Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Hiệu Minh - Thư gửi Hillary Clinton nhân chuyện lương bạc tỷ ở VN


Hiệu Minh


Phụ nữ làm Tổng thống. Ảnh: HM

Hôm qua (28-8-2013), kỷ niệm 50 năm “I Have a Dream” của MLK, tôi ngó ra National Mall một lúc. Chỗ cửa kiểm tra an ninh phía War II Wall có dòng chữ to tướng Ms. President 1872-2016. Có lẽ người ta muốn bầu chị Hillary Clinton vào Nhà Trắng năm 2016. Vì thế, tôi viết thư này, mong chị đừng ứng cử chức Tổng thống Mỹ nữa.

Chả là mấy hôm nay, dân nước tôi đang đồn ầm chuyện lương bổng của các quan ở Sài Gòn, lên mấy tỷ một năm, ai cũng tròn mắt. Hóa ra lương bên VN hơn cả lương Mỹ, dù giá cả bên Tây cao gấp nhiều lần giá ta.
Vụ tung bí mật lương bổng này cũng là đòn khá hiểm để các quan trị nhau. Nhìn vào thu nhập chính thức và số của cải, nhà cửa, xe hơi, kể cả nhà thờ họ xây mấy chục tỷ, con cái du học, tài khoản bí mật…có thể đoán ra tiền của từ đâu mà có. Đã từ lâu lắm rồi, người ta kêu gọi công khai tài sản của cán bộ ăn lương bằng thuế của nhân dân nhưng chẳng đi đến đâu.

Chị Hillary chắc còn nhớ thời làm Ngoại trưởng Mỹ. Lương của chị khoảng 180 ngàn đô la năm, tương đương 3,6 tỷ VNĐ, đóng thuế khoảng 40%. Phần lấy về nhà cho anh Bill và con gái Chelsea khoảng 2,1 tỷ VNĐ. So với lương của ông giám đốc Công ty thoát nước đô thị ở Sài Gòn là 2,6 tỷ VNĐ, ông chiếu sáng công cộng là 2,2 tỷ VNĐ, kế toán trưởng với lương 1,6 tỷ, thì Tổng Cua khuyên chị Hillary nên xin việc bên Việt Nam.

Chị hay đi chợ Safeway nên biết, một mớ thì là bên Mỹ giá 1,2$, đủ nấu một bát canh cá, bên xứ Việt với cùng số tiền có thể mua được một rổ, ăn cả chục cân cá basa.  Chủ Nhà Trắng mệt lắm. Làm tổng thống không xong bị dân đuổi đó.

Chị sang VN làm Giám đốc Thoát nước cho Hà Nội hay Sài Gòn, tha hồ mà sướng. Nước thoát hay không thoát, chả quan trọng. Mưa lụt khắp nơi, chị cứ mặc mẹ cho họ bơi. Làm bên ngành điện cứ tăng giá thoải mái,  bố thằng dân nào biểu tình. Ai ra đường  hò hét, chị cứ kêu công an đến bắt, liệt họ vào loại phần tử chống phá nhà nước, chống đảng, chống nhân dân. Phải im lặng để cho chị ăn thoải mái đã.

Lương cao chị cứ hưởng. Nhiệm vụ này do đảng phân công, cứ làm cho đến hết đời nha. Chả đâu sướng bằng làm cán bộ ở Việt Nam, nhiệm vụ không thành, đôi khi còn phá hoại, nhưng chẳng ai bị đuổi việc. Đó là nguyên tắc tổ chức. Có ông Thủ tướng cả đời chẳng kỷ luật ai.

Chỉ hơi bất tiện, khi sang VN chị Hillary phải học rất nhiều về đạo đức của người Cộng sản. Nước tôi bị ảnh hưởng của Khổng giáo rất nhiều. Cụ Khổng từng dạy trò “Lập đạo của trời nói âm và dương, lập đạo của đất nói nhu và cương, lập đạo của người nói nhân và nghĩa.” Tất cả các tính khác của con người đều do nhân và nghĩa mà nên, cũng như vạn vật, vạn việc trên trời dưới đất do âm dương, nhu cương tạo tạo thành vậy, con người bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc, chính vì lẽ đó con người muốn được coi là “nhân” thì phải có nhân, nghĩa phải có lương tâm.”

Cán bộ đều thấm nhuần, nhất là cán bộ cao cấp. Có một thời nước tôi còn được phong là lương tâm thời đại, cả thế giới muốn làm người VN. Thế nhưng vốn kiến thức về đạo Khổng bị mai một dần với thời gian. Nhiều người thấy làm việc có lương tâm thì khó sống nên mới tách bạch hai chữ này thành hai nghĩa: lương là lương bổng, tâm là đạo đức, là có tâm.

Lương thấp và không hợp lý nên cần phải ăn cắp để bù vào, kéo theo tâm thấp. Bé ăn cắp kiểu bé, to ăn cắp kiểu to, người không ăn cắp được gì ăn cắp thời gian. Vì quen mùi rồi, lẽ ra lương cao rồi thì tâm cũng cao theo số tiền, nhưng thật đáng tiếc, lòng tham con người là vô cùng. Vì thế lương cao nhưng tâm vẫn thấp, có khi còn thấp lúc hơn cả lúc lương hẻo. Mới có chuyện Giám đốc ngành cấp thoát nước để thành phố lụt lội thường xuyên sau mưa mà lương vẫn cao hơn cả Ngoại trưởng Mỹ.

Chị nên khuyên chính phủ VN vay vốn ODA để trả lương thật cao cho cán bộ. Lương cao, nhưng pháp luật chặt chẽ như Singapore, báo chí có quyền được lên tiếng, bố bảo anh nào dám ăn cắp. Nếu cứ để thế này, đạo đức sẽ bị băng hoại, đất nước không thể phát triển, mà vốn vay và tiền thuế dân đóng vẫn bị xà xẻo bằng mọi cách. Tệ nạn mua quan bán chức kéo theo tham nhũng. Lương bạc tỷ như mấy ông cán bộ ở Sài Gòn chẳng làm ai ngạc nhiên. Nếu được phép tìm ra của chìm của các quan thì còn khối chuyện ối giời ôi.

Mong chị Hillary nghĩ thật kỹ trước khi tranh chức Tổng thống Mỹ hay sang Việt Nam làm cán bộ nguồn. Nếu được chọn vào chức to, công việc không trôi chảy, anh Bill và cháu Chelsea túng thiếu, chị cứ tách LƯƠNG và TÂM ra làm hai, thế là ổn ngay.

Kính chúc chị thành công.

HM. Cua Times. 29-8-2013


Phạm Nguyên Trường - Sự vặn vẹo của công lí – Ngải Vị Vị nói về phiên tòa thế kỉ ở Trung Quốc



Phạm Nguyên Trường dịch

Phiên tòa xử Bạc Hi Lai vừa kết thúc sẽ được nhớ đến như cột mốc chính trị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều năm sau khi Mao Trạch Đông mất vào năm 1976, những phiên tòa có tính trình diễn là chuyện bình thường. Do vai trò của họ trong Cách mạng Văn hóa, “bè lũ bốn tên” bị quy kết và kết án đơn giản là “hoạt động chống Đảng”. Nhưng bây giờ, một vụ án chính trị phải xem xét nhiều yếu tố hơn.


Khi Trung Quốc gánh vác vai trò quan trọng hơn trong các hoạt động quốc tế và quảng bá về sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của mình trong suốt 30 năm qua, giới lãnh đạo đất nước này tìm cách tạo cho mình uy tín trong việc trị quốc theo tinh thần pháp trị. Với phiên tòa xử Bạc Hi Lai như một phép thử, ban lãnh đạo mới đã nỗ lực giữ ảo tưởng đó và để có thể xuất hiện một cách cởi mở và tự tin trước nhân dân nước mình. Nhưng cuối cùng, cố gắng của họ đã thất bại.

Các nhà lãnh đạo Đảng hẳn phải coi trường hợp của Bạc là một khối u phát triển ngay cạnh động mạch cảnh – chữa trị thì quá nguy hiểm mà để đó thì nó lại lớn quá nhanh. Tất cả những người dính líu tới vụ này đều là thành viên của nhóm tinh hoa, cả trên phương diện xã hội lẫn chính trị, bắt đầu từ cựu Ủy viên Bộ Chính trị Bạc; vợ ông ta, bà Cốc Khai Lai; Giám đốc Công an Trùng Khánh, người có thể là nhân tình của bà Cốc; một doanh nhân người Anh đã bị hạ sát; các doanh nhân hàng đầu của Trung Quốc và nước ngoài; thậm chí ngay cả cậu con trai của Bạc, có bằng tốt nghiệp Harvard’s Kennedy School.

Một vở kịch bị xuyên tạc

Nhằm trình diễn sức mạnh và chứng tỏ Đảng đứng trên những âm mưu nhỏ nhen, chính quyền quyết định đưa ra một bản tường thuật “trực tiếp” – nhưng rõ ràng là bị kiểm duyệt – về phiên tòa. Bản tường thuật này chắc chắn đã cung cấp cho chúng ta một món giải trí khá thú vị; không có kịch bản định trước nào có thể soạn cho một vở kịch bị xuyên tạc thú vị đến thế.

Nhưng khi đưa ra một bản tường thuật đã bị kiểm duyệt, các quan chức lại tạo ra nhiều câu hỏi hơn lời đáp. Còn công chúng thì biết rằng họ không được thấy toàn bộ bức tranh, họ chỉ có thể suy đoán về những phần chính của câu chuyện bị che giấu. Thậm chí phản ứng của họ cũng bị kiểm duyệt: trong vòng một ngày, Tòa án Tế Nam nhận được hơn 4.000 bình luận trên mạng Weibo – một phiên bản Twitter của Trung Quốc – nhưng chỉ có 22 bình luận được phép hiển thị.

Kiểm duyệt vẫn là phản ứng đương nhiên của chế độ trước mọi bùng phát của dư luận xã hội. Thí dụ như vụ này, đấy là khi cần minh bạch thì các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể thực sự cởi mở, hoặc làm sao để được dân chúng hiểu và có cảm tình với mình. Không những thế, chính quyền tìm cách giữ bản tường thuật phiên tòa trong giới hạn sao cho không làm lung lay nền tảng của Đảng.

Có lẽ chế độ nghĩ rằng có thể tránh những câu hỏi khó chịu bằng cách tập trung vào những cáo buộc có tính hình sự đối với Bạc, như thể đây là một phiên tòa bình thường, được tổ chức theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng đây là một trò hề mà không một người Trung Quốc nào tin.

Do quá chú tâm nhằm duy trì ảo tưởng, các công tố viên đã có những sai lầm rõ ràng về mặt thủ tục, họ sử dụng những bằng chứng gian lận và đưa ra tòa các nhân chứng rõ ràng đã bị ép phải làm chứng. Được tiến hành theo cách tự chuốc lấy thất bại như thế, cả mục đích cũng như kết quả cuối cùng của phiên toà đều trở thành lố bịch. Người dân Trung Quốc sẽ không bao giờ tin rằng Bạc được xử một cách công bằng, vì họ biết rằng người ta chỉ đưa ra một phần sự thật mà thôi.

Có thể Bạc quả thật mắc tội tham nhũng và lạm dụng quyền lực, như tòa tin chắc. Nhưng một phần công lí không phải là công lí. Chỉ có thể có công lí hoặc chẳng có tí công lí nào. Ngay cả một trò chơi đơn giản nhất cũng cần những quy định rõ ràng. Nếu không, cuộc chơi chỉ có thể được coi là “điên rồ”, như Bạc nói về lời khai trên băng video của vợ mình.

Nếu chế độ đã không thể truyền tải được thông điệp như dự kiến về phiên tỏa ​xử Bạc thì thông điệp nào đã được truyền đi? Các cán bộ phải biết rằng hối lộ sẽ bị trừng phạt, dù chức vụ có cao đến mức nào. Tuy nhiên, phiên tòa chẳng những không khuyến khích đảng viên phải trung thực hoặc chăm chỉ mà lại dạy cho họ rằng trước hết phải làm tất cả để có thể đứng chung hàng ngũ với ban lãnh đạo hiện nay. Hiến pháp và pháp luật, thậm chí những đánh giá về mặt đạo đức, khó có chỗ trong những tính toán của họ.

Không an toàn

Kết quả là tất cả các nhà lãnh đạo Trung Quốc, từ cấp làng xã đến Bộ Chính trị đều cảm thấy bất an. Với luật pháp tùy tiện như vậy, Đảng đang nuôi dưỡng não trạng ngầm phá hoại việc đưa ra những quyết định có tính xây dựng và khả năng thay đổi. Chính khách ở Trung Quốc có địa vị đáng buồn.

Người dân bình thường cũng không khá hơn. Bạc xuất thân từ một gia đình có nguồn gốc cách mạng lâu đời và ngay trước khi bị bắt, ông ta là một ngôi sao sáng trên bầu trời chính trị Trung Quốc – một trong những nhân vật ủng hộ Mao nổi tiếng và hoạt động khá tích cực, gọi là “Thế hệ đỏ thứ hai.” Ông ta là người đại diện cho toàn bộ tư duy của ban lãnh đạo hiện nay; còn phong cách, kinh nghiệm, năng lượng, niềm đam mê và lập trường của ông ta lại là những nhân tố quyết định giá trị cốt lõi của “Giấc mơ Trung Hoa”. Ngay cả một người như ông ta mà cũng bị tước mọi chức vụ như thế thì công dân bình thường còn hi vọng gì? Khi các giá trị như quyền con người, tự do ngôn luận và công bằng trong lĩnh vực tư pháp đều phải hi sinh vì quyền lợi của nhóm chóp bu nắm quyền thì chẳng ai có thể an toàn.

Nhận thức đó giúp giải thích vì sao vụ bắt giữ tôi năm 2011 thu được sự chú ý như thế. Tôi bị bắt và bị tra hỏi vì tội lật đổ chính quyền, nhưng khi tôi được thả thì chính quyền không kết án tôi vì bất cứ tội hình sự nào. Không những thế, họ còn kết án công ty nơi tôi làm việc là phạm tội kinh tế. Vì các quan chức không bao giờ có ý định điều tra công ty này về những tội như thế, họ đã phạm mấy sai lầm và tạo ra một vụ án vô nghĩa.

Họ không lường trước sự quan tâm của dư luận khi tôi đưa vụ này ra công khai. Rất nhiều người đã nhận ra rằng họ cũng là những người bị chính quyền đối xử một cách tùy tiện như thế. (Chế độ cũng không ngờ rằng tôi sẽ kiện họ.) Cuối cùng, họ quyết định không theo đuổi vụ này nữa và im lặng bỏ qua toàn bộ trò hề này.
Mất niềm tin

Hiện nay người Trung Quốc đã có hiểu biết nhiều hơn và chưa bao giờ họ mất niềm tin vào chính quyền đến như thế. Đáng lẽ phải thừa nhận và giải quyết thực trạng đó thì chế độ lại không chịu hợp tác với người dân của mình. Trong tài liệu gọi là “Văn thư số 9”, bị rò rỉ ra ngoài trong thời gian vừa qua, các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản đã liệt kê “7 mối đe dọa”, nói rõ rằng “Chế độ dân chủ phương Tây” và “các giá trị phổ quát” là những mối nguy hiểm đối với xã hội.

Vì chính quyền Trung Quốc khước từ bầu cử thật sự, nên xã hội không bao giờ có cơ hội thể hiện ý kiến của mình về ban lãnh đạo. Nền tảng cho bất kì cuộc giao tiếp, thảo luận hay tranh luận – những đòi hỏi bắt buộc cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội hiện đại – chưa bao giờ được thiết lập. Cả về đạo đức lẫn tư tưởng, Đảng Cộng sản đều quá yếu để đối đầu với công luận.

Xã hội Trung Quốc bị cái yếu kém đó làm cho biến dạng. Thật thú vị là ngay lập tức, người Trung Quốc đã biến cử chỉ của Bạc trong một bức hình chụp tại phòng xử án, với ba ngón tay như thể một lời chào, thành một biểu tượng cảm xúc. Trong những xã hội mà bạn không thể nói lên sự thật thì biểu tượng, ám chỉ và so sánh tràn đầy. Điều đó chỉ xảy ra dưới chế độ độc tài và ngôn ngữ cũng như văn hóa Trung Hoa từ xưa đến nay đều như vậy.

Người Trung Quốc đánh giá cao những hòn đá nhân tạo và những cây bonsai có hình thù vặn vẹo, coi chúng như những ẩn dụ về nền chính trị Trung Quốc. Khi điều kiện sống khắc nghiệt tước đoạt không gian phát triển tự nhiên thì cuộc đấu tranh giành quyền sống sẽ tạo ra những hình thức cong queo, vặn vẹo như thế.

Trong những năm sắp tới, có khả năng là chính quyền cộng sản rốt cuộc sẽ phải đối mặt với những câu hỏi thực sự về tính chính danh của mình và phải nhận ra rằng họ chỉ có thể cầm quyền dựa trên hiến pháp và pháp trị chân chính. Nếu không, nếu tiếp tục loại bỏ vai trò của công luận khỏi quá trình đưa ra quyết định và hi vọng đánh lạc hướng người Trung Quốc bằng những vở kịch như kiểu vụ xử Bạc thì chế độ chỉ tự lao nhanh đến chỗ cáo chung. Phiên tòa Bạc Hi Lai có thể sớm kết thúc, nhưng chế độ vẫn tiếp tục đứng trước vành móng ngựa.

Nguồn: “Ai Weiwei on China’s Trial of the Century”, Bloomberg, 27-8-2013. Nhan đề bổ sung của pro&contra

Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Nguyên Trường & pro&contra


Alan Phan - Khoảng Cách Trí Tuệ


Alan Phan

Khi bàn về sự ổn định cần thiết cho xã hội Việt Nam, nhiều chuyên gia cho rằng rủi ro nguy hiểm nhất đến từ khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng sâu rộng. Một ước đoán là khoảng 2-3% dân số đang nắm ít nhất là 24% tài sản tư nhân. Thu nhập của 2 triệu người này trung bình khoảng 6,300 USD một năm một người; trong khi tổng số dân còn lại chỉ có thu nhập khoảng 1,010 USD. (Tất cả các con số này là một ước lượng năm 2011 từ luận án của một nghiên cứu sinh DBA nhờ tôi bảo trợ. Theo tôi, cách định lượng dựa trên vài số liệu thống kê không đạt chuẩn; nhưng tôi nêu lên đây để chúng ta có một khái niệm).


Khoảng cách giàu nghèo này có thể tạo những bất ổn xã hội đáng kể qua nạn cướp giật, lừa đảo, tranh chấp lao động…nhưng cá nhân tôi cho rằng bàn tay sắt của hệ thống an ninh khá hữu hiệu trong việc đối phó.

Vấn đề không ai nói đến

Trong khi đó,  tôi suy nghĩ nhiều hơn đến khoảng cách về trí tuệ của 2 thành phần dân số. Tôi không thể minh định là bao nhiêu phần trăm dân số đạt chuẩn quốc tế cao nhất về giáo dục và văn hoá; và bao nhiêu phần trăm thực sự là “ngu hơn lợn”. Nhưng tôi chắc chắn là mọi người có thể nhận rõ sự khác biệt này khi tiếp cận với bạn bè gia đình, cũng như tại những hội họp của đám đông hay qua những cách thức xử sự tại nhiều hoàn cảnh, công và tư. Sự cách biệt này có thể tạo những hệ quả sau:
- Dựa vào kiến thức thượng đẳng của mình, thành phần ưu tú sẽ lợi dụng sự ngu dốt của đám đông mà áp đặt những thủ thuật lừa dối hòng đem lại cho phe nhóm mình những quyền lực và lợi ích “gần như phi pháp”.
- Sự tụt hậu của dân trí trên bình diện rộng sẽ là rào cản lớn nhất cho mọi phát triển văn minh của xã hội trên tiến trình cạnh tranh với toàn cầu.
- Dân sẽ không thể giàu; nên nước không thể mạnh. Sự lệ thuộc kinh tế vào công nghiệp gia công, vào nông nghiệp lỗi thời và vào dịch vụ “bạc cắc” là một tương lai đáng buồn trong vài thập niên tới cho đám con Rồng cháu Tiên.

Vài góc nhìn khi tìm hiểu

Gần đây, tôi có hai trải nghiệm vô cùng khác biệt về chủ đề trên.

Tôi được phân công phỏng vấn khoảng 100 sinh viên cho học bổng MBA của đại học Bristol trong 3 tháng qua. Dù đây là phân khúc sinh viên ở cấp cao của nền giáo dục, tôi vẫn ngạc nhiên và thú vị với kỹ năng và kiến thức của các thí sinh. Ngoài việc nói và viết thông thạo tiếng Anh, đại đa số sinh viên đều có sự đam mê trong công việc và sự học; cũng như ý chí để trực diện các thử thách trong mục tiêu của sự nghiệp.

Dù có hay không có học bổng của Bristol, tôi tin là 95% sẽ thành công trong lựa chọn nghề nghiệp và sẽ thăng hoa toàn diện trong 10 hay 20 năm tới. Đây là niềm tự hào chính đáng của đất nước này.

Trong một thái cực khác, nỗi thất vọng của tôi cũng sâu sắc với một trải nghiệm đáng xấu hổ.

Tôi có một người cháu, cũng là BCA, đang dậy môn luật kinh tế cho một lớp học năm thứ ba tại một trường đại học công lập. Tôi nhờ cô đem vào lớp một khảo sát nhỏ gồm 10 câu hỏi đơn giản để đánh giá kiến thức ngoài sách vở của các em sinh viên.

Các em có 20 phút để trả lời bài khảo sát sau đây:
1. Em có nói và viết tiếng Anh hay một ngoại ngữ nào lưu loát không?
2. Tại sao Việt  Nam muốn trở thành một thành viên của TPP?
3. Ông Kim Jong Un là ai?
4. Đường lưỡi bò Trung Quốc là gì?
5. Liên Âu đang gặp khủng hoảng gì?
6. Phương Uyên là ai?
7. GDP của Việt Nam năm 2012 đạt bao nhiêu tỷ?
8. Thu nhập mỗi đầu người của Singapore là bao nhiêu?
9. Cơ chế phân bổ tam quyền và đa đảng đa nguyên là gì?
10. Ông Nguyễn Văn Bình là ai?

Trong tổng số 32 sinh viên của lớp: 1 trả lời trúng 2 câu, 3 trả lời trúng 1 câu và 28 bạn trả lời không đúng câu nào.

Bạn duy nhất trả lời đúng 2 câu là câu 1: biết nói và viết tiếng Anh lưu loát và câu 6: GDP Viêt Nam khoảng 100 tỷ USD.
Những câu trả lời “vui” nhất là:
- Đường lưỡi bò TQ là món lưỡi bò ngâm đường khoái khẩu người TQ thích;
- GDP Việt Nam đạt 1 ngàn tỷ đồng;
- Kim Jong Un là người mẫu nổi tiếng của Hàn Quốc vừa tự tử;
- Là thành viên của TPP, Việt Nam được phép dự giải bóng đá của Anh;
-  Liên Âu là quốc gia bên Phi đang gặp nạn đói.
- 3 câu trả lời khác nhau về ông Nguyễn Văn Bình: (1) Chủ Tịch Nước (2) Đại gia ngân hàng vừa bị bắt và (3) linh mục xứ đạo Hải Phòng.

Tôi hơi bị sốc vì đây không phải là kiến thức của những công nhân dệt may tại các ổ chuột khu công nghiệp hay nông dân vùng sâu vùng xa; mà là những thành phần được coi như là tương lai của trí thức Việt Nam.

Dĩ nhiên tôi không cần phải bàn ra tán vào.  Nhưng chúng ta bây giờ có thể hiểu tại sao từ vi DCS VN vẫn rất tốt.

Alan Phan

P.S. Tôi đã nói nhiều lần trong các buổi diễn thuyết “nghèo không phải là một cái tội; nghèo là một hoàn cảnh có thể thay đổi”. Tuy nhiên, tội lớn nhất của một con người là ngu dốt. Một người không bao giờ đọc là một người mù chữ dưới bất cứ lăng kính nào.


Nguyễn Văn Tuấn - Hồi kí Nguyễn Hiến Lê


Nguyễn Văn Tuấn

Hôm nay, đọc lại hồi kí của cụ NHL thấy cụ viết nhiều điều vẫn còn tính thời sự. Xin trích vài đoạn bị cắt khỏi bản in ở VN nhưng in đầy đủ bản trên mạng và xuất bản bên Mĩ. Ông viết về tình trạng y tế, tư pháp, xã hội, kì thị vùng miền, và đạo đức xuống cấp sau 1975. Một số sự thật này chắc còn xa lạ với các bạn trẻ, nhưng đọc để "ôn cố tri tân" thì cũng có ích. 

Nguyễn Hiến Lê 

"Y tế 

Dân trong ấp, xã bị bệnh thì lại họ (nhân viên y tế nông thôn) trước, họ không trị được thì đưa ngay lên quận; quận có bác sĩ đa khoa, trị không được thì đưa ra tỉnh; tỉnh có bác sĩ chuyên khoa, đủ dụng cụ, đủ thuốc… Lần lần nhân viên y tế nông thôn vừa làm việc vừa học thêm, có thể lãnh trách nhiệm quan trọng hơn, đưa lên giúp việc ở quận. Chính sách đó rất họp lí và chính quyền mình cũng đã áp dụng nó. Đó là một điểm tấn bộ. 

Nhưng vì chiến tranh, nhân viên y tế các cấp của mình đa số ít được học, nên chúng ta thấy những y sĩ (y sĩ Bắc có quyền ra toa, nhưng kém bác sĩ một bực), học chỉ tới lớp năm (hết cấp I), chỉ biết dăm chục tên thuốc, không biết đo huyết áp, không biết thế nào là đau mắt hột… chỉ đáng làm một nhân viên y tế nông thôn thôi. Còn bác sĩ được đào tạo ở Bắc thì xét chung, sự hiểu biết cũng kém xa bác sĩ đào tạo ở Nam… Nhân viên y tế nông thôn cũng thiếu, tinh thần trách nhiệm rất thấp: một huyện nọ người ta tiêm thuốc ngừa dịch tả cho ba người lớn và chín trẻ em thì tám trẻ chết. 

Tệ nhất là nạn thiếu thuốc, thiếu cả thuốc đỏ, thuốc tím, do đó sinh ra nạn ăn cắp thuốc, ra toa cho người không có bệnh để họ bán thuốc chợ đen. 

Cũng may mà có hằng trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gửi thuốc về giúp thân nhân, nếu không sức khoẻ của dân sa sút không biết tới đâu. 

Tệ nhất là nạn thiếu vệ sinh… từ cơ quan tới đường sá, tư gia, đâu đâu cũng dơ dáy… Nhiều cơ quan nuôi gà, heo ngay trong phòng của họ, và từ trên lầu thượng họ trút nươc dơ xuống đường. Phòng bệnh nhân trong các bệnh viện hôi hám không chịu nổi; phải bịt mũi khi đi tới gần cầu tiêu… người ta phóng uế đầy đường. 

Tư pháp 

Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác, đạp xích lô… Đó là chuyện 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên, mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ không làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường. 

Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị… Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó… Khi phường có toà án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để toà xử. Một “ông toà” là học trò cũ của một bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười, đáp: Cháu đặt ra luật để xử - Thực vậy sao? - Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu? 

Thất bại trong hoà bình 

Thất bại lớn nhất, theo tôi là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hoà bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối năm 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc… 

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “nguỵ” hết, truỵ lạc, bị nhiễm độc nặng của Mĩ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến là dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi. Họ chỉ nhìn bề ngoài… Bọn thanh niên hư hỏng ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn. 

Người Bắc coi người Nam là nguỵ, đối xử người Nam như những thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là nguỵ thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”. Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ Chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hoá, kĩ thuật - điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là nguỵ nữa, vì nguỵ có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú… Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…” 

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết…Chính vì thiếu đoàn kết nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và miền Bắc có câu này: nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế. 

Xã hội sa đoạ 

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng, cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng… Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bên vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đoạ thêm chứ để chúng mau sụp đổ…” 

Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi… Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn. 

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hoá ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả. 

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa… 

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn. 

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hoá ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia… Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó… 

Mình theo cả những lầm lẫn của người 

So sánh những nhận xét của tôi ở trên với những điều tôi đã được đọc trong mươi cuốn về đời sống ở Nga Sô, Trung cộng, tôi thấy chính sách của mình y hệt như chính sách của hai nước đàn anh đó, những lầm lẫn của mình chính là những lầm lẫn của họ. 

Năm 1947, sau 30 năm cách mạng dân Nga cũng bị nhồi sọ như dân mình, xã hội cũng có những sự bất công… cũng có nạn bè phái như mình; cũng có lệ muốn thưởng một cán bộ thì cho thêm một số tiền bỏ vào bao thư riêng; các ông lớn của họ cũng cách biệt quần chúng như ở nước mình; những kẻ gian trá cũng có thể lén lút làm mọi cái xấu xa, miễn là đừng chống chính quyền; người Nga nào cũng có hai mặt, ra ngoài thì khác như mình. 

Họ cũng trọng hồng hơn chuyên, cũng thay đổi chủ trương, chương trình liền liền, thợ họ cũng không đủ ăn, công việc gì cũng không chạy; cán bộ của họ cũng sợ trách nhiệm như cán bộ mình; chính sách cải tạo còn tàn nhẫn hơn chính sách của mình; sự tổ chức bầu cử y như mình, v.v… 

Trung Hoa cũng có thời “trăm hoa đua nở” rồi mấy tháng sau hoa lại bị cấm nở; trăm hoa của mình cũng đua nở sau Trung Hoa ít tháng, và cũng bị cấm nở sau họ ít tháng. Năm 1966 mình khôn hơn Trung Hoa là không làm cách mạng văn hoá, nhưng năm 1978 mình cũng đã chuẩn bị kĩ để phát động một cuộc cách mạng văn hoá như họ, tính đốt hết các sách báo ở miền Nam… cách thức phụ cấp cho sinh viên, đối đãi với trí thức, chính sách học tập chính trị, hội họp ở phường, ấp, dăng, dán biểu ngữ ở khắp nơi, phát thanh bằng loa oang oang mà không ai buồn nghe…; cả lối giáo dục trẻ em, bổ túc văn hoá, công trình khai quật cổ tích chung quanh đền Hùng… mình đều theo sát gót Mao Trạch Đông. 

Tôi có cảm tưởng rằng mình chép đúng đường lối của hai nước đàn anh, không xét hoàn cảnh, dân tình, phong tục của mình có khác họ hay không. Tôi chưa thấy mình có một sáng kiến gì cả, ngay cả những danh từ như biên chế, phụ đạo, tham quan, tranh thủ… mình cũng chép nguyên của Trung Hoa."


Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Ngô Nguyên Dũng - Một chặng đường văn chương

Ngô Nguyên Dũng


Niên khoá 1968-1969, đậu xong Tú tài một, tôi được vào trung học Pétrus Ký học lớp đệ nhất. Giảng dạy môn triết học là một giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp đại học sư phạm Ðà lạt, khoa triết, kiêm văn sĩ đang được nhiều độc giả trẻ ngưỡng mộ: Nguyễn Xuân Hoàng.



Tôi chú ý đặc biệt đến ông, vì từ năm học lớp đệ ngũ tôi đã bắt đầu tập tễnh viết văn, làm thơ thiếu nhi gởi đăng trang Búp-bê do nhà văn Duyên Anh phụ trách trong nhật báo Sống. Giữa thập niên 1960, tôi khởi sự dọ dẫm làm quen với sách báo văn học ảnh hưởng đậm nét trường phái văn chương tây phương đang được giới độc giả trẻ tuổi ở Sài gòn ưa chuộng.

Bữa nọ, chị tôi được bạn cho mượn quyển "Vòng Tay Học Trò" của Nguyễn thị Hoàng. Tôi xin đọc. Chị nói không được, bảo tôi chưa tới tuổi. Tôi nài nỉ. Cuối cùng chị xiêu lòng.

Cảm xúc tôi, khi mở đọc những trang sách đầu tiên, lạ lắm. Tôi thấy mình tuồn tuột rơi theo những trang chữ diễm lệ óng ả của tác giả diễn tả tâm tư cô giáo Trâm vướng víu khắc khoải vào mối tình cấm kỵ với cậu học trò tên Minh. Không khí xứ lạnh Ðà lạt ấy, thứ bút pháp bóng bẩy dục tính ấy mới lạ, rất khác, hoàn toàn khác với văn phong của các tác giả trong những cột tiểu thuyết tình cảm xã hội đăng nhiều kỳ trong nhật báo. Cũng không giống những "Ðiệu Ru Nước Mắt" hay "Trần thị Diễm Châu" của Duyên Anh, là vài quyển tiểu thuyết người lớn đầu tiên chính tôi bỏ tiền túi mua về đọc.

Bắt đầu từ đó tôi tìm đọc những tác phẩm kén độc giả như "Con Sâu" của Dương Nghiễm Mậu, "Bếp Lửa" của Thanh Tâm Tuyền, "Sống Chỉ Một Lần" của Mai Thảo, "Sau Giờ Ra Chơi" của Nguyễn Ðình Toàn, "Khung Rêu" của Nguyễn thị Thuỵ Vũ, …

Cho tới lúc đọc được văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, một lần nữa, tôi khám phá thêm một khuynh hướng sáng tác khác: tính đẹp của tư tưởng bi quan ẩn trong chủ nghĩa hiện sinh. Ở tuổi mười tám, tôi tìm đọc văn ông, ngoài vai trò độc giả, còn với tâm trạng tò mò của một đứa học trò, hy vọng nhặt ra những mảnh vụn tâm tư ẩn náu giữa những dòng chữ về con người và đời sống của người thầy mà tôi mến mộ. Tôi tìm thấy không nhiều, mà vặt vãnh như những mẩu giấy ráp một bức ảnh lỗ chỗ nhiều mảng trống.

Với cương vị giảng viên môn triết, Nguyễn Xuân Hoàng là một người thầy linh động hoạt bát. Ông dẫn dắt tuổi trẻ chúng tôi bước vào ngôi nhà triết học tây phương với những luận lý, tâm lý và đạo đức học cổ điển. Thầy Hoàng là người trẻ nhất, dáng vẻ hào hoa và diện mạo điển trai nhất trong ban giáo viên lớp mười hai của chúng tôi.

Là văn sĩ, Nguyễn Xuân Hoàng đã khai mở trong tâm thức tôi những cánh cửa bước vào cõi chữ nghĩa huyễn mộng. Cuối năm 1969, tôi rời nước du học. Bạn tôi biết tôi để ý tới văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, cho nên mỗi khi có tác phẩm mới ấn hành của ông ở quê nhà, đều gởi cho tôi. Từ đó, những "Ý Nghĩ Trên Cỏ", "Khu Rừng Hực Lửa", "Kẻ Tà Ðạo", "Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Ðâu" rắc mầm trong tâm tư tôi những chồi cây.

Trong "Khu Rừng Hực Lửa" tôi đã gạch dưới vô số câu và những chương tâm đắc. Tôi đã xúc động dào dạt sau khi đọc xong đoản văn "Cha và Anh", mà tôi nhớ được in trong tập truyện "Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Ðâu", ấn bản in ở Sài gòn khi trước. Ngoại trừ "Kẻ Tà Ðạo" là một quyển tiểu thuyết với nhiều tình tiết gút mắc, những truyện ngắn, truyện vừa hoặc tuỳ bút khác của ông là những suy tư, những ý tưởng, những nhân sinh quan của riêng ông, một nhà trí thức chịu ảnh hưởng triết lý tây phương và trào lưu chủ nghĩa hiện sinh trong văn chương, về cuộc đời, tình yêu và thân phận con người trong một đất nước chiến tranh.

Trong văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, rải rác đây đó là những tư tưởng bi quan, vô vọng trước những bất toàn của con người, tầm hữu hạn của hạnh phúc, những bất trắc của đời sống. Chính những đặc điểm ấy làm nên bản sắc văn-chương-Nguyễn-Xuân-Hoàng, không trùng lặp với ai khác. Sau "Khu Rừng Hực Lửa", một truyện vừa gây nhiều tiếng vang trong giới yêu thích văn chương, tiểu thuyết "Kẻ Tà Ðạo" là tác phẩm thành công rộng rãi của ông, ấn hành năm 1973. Quyển truyện là một phim bản linh động kể lại sinh hoạt của giới trẻ, giới văn thi sĩ và chính trị gia Sài gòn vào cuối thập niên 1960 với những phân cảnh yêu vội sống cuồng lồng trong tình huống chính trị rối reng, không lối thoát. Cá tính và cách ứng xử của những nhân vật nam qua bút pháp Nguyễn Xuân Hoàng, như Thăng trong "Kẻ Tà Ðạo", không cường điệu thái quá, không công-tử-tính cổ điển như một tay chơi đất Hà thành vào những thập niên 40, 50 của thế kỷ 20 qua ngòi bút Mai Thảo, mà hờ hững, lãnh đạm trước thực trạng chính trị và xã hội như một kẻ mộng du giữa ban ngày. Và Thăng đi về phân vân giữa những nhân vật nữ.

Loại văn phong được Nguyễn Xuân Hoàng sử dụng, gán ghép cho những vai trò văn chương rất thời thượng, rất "tây", rất trí thức, nhiều phim ảnh tính. Và thụ động.

»… Tôi là một người đàn ông thụ động. Tôi không biết sục sạo tìm kiếm như con gà bươi móc trong đống rác ngoài sân để mổ được chút hạt gạo thừa.
Tôi thụ động trong tận cùng xương tuỷ …« (i)

Không phải chỉ riêng những nhân vật nam trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Hoàng chất chứa tâm trạng thụ động ấy, mà không ít người thuộc giới trí thức cũng như văn thi sĩ thời bấy giờ cũng cùng quan điểm như họ. Phần lớn, có lẽ, bắt nguồn từ bối cảnh chiến tranh. Ranh giới sống chết quá mong manh. Cánh cửa hướng về tương lai khoá kín. Quan niệm về cuộc sống trong văn chương ông tuy mù mờ bảng lảng, nhưng vẫn khiến người đọc nghĩ ngợi. Nó bóc vỏ những bí ẩn về tính hiện hữu của đời sống, mặc dù không sắc sảo, tinh tế như văn chương Võ Phiến, nhưng đủ đậm để khắc dấu thành một ấn tượng Nguyễn Xuân Hoàng.

Sau biến cố 1975, tôi trực tiếp tham dự vào các diễn đàn văn chương hải ngoại. Khi được tin thầy tôi, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, cùng gia đình sang Hoa kỳ định cư, tôi tìm cách liên lạc. Trong lá thư đầu tiên trả lời tôi, ông đề nghị sửa cách xưng hô, gọi bằng "anh" thay vì "thầy". Kể từ đó, tôi thường xuyên theo dõi văn nghiệp ông. Ông viết không nhiều, không bền bỉ dài hơi như Nguyễn Mộng Giác, nhưng tương đối đều đặn.

Những sáng tác ở ngoài nước của ông, tôi được ông gởi tặng bốn quyển: truyện dài "Người Ði Trên Mây", tái bản của "Kẻ Tà Ðạo" với nhiều nhuận sắc và sửa đổi, là quyển một trong trường thiên tiểu thuyết cùng tựa (ii), tập truyện "Căn Nhà Ngói Ðỏ", truyện dài "Sa Mạc" và tập truyện tái bản "Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Ðâu".

Ðọc "Người Ði Trên Mây", tôi bỡ ngỡ vì không thấy lại những chương, những đoạn và những câu văn đã từng làm tôi rung động trong "Kẻ Tà Ðạo". Cá nhân tôi ưng ý bản chính hơn bản nhuận sắc ấn hành ở Hoa Kỳ, vì "Kẻ Tà Ðạo" sắc nét và đậm đà cảm tính hơn "Người Ði Trên Mây", với những ý nghĩ thú vị về văn chương và điện ảnh của nhân vật Thăng. Hoặc, có lẽ chỉ vì "Kẻ Tà Ðạo" đã bầu bạn thân thiết cùng tôi suốt nhiều năm tha hương đầu tiên.

Mở tập "Căn Nhà Ngói Ðỏ", lòng tôi chùng xuống, khi đọc lại dòng chữ ông ghi thêm trên truyện ngắn "Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự": "Tặng Ngô Nguyên Dũng tự truyện này. N.X.H.". Chi tiết thân ái này của ông dành cho tôi, từ lâu rồi tôi quên bẵng. Tôi tần ngần đọc lại đoản truyện, lần này với nhiều xúc cảm sâu xa như thể chính tôi là người hứng chịu những nghịch cảnh, những mất mát.

Chuyện kể kết thúc như sau:
»… Buổi sáng sớm rừng còn đầy sương mù, gió thổi luồn qua những vòm cây lạnh. Trên những ngọn cây cao, tôi nghe tiếng chim kêu từng hồi buồn bã. Giẫm trên những ngọn cỏ ướt sương, bập bập điếu thuốc lá chưa kịp khô, tôi thấy mình già hẳn. Như giờ đây, gần bốn mươi năm sau tôi thấy tôi mới già bằng thuở đó.« (iii)


Một hôm, đã lâu, tình cờ tôi xem được một cuốn phim Ý đen trắng cũ của đạo diễn Federico Fellini chiếu trên truyền hình: "La Strada", Anthony Quinn diễn vai chính. Phim kể về cuộc sống lang bạt nay đây mai đó của một gã đàn ông cục súc hành nghề xiếc dạo, giang hồ mưu sinh cùng một thiếu nữ phụ việc … Sực nhớ lại, trong một tác phẩm nào đó của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, đã có lần ông đề cập tới một cuốn phim có nội dung tương tự với nhạc phim là một khúc kèn đồng não nuột, mà không nhắc tới tựa. Soạn lại những gáy sách cũ, tôi tìm thấy độc nhất một quyển của ông: "Kẻ Tà Ðạo". Những cuốn khác thất lạc đâu mất. Tôi bâng khuâng lật từng trang sách úa vàng hoài niệm. Và tôi tìm ra đoạn văn ấy (iv), cũng như những suy nghĩ rời của nhân vật Thăng, xưng tôi, đôi ba lần đề cập tới W. Somerset Maugham. Luôn cả câu văn trích từ một truyện ngắn của Maugham đã được Nguyễn Xuân Hoàng đem in lên bìa sau, làm nền cho quyển sách, đã bám víu tôi một khoảng thời gian dài:
»Thảm kịch của tình yêu không phải là cái chết hay sự chia phôi … Thảm kịch của tình yêu chính là sự dửng dưng.« (v)

Những mẩu chuyện nhắc nhớ bên lề của ông, từ một cuốn phim không đề tựa cho tới câu văn trích dẫn nói trên, đã bắt tôi lùng mua tất cả sách truyện của W. Somerset Maugham được chuyển sang Ðức ngữ, để tìm cho ra manh mối, được trích dẫn từ truyện ngắn nào. Nhờ vậy mà tôi đã đọc sạch ráo toàn bộ trước tác của Maugham. Văn chương của Nguyễn Xuân Hoàng, vì vậy, có thể nói, là tác động làm vỡ mạch những đam mê văn chương, âm nhạc, điện ảnh trong tôi. Và tôi viết. Viết để giải toả những ứ nghẽn của tư tưởng. Viết để thăng hoa ý nghĩ thành những trang chữ hào nhoáng. Viết để khai sinh những bóng hình hư cấu. Viết để biểu lộ thái độ tự mãn, rúng ép những nhân vật hành động theo ý mình.


Nguyễn Xuân Hoàng
(bìa sau "Kẻ Tà Ðạo",
Sài gòn, 1973)

Năm 2002, trong chuyến đi Cali thăm bạn, tôi và bạn có tham dự một buổi nhạc thính phòng vinh danh nhạc sĩ Phạm Duy. Sau giờ trình diễn, ca sĩ Quỳnh Giao dẫn tôi vào dự buổi tiếp tân, gặp gỡ ca nhạc sĩ. Tình cờ tôi tái ngộ nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cùng hiền thê là chị Trương Gia Vy. Chào hỏi nhau xong, ông nhoẻn cười nhìn tôi:
»Ngô Nguyên Dũng thấy anh ra sao?«

Tôi không nhớ tôi đã trả lời ông như thế nào, vì trong khoảnh khắc ấy, thú thật, tôi đang bối rối. Ồn và đông, quá đông những khuôn mặt vang tiếng trong giới ca nhạc sĩ hiện diện, mà tôi chỉ là một tham dự viên "đi ké", không được mời, cũng không phải khán giả mua vé hạng nhất. Tôi nán lại thêm chốc lát, rồi lẻn về.

Từ đó tới nay, tôi và ông gần như bặt tin nhau.

Giờ đây, đọc và ngẫm lại, tôi nhận ra có điều gì dường như nghịch lý trong câu văn ghi trên của W. Somerset Maugham. Ví dụ như, thay "tình yêu" bằng "đời sống" và hoán đổi mệnh đề, thành:
»Thảm kịch của đời sống không phải là sự dửng dưng … Thảm kịch của đời sống chính là cái chết hay sự chia phôi«,

thì sao?

Theo thời gian, sở đọc văn chương của tôi có phần thay đổi. Ðọc lại dăm ba quyển sách đã một thời làm tôi ngẩn ngơ đêm ngày, tôi không còn xúc động như xưa. Bi thảm hơn nữa, tôi cảm thấy có điều gì đó không thật giữa những hàng chữ. Không phải tôi thất vọng. Ðúng hơn, tôi hoài nghi. Nhưng những trang sách của Nguyễn Xuân Hoàng là một trong vài ngoại lệ nằm trong sở thích tôi. Thỉnh thoảng có dịp, tôi lấy ra, đọc lại. Những bóng ảnh quá khứ trồi lên, quay quắt. Thời hoa niên hừng hực nắng Sài Gòn. Những khuya tha hương quạnh quẽ, tôi viết nằm trong căn phòng hẹp. Chữ ứa ra giấy. Băn khoăn dập xoá. Lắm khi rúng động theo tâm tình của nhân vật. Ðôi lúc gục đầu ngủ quên trên bản thảo.

Gấp sách, tắt đèn, tôi mở cửa sổ. Nhà trọ hai gian như hai hộp diêm kề cận nhau trong ngõ cụt. Cũng khung cửa ấy, những sáng mùa hè mở ra vườn nắng, nhác thấy con bồ câu trên đầu hồi mái nhà hàng xóm, cúc rúc rời rạc. Cứ vậy, lẻ loi, nhẫn nại nhiều sáng liên tiếp. Cho tới sáng nọ, sau một lúc cúc rúc, bất chợt nghe tiếng cánh xoạc. Một con bồ câu khác sà xuống, cách đoạn rụt rè một sải tay. Lấc ngấc dè dặt ngó nhau một chặp, đoạn con trống đập cánh, liệng một vòng biểu dương tài mọn. Rồi đậu lại, gần hơn, vờ vĩnh ngó mông. Tưởng xong, ngờ đâu một con thứ ba, rồi thứ tư xúm lại, ngúc ngắc xum xoe. Không biết tính toan ra sao, đột ngột cả bốn vỗ cánh túa lên, mất dạng.

Ðứng yên như vậy một đỗi lâu. Hương đêm tháng tám lùa vào, se se dịu dàng. Ðêm ngoài chập chùng úp tay lên vườn cây. Không một hơi gió. Ngoài kia tịch mịch, rỗng rang. Nhưng trong tôi chật chội những ý tưởng, những hình bóng. Không dưng một câu hát lướt ngang trí: "Ðể lại cho ai. Buồn như giọt máu …" (vi). Ðam mê văn chương trong tôi như một thương tích, tưởng lành, không dưng loét đau, rỉ máu. Hồi tưởng nhiều thập niên dài. Ðọc và viết, chỉ mình tôi với chữ, thâu đêm. Chuyện văn chương, cũng như kiếp nhân sinh, phải chăng chỉ là những vui buồn phù du chất nặng chiếc thuyền bào ảnh, là một giấc huyễn mộng dài?

Nhưng dù là gì đi nữa, tôi tin rằng, những tác phẩm của thầy tôi, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, vẫn vững chãi với thời gian. Chữ nghĩa của ông hội đủ sức đề kháng, chống chọi lại những huỷ diệt không thương tiếc của năm tháng qua dòng biến động lịch sử. Cùng với nhiều văn nhân thi sĩ tài danh khác, ông là một tên tuổi, một khuôn mặt quan trọng góp phần gầy dựng một nền văn học rực rỡ của miền Nam, thời kỳ 1954-75 nói riêng, và của toàn cõi Việt nam nói chung.

Một lần nữa, tôi cám ơn đời đã cho tôi cơ hội góp mặt trên văn đàn, để tôi có dịp cùng đi với ông, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trên nẻo về văn chương vô tận. Dẫu chỉ một chặng đường ngắn ngủi.

(Ðức, tháng 8. 2013)


i Kẻ Tà Ðạo, tr. 22, nxb. Nguyễn Ðình Vượng, Sài gòn, 1973. (Không tìm thấy trong ấn bản "Người Ði Trên Mây".)
ii Bụi và Rác: quyển hai của bộ tiểu thuyết "Người Ði Trên Mây", tôi không được đọc.
iii Căn Nhà Ngói Ðỏ, tr. 27-28, nxb. Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1989.
iv n. tr., tr. 192-193. (Không tìm thấy trong ấn bản "Người Ði Trên Mây".)
v »The tragedy of love is not death or separation ... The tragedy of love is indifference.«, Red, W. Somerset Maugham. (Trong "Người Ði Trên Mây", tái bản của "Kẻ Tà Ðạo", đoạn văn được nhân vật xưng tôi nhớ và thuật lại rành rẽ truyện ngắn nói trên của W. Somerset Maugham - Kẻ Tà Ðạo, tr. 335-336, nxb. Nguyễn Ðình Vượng, Sài gòn, 1973 - được rút gọn: "Rồi chị Quỳnh sẽ hiểu. Yêu nhau mà không lấy nhau được đến nỗi phải chia tay, hoặc phải đi tìm cái chết... thì tình yêu ấy vẫn tồn tại. Thảm kịch của tình yêu chính là người nầy dửng dưng dưới mắt người kia trong khi vẫn sống bên nhau." Tôi nhớ lại một truyện ngắn của nhà văn Anh, ông Somerset Maugham, mà có lần tôi đã thấy trên kệ sách trong nhà này... - Người Ði Trên Mây, tr. 245, nxb. Người Việt, Hoa Kỳ, 1987.)

vi Trích đoạn ca khúc "Lặng Lẽ Nơi Này", Trịnh Công Sơn.  

Trần Mộng Tú - SÔNG VẪN NỒNG NÀN

Thơ Trần Mộng Tú


Nếu gửi em về thời trẻ dại
em sẽ yêu như em đang yêu
em giấu tình trong viên sỏi nhỏ
ném vào mặt nước bật tiếng kêu

viên sỏi tung tăng trong đáy nước
sông vẫn nồng nàn sóng vẫn xô
trăng đến và trăng không đi nữa
tình ở tuổi nào tình ngây thơ

thời gian trong tay em cứ trôi
tình yêu trong tay em không vơi
mở bàn tay ra nắm bàn tay lại
em tung tình yêu vào cuộc chơi

tóc cứ bớt xanh môi phai đỏ
mắt cứ chân chim rạn tháng ngày
nắng vẫn mật ong trên vai mỏng
em thổi tuổi mình lên đám mây

viên sỏi tình yêu em cứ ném
tiếng kêu thảng thốt bật lên không
những vòng tròn nhỏ loang loang sóng
anh có còn đứng ở bên sông.

tmt
8/30/2013





Hạ Long Bụt sĩ - LÝ ĐI RỒI LÝ LẠI VỀ - TỪ LÝ BÁT ĐẾ đến SAMSUNG trên đất thiêng KINH BẮC

Hạ Long Bụt sĩ

Luy Lâu, Cổ Pháp, Đình Bảng, Kinh Bắc… những địa danh ngàn năm, nơi phát tích của Phật giáo, đất tổ của Lý Bát Đế, của Hội Lim, của Quan Họ… bây giờ lại trở thành trung tâm điện tử SamSung-Tam Tinh-Tristars do tập đoàn họ LEE (Lý) từ Đại Hàn thành lập.


Đây là vùng đất cổ tiếp liên với Đại La, Cổ Loa, Thăng Long… phong thủy rất đẹp với Bát Vạn Sơn, rặng núi 99 ngọn, đồi núi chập chùng, xen kẽ ruộng nương, cây cỏ tươi tốt, mỗi ngọn đồi là một ngôi chùa: Tiêu Sơn, Phật Tích, chùa Dâu, Bút Tháp, đồi Lim, địa thế cao hơn Thăng Long. Cổ sử chép Cao Biền yểm phá nhưng các nhà sư như Định Không La Quý An đã kịp thời giải triệt yểm quyết.

Các Thiền Sư Mật tông tiên phong

 Cao Biền không phải là nhà phong thủy đầu tiên trên đất Việt. Trước Cao Biền hơn một trăm năm các thiền sư thuộc Thiền Phái Mật tông Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã am tường phong thủy, sấm vĩ, chiêm tinh, và biết trước cả việc Cao Biền sang trấn yểm long mạch nước Nam ta.

Thiền sư Ðịnh Không (730-808 ) từ năm 785 đã nhìn thấy “ đất trình pháp khí ...họ Lý hưng vương”  tại làng Dịch Bảng quê ông. Nhân lấy điềm rửa mười chiếc khánh, một chiếc chìm, mà đặt tên địa linh ấy là Cổ Pháp. Sư còn dặn dò đệ tử là Ðinh Hương, Thông Thiện, phải canh giữ đất kết phát này vì sợ có dị nhân đến yểm phá về sau. Thông Thiện ghi lời thầy trên tháp chùa Lục Tổ và truyền lại cho đệ tử là La Quý An ( 852-936 ). La Quý An đủ tài năng để chống lại thuật yểm phá của Cao Biền vào năm 865. Khi Cao Biền đào đất Cổ Pháp 19 điểm trấn áp cho đứt long mạch đế vương thì sư La Quý An cho lấp lại cả 19 điểm để bảo vệ khí mạch. Sư biết đất Cổ Pháp huyệt kết chân mạng đế vương nên đã quyên góp đúc một pho tượng Lục Tổ bằng vàng chôn sát tam quan, rồi dặn dò đệ tử phải cất dấu cho tới thời thánh quân minh ra đời thì  mới được đào lên ủng hộ chân chúa. Sư còn dặn sau này nên xây tháp (để tụ khí mạch ) và cho trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn giữ mạch. Năm trồng cây gạo, 936, sư để lại bài sấm trước khi tịch :

Ðại sơn long đầu khởi
Xà vĩ ẩn minh châu
thập bát tử định thành
miên thọ hiện long hình
thỏ kê thử nguyệt nội
định kiến nhật xuất thanh.

Nghĩa :
Ðại sơn đầu rồng dậy
đuôi rắn ẩn minh châu
họ Lý tất định thành
hình rồng hiện gốc gạo
tháng chuột ngày gà giờ thỏ
thấy mặt trời lên giữa mây xanh.

(Thập bát tử ghép lại thành chữ Lý; Miên thọ chỉ loại cây bông gạo, bông gòn ). Bài sấm này vừa nói về phong thủy- đại sơn long đầu- vừa là loại sấm đoán ngày tháng họ Lý hưng nghiệp, vừa tìm điềm lành nơi thiên nhiên- miên thọ long hình- để tiên tri sự việc xẩy ra 70-80 năm sau  ( nhà Lý khởi nghiệp năm 1010 ).

Trước Vạn Hạnh 200 năm, Sư Ðịnh Không cũng đã nhìn phong thủy làng Cổ Pháp và tin tưởng là một bậc chân nhân họ Lý sẽ xuất hiện , Sư viết như sau:  

Ðịa trình pháp khí
phẩm chất tinh đồng
Trì Phật pháp chi hưng long
lập huơng danh chi Cổ Pháp
pháp khí xuất hiện
thập khẩu đồng chung
Lý hưng vương, tam phẩm thành công

Dịch nghĩa :
Ðất dâng pháp khí
phẩm chất tinh đồng
đưa Phật pháp đến thời rồng lên
làng Cổ Pháp đặt lấy tên
pháp khí xuất hiện
mười miệng chuông đồng
Họ Lý hưng vương, tam phẩm thành công.

(khi Sư dựng nền chùa làng Ðình Bảng, đào được 10 chiếc khánh và một chiếc lư hương, mang ra sông rửa, một chiếc khánh chìm xuống nước. Sư bàn : mười chiếc khánh là thập khẩu hợp lại là chữ Cổ, một chiếc chìm đi là thủy khứ, hợp lại là chữ Pháp, vậy đặt tên linh địa này là Cổ Pháp).

LÝ ĐI RỒI LÝ LẠI VỀ
Nhà Lý mất vì nhà Trần năm 1225 cách đây 775 năm (tính từ năm 2000), Trần Thủ Ðộ dùng thủ đoạn quyết liệt tận diệt họ Lý, thừa khi tôn thất họ Lý làm lễ giỗ tổ, ông cho đào sẵn hầm rồi giật sập nhà chôn sống cả trăm người họ Lý (1232 ). Tuy vậy vẫn có người trốn thoát, thay họ đổi tên sống trong nước hoặc trốn ra  ngoài nước như trường hợp hoàng tử Lý Long Tường vượt biển sang Hàn Quốc.

CÓ HAI CHI HỌ LÝ ÐI  SANG NƯỚC HÀN
Theo tài liệu của Sở Cuồng Lê Dư trên số Xuân 1942 Tri Tân (sang Hàn quốc 1914) và của Trần Văn Giáp, thuộc Viện Khảo Cổ Hà Nội, năm 1959, thì có hai vị dòng dõi nhà Lý chạy sang nước Hàn :
          1- Lý Dương Côn, em vua Lý Thần Tôn 1128 -1138 ( tức Lý Dương Hoán) chạy sang Hàn quốc để “tránh quốc loạn“, không nói rõ loạn gì và tại sao lại chạy mãi sang Hàn Quốc, chỉ biết Lý Tinh Thiện hiện đại là dòng dõi chi này.
          2- Lý Long Tường, chú vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224), con vua Lý Anh Tông (1138- 1175) em vua Lý Cao Tông (1176- 1210), cùng với Lý Quang Bật mang đồ thờ cúng chạy ra biển Ðông (cửa Thần Phù, Thanh Hóa), trốn khỏi bàn tay Trần Thủ Ðộ, trên ba con thuyền. Một thuyền bị bão dạt vào Trung Hoa không rõ sống chết ra sao, thuyền của Lý Long Tường đến được Trấn Sơn, gần Pusan ngày nay, vào năm 1226.

          Lý Long Tường khi ấy ở khoảng tuổi 50, ông ra đi với tâm nguyện noi gương Vi Tử đời Ân (khi nhà Ân mất thì Vi Tử chạy sang nhà Chu để giữ việc cúng tế gia tiên theo sử Tầu), vì thế ông lấy hiệu là Vi Tử Ðộng và có ghi trên bia Thụ Hàng Môn Ký Tích ở Bồn Tân, Hàn quốc, tâm nguyện đó.

          Tương truyền vua Hàn quốc là Cao Tông nằm mơ  thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lên, đậu bên bờ sông Tây Hải, khi cho người tìm kiếm thì thấy thuyền của Lý Long Tường và tùy tùng đang dạt vào bờ, vua Hàn nhớ lại giấc mơ cho là việc kỳ diệu nên đối xử với họ Lý rất tử tế.

          Hai mươi bảy năm sau, 1253, quân Mông Cổ do Ðường Cơ chỉ huy xâm lăng Hàn quốc, Lý Long Tường năm ấy đã vào khoảng 78 tuổi, cưỡi ngựa trắng đôn đốc dân chúng trong vùng chống trả quân Mông Cổ suốt 5 tháng. Quân Mông thấy khó thắng bèn lập kế khuân 5 hòm vàng lớn tới dâng Bạch Mã Tướng quân Lý Long Tường, Lý Long Tường biết là mưu kế nên cho khoét lỗ, đổ nước sôi vào hòm, quả nhiên sát thủ Mông nấp kín trong hòm bị phát giác và chịu chết. Sau khi thủy binh của đô đốc Katan Khan bị hỏa công phá tan, bộ binh của Ðường Cơ mất tinh thần, bị quân Hoa Sơn bản địa họ Lý nòi Việt tiêu diệt chỉ còn lại vài tên chạy về Mãn Châu. (sư đoàn Đại Hàn đặt tên Bạch Mã là nghĩa đó)

          Sau chiến công ấy, vua Hàn cả mừng, phong Lý Long Tường làm Tướng quân, đổi Trấn Sơn nơi họ Lý trú ngụ thành Hoa Sơn (bởi thế có tên Hoa Sơn Tướng quân), lại lấy 30 mươi dặm vuông, nhân khẩu 20 hộ cho họ Lý làm Thái ấp. Nơi quân Mông Cổ đầu hàng được gọi là Thụ Hàng Môn, lại cho lập bia để ghi công Lý Long Tường, di tích nay hãy còn.

          Khi Lý Long Tường mất, mộ táng cách Thụ Hàng Môn (ở Bồn Tân) 10 dặm, tại chân núi Di Ất, gần Bàn Môn Ðiếm bây giờ.

          Trong thời gian ở Hoa Sơn, Lý Long Tường lập làng Giao Chỉ, làng Nhật Nam, lại hay lên đỉnh núi ngồi vọng về phương Nam mà khóc, nơi ấy gọi là Vong quốc đàn !

          Về sau dòng họ Lý ở Hoa Sơn chia làm hai chi, từ Bình Nhưỡng (cố đô) ở Bắc Hàn, rời về Hán Thành Seoul là đô mới của nước Hàn ở phía Nam, có tộc phả dày 400 trang ghi rõ chi tiết. Hậu duệ họ Lý này hiện có trên 200 hộ, hơn 600 người, cháu đời thứ 26 là Lý Xương Căn đã về lễ tổ tại Ðình Bảng lần đầu tiên vào năm Tuất 1994 (xin ghi chú Lý Công Uẩn sinh năm Tuất).

          Tại nước Hàn, nhiều sách truyện về Hoa Sơn Tướng quân được truyền tụng, tập Hoa Sơn Quân bản truyện còn ghi sự tích cây hạnh lớn do Lý Long Tường trồng trên nền nhà Văn Nhã Ðài là nơi Lý Long Tường từng ngồi dạy học, vì thế Lý Long Tường còn có tên là Hạnh Ðàn Công tử. Như vậy đủ thấy Lý Long Tường cũng như nhiều danh nhân khác đời Lý Trần, có đủ tài kiêm văn võ, theo đúng truyền thống Ðại Việt mà đời sau, từ đời Lê trở đi, để mất, đổi từ Văn ôn võ luyện sang tiên học lễ, hậu học văn, biến kẻ sĩ thành ra “trói gà không chặt “, hư danh khoa bảng, thật đáng tiếc.



          Ở Việt Nam hiện nay, dân chúng vùng Cổ Pháp (Ðình Bảng là tên mới từ đời Trần) vẫn làm lễ hội rất lớn tại đền Ðô (tức đền Lý Bát Ðế thờ 8 vị vua Lý), họ truyền tụng câu :
                   Đền Ðô đến hẹn lại lên......

hẹn gì ở ngôi đền đất Kinh Bắc, cố đô tinh thần hương quán nhà Lý và của nền quân chủ nhân quốc văn hiến Việt Nam? lại lên và bao giờ lên? câu sấm hay đồng dao này xuất hiện từ bao giờ và do ai đặt ra, không mấy ai biết rõ, nhưng chắc rằng có mang mầu sắc huyền nhiệm nên cả dân chúng lẫn giới truyền thông đều tin rằng có gì thiêng liêng trùm lên dòng sử Việt nhất là từ khi con cháu họ Lý từ Hàn Quốc trở về giỗ tổ sau gần 1000 năm tính từ năm 1010 khai triều thịnh đức nhà Lý.

          Nếu đã có khả năng tiên đoán nhà Lý dài tám đời vua, rằng ngôi mộ của mẹ Lý Công Uẩn có mối đùn lên thành hình hoa sen tám cánh, thì các nhà sư đó cũng đủ khả năng sấm ký để tính ngày trở về của họ Lý, ngày quang phục vương đạo truyền thống Lạc Việt Hùng Vương. Dường như sư Vạn Hạnh đã tìm ra ngôi đất tái phát một ngàn năm sau cho họ Lý, điều này Sấm Trạng Trình có ghi lại

          Lý đi rồi Lý lại về
          ...ngẫm về sau nhà Lý xưa nên
          nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn toàn...

LÝ SAMSUNG !

Hãng SamSung thành lập từ năm 1938 trên đất Nam Hàn, thật may mắn cho dân Hàn, giả dụ Bắc Hàn hung hãn đòi thống nhất đất nước thời 1950 dưới lá cờ đỏ, thì làm gì có Tam Tinh, có Huyndai (1947, Hiện Đại) và cũng như ở Đức, Tây Đức đứng vững để phát triển tốt đẹp, làm gương sáng cho những nước còn ngụp lặn trong vũng lầy trung cổ chậm tiến.

Tuy tiến sau Nhật cả trăm năm -- Mitsubitshi-1870 ( Three diamonds, Ba Hột Xoàn), Đại Hàn đã bắt kịp công nghệ thế giới từ mươi năm nay nhờ chương trình đào tạo kỹ sư hàng 100,000 người mỗi năm. Năm 1975 các thương xá Mỹ còn bầy bán toàn hàng may dệt Made in Korea, dần dần từ 1985 bắt đầu xuất hiện máy móc gia dụng, máy tính, xe Huyndai, Kia, quạt, máy lạnh LG… trong 30 năm, Hàn tiến ngang Đài Loan, rồi nay ngang ngửa cạnh tranh với hàng Nhật, hàng Mỹ. Điện thoại Samsung, hệ điều hành Android của Google chiếm thị trường smartphones thế giới, mặc dầu vẫn đi sau Apple iPhones trên thị trường cao cấp (high end).

Vào Costco, Samsung Galaxy tab.7 made in Bắc Ninh by SamSung, điện thoại Galaxy Ace duos made in Bắc Ninh (tên mới của Kinh Bắc từ 1831 do vua Minh Mạng bắt đổi tên cũ) tại khu công nghệ Yên Phong (thành lập 2008) không xa sân bay Nội Bài… SamSung đang xây cất một trung tâm khác tại Thái Nguyên với kế hoạch lập một trung tâm điện thọai lớn nhất thế giới!

Xét về kỹ thuật, Apple iPad hay iPhone, hay iPod… vẫn có ưu điểm bậc thầy, hệ điều hành chuẩn xác, pin chạy rất lâu, máy ảnh dễ xem dễ dùng, tính năng quay (rotation) rất đúng lúc, menu gọn ghẽ… Nhưng hệ Android của Google lại phổ biến hơn, nhiều mặt hàng hơn, dễ cài đặt các apps phụ như trò chơi games, quan trọng nhất là giá rẻ hợp túi tiền bình dân. Một khi trên PC/ laptops đã có Google, Gmail, thì mọi dữ kiện, như hình ảnh, video tự động truyền vào Tablets (như Samsung tab. hay Nexus tab.) rất nhanh.

Tuy vậy, ở VN cũng như nhiều nước, thương hiệu Trái Táo vẫn chứng tỏ đẳng cấp, sang trọng… nên nghèo đến mấy vẫn cố mua một cái iPhone dù 3G cũ hay 4G… hàng giả có lẽ từ Tầu sang, tràn lan…!

Bây giờ đi ngang qua Cổ Pháp, Đình Bảng, Đền Đô, thấy SamSung, thấy Canon, thấy Toyota… vây bọc, những con người Bắc Á, Hàn, Nhật, Hoa Bắc… chăm chỉ, khỏe mạnh, nghiêm túc, dường như vẫn dẫn đạo dân xứ nhiệt đới, yếu ớt, hời hợt…vào kỷ nguyên mới.

Lý đi rồi Lý lại về… đã nghiệm đúng rồi, sau cả ngàn năm… xem Sấm Trạng Trình thì rất có thể một minh chúa, dòng dõi họ Lý… sẽ xuất hiện cứu tinh dân Việt. Nếu thế thì SamSung, Tam Tinh, chỉ là màn giáo đầu, rất ly kỳ của sử Việt.

Hạ Long Bụt sĩ
(viết theo lời của đại bốc sư Ba La 1968)

Tham Khảo chính :
-Người Việt Ở Triều Tiên Hà Nội 1997 Hội KHLSVN
-Thơ Văn Lý-Trần 1977 Viện VH Hà Nội
-Việt sử Siêu Linh- LưuVănVịnh Cali 1999
-Sấm Trạng Trình bản 1954 VH Bình Dân Saigòn


Nguyễn Ngọc Già - Lửa Phật và Lê Hiếu Đằng


Nguyễn Ngọc Già
(RFA)


Ảnh quảng cáo phim Lửa Phật. - BHD PHOTO 

Bộ phim "Lửa Phật" do Việt kiều Dustin Nguyễn thực hiện ở cả ba vai trò: Viết kịch bản - Đạo diễn - Diễn viên chính (trong vai chiến binh Đạo) hợp cùng diễn viên Ngô Thanh Vân (trong vai chiến binh Ánh), diễn viên Roger Yuan (trong vai Tướng quân Long), vừa công chiếu ngày 22/8/2013 với dấu hiệu "16+".

Sự tương đồng ngẫu nhiên

Bộ phim với không gian và thời gian bất định cùng nét văn hóa mờ ảo (trang phục pha trộn nhiều sắc thái, võ khí dáng lạ, xe mô tô hình thù hầm hố, khung cảnh thị trấn mơ hồ v.v...) không đại diện cho bất kỳ xứ sở, dân tộc nào, đã được dùng để chuyển tải tư tưởng đầy ẩn ý thâm sâu phía sau của nó.

Ngoài các cảnh hành động khá mãn nhãn, những màn gây cười có thể chấp nhận được; chuyện phim xoay quanh nội dung: một đạo binh do Tướng quân Long lãnh đạo với lời thề nguyền: yêu nước và chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ bình an cho dân lành. Trong quân ngũ không được phép yêu đương vì dễ xao lãng việc quân.

Điều này chỉ là hình thức, vì tình yêu thầm kín nảy nở nhưng vẫn được giữ bí mật giữa Đạo và Ánh. Song song đó, Long tướng quân cũng khao khát nhan sắc Ánh. Cho đến khi người em trai Ánh đào ngũ và đối diện với lưỡi đao hành quyết thì Ánh quyết định đến gặp Tướng quân Long để lấy "cái ngàn vàng" trao đổi mạng sống cho em ruột mình.

Trong khi cô đến lều - nơi vị tướng quân ở - để "ngã giá" với Long thì Đạo không thể xuống tay với em trai người yêu và kêu mở trói rồi vội vàng chạy theo Ánh. Đạo vừa chạy vài bước chân, quãng thời gian đó đủ làm em trai Ánh quyết tự sát, vì anh biết dù đã được giải thoát, nhưng chắc chắn, với sự tàn bạo của Long tướng quân, một khi anh bỏ trốn, vị tướng quân kia không bao giờ buông tha chị mình.

Một cảnh trong phim Lửa Phật. Photo courtesy of BHD.

Thủ pháp đan xen giữa quá khứ và hiện tại được đạo diễn dựng lên nhằm chuyển tải những suy tư, dằn vặt của Đạo - một con người sống tình cảm, quá mệt mỏi với chiến tranh và chém giết, truy lùng và tiêu diệt. Đạo muốn trở về sống đời thường bên cạnh Ánh để tìm những giây phút bình yên trong một gia đình đầy ắp thương yêu và trách nhiệm, nhưng ông cũng bị lời thề ám ảnh suốt trên con đường rong ruổi tìm diệt những kẻ "phản bội". Ánh được xem là "kẻ đào ngũ" cuối cùng mà Đạo cần tìm diệt theo lệnh Long tướng quân.

Ánh vì quá chán ngán với võ khí, với chém giết, cô gói ghém và dấu nhẹm tất cả những kỷ vật để mong tìm một cuộc sống bình dị. May mắn, cô cùng với đứa con trai bé nhỏ - kết quả của việc "trả giá" cho Long nhưng bất thành trong việc cứu mạng sống em trai - đã tìm được người đàn ông cần cù với hiệu bánh trong một thị trấn nhỏ. Từ đó, cô có được 9 năm bình an bên người chồng hiền lành, thủy chung và tốt bụng (Thái Hòa thủ vai).

Theo mạch chuyện, cuộc sống hạnh phúc 9 năm đó chấm dứt khi Đạo tìm đến. Kể từ đây, những khổ đau, kỷ niệm, nhung nhớ cứ thoắt ẩn thoắt hiện giữa đôi tình nhân cũ và họ hiểu trước sau gì Long tướng quân cũng xuất hiện.

Họ cũng rõ với võ công của cả hai, không thể nào là đối thủ của Long tướng quân, người vừa vô địch thiên hạ, vừa tàn độc và lạnh lùng, nhưng họ quyết thí mạng để diệt trừ cái ác, ít nhất để bảo vệ cho đứa bé vô tội và người đàn ông làm bánh hiền lành.

Cuối cuộc chiến, Long chết dưới tay Ánh. Khi Long định giết đứa bé, bỗng bối rối rồi chùng tay, kịp nhận ra nó là con ruột mình thông qua chi tiết: đứa con trai được di truyền khả năng phát lửa từ cha. Lửa bốc lên khi sự phẫn nộ của đứa bé lên đến cực điểm để bảo vệ mẹ trước nguy hiểm. Lợi dụng sơ hở đó, Ánh đã đâm nhát gươm chí mạng vào bụng Long và "lửa" từ trong nội thân Long đã thiêu cháy ra tro một tà tâm cần hủy diệt.

Dù là di truyền từ cha, nhưng ngọn lửa trong đứa bé và trong người Long tướng quân hoàn toàn khác nhau về bản chất. Đó cũng là một điểm nhấn, nhà làm phim muốn chuyển đến người xem về sự phẫn nộ chính đáng từ đứa bé khác hẳn tính hung tợn từ người cha ruột? Nó như là chi tiết đắt giá để chúng ta thay đổi cách nhìn. Dù hiện tượng như nhau nhưng bản chất khác nhau một trời một vực, một khi gắn kết môi trường sống lương thiện và hiền lành của đứa bé, bởi nó được nuôi dạy và lớn lên trong tình yêu thương trong sáng của người đàn ông làm bánh. "Lửa thiện" khác với "Lửa ác". Có phải vì lý do đó, bộ phim được đặt tên là "Lửa Phật"?

Điều gây chú ý đối với khán giả chính là tình tiết nhỏ nhưng rất...kỳ lạ của bộ phim: Dù cho đất nước đã thanh bình, ngoại xâm đã cuốn cờ bỏ chạy, nhưng người chiến binh dứt khoát không được phép rời khỏi quân ngũ. Bất kỳ ai làm trái lời thề này, nghĩa là phản bội lại Long tướng quân, họ đều phải trả giá bằng cái chết. Đó chính là mấu chốt, làm cho những người như Ánh quyết đào tẩu. 

Cùng với chi tiết nói trên, "lòng yêu nước" rất cực đoan khi nấp dưới mỹ từ "trung thành tuyệt đối" với Long Tướng quân, làm người xem thấp thoáng thấy "lý tưởng cộng sản" khắc nghiệt đối với những người "trót thề" hiện diện rõ ở bộ phim này! "Lời thề chém đá" được nhấn nhá rất nhiều lần trong các trường đoạn suy tư của Đạo.

Một cảnh trong phim Lửa Phật. Photo courtesy of BHD.

Dù đất nước đã vắng bóng ngoại xâm, nhưng Long Tướng quân (biểu tượng của sự sắt máu) vẫn giao phó cho các cựu chiến binh việc đi truy lùng và tìm diệt những người đào tẩu mà họ bỏ trốn chỉ nhằm tìm kiếm cuộc sống bình yên, vui vẻ.

Đạo là một trong số cựu chiến binh thực thi sứ mạng "tìm và diệt" như là nhiệm vụ chính trong suốt bộ phim.

Tình tiết này bỗng làm người xem liên tưởng đến tính tương đồng về mặt ý nghĩa với hoàn cảnh diệt tận gốc như trong "nhân văn giai phẩm", "xét lại chống đảng" ở miền Bắc Việt Nam!

Nhân vật Đạo đã nhấn mạnh nhiều lần khi giết các đồng đội cũ và cả khi gặp lại Ánh: Đã thề rồi thì không thể thay đổi. Đã theo Long tướng quân là theo tới cùng, khi nào chết thì thôi, không có con đường nào khác.
Cuối bộ phim, trong khi Ánh quay về với hạnh phúc giản dị bên chồng con, Đạo đã tìm đến cửa Phật với sự dằn vặt tâm cang.

Nhà sư hỏi: Tại sao con tới đây, con trai?

Đạo đáp: Con đi tìm sự sám hối. 

Nhà sư trả lời: Cho tới khi con tự tha thứ cho mình trước, không thì con đường phía trước vẫn còn dài vô tận.

Bộ phim kết thúc trong nhạc phẩm nổi tiếng "Sắc Màu" của nhạc sĩ Trần Tiến, được phối âm, phối khí theo phong cách rock với rocker Phạm Anh Khoa thật dữ dội và lạ lẫm [1].

Thật kỳ lạ, như có sự tương đồng ngẫu nhiên giữa tâm trạng nhân vật chiến binh Đạo và luật gia Lê Hiếu Đằng với "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh", gây lan tỏa và tranh luận mạnh mẽ trong những ngày gần đây.

Đi tìm sự sám hối

Luật gia Lê Hiếu Đằng, ảnh chụp trước đây.

Trong bài viết mà ông Đằng gọi là "tính sổ" với bản thân và với ĐCSVN, ông như bày tỏ "đi tìm sự sám hối" tựa chiến binh Đạo trong "Lửa Phật". Tuy nhiên, ông Lê Hiếu Đằng vượt lên tư tưởng của chiến binh Đạo - chỉ dừng lại ở "sám hối" nhằm tìm sự bình an sống những ngày cuối đời bình lặng và thanh thản. Lê Hiếu Đằng thao thức với nghĩ suy cho quê hương.

Bài viết của vị Luật gia thật rõ ràng và phân định thật sòng phẳng với quá khứ. Ông một lòng đau đáu cho tương lai dân tộc. Ông chỉ muốn hiện nay mọi người hãy cùng nhau "hành động, hành động và hành động", mọi sai lầm của quá khứ hãy để mai này lịch sử phán xét. Một ý nghĩa thực tế và rạch ròi không hơn được nữa, trong tình hình hiện nay.

"Sám hối", tại sao không thể? Hơn thế, đó là hành động quay trở về với Chân - Thiện - Mỹ như Phật dạy "quay đầu là bờ".

Luật gia Lê Hiếu Đằng hiểu lời Phật dạy: Trước khi tha thứ cho những người đồng chí hướng, ông đã biết tha thứ cho bản thân. Chính từ sự ngộ đạo này, ông trở nên bình thản mà giản dị trước tất cả công kích.

Tiếc thay, những người mà ông gọi là "đồng chí" lại thi nhau thực hiện "sách lược" "kẻ đấm người xoa lại thằng đấm" đối với ông.

Một lời cám ơn, dù khách khí, dành cho ông Đằng - khi ông đã "rút ruột rút gan" ra mà viết - sẽ là lời hồi đáp văn minh của một chính đảng luôn tự đặt mình đứng trên "thiên hạ". Tiếc thay! Không có! Thay vào đó là những bài viết nặng mùi sỉ vả, bới móc và chì chiết, đan xen những lời tỉ tê, nỉ non và than trách nhuốm màu đạo đức giả như bài của ông Nguyễn Chơn Trung.

Góp vào đó, không thiếu những lý luận thật ngây ngô và phản khoa học, ví như "Đa nguyên đa đảng là... phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc" [2], những suy nghĩ lố lăng và kệch cỡm này phát xuất từ những "người cộng sản": Lù Văn Que - Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc – UBTƯ MTTQ Việt Nam, Nguyễn Trọng Cầu - nguyên giảng viên bộ môn Lịch sử Đảng, trường Đại học Vinh, Nghệ An (!). Theo ông Que và ông Cầu, "độc đảng mới giữ vững đại đoàn kết dân tộc" (!). Khôi hài đến mức như những lời thoại kém văn hóa nhất mà khán giả đang xem những diễn viên đoạt giải "Trái Cóc Xanh" trong giới nghệ thuật "trao tặng" suốt 13 năm qua cho những phát ngôn lố bịch nhất, những hành vi lố lăng nhất.

Nên chăng, dư luận cứ chấp nhận để các trang báo: Đại Đoàn kết, Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Công An Nhân Dân, Tuổi Trẻ, Quân Đội Nhân Dân v.v... tiếp tục lên tiếng? Bởi khi họ càng lên tiếng, nghĩa là họ càng chứng minh "chân lý" những cái gọi là "lý tưởng", "chính nghĩa", "văn minh" và "đạo đức" của những kẻ vì "lời nguyền" cay độc không bao giờ dám rời bỏ "đội ngũ" như Long tướng quân đã ép buộc những chiến binh dưới trướng mình, luôn phải "tận tụy" và "trung thành" tới chết?!

Thay vì về "vui thú điền viên"; thay vì tỏ ra "day dứt" từ những chuyến "đi nghỉ mát" [3] mà vẫn nghĩ đến "nước non" như những ông cấp cao hồi hưu khác, ông Lê Hiếu Đằng đã "bước qua lời nguyền" để tìm lại "ngọn lửa" năm xưa mà ông đã bị lừa đảo và phản bội suốt từ thời trai trẻ. Ông đã không chấp nhận dừng lại ở "sám hối" mà quyết rũ bỏ quá khứ, làm lại từ đầu dù ông đã qua khỏi tuổi 70 từ lâu, đồng thời kêu gọi nhiều người cùng bắt tay nhau hành động trong hoàn cảnh bi đát của Việt Nam hiện nay. Suy nghĩ của ông già tuổi 70 vẫn chứng tỏ sức trẻ - luôn chấp nhận thay đổi để đạt điều tốt hơn.

Trong những ngày nằm bịnh của mình, có lẽ, "Lửa Phật" đã bùng cháy trong ông để quyết làm gì đó trả nợ cuộc đời?

Lời thề của Đạo, của Ánh đã bị cưỡng ép, tình yêu nước của họ đã bị lừa dối thông qua "tài trí trá" mang tên "trung thành tuyệt đối" mà Tướng quân Long biểu hiện trước họ sự "son sắt" với dân tộc (!). Đạo - Ánh sẵn sàng dùng mạng sống để phá hủy "lời nguyền" bạo ngược kia, ông Lê Hiếu Đằng dường như cũng thế?

Vị Luật gia đã bước qua tuổi "thất thập cổ lai hy", với sức khỏe suy giảm, nhưng trong ông, lòng yêu nước một lần nữa bừng lên mạnh mẽ và tươi sáng như ngọn "Lửa Phật" thiêu đốt những tà tâm, ma giáo đang manh tâm xúm vào hãm hại dân tộc Việt Nam...

Chính những kẻ đã từng cất giọng "bài ca không quên" phản bội lại ông, ăn cắp tình yêu của ông dành cho quê hương này, nhưng họ đê hèn đổ vấy ông là "tên bội phản". Chân lý thật ra không có gì khó hiểu, chỉ trừ phi người ta cố tình chạy trốn nó mà thôi.

Ông Lê Hiếu Đằng hiện vẫn là đảng viên ĐCSVN, do đó ông được xem là người dũng cảm nhất khi nhìn thẳng vào sự thật, xoáy thẳng vào sai lầm, tố cáo mạnh mẽ tội ác của ĐCSVN và quyết hành động cho dân tộc này. Ông không rên rỉ, không than khóc.

Chế độ độc tài toàn trị không có chỗ cho lối sống chân thật, không dung chứa những ai sám hối chân thành. Nó chỉ dung dưỡng những tâm hồn "chấp mê bất ngộ" mãi cho đến khi bị dồn vào đường cùng không lối thoát bằng ngọn "Lửa Phật" soi sáng cho nó quay về nẻo chánh hoặc thiêu đốt nó ra tro mà thôi. Không có con đường thứ ba. Thein Sein là trường hợp thứ nhất, Gaddafi, Mubarak v.v... là trường hợp thứ hai. Không biết Bashar al Assad sẽ chọn đường nào với lời tố cáo từ Ngoại trưởng Hoa Kỳ [4]: giới cầm quyền Damascus dùng vũ khí hóa học giết chết 1.429 đồng bào của ông tổng thống Syria?

ĐCSVN sẽ "xử sự" với ông Lê Hiếu Đằng ra sao? Những cuộc đấu tố mang dáng dấp "xét lại chống đảng" năm xưa sẽ diễn ra? Nếu ĐCSVN hiện nay sẵn sàng "hậu đãi" ông Đằng bằng "kiểu" này, đó như "lời nguyền huyết ngãi" báo hiệu thảm họa sắp đổ xuống đầu chính thể này. Thời cuộc đã khác xưa mà không ai được phép trở lui về con đường cũ.

Người già thường hay nhớ về dĩ vãng vào những đêm khó ngủ.

Không ai dám chắc giới cấp cao hiện nay, dù "trướng phủ màn che", dù được "canh phòng cẩn mật" với lớp lớp cận vệ thân tín, họ có thể nào có được giấc ngủ bằng an không mộng mị? Có bao giờ trong những đêm trừ tịch, họ bỗng nhớ về hàng ngàn chiến sĩ ngã xuống trên biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam và cả những vùng biển tại Hoàng Sa - Trường Sa năm xưa? Có bao giờ, trong những căn phòng lạnh toát, nhưng các ông, các bà bỗng vã mồ hôi như tắm, bật dậy bàng hoàng và hốt hoảng trước hàng triệu oan hồn thường dân đã chết tức tưởi trong hàng chục năm qua bởi tội ác chống lại loài người của đảng Cộng sản thế giới và ĐCSVN?

Một đêm nhớ nhớ, nhớ ra mình một mình
Một đêm nhớ, nhớ ra mình đã ở đâu đây
Một đêm trong đêm thâu, một vầng sáng chói lóa
Một đêm nhớ, nhớ ra ta vô hình.
(Sắc Màu - Trần Tiến)

"Một vầng sáng chói lóa" giữa lằn ranh sống chết trong những ngày ông Lê Hiếu Đằng nằm bịnh đã đánh thức ông mạnh mẽ vùng dậy và nó đang lan tỏa tràn trề trên mọi "nẻo đường" tăm tối của Việt Nam bao năm qua.

Dù trăn trở trong những ngày nằm bịnh, nhưng tâm trạng và đường hướng ông Lê Hiếu Đằng đưa ra lại rất khỏe khoắn và tràn đầy Chính Nghĩa. Chỉ có những kẻ đang công kích ông mới là những "tên bệnh hoạn".

Nếu ĐCSVN không hiểu ra chân lý này, Việt Nam không chắc lệ thuộc hoàn toàn vào tập đoàn bành trướng Bắc Kinh mà mảnh đất hình chữ S, có nguy cơ trở thành "tô giới" kiểu mới với các tập đoàn kinh tế lớn từ Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ v.v... đang âm thầm thâu tóm các lợi ích quốc gia với giá rất rẻ (cả nghĩa bóng và nghĩa đen). Việt Nam lúc đó, có chăng, chỉ thu được "thuế trước bạ quê hương" (!).

Nguyễn Ngọc Già
_________
http://mp3.zing.vn/video-clip/Sac-Mau-Lua-Phat-OST-Pham-Anh-Khoa/ZW679F8D.html [1]
http://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=68708 [2]
http://boxitvn.blogspot.com/2013/07/ve-chuyen-tham-trung-quoc-cua-chu-tich.html [3]
http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/my-khang-dinh-syria-dung-vu-khi-hoa-hoc-giet-nguoi-2873245.html [4]