Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Ghé thăm các blogs; 05/07/2013


BLOG BÙI VĂN BỒNG

Có ai mua 'Dự án treo' không?

Các quy hoạch, dự án cần có đất. Chỉ có khu vực nông thôn, nông dân, nông nghiệp mới là “nguồn” đất đai phong phú, nguồn 'quỹ đất' dồi dào. Các nhà chính quyền và đại gia muốn “ăn đất”, giàu lên từ đất, vơ tiền tỉ vàng tạ cũng phải "bám chạt tam nông" (Nông thôn, nông dân, nông nghiệp). Họ rất quyết tâm, quyết liệt ca vang bài 'Từ đất dấy lên'.

Thế nên, từ khi rầm rộ đầu tư, dự án, đất trở thành thứ hàng hóa, quý hơn vàng. Những cơn sốt đất không do người dân gây ra, mà chủ yếu do kinh doanh bất động sản đẩy lên. Những khu ruộng lầy ao sâu rau muống, những bãi bồi hoang hóa, khi đã vào dự án là giá đất tăng vọt lên cả nghìn lần, so với giá trị thực vốn có của nó. Các cuộc lừa đảo bằng các dự án ảo, các công ty ma cũng xuất hiện. Cạnh tranh mặt bằng gay gắt, cơn sốt đất tăng nhiệt vèo vèo. Khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân vốn nghèo khó nhiều đời, nay trở thành “mục tiêu” nhắm tới của chính quyền và đại gia. 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, rồi đô thị hóa…trở thành một thế mạnh bị lợi dụng để vơ vét, vun quén, chiếm đất nông nghiệp. Và do đó, địa phương nào cũng đua nhau “đo thị hóa”. Bởi ai cũng thừa biết: Đô thị hóa, cùng với quy hoạch này, dự án kia thì mới có cớ để khoanh đất của dân, khoanh được mới chiếm được. Chõ nào đất đai “vinh dự” nằm trong diện quy hoạch, dự án thì giá tăng rất cao, cao lên chót vót.

Chưa có thống kê chính xác, nhưng các nhà hoạch định và chuyên môn cũng sơ sơ nhẩm tính chỉ trong 20 năm qua, đất nông nghiệp cả nước bị vào quy hoạch, dự án lấn tới bình quân  12-16%. Một số vùng  ven các đô thị và trong các dự án vẽ vời rất đẹp mắt hầu như gần 100% nông dân bị mất đất. Nhưng rồi, những nơi mà đại ca, đại gia đã vơ những khoản lợi nhuận béo ngậy thì nay (cả chục năm) thành đất hoang hóa trong các dự án treo, dân cũng bị treo niêu! Người nông dân đã chấp nhận tin tưởng đi theo Đảng, đổ biết bao máu xương, mồ hôi, nước mắt để "Người cày có ruộng", mà nay"Người cày mất đất"! Nhiều khu đất thuần nông, đất ‘thục’ đang canh tác lúa xuất khẩu ngon lành, đời sống nông dân đang khấm khá lên, bỗng dưng bị khoanh vào quy hoạch, từ quy hoạch đẻ thêm hàng loạt dự án ‘ăn theo’ thế là nông dân mất ruộng vườn, mất cả nhà cửa. Không những đất nông nghiệp bị thu hối trắng tay, nhận bồi thường rẻ mạt, mà hậu họa là họ bị thất nghiệp, không nơi ở, rơi vào cảnh bơ vơ, nghèo đói. Có điều nghịch lý ở hai chữ “thu hồi”. Hồi là trở về, thu về (cái mình đã có), nhưng đấy đai bao đời để lại đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của người dân, mới giữ được đến hôm nay. "Của dân, đâu của ông cha đứa nào mà “thu hồi” (Ý kiến một cử tri).

Sáng qua (1-7), trong phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Hội NDVN, diễn ra tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) phải kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng xa rời nông thôn, coi thường nông nghiệp, xem nhẹ vai trò người nông dân trong quá trình phát triển". TBT cùng kêu gọi chống tư tưởng rời xa nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Và rằng: Hội NDVN cần tập trung thảo luận, xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng để xác định rõ hơn phương hướng xây dựng giai cấp nông dân VN trong thời kỳ mới; cần nắm vững các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chuyển tải tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nông dân; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua "nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi", "xây dựng nông thôn mới".

Nói vậy là đúng đường lối của đảng. Mà đường lối đảng đề ra bao giờ cũng chỉ có đúng, rất “kêu”. Nhưng trong thực tế lại khác: Năm 2010, UBND TP Hà Nội đã dùng một cái quy định về việc thu hồi đất, để thực hiện dự án đầu tư và thu hồi đất, giao đất làm nhà ở nông thôn tại địa điểm dân cư nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội, áp dụng vào việc thu hồi đất chung cư ở Thành Công, Ba Đình, Hà Nội. Từ đó, quy hoạch thỏa sức vẽ với, dự án tràn lan, các đại gia bất động sản kéo đến ùn ùn, chính quyền vui đỏ rực mặt mày…Nhưng, qua diễn biến của các mánh lới, các thủ đoạn “xâm lược nông thôn”, nay mới biết: Hóa ra, hơn 90 tòa nhà chung cư 5 tầng cũ của phường Thành Công, thuộc quận Ba Đình là địa điểm cư dân nông thôn đấy. Dân có thắc mắc thì chả biết thắc mắc với ai, vì chính quyền chưa bao giờ ra mặt đối thoại với dân.

“Chống tư tưởng rời xa nông thôn, nông nghiệp và nông dân…” – Quả là TBT kêu gọi rất hay, rất ngân vàng. Những khẩu hiệu, tư tưởng chỉ đạo và tiêu chí lãnh đạo này dân ta đã quá quen rồi, nói ở đâu, lúc nào cũng không sợ trật đường lối. Người nông dân rất cần nhận được (về mình, cho chính họ) những chính sách, biện pháp cụ thể, hữu hiệu, chứ không chỉ là những diễn thuyết, những phát biểu sang sảng hay những lời huấn thị nghe quá cũ mèm rồi trôi tuột vào thinh không. Thực tế là  không riêng Hà Nội mà cả 64 tỉnh, thành phố hiện nay nông dân mất đất ngày càng nhiều thì túi tiền của nhiều nhà chức trách và của đại gia càng phình to. Đô thị hóa đã thành “làn sóng” rầm rộ phong trào đua nhau để được công nhận các thị xã là thành phố thuộc tỉnh (nhỏ tý, còn bệ rạc cũng mặc, cứ phải thành phố mới …đất có giá, mở rộng ra thoải mái). Nay lại phát sinh làn sóng mới: Có những tỉnh đang đệ trình  Trung ương xem xét để mở ra tới 4-5 thị xã…

Từ đó, một nguy cơ đặt ra: Nước nông nghiệp đứng hàng nhất-nhì xuất khẩu gạo trên thế giới không khéo với đà này, sau này đến mức phải đi nhập khẩu lương thực cứu đói cho dân.

Ôi, nào là nông nghiệp hàng đầu, ưu tiên nông dân, nông thôn, chiến lược sản xuất lương thực....và nay lại được nghe “không được rời xa ‘tam nông’. Nghe vậy, cũng thấy khấp khởi! Thế thì, ‘tam nông’ sắp được sướng lên rồi!


BLOG HIỆU MINH                                                                                   

Trong một comment, anh Hồ Thơm trích báo cáo chính trị của ĐCS VN nói tràng giang đại hải các ưu tiên “Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.”

Đọc xong đoạn trên, đố bạn đọc tìm ra tác giả nói về ưu tiên nào là hàng đầu. Chỉ biết chữ XHCN nhắc lại tới 3 lần trong 1 câu.

Một độc giả có nick Dân Gian bình loạn, cái gì cũng là mũi nhọn, hóa ra là quả mít.

Vì khó đạt được tất cả mọi thứ một lúc, các nước phương tây thường đặt ra vài ba ưu tiên và cố đạt bằng được. Đầu óc thực tế rất quan trọng trong phát triển
.
Tháng 3 (19-3), cựu Thủ tướng Tony Blair đến Hà Nội trong vòng 16 tiếng. Người ta không rõ Tony bàn gì với Thủ tướng NT Dũng vì báo chí không đưa rõ. Nhưng có thể đoán, phát triển giáo dục là mối quan tâm hàng đầu của cựu thủ tướng Anh.

Tháng 5, Tony lại đến WB nói chuyện, đưa ra lời khuyên đơn giản “y tế, giáo dục và hạ tầng” rất quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia.

Giáo sư Michael Dukakis – cựu ứng viên Tổng thống Mỹ, cựu Thống đốc bang Massachusetts, và hiện là Chủ tịch Diễn đàn toàn cầu Boston, chia sẻ nhiều kinh nghiệm về giải pháp điều hành của nhà lãnh đạo để phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Giáo sư cũng cho rằng, có hai trụ cột quan trọng tạo nên sự thành công của bang Masachusetts, đó là đầu tư cho hạ tầng và đầu tư cho giáo dục.

“Xét về mặt chính trị, tôi đã phải đưa ra một số quyết định rất khó khăn. Nhưng một trong những điểm sáng quan trọng nhất để có thể vực dậy nền kinh tế của bang Massachusetts, cũng như việc “biến” Massachusetts thành trung tâm công nghệ cao, trung tâm công nghệ sinh học của Mỹ, đó chính là nhờ vào hệ thống các trường đại học, cao đẳng”- GS  Michael Dukakis nhấn mạnh.

Cả hai chính khách nổi tiếng này đều nói về giáo dục – hạ tầng về tri thức và giao thông, và kiến trúc đô thị, nền tảng cho phát triển. Ngành này hỗ trợ cho ngành kia, kiềng ba chân bao giờ cũng vững.

Ai từng đến London của Tony Blair và Boston của Michael Dudakis sẽ thừa nhận hai ông này rất có lý khi khuyên bảo các nước nghèo như vậy.

Không đủ nhân lực, vật lực, tiền của như nước mình thì cũng nên tập trung vài mũi nhọn, liệu cơm mà gắp mắm.

Ví dụ, nông nghiệp là mũi nhọn của nước mình. Năm 1986, sau vài năm chia ruộng đất cho nông dân, VN từ một quốc gia nhập khẩu gạo, thành nước xuất khẩu. Mấy năm trước có bàn về IT cũng là thế mạnh.

Bàn mãi bàn mãi, cuối cùng IT chẳng đến đâu. Lúa gạo cũng xuất kha khá nhất nhì thế giới, nhưng được đồng nào, đem nướng vào Vinashin, Vinalines, Bauxite và hàng trăm công trình “thế kỷ” trong 1000 năm Thăng Long, chỉ vì chiến lược “cái gì cũng một tý” như báo cáo Chính trị nói trên.

Cho đến giờ, tôi vẫn nghĩ Nông nghiệp và Tin học là ngành mũi nhọn của nước mình. Trong vài entry tới, Hang Cua sẽ cùng các bạn đọc bàn về vấn đề này đến nơi đến chốn. Bạn đọc nào có cao kiến, xin gửi bài về Hang Cua để chúng ta bàn thử xem sao.

Mấy tuần qua, liên tục có các chuyến thăm của các quan chức cao cấp đi Trung Quốc, đến Mỹ, sang Thái, rồi Indonesia … Chỗ nào cũng là đối tác chiến lược, đa phương hóa, đa diện hóa. Quốc tế chẳng hiểu VN là bạn thân nhất của nước nào.

Làm ăn trong hội nhập phải có sự tin cậy nhất định, quan hệ lâu dài theo kiểu đồng minh, win-win cùng chiến thắng. Sao không chọn lấy vài người bạn hay đồng minh mũi nhọn cho chắc ăn, ai cũng chiến lược, cuối cùng chẳng có ai đến thực tâm với mình.

Nghĩ đi nghĩ lại, thấy chiến lược phát triển và ngoại giao nhà mình sao mà giống quả mít, chỗ nào cũng mũi nhọn.

Nhớ câu thơ của Hồ Xuân Hương
Thân em như quả mít trên cây 
Da nó xù xì, múi nó dầy 
Quân tử có thương thì đóng cọc, 
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay

Thương thì thương cho chót, đóng phát cọc cho chắc mà làm ăn, lo phát triển cho mạnh lên đã.

Cử lửng lơ con cá vàng, sờ soạng bên ngoài quả mít, nhựa dính chỉ tổ bẩn tay.


BLOG NGƯỜI BUÔN GIÓ 
Thứ hai, ngày 01 tháng bảy năm 2013

 Lê Văn Sơn thì tôi biết rõ tính tình và con người của Sơn lắm. Nên khi nghe tin tòa kết án Lê Văn Sơn những 13 năm tù giam, tôi đặt câu hỏi đầu tiên trong đầu là mức án phi lý này vì sao lại được dễ dàng tuyên như vậy. Trong cáo trạng cũng như kết luận điều tra cho thấy những điều kết tội Sơn trong đó rất sơ sài, và  chi tiết được cho là hành vi phạm tội  không nặng hơn nhiều người khác. Một thằng oắt con như Lê Văn Sơn trói gà không chặt, mưu tính không quá nổi ngọn cỏ, lấy cái gì mà đòi lật đổ chế độ bách chiến, bách thắng từng đánh bại cả thực dân, đế quốc lớn nhất nhì thế giới.?

 Nhưng ra tòa Lê Văn Sơn bị kết án nặng nhất sánh ngang với Hồ Đức Hòa.

Đến phiên tòa phúc thẩm, Lê Văn Sơn được giảm 9 năm tù. Với lý do thành khẩn nhận tội, xin khoan hồng, thực sự ăn năn về hành vi vi phạm của mình.

Chỉ với lý do nhận tội xin khoan hồng mà giảm đến 3/4 mức án thì phải chăng tòa án của nhà nước CHXHCN Việt Nam này quá ư là nhân đạo, nhân đạo đến mức bất chấp cả khung pháp luật tố tụng. Vì tội danh thường kèm theo với hậu quả gây ra. Chẳng lẽ một lời xin, hứa hẹn ăn năn là đã khắc phục toàn bộ hậu quả gây ra.? (Một trong những tình tiết giảm tội đắt nhất là khắc phục toàn bộ hậu quả gây ra) và như thế bị cáo được giảm 3/4 mức án.?

Tòa án không nhân đạo đến thế chẳng qua đó là sự bất chấp pháp luật, sự tuyên án tùy tiện ở án sơ thẩm. Chỉ vì thái độ không nhận tội mà người ta tuyên án luôn 13 năm tù. Việc chứng minh phạm tội là của cơ quan điều tra, việc chối tội là bản chất đương nhiên của tội phạm. Không thể vì sự ngoan cố của bị cáo mà tuyên án gấp 3 lần mức án phải chịu. Pháp luật có khoan hồng về trường hợp thành khẩn, ăn năn,  dao động trong những điều luật cụ thểm thường không quá 1/5 mức án dự định.

 Nhưng đã đến 3/4 thì phải xem lại bản án tuyên ra của nhà nước ấy có đúng hay không.? Nhất là với loại tội phạm được kêu là âm mưu lật đồ nhà nước đó.

 Trước đó ở vụ án Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức, tương tự như vụ án này. Mức án của Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định cách nhau cũng 9 năm. Những người hiểu luật chắc hẳn biết rằng nếu so hành vi thì không thể nào Trần Huỳnh Duy Thức cách xa Lê Công Định từng ấy năm tù. Nhưng do thái độ trước tòa nhận tội và không nhận tội dẫn đến anh Thức hơn anh Định những 9 năm tù.

 Đến hai lần giết người của trung tá Nguyễn Văn Ninh cũng chưa đến 9 năm tù.

Chúng ta nghĩ sao chỉ một lời nhận tội, xin hứa ăn năn mà giá trị bằng hai lần án tù giết người.?

Phải chăng cả Trần Huỳnh Duy Thức và Hồ Đức Hòa đang phải chịu những bản án không công bằng  vì phiên tòa được xử bằng cảm tính của người chủ tọa và thái độ của bị cáo.?

Pháp luật đã không khoan dung cho người tù  Nguyễn Hữu Cầu, người tù già nua đã 34 năm trong trại giam. Người tù  mắt mù, tai điếc, tuổi cao, sức yếu chỉ còn thoi thóp. Pháp luật đã không khoan dung cho tù nhân Trương Văn Sương tuổi 70 mang trọng bệnh, khiến Trương Văn Sương phải chết rũ vì bệnh hiểm nghèo trong nhà tù khi thọ án 30 năm. Những ông già gần đất xa trời , tai không nghe rõ, mắt không nhìn thấy gì. Những ông già như họ làm gì mà nổi chế độ này sau mấy chục năm giam hãm, cách biệt với xã hội. Sự nguy hiểm cho họ với xã hội này còn ở cái gì nữa mà không nhân đạo với họ.

Pháp luật không khoan dung, vì chưa bắt được họ mở mồm nhận tội và xin tha thứ. Vậy tính khoan hồng của pháp luật nhà nước này có hay không.?

Tính khoan hồng vẫn có trong pháp luật, nhưng ở những vụ khác.

Những vụ công an đánh chết người như Nguyễn Văn Ninh hưởng 4 năm tù giam , quá trình tù ăn năn hối cải, đã có đóng góp cho nhà nước xét thấy tuổi cao đặc xá, giảm án về trước thời hạn.

Pháp luật cũng thương đồng chí chủ tịch Hà Giang Nguyễn Trường Tô trong vụ mua dâm trẻ em.

Pháp luật hương quan chức đòi hối lộ 500 triệu không phải là do âm mưu, toan tính mà do rối loạn cảm xúc. Tương tự pháp luật cũng nhân đạo thế với chiến sĩ công an hiếp dân ở Hải Phòng vì rối loạn cảm xúc tình dục.

Nhưng dù báo chí chỉ trích ông già Linh Mục  Nguyễn Văn Lý là hoang tưởng, tâm thần. Tuổi cao , sức yếu , bệnh trọng ..tòa án chẳng  tính chuyện Linh Mục Tadeo Nguyễn Văn Lý có bị rối loạn cảm xúc nào như báo chí nói ầm ĩ kia.

Pháp luật khoan hồng cho đại gia Kinh Bắc trốn thuế hàng chục tỷ, nhưng sẵn sàng bắt bỏ tù Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Hải vì vài trăm triệu. Nhất là họ sẵn sàng nộp thuế trước khi vụ án khởi tố như Nguyễn Văn Hải cũng không được. Cả hai người này đều có mẫu số chung nữa là từng nhiều lần biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo của Việt Nam.

Pháp luật là giá trị, thước đo của một xã hội. Khi pháp luật đã bị tùy tiện một cách phụ thuộc cảm tính như vậy thì quan hệ xã hội cũng diễn ra theo cảm tính, bản năng là điều tất nhiên.

Một xã hội hành xử với nhau theo cảm tính có lẽ là đúng nhất với những gì diễn ra thực tế ngày nay mà chúng ta đang thấy. Xã hội vợ giết chồng, chồng giết vợ, mẹ giết con, cháu giết bà, cha hiếp con, người ở nhờ giết người cưu mang cho mình ở nhờ....  cũng phù hợp với quy luật nhân quả của nền hành pháp như vậy.

 Cho nên đừng tưởng xử những vụ án bất công là reo rắc được nỗi sợ hãi cho người khác. Thể hiện cái quyền lực bất chấp mọi pháp luật của mình. Làm như thế chuốc cái mối họa lâu dài về một xã hội mất niềm tin vào chế độ, mất phương hướng vào pháp luật. Là tự mình đang dẫm dần lên thân xác mình.

Khi nào tự dẫm đến cổ mình rồi. Lúc ấy mới biết rõ thế lực thù địch chính xác nhất. 


FACEBOOK TRẦN QUANG ĐỨC
Trần Quang Đức

Lịch sử đĩ Việt Nam chưa ai viết. Nhưng chắc chắn, cái nghề lấy ''lỗ'' làm lãi này là một trong những nghề cơ bản, lâu đời, chưa bao giờ bị cấm tuyệt, dù ở bất cứ nơi nào. Đĩ thời Lý Trần, hiện chưa có tư liệu đề cập. Riêng thời Lê, đĩ tập trung ở kinh thành, "chỗ nào cũng có", đặc biệt quanh quân doanh. Riêng giai đoạn cuối Lê do có quá nhiều binh lính mắc bệnh giang mai nên triều đình buộc phải "lùng bắt đĩ khắp các phố phường, cạo đầu, phạt trượng rồi đuổi đi" (1). Theo mô tả của Lê Thánh Tông (?), đĩ Lê sơ giọng ẽo ợt, ra vẻ thanh tao, khi gặp nhân tình thì như ''mèo thấy mỡ'', ''xụt xịt rằng tôi thương tôi nhớ'', "bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi" (2) v.v. Năm 1501, vua Lê Hiến Tông hạ lệnh cấm các quan theo hầu không được mang đĩ đi cùng, bừa bãi tình dục (3). Bước vào thời Nguyễn, triều đình Việt áp dụng luật nhà Minh, phạt 60 trượng đối với quan lại và con em nhà quan qua đêm với đĩ (4). Có điều, luật này chỉ áp dụng với quan và con quan hưởng tập ấm, không có hình phạt nào áp dụng lên những kẻ mua dâm, bán dâm. Trái lại, Nghị định ấn định các thứ thuế thành phố được phép thu trong Hà Nội ban hành ngày 15/3/1892, có quy định "bán thẻ cho gái mại dâm" (5). Như vậy, rõ ràng nghề đĩ đã được công khai, hợp pháp từ thời Lê Nguyễn, và chẳng có can hệ gì tới cái gọi là ''thuần phong mỹ tục''.

Nhân tiện nói đến mỹ tục và truyền thống, tôi muốn lưu ý rằng, việc đề cao trinh tiết bất quá chỉ được đẩy mạnh vào thời Nguyễn, và được repeat đến phát ngán vào thời đại ngày nay mà thôi. Đối với phụ nữ miền Bắc, vẫn theo Sơn cư tạp thuật, "tục nước ta đối với việc phòng thân của đàn bà rất là sơ lược, đã hở người lộ mặt, lại còn cùng con trai chung đường chung giếng, giẫm cỏ xem trò, lại còn cùng con trai kề vai chạm lưng, đến khi có người mai mối thì phần nhiều đã mất trinh rồi." (6) Trong cuốn "Lịch sử tự nhiên, dân sự, chính trị Đàng Ngoài", Richard cho biết những người phụ nữ bình dân có quyền tự do đi chơi và chăm lo những công việc bên ngoài, thường bị coi là dễ dãi. Họ có thể buông thả, quan hệ với người ngoại quốc, và tự do kết hôn. Trong khi những người vợ của các viên quan lại và những người phụ nữ đặc biệt khác thì bị quản lý chặt chẽ gần giống như những người phụ nữ Trung Hoa. Còn đối với phụ nữ miền trong, John Barrow mô tả phụ nữ Nam Hà vào những năm 1792 - 1793, được phép tự do quan hệ tình dục, ngay cả con gái quan lại cũng từng có nhiều cô quan hệ với Tây để kiếm ít lợi lạc (7). Vài chục năm sau, vua Minh Mạng nhận định, "dân phong tập thói kiêu sa, dâm đãng", "đám đàn bà Gia Định rất dâm đãng", "bọn đàn bà dâm đãng, phóng túng, cư xử của chúng thật quá kinh tởm. Bọn đàn ông vốn đã chơi bời phóng đãng thì sao có thể đòi hỏi tiết hạnh của đám vợ ?" (8) 

Tóm lại, qua phần khảo cố gắng bó gọn hết mức này, tôi kiến nghị:
1. Hợp pháp hóa mại dâm. 
2. Giải phóng phụ nữ. 
3. Thay vì rao giảng đạo đức, truyền thống, hãy giải phóng thế hệ sau ra khỏi nhà tù tư tưởng mà thế hệ này tự huyễn hoặc!


(1) Sơn cư tạp thuật - Nữ lư. 
(2) Thập giới cô hồn quốc ngữ văn - Giới hoa nương.
(3) Đại Việt sử ký toàn thư.
(4) Hoàng Việt luật lệ - Hình luật tạp ký.
(5) Recueil de la législation en vigueur en An Nam et au Tonkin (Vựng tập văn bản pháp quy hiện hành ở Trung kỳ và Bắc kỳ).
(6) Sơn cư tạp thuật - Nữ đương cẩn nghiêm. 
(7) Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793.
(8) Minh Mệnh chính yếu. 


BLOG VĂN CÔNG HÙNG 

Ngày xưa cũng có chuyện trộm chó chứ không phải không. Nhưng nó chỉ là đơn lẻ, là vào ngày mưa gió nào đó, mấy bợm nhậu ngồi hút thuốc vặt, nhạt mồm bèn vẽ ra, và thế là nhắm một chú cầy nào đó trong làng, có khi là của chính một chú trong nhóm, vấn đề là giấu được vợ và con. Cái trò trời mưa, bày ra một con chó, vụng vụng trộm trộm, thui rơm ướt khói um lên nó lại thơm mới lạ. Rồi ngả vào lá chuối, rồi riềng mẻ mắm tôm, rồi lèn vào nồi, một nồi thôi, lom đom lửa, rồi ngồi chờ, rồi… thôi không tả nữa kẻo không quay lại được chủ đề chính mất…
----------


Con Bin nhà tôi đã bị bắt trộm

Thời gian gần đây khắp trong nam ngoài bắc rộ lên chuyện bắt trộm chó. Mới nghe thì có vẻ là chuyện nhỏ, nhưng đi sâu vào tìm hiểu thì nó không còn là chuyện nhỏ nữa.

Đầu tiên là việc xảy ra các vụ án mạng, thậm chí là án mạng man rợ, như đánh chết người đi bắt trộm chó, không chỉ đánh chết một người mà đánh chết hai người, đánh xong còn thiêu xác, đốt xe... gây náo loạn xã hội.

Hình ảnh những đám đông hàng ngàn người phẫn nộ vây đánh những kẻ trộm chó đến thừa sống thiếu chết, và thực tế thì đã rất nhiều vụ… thừa chết diễn ra, mà không chỉ chết một người, đánh chết đến hai người. Đánh xong không cho xe chở đi cấp cứu… đã diễn ra liên tục trên đất nước ta ngày càng dồn dập, ngày càng tàn bạo hơn, khiến xã hội cũng phân hóa, người rùng mình kinh sợ, kẻ hớn hở cho chừa.

Nhưng ngược lại, chuyện tên trộm chó quay lại bắn chết một chủ chó là cán bộ văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cũng gây sốc khủng khiếp. Nhiều chủ chó khác bị chúng đánh khi giằng cho lại không cho chúng cướp, nhiều người đang dắt chó đi dạo, chúng ào tới bắt… nó sinh ra một lớp người, khá đông đấy, sức dài vai rộng, chẳng làm gì chỉ đi... bắt trộm chó về bán cho các quán thịt chó, lâu ngày thành dân trộm chuyên nghiệp, rất thiện nghệ, tự chế ra các loại dụng cụ chuyên biệt rất hữu hiệu. Không chỉ thế, họ còn luôn luôn mang vũ khí trong người, sắn sàng tấn công người vây bắt, ít nhất là ném bột ớt vào mắt, liều lĩnh hơn là dừng xe và tay bo với chủ chó. Có trường hợp bắt chó xong, mang về nhà cất rồi chúng quay lại gây sự với chủ nhà vì bị chửi. Tự nhiên trong xã hội sinh ra một loại người lao động chuyên nghiệp- và khá giàu- bằng cách đợi người khác nuôi chó đủ lớn thì đến bắt mang bán lấy tiền sinh sống, thậm chí mua nhà mua xe…

Hiện tượng này rõ ràng không còn là chuyện nhỏ.

Chó là loại vật rất khôn, mến chủ, trung thành và thân thiện với người nuôi. Nếu ở nước ngoài chó nuôi chủ yếu để làm cảnh, thì ở Việt Nam, chó ngoài cái sự làm bạn với chủ nó còn giúp chủ được rất nhiều việc. Trước hết là trông nhà. Với đặc điểm của nông thôn Việt Nam, việc nuôi chó giữ nhà là đương nhiên. Xưa kia chó còn có nhiệm vụ dọn vệ sinh cho… em bé. Ngoài ra nó chính là nguồn thực phẩm dồi dào, hoặc là khoản tiền trông vào để lo các việc lớn trong nhà vân vân… Có ra đến đảo Trường Sa mới thấy chó và chủ quyến luyến nhau thế nào. Ở đây chó còn là chiến sĩ cảnh giới, cùng với bộ đội bảo vệ đảo, tức là bảo vệ Tổ Quốc.

Ngày xưa cũng có chuyện trộm chó chứ không phải không. Nhưng nó chỉ là đơn lẻ, là vào ngày mưa gió nào đó, mấy bợm nhậu ngồi hút thuốc vặt, nhạt mồm bèn vẽ ra, và thế là nhắm một chú cầy nào đó trong làng, có khi là của chính một chú trong nhóm, vấn đề là giấu được vợ và con. Cái trò trời mưa, bày ra một con chó, vụng vụng trộm trộm, thui rơm ướt khói um lên nó lại thơm mới lạ. Rồi ngả vào lá chuối, rồi riềng mẻ mắm tôm, rồi lèn vào nồi, một nồi thôi, lom đom lửa, rồi ngồi chờ, rồi… thôi không tả nữa kẻo không quay lại được chủ đề chính mất…

Đến giờ, bắt trộm chó đã là một công nghệ, có dây chuyền, có tổ chức, có trau dồi nghề nghiệp, có “tập huấn” đàng hoàng… thì vấn đề đã khác.

Nó không chỉ là bắt ăn chơi, bắt giải quyết khúc ngặt nghèo, mà nó là một nghề hẳn hoi, nghề bắt trộm chó, sống hẳn hoi bằng nghề ấy, có phương tiện hành nghề, có kho cất giấu, có đầu mối tiêu thụ, có cả đầu nậu, các bố già đứng sau lưng…

Thế mà nếu bị bắt, thường thì những kẻ trộm chó chỉ bị phạt hành chính mấy trăm ngàn…

Nhà tôi đã từng bị mất một con chó. Chó Nhật nhưng lai nên nó khá lớn. Và vì bỏ ra hàng tuần đi tìm nó để chuộc (mà không được) nên mới hiểu cái “sự nghiệp” trộm chó nó hoành tráng đến mức nào.

Lần mò, được người ta chỉ cho vào nhà một đầu nậu, được dẫn chui xuống một cái hầm xi măng xây ngầm dưới đất. Dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn quả ớt, hàng trăm con chó các loại ngổn ngang trong ấy. Lạ là tịnh không một tiếng sủa hoặc tru, chỉ khe khẽ tiếng rên như là chúng sắp biết trước kết cục. Không thể tìm được con chó của mình trong cái mớ hỗn độn ấy dù tôi đã gọi nó khá thảm thiết. Chắc nó đang run rẩy ở một căn hầm khác của một chủ khác…

Kỷ cương phép nước bị xem thường cũng từ đây. Ăn cắp cái xe đạp là bị lên đồn công an ngay, thế mà ở đây, đêm này qua tháng khác, thậm chí ngày này qua ngày khác, chúng bắt trộm (và cả công khai như cướp) hàng chục tấn chó mà không việc gì, nếu bị bắt thì cũng chỉ phạt hành chính qua loa. Mà một con chó bây giờ đâu phải ít tiền. Chó mà ở thành phố thì phần lớn là trên triệu bạc cả, thậm chí lên hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu, chúng khôn và thân thiết với chủ như con cái trong nhà, được tắm hàng ngày, nước hoa quần áo như người, tiêm các loại thuốc phòng dịch, cả nhà bồng bế, hôn hít, cưng chiều, khi bị mất người ta xót tiền thì ít mà thương và nhớ chúng là chủ yếu, vì chúng đã trở thành một thành viên trong gia đình. Có gia đình cả nhà mất ăn mất ngủ khóc lóc cả tháng trời vật vờ đi tìm chó để chuộc. Ở nông thôn, ngoài là bầu bạn, chó còn là nguồn dinh dưỡng khi nhà có việc, và là món tiền lớn khi cần chi tiêu, có nhà khi con đi học đại học đã phải bán hai con chó cho con có tiền nhập học. Thế mà chúng đang tâm bắt trộm và nhơn nhơn tồn tại một cách công khai.

Chúng tôi mới chứng kiến một vụ bắt- phải gọi đúng là cướp- chó giữa ban ngày. Ấy là một gia đình công chức đi làm nhốt chó trong nhà. Khi bà chủ về, vừa mở cổng, con chó Phốc chừng chục cân, rất khôn- có cả dây xích vừa thò đầu ra mừng chủ thì như từ dưới đất chui lên, một chiếc xe máy ào tới, tên ngồi sau nhấc bổng con chó lên trước sự sững sờ chứng kiến của cả chục người. Sau đấy là cả nhà bỏ cơm trưa đi tìm xin chuộc. Nhờ chủ mấy quán thịt chó quen cùng đi, đến đâu cũng bảo: Chả tìm được đâu, bây giờ bọn bắt trộm đã thả nó xuống hầm rồi. Không ai được vào đấy, kể cả các chủ quán thịt chó. Hỏi các ông có biết cái nhà bắt chó ấy không, họ ngần ngừ có vẻ như biết nhưng không dám nói, nhưng họ biết chắc chắn những người chuyên bắt trộm chó xây những cái hầm rất lớn để chứa chó bắt trộm, sau đó mới phân loại và các chủ quán thịt chó trong thành phố đến đấy mua hoặc chúng mang đến từng quán bỏ mối.

Thực ra hỏi kỹ thì những người chuyên bắt trộm chó này cũng dễ nhận biết, nhất là các xóm trưởng (ở nông thôn) tổ trưởng dân phố và công anh khu vực (ở thành phố), nhưng tại sao mà chúng vẫn nhơn nhơn thì chịu không giải thích được. Cũng có lý do là khung hình phạt của loại tội này không đáng để chúng sợ, nhưng rõ ràng là uy lực của chính quyền và công an khu vực không làm chúng nể. Tại sao không kêu lên liên tục dằn mặt răn đe. Thậm chí là bêu tên chúng lên các phương tiện thông tin đại chúng. Chúng tôi biết ở một số khu dân cư, đặc biệt là ở các khu tập thể quân đội, khi bắt được bọn trộm chó, người ta không thèm báo chính quyền nữa, mà tự xử, và trong thực tế, nếu theo dõi báo chí, thì những vụ án đau lòng từ những vụ trộm chó vẫn xảy ra liên tục, kẻ đi ăn trộm thì chết không toàn thây, người bắt và đánh chúng chết hoặc bị thương thì đi tù. Hệ lụy xã hội rất lớn. Nếu chúng ta kiên quyết giải quyết xử lý từ cơ sở thì may ra những thảm cảnh đau lòng trên sẽ giảm, và xã hội sẽ bớt đi những chuyện buồn, những chuyện đáng xấu hổ từ cái nghề đáng xấu hổ này.

Có thêm một sự thật nữa, là các vụ đánh chết kẻ trộm càng nhiều càng dã man, thì số người tham gia vào đội quân trộm chó càng nhiều. Việc đánh chết người trộm chó rõ ràng là tội ác không thể chấp nhận, nhưng cũng có thể lý giải, là bởi sự căm tức đã lên đến đỉnh điểm, là bởi chính quyền không có khung hình phạt đủ răn đe, thậm chí là bất lực, và còn bởi tâm lý đám đông. Nhưng chứng kiến những vụ bị đánh chết kinh hoàng thế mà bọn trộm chó vẫn không sợ, vẫn ngày càng đông đảo thì rõ ràng là phải xem xét lại từ gốc vấn đề. Chắc chắn là hàng xóm rồi chính quyền sở tại không thể không biết lai lịch gốc tích những kẻ trộm chó, thế mà rồi cứ im lặng để cho tội ác liên tục diễn ra, để rồi những vụ lộn xộn làm tan tác cả những làng quê yên tĩnh, làm bao gia đình lâm vào đường cùng, người chết kẻ di tù, để hậu quả đau lòng của trộm chó vẫn tiếp diễn và chúng ta toàn đi giải quyết phần ngọn.

Thế nên chuyện con chó, tưởng nhỏ mà không nhỏ nữa…     

Nguyễn Hoàng Đức - KHUÔN MẶT CỦA NHÀ NƯỚC VÔ LUẬT PHÁP QUA CỬA KHẨU


Nguyễn Hoàng Đức

(Đối thoại với nhà nước Bất hợp hiến của độc đảng Việt Nam)

Tôi Nguyễn Hoàng Đức, nhà văn, nhà lý luận phê bình, và nhà nghiên cứu triết học đã xin được visa của Đại sứ quán Italia, và mua vé đi Roma qua đường trung chuyển Băng Cốc. Lý do đi là do thư mời của Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình dự lễ phong Chân phước và hiển thánh của Tôi tớ Chúa Hồng y Phanxico Savie Nguyễn Văn Thuận vào ngày 5 và 6 tháng bảy 2013.


Lúc 18.50, ngày 2/7/2013, tại cửa khẩu sân bay Nội Bài, trước khi tôi làm thủ tục vé, cô nhân viên Việt thuộc hãng hàng không Thái có nói với tôi “anh phải sang gặp công an trước đã”. Tôi đi về phía bên phải cách đó hơn 20m, vào đồn công an cửa khẩu. Được thượng tá Phạm Tiến Dũng đồn phó thông báo cho biết:
 “Anh Đức không được phép xuất cảnh. Nếu có khiếu nại gì thì về cục Quản lý xuất nhập cảnh tại 44 – 46 phố Trần Phú để làm việc”.

Tôi đề nghị cho biết lý do? Đồn phó nói: “Lý do anh sẽ biết ở địa chỉ trên”.

Tôi đề nghị việc cấm tôi xuất cảnh phải được thực hiện bằng văn bản.

Hơn một giờ chờ đợi, tôi được mời làm việc cùng với ông Dũng đồn phó và ông Hoàng Dương cán bộ cục QLXNC. Cuối biên bản trình bày sự việc bị cấm thông quan. Tôi đặt câu hỏi:
“Tôi muốn biết lý do tại sao tôi bị cấm xuất cảnh. Các anh cho biết ngay tại đây thì tốt”.

Ông Dũng đồn phó nói: “Lý do, Cục QLXNC cũng không cho chúng tôi biết”. Sau đó ông Dũng nói, vì việc anh muốn sự việc nặng nề thêm, nên tôi đành tạm thu hộ chiếu của anh. Có làm biên bản và mời tôi đến Cục làm việc.

Sáng nay, theo lịch hẹn, tôi đến 44-46 Cục QLXNC, có gặp một trung tá Lương Đình Khang phó trưởng phòng, và một thiếu tá Đinh Việt Dũng. Họ trả lại tôi hộ chiếu và hỏi yêu cầu của tôi.

Tôi nói: “Tôi phản đối các ông. Các ông là cơ quan thay mặt cho một nhà nước. Lẽ ra một chính thể thì phải đàng hoàng, vậy mà các ông ách tôi lại không có lý do. Các ông không coi quyền của dân ra gì. Người Việt nói ‘Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan’, các anh mang phù phiệu quân hàm vậy mà đánh chặn nhân dân chẳng cần đưa ra một lý do gì, thì có khác gì cướp ngày?”

Hai cán bộ đề nghị tôi viết đơn đàng hoàng. Tôi đã viết

“Đơn kiến nghị và phản đối”, nội dung đại ý (tôi nhớ không nguyên văn):
-         Tôi phản đối việc cấm tôi xuất cảnh không rõ lý do. Việc làm đó không minh bạch đàng hoàng và chà đạp lên quyền công dân của người dân, đặc biệt với người trí thức như tôi. Ngay lúc này tại đây (cục QLXNC ) tôi cũng không được biết rõ lý do).

Khi về tôi nói “tôi buồn phải làm công dân Việt Nam, nơi bị chà đạp thô bạo về dân quyền. Chính quyền muốn làm gì thì làm, dù oan ức đến đâu người dân đều phải chấp nhận.

Hai cán bộ hẹn mồm với tôi sẽ trả lời qua thư, nhưng chẳng rõ khi nào, tôi không hy vọng, vì tôi hiểu những gì hứa hẹn mồm của chính quyền Việt cộng.

Qua đây tôi muốn đối thoại.

Tại sao người Việt lại bảo “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”?
Cướp thì nó phải rình mò, ẩn nấp, xuất kỳ bất ý, tấn công bất ngờ làm người ta không kịp trở tay. Nhưng cơ quan nhà nước thì có chính danh, có quân hàm, quân hiệu và con dấu tại sao phải làm những điều không rõ ràng? Trả lời: Vì người ta muốn ám toán làm điều không minh bạch!

Pháp luật là Nhà nước! Triết gia Hegel giải thích thế cho dễ hiểu, bởi vì pháp luật không thể của làng, của sắc tộc hay bộ lạc. Nhà nước sinh ra là bởi dân – cho dân – vì dân. Muốn thế nhà nước đó phải có pháp luật để bảo vệ người tốt, tấn công kẻ ác. Một nhà nước có pháp luật mạnh là nhà nước càng cai trị ít càng tốt. Theo lý thuyết tiến bộ hiện đại nhất là : nhà nước không cai trị mà chỉ dịch vụ giúp người dân sống. Người ta cần cấp giấy phép mua nhà, ô tô hay thông quan, anh hãy làm dịch vụ đó.

Nhà nước có quyền lực như công an, quân đội, phòng vệ là để làm cho pháp luật mạnh hơn, từ đó bảo vệ cái tốt đẹp hiệu quả hơn. Làm quan, dù bé hay to chẳng có gì khó cả vì đó chỉ là những người giữ con dấu, đóng dấu cho người ta thông quan. Như người Việt hát:
Việc ký là việc của tao
Còn việc trách nhiệm tao trao cho mày
Đi Tầu, đi Pháp đi tây
Nâng cao kiến thức việc này của tao
Lên rừng xuống biển gian lao
Tao cân nhắc kỹ tao giao cho mày

Nhưng nói chung làm quan là rất oai so với cách sống của người Việt cũng như người Tầu. Cả hệ thống nhà nước, công an, quân đội trong tay làm sao không oai? Hẳn là rất oai! Nhưng oai để làm gì nếu không thu được lộc? Thế là người ta ngăn sông, cấm chợ, chặn cửa để thu tiền mãi lộ. Quyền càng lớn thì càng phi lý. Ngược lại càng phi lý thì mới càng quyền lớn.

Kẻ chặn cửa người ta, hỏi lý do, “không nói” và “không rõ”, có khác gì bảo: “Bố mày có quyền trong tay, bố làm gì chẳng được, không biết đường ngoan ngoãn sẵn lực lượng và còng tay đây, bố cho vào tù, xem chân lý với sự thật có thắng không?”

Vì có quyền là có tất cả, nên người Việt theo đuôi người Tầu thích quyền lắm, đá cầu như Cao Cầu cũng bò lên tể tướng, rồi muôn vạn kẻ mua bằng chức cũng đòi làm quan… Nhưng nhà nước khi phục vụ lý tưởng mang tính hiến pháp thì nó còn cao đẹp, còn nếu chỉ theo đuổi nhóm lợi ích để đắp vào mình thì đó chỉ là phường giá áo túi cơm. Nhà nước cao đẹp mang hình ảnh của hiến pháp. Nhà nước mưu lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích chỉ giống đám chặn cửa trấn lột ngày.

Đôi mắt luôn ở cao hơn cái mồm. Đôi mắt nhìn ra chân trời, lý tưởng. Còn cái mồm không thể ăn tới chân trời mà chỉ ăn quẩn ăn quanh. Làm chính trị lý tưởng cao đẹp như đôi mắt vậy. Còn làm chính trị ăn quẩn thì chỉ là cái miệng thôi.

Cái đầu cao hơn gót chân, đó cũng là hình ảnh của lãnh đạo và kẻ thấp hèn. Cái đầu thì đội vương miện cao quí nhưng không có mùi thức ăn. Còn cái chân, cái tay thì gần gũi với sờ soạng giường chiếu dục vọng. Người làm lãnh đạo mà không biết lấy niềm vui của vương miện làm hạnh phúc, chỉ cúi xuống ngụp lặn với lợi ích nhóm, tiền bạc, vật chất chỉ là thứ chân tay vũ phu mà thôi. Liệu cái cách quản lý chính quyền kiểu cơ bắp nói lấy được, làm cho xong, không cần lý giải của nhà nước lấy nghị quyết của đảng thay thế hiến pháp, đánh chặn, bắt bớ, cầm tù người ta vô tội vạ không đếm xỉa đến bất cứ đều luật nào, thì có phải chỉ là lãnh đạo bạo lực của tay chân không? Và oai để làm gì khi đem dép dục vọng lợi ích đội lên đầu làm vương miện?

Mong rằng bao giờ người dân Việt Nam được sống trong chính thể biết sống và làm việc theo hiến pháp, và tôn trọng pháp luật! Sống trong luật rừng thì người dân thành nạn nhân bị hà hiếp, còn chính phủ có tên gọi nào hơn ngoài “thổ phỉ”?!
NHĐ   4/7/2013
Tác giả gửi cho NTT blog


Kami - Chính phủ minh bạch phải tiến hành cải tổ Nội các


Kami

Hôm Chủ nhật, 30/6/2013, trên báo VnExprees có bài "Bộ trưởng mất chức vì gạo Thái đắt hơn gạo Việt". Theo bài báo cho biết, Thủ tướng Thái Lan hôm nay cách chức Bộ trưởng Thương mại do một chính sách của ông này khiến giá gạo của Thái Lan cao hơn so với Việt Nam và Ấn Độ, dẫn đến việc Thái Lan mất danh hiệu "nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới". Đây là một bình luận không đúng và thiếu cơ sở, xin được phép nói lại cho chính xác.


Trong những ngày cuối tháng 6.2013 oi bức, không khí chính trị Thái Lan lại bị hâm nóng lên bởi hàng loạt sự kiện lớn, khiến chính trường chao đảo. Áp lực dồn dập đến với Chính phủ từ tứ bề, tới mức Chủ tịch Quốc hội Thái Lan phải lên tiếng trấn an rằng không có chuyện giải tán Quốc hội để tổ chức bầu cử sớm. Và trước đó ít lâu có tin đồn sẽ có đảo chính quân sự. Trong bối cảnh tình hình bất ổn định ở Miền Nam Thái lan gia tăng hơn bao giờ hết, khi phiến quân đang triển khai kế hoạch giành quyền kiểm soát gần 1.000 làng thuộc ba tỉnh miền Nam Thái lan, với các cuộc đánh bom thường nhật trong lúc việc tìm ra giải pháp hòa bình cho khu vực này càng ngày càng lâm vào bế tắc.

Giữa lúc Chính phủ của bà Yingluck Sinawatra còn chưa thoát ra khỏi vụ bê bối trong việc thu mua lúa của nông dân, đây là một trong những chính sách tranh cử quyết định sự thắng cử của đảng cầm quyền, với mục đích cải thiện đời sống cho người nông dân Thái lan, là lực lượng cử tri chiếm đa số. Vấn đề này, ngoài việc đã gây thất thoát cho ngân sách 4,5 tỷ USD trong hai năm, mà còn kèm theo nhiều dấu hiệu biểu hiện sự trục lợi tham nhũng có hệ thống. Trước áp lực mạnh mẽ của dư luận, Chính phủ Thái đã buộc phải quyết định giảm giá thu mua lúa của nông dân từ 15 ngàn baht/tấn xuốn còn 12 ngàn baht/tấn, điều này đã khiến cho nông dân Thái lan nổi giận. Đồng thời họ đã ra tối hậu thư cho Chính phủ, nếu không giữ giá thu mua ở mức 15 ngàn baht/tấn như Cương lĩnh tranh cử, thì họ sẽ tổ chức biểu tình lớn. Tin cuối cùng cho biết, Chính phủ của bà Yingluck Shinnawatra đã chấp nhận duy trì giá thu mua lúa ở mức 15.00 baht/tấn cho đến hết tháng 10.2013, là thời điểm kết thúc vụ mùa.

Chưa hết, cùng lúc đó quyết định của Tòa án Hành chính Thái lan yêu cầu Chính phủ dừng ngay việc triển khai dự án Quy hoạch nguồn nước với giá trị hơn 10 tỷ USD để thăm dò ý kiến của nhân dân và đánh giá việc ảnh hưởng của dự án đối với việc bảo vệ môi trường. Việc này sẽ liên quan đến việc đảng Dân chủ của cựu Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva, đảng đối lập tuyên bố sẽ đề nghị Tòa Án Hiến pháp xem xét việc cách chức đối với bà Thủ tướng Yingluck Sinawatra và Hội đồng Chính phủ vì đã có những sai phạm mà theo họ là vi phạm Hiến pháp và không thể tha thứ. Trong những ngày cuối tháng 6.2013, theo công bố kết quả của các tổ chức thăm dò dư luận ở Thái lan cho biết tỷ lệ người dân không hài lòng với chính sách thu mua lúa lên tới trên 80%, với việc giải quyết tình trạng bất ổn ở miền Nam Thái lan trên 60%.... Đứng trước bối cảnh đó, lối thoát duy nhất của bà Yingluck Sinawatra có lợi là tiến hành cải tổ Nội các nhằm giảm nhẹ búa rìu của dư luận và giải pháp trì hoãn tạm thời trước khi đẩy Chính phủ Thái lan đối mặt với các thách thức nặng nề hơn.

Đó chính là lý do vì sao bà Thủ tướng Yingluck Sinawatra đã tiến hành cải tổ sâu, rộng và lớn nhất trong năm lần cải tổ nội các sau 2 năm cầm quyền. Thậm chí thay cả Phó Thủ tướng phụ trách nội an và Bộ trưởng Quốc phòng và hàng loạt các Bộ, thứ trưởng khác. Và đặc biệt bà Thủ tướng đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là lần đầu tiên có một nữ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là dân sự đầu tiên trong lịch sử Thái lan. Sự thất bại của chính sách thu mua lúa của nông dân với giá cao là một trong những chính sách tranh cử quyết định sự thắng cử của đảng cầm quyền. Cho dù họ biết sẽ thất bại, nhưng để mua chuộc cử tri để dồn phiếu bầu cho họ họ sẵn sàng chấp nhận trò chơi đánh bạc. Nếu thất bại thì đảng cầm quyền sẽ bị điều tra theo tội danh lọc lừa cử tri và sẽ bị Tòa án Hiến pháp phán xét. Nhưng nếu họ chứng minh được sai sót trên là các yếu tố khách quan mang lại, ví dụ giá lúa gạo trên thị trường thế giới giảm thì họ sẽ thoát tội.

Qua sự việc trên để thấy, trong một xã hội tự do dân chủ, khi quyền lực nhà nước ra đời từ là phiếu bầu của các cử tri, thì sự ủng hộ của quần chúng nhân dân hay vai trò của các cử tri luôn được các đảng chính trị tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Khẩu hiệu "Nhà nước của dân, do dân và vì dân" mới thực sự có ý nghĩa, điều đó sẽ khác hoàn toàn với những gì chúng ta thấy ở Việt nam.

Ví dụ, trong bài "Chi phí làm đường cao tốc VN đắt hơn châu Âu" báo Tuổi trẻ cho biết Bộ Xây dựng vừa gửi văn bản đến Bộ GTVT, Bộ Kế hoạch - đầu tư, Bộ Tài chính lấy ý kiến góp ý về suất đầu tư các dự án đường bộ cao tốc. Bộ Xây dựng cho biết trên cơ sở báo cáo của Bộ GTVT (tổng hợp 13 dự án xây dựng đường cao tốc), sau khi quy đổi giá về thời điểm quý 2-2012 cho thấy suất vốn đầu tư bình quân cho 1km toàn tuyến đường cao tốc (bao gồm cả cầu và đường) khoảng 15,91 triệu USD/km (đường bốn làn xe), khoảng 23,1 triệu USD/km (đường sáu làn xe) và biến động rất lớn giữa các tuyến đường do đi qua các vùng miền có điều kiện địa chất, địa hình khác nhau. Theo đó, suất đầu tư các dự án cao tốc ở VN cao hơn của Trung Quốc 1,4 lần với đường bốn làn xe và hơn 1,74 lần với đường sáu làn xe; cao hơn các nước châu Âu (Đức, Bồ Đào Nha, Áo) 1,63 lần với đường sáu làn xe. Trong khi đó, các dự án xây dựng đường cao tốc tại VN thường có chiều dài không lớn (chủ yếu dưới 100km). Chắc chắn chất lượng đường xá ở Việt nam thì thua xa đường xá ở châu Âu, vậy không hiểu vì lý do gì mà chi phí làm đường cao tốc VN đắt hơn châu Âu? Chênh lệch đó đi đâu và rơi vào túi của ai?

Trong vấn đề này, giữa Việt nam và Thái lan có một điểm chung là tiền đầu tư đều từ tiền thuế của người dân, song việc kiểm tra, kiểm soát theo dõi hiệu quả đầu tư nói riêng và hoạt động của bộ máy nhà nước thì hoàn toàn khác nhau. Ở Thái lan nếu chính phủ hoạt động không công khai, minh bạch thì người dân có quyền phản đối và sẽ không lựa chọn đảng cầm quyền trong các lần bầu cử sau. Còn ở Việt nam thì ra sao?  Xin được nhường câu trả lời cho các bạn. Cứ xem sự đổ bể của hàng loạt cái Vina, quả đấm thép của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm tiêu tan trên 200.000 tỷ, vậy mà Nội các của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại, như không có điều gì xảy ra.

Trong việc quản lý nhà nước, thiết chế Dân chủ chưa phải là tốt nhất, nhưng nó là thiết chế ưu việt nhất trong thời điểm hiện tại. Mà bí quyết quyết định sự thành công của nó là luôn luôn minh bạch, công khai và có một hệ thống kiểm tra để điều chỉnh các sai sót ngay lập tức. Đó chính là lý do vì sao Chủ nghĩa Tư bản "giãy" mãi mà không chết.

Qua đó để thấy, chắc chắn cái thiết chế đó nó ưu việt và hơn hẳn chế độ độc tài toàn trị như ở Việt nam hiện nay, khi mà người dân luôn được vỗ về bằng câu "Đã có đảng và nhà nước lo". Và hậu quả là đất nước ngày càng xác xơ, đời sống nhân dân ngày càng xơ xác, nhưng các đầy tớ nhân dân thì ngày càng mập ú về cả thân xác lẫn khối tài sản.

Ngày 01 tháng 07 năm 2013

© Kami


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - Một Tấm Gương Sáng Cho Thế Hệ Sau


 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

Sứ mệnh cao cả của nhà báo là kiếm tìm sự thật. Sự thật ấy phải được phản ánh đạt tính chân thật, tức là “đúng hiện thực khách quan”. Và sự thật ấy phải được soi dọi bằng lương tâm chức nghiệp. Tôi nhớ người Nga có một câu ngạn ngữ vô cùng chí lí: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật đã là sự giả dối!”


-Ngọc Niên, Tổng Biên Tập trang Nhà Báo & Công Luận – Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam
Cái gì chớ “nửa cái bánh mì” thì tui ăn đều đều, còn “nửa sự thực” thì tới bữa rồi mới được thưởng thức qua một bài viết (Người đàn bà tặng hơn 5.000 lượng vàng cho cách mạng) của nhà báo Hoàng Thuỳ, trên trang Tin Nhanh Việt Nam:

“Hơn 90% số tiền buôn vải được vợ chồng bà Hồ dùng để ủng hộ cách mạng. Có khi trong nhà không sẵn tiền mà đúng lúc cách mạng cần, bà sẵn sàng bán phá giá vải để gom đủ tiền đưa cho cán bộ.

Ở tuổi 97, bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn giữ nét đẹp của người phụ nữ Hà Nội gốc: Gương mặt phúc hậu, nước da trắng, giọng nói ấm áp và thái độ điềm đạm. Trong ngôi nhà số 34 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi bà sống cùng hai con trai, hai chiếc huân chương độc lập hạng nhất được đặt nơi trang trọng nhất. Bà cho hay, đó là phần thưởng cao quý mà nhà nước dành tặng người chồng quá cố Trịnh Văn Bô và bà vì những đóng góp to lớn cho cách mạng.
Giữ giọng chậm rãi, bà Hồ kể, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của bà trước kia là tiệm vải Phúc Lợi, thuộc loại lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ.

Có điều kiện dư dả, hai ông bà thường xuyên làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Thấy vậy, cán bộ Việt Minh đã đến nhà vận động ông bà đi theo cách mạng. Việt Minh khó khăn, không có tiền ra báo, bà đã ủng hộ 8 vạn rưỡi tiền Đông Dương. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang cũng được chọn làm trụ sở hoạt động của cách mạng.

Bà Hồ cho biết, thân sinh ra bà là cụ Hoàng Đạo Phương và Nguyễn Thị Lợi cũng như thân sinh của chồng bà, cụ Trịnh Phúc Lợi, đều là những nhà Nho yêu nước, từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Tất cả đều đỗ đạt mà không ai làm quan. Cụ Phương khi gần 80 tuổi đã gọi các con lại nói rằng: "Ta đã già mà chưa làm trọn việc nước, sau này con nào có điều kiện giúp nước thì hãy làm thay ta".
"Lời căn dặn của cha tôi luôn khắc ghi trong lòng. Và khi có điều kiện là tôi giúp nước ngay mà không hề suy nghĩ", bà Hồ tâm sự.

Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang được xây theo kiểu nhà ống cổ, gồm 4 tầng. Tầng một là cửa hàng vải Phúc Lợi nổi tiếng khắp vùng. Khách đến mua đông đúc, xung quanh lại tấp nập người qua lại nên được chọn làm nơi ở cho Bác Hồ cùng những nhà lãnh đạo cách mạng từ chiến khu trở về.
Bà Hồ nhớ, vào một buổi tối cuối tháng 8 năm 1945, ông Nguyễn Lương Bằng đến nhà bảo vợ chồng bà thu xếp một phòng đón cán bộ cách mạng đến ở. Ông bà dọn một phòng tầng 3 tươm tất để đón khách. Tuy nhiên, người khách mới đến lại dọn xuống tầng 2 để ở cùng mọi người cho tiện.

"Ấn tượng đầu tiên của tôi về người khách mới là sự giản dị. Ông cụ hơi gầy, vầng trán cao, râu dài, tóc bạc. Cụ mặc áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ, đi dép cao su hiệu con hổ trắng, tay cầm can. Để đảm bảo bí mật, chúng tôi nói với gia nhân rằng họ là người nhà ở dưới quê lên chơi và tất cả đều không được lên tầng 2 làm phiền", bà Hồ nhớ lại.
33 ngày Bác ở nhà bà (từ 24/8 đến 27/9), bà đều trực tiếp chỉ đạo nhà bếp nấu ăn phục vụ Người. Sau đó, hai vợ chồng bà thay nhau bê lên. Vào 9h hằng ngày, bà thường bê cháo và hoa quả lên cho Bác. Một hôm bà đang định quay gót thì Bác hỏi "Cô tên gì?". Sau khi bà trả lời, Bác lại nói "Cô còn trẻ mà đã có cơ đồ sự nghiệp, có chồng con, tiền bạc. Cô chẳng có gì khổ cả".
Nghe vậy bà Hồ khẳng khái nói: "Cháu vẫn có một điều khổ, đó là nỗi nhục mất nước". Bác cười: "Vậy thì kiên trì và nhẫn nại nhé!" 

Ông bà Trịnh Văn Bô. Ảnh: Xuân Ba

Sau khi “cách mạng” thành công, ông Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước thì bà Hoàng Thị Minh Hồ lại lâm vào cảnh ... mất nhà. Đó là nửa phần sự thực còn lại của câu chuyện mà nhà báo Hoàng Thuỳ đã không kể kết, hay nói một cách không mấy lịch sự là ông ấy “nhất định dấu biến đi cứ y như là mèo dấu cứt” vậy. Phần nửa sự thực này mới được công luận biết đến qua một tác phẩm mới (Bên Thắng Cuộc) của một nhà báo khác, Huy Đức:

“Năm 1954 từ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”

Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas.

Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con.

Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều.

Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được.

Sở dĩ tôi loay hoay gần tiếng đồng hồ để ráp hai bài báo (thượng dẫn) với nhau vì bên dưới bài của tác giả Hoàng Thùy có vị độc giả, qúi danh là Lê Tùng,  đã cảm khái ghi lại dòng chữ phản hồi như sau: “Đọc bài viết, tôi cảm phục gia đình bác quá. Đó là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng cháu.”

“Thế hệ trẻ chúng cháu” cần một tấm gương, chứ không phải là một mảnh gương đã bị đẽo gọt bởi những ông nhà báo bất lương, và bất trí  – cỡ như ông Hoàng Thùy hoặc Ngọc Niên, thuộc Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam (*). Mồm miệng họ thì lúc nào cũng xoen xoét nói đến “sự thực” và “lương tâm chức nghiệp” mà suốt đời cầm bút luôn chỉ viết phân nửa sự thực thôi.

T.N.T

(*) Xin đọc thêm phóng sự “Đi Tìm Sự Thật Về Nhà Thờ Của Gia Đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Ở Kiên Giang” của Ngọc Niên, trên trang Nhà Báo & Công Luận, hôm 28 tháng 12 năm 2012.


Viết Từ Sài Gòn - Tinh thần của một cuộc nổi dậy


Viết Từ Sài Gòn

Trong nửa giờ đồng hồ, trong lúc các giám thị đang ngồi chễm chệ xem những trại nhân nhễ nhại mồ hôi, những con người bị bỏ đói và bị đánh đập tranh nhau quả bóng làm trò vui cho các quản giáo, bất ngờ, một cuộc nổi dậy đồng loạt và có tính toán của trại nhân đã khiến cho giới chức, cán bộ công an phải tá hỏa, giật mình.


Một cuộc nổi dậy có tổ chức, có tính toán và có hệ thống khoa học chứ không đơn thuần là một cuộc nổi dậy mang tính bản năng để đòi khẩu phần ăn như các đài, báo trong nước loan tin.

Vì sao lại nói đây là cuộc nổi dậy có hệ thống, có tổ chức và không mang tính bản năng?

Có lẽ phải nhìn lại lịch sử trại giam của chế độ Cộng sản Việt nam, một lịch sử đầy máu và vết đen bởi kiểu giam giữ dựa trên tinh thần áp đặt và đòn tra tấn, biệt giam, thậm chí thủ tiêu.

Chính vì cách quản lý tù nhân, trại nhân như thế này đã đẩy các tù nhân, trại nhân đến một lựa chọn duy nhất: sống hay là chết.

Nếu muốn sống thì phải tuân phục, phải im lặng và cắm cúi làm việc chờ ngày mãn hạn, nếu ngược lại, có thể bị đánh chết, bị thủ tiêu bất kì giờ nào.

Mạng sống con người trong các trại cải tạo, nhà tù còn bé hơn cả con kiến, con ong, dù có bị bỏ đói, có bị cắt xén phần ăn hay bị đánh đập, cách duy nhất để tồn tại là nghiến răng chịu đựng và duy trì sự sống để trở về (đương nhiên, không ít người khi về đến nhà, sống được vài tháng rồi cũng chết vì quá trình đói khát, ủ bệnh nơi nhà giam, trại cải tạo).

Và, một điểm đặc biệt khác giữa nhà tù Cộng sản với nhà tù Tư bản là: Với nhà tù Cộng sản, chớ dại mà đòi quyền lợi dù rằng quyền lợi đó rất nhỏ. Với nhà tù tư bản, quyền lợi tù nhân dường như không cần phải quan tâm nữa, họ chỉ quan tâm đến vấn đề ngày tháng để được tự do bay nhảy ngoài cuộc sống.

Đó là một thực tế. Và đó cũng là lý do vì sao mọi tù nhân ở Việt Nam thời Cộng sản đều không dám đề xuất bất kỳ một yêu cầu nào, dù là rất nhỏ, họ sợ bị cán bộ chú ý, bị cán bộ thù vặt. Mà cái thù vặt của cán bộ quản lý lại tương đương với một mạng sống tù nhân.

Mãi cho đến một, hai tháng trở lại đây, đùng đùng xuất hiện một Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực suốt gần một tháng trời, để rồi hàng loạt các bạn bè ở hải ngoại và trong nước cùng đồng hành tuyệt thực bày tỏ thái độ ủng hộ ông.

Kết quả, nhà cầm quyền phải nhượng bộ, nghe theo yêu cầu của TS luật Cù Huy Hà Vũ. Điều đáng nói là sau vụ tuyệt thực của TS luật Vũ, có nhiều tù nhân, trại nhân bắt đầu tuyệt thực để đòi quyền trong nhà tù, nhà cầm quyền buộc phải xem xét lại vấn đề và nhượng bộ.

Có thể nói rằng sự kiện TS Vũ tuyệt thực là một cú châm ngòi kích hoạt vào bầu nhiệt huyết và ý thức dân chủ vốn ngủ quên trong mỗi người, đặc biệt là những tù nhân, trại nhân, nơi bị xếp vào tầng đáy xã hội bởi sự đối đãi còn tệ hơn cả thú vật.

Và đương nhiên, lần nổi dậy ngày 30.6 của trại nhân phân khu 1, Xuân Lộc là một cuộc nổi dậy có tổ chức, có ý thức dân chủ và có tính toán.

Sở dĩ nói đây là cuộc nổi dậy có tổ chức vì chí ít, nó phải có cái lõi tư tưởng bên trong, có người khai thông tư tưởng cho các trại nhân để họ thấy rằng sống trong thế giới con người không phải thế, mặc dù là một tù nhân, nhưng không thể đối đãi với tù nhân như là đối đãi với súc vật như vậy.

Và, nói họ nổi dậy có tổ chức bởi hai dấu hiệu: Tính toán để bắt và khống chế giám đốc trại; Cách hành xử đối với giám đốc trại để thương thuyết.

Nói về sự tính toán của các trại nhân, có lẽ không cần bàn thêm, vì đối tượng bắt giữ để thương thuyết của họ là giám đốc trại. Và phải nhớ là trong trại Xuân Lộc có đến 3 phân khu, mỗi phân khu cách nhau hơn một ngàn mét, đó là tiêu chuẩn của nhà tù Cộng sản.

Mỗi phân khu có một phân khu trưởng, ba phân khu trưởng này quản lý điều hành phân khu của mình dưới sự chỉ đạo của giám đốc trại.

Và, trong trại, giám đốc giống như một hoàng đế, ngay cả những cán bộ cấp thấp cũng ít có cơ hội gặp ông ta chứ đừng nói gì đến tù nhân, trại nhân, ngoại trừ một số ngày đặc biệt như lễ Tết, đại xá, đặc xá, ông ta xuất hiện chiếu lệ rồi biến ngay tức khắc.

Nhưng, lần này, ông giám đốc trại đến ngồi ghế danh dự để xem bóng đá, xem những trại nhân (mà trên một nghĩa nào đó là vật nuôi của ông ta) tranh giành trái bóng, tranh giành giải thưởng (có lẽ là vài gói thuốc, vài lạng thịt hay lon bia, vật phẩm “cao quí” và xa xỉ không chừng!).

Không còn thời cơ nào để hành động tốt hơn thời cơ này, những tù nhân, trại nhân đã hành động đúng lúc, đúng địa điểm và họ thành công. Họ buộc viên thiếu tướng công an phải đích thân đến thương thuyết với họ.
Mặc cho hàng ngàn công an, hàng ngàn tay súng đang chĩa mũi súng, họ thản nhiên thương thuyết để đạt mục đích của mình, đó là bước tiến quá lớn cho các trại nhân, tù nhân Việt Nam thời Cộng sản!

Song hành với việc thương thuyết là việc bắt giữ giám đốc trại, không cần phải bàn luận gì về sự giận dữ của trại viên đối với kẻ chuyên ra lệnh tay chân bộ hạ đánh đập mình, và cũng không cần bàn thêm về cơn uất hận của họ đối với kẻ đầu sỏ cắt xén phần ăn, ép chế tù nhân, trại nhân.

Ban đầu, dư luận theo dõi xem ông giám đốc trại giam bị đánh đập ra sao, sống hay chết. Và một lần nữa, dư luận bất ngờ trước việc ông giám đốc nói rằng ông không hề bị xử tệ, không hề bị đánh đập, không những thế, ông còn được quyền thuyết phục, thương thuyết với trại nhân, tù nhân.

Điều này cho thấy các tù nhân, trại nhân đã rất tỉnh táo, hết sức tử tế đối với ông ta, nó cũng cho thấy việc bắt giữ này có tính toàn bài bản, có chiến thuật, chiến lược và có dự tính về kết quả.
Hay nói cách khác, bên trong cuộc nổi dậy này có một cái lõi tư tưởng. Nhưng để tìm ra nó, e không phải là dễ!
Với tinh thần như vậy, rất có thể, cuộc nổi dậy ở Xuân Lộc, Đồng Nai sẽ là bước khởi đầu, là cú châm ngòi mới cho hàng loạt các cuộc nổi dậy sau này.

Điều đó khó tránh khỏi, vì trong trạng huống đất nước hiện nay, mọi thứ đều mang tính bất công, và mọi sự bất công đều là nguyên nhân các cuộc nổi dậy!


Nguyễn Văn Tuấn - Giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng: sự thật đắng lòng


Nguyễn Văn Tuấn

Xin giới thiệu các bạn một bài tôi viết trong [nói theo kiểu thời thượng] bức xúc. Đó là vấn đề giá lúa và tầm ảnh hưởng của nó đến cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Câu chuyện giá lúa tôi biết được khi về thăm nhà vào cuối tháng 6 vừa qua. Nghe bà con trong làng nói chuyện giá lúa không bằng giá ốc bươu vàng tôi cứ tưởng họ nói chơi cho vui, chứ có ai ngờ đó là sự thật. Một sự thật đắng lòng. 


Tôi hứa với bà con là sẽ viết một bài để cho cả nước biết về tình trạng này. Hứa xong rồi loanh quanh với công việc nên … quên. Mãi đến khi đọc bản tin ông bộ trưởng thương mại Thái Lan bị cách chức, tôi mới nhớ lại và viết ngay. Tôi gửi cho mấy bác trong sgtt.vn vì họ đang có một loạt bài về nông dân và nông thôn. Hình như bài sẽ đăng trong số báo ra ngày hôm nay, nên bây giờ tôi có thể chia sẻ cùng các bạn cái sự thật đắng lòng đó. Viết bài này mà tay tôi cứ run run vì giận. 

*

Bộ trưởng thương mại Thái Lan, Boonsong Teriyapirom, bị Thủ tướng Yingluck Shinawatra cách chức, vì ông là tác giả của một chương trình nông nghiệp dẫn đến giá gạo Thái cao hơn giá gạo Ấn Độ và Việt Nam, và làm giảm lượng xuất khẩu của gạo Thái. Đọc bản tin này tôi không thể không nghĩ đến và ngậm ngùi cho thân phận của bà con nông dân ở quê tôi, nơi mà giá lúa đang bị hạ thấp đến độ vô lí, nhưng không ai chịu trách nhiệm. 

Quê tôi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đó là vùng đất được ví von là vựa lúa của Việt Nam, và có thể là một vựa lúa lớn trong vùng Đông Nam Á. Để có cái danh hiệu đó, người dân quê tôi phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời trên những cánh đồng. Suốt năm này sang năm khác, người nông dân ở đây phải đương đầu với rất nhiều thiên tai, thảm họa, và vì thế cuộc sống của họ càng ngày càng chật vật hơn. 

Vài năm trước, vùng ĐBSCL kinh qua một thảm nạn có tên là "ốc bươu vàng". Đó là loại ốc do ai đó vì lí do nào đó đã "du nhập" từ China hoặc Đài Loan về Việt Nam. Những con ốc sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt. Nhưng chúng cũng tàn phá ruộng lúa theo tốc độ cấp số nhân. Những cây lúa chưa kịp lớn đã bị chúng “cắt” ngang. Trong một thời gian dài, Nông dân quê tôi khốn đốn với chúng, nhìn lúa bị huỷ hoại mà không làm gì được. Có năm, như 2010, có hàng chục ngàn ha bị chúng phá sạch. Chẳng ai chịu trách nhiệm. Trong khi đó thì người dân phải tìm cách đối phó. Đến vài năm sau người ta mới tìm thấy "tác dụng" của ốc bươu vàng: làm thức ăn cho vịt. Thế là bà con nông dân, kể cả trẻ con, đi ruộng bắt ốc bươu vàng bán cho các trại nuôi vịt. Nhưng ốc bươu vàng được xem là thứ "rác rưởi", như cây cỏ, nên giá bán cũng rất thấp.

Nhưng điều trớ trêu ngày nay là ốc bươu vàng có giá trị hơn … lúa. Lần đầu tiên trong lịch sử, giá lúa rẻ hơn giá ốc bươu vàng! Khi nghe bà con chòm xóm bàn tán và so sánh một cách hài hước, tôi nghĩ họ chỉ nói đùa cho vui. Nhưng không, lúa ở quê tôi (và vùng ĐBSCL nói chung) có giá trị thấp hơn ốc bươu vàng. Đó là một thực tế. Một kílô ốc bưu vàng giá 15000 đồng. Ba kí lô lúa chỉ khoảng 10000-12000 đồng. Ba kílô lúa không bằng 1 kílô ốc bươu vàng. Tôi không biết có nơi nào mà người ta có thể ăn ốc bươu vàng thay cho gạo. Tôi cũng không biết có nơi nào trên thế giới mà giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng vốn được xem là một loại rác sinh học. 

Người nông dân quê tôi vốn nghèo nay càng nghèo hơn. Trước khi sạ lúa, bà con đã phải vay tiền (từ ngân hàng hay bạn bè, thân nhân) để mua phân bón, thuốc trừ sâu. Giá phân bón và thuốc trừ sâu lúc nào cũng gia tăng theo thời gian. Thành ra, bây giờ khi thu hoạch lúa xong, với cái giá bèo đó thì họ hoặc là lỗ hoặc là huề vốn. Có người sau một mùa vụ thì trắng tay vẫn hoàn trắng tay. Tình trạng này rất nhất quán với con số của Tổng cục Thống kê, rằng trong số những người nghèo nhất nước, 83% là nông dân. Đó là con số đáng báo động. 

Chính phủ có Nghị quyết “Về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” và “đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất.” Con số lời 30% có lẽ ru ngủ nhiều người và đẹp trên trang giấy, nhưng trong thực tế thì giá lúa tính chung giảm 30% từ năm 2011 đến 2012. Sở dĩ có tình trạng này là người nông dân bị ép giá khi mới thu hoạch. Nhưng vì phải thanh toán nợ nần nên họ đành phải bán lúa dưới giá sàn. Hậu quả là những con thương hưởng lợi. Thống kê cho thấy trong hai năm 2008-2009, Việt Nam xuất khẩu gần 11 triệu tấn gạo trị giá 5.5 tỉ USD, và tính trung bình giá xuất khẩu là 10,360 đồng một kílô. Trong khi đó giá mua thì chỉ 7000 đồng / kílô gạo. Như vậy, giá xuất khẩu và giá mua chênh lệch đến 3360 đồng mỗi kílô lúa! 

Ai là người hưởng lợi? Để trả lời câu hỏi này, có thể nhìn qua qui trình buôn bán lúa và xuất khẩu gạo. Xong mùa vụ, nông dân bán lúa cho các thương lái nhỏ (thường đi bằng ghe trên sông). Các thương lái nhỏ này bán cho thương lái lớn. Trong quá trình đó lúa có thể bị pha trộn và giảm chất lượng. Thêm vào đó là chính sách tạm trữ lúa gạo của Nhà nước vô hình chung tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mua lúa và tạm trữ. Các doanh nghiệp này, dù đã được hưởng lợi từ Nhà nước, chọn thời điểm để ép giá lúa, và hệ quả là người nông dân lãnh đủ. Đã có người đề cập đến “nhóm lợi ích nông nghiệp”, và đã đến lúc phải xác minh và nhận dạng nhóm này để thực thi Nghị quyết của Chính phủ. 

Với tình trạng như thế thì chẳng ai ngạc nhiên khi thấy cha mẹ "quyết không để con làm ruộng". Thu nhập của nông dân nếu tính ra còn thấp hơn thu nhập của công nhân trong các hãng xưởng. Do đó, không ai ngạc nhiên khi phụ nữ xếp hàng đi lấy chồng Tàu, Hàn (một số thì bị chết thảm), và vấn nạn này là một quốc nhục. Trong khi đó, nam thanh niên thì đi lang bạt làm thuê ở các khu kĩ nghệ khắp nước. Có nơi (như Thới Bình, Cà Mau) chỉ trong vòng 6 tháng có hàng ngàn thanh niên bỏ huyện đi làm ở các tỉnh khác. Ngày nay, đến mùa gặt lúa nông thôn rất khó tìm nhân công. Thêm vào đó là sự tăng trưởng dân số cộng với sự thiếu qui hoạch đã gây nên sức ép môi trường ghê gớm. Hệ quả là môi trường sống và môi trường canh tác càng ngày càng xấu đi một cách nghiêm trọng. Ở quê tôi, không ai dám tắm sông. Có thể nói không ngoa rằng nền tảng nông thôn vùng ĐBSCL đã và đang lung lay. 

Những người dân thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đưa Việt Nam thành một trong những nước xuất khẩu gạo và nông sản hàng đầu thế giới. Họ đã đóng góp và đem về cho ngân sách hàng tỉ USD mỗi năm. Ấy thế mà người dân vùng ĐBSCL bị thiệt thòi nhất nước. Đánh giá qua bất cứ chỉ tiêu nào (giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, đường xá, nhà ở, v.v.) ĐBSCL đứng hạng chót hay áp chót. Đối với người dân ở đây, câu nói ĐBSCL là “vùng đất trù phú” chỉ là huyền thoại và là một sỉ nhục. 

Một quan chức cao cấp thuộc vùng ĐBSCL từng giải thích sự sa sút của vùng đất lúa gạo này: “ĐBSCL ở xa trung ương quá, lâu lâu Bộ mới vào một lần. Trung ương mà không sớm thay đổi chánh sách, bỏ rơi thì miền Tây không thoát nghèo được”. Có lẽ chính vì “xa mặt trời” nên tình trạng lúa có giá trị thấp hơn ốc bươu vàng ở vùng ĐBSCL chẳng ai chú ý và chịu trách nhiệm. Người nông dân Thái được ông Bộ trưởng thương mại Boonsong Teriyapirom hỗ trợ về giá cả, và ông bị cách chức. Tôi nghĩ nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang cần một Boonsong Teriyapirom.
Nguyen Tuan Ah, thấy rồi, bài đã đăng ở đây: http://sgtt.vn/Goc-nhin/181132/Gia-lua-thap-hon-gia-oc-buou-vang-su-that-dang-long.html. Nhưng mấy bác ấy bỏ câu cuối . Tôi hiểu và thông cảm. Các bạn vào đó comment nhé. Nhớ comment ủng hộ nông dân (không phải ủng hộ tôi). Càng nhiều càng tốt.

Sài Gòn Tiếp Thị Online - Góc nhìn - Giá lúa thấp hơn giá ốc bươu vàng: sự thật đắng lòng
sgtt.vn

Góc nhìn


Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

RFA - Vợ TS Cù Huy Hà Vũ đến Hoa Kỳ


RFA

Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, vợ của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ - người đang bị giam giữ trong nhà tù ở Việt Nam với cáo buộc "tuyên truyền chống nhà nước" - đã đặt chân đến thủ đô Washington của Hoa Kỳ vào lúc 2 giờ 50 phút chiều thứ Tư 3 tháng 7-2013.


Trả lời Đài Á Châu Tự Do ngay khi đặt chân đến phi trường quốc tế Dulles, nữ Luật sư Dương Hà cho biết mục đích chuyến đi Mỹ lần này của bà là để thăm thân nhân gia đình.

Ra đón Bà Dương Hà tại phi trường là thân nhân bạn bè cùng một số đại diện truyền thông.

Video: LS Nguyễn Thị Dương Hà đặt chân xuống phi trường Dulles, thủ đô Washington Hoa Kỳ

Chuyến đi Mỹ của Luật sư Dương Hà diễn ra 2 tuần sau khi chồng bà là TS luật Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực liên tục 25 ngày trong tù ở Thanh Hóa để phản đối cách hành xử của nhà tù đối với ông, đồng thời đánh động công luận quốc tế về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Tưởng cũng xin được nhắc lại, là con trai của nhà thơ Cù Huy Cận – một công thần của chế độ, từng có lúc giữ đến chức Bộ trưởng Bộ Văn Hóa - ông Cù Huy Hà Vũ được nuôi dưỡng và lớn lên trong môi trường cách mạng.

Sau nhiều năm ra nước ngoài du học, đỗ đạt tiến sĩ và trở về nước; cùng với việc phục vụ trong các cơ quan nhà nước; Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã nhiều lần lên tiếng chỉ trích những chính sách sai lầm của đảng và nhà nước; đồng thời kêu gọi phát huy dân chủ để phát triển quốc gia.

Đến tháng 11-2010 ông bị công an bắt giam và khởi tố. Tại phiên tòa ở Hà Nội tháng 4-2011, TS Cù Huy Hà Vũ bị tuyên án 7 năm tù giam về tội chống chính quyền.

Đài Á Châu Tự Do sẽ tiếp tục cập nhật đến quý khán thỉnh giả các thông tin vê chuyến đi Mỹ của LS Nguyễn Thị Dương Hà, tại trang web của chúng tôi: www.rfatiengviet.net

Thân nhân, gia đình và bạn bè đón tiếp LS Dương Hà tại phi trường Dulles chiều 03/07/2013.

Giám đốc Ban Việt Ngữ RFA Nguyễn Khanh chào đón LS Nguyễn Thị Dương Hà tại phi trường Dulles.

LS Dương Hà trò chuyện với phóng viên Diễm Thi của RFA ngay sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ.


Trần Văn Huỳnh - Xuân Lộc, Xuyên Mộc và còn nơi nào khác nữa?


Trần Văn Huỳnh

Sau khi được tin tù nhân tại phân trại số 1, trại giam Xuân Lộc nổi dậy vào sáng chủ nhật 30/6/2013, cùng tin tức do các anh em tù chính trị nhắn về cho cháu Lê Thăng Long vào buổi trưa cùng ngày, gia đình tôi đã rất lo lắng cho tình hình của Thức và các anh em ở chung khu giam riêng với Thức. Vì vậy, ngay sáng thứ Hai hôm sau, gia đình đã tức tốc đi Xuân Lộc với mong muốn được gặp Thức và tìm hiểu hiện tình ở trại giam. Đồng thời, gia đình cũng liên lạc với người nhà các anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Võ Minh Trí (Việt Khang) và Nguyễn Ngọc Cường để thông báo về chuyến đi của gia đình.


Đến nơi, gia đình tôi trình diện tại chốt gác trước khi vào khu trại như thường lệ thì viên công an tại chốt bất ngờ bảo rằng gia đình hãy đến trại giam Xuyên Mộc vì Thức đã chuyển về đó. Tin đến đột ngột, thêm vào đó là sự hoang mang khi liên hệ việc chuyển trại này với sự kiện vừa diễn ra hôm trước đó, thế nên gia đình quyết định phải làm rõ ngọn nguồn vụ việc. Tuy nhiên, đề nghị trao đổi với quản lý phân trại K1 của gia đình chỉ nhận được câu trả lời rằng “cán bộ đã đi họp” từ viên công an tại chốt gác. Được một lúc thì viên công an này rời chốt đi đâu không rõ. Xung quanh đó có những người nhà phạm nhân đang chờ đến lượt được cho vào bên trong các phân trại K2, K3…, họ chứng kiến diễn biến từ đầu đến giờ nên khi thấy viên công an đi khuất thì lại gần hỏi thăm gia đình. Nghe chuyện về cuộc nổi dậy của anh em tù nhân khu K1 và việc Thức bị chuyển đi đường đột, bà con đồng tình với gia đình tôi và khuyến khích gia đình phải gặp quản lý phân trại để yêu cầu họ giải thích rõ lý do. Thế rồi một người trong số họ bảo gia đình cứ vào thẳng khu K1 mà không cần phê duyệt của viên công an chốt cổng, anh ta nói từ sáng đã có một số thân nhân làm như vậy. Nhận thấy chỉ còn cách này, vì vậy gia đình tôi đã đi bộ vào trong.

Trên con đường nhựa chừng 200m từ cổng trại dẫn vào nhà thăm gặp của khu K1, sáng hôm thứ Hai chợt xuất hiện nhiều tốp cảnh sát cơ động được bố trí la liệt. Xung quanh khu trại thi thoảng cũng có một số cảnh sát thuộc lực lượng này đi tuần qua lại. Vào đến nhà thăm gặp, gia đình tôi thử tiến hành thủ tục đăng ký thăm gặp như những lần trước thì một cảnh sát trại giam tên Thanh nói rằng không tiếp nhận sổ thăm gặp của gia đình vì Thức đã chuyển đi nơi khác theo quyết định của lãnh đạo và mời gia đình quay về. Không chấp nhận trước đề nghị vô lý đó mà không có một lời giải thích thấu đáo, gia đình tôi nhất định yêu cầu phía trại giam giải trình rõ nguyên do Thức bị chuyển đi bất ngờ, đồng thời khẳng định gia đình có quyền nghi ngờ việc chuyển đi này có liên quan đến vụ việc hôm chủ nhật nếu như không nhận được câu trả lời thỏa đáng từ phía trại giam. Cuối cùng, người công an tên Thanh bảo gia đình tôi ngồi chờ một chút trong khi anh ta liên lạc với cấp trên nhờ giải quyết. Chừng 15 phút sau thì một phó giám thị tên Tính xuất hiện rồi mời gia đình tôi sang chỗ riêng để tiếp chuyện. 

Mở đầu, vị phó giám thị này nói rằng tối hôm chủ nhật 30/6/2013, Thức cùng 4 tù nhân khác ở khu giam riêng gồm các anh Phan Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Cường, Huỳnh Anh Trí và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng đã chuyển về trại giam Xuyên Mộc. Khi gia đình tôi hỏi về lý do họ bị chuyển đi, vị cũng chỉ đưa ra câu trả lời tương tự cấp dưới tên Thanh của anh ta rằng đó là quyết định của lãnh đạo Tổng cục VIII và anh ta chỉ có trách nhiệm thi hành. Tuy nhiên, viên phó giám thị khẳng định việc Thức cùng 4 anh em tù nhân lương tâm khác bị chuyển đi không phải là một hình thức kỷ luật vi phạm và hoàn toàn không liên quan đến vụ việc hôm chủ nhật. Đến đây, gia đình muốn tìm hiểu về cuộc nổi dậy của các phạm nhân K1 sáng ngày 30/6 nên đặt câu hỏi thì anh ta lập tức phủ nhận từ ‘nổi dậy’ và nói rằng đó chỉ là “xích mích nhỏ giữa các phạm nhân khi chơi đá bóng” mà thôi. Trong khi trước đó, các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và Pháp Luật đều đưa tin sự việc do một số “phạm nhân quá khích kích động và cố tình gây rối”. Vì có sự khác biệt giữa hai thông tin trên nên gia đình đã nêu lên vấn đề này, nhưng đến đây viên phó giám thị tên Tính từ chối bình luận thêm. 

Kết thúc cuộc trao đổi, gia đình rời Xuân Lộc để đến trại Xuyên Mộc vào lúc 1h30 chiều cùng ngày. Nhưng đến 3h30 sau khi gia đình các phạm nhân khác đã ra về hết thì gia đình mới được bố trí để gặp Thức. Lúc này trong phòng thăm gặp chỉ còn mỗi gia đình tôi và Thức. Suốt 30 phút trò chuyện, luôn có 3 an ninh ngồi canh ở đầu góc phòng – trong đó có 1 người cầm súng - và 2 vị khác thường xuyên đi vòng quanh.

Nhìn Thức hốc hác trông thấy, nên gia đình hỏi thăm về sự việc hôm chủ nhật. Thức nói cả ngày hôm qua cho tới trưa hôm nay mới bỏ bụng một phần cơm trắng với canh không. Thức kể hôm 30/6 bạo động rất dữ dội, các tù nhân ở khu thường phạm đã cầm dao, gậy gộc tìm đến khu kỷ luật giải thoát cho các phạm nhân đang bị xiềng xích ở đó rồi di chuyển đến khu giam riêng nơi Thức cùng mấy anh em tù chính trị ở và phá rào, phá cửa xông vào. Họ đề nghị mấy anh em tù chính trị có hiểu biết về quyền con người giúp họ đứng ra thương lượng với các quản trại. Thức nói có dặn họ kiềm chế, không được gây thương tích cho người khác. Tuy nhiên, Thức chỉ kể được tới đó thì một an ninh trại Xuyên Mộc cắt ngang. Người này nói gia đình thăm gặp chỉ nên hỏi chuyện sức khỏe, sinh hoạt thường ngày của phạm nhân, đừng hỏi những việc không liên quan.

Sau đó, gia đình chuyển sang hỏi về chỗ ở mới của Thức ở Xuyên Mộc. Hiện tại, Thức đang ở trong một khu biệt lập cùng các anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Phan Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Cường, và Huỳnh Anh Trí. Ở khu biệt lập này, các buồng sát nhau tạo thành một dãy, trong đó anh Hùng và Tuấn giam chung một buồng, còn Thức và anh Cường, anh Trí mỗi người ở buồng riêng. Do bị chuyển đi vội vã trong đêm 30/6 nên Thức không biết được mấy anh em tù nhân lương tâm còn lại ở Xuân Lộc giờ ra sao. Khi được biết cháu Việt Khang và Trần Thanh Giang vẫn ở lại chỗ cũ, không bị đưa đi đâu khác thì Thức rất vui.

Đến 4h chiều, gia đình tôi chúc Thức giữ gìn sức khỏe rồi chia tay Thức ra về. Thức nhờ gia đình báo tin đến người nhà các anh Phan Ngọc Tuấn, Nguyễn Ngọc Cường và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng rằng họ đã chuyển đến nơi giam giữ mới an toàn.

Trong lúc chờ gặp viên phó giám thị tên Tính để trao đổi, gia đình tôi có tiếp xúc với một chị là mẹ của phạm nhân tên Nguyễn Hồng Thái trước đó bị giam tại khu K1 trại Xuân Lộc. Khi làm thủ tục đăng ký thăm gặp, chị được thông báo rằng con chị đã bị đưa đến nơi khác vì tham gia vào vụ việc hôm 30/6. Chị có hỏi con chị hiện đang ở trại giam nào nhưng các quản trại không cho biết. Dường như bắt đầu rơi vào tuyệt vọng, lúc này chị van nài họ bằng giọng run run thì chỉ nhận được lời sẵng giọng đáp trả và yêu cầu chị ra về. Nhìn người phụ nữ đã luống tuổi mắt đỏ hoe, liu xiu hai tay xách nặng bước lầm lũi trở ra mà không biết con mình giờ đang ở nơi đâu, thiết nghĩ còn bao nhiêu hoàn cảnh tương tự đang diễn ra ở các trại giam trên khắp cả nước? Giống như chị, gia đình tôi cũng không hề được thông báo trước về việc chuyển trại của Thức; tuy nhiên, may mắn hơn chị, đến cuối ngày gia đình đã tìm đến được cái ôm siết chặt và lời động viên của Thức – điều mà gia đình tôi sẽ đi đến tận cùng để có được. Nhưng sự may mắn này sẽ kéo dài đến lúc nào, sau khi anh Điếu Cày và chị Tạ Phong Tần đã đột ngột bị chuyển ra Bắc? Đó chính là nỗi lo lắng của gia đình tôi.

Sau sự việc tại trại giam Xuân Lộc vừa qua, dựa trên lời con tôi kể và các anh em tù nhân lương tâm tại đây, tôi tin rằng cuộc nổi dậy hôm 30/6 của các tù nhân thường phạm xuất phát từ yêu cầu trại giam đáp ứng các điều kiện sống chính đáng và đảm bảo quyền con người của họ. Dù là phạm nhân nhưng họ vẫn là con người với phẩm giá và các quyền cơ bản cần được tôn trọng bất kể tình trạng pháp lý. Vì vậy, tôi kêu gọi cộng đồng hãy lên tiếng để vụ việc tại trại giam Xuân Lộc được giải quyết công khai, minh bạch, công bằng và phù hợp với luật pháp quốc tế lẫn trong nước. Sức mạnh thực chất của xã hội dân sự chỉ tương đồng với khả năng danh nghĩa của nó khi mỗi người trong chúng ta nhận thức và hành động.

Trần Văn Huỳnh
Tác giả gửi trực tiếp cho DĐTK


Thanh Phương - Thế khó xử của châu Mỹ Latinh trong vụ Snowden


Thanh Phương
(RFI)

Đêm qua, 03/07/2013, tổng thống Bolivia Evo Morales cuối cùng đã đáp xuống sân bay La Paz, sau một chuyến bay « bão táp », trên đường từ Matxcơva về nước đã bị cấm bay qua không phận các nước Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và buộc phải đáp xuống Vienna chờ 13 tiếng đồng hồ.

Tổng thống Evo Morales hạ cánh an toàn xuống sân bay El Alto- La Paz tối ngày 3/7/2013 sau chuyến bay "bão táp" chỉ vì vụ Snowden. REUTERS/David Mercado

Sự kiện này đã gây phẫn nộ dư luận các nước châu Mỹ Latinh, nhưng nó cũng phản ánh tình thế khó xử các nước trong vùng, gần như không thể nào đón tiếp cựu tư vấn Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ Edward Snowden. Không chỉ các nước đồng minh của tổng thống Morales, mà nhiều nước khác ở châu Mỹ Latinh đã lên án hành động mà họ xem là « làm nhục », « xúc phạm », « thiếu tôn trọng », chỉ trích cả Hoa Kỳ lẫn châu Âu.

Hôm qua, tại La Paz, hàng trăm người biểu tình Bolivia đã đốt cờ Pháp và ném đá vào đại sứ quán Pháp, còn các dân biểu Quốc hội Bolivia thì yêu cầu trục xuất các đại sứ của Pháp, Ý và Bồ Đào Nha. Sở dĩ ông Morales không được bay ngang qua không phận bốn nước châu Âu nói trên là vì máy bay của ông bị nghi là lén chở theo Edward Snowden, người đang bị Hoa Kỳ truy nã vì đã tiết lộ chương trình của Mỹ bí mật theo dõi liên lạc thông tin toàn cầu. Từ tối hôm qua Bộ Ngoại giao Áo đã bác bỏ tin đồn đó.

Dầu sao, theo các nhà phân tích được hãng tin AFP trích dẫn hôm qua, rất khó mà Snowden có thể sang được châu Mỹ Latinh để tỵ nạn. Theo lời ông Michael Shifter, chủ tịch Đối thoại liên Mỹ, một trung tâm nghiên cứu và phân tích ở Washington, chính quyền những nước như Ecuador, Venezuela và Bolivia vẫn thường thách đố Hoa Kỳ, vì đó là cách để họ huy động công luận trong nước, thế nhưng không một nước nào dám cắt đứt hoàn toàn bang giao với Mỹ, lý do là vì cái giá phải trả, nhất là về mặt kinh tế, sẽ rất là đắt.

Ông Shifter đơn cử trường hợp của tổng thống Rafael Correa của Ecuador, quốc gia đầu tiên mà Snowden xin tỵ nạn. Ông Correa rất hay khiêu khích Hoa Kỳ, tự xem mình như là người kế thừa tổng thống Venezueal Hugo Chavez, nhưng lãnh đạo Ecuador cũng là một người rất thực dụng và quan tâm đến tình trạng kinh tế quốc gia, thành ra ông đang bị dằng co rất dữ.

Ngay chính Ngoại trưởng Ecuador Francisco Carrion cũng nhìn nhận rằng, « nếu máy bay chính thức của tổng thống một nước mà bị cấm bay qua không phận một quốc gia khác, thì làm sao Snowden có thể đến châu Mỹ Latinh được ? ». Trả lời AFP, ông Carrion tuyên bố : « Cho dù châu Mỹ Latinh vẫn có truyền thống đón tiếp tỵ nạn rất hào phóng, nhưng sẽ rất khó mà Snowden có thể đến được Ecuador ».

Về phần ông Patricio Navia, một học giả Chilê, thì ghi nhận rằng nhiều nước châu Mỹ Latinh đã tránh không bị lôi kéo vào vụ này. Hơn nữa, nếu một quốc gia nào bảo vệ một nhân vật đã từng tiết lộ bí mật các quốc gia khác, thì quốc gia đó sẽ có nguy cơ sau này cũng bị lộ thông tin mật. Trước mắt, máy bay chở tổng thống Morales đã gây tổn hại quan hệ giữa châu Mỹ Latinh với châu Âu, vốn bị cho là đang bị Hoa Kỳ gây áp lực trong hồ sơ Snowden.