bò Nhà Xác, và cả bọn chúng tôi đều gọi thêm tô thứ hai. Ăn xong, chúng tôi ngồi tán gẫu một lát. Có lẽ cái thú vui của những câu chuyện bù khú chỉ thực sự có vào những thời khắc khuya khoắt của đêm, ở những hàng quán lụp xụp. Dung lục bóp lôi ra gói thuốc lá Salem để mời cả bọn, nhưng chúng tôi không ai hút. Thanh thì cám ơn nhưng cho biết chỉ hút Capstan thôi. Anh chàng lôi từ túi áo trên ra một bao lép xẹp không còn điếu thuốc nào cả. Dung vội đứng dậy, tiến ra cửa, nơi một cô bé đang ngồi bên thùng thuốc lá bằng kiếng, và xỉa tiền mua một gói Capstan rồi trở lại bàn trao cho Thanh. Anh chàng móc tiền trả lại, nhưng Dung khoát tay từ chối.

Cám ơn nhé.

Ơn nghĩa gì, đừng thù oán là được rồi.

Vừa nói Dung vừa phà khói thuốc lá ra bằng l? mũi và cười mỉm. Trong một thoáng, cái hình ảnh "bụi" và duyên dáng kia giải thích riêng cho tôi tại sao nhiều người đàn ông đã điêu đứng vì người con gái này. Duy câu trả lời vì sao quả tim nàng chưa rung động vì họ thì chỉ có trời biết.

Thanh bỗng phá lên cười, đoạn nheo một mắt, lần đầu tiên từ suốt buổi tối tới giờ hắn nhìn Dung với vẻ thích thú, buông một câu nghe vừa bông đùa vừa khẳng định:
Các cô mới vua thù oán!

Yên chí, em chỉ thù mấy thằng cha giàu, không thù anh đâu.

Tia nhìn tinh nghịch của Dung chiếu thẳng vào mặt Thanh khi cô nàng thốt lên câu đó.

Chợt một người trong nhóm chúng tôi nhắc rằng đêm đã khuya, và chúng tôi vội đứng dậy, thanh toán tiền, rồi ra về. Sau khi đưa hai cô gái về chỗ trọ và đưa Thanh về nhà người trung sĩ anh nuôi, hai người bạn đưa tôi về khách sạn, và chúng tôi chia tay.

Mùa mưa của Cao Nguyên tới, kéo theo những trận đánh long trời, một điệp khúc chiến sự hằng năm, và tôi vất vả hơn với những cuộc hành quân liên miên. Bốn tháng kể từ đêm kỳ ngộ ở quán bún bò Nhà Xác tôi mới trở lại Pleiku. Hai người bạn tôi vẫn còn đó. Chúng tôi lại viếng Hội Quán Phượng Hoàng để "mừng cho mày còn trở về được, và trở về lành lặn", nói theo lời mời của hai bạn tôi. Cảnh cũ, người xưa, chỉ thiếu Dung. Hỏi thăm về nàng thì chúng tôi được biết Dung nghỉ việc ba tháng rồi, về Sài Gòn, nghe đâu là để xây tổ uyên ương với một người khách chỉ gặp một lần duy nhất tại đây, bỏ lại sau lưng anh kép thương gia rất sộp cùng lời hứa về căn nhà bên suối mộng mị ở Ðà Lạt và một cuộc sống nhàn hạ, không phải chạy bàn ở đâu nữa. 

Sự ra đi của Dung đã để lại sau lưng cô nàng cả Hội Quán Phượng Hoàng ngơ ngác. Ban quản lý cảm thấy một tài nguyên quí giá của Hội Quán vừa mất đi. Những khách chơi "nòi tình" cảm thấy hụt h?ng trong nỗi niềm rắp cung bắn sẻ. Những đồng nghiệp của Dung, từ những kẻ thù nghịch đến những người thân thiết, tất cả bàng hoàng; không ai hiểu nổi việc cô gái tốt số ấy âm thầm ra đi, gạt qua một bên những người đàn ông thế lực, giàu có sẵn sàng hiến dâng mọi thứ mà một vũ nữ nào cũng mơ ước.

Lúc chia tay cách nay bốn tháng, hai người bạn tôi đã cẩn thận trao địa chỉ cho Thanh, nhưng từ đó đến nay tuyệt nhiên họ không nghe tăm hơi về sư phụ. Cả viên trung sĩ phòng nhân viên cũng không được tin tức gì về Thanh. Một lần anh ta có đến hỏi hãng xe Nam Trung thì chỉ được biết hắn ta không làm việc cho hãng đã lâu.

Philadelphia, PA, Hoa Kỳ, 1997.

Ba mươi năm đã trôi qua. Tôi không gặp lại một người nào trong năm người đã cùng ngồi ăn bún bò với tôi trong gian nhà lụp xụp một đêm năm xưa, để có thể sửa lại câu thơ của cụ Ngyễn Du:
Ba mươi năm ấy bây giờ là đây

Tôi mong tất cả hãy còn trên đời này, tất cả hãy bình yên, hãy được toại nguyện trong những gì mình ấp ủ, ở xứ người hay còn ở quê nhà.

Ngày 3-1-1998
Hà Kỳ Lam
                                                                                            


Nguyễn Xuân Hoàng - GIỌT NƯỚC MẮT CHO CHÚ ĐĂNG


Nguyễn Xuân Hoàng - 

Niên học bắt đầu bằng những cơn nắng gắt buổi sáng và những trận mưa tầm tã buổi chiều, những trận mưa như có định kỳ với một bầu trời nặng mây hạ gần xuống đỉnh những ngọn đồi thấp khiến ngày như ngắn đi và đêm trở nên dài thêm.


Lớp học đóng kín cửa (sương mù trắng đục ở bên ngoài và khí lạnh lẩn khuất đâu đó, trong hơi gió và trong sự ẩm ướt của không gian), đèn ở vách được thắp sáng cùng với hơi người sưởi ấm bầu khí nhỏ hẹp. Đứng trên bục gỗ, nhìn qua cửa kính tôi có thể nhìn thấy con đường đất đỏ chìm mờ dưới một bầu trời ẩm đục, và trong trí tưởng tôi căn phòng nhỏ của tôi hiện rõ ở cuối đường. Cơn mưa bỏ lệ thường, đến hơi sớm gõ lên thềm cửa.  Lớp học ồn ào khi tôi trở về chỗ ngồi, và mở sổ khuyên điểm. Những con mắt ở dãy bàn sau cùng lẩn tránh, những ngụm khói thuốc bay lén lút (chưa thoát ra khỏi miệng đã bị nhai nghiến nuốt ức tan biến) từ một hốc bàn. Tôi sẽ gọi một đứa, bất kỳ một đứa nào (những tên để gọi còn lại gì nếu không là một sự may rủi ?). Tôi nghe thấy tiếng xầm xì ở bàn đầu mấy cô gái nhỏ chúi mũi trên những trang sách làm ra điều chăm chú nhưng kỳ thực là đang thầm thì với những cô bạn bên cạnh). Tôi lướt mắt trên những con số thứ tự, những con số được ghi chú bằng một thứ dấu riêng biệt mà chỉ có tôi mới biết được đâu là con số thông minh, con số ngu dốt, con số lười biếng, con số quấy phá nhất lớp. Tôi xếp sổ khuyên điểm lại (tiếng thở phào nhẹ nhõm, tôi đo lường được từng cử chỉ nhỏ của mình và thấy rõ trước phản ứng của bàn ghế). Lớp học đáng lẽ trở lại ồn ào của phút đầu nhưng đột nhiên bỗng im lặng một cách có hơi quá đáng làm tôi ngạc nhiên. Tôi đứng dậy bẻ đôi viên phấn, viết tên một chương của bài học mới lên bảng đen và bắt đầu bài giảng. Hình như tôi nhắc đến Dostoievsky (Raskalnikov,Tội Ác và Hình Phạt, Ivan, Anh Em nhà Karamazov…).

Cuộc sống chỉ đến với tôi có một lần : tôi không muốn chờ đợi cho đến khi mọi người đều dễ chịu, bởi vì lúc đó tôi không còn nữa. Tôi chỉ muốn chính thân tôi được sống, nếu không, thà đừng sống còn hơn… Nếu người ta chỉ có một lần sống vì người ta chỉ có một lần chết. Và đời sống là gì ? Nếu không phải là căn bệnh khó chữa nhất trong mọi căn bệnh. Và cái chết là gì ? Nếu không phải là liều thuốc duy nhất và sau cùng (và chát đắng nhất) có thể chữa khỏi căn bệnh trầm trọng kia ?  Tôi không chắc tư tưởng trên là của Heinne, henri Heine hay của một người nào khác tôi không nhớ kịp, tôi lẫn lộn lời nói của người này qua người nọ, tôi cũng không phân biệt nổi quan niệm người khác trong quan niệm tôi, và nếu không có một may mắn nào đó ngăn trở hay chận đứng lại nửa chừng bài giảng tôi có lẽ tôi sẽ dẫn dắt lớp học đi quá xa, như chính tôi đã đi quá xa. Tôi có rất ít học trò trong đám đông phía dưới (hay tôi đã không còn người học trò nào trong đám ấy ?). Cho đến khi người tuỳ phái bước vào.

- Xin ông ký cho thông cáo về tuần lễ kỷ luật.

- Cám ơn.

- Còn gì nữa không ?

- Ông có cái điện tín

- Điện tín ? Của tôi hả ?

Hắn đưa cho tôi một tờ giấy màu xanh gấp đôi.
- Xin ông ký vào sổ cho.

- Cám ơn.

Tôi ký tên và đưa trả sổ cho hắn. Điện tín ? Chẳng phải là một điều kinh ngạc đối với tôi sao ? Từ lâu trong nhiều năm nay, tôi đã bỏ xa thành phố của tôi (tức cười không thành phố của tôi ?), lánh mặt những người quen, chặt đứt những mối dây liên hệ gia đình và bè bạn. Tôi tự cho mình đã chết để có thể bắt đầu sống theo cách thức của mình. Một căn phòng biệt lập, một chiếc giường, một bàn làm việc, những bữa ăn tuỳ hứng (cơm hay bánh mì hay phở ?), những người lạ mặt (đàn ông : giao tiếp thuần tuý trên phương diện nghề nghiệp, không liên kết bạn bè, không tương quan tình cảm ; đàn bà : liên hệ  thuần tuý tình dục …) và một thành phố xa lạ hoàn toàn không quen biết. Tôi tự ngăn cách tôi với mọi người (trong bao lâu, tôi tự hỏi và tôi sống trong sự tìm kiếm câu trả lời). Tôi biệt tích với hết thảy. Tôi biệt tích với chính cái tôi trước đây. Tôi bây giờ đã là một cái tôi khác. Vậy thì điện tín chẳng phải là một cái điều đáng kinh  ngạc cho tôi sao ? Tôi cầm tờ giấy xanh gõ nhẹ trên mặt bàn, phỏng đoán người đã gửi tin này. Ai vậy ? Còn có một người khác trong đời ta nữa sao ? Chỉ có Thảo thôi. Có thể là Thảo lắm (tại sao không ?). Bữa qua tôi mới vừa nhận được thư nàng (người duy nhất còn liên hệ với tôi như một nửa khác với tôi, một nửa của phần xác, nhờ đó tôi mới có lúc thấy thêm rằng mình còn có thân thể) Thảo báo tin là nàng sẽ lên gặp tôi để giải quyết một điều cần lắm (chắc hẳn  là như thế vì tôi vốn không ưa thư từ rắc rối, và không phải là Thảo không hiểu điều này). Một học sinh đưa tay xin phép ra ngoài, tôi gật đầu đồng ý và chú nhỏ đẩy ghế bước ra trong tiếng chuông reo hết giờ, lớp học lao xao, những cánh cửa bị mở tung một cách tàn nhẫn và những ngọn gió lạnh ùa vào phòng sổ sàng. Tôi một mình còn lại trong lớp học, tôi muốn nghĩ đến Thảo, mùi da thịt nàng, con mắt dâm đãng của nàng, nụ cười quá dễ thương của nàng, hai trái ngực nặng nề nhưng mát rượi của nàng, cánh tay dài mềm mượt lông tơ mà tôi vẫn gọi đùa là cánh đồng lúa cho con chồn (là tôi ?). Tôi nhớ đến Thảo và những rung động mà nàng đã cùng tôi chia xẻ trong một ngày mưa xa xôi nào (những căn phòng cho thuê trong Chợ-Lớn, những đêm quá dài và quá lạnh khi nàng lên đây thăm tôi…) Tôi bóc bức điện tín, tháo gỡ những răng cắn giữa hai lớp giấy (Thảo thường kêu đau khi tôi đùa nghịch thân thể nàng giữa hai hàm răng tôi, nàng nói anh có hàm răng tốt, tôi trả lời là anh tặng cho em đây, tặng không,  không đòi hỏi gì cả và tôi nhe răng làm bộ nhai nghiến cắn xé thích thú trên ngực nàng trong nỗi sợ sệt đầy ham muốn của chính nàng) có thể là Thảo lắm chứ ? Tại sao không ?

Chú Đăng đã mất

Chỉ có thế, không có tên người gửi. Bốn chữ ngắn ngủn, trơ trẽn và kỳ quái. Tôi như một người đi trong đêm bị bước hụt chân trên những vũng nước. Trong tôi chỉ còn lại sự trống rỗng. Tôi không thể tưởng tượng được chú Đăng có thể chết. Cả đời chú (hồi chú còn sống chung với cha mẹ tôi) chú chỉ cố thực hiện một điều duy nhất là làm thế nào để chứng tỏ rằng chú sống (theo cách của chú, dĩ nhiên), nhưng rốt cuộc rắp tâm của chú cũng đành thất bại. Chú Đăng đã mất. Có một cái gì không ổn trong cái chết của chú (và hình như nó cũng không ổn ngay trong lối sống của đời chú : chú đã quá cái tuổi bốn mươi - tứ thập bất hoặc - sống một đời trác táng phong lưu lang bạt kỳ hồ, những người đàn bà – quá nhiều – trong đời chú, đi lính rồi đào ngũ, rồi trở lại quân đội (ở cái tuổi của chú ?), và bị thương trong một trận đánh được coi như là dữ nhất đầu mùa mưa năm kia, nằm điều trị ở bệnh viện sáu tháng nhưng luôn vắng mặt ban đêm, được giải ngũ và trở về sống với bà cô tôi - một bà già khó tính ưa cau có quạu quọ, thích nói luật lệ và kiện cáo, ban đêm quanh quẩn trong phòng lầm bầm không ngớt những điều gì trong miệng – bà cô ấy dành cho chú một căn buồng với cầu thang riêng, tại đây chú dan díu với một người đàn bà khá xinh đẹp bên hàng xóm, cả hai âm mưu thủ tiêu người chồng cũ của bà ta, nhưng việc không thành, mãi sau không ngờ người chồng khốn khổ bị chết trong một tai nạn, người thiếu phụ gửi con chonhà giữ trẻ trở lại tìm chú, chú nhất định từ khước cuộc sống chung và dường như sau đó không lâu người đàn bà ấy cũng tự tử chết theo cái chết của chồng, chú giao du với một vài người đàn ông và đàn bà khác – mà chú vẫn nói với tôi đó là những nhà văn - người đàn bà văn sĩ cao lớn ăn mặc theo kiểu con gái mới lớn ở tỉnh lẻ vẫn đến ở lại đêm với chú, những người khác thỉnh thoảng cũng tới kéo chú đi đâu đó trong thành phố rồi trở về đóng kín cửa biệt tăm, càng ngày chú càng rút vào cái vỏ đời chú, những cánh cửa tưởng như không bao giờ mở cùng với tấm bảng  Đi Vắng  luôn luôn móc ở phía ngoài dù trong nhà có tiếng bàn ghế khua động ; càng ngày bóng tối càng bao vây đời chú, những bóng tối bí ẩn và rồi là cái chết, bóng tối phủ xuống, bóng tối của mọi bóng tối đóng lại đời đời cánh cửa sau cùng đời chú).

Dù người gửi tin là ai, tôi thấy mình chỉ có mỗi một công việc phải làm đó và viết ngay cái đơn xin nghỉ và lấy vé xe đò trở về thành phố phía dưới.

*

Đến chiều tối thì trôi trở về đến nhà. Trời vần vũ mây đen.

Tôi bấm chuông và đứng chờ ngoài sân thềm (thềm là con đường chung của dãy nhà thấp dưới mặt đường). Má tôi nhìn qua cửa sổ thấy tôi bà kêu lên ngạc nhiên.

- Con đó hả, Trung đó hả ? Con đi đâu mà biệt tăm biệt tích không thư từ gì cho nhà biết hết. Tao tưởng mày chết bờ chết bụi rồi chớ. Vô đây, vô đây con. Chú Đăng con đã mất rồi. Con hay chưa ? Má lo làm cơm cho mấy em con rồi má phải đến nhà bà cô ngay. Cô Năm đó con nhớ không ? Cả nhà bối rối quá chừng quá đỗi không ai kịp đánh điện cho con mà cũng không ai biết nơi biết chỗ con ở đâu mà báo tin nhữa… May quá, con về kịp lúc…

Bà mở cửa, loay hoay với chùm chìa khoá nhưng không vặn được. Tôi thọc tay qua cái ô nhỏ (những cọng sắt được cắt vừa đủ một bàn tay) mở giúp bà.

- Bấy lâu nay con ở đâu, làm gì ? Chú Đăng nói con dạy học ở Đa-lạt có phải không ? Con đi đường có mệt không, con thay quần áo, rửa mặt rửa mày rồi ăn cơm, công việc dạy học có thích hợp với con không ? Nghe nói tháng trước chú Đăng có gặp con ở Sài-gòn sao không thấy con về nhà ? Cả nhà trông tin con. Chú Đăng mất rồi con biết chưa ? À , con biết rồi, khổ tôi quá. Cha con đã vào nhà thương đón xác chú. Thôi con đi tắm rửa đi, còn nghỉ, nghe không ?

Trong những câu hỏi của bà, tôi nghe thấy những chữ những tiếng đụng chạm, vấp váp, té ngã rượt đuổi lên nhau. Thói quen cho tôi biết những xô đẩy kia báo hiệu những xúc động nơi bà. Tôi nói với bà là tôi đang làm ăn ở một nơi xa tôi không dạy học, tôi ghét nghề đó, tôi thích những nghề làm ra nhiều tiền, tôi muốn giàu, tôi sẽ có nhiều tiền hơn bất cứ một người nào, (tôi sẽ giàu hơn bất cứ một nhà giàu nào, tức cười không ?). Tôi tháo giầy, cởi bỏ áo quần và đi vào buồng tắm xối nước không ngừng tay. Nhà tắm chật chội như một xà lim và bông sen nước bị nghẹt từ hồi tôi còn đi học vẫn giữ nguyên tình trạng cũ; cái lược, bóng đèn, lavabo, những dấu vết mà anh em chúng tôi đã cào vẽ lên vách khi bị ông già nhốt suốt buổi bên trong vì tội trốn học (không thể nhốt suốt ngày vì mọi người đều cần tắm rửa) vẫn còn nguyên, cũ kỹ, nghèo nàn, nhớp nhúa, bẩn thỉu…

Má tôi vọng từ nhà bếp :
- Ăn cơm xong đi với má tới đàng Cô, nghe !

Tôi nói với bà đừng chờ cơm, tôi đi ngay bây giờ, sẽ đến nhà cô nhìn mặt chú Đăng lần chót, tối chắc sẽ không về (tôi nghĩ đến Thảo, tôi cần nàng, tôi muốn qua đêm với nàng, tôi muốn biết vấn đề nàng sẽ nói với tôi và hình như tôi thấy mình cũng đang có điều cần nói với Thảo, có lẽ tôi đã thay đổi, có lẽ tôi đã bắt đầu thấy không thể thiếu nàng). Điện trong nhà bỗng tắt ngúm. Tôi nghe tiếng bà càu nhàu dưới bếp. Tôi bước ra phòng ngoài châm điếu thuốc và trong bóng tối mờ tôi tìm thấy được chai rượu cha tôi dấu dưới hốc bàn (tôi vẫn chưa quên được thói quen của cha tôi). Đêm bắt đầu và rượu đắng đốt cháy cổ tôi. Tôi mặc áo quần, mang giầy trong bóng tối. Ngồi trên ghế mây cao của em gái nhỏ tôi, và giữa tiếng ồn ào của gia đình bên cạnh cãi nhau về một bao diêm hay cây nến? ( tôi nghe thấy tiếng ầm ầm của những phi cơ vượt tường âm thanh và tiếng rền rĩ gầm gừ của một bầu trời nặng mây. Rồi những hạt mưa ào ạt trút xuống mái tôn. Tôi trương dù lên (vẫn cây dù cũ của cha, những dấu gián nhấm, những lỗ nhỏ tròn lốm đốm như sao), ra đón xe ở đầu ngõ.

Cả dãy nhà trong con hẻm thấp hoàn toàn tê liệt trong bóng tối. Mưa bắn tung ướt hai ống quần và nước lạnh chảy len trong giầy thấm tận những ngón chân.

*

Nhà cô tôi nằm trong một cư xá Ngói thuộc khu ngoại ô phía đông bắc thành phố. Trước mặt nhà là bức tường cao phủ đầy rêu của một ngôi biệt thự cổ đang được phá ra sửa chữa lại theo một kiến trúc mới (vườn bông, sân cỏ, hồ tắm và những tảng đá lớn được xếp đặt trên lối đi một cách cố tình ấy). Một cái giếng cạn đậy “tôn” nằm dưới chân một cây bông giấy không một nụ hoa nhưng đầy lá và gai nhọn. Trong nhà, ánh đèn ám khói vàng vọt soi không rõ mặt những người đang lao chao qua lại. Tôi nhảy qua những vũng nước cạn, những đống đá gạch vụn bên hông nhà, vòng ra ngã sau. Mấy người đàn bà ngồi dưới đất nhai trầu tranh nhau kể lại tai nạn. Cô tôi ngồi ở một góc phản gỗ, nước mắt đọng trên gò má, cái nhìn thất lạc. Xác chú Đăng đặt dài trên ghế bố để giữa nhà, những ngọn nến cắm ở bốn góc ghế đang cháy dở. Cha tôi mắt ráo hoảnh, ngồi trên chiếc ghế mây thấp dưới chân người chết. Không khí đặc sệt buồn thảm. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh và bắt gặp những khuôn mặt xa lạ, dàu dàu, mắt mũi đỏ hoe và bận rộn một cách vô tích sự. Một người đàn ông trọng tuổi, đứng ở cửa hông mỉm cười bắt tay tôi và đưa tôi đến chỗ cha tôi. Ông thản nhiên nhìn tôi không nói năng (ông làm như không biết tôi từ xa mới về, có lẽ ông cho rằng từ bao lâu nay tôi vẫn ở quanh quẫn đâu đây trong thành phố này) dở tấm vải che mặt chú Đăng và nhìn xuống như muốn nói, mày có thể nhìn mặt chú một lần cuối cùng, nhìn đi. Tôi nhìn thấy những sợi trắng trên mái tóc chú, những sợi tóc quen thuộc vì chúng đã bạc quá sớm (ở vào cái tuổi mà lẽ ra tóc chú phải đen dữ lắm) cho đến bây giờ tôi nghĩ là chưa một sợi nào trắng thêm. Người đàn ông nói trong khi cha tôi phủ lại mặt chú Đăng :

- Ảnh chết ngoài xa lộ, chỗ ngã tư, quẹo trái qua làng Đại-học. Chết hết, trong xe không còn người nào.

- Có mấy người nữa sao ?

- Có, hai người đàn ông và một người đàn bà. Những người nầy vẫn thường đi chơi với ảnh.

- Người đàn bà ra sao ?

- Hơi cao lớn, ăn mặt theo kiểu đàn ông, hơi quê một chút.

- Có phải bà đó là văn sĩ không ?

- Ảnh vẫn nói bà đó là nhà văn nhà báo gì đó.

- Còn hai ông kia ?

- Chịu thôi … Cái xa lộ quái ác !

Tôi nghe mùi rượu bay nồng sặc, không biết từ miệng người đàn ông hay từ miệng cha tôi. Tôi nhìn cha. Tôi không đọc được tình cảm của ông về cái chết của chú Đăng, người em trai út được ông nhắc nhở đến nhiều nhất, nhắc nhở một cách trìu mến nhưng hình như với đầy ác ý. Và cái vẻ lầm lì lơ đãng của cha tôi bên cạnh xác chết trong một căn nhà ám khói làm tôi kinh sợ. Cái cảnh tượng chết chóc êm đềm, tiếng khóc không gây thành tiếng và những giọt nước mắt chỉ đọng lưng tròng cùng những tiếng ồn ào lộn xộn lao xao khác chi dóng lên ý nghĩa của một điều vô nghĩa.

Tôi cố nhớ lại khuôn mặt của chú Đăng (lạnh lẽo, nghiêm nghị ? tươi cười vồn vã ?) giọng nói của chú (nhanh ? chậm ? sang sảng ? yếu ớt ?), những người đàn bà trong đời chú (không làm sao nhớ hết, những cô gái thuê để mua vui, những thiếu nữ có học, những người đàn bà đã có chồng ?) ; bây giờ đã hết, tấm thân thể tràn đầy sinh lực ấy đã bất động, những giọt máu đã đổ xuống, trái tim đã ngừng đập, những lóng tay đã mất (những lóng tay ở bàn tay phải đứt lìa - người đàn ông nói với tôi như thế - văng vãi ở đâu đó dưới lùm cây bụi cỏ, giữa những viên sỏi bên bờ lộ hay bị bầm nát cuốn hút dưới bánh những chiếc xe khác ?). Và tất cả những thứ đó gọi là cái chết sao ? Cái chết ? Tôi trở xuống nhà dưới, ngồi bên cạnh cô trên phản gỗ, cầm lấy bàn tay cô, bàn tay mỏng gầy đét, những đường gân xanh, những vết tàn nhang màu nâu, màu đen lốm đốm trên nước da vàng nghệ.

- Trung đây. Cháu Trung đây cô.

- Cô biết rồi. Cháu ngồi xuống đây đi.

Cô không thấy tôi ngồi bên cạnh cô. Tôi chờ đợi cô nói điều gì, nhưng cô làm thinh, hai tay bưng mặt, búi tóc đã sổ, chiếc áo nâu rộng không che đậy được sự run rẩy của đôi vai. Thôi bây giờ cô đã mất hẳn người em kỳ cục, kẻ kiên nhẫn nhất trong những kẻ kiên nhẫn đã chịu khó ngồi nghe cô nói chuyện luật lệ và kiện cáo. Chú Đăng đã chết. Cha tôi uống rượu ngồi canh xác. Cô tôi bất động. Và tôi nhìn cái cảnh tượng không lời kia bằng đôi mắt xa lạ bình yên (tại sao tôi có thể bình thản đến như thế ?). Còn nhớ hôm đi đón chú ở quân y viện ra, cô tôi mừng rỡ đến ôm chú khóc, chị phải nói với chú mới được, chị bị con mẹ Sáu Gừng giựt cái hụi, chị sẽ kiện nó, chú lo cho chị vụ này, ra sao thì ra, chú biết con mẹ Sáu Gừng không ?... ; chú cười không trả lời, ôm lấy tôi và hồn nhiên kể lại trận đánh  dữ nhất trong đời lính của chú, kinh khủng không chịu được, chú nói thế, trận đánh chưa ngã ngũ mình đã bị đạn, hai thằng trong trung đội mình bị bắn nát đầu ngã sấp trên mình mình, mình nhìn đâu cũng thấy máu là máu, mình tưởng mình đã chết và mình bất tỉnh luôn, ấy cũng may mà còn sống, còn thấy lại được mặt chị và cháu Trung đây, chứ không phải nằm trong túi đựng xác có “phéc-mơ-tuya” kéo kín mà nghe ròi bọ lúc nhúc trong đó vì phải qua một đêm mưa tầm tã ngoài trời thì chán lắm.

Tôi ngồi im như thế hồi lâu, chẳng biết phải nói thế nào để an ủi cô, chẳng thiết hỏi han ai, và cũng chẳng ai thiết hỏi han mình. Tự nhiên tôi có cảm tưởng cái chết của chú Đăng như là một cái chết được chờ đợi, được mong ước (có cái chết nào không chờ đợi và mong ước ?). Tôi đứng dậy (chắc cô không biết) leo lên căn gác, tìm đến căn phòng của chú Đăng. Tôi xoay nhẹ chốt cửa đẩy vào. Tôi tưởng cửa đóng như cô tôi vẫn nói (tao không hiểu nổi chú ấy từ ngày chú giải ngũ, cửa nẻo gì mà lúc nào cũng đóng thin thít không hé mở lấy một chút) nhưng cửa không khoá. Căn phòng tối om và tôi ngửi thấy một mùi hôi thối khó thở, như mùi chuột chết. Tôi loay hoay sờ soạn đi tìm cái bật đèn. Cái bật đèn ? Ở đâu ? Bên trái ? Bên phải ? Trên ? Dưới ? Tôi đứng lại đỗi lâu làm quen với bóng tối và tôi bước tới.  Tôi đập đập tay lên vách ở hốc cửa, tôi quơ chân, tôi xuýt ngã. Một vật cứng và trơn lăn dưới chân tôi. Tôi cúi xuống mò kiếm và mãi một lúc lâu sau tôi tìm bắt được cả hai vật : chân ghế và cây nến. Tôi ngồi xuống ghế bật diêm đốt nến và châm thuốc. Ánh sáng cháy bùng lên rồi phụt tắt. Một que diêm, và thêm một que diêm nữa. Ánh sang soi rõ mặt bàn giấy những quyển sách và tạp chí vứt bừa bãi, một ít sách bị mở tung giữa trang, chiếc ghế xoay tròn đụng vào một tủ sách cao với những kệ trống trơn. Sát bên tường tận cùng căn buồng là một chiếc giường rộng với những chiếc gối đã được tháo bao ngoài, đen sỉn, nhớp bẩn, chiếc màn nhà binh màu xanh buông thõng một nửa (có lẽ lâu lắm chú không trở về chỗ nằm, không xử dụng đến giường chiếu mùng màn) ; ở đầu giường phía trên bàn ngủ là một bức ảnh lớn khung kính nứt rạn cong vòng như sao chổi, tôi mang đèn đến gần, nâng lên sát bức hình, đó là khuôn mặt một thiếu nữ (tôi nghĩ thế, và tôi cũng tự hỏi tại sao không gọi là thiếu phụ, tôi lục lọi trí nhớ nhưng quả tình không tìm thấy được một nét quen thuộc nào). Mùi hôi càng lúc càng khó chịu và khó thở hơn. Tôi đến mở cánh cửa sổ và vô tình tìm thấy cái bật điện, nhưng điện không sáng, cầu chì đã bị tháo. Tôi trở lại ngồi xuống bàn, hất những tạp chí và sách xuống đất. Dưới tấm kính lót bàn và trên miếng nỉ xanh là một bức tranh lớn in màu tuyệt vời, kỳ khu, nét vẽ bén và sắc một con sông rộng với những thuyền và người, một chiếc cầu cao cong mất hút phía bên kia sông, nơi có những căn nhà lụp sụp chìm trong rừng cây mờ nhạt, bầu trời đen kịt những mây và vẻ hối hả hằn trên gương mặt của người lái đò đang ở dáng điệu chống cây sào dài ngăn đôi khung cảnh buồn thảm. Lại trời mưa. Những cơn mưa dai dẳng chẳng làm sạch được mây đen trên trời. Tôi cuối xuống góc bức tranh và đọc một cách khó khăn tên hoạ sĩ Hokusai Katsushika. Cái tên khó nhớ, tôi nghĩ trong đầu. tôi sẽ làm gì cho hết buổi tối hôm nay. Một xác chết không người khóc. Một căn phòng không ánh sáng ẩm mốc và hôi thối. Tôi tẩn mẩn kéo hộc bàn chú Đăng và giữa những tờ giấy ghi chép, những câu vô nghĩa, những bao thư mất ruột và bị xoá cả tên người gửi tôi tìm thấy quyển truyện của một tác giả quen tên. Những chữ trong sách này tôi đã một lần, hồi tác giả mới cho in đôi bài trên một tạp chí. Tôi cũng đã gặp người viết một lần ở nhà chú Đăng. Hôm đó tôi mới vừa ở Đà-lạt về, tiện đường tạt qua nhà cô thăm chú. Khi bước vào phòng, tôi chú ý ngay đến người đàn ông trạc tuổi tôi đang ngồi bất động như một xác chết trên chiếc ghế dựa gần cửa sổ (với quyển sách mở trang, chắc thế !). Ánh đèn ống trên tường hắt xuống khuôn mặt hắn một màu xanh bệch. Chú Đăng nói, anh ngồi xuống đây, anh Trung.  (Chú vẫn gọi tôi là anh, có lẽ xét về tuổi tác, về chiều cao và về sức nặng giữa chú và tôi không cách biệt bao xa). Người đàn ông đứng dậy. Chú Đăng giới thiệu tôi với hắn và cho tôi biết hắn là một nhà văn, một nhà văn có tiếng nói dõng dạc và mạnh bạo nhất hiện nay. Hắn bắt tay tôi một cách nghiêm trang và hợm hĩnh (vẻ lơ là khinh bạc và kiêu ngạo làm hắn có vẻ buồn cười, giống như một người rơm mà ở dưới quê người ta vẫn dùng đê dọa chim chóc ngoài ruộng). Tôi nói hân hạnh, thật là hân hạnh cho tôi quá chừng. Bàn tay hắn khô, buông lỏng xa lạ, và cái nhìn uể oải, không thẳng. Hắn lại ngồi xuống ghế tiếp tục trang sách đang đọc dở, có vẻ hả hê vì lời ca ngợi của tôi. Tôi nói với hắn ông là một nhà văn lớn, một nhà văn dấn thân lớn nhất của thế kỷ hai mươi. Tôi cố nhấn mạnh tĩnh từ dấn thân - mặc dù tôi không hiểu tí nào cái nghĩa chữ ấy. Hắn đặt sách xuống đùi hỏi tôi : ông có đọc bài của tôi trên nhật báo và trên các tạp chí văn học nghệ thuật sao ? Tôi đáp thật khiêm tốn, có,  tôi đọc không thiếu một chữ nào của ông, tôi theo dõi ông nhiều lắm, tôi yêu mến ông ngay từ bài đầu. Hắn gật gù có vẻ tự mãn. “Sống ở đời là phải lựa chọn một thái độ. Chúng ta không thể từ chối lựa chọn bởi từ chối lựa chọn một thái độ là mặc nhiên đã bày tỏ một thái độ rồi. Ít ra chúng ta cũng phải làm một cái gì !” Làm một cái gì ? Tôi cố tình không hiểu hắn muốn nói gì. Hồi đó, chú Đăng mới giải ngũ và được thưởng huy chương hay bội tinh gì đó. Tôi nói “Phải, chúng ta cần phải làm một cái gì như chú Đăng tôi chẳng hạn”. Hắn ngửng đầu lên nhìn tôi, cân nhắc dò xét lời nói, có lẽ hắn tự hỏi thằng cha này muốn nói cái gì đây (điều này không chắc lắm vì tôi cũng chỉ nghĩ thế thôi). Hắn nói trước hắn ở trong cùng đơn vị với chú Đăng, hắn đã chiến đấu, đã dự những trận đánh lớn sát biên giới, đã chạm mặt với cái chết… “cái chết theo đuổi tôi không rời một giây phút nào. Tôi sẽ viết về cái chết đó”.  Tôi nói, chắc hơn ai hết ông phải là người biết rõ cái chết nhất, nhưng tôi chợt nghĩ khi biết cái chết thật rõ thì mình đã chết mất rồi còn đâu mà nói phét. Từ lúc tôi và nhà văn lớn nói chuyện, chú Đăng vẫn nằm trên giường đọc báo không nói chen một lời nào. Hắn không buồn trả lời câu hỏi tôi, cúi xuống trang sách. Quả tình tôi có đọc nhiều bài của hắn viết. Văn chương hắn dễ dãi gần gũi với những người máu nóng, hời hợt và dâm loạn (tôi thích hắn một phần cũng vì lý do này). Đọc hắn, người dễ tính thấy mình sớm trở thành những anh hùng làm được một cái gì. Và tôi có một tật rất xấu là thường hay lấy những ấn tượng ban đầu để phê phán kẻ khác. Cho nên tôi tự nghĩ, thực là xa lạ biết bao giữa một nhà văn trong những bài báo sôi sục căm hờn đầy tính cách khích động, lúc nào cũng lăm le loan báo sự phản kháng chế độ, một nhà văn kêu gọi không ngừng sự liên kết của tuổi trẻ và hành động vào thời yếu tố kiêu căng vô lối của mình coi như căn bản của mọi vận động tìm đến sự thoả hiệp giữa tư tưởng và hành động và con người đang ngồi trước mặt tôi kia, con người với cái bắt tay rã rời mệt mỏi, con mắt nhìn xiên xỏ lấm la lấm lét, điệu bộ kênh kiệu như con công rừng, và những nhận xét cũ kỹ trên một quan niệm đã được người khác nhắc tới nói đến quá nhiều lần (thành ra tư tưởng của hắn là những bản vỗ của nhà in, dập đi dập lại nhòe nhoẹt, khác chăng là thay tên của một người này bằng một người khác ở cuối mỗi bài). Tội nghiệp cho hắn và cũng tội nghiệp cho tôi nữa bởi vì tôi đã ghét hắn, bắt đầu thấy ghét hắn và bởi vì người ta vẫn nói rằng chỉ có những kẻ giống nhau quá mới dễ ghét nhau thôi. Chúng tôi tiếp tục im lặng, hắn đọc sách, tôi đọc hắn. Có lẽ chú Đăng cho là sự lặng thinh đó kỳ cục, chú ngồi dậy, mang giầy nói là để đưa tôi về. Về đâu ? Tôi hỏi chú và chú nhìn mắt tôi dò hỏi. Thế anh không về đằng nhà sao ? Và không chờ tôi trả lời, chú cười, được rồi, anh muốn đến đâu tôi đưa đến đó. Tôi chào hắn, đưa tay cho hắn bắt nhưng hắn lờ đi làm như không thấy. Chú Đăng biểu, đi cho kịp không trời mưa bây giờ. Tôi nhìn thấy hắn bước ra ngoài lan can, tay phải vẫn giữ quyển sách, ngón tay trỏ nằm giữa những trang đang đọc. Dáng hắn gầy và cao, hai gò má nhô xương, da sạm đen, cánh tay dài lêu khêu, lủng lẳng trên vai chiếc đầu nhỏ như một trái dừa xiêm. Đợi tôi ngồi sau yên xe xong, chú Đăng nói bây giờ chú yêu mến đời sống hơn bất kỳ lúc nào, chưa bao giờ chú cảm thấy thích thú đời sống đến thế. Chú nói anh ấy (nhà văn phản kháng của tôi !) cho rằng nếu không làm đuợc một cái gì thà chết đi còn hơn. Tôi hỏi chú rằng, y đã làm được cái gì chưa ? Cái gì là thế nào ? Chú ngạc nhiên hỏi lại. Tôi nói tôi cũng không hiểu cái gì là cái gì nữa. Tôi chỉ đặt câu hỏi theo câu chuyện đó thôi. Chú bật cười, à, cái này thì khó nói quá. Tôi im lặng. Chú hỏi lại, sao anh cay cú quá thế ? Tôi nói bởi vì hắn giống tôi nên tôi cay cú. Chú Đăng cười to hơn. Đến một ngã tư đèn đỏ, tôi đập vai xin chú cho xuống. Chú ngạc nhiên nhưng vẫn bắt tay tôi. Tôi hỏi, sao y chưa chết ? Chú la lên, anh điên hả ? Tôi cười, đủ rồi, cho một buổi chiều như buổi chiều hôm nay bấy nhiêu đó là đủ rồi. Đèn xanh. Những còi xe phía sau giục chú. Tôi chào chú và băng qua bên kia đường ngược chiều. Tôi nghĩ tức cười về những vụn vặt giả tạo và cái thứ làm dáng siêu hình đó quá. Hình như hắn vẫn còn sống. Có lẽ tôi đã gặp hắn ngày hôm qua, trên đường đến lớp học. Và chú Đăng tôi bây giờ đã chết. Có phải đó là hậu quả tất nhiên của một thứ làm dáng triết lý mà chú đã nhận được từ người bạn văn chương của chú không ? (còn nhớ trong một bức thư sau cùng chú viết cho tôi rằng cái chết giống như một mục sư tốt, bởi vì cả hai không bao giờ đánh mất hay làm thất lạc được bầy chiên của mình, ý tưởng này chú cho biết là của hắn, một tư tưởng tuyệt vời và thâm thuý, nhưng hình như đã có lần tôi đọc thấy đâu đó trong quyển Album d'un pessimiste của  Alphonse Rabbe câu này, La mort est un bon Pasteur, car elle ne perd jamais rien de son troupeau, nam mô a di đà phật !) Không biết tôi đã ngồi như thế trong bao lâu, cây nến đã lụn bấc, những hạt mưa vỗ trên mái tôn đều đặn và gió thổi đóng sầm cánh cửa lại. Tôi nghe trong ruột cồn cào, có lẽ phải kiếm cái gì bỏ bụng. Tôi thổi tắt ngọn đèn và bước ra bên ngoài. Tôi xuống thang gác trong tiếng khóc xót xa và ấm ức của một người đàn bà (hình như vừa khóc vừa kêu gào lăn lộn dưới đất ?). Tôi không chịu được. Tôi nghĩ đến Thảo. Tôi sẽ đến đón nàng đi ăn, đi xem chớp bóng và sau đó, một phòng cho thuê ở Chợ-lớn (với tôi điều này không có gì phải bối rối lắm). Tại sao không mơ được chứ ? Tôi yêu Thảo rồi chăng ? Điều này không chắc lắm. Một hôm tự dưng Thảo nói, trong đời em, em chỉ yêu có một người, người đó là anh, và chỉ có mình anh mà thôi (Thảo phải là một nhà hình học giỏi ; nàng đã dung hòa được toán học và cải lương), dầu sao tôi cũng thích thú vì được vuốt ve. Tôi sẽ kể chuyện cái chết của chú Đăng cho nàng nghe. Chắc nàng phải kêu lên : Khiếp quá ! Khiếp quá ! thôi anh đừng có tả cái cảnh tượng ấy nữa. Tôi sẽ gọi nàng là hạnh-phúc-của-đời-tôi. Và tôi sẽ ngủ trong tận cùng hạnh phúc đó.
Tôi cầm quyển sách bước ra ngoài khoá trái cửa lại, định vòng ra ngõ sau, nhưng tánh hiếu kỳ khiến tôi đứng lại đưa mắt về phía tiếng động. Mọi người lúc đó đang xúm quanh một cô gái nằm vật dưới chân xác chú Đăng. Tiếng khóc như xé tim làm tôi thêm chú ý. Cô tôi tay cầm chai dầu khuynh diệp, xô mọi người ra và cúi xuống mặt cô gái. Tôi đến gần, nhón gót nhìn cảnh tượng kỳ lạ. Cha tôi nói với đám đông, người này là nhân tình của chú Đăng đó, đã có mang thai hai tháng nay. Thôi hãy tránh bớt ra cho người ta còn thở chớ, chết ngộp hết bây giờ. Cô tôi vén những sợi tóc che lấp vầng trán và khuôn mặt của người con gái. Tôi chỉ kịp kêu lên trong cuống họng, Thảo! Thảo hạnh-phúc-của-đời-tôi

Bên ngoài trời có còn mưa không anh ?

Nguyễn Xuân Hoàng
(trích trong : Cánh Cửa Sau Cùng,
Văn Uyển số 16 tháng 8/1969)

Trùng Dương - Chuyện trò với Đạo diễn Đỗ Tiến Đức



Điện Ảnh Miền Nam trước 1975 & việc thực hiện phim Yêu dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Tử bên cạnh các phim khác do chính anh đạo diễn

Trùng Dương
Tháng 4, 2013


Tiểu sử

- Nhà Văn Đỗ Tiến Đức sinh vào tháng 10 năm 1939 tại Sơn Tây, học Trung học tại trường Nguyễn Trãi, Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954.
- Học Quốc Gia Hành Chánh, Đại học Luật Khoa và Khóa sĩ quan hiện dịch tại Quân Trường Đồng Đế và Trường Cao Đẳng Quốc Phòng.
- Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc năm 1969, bộ môn Văn, với cuốn Má Hồng.
- Chủ nhiệm tạp chí Chí Trai thuộc Bộ Thanh Niên (1965-1967).
- Giám đốc Nha Thông tin (1967-1968).
- Giám-đốc Nha Điện Ảnh Việt Nam Cộng Hoà (1969-1972).
- Giám đốc Tổng Cuộc Tiếp Tế Vùng 4 (1973).
- Giáo sư trưởng Khoa Truyền Thông Viện Đại Học Minh Đức (1973-1975).
- Truyện đã xuất bản : Hoa Niên (1954), Má Hồng (1968) Lối Vào (1990) Vầng Trăng Trong Mưa (1993), Tiếng Xưa (2000), Những Chuyện Rất Việt Nam, Tháng Tư 1975, Bên Em Là Bóng Tối.
- Viết và đạo diễn phim Ngọc Lan (1972, với Hà Huyền Chi làm phụ tá dạo diễn), Yêu (1973, với Viên Linh và Trần Quang Đôn làm phụ tá đạo diễn), và Giỡn Mặt Tử Thần (1975).
- Hiện làm chủ bút báo Thời Luận ở Los Angeles (1985-).

Trao đổi

Trùng Dương: Anh được biết tới, trước hết qua các tác phẩm văn chương, đặc biệt cuốn tiểu thuyết Má Hồng đã được giải thưởng Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1969 ở Saigòn, và bây giờ ở hải ngoại qua sinh hoạt báo chí với tư cách chủ nhiệm và chủ bút nhật báo Thời Luận trụ sở đặt tại Los Angeles, và là một trong số ít những người thuộc thế hệ cầm bút trước 1975 còn viết và in sách đều ở hải ngoại. Ít người biết tới sinh hoạt điện ảnh của anh mặc dù người ta vẫn quen miệng gọi anh là Đạo diễn Đỗ Tiến Đức. Gần đây, trong một buổi ra mắt cuốn Ảnh Trường Kịch Giới của Hồ Trường An do Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành, anh nhận lời giới thiệu cuốn sách, thế nhưng tôi có cảm tưởng sau khi xem cái video clip (*) anh… phê bình cuốn sách hơn là giới thiệu.

Đỗ Tiến Đức: Vâng, thưa chị, tại tôi ít nói về điện ảnh đã lâu nên có dịp thì nói hơi vung vít. Với lại nói về điện ảnh đối với tôi là “gãi đúng chỗ ngứa” rồi. Một lý do khác là… kể ra tôi cũng “hơi lối” vì khi anh Hồ Trường An nhờ tôi giới thiệu cuốn sách Ảnh Trường Kịch Giới của anh ấy mới in xong, thì anh ấy gọi tôi là “giáo sư” và tự giới thiệu là sinh viên của tôi ở Đại học Minh Đức. Vì liên hệ như thế, nên tôi phải… nói nhiều, để anh ấy sửa chữa khi tái bản hầu tránh hiểu lầm, lại tổn hại thiện chí của anh ấy khi nặn óc viết về dĩ vãng xa xưa mấy chục năm của sân khấu và điện ảnh của miền Nam Việt Nam.

TD: Cũng trong buổi sinh hoạt ra mắt sách đó, tôi nghe đại diện nhà xuất bản, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, đã lên tiếng, sau khi nghe lời phê bình một số điểm trong cuốn sách, đã trách khéo anh là người “biết mà không chịu nói.” Như vậy thì anh có thấy là mình bị… trách oan không vậy?

ĐTĐ: Không oan chút nào đâu. Chị nhớ cho là tôi sợ lên ti vi lắm vì… vừa nói dở vừa xấu trai mà. Với lại mình đã chọn vai trò làm đạo diễn thì chỗ đứng là phía sau camera chứ đứng dưới ánh đèn là trật rồi.

TD: Xin anh cho biết cơ duyên nào đã đưa anh đến với điện ảnh VN?

ĐTĐ: Lý do sâu xa nhất là tôi thích điện ảnh. Hồi học tiểu học ở Hà Nội tôi là “cây” sưu tâm” mấy tờ chương trình của các rạp chiếu bóng đấy. Tôi cũng thường “mánh mung” kiểu này nữa: Nhiều buổi tối, tôi ăn mặc “lịch sự”, chải đầu chải tóc quần áo đàng hoàng rồi tới trước của rạp hát. Khi thấy cặp vợ chồng nào “dễ thương” tôi “tà tà” bám theo họ, đóng vai là con cái họ, tay thì cầm tờ chương trình, cúi xuống đọc miết theo kiểu “gian thì phải ngoan” mà để qua mặt người soát vé… Vậy chứ có khi thoát, có khi bị túm…

Khi vào Sài gòn, vừa học trung học vừa đi bán báo với Hà Huyền Chi, vừa viết báo, thế mà khi nghe tin có “dzụ” người ngoại quốc tới quay phim ở đâu là tôi tới bằng được để mê mẩn xem người ta “mần tuồng”. Vì còn có nhiều người khác cũng hiếu kỳ như tôi nên có khi bị đoàn làm phim gọi xe cứu hỏa tới xịt nước để giải tán, tôi và mọi người ướt như chuột vậy mà vẫn nhe răng cười khoan khoái lắm.

Đến năm 1969 khi tôi học xong khóa 1 Cao đẳng Quốc phòng, tôi trở lại Bộ Thông tin với một đồng môn của lớp này là Đại tá Bùi Định. Ông Tổng trưởng Thông tin Nguyễn Ngọc An yêu cầu hai anh em chúng tôi nói cho ông nghe Trường Cao Đẳng Quốc Phòng là gì. Chúng tôi nói đại ý đó là trường đào tạo cán bộ lãnh đạo quốc gia. Học viên phía quân sự phải từ cấp đại tá và học viên dân sự phải từ cấp giám đốc. Ông Tổng trưởng nghe xong bèn bổ nhiệm ông Đại tá Định làm phụ tá tổng trưởng đặc trách về chính sách và kế hoạch. Còn tôi vì trước đó đã làm giám đốc Thông tin và lại tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh nên ông Tổng trưởng muốn tôi làm Tổng thư ký bộ thay thế ông tổng thư ký sắp đi nhận nhiệm vụ khác.

Tuần lễ sau, tôi được biết bên Trung Tâm Quốc gia Điện ảnh chưa có quản đốc. Thế là tôi ngỏ ý với ông Tổng trưởng, cho tôi xuống làm Quản đốc Trung tâm Quốc gia Điện ảnh. Ông Tổng trưởng và ông Phụ tá Tổng trưỏng Bùi Quang Định đều ngạc nhiên, nhìn tôi muốn lõ con mắt, hỏi tại sao tôi lại bỏ chức cao để xin làm chức thấp. Ông Tổng trưởng khuyên: “Em là ngạch hành chánh thì làm Tổng thư ký là chức xứng đáng nhất của em, sao em lại bỏ cơ hội?” Thấy tôi vẫn xin xuống Trung tâm Điện ảnh, ông Tổng trưởng hỏi : “Nhưng em là ngạch đốc sự hành chánh, em biết gì về điện ảnh mà làm cái việc chuyên môn đó?” Tôi nhớ mang máng đã trả lời rằng, tôi không tới Trung tâm Điện ảnh để làm công việc chuyên môn như quay phim, ráp nối. Tôi tới để quản trị để phát triển. Mà khả năng quản trị thì tôi đã học và đã thực hành nhiều năm qua nhiều chức vụ. Biết tôi đã “lậm” điện ảnh quá rồi nên ông Tổng trưởng Nguyễn Ngọc An đành ừ thôi.

TD: Xin anh cho biết qua về tình hình điện ảnh VN vào giai đoạn anh về giữ chức giám đốc Nha Điện ảnh Việt Nam Cộng Hoà?

ĐTĐ: Như chị đã biết, Trung tâm Quốc gia Điện ảnh là cơ quan sản xuất phim thời sự hàng tuần và phim tài liệu tuyên truyền của chính phủ. Đôi khi cũng sản xuất phim truyện với nội dung chống cộng để cung cấp cho các ty thông tin và các sứ quán. Trung tâm này không trách nhiệm về ngành điện ảnh trong nước do đó không cần biết điện ảnh tư nhân sống chết ra sao.

Còn điện ảnh tư nhân lúc đó èo uột lắm. Cả nước chỉ có hai hãng phim hoạt động tương đối là Mỹ Vân và Alpha. Mỹ Vân thì làm phim chiếu vào dịp Tết nên chú trọng chọc cười như Năm Vua Hề Về Làng chẳng hạn. Hãng Alpha thì hoạt động chính là phụ đề tiếng Việt cho phim ngoại quốc. Thành ra có năm không có phim, có năm một hai cuốn.

TD: Vai trò của Nha Điện ảnh đối với chế độ VNCH nói riêng, và đối với kỹ nghệ điện ảnh Miền Nam nói chung, gồm những gì?

ĐTĐ: Ban nãy tôi đã nói, tôi mê điện ảnh, phải không? Vì thế cho nên tôi chuyên chú tới một kế hoạch phát triển ngành điện ảnh Việt Nam. Tôi đã soạn một dự án trình lên ông Tổng trưởng, gồm việc nâng Trung tâm Quốc gia điện ảnh thành Nha Điện ảnh, đảm nhiệm vai trò lãnh đạo ngành điện ảnh quốc gia. Trung tâm Quốc gia Điện ảnh chỉ là bộ phận của Nha Điện ảnh phục vụ công tác làm phim thời sự và phim tài liệu tuyên truyền. Muốn tư nhân làm phim thì nhà nước phải làm mấy công việc song song: 1) Phải có biện pháp giúp đỡ họ, cụ thể là giúp phương tiện máy móc và chuyên viên. 2) Phải giúp họ phát hành, cụ thể là có rạp để chiếu phim của họ làm ra. Điều này hơi khó vì chủ rạp cũng là tư nhân, họ chọn chiếu phim nào là do tính toán lợi nhuận. 3) Muốn tạo áp lực với chủ rạp thì phải giảm số phim nhập cảng, để lấy chỗ trống cho phim Việt. Và muốn giảm số phim nhập cảng mà không vi phạm tự do kinh doanh thì phải có luật, trường hợp chưa có luật thì phải tìm cách khác. Đó là lý do phải thành lập Nha Điện Ảnh, phụ trách công tác kiểm duyệt phim ảnh, công tác cấp quota nhập cảng phim mà lúc đó đang thuộc các Nha sở khác của Bộ Thông tin.

TD: Và anh đã làm được những gì trong thời gian từ 1969 tới 1972 trong vai trò giám đốc cơ quan này?

ĐTĐ: Khi ông Tổng trưởng chấp thuận lập Nha Điện Ảnh thì tôi bắt tay vào việc… học nghề. Các anh chị em chuyên viên các ngành từ thu hình, ráp nối, viết truyện phim, vân vân, là người hướng dẫn cho Giám đốc học nghề. Mấy ông đạo diễn như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa, Thân Trọng Kỳ… nhìn tôi bằng nửa con mắt, coi tôi là “kẻ ngoại đạo” vì khi tới nhậm chức, trước anh em nhân viên, tôi nói lời đầu tiên đại ý là “Xin anh chị mang cái máy quay phim ra đây cho tôi được sờ nó một cái vì tôi chưa bao giờ được đứng sát bên nó cả.” Nhân viên của tôi sau này nhắc lại chuyện đó với lời khen là tôi “ngây thơ, thành thật khai báo”.

Trong khi đó tôi tiếp xúc với giới điện ảnh tư nhân, thuyết phục họ hợp tác với tôi để tổ chức Ngày Điện Ảnh Việt Nam làm điểm xuất phát chiến dịch làm phim Việt. Ngày Điện ảnh Việt Nam mà tôi đặt là kỳ 1 tổ chức ngày 22 tháng 9, 1969. Ngày đó các rạp trên toàn quốc đều chiếu phim Việt miễn phí cho đồng bào. Một buổi hội thảo lớn tại rạp Rex và chiếu lần đầu phim Xin Nhận Nơi Đây Làm Quê Hương do Trung tâm Quốc gia Điện ảnh sản xuất, đạo diễn là Hoàng Vĩnh Lộc. Ông Tổng trưởng Nguyễn Ngọc An đọc bài về chính sách điện ảnh, đưa ra ba chính sách lớn: 1) Đó là giúp phương tiện và nhân sự cho tư nhân làm phim. 2) Các nhà nhập cảng phim sẽ được thêm quota nếu sản xuất phim Việt Nam. 3) Nha Điện ảnh và các hãng phim tư nhân sẽ hợp tác sản xuất những cuốn phim có nội dung thích hợp. Về lâu dài sẽ soạn thảo luật Điện ảnh trong đó miễn thuế cho ngành sản xuất phim ảnh trong một thời gian từ năm đến 10 năm.


TD: Công tác hay chương trình nào đã khiến anh hãnh diện nhất khi anh làm Giám đốc Nha Điện ảnh?

ĐTĐ: Tôi hãnh diện nhất là tổ chức thành công Ngày Điện Ảnh Việt Nam và mở được ban Điện Ảnh thuộc Phân Khoa Nhân Văn và Nghệ thuật của Viện Đại học Minh Đức. Như chị đã biết, sau Ngày Điện ảnh Việt Nam kỳ 1 do tôi làm chủ tịch, tôi đã “tư nhân hóa” tổ chức này để nó tồn tại lâu dài. Tiếc rằng sau khi tôi thôi làm giám đốc Nha Điện ảnh thì một năm sau Ngày Điện ảnh cũng không có nữa.

Nhờ có Ngày Điện Ảnh Việt Nam, mà ông Tổng trưởng Nguyễn Ngọc An chính thức ban hành chính sách điện ảnh, và sau đó thì hãng phim mọc ra như nấm, trên dưới khoảng ba chục hãng phim. Rất nhiều nữ tài tử như Kiều Chinh, Kim Cương, Túy Hồng, Thẩm Thúy Hằng đều mở hãng phim. Nhiều doanh gia cũng mở hãng phim, như ông Phạm Hoàng Kim mở hãng Lidac. Hãng nhập cảng phim Cosunam, Tân Kiệt Y Oan cũng mở hãng phim. Như thế tất nhiên là số lượng phim ra đời phải tăng rồi. Năm 1971 có khoảng hai chục cuốn phim được thực hiện. Phim Chiều Kỷ Niệm của nhóm Thẩm Thúy Hằng được chiếu tuần lễ đầu tiên tại 10 rạp gồm cả rạp lớn nhất là Rex. Nghe nói số thu lên đến trăm triệu đồng nên làm nức lòng giới điện ảnh. Có thể chị sẽ nói kế hoạch phát triển đó quá chú trọng về lượng. Đúng thế. Ở Việt Nam thời đó số người được học về điện ảnh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các chuyên viên điện ảnh chỉ là nhân viên của Nha Điện ảnh. Mà những người này do chính phủ huấn luyện để làm phim thời sự chứ không phải để làm phim truyện. Thành ra cứ làm nhiều phim để nghề dạy nghề là cách tốt nhất thôi.

TD: Riêng về phim Việt, theo anh, đã có những phim nào xứng đáng gọi là “trưởng thành” về cả kỹ thuật lẫn nghệ thuật?

ĐTĐ: Theo tôi thì khi nói về trình độ trưởng thành, có lẽ không có cuốn phim nào đạt được “danh hiệu” đó đâu. Lý do là các nhà sản xuất phim thương mại như Mỹ Vân thì họ nhắm vào thị hiếu của đa số quần chúng để kiếm tiền. Sau khi có Ngày Điện Ảnh thì có một số nhóm tham gia sản xuất phim, họ không nặng lắm vào số thu, nhưng phim của họ hầu hết là phim đầu tay, chưa kinh nghiệm, chính họ chưa trưởng thành thì làm sao sản xuất được một cuốn phim trưởng thành.

TD: Anh ngưng làm giám đốc Nha Điện ảnh năm nào và tại sao?

ĐTĐ: Tôi mất chức Giám đốc Nha Điện ảnh cuối năm 1972 thì Nha Điện ảnh bị ông Tổng trưởng Thông tin Ngô Khắc Tỉnh giải tán, chỉ còn lại Trung Tâm Quốc gia Điện ảnh thôi.

TD: Tại sao ông Tỉnh giải tán Nha Điện Ảnh? Mọi diễn tiến đang tốt đẹp như thế…

ĐTĐ: Theo tôi thì… do mấy ông Tầu muốn thế. Đầu đuôi là khi tôi hạn chế quota nhập cảng phim Tầu thì tòa đại sứ Đài Loan khổ tâm lắm. Họ muốn tôi bỏ cái nghị định đó đi nhưng tôi không chịu. Rồi ông Lý Long Thân, một tài phiệt Chợ Lớn, có hãng phim Tân Kiệt Y Oan, mời tôi đi ăn một tối thứ sáu (quên mất ngày rồi) ở nhà hàng Văn Cảnh. Bữa ăn có bốn người là ông Lý Long Thân, ông Đại sứ Đài Loan là Đại tướng Hồ Liên, ông Tham vụ sứ quán Đài Loan Henry và tôi. Chè chén ngon miệng rồi thì ông Lý Long Thân đặt vấn đề. Ông nói thẳng rằng tôi muốn bao nhiêu tiền, bỏ vào chương mục nào, ở đâu, ông sẽ làm để tôi bỏ nghị định hạn chế nhập cảng phim. Tôi trả lời rằng tôi chỉ là người thi hành cái nghị định đó. Ông Thân nói đại khái: “Nếu ông Giám đốc không giúp chúng tôi thì ông cho phép chúng tôi cầu cứu nơi khác.” Tôi trả lời các ông cứ việc, và tôi sẵn sàng thi hành quyết định mới. Khi ra về, ông Thân bắt tay tôi nói: “Xin lỗi ông Giám đốc, Tổng trưởng chúng tôi còn thay được huống chi cái nghị định này.” Chia tay họ, tôi gọi điện thoại cho ông Tổng trưởng Ngô Khắc Tỉnh, tường thuật chuyện vừa rồi. Ông Tỉnh có vẻ bực tức, nói đại khái: “Bọn này láo quá. Tôi sẽ bảo vệ anh.” Sáng thứ bẩy tôi nói cho Thiếu tá PhạmVăn Thiệp, phụ tá của tôi nghe chuyện. Sáng thứ hai, khi tôi đang cùng toàn thể nhân viên làm lễ chào cờ trong hội trường của Nha Điện ảnh thì có điện thoại của ông Chung Đức Mai, phụ tá Tổng trưởng gọi, nói rằng ông Tổng trưởng quyết định giải tán Nha Điện ảnh, yêu cầu tôi chuẩn bị bàn giao.

TD: Giản dị như vậy đó?!? Thế… sau khi Nha Điện ảnh đã bị giải tán và anh bị mất chức thì hình như anh thực sự bị mắc chứng… “nghiện” điện ảnh nặng?

ĐTĐ: Chị thấy tôi mắc chứng nghiện điện ảnh thật à? Không nghiện trà, không nghiện rượu, không nghiện đàn bà mà nghiện điện ảnh thì lành mạnh quá rồi, phải không chị ?

TD: Anh cho biết đã “giải quyết” cơn nghiện này ra sao?

ĐTĐ: Thì tôi tiếp tục hoạt động điện ảnh. Trước hết là tôi làm phim. Cái may của tôi là lúc đó có nhiều người bỏ tiền cho tôi làm phim một cách tự do. Trước nhất là một thương gia bỏ tiền cho tôi làm cuốn phim Ngọc Lan, truyện phim do tôi viết. Phim quay ở Lái Thiêu. Tài tử gồm Thanh Lan, Ngọc Minh, Bảo Ân, Hà Huyền Chi… Khi chiếu chỉ huề vốn. Tiếp theo là… chị mang tiền của báo Sóng Thần cho tôi làm cuốn phim Yêu, truyện phim do tôi viết, phỏng theo tiểu thuyết của nhà văn Chu Tử. Cuốn này thu không đủ vốn. Sau đó là anh Quách Thoại Huấn bỏ tiền cho tôi làm phim Giỡn Mặt Tử Thần, phim mầu, quay tại Đà Lạt với tài tử Thẩm Thúy Hằng, Bảo Ân, Ngọc Đức, Hoàng Mai, Tường Vi, Phi Thoàn, Thanh Hoài, Văn Chung… Đến cuối tháng Tư 1975, khi cả nước tìm đường di tản thì tôi cứ vùi đầu vào công việc ráp nối và làm âm thanh cho cuốn phim. Khi gửi được cuốn phim sang Hồng Kông thì cộng sản đã vô tới Sài gòn. Và rồi tôi đi tù.
Có thể nói tôi rất may mắn với điện ảnh. Nếu không mất nước thì mỗi năm tôi có thể làm một cuốn phim trong khi các đạo điễn đồng nghiệp đợt “nghệ thuật” như anh Võ Doãn Châu, Đặng Trần Thức, Nguyễn Ngọc Liên, sự nghiệp của họ chỉ có một cuốn phim mà thôi.

TD: Nhưng anh còn mở phân khoa Điện ảnh ở Đại học Minh Đức năm 1973 nữa? Tôi nhớ chi tiết này vì tôi là một trong khoảng 100 sinh viên ghi tên học niên khóa đầu tiên vì hồi đó tôi cũng mắc cơn “ghiền” tuy chưa nặng bằng anh. Tôi nhớ lần đầu tiên bước vào lớp, đạo diễn kiêm giảng sư Hoàng Ngọc Liên -- chả nhớ anh ấy dậy môn gì – ngó xuống thấy tôi, bèn đi xuống bàn tôi, gõ gõ cục phấn cầm trong tay xuống mặt bàn trước mặt tôi, nói, nửa bỡn nửa thực: “Bà ngồi đây làm tôi… khớp!”

Vâng, trở lại câu chuyện đang nói: Và trong khi đó thì anh vẫn là công chức, vậy thì giờ nào mà anh làm từng đó việc?

ĐTĐ: Thì chị vừa bảo tôi là con nghiện điện ảnh mà. Tôi cũng rất hãnh diện với việc mở trường Điện Ảnh đầu tiên, ở cấp đại học ở miền Nam Việt Nam. Để mở được ngôi trường như thế không phải là công việc dễ dàng chút nào. Trước hết là thuyết phục các linh mục trong Viện Đại học Minh Đức. Sau là thuyết phục Bộ Quốc Gia Giáo Dục vì cả ban giảng huấn không ai có bằng tiến sĩ để đạt tiêu chuẩn. Rồi thì lo trường sở, lo lập ban giảng huấn, lo kiếm nơi thực tập, lo mạnh thường quân tài trợ học bổng cho sinh viên, vân vân… Trường khai giảng năm 1973, khoá đầu tiên với 100 sinh viên. Khoá hai khai giảng năm 1974 cũng 100 sinh viên. Trong khi đó thì tôi gửi thư cho các đại tài tử thế giới như Elizabeth Taylor, Alain Delon xin ủng hộ vài chục ngàn đô để xây phim trường Elizabeth Taylor, xây thư viện Alain Delon… Nếu không đứt phim vào năm 1975 thì năm 1975 sẽ có sinh viên Lào và Cam Bốt được cấp học bổng theo học. Mục đích là tôi muốn qua họ lập một cây cầu văn hoá đưa phim ảnh vào hai nước láng giềng thay vì đưa bộ đội.

TD: Tôi xin nhắc lại câu hỏi của tôi, là hồi ấy anh còn làm công chức không mà có thể bỏ thì giờ ra đi làm phim và những việc khác như mở trường Điện ảnh?

ĐTĐ: Vâng. Hồi ấy tôi làm công chức chính ngạch ở Viện Tu nghiệp Quốc gia. Công việc của tôi là phụ trách một số giờ giảng. Tôi nhờ các giảng viên bạn tôi phụ trách giúp tôi. Tất nhiên là thù lao đứng lớp của tôi thì họ lấy cho nên vui vẻ cả làng.

TD: Trong ba phim kể trên, thì hai phim Ngọc LanGiỡn Mặt Tử Thần do chính anh sáng tác truyện phim, phải không?

ĐTĐ: Vâng. Tôi là nhà văn nên viết truyện phim không khó khăn gì. Vì tự viết truyện phim cho mình quay phim nó có cái lợi “đo ni đóng giầy” thích hợp với tài tử và thích hợp với túi tiền của nhà sản xuất bỏ ra.

TD: Chỉ có phim Yêu là dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên rất nổi tiếng một thời của nhà văn kiêm nhà báo Chu Tử. Xin cho biết sơ qua nội dung của Yêu?

ĐTĐ: Cuốn truyện Yêu của anh Chu Tử rất ăn khách thời đó. Nhưng chị cũng biết, anh Chu Tử viết truyện này cho báo hàng ngày nên phóng bút tùy hứng mỗi ngày. Vì thế khi chuyển thể sang điện ảnh thì rất phức tạp. Thành ra tôi chỉ lấy được một số tình tiết trong truyện và dựa vào truyện để tạo những chủ đề cho phim. Chẳng hạn trong cuốn phim Yêu, chủ đề của nó là “Tình yêu là định mệnh hay do con người xếp đặt?” Và “Đích thực của tình yêu là hạnh phúc hay khổ đau?”

TD: Động lực nào đã thúc đẩy anh chọn cuốn tiểu thuyết xuất bản từ cả hơn thập niên trước để dựng thành phim trong một xã hội bị chiến tranh và những ảnh hưởng từ bên ngoài đã và đang thay đổi dữ dội khiến chuyện một thiếu nữ trẻ yêu thầy giáo và là bạn của bố mình chắc không còn là điều lạ lùng?

ĐTĐ: Lúc đó tôi nghĩ rằng cuốn truyện Yêu đã tái bản nhiều lần, ăn khách với nhân vật “Chú Đạt” thì đó đã là lợi thế lôi cuốn người ta tới rạp xem phim rồi. Thứ hai là Nhóm Phim Nghệ Thuật do chị làm Giám đốc, mà chị đang là chủ nhiệm báo Sóng Thần của anh Chu Tử, nếu tôi mang truyện của anh Chu Tử làm phim, mà nhóm Sóng Thần quậy lên thì cũng là một yếu tố để thành công về tài chánh.

TD: Phim Yêu do Nhóm Phim Nghệ Thuật sản xuất, và tôi được cái hân hạnh làm giám đốc sản xuất vì nhật báo Sóng Thần do tôi làm chủ nhiệm hồi ấy cũng có góp phần hùn cũng như hỗ trợ những gì có thể, nhưng thực sự tôi không trực tiếp theo sát với việc thực hiện phim, nên do đấy không có kinh nghiệm sâu đậm để nhớ. Tôi cũng biết là chúng ta hồi ấy có nhiều hoài bão, trong đó có hoài bão làm phim sao cho có nghệ thuật, khác với loại phim thương mại để câu khách. Xin anh cho biết thành phần nhóm thực hiện phim Yêu? Cũng như việc tuyển lựa các diễn viên?

ĐTĐ: Thành viên Nhóm Phim Nghệ thuật gồm 99% chưa làm phim, chưa kinh nghiệm gì về phim. Thế nhưng vì toàn là người trẻ, hăng say, lại quen thân nhau nên mọi chuyện diễn ra rất lớp lang: Nhà văn Trùng Dương làm giám đốc sản xuất. Kỹ sư Hà Quốc Bảo làm tổng quản trị. Tôi làm đạo diễn. Phụ tá đạo diễn là nhà văn Viên Linh và Kiến trúc sư Trần Quang Đôn, Giám đốc hình ảnh là Nguyễn Ngọc Minh, một cameramen nổi danh nhất của Trung tâm Quốc gia Điện ảnh.

Đặc biệt nhất là việc tuyển chọn diễn viên. Hầu như cả nhóm không muốn có những khuôn mặt dù là tên tuổi và ăn khách trong làng điện ảnh. Anh em đòi phải có người mới, và phải thích hợp với nhân vật. Do đó ca sĩ Anh Ngọc được chọn đóng vai chú Đạt, cô Mai Trang, bà Thanh Khiết… và đáng kể là nhà văn Chu Tử.

TD: Anh đã làm việc với Chu Tử, anh có nhận xét gì về ông Chu Tử? Sự đóng góp của ông Chu Tử gồm những gì ngoài tác phẩm Yêu?

ĐTĐ: Lúc đầu khi tôi đề nghị đóng phim thì anh Chu Tử giẫy nẩy lên, từ chối rất quyết liệt. Nhưng thuyết phục mãi thì anh “đành” nhận lời thôi. Tôi nhớ, khi anh Chu Tử viết báo mục Ao Thả Vịt thì hung hăng, coi trời bằng vung. Thế nhưng khi bước vào phim ảnh, anh ấy nhút nhát gì đâu. Nhất cử nhất động anh đều trông chờ xem tôi nói phải làm thế nào. Có lần tôi phải nói với anh : “Nhân vật thầy giáo Thức là do anh dựng lên, coi như đứa con của anh, thì anh cứ việc diễn như anh nghĩ, cần gì phải chờ tôi chỉ dẫn”. Kỷ niệm làm phim với anh Chu Tử là … tội nghiệp cho anh ấy.
TD: Tại sao lại “tội nghiệp”?

ĐTĐ: Tôi thấy rõ là mỗi lần lôi anh ấy ra trước máy quay phim, là anh ấy “mất tinh thần” thấy rõ. Tôi cứ thúc đẩy anh ấy rằng, “Anh đã dựng lên ông giáo Thức, anh cho ông ấy suy nghĩ ra sao, ăn nói ra sao thì bây giờ anh lập lại như thế chứ có gì mà không làm được?” Những cảnh quay với Chu Tử phải làm đi làm lại nhiều lần, tốn phim và tốn thì giờ lắm. Có lần anh ấy quạu với tôi: “Này, Đỗ Tiến Đức, hãy nhớ là chỉ có mình cậu ‘hành’ được thằng này thôi đấy nhé!”

TD: Anh vừa nói Chu Tử đóng với nhà văn Nguyễn Thị Vinh, nhưng tôi nhớ trong phim không có bà Vinh?

ĐTĐ: Thì tại ông Chu Tử đấy. Khi quay cảnh ông giáo Thức (Chu Tử) tới nhà bà Hằng (Nguyễn thị Vinh), hai người tâm sự bên hồ nước. Bà Hằng mặc áo cánh ngắn tay, không mặc nịt ngực, trông bà hấp dẫn vô cùng. Bà Hằng hấp dẫn quá càng khiến ông giáo Thức run rẩy. Tôi bảo ông ngồi sát vào người bà Hằng, ông cứ né. Tôi bảo ông đặt tay lên vai bà, ông không dám… Thế thì còn gì là… tình. Tôi sẵng giọng với ông Chu Tử: “Cái đoạn này trong truyện, anh viết thế nào? Anh nói đi.” Ông Chu Tử cười một cách vô cùng đau khổ. Thế là chúng tôi bàn nhau phải thay diễn viên, hoặc là thay anh Chu Tử hoặc là thay chị Nguyễn thị Vinh. Vì đã thu hình anh Chu Tử nhiều rồi nên chúng tôi quyết định giữ anh Chu Tử. Anh Viên Linh giới thiệu chị Thanh Khiết. Sau đó anh Chu Tử đóng với chị Thanh Khiết thoải mái hơn.

TD: Phim Yêu sau đó thất bại về thu, và Nhóm Phim Nghệ Thuật cũng rã gánh, mỗi cổ đông nếu không mang nợ thì cũng mất sạch vốn. Có một giai thoại tôi nghe, tuy khôi hài nhưng khá tiêu biểu cho sự thất bại của phim Yêu. Một người thân của một người trong nhóm làm phim kể là hôm ấy chị đi xem phim này ở rạp chiếu bóng Hoà Bình ở Đà Lạt, về kể bữa đó ngồi trong rạp chị sợ ma quá. Hỏi: “Ủa, phim Yêu đâu có cảnh nào rùng rợn, ma quái đâu mà nói sợ?” Thì được trả lời là tại trong rạp vắng người xem quá. Chuyện xưa, nói lại cho vui. Theo tôi, nhìn lại, thì thấy việc chọn một tác phẩm ăn khách vào đầu thập niên 1960 vì tính cách “bạo” của nó để dựng cho khán giả đã trở thành “chai đá” vì chiến tranh, xã hội và con người đã đổi thay của đầu thập niên 1970, có vẻ không thích hợp nữa? Ngoài ra, diễn viên phần lớn là người gốc Bắc, nhưng phải chuyển âm bằng giọng Nam, thành ra vừa xa lạ với khán giả người gốc Bắc vì họ gốc Bắc mà nói giọng Nam, lại vừa xa lạ với khán giả gốc Nam vì diễn viên ai cũng biết là người gốc Bắc. Nhận xét của tôi có thể còn nhiều phiến diện. Theo anh Đức thì phim Yêu thất bại vì sao? Anh đã rút tỉa được bài học gì sau đó?

ĐTĐ: Theo tôi thì phim Yêu chỉ thất bại về tiền bạc thôi. Anh em mình đã để lại cho nền điện ảnh Việt Nam thời đó một phim tương đối nghệ thuật. Về lý do tại sao không thu hút khán giả thì theo các nhà phát hành phim và chủ rạp thời đó, họ cho ý kiến là cái dở của phim Yêu là không có dàn tài tử tên tuổi, chẳng hạn sao không để Hùng Cường thay chỗ của ca sĩ Anh Ngọc, Thanh Nga hay Thẩm Thúy Hằng thay chỗ của Mai Trang… Vì thế cho nên sau đó tôi quay cuốn Giỡn Mặt Tử Thần nhà sản xuất đã cho mời toàn những tài tử ăn khách. Tiếc lả cuốn phim không có dịp trình chiếu để xem kết qủa tài chánh thế nào mà nhà sản xuất đã dám bỏ tiền làm phim màu, và trả thù lao cho hàng chục tài tử tên tuổi.

TD: Cái poster hoạ sĩ Đằng Giao trình bầy cho phim Yêu. Cái poster ấy, theo tôi, bố cục rất đẹp và nghệ thuật. Hình như nó được gợi hứng từ cái poster hay một cảnh trong phim Love Is a Many-splendored Thing dựa vào cuốn tiểu thuyết của Han Syuin?

ĐTĐ: Về poster phim Yêu, tôi đã đưa cho Đằng Giao tấm ảnh chụp cảnh Thanh Lan lúc đi lên đồi tới điểm hẹn với người yêu do định mệnh để bạn ta tiện trình bầy. Vì Nhóm Phim Nghệ Thuật hết tiền nên cái poster chỉ in có một màu nên chìm (cũng là một nguyên nhân gây thất thu đấy).

Bìa của cuốn truyện phim và phân cảnh Yêu
dựa vào bích chương cho phim Yêu do hoạ sĩ Đằng Giao trình bầy.

(Ảnh Trùng Dương)

TD: Biết anh đã nhiều thập niên, một điều tôi ghi nhận ở anh và cũng là điều tôi rất trân quý, đó là tính lạc quan, sự hồn nhiên, kể cả khi phải đương đầu với nghịch cảnh. Một giai thoại tôi nhớ mãi về anh, đó là vào một buổi họp mặt vui với một số bạn văn nghệ khác ở Sàigon trước 1975, anh kể lần đầu anh bị thất tình, anh ra đứng dưới cây trứng cá, hình như vừa khóc vừa… bứt trái trứng cá bỏ vào miệng nhai. Anh vừa kể vừa cười hồn nhiên. Anh hẳn phải có một quan niệm nhân sinh đặc biệt thú vị. Anh có thể chia sẻ quan niệm đó lồng vào một số việc anh đã làm trong đời?

ĐTĐ: Chà! Tôi có biết tôi ra sao đâu. Xin chị trả lời hộ tôi đi.



Chú thích:
(*) Đạo diễn Đỗ Tiến Đức Giới thiệu Ảnh Trường Kịch Giới của Hồ Trường An, http://noigio.blogspot.com/2012/03/d-o-tien-uc-gioi-thieu-anh-truong-kich.html

Đọc thêm: 
Trong lúc tìm tài liệu đọc để soạn bản câu hỏi cho cuộc trao đổi trên với đạo diễn Đỗ Tiến Đức, tôi lên Internet và tìm thấy tài liệu này, tựa là “Điện ảnh Việt Nam”, tại Wikipedia.org. Đọc qua, mặc dù ngay đầu trang có hình mang lá cờ của Cộng sản Việt Nam có thể làm nản một số người, song tôi thấy bài viết tương đối khách quan, có cả phần nói tới điện ảnh của Miền Nam thay vì “tảng lờ”, coi như không hiện hữu, như thường phản ảnh qua những bài nghiên cứu nặng tính chỉ đạo phát xuất từ Việt Nam. Ngoài ra, bài viết trên Wikipedia cũng cung cấp nhiều chi tiết mà ít người biết tới về điện ảnh Việt Nam thời phôi thai. Như những bài khác của Wikipedia, phần nguồn tài liệu (Reference) là một mục khá hữu ích và quan trọng. Vậy xin giới thiệu đến độc giả nào muốn tìm hiểu thêm về điện ảnh Việt Nam nói chung. Xin vào Google hay bất cứ search engine nào, dùng keyword “Điện ảnh Việt Nam”.



[TD, 2013-09]