Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Nguyễn Hưng Quốc - Sợ báo chí


Nguyễn Hưng Quốc

Trong một bài phỏng vấn đăng trên báo tamnhin.net ngày 23/6/2013, ông Lê Doãn Hợp, cựu Phó Ban tuyên huấn trung ương và cựu Bộ trưởng Văn hóa thông tin (sau đổi thành bộ Thông tin và Truyền thông), hiện đang làm Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, có một nhận định rất thú vị: “Riêng ở Việt Nam có một cái hay là hệ thống công quyền của chúng ta rất sợ báo chí. Một thiết chế mà quan sợ dân, sợ báo chí là một thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa.”


Đọc nhận định ấy, thấy hơi là lạ, tôi vào Google, thử gõ mấy chữ “chính phủ sợ báo chí” (hoặc “nhà báo”) (government fears journalist/journalism), tôi thấy hiện lên, trong phần kết quả, toàn những chuyện ngược lại: nhà báo sợ chính phủ. Ngoài những nước đang loạn lạc, nơi các nhà báo có thể dễ dàng bị mất mạng khi đang tác nghiệp, những địa điểm đáng sợ nhất là các xứ độc tài (kể cả Nga), ở đó các nhà báo thường bị bắt bớ, bỏ tù, đánh đập hoặc có khi bị giết chết khi lên tiếng tố cáo tham nhũng và lạm quyền. Theo báo cáo của Ủy ban bảo vệ ký giả (Committee to protect journalists), từ năm 1992 đến nay, trên thế giới có tổng cộng 982 nhà báo bị giết chết, trong đó nhiều nhất là các phóng viên báo in (30%), tiếp theo là phóng viên truyền thanh và truyền hình (24%). Số người chết vì bị lạc đạn ngay trên trận địa tương đối ít (19%), trong khi đó chết vì bị sát hại thì rất nhiều (68%). Ai giết họ?

Thủ phạm thuộc các nhóm tội phạm chiếm 13%, thuộc viên chức chính phủ chiếm 23% và thuộc các nhóm chính trị lên đến 30%. Hai mươi quốc gia được xem là nguy hiểm nhất đối với các ký giả là: 
  1. Iraq: 151
  2. Philippines: 73
  3. Algeria: 60
  4. Russia: 55
  5. Pakistan: 52
  6. Somalia: 50
  7. Colombia: 44 Syria: 38
  8. India: 29
  9. Mexico: 28
  10. Brazil: 27
  11. Afghanistan: 24
  12. Turkey: 21
  13. Bosnia: 19 Sri Lanka: 19
  14. Tajikistan: 17
  15. Rwanda: 17
  16. Sierra Leone: 16
  17. Bangladesh: 14
  18. Israel and the Occupied Palestinian Territory: 12  

(Con số sau tên mỗi nước là số nạn nhân bị giết chết.)

Việt Nam không loạn lạc nhưng lại độc tài. Theo bảng xếp hạng về tự do báo chí của tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporters without Borders), trong số 179 quốc gia được tính, hầu như năm nào Việt Nam cũng bị xếp gần chót (ví dụ: năm 2009, hạng 166; năm 2010 nhảy lên được một bậc, 165; từ năm 2011 đến 2013, lại tụt xuống hạng 172). Nói chung, hiện nay, Việt Nam chỉ tự do hơn vài nước: Trung Quốc, Iran, Somilia, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên và Eritrea).

Sống trong một đất nước không có tự do báo chí như thế, tất cả các nhà báo có chút tinh thần độc lập đều phập phồng lo sợ bị mất việc hoặc bị bắt bớ. Sợ, như lời thú nhận của Nguyễn Tuân và Nguyễn Minh Châu ngày trước, đến độ đâm ra hèn. Vậy mà ông Lê Doãn Hợp lại nói một điều ngược ngạo: chính phủ sợ báo chí.

Ông còn ngược ngạo hơn nữa khi nói thêm: Đó là một “thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa”. Dường như ông xem đó là một biểu hiện của dân chủ. Nhưng vấn đề là: ở tất cả các quốc gia dân chủ thực sự, chính phủ lại không sợ báo chí. Họ có thể e dè báo chí nhưng không sợ báo chí. Ở các nước dân chủ, tất cả các nguyên thủ quốc gia đều thường xuyên đối diện với báo chí, trả lời đủ mọi thứ chất vấn của báo chí, dưới hình thức họp báo hoặc xuất hiện trên các đài truyền hình và truyền thanh. Hầu như ngày nào cũng vậy. Có ngày nhiều lần. Từ sáng sớm đến tối mịt.

Sợ báo chí không phải là dấu hiệu của dân chủ.

Vậy tại sao chính phủ Việt Nam lại sợ báo chí?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản. Có mấy lý do chính:

Thứ nhất là sợ sự thật. Đã đành làm chính trị, nhất là ở vị trí lãnh đạo, bao giờ người ta cũng có rất nhiều điều muốn giấu giếm. Ở các quốc gia tự do cũng vậy thôi. Tuy nhiên, giữa các quốc gia dân chủ và Việt Nam có rất nhiều khác biệt: Một, trong khi ở các nước dân chủ, chỉ có một số bí mật; ở Việt Nam, hầu như mọi thứ đều là… bí mật. Hai, ở các quốc gia dân chủ, chính phủ bị khống chế bởi các đạo luật về minh bạch buộc họ phải cung cấp thông tin cho báo chí; ở Việt Nam, một sự đòi hỏi như thế cũng có thể bị xem là phạm pháp. Ba, khi một sự thật nào đó được phanh phui, ở các quốc gia dân chủ, giới lãnh đạo hoặc nhận lỗi hoặc cố gắng biện hộ; ở Việt Nam, kẻ phanh phui bị nhốt vào tù. Bốn, ở các nước dân chủ, người ta chỉ giấu giếm chứ không dối trá; ở Việt Nam, người ta có cả hai. Bởi vậy, ở đâu giới làm chính trị cũng sợ sự thật, nhưng sợ nhất vẫn là ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam.

Thứ hai là sợ phản biện. Ở các quốc gia dân chủ, trước khi ban hành một chính sách lớn nào đó, giới lãnh đạo bao giờ cũng đối đầu với vô số sự phản biện: từ phe đối lập, từ các nhóm lợi ích, từ giới truyền thông, từ Quốc Hội và từ dân chúng nói chung. Họ phải giải thích, tự bảo vệ, hơn nữa, cố gắng thuyết phục số đông. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo rất sợ đối đầu, dù là đối đầu một cách gián tiếp, qua báo chí. Với họ, phản biện đồng nghĩa với phản nghịch; và mọi hình thức phản nghịch, dù trong tư tưởng, cũng bị trấn áp.

Thứ ba là thiếu tự tin. Ở Mỹ, Tổng thống Obama bị tố cáo đủ thứ: giấy khai sinh giả, học bạ giả, tôn giáo giả…nhưng ông không hề bắt nhà báo nào bỏ tù hay đóng cửa bất cứ cơ quan truyền thông nào cả. Có việc ông chỉ cười khẩy; có việc ông đưa ra bằng chứng để mọi người biết những điều người ta tố cáo ông là bịa đặt. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo biết rõ là họ không đủ lý lẽ để thuyết phục người khác. Họ cũng biết, trên mặt trận tư tưởng, sức mạnh duy nhất của họ là ở chỗ cấm tranh luận. Chấp nhận tranh luận là thua. Nên họ sợ. Sợ vì thiếu tự tin.

Thứ tư là họ sợ tự do ngôn luận nói chung. Trên trang Phóng viên không biên giới, phần Việt Nam, bên cạnh bức ảnh của Nguyễn Phú Trọng, có mấy đoạn gọi là “Những ý nghĩ thầm của Nguyễn Phú Trọng” (Innermost thoughts of Nguyen Phu Trong), ở đó, người ta diễn tả các chủ trương và chính sách của Nguyễn Phú Trọng thành những suy nghĩ ở ngôi thứ nhất với giọng châm biếm rất thú vị - ít nhất cũng thú vị hơn câu nói của Lê Doãn Hợp ở trên. Tôi xin tạm dịch mấy đoạn ấy như sau:

“Tôi rất quen thuộc với truyền thông và báo chí bởi vì chính tôi cũng đã từng là nhà báo từ 1967 đến 1996 và sau đó, làm Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, tạp chí lý luận của đảng. Chức năng của truyền thông không phải là tuyên truyền chống lại nhà nước. Các nhà báo chỉ được tường thuật các sự kiện và không nên góp ý truyền bá hệ thống đa đảng trên các bài xã luận hay trên mạng. Các cơ quan truyền thông ngoại quốc như RFA, VOA và BBC đã nhanh nhảu phát đi những lời bình luận như thế đến người dân Việt Nam dưới lớp vỏ các tin tức và thông tin ‘độc lập’ ngoài sự đồng ý của chúng tôi.

Ở Việt Nam, các nhà báo có thể tác nghiệp chừng nào họ không phê phán đảng. Tháng 2 vừa rồi, nhà báo Nguyễn Đức Kiên đã vi phạm luật ấy trên tờ Gia Đình và Xã Hội nên đã bị đuổi việc. Không chịu hạn chế bài tường thuật trong nội dung bài diễn văn của tôi và (còn) phát biểu ý kiến về những gì tôi đã nói, nhà báo đã vi phạm đạo đức làm báo và cố tình gây bất ổn chính trị.

Tất cả những kẻ kêu gọi cải tổ trong mấy tháng vừa qua đều phạm tội phá hoại chính trị, ý thức hệ và đạo đức. Khi tôi nhậm chức, chủ nhiệm tờ báo đảng Nhân Dân cũng đã từng lên án những kẻ kêu gọi chủ nghĩa đa nguyên.

Một số người tiếp tục chuyển các thông tin và chính kiến nguy hiểm dưới hình thức nặc danh mặc dù tôi đã ra nghị quyết bắt các nhà báo phải tiết lộ nguồn tin và cấm sử dụng bút hiệu. Điều đó không làm tôi khỏi phải phạt cả thảy 100 năm tù giam cho các blogger và bọn bất đồng chính kiến trên mạng trong suốt 12 tháng vừa qua. Với 30 tên quặt quẹo trong nhà tù, tôi tin thành tích của tôi cao hơn hẳn vị tiền nhiệm Nông Đức Mạnh.”

Một kẻ như vậy mà sợ báo chí, kể cũng hơi lạ.

À, mà ở Việt Nam, cái gì mà không lạ nhỉ?


Lý Ðại Nguyên - Việc tái cân bằng chiến lược Hoa Kỳ buộc Bắc Kinh tạm hòa hoãn Biển Ðông

Lý Ðại Nguyên

Trước khi đi phó hội với khối Asean, Trungcộng đã triệu Trương Tấn Sang chủ tịch nhà nước Việtcộng sang Tàu, để đánh bóng tập đoàn Nhà Nước Việtnam, nhằm thực hiện cuộc Đàm Phán Song Phương, buộc Việtnam phải chấp nhận tách vấn đề quần đảo Hoàngsa mà Trungcộng đã chiếm ra khỏi mối quan hệ với các cuộc Đàm Phán Đa Phương về Biển Đông của khối Asean, và không được nhắc tới Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, để cho Trungcộng dễ dàng áp dụng Luật Biển riêng của họ đối với Việtnam, như đã áp dụng lấn chiếm ở vịnh Bắc Bộ trước đây. Trong khi đó, ngày 27/06/13, Vương Nghị, ngoại trưởng Trung Cộng đã nhắc lại lập trường của họ là “không thay đổi” và cảnh cáo “tìm kiếm hậu thuẫn của nước thứ ba để giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là việc làm vô ích; giải quyết đối đầu chỉ dẫn tới thất bại”. Trên trang nhất của tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trungcộng ngày 29/06/13 lên án Philippines vi phạm 7 tội tại vùng Biển Đông và cảnh báo: “Bắc Kinh sẽ trả đũa trong trường hợp Manila tiếp tục khiêu khích”.  Đồng thời chỉ trích Hiệp Hội các nước Đông Nam Á có thái độ đồng lõa với Philippines. Trungcộng cũng gay gắt lên án Philippines đã yêu cầu Mỹ can thiệp vào khu vực Á châu. Nhằm quốc tế hoá hồ sơ Biển Đông.


Hôm 29/06/2013, tại Brunei Darussalam, các nước ASEAN khai mạc hội nghị ngoại trưởng hàng năm lần thứ 46, cùng một loạt hoạt động ngoại giao. Hội Nghị Ngoại Trưởng lần này tập trung vào  Hai Chủ Đề Chính, thúc đẩy tiến trình Xây Dựng Cộng Đồng Kinh Tế ASEAN vào năm 2015 và Hồ Sơ Biển Đông. Theo ông Lê Lương Minh tổng thư ký ASEAN thì: “Các nước trong khối tập trung nỗ lực xây dựng một Cộng Đồng Năng Lực, Bền Vững vào năm 2015, đẩy mạnh phối hợp và hợp tác giữa ASEAN với các Đối Tác Đối Thoại, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chính trị và hợp tác hữu nghị”. Dịp này, ngoại trưởng Philippines, Alber Del Rosario lên tiếng chỉ trích Trung cộng gia tăng sự hiện diện của các tàu quân sự và phi quân sự được trang bị vũ khí tại khu vực Biển Đông. Đặc biệt là Phạm Bình Minh, ngoại trưởng Hànội, đã bất chấp ‘tình hữu nghị Việt Hoa, tuy không dám gọi thẳng tên Trungcộng ra, nhưng đã khẳng định trước Hội Nghị rằng: “Về vấn đề Biển Đông là mối quan tâm chung. Thời gian qua trên Biển Đông đã xẩy ra nhiều diễn biến phức tạp, nhất là các hành động áp đặt yêu sách càng ngày càng tăng và các việc tàu cá Việtnam bị bắn cháy, hoặc bị đâm trong khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việtnam. Điều này trái ngược với luật pháp quốc tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, cũng như tinh thần và nội dung của Tuyên Bố về Ứng Xử của các bên ở Biển Đông - DOC”.

Ngay sau cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, Trungcộng đã bị Philippines và Việtnam lên án việc quân sự hóa tranh giành và áp đặt yêu sách bất hợp pháp ở Biển Đông. Một cuộc họp cấp bộ trưởng giữa ASEAN và Trungcộng được tiến hành cùng ngày 30/06/13, Trungcộng đồng ý tổ chức các cuộc đàm phán chính thức với các nước Đông Nam Á về Bộ Quy Tắc Ứng Xử - COC, trong kế hoạch xoa dịu các căng thẳng ở Biển Đông. Ngoại trưởng Trungcộng, Vương Nghị và người đồng nhiệm Thái Lan, Surapong Tovichakchaikul loan báo tin này. Vương Nghị nói: “Trungquốc sẵn sàng làm việc với ASEAN, và giở bỏ bất cứ trở ngại nào hay sự can thiệp nào trong hợp tác đôi bên về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông CPC”. Trong thông cáo chung của cuộc họp bộ trưởng ngoại giao Asean và Trungcộng cam kết: “Hướng tới việc đạt được bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông trên cơ sở đồng thuận”. Trungquốc và Asean có quyết tâm và khả năng biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác”. Theo dự kiến, các bên sẽ thành lập một nhóm bao gồm các chuyên gia và những nhân vật có tiếng để hỗ trợ cho tiến trình này. Vào tháng 09/13, Trungcộng sẽ chủ trì cuộc họp của giới chức cao cấp các bên để chính thức thảo luận về COC. Hôm 01/07/13, phát biểu với ngoại trưởng các nước ASEAN, trước thềm diễn đàn khu vực, ngoại trưởng Mỹ, John Kerry khẳng định: “Hoakỳ rất quan tâm đến các tranh chấp tại Biển Đông được đề cập và ứng xử của các bên… Hoakỳ hy vọng sẽ thấy được những tiến bộ sớm đạt được với một bộ quy tắc ứng xử của các bên, nhằm giúp đảm bảo sự ổn định trong khu vực này”. Ông cũng nói đến quyền lợi của Mỹ trong khu vực, và vì vậy: “Hoakỳ cần phải duy trì hoà bình và ổn định, cũng như đảm bảo tự do hàng hải, thông thương trên Biển Đông”.

Thực ra, Trungcộng tuy hung hăng dùng sức mạnh vũ lực để đe dọa các nước trong vùng Biển Đông, nhưng nếu chiến tranh nổ ra giữa Trung cộng với Philippines, chắc chắn Mỹ phải can thiệp vì Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Phi vẫn còn hiệu lực. Lúc đó thủy lộ huyết mạnh Malacca bị phong toả. Nền kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên là Trungcộng, vì đó là con đường tiếp tế độc đạo trên biển của Trungcộng. Cũng chính vì tham vọng muốn con đường huyết mạch này của thế giới làm của riêng mình, nên Trung Hoa đã tự vạch ra đường Lưởi Bò Chín Đoạn, mưu định làm chủ trọn vẹn vùng Biển Đông. Nhưng nay, Hoakỳ đã quay trở lại Châu Á – Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, được gọi là xoay trục chiến lược, mang nội dung “Tái Cân Bằng” thế lực. Nghĩa là Trungcộng bành trướng thế lực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa… đến đâu, thì Hoakỳ cũng sẽ cân bằng thế lực đến đó. Tương tự như kế hoạch Domino thời Chiến Tranh Lạnh, buộc chính nước Mỹ và Liênxô phải chạy đua vũ trang cho tới khi một bên phải đứt hơi, và Liên Xô đứt hơi. 

Kế hoạch tái cân bằng lần này, thuộc loại Chiến Tranh Mềm, tự Mỹ đã có sẵn một nguồn vũ khí tối tân, khổng lồ, vô địch, vượt trội, luôn luôn phát triển, không còn bị đặt vào thế phải chạy đua vũ trang, mà buộc Trungcộng vào thế phải chạy theo vũ trang.  Trungcộng càng tăng cường tự thổi mình lên ngang tầm quân sự với Mỹ, càng hung hăng bành trướng xâm lấn các nước láng giềng, thì cả Trungcộng các nước chung quanh cũng phải gia tăng mua vũ khí của Mỹ, của Nga, của Âu châu. Thế nhưng kế hoạch Chiến Tranh Mềm này, không nhằm tiêu diệt đối phương, mà buộc đối phương phải biết điều, chấp nhận cuộc chơi sòng phẳng, hợp pháp, tôn trọng lẫn nhau, không gây hấn và bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Vì nếu, Trungcộng có gồng mình lên để chạy theo vũ trang, thì cũng lệ thuộc vào việc mua khí tài và vũ khí từ bên ngoài. Có lẽ Bắc Kinh đã nhận ra sự thật phũ phàng đó, nên ngoài miệng thì vẫn để cho báo đảng nói năng lung tung, nhưng trong thực tế đã phải tạm thời thoả hiệp với các nước Động Nam Á để thảo luận về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông, với âm mưu thực hiện cuộc Bành Trướng Mềm trong Nội Bộ từng Nước thuộc khối ASEAN, nếu các nước này không biết tự cứu bằng giải pháp Dân Chủ Hóa, để cùng gia nhập Hiệp Định Mậu Dịch Tự Do Xuyên Thái Bình Dương -TPP. Trước khi Trungcộng gia nhập TPP để thực hiện việc Xây Dựng Một Mô Hình Mới của Quan Hệ Nước Lớn giữa Mỹ và Tàu.

LÝ ĐẠI NGUYÊN – Ngày 02/07/2013.

Bùi Tín - Vài nét văn hóa thời thức tỉnh


Bùi Tín

Cuộc dấn thân cứu nước, bảo vệ lãnh thổ bất khả xâm phạm của Tổ quốc chống họa bành trướng, chống chế độ độc đoán giành lại quyền sống tự do của tòan dân đang mở rộng dần.


Một nền văn hóa dân tộc - dân chủ đang nảy nở, vừa là kết quả, vừa là động lực của cuộc sống mới.

Đã có những bài hát cổ vũ cuộc đấu tranh giành quyền công dân, đã có những bài thơ hừng hực khí thế chống bành trướng, chống độc đoán, đã có những châm ngôn mới, những luận văn lôi cuốn và đầy tính thuyết phục.

Xin kể ra đây một vài thí dụ để trao đổi và thưởng ngoạn với đông đảo bạn đọc.

Nhà văn Võ Thị Hảo từng nhận định rất chính xác: «Bộ máy tham nhũng và mafia quyền lực đang lũng đoạn trên mọi lãnh vực. Những kẻ cướp ngày đầy quyền lực đang lộng hành và không bị ngăn chặn, trừng trị. Tự do ngôn luận, tự do báo chí bị ngăn trở nghiêm trọng. Dân mất ý chí phản kháng và tự vệ, vì quá mệt mỏi và bị vô hiệu hóa, ru ngủ ».

Nghệ sỹ ưu tú Kim Chi, sau khi từ chối mọi phần thưởng, khen ngợi từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã làm những câu thơ cảm thán «Hỏi Trời»:

Nhiều người giàu có ngất trời
Nhiều người chưa được đổi đời là bao
Hỏi trời, trời ở quá cao
Hỏi đất, đất bị bới đào tứ tung
Có ai thấu cảnh này không?
Ai gây muôn sự hãi hùng cho dân? 

Sông hồ cạn kiệt chết dần
Ruộng đồng san lấp nhà tầng mọc lên
Sân gôn giăng khắp mọi miền
Dành cho những kẻ nhiều tiền khoe sang
Dân quê gạt lệ rời làng
Mất nghề ngày tháng lang thang phố phường
Đói ăn đâu thể đến trường
Đó đây bao cảnh nhiễu nhương cướp ngày
Mọt sâu kết lại thành bầy
Trời ơi, người bị đọa đầy mãi sao?!

Nhà thơ Bùi Chí Vịnh phẫn nộ ra «Tuyên ngôn của một người làm thơ - cựu chiến binh»:

… Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Khadafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn 
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Những lúc đường cùng, đừng năn nỉ tôi nghen!

Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sỹ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện, giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đ..
Quý vị phải làm như thế mới là quý vị
Vô cảm, vô lương, vô đạo đức, vô thần
Tôi, rách rưới như một thằng thi sỹ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân

Cũng nên nhắc lại vài câu thơ kêu gọi sự thức tỉnh của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên:

Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con người
Cha tôi, ông tôi bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không bóng mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị
… Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thể
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi ! 

Lại có những câu thơ đơn giản, dân dã, vô danh như những câu vè, hóm hỉnh dễ nhớ, cảnh cáo nghiêm khắc nhà cầm quyền mù quáng, ỷ vào các công cụ đàn áp trơ trẽn :

Đừng tưởng! Đừng tưởng cứ bịt là yên, cứ xử là án, cứ xiềng là giam!
Đừng tưởng cứ lặng là câm, cứ quan là cọp, cứ dân là cừu!
Đừng tưởng cứ cưỡi là trên, cứ phi là ngựa, cứ gâu là cầy!
Đừng tưởng cứ hát là hay, cứ ngon là bổ, cứ chay là thiền…
Đừng tưởng cứ chổng là mông, cứ trợn là mắt, cứ phùng là mang!
Đừng tưởng cứ đốn là quang, cứ che là kín, cứ xong là rồi!
Đừng tưởng cứ ưỡn là oai, cứ cùn là thắng, cứ quay là tròn!
Đừng tưởng cứ lỏi là khôn, cứ tham là bạo, cứ công là quyền!
Thế thời nhộn nhạo đảo điên, lụt bàn thờ chó leo lên pháp đình, 
Đừng mơ sấp mặt làm càn 
Giờ G - bạo chúa ngày tàn đã «boong!»

Các bạn trẻ trong nước cho biết đã sáng tạo lời mới cho bài hát «Diệt Phát Xít» của Nguyễn Đình Thi thành bài «Diệt Bán Nước», chỉ thay có hơn mười từ (ở trong ngoặc), như sau:

Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than, dưới ách quân tham tàn (đế quốc sài lang)bán nước hại dân; loài (phát xít) bán nước, chúng cướp (nước) đất, cướp đời sống dân mình; nào nhà tù nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình.

Đồng bào (tuốt gươm) quyết tâm vùng lên, đã đến ngày trả mối thù chung, diệt (phát xít) bán nước, diệt bày chó đê hèn của chúng, tiến lên nền dân chủ cộng hòa, dành lại áo cơm tự do. 

Dưới (bóng cờ đỏ ánh vàng sao) ánh cờ con cháu Rồng Tiên, vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái, quyết tiến lên, ta tiến lên quyết diệt quân thù;

Việt Nam, Việt Nam Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm! Việt Nam, Việt Nam muôn năm! 

Sẽ rất thú vị khi kết thúc bài này bằng 4 câu thơ của nhà thơ trẻ Mạc Thúy Hồng sớm dấn thân cho công cuộc dân chủ hóa của đất nước:

Đứng dậy đi! không còn gì để lựa
Đạp xích xiềng cho lửa bốc con tim
Đường tự do chúng ta phải tự tìm
Và dân chủ, nỗi niềm dân mong ước 

Qua một vài mẩu văn-thơ-nhạc vừa nêu, quả thật chúng ta đang chứng kiến một quá trình thức tỉnh của nhân dân, ngày càng nhận rõ cần phải giúp nhau đẩy lùi nỗi sợ cường quyền đàn áp dai dẳng, cùng nhau đứng dậy làm chủ vận mệnh dân tộc.


Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Lê Phan - Buồn lắm thay

Lê Phan

Mấy ngày nay tên tuổi của Viện Ðại Học Thammasat đã được nhắc nhiều liên quan đến Việt Nam. Số là viện đại học khá nổi tiếng này của Thái Lan đã quyết định cấp bằng tiến sĩ danh dự cho Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của đảng Cộng Sản Việt Nam.


Thực ra việc một viện đại học cấp bằng tiến sĩ danh dự cho một chính trị gia ngoại quốc là chuyện không có gì để làm to chuyện, dầu cho nhân vật đó có xứng đáng hay không. Riêng ở Thái Lan, nếu Viện Ðại Học Chulalongkorn tuyên bố cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Trọng thì chắc cũng chẳng có ai làm ồn. Nhưng Thammasat thì khác! Lý do là vì tiếng tăm cũ của Thammasat.

Tôi biết đến Thammasat trong thời thập niên 1990 khi Thammasat một lần nữa nổi tiếng. Tùy theo chính kiến, người ta sẽ bảo Thammasat là hang ổ của “phản động” hay là cái nôi của phong trào dân chủ. Nhưng Thammasat nổi tiếng nhất trong giai đoạn bùng nổ năm 1973 và trong cuộc thảm sát năm 1976.

Chào đời với một cái tên rất kỳ lạ, viện đại học về Ðạo đức và Khoa học Chính trị, Thammasat là sáng kiến của Pridi Banomyong, người vẫn được ca tụng là cha đẻ của nền dân chủ Thái. Ra đời vào năm 1934, chỉ hai năm sau cái được gọi là cuộc Cách Mạng Xiêm năm 1932, và 18 năm sau khi Viện Ðại Học Chulalongkorn được thành lập, Thammasat khởi đầu là một viện đại học tự do, với 7,094 người ghi tên học. Ðây là giai đoạn mà Viện Ðại Học Chulalongkorn, viện đại học của Hoàng Gia mỗi năm chỉ có 68 sinh viên tốt nghiệp. Thammasat được mở ra trên nguyên tắc là nhà nước phải mở đường học vấn cho dân vì cho đến lúc đó học vấn là đặc quyền của hoàng gia. Với một nguồn gốc như vậy, cũng chẳng lạ gì khi một bạn đồng nghiệp người Thái của tôi, tốt nghiệp từ Thammasat, vẫn thường tự hào mình xuất thân từ cái nôi của cách mạng dân chủ Thái Lan.

Thammasat lúc đầu chỉ có mỗi bằng cử nhân với nhấn mạnh vào nghiên cứu luật pháp, và những môn trước kia bị cấm cản như kinh tế và chính trị học, cùng với một chứng chỉ tương đương cử nhân về kế toán. Ít lâu sau, bằng cao học về cả ba môn luật, chính trị và kinh tế học và sau đó bằng tiến sĩ về luật, chính trị, kinh tế và ngoại giao. Bằng tốt nghiệp của Thammasat do đó bao gồm cả luật, chính trị, kinh tế chứ không tách ra làm ba ngành.

Trong những năm đầu, Thammasat không dựa vào trợ cấp tài chánh của chính phủ mà dựa trên một học phí nhỏ do sinh viên đóng góp và tiền lời của ngân hàng Công Thương Á Châu, một ngân hàng mà Thammasat có đến 80% cổ phần.

Nhưng Thammasat trong những năm đầu ở thập niên 1930 không phải chỉ là một trường đại học bình thường. Dưới sự hướng dẫn của ông Pridi, đã từ chức bộ trưởng nội vụ, trở về làm viện trưởng, Thammasat trở thành tổng hành dinh bí mật của phong trào Thái Tự Do chống lại quân Nhật trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Ðiều mỉa mai là cũng trong giai đoạn này, khuôn viên viện trở thành trại giam giữ những người dân của các quốc gia đồng minh. Những binh sĩ Thái đã trở thành kẻ bảo vệ để những thường dân này không bị xúc phạm hay sách nhiễu bởi quân đội Nhật chiếm đóng.

Cuộc đảo chánh năm 1947, đưa chế độ quân phiệt lên nắm quyền, đánh dấu sự kết thúc của một thời đại. Ông Pridi đi lưu vong. Văn bằng nguyên thủy của Thammasat bao gồm tất cả các ngành luật, chính trị và kinh tế bị tách ra làm bốn phân khoa. Thammasat bị buộc phải bán cổ phần trong ngân hàng, trở thành lệ thuộc vào tài trợ của chính phủ. Chữ chính trị bị tách ra khỏi tên của trường và Thammasat không còn là một trường đại học tự do nữa. Trong những năm của thập niên 1950, 1960, những phân khoa về hành chánh, báo chí, văn khoa, xã hội và nhân chủng được mở ra thêm. Rồi về sau nhiều ngành khoa học cũng được thêm vào.

Nhưng các chính quyền quân phiệt không tiêu diệt được tinh thần dân chủ và tranh đấu của sinh viên Thammasat. Năm 1973, Thammasat trở thành trung tâm của phong trào đòi dân chủ dẫn đến cuộc nổi dậy đẫm máu vào ngày 14 tháng 10. Một đám đông, do sinh viên Thammasat cầm đầu, đã tụ tập ở ngay trong trường để phản đối việc bắt giam 13 sinh viên tranh đấu cho dân chủ. Cuộc phản đối kéo dài nhiều ngày cho đến khi có cuộc đối đầu ở tượng đài Dân Chủ. Sau cùng, khi các lãnh tụ quân phiệt của Thái bỏ đi lưu vong, viện trưởng của Thammasat, ông Sanya Dharmasakti, được Quốc vương Bhumibol chỉ định làm thủ tướng.

Ba năm sau, trong khi những người Việt miền Nam chúng ta đang lang thang ở quê người hay bị tù đày ở Việt Nam thì một biến cố nữa xảy ra. Vào ngày 6 tháng 10 năm 1976, một vụ thảm sát xảy ra ở trung tâm Phrachan của viện. Vụ này phát xuất từ một cuộc biểu tình phản đối chống lại sự trở về của nhà độc tài Thống Chế Thanom Kittikachorn. Thực ra bạo động bắt đầu từ hôm tháng 9 khi hai nhân viên của công ty Ðiện lực Quốc gia EGAT phát truyền đơn chống lại chính phủ bị bắt rồi gán cho là “cộng sản,” bị đánh chết và thi thể của họ treo trên một bức tường. Vụ này đã dẫn đến những cuộc biểu tình phản đối ôn hòa của các nghiệp đoàn, các nhóm sinh viên đòi trục xuất ông Thanom ra khỏi Thái Lan.

Hôm 4 tháng 10, các sinh viên trình diễn một vở kịch ở viện kể lại vụ treo cổ hai nhân vật chống đối. Nhiều tờ báo in lại hình của vở kịch nhưng với một trong hai nạn nhân được sửa để giống hình của Thái Tử Vajiralongkorn, ngầm ý là sinh viên đã phạm tội khi quân. Cảnh sát mặc sắc phục và những nhóm dân quân cánh hữu nổi giận bao vây viện đại học. Vào lúc hừng sáng ngày 6 tháng 10 cảnh sát và dân quân tấn công vào những người biểu tình. 

Cuộc ẩu đả kéo dài nhiều tiếng đồng hồ với báo chí nói chính thức có từ 43 đến 46 người thiệt mạng nhưng thực ra có cả trăm người chết, nhiều trăm người bị thương. Nhiều sinh viên trốn thoát nhờ nhảy xuống sông Chao Phraya nơi họ được Hải Quân Hoàng Gia có cảm tình vớt. Những người còn lại bị bắt, bị hành hung và nhiều nữ sinh viên bị hiếp dâm. Nhưng sự thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 đã tạo điều kiện cho giai đoạn cầm quyền của các ông tướng.

Lần tới Thammasat trở lại đóng vai chính trong một chính biến khác là vào năm 1992. Năm đó, sau một cuộc bầu cử, phe thắng lợi đã đưa Tướng Suchinda Kraprayoon lên làm thủ tướng, thất hứa với nhà vua và xác nhận sự nghi ngờ của mọi người là tân chính phủ cũng chỉ là một chính phủ quân phiệt trá hình. Nhưng Thái Lan năm 1992 không phải là nước Xiêm năm 1976, hành động đảo chánh trá hình của ông Suchinda làm nhiều trăm ngàn người xuống đường, dưới sự lãnh đạo của cựu đô trưởng Bangkok, Thiếu Tướng Chamlong Srimuang. Trước tin đồn quân đội chia thành hai phe, Quốc Vương Bhumibol đã kêu cả hai ông đến và yêu cầu họ giải quyết ôn hòa.

Trong cuộc biểu tình xuống đường năm 1992, dẫn đầu là sinh viên Thammasat.

Nhưng Thammasat ngày nay đã trở thành một trường đào tạo cho chính giới Thái Lan. Nhiều vị thủ tướng Thái xuất thân từ viện và ngay cả những sinh viên của Thammasat ngày nay cũng không còn nghĩ bao nhiêu đến tranh đấu dân chủ. Như cô bạn đồng nghiệp của tôi đã than, “Thammasat nay đã trở thành establishment, thành một phần của guồng máy quyền lực!”

Với cá tính mới, cũng dễ hiểu khi Thammasat tặng bằng tiến sĩ danh dự cho tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Nhưng một số cựu sinh viên Thammasat vẫn ấm ức. Trong bức thư ngỏ lên án việc cấp bằng tiến sĩ cho ông Trọng có nhiều chữ ký của cựu sinh viên Thammasat.

Ðây là bức thư có những đoạn khẩn khoản yêu cầu viện nghĩ lại, “Chúng tôi sợ là cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng, Viện Ðại Học Thammat sẽ bị coi là ủng hộ cho một chính trị gia mà lời nói và hành động đã chứng tỏ đi ngược lại nhân quyền và các giá trị dân chủ, và rằng viện có thể bị những người khác hiểu lầm là bênh vực cho các nhà cai trị đàn áp và độc tài.”

Thật đáng buồn thay cho nền dân chủ Thái Lan khi tinh thần Thammasat chỉ còn trong suy nghĩ của những cựu sinh viên.


Lê Diễn Đức - Minh bạch thông tin là tự sát

Lê Diễn Đức

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một sân chơi riêng của các nhóm thân tộc, thân hữu, một khu vực được hưởng các đặc quyền, đặc lợi nên rất khó minh bạch thông tin. Minh bạch, đối với nhóm này, là đồng nghĩa với tự sát.


Khi lên làm thủ tướng từ năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng đã gom gần 20 tập đoàn và tổng công ty về dưới trướng và trực tiếp chỉ đạo. Cơ quan chủ quản duy nhất là chính phủ nắm quyền quản lý, bổ sung vốn và theo dõi tiến độ các dự án. Với cơ chế này, ông Dũng đã nắm toàn bộ nguồn tài chính và các ưu đãi cao nhất cho doanh nghiệp nhà nước, phân chia, ban phát ân huệ, lợi ích kinh tế và từ đó tạo được sân sau để chi phối chính trị, củng cố vị trí quyền lực.

Về mặt nguyên tắc, doanh nghiệp nhà nước phải minh bạch thông tin để duy trì sự ủng hộ của người dân cho sự phát triển. Tuy nhiên, với DNNN, người dân không thể thực hiện được quyền này. Mọi quyết định hoàn toàn nằm trong tay chính phủ.

“Việc che giấu hoặc không muốn minh bạch thông tin về hoạt động kinh doanh trở thành lợi ích cấu kết thường trực của cả cơ quan chủ quản và bộ máy quản lý DNNN để tránh những rắc rối từ công luận, tức từ ông chủ đích thực của mình” - tờ Thời báo Sài Gòn ngày 20 tháng 6, 2013 viết.

Tóm lại, khu vực doanh nghiệp nhà nước là cái ổ để rót tiền bạc từ ngân sách, vốn đầu tư phát triển ODA, cái bẫy của nợ công, cái nôi của các loại tham nhũng, rút ruột công trình nhiều nhất và ăn chia hoa hồng, cùng nhiều đặc lợi khác.

Nợ của ngày hôm nay là gánh nặng phải trả của nhiều thế hệ tương lai. Thế nhưng, có đầu tư thì mới có ăn, chính phủ vẫn tiếp tục tìm các nguồn tín dụng mới bằng phát hành trái phiếu, lấy các khoản vay mới trả nợ cũ, vần vũ trong vòng xoáy của tiền.

Từ năm 2000 trở lại đây, tỉ lệ đầu tư vốn toàn xã hội/tổng thu nhập của Việt Nam luôn cao, trung bình hơn 30%; có năm lên tới 43% như năm 2007.

Theo Bộ Kế Hoạch & Ðầu Tư, năm 2012, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty 100% vốn nhà nước chỉ đạt 14.84%, giảm 4.16% so với năm 2011.

Tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2012 trên 1.33 triệu tỷ đồng (tương đương 60 tỷ USD) là đáp số tệ hại của một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam.

Trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn đầu tư công đạt khoảng 286 nghìn tỉ đồng, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; trong giai đoạn 2006-2010 ước đạt trên 739 nghìn tỉ đồng, khoảng trên 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11.5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55.2 tỷ USD, tương đương 54.3% GDP. Như vậy, trong vòng 10 năm, từ 2001 đến nay, nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm.

Tời Thời Báo Ngân Hàng, ngày 24 tháng 6 viết:

Trước Quốc Hội, Phó Thủ Tướng Vũ Văn Ninh báo cáo: “Theo luật nợ công, nợ công gồm có nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trên tinh thần như vậy thì nợ công tính đến 31 tháng 12 năm 2012, tương đương 55.5% GDP” - vẫn trong ngưỡng an toàn. Nhưng “tính đầy đủ, thì số nợ công thực tế của Việt Nam đã lên đến gần 129 tỷ USD, gần gấp đôi con số được chính phủ công bố, lên đến 106% GDP, nghĩa là đã ở mức tiền khủng hoảng”.

Từ năm 2006 đến nay, tức là từ khi Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức thủ tướng, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định, và hầu như không có sự gia tăng đáng kể về giá trị. Trung bình hàng năm Việt Nam dành ra trên 3.5% GDP để chi trả nợ và viện trợ phát triển. Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm dần qua các năm, từ 9.09% năm 2006 xuống còn 6.53% năm 2010. Trong khi đó, quy mô của các khoản nợ công ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt.

Ðáng lo ngại nhất là khu vực nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi nhất thì hiệu quả đầu tư lại thấp nhất.

Xét ICOR là hệ số đo lường chất lượng của đồng vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, thì hệ số ICOR có xu hướng ngày mỗi tăng trong 3 năm gần đây.

Hệ số ICOR đã tăng nhanh từ 1996 đạt mức cao nhất vào năm 1999, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đã bị giảm nhanh từ năm 1996 và đạt mức thấp nhất vào năm 1999. Trong khi hệ số này của Hàn Quốc là 3.3, của Thái Lan là 3.6, của Malaysia là 3.9, của Philippines là 4.3, của Singapore là 4.4, của Indonesia là 4.4... Nếu giai đoạn 2000-2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP, đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7.4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP. Giai đoạn 2000-2005 hệ số này đóng góp vào tăng trưởng khoảng trên 22%, thì đến giai đoạn 2006-2010 con số này chỉ còn dưới 8.8%.

Sang năm 2012, sau 9 tháng tổng mức đầu tư toàn xã hội là 35.8% GDP nhưng tăng trưởng GDP chỉ đạt 4.73%, ICOR tạm tính là 7.56 lần.

Tất cả là do đầu tư bừa bãi, không đúng ngành nghề, chức năng kinh doanh, quản lý kém cỏi, lãng phí, nhưng nghiêm trọng nhất là rút ruột dự án.

Những thí dụ điển hình gần đây cho thấy rõ.

Bỏ hàng ngàn tỷ đồng để mua những con tàu nát tại Vinashine, Vinaline, cùng với sự thất thoát trong các khoản đầu tư vô tội vạ vào các ngành không thuộc chức năng, đã dẫn đến món nợ tới khoảng 4.5 tỷ đô la.

Từ dự toán chưa tới 600 triệu USD để không vượt quá mức bị Quốc Hội phê duyệt, tới nay đã rót hơn 18,000 tỷ đồng (tương đương 900 triệu USD) vào 2 dự án bauxite Tây Nguyên. Giá xuất khẩu alumin của Vinacomin ở ven biển ước tính tối đa khoảng 345 USD/tấn. Tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu 20%, mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD, tổng số lỗ năm 2013 sẽ là 74.4 triệu USD. Nếu Vinacomin được miễn cả thuế xuất khẩu thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ ít nhất 55 USD, mỗi năm tổng lỗ ít nhất 33 triệu USD và không biết bao giờ có lãi.

Ðường cao tốc 50 km Cầu Giẽ-Ninh Bình được đầu tư xây dựng với số tiền 8,974 tỷ đồng, tương đương 420-430 triệu đôla, được báo chí nói là thiết kế đạt chuẩn loại A1, có 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120km/h, “hiện đại nhất Việt Nam”, sau 5 tháng đi vào khai thác, mặt đường trông như mặt ruộng mới cày, dư luận gọi là “đường cao tróc”.

Vừa được cắt băng khánh thành và đưa vào sử dụng được hơn 6 tháng, nhưng mặt bê tông nhựa trên cầu Bến Thủy 2 (Nghệ An- Hà Tĩnh) đã bị lún nhiều chỗ. Chiếc cầu được đầu tư gần 1,300 tỉ đồng chưa qua 1 năm tuổi đã bị hư hỏng.

Dự án đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, sau hơn 3 năm triển khai với tổng mức đầu tư gần 25,500 tỷ đồng, dự kiến thông xe vào năm 2014, nhưng cho tới nay mới thực hiện được hơn 20% khối lượng.

Cầu bị lún, sập, đường bị nứt nẻ, ổ gà là bi kịch phổ biến của gần như mọi công trình cầu đường trên lãnh thổ Việt Nam, trên nhiều tuyến quốc lộ như 1, 3, 5, 7, đại lộ Ðông Tây, không chỉ ở các dự án đã khai thác, sử dụng 6-8 năm mà còn ở cả các dự án mới đưa vào khai thác... Nhưng tệ hơn, quan tham thời nay còn ăn bẩn và ăn tạp. Công trình Tượng Ðài Chiến Thắng Ðiện Biên Phủ bị rút ruột đến 150 tấn đồng, hay cả toilet cũng bị liếm láp.

Theo Tuổi Trẻ, một chiếc toilet hiện đại, biến chất thải thành năng lượng sạch của dự án “Tái sáng tạo toilet” của tỷ phú Bill Gates giá khoảng 2,200 USD. Trong khi đó, một nhà vệ sinh trường học diện tích 29m2 ở Quảng Ngãi lên đến 30,000 USD! Nhà vệ sinh này của trường phổ thông cơ sở Long Hiệp (Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi) có tổng vốn đầu tư là 600 triệu đồng, diện tích 29 m2, chia làm hai bên dành cho nam và nữ, phòng nữ có 3 bệ tiểu nhưng không có cửa, phòng nam có bốn bệ tiểu, một hố xí và bồn rửa tay, vật dụng đều thuộc loại bình thường. Ngoài ra, cũng trường Long Hiệp, còn có những nhà vệ sinh tương tự giá 710 triệu, 721 triệu đồng!

Cha chung không ai khóc, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi! Trong khi “dân kiếm không nổi 50 ngàn, quan xin dự án nghìn tỷ” (Ðất Việt 19/06/2013). Cục đường thủy nội địa xin 1,800 tỉ nắn dòng chảy Sông Hồng, Sở Phòng Cháy Chữa Cháy Hà Nội xin 6,000 tỉ đồng mua quần áo chống cháy, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường xin 1,100 tỉ đồng mua tàu điều tra tài nguyên môi trường biển, Bộ Văn Hóa-Thể Thao xin 6,000 tỷ để xây dựng đề án tăng chiều cao dân số...

Nước Việt thật buồn về một gia tài ngày càng cạn kiệt và lâm vào nợ nần chồng chất mà các băng nhóm lợi ích, mafia đỏ để lại.

Việt kiều và những người nhẹ dạ trong nước đừng hoang tưởng về sự tài giỏi nào của đảng Cộng Sản Việt Nam trong sự đổi thay của đất nước sau gần 40 năm hòa bình. Nếu tiền đầu tư, xây dựng không tự dưng biến mất 30-40% thì sự thay đổi sẽ còn ra sao?

Ðầu tư công là bức tranh thể hiện rõ nhất trong cơ chế “ngậm miệng ăn tiền”. Không thể nào minh bạch thông tin trong cơ chế ấy.


Ngô Nhân Dụng - Lớp huấn luyện của Phạm Hồng Sơn


Ngô Nhân Dụng

Các tù nhân trong khu K1 trại giam Xuân Lộc đã đấu tranh bất bạo động phản đối cai tù đối xử vô nhân đạo. Trong trại này đang cầm giữ Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, nhạc sĩ Việt Khang, một số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo và nhiều người khác, họ bị tù chỉ vì yêu nước chống Trung Cộng và tranh đấu đòi sống tự do. Dù ở chỗ tù đầy, anh chị em vẫn bền chí phấn đấu. Tạ Phong Tần, Điếu Cày, các cháu Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha nghe được tin này chắc cũng thấy nức lòng.


Ở bên ngoài nhà tù, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn mới gửi đi khắp nơi một “tài liệu huấn luyện;” ông gọi là “27 ghi chú dành cho những Tù nhân Lương tâm dự khuyết.” Gọi là “Dự khuyết,” vì họ đang sẵn sàng bước vào tù; khi lương tâm không cho phép họ im lặng! 

Rất nhiều người Việt Nam, nhất là các bạn trẻ, sẽ còn lên tiếng phản đối Trung Cộng xâm lấn, đè nén, khinh thường dân tộc Việt. Nhiều người Việt Nam sẽ còn nổi giận, không thể lặng im trước cảnh đồng bào bị cướp ruộng đất để các tham quan thu lợi. Họ có thể sẽ bị bắt khi lên tiếng. Họ cẩn được chuẩn bị trước khi nếm mùi tù ngục cộng sản. 

Đọc những điều “ghi chú” của Phạm Hồng Sơn càng thấy ấm lòng. Mỗi lời căn dặn trong 27 điều “ghi chú” chứa đựng cả tấm lòng thiết tha trìu mến của tác giả đối với những bạn trẻ yêu nước nhưng còn thiếu kinh nghiệm. Anh muốn giúp các tù nhân tương lai tự chuẩn bị. Họ cần chuẩn bị cách cư xử, thái độ cần thiết, cách sống hàng ngày trong nhà tù, nếu mai mốt họ bị bắt, như tác giả đã trải qua. Những lời dặn dò cho thấy tình thương yêu của Phạm Hồng Sơn dành cho những người yêu nước. 

Đọc “27 điều ghi chú” của Phạm Hồng Sơn, chúng ta càng tin tưởng. Những người yêu nước, yêu tự do, dù không trong một tổ chức nào chung, cũng phải nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Cho nên, cần nhắc nhở cho nhau những gì cần chuẩn bị khi bước vào nhà tù của các chế độ độc tài; dù họ đang sống ở Campuchia, Syria, Bắc Hàn hay Việt Nam. Trong những tháng năm sắp tới, sẽ còn hàng trăm, hàng ngàn người theo gót Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Phương Uyên, Nguyên Kha, vân vân. Họ cần được chuẩn bị sẵn sàng, mang sẵn một hành trang để có thể bền bỉ đấu tranh.

Đọc 27 điều ghi chú thấy Phạm Hồng Sơn rất thực tế. Thí dụ, Điều số Sáu anh căn dặn các bạn tù là: “Đừng bao giờ tin lời nói, lời hứa, kể cả cam kết (bằng chữ), của điều tra viên (nhà chức trách). Đừng bao giờ trở thành nguồn tin [cung cấp thông tin] cho họ (dù họ đã biết hay chưa). Cũng đừng bao giờ sững người khi họ nói đồng đội của bạn đã phản bội bạn.” [Các chữ in nghiêng do chúng tôi viết thêm].

Điều số Bẩy: “Ba điểm cần nhớ nằm lòng khi làm việc (đi cung, đi thẩm vấn, “đi làm” hay gặp gỡ bất kỳ nhân vật nào thuộc chính quyền): 1. Nói nhiều không có lợi. 2. Nổi nóng, khiếm nhã không có lợi. 3. Nhượng bộ hay coi thường đối thủ đều là nguy hiểm.” Điều 17 rất cụ thể, “Cảnh giác với ba loại thời tiết dễ làm bạn không còn là bạn: nóng quá, lạnh quá và đặc biệt tiết trời u ám, ẩm thấp (như tiết tháng Ba miền Bắc).”

Điều số 20 cũng cụ thể, cho thấy Phạm Hồng Sơn đầy đủ kinh nghiệm và rất lo lắng tới sức khỏe của các người bạn cùng chí hướng: “Ba cách đơn giản giúp tăng cường sinh lực và sức dẻo dai cho cơ thể: 1. Chạy (hoặc đi bộ) ngay tại chỗ hoặc trong khoảng cách 2m. 2. Chống đẩy (hít đất), đứng lên ngồi xuống nhiều lần. 3. Làm dẻo các khớp từ cổ đến chân, xoa bóp cơ thể.” Nếu có thể, xin Bác sĩ Phạm Hồng Sơn chú ý tới mấy phương pháp tập luyện thân thể đồng thời rèn tâm chí, như các phép tập theo Hồng Gia Việt Nam. Các phép tập dưỡng sinh này không đòi hỏi chỗ rộng rãi, trong nhà tù vẫn tập được; có thể làm hàng trăm lần không mỏi,  giúp điều hòa các khớp xương, tim, phổi và toàn thể nội tạng được khỏe mạnh. Thí dụ: Đứng một chỗ xoay mình qua lại, bằng cách dùng bộ eo xoay chuyển, còn thân thể và tay chân buông lỏng lẻo (Xoay Âm Dương). Hoặc: Đứng tấn lưng thẳng, vận động các xương sườn, xương lồng ngực, kéo theo vai và các bắp thịt bụng, hay cánh tay buông lỏng vận chuyển theo (Sư Tử Hí Cầu). Các tù nhân vì lương tâm cũng nên bắt chước các cựu tù nhân như Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Viết Khánh, dùng phương pháp tọa thiền hoặc khí công để bảo vệ thân, tâm bình an, không sợ, không giận, không lo âu.

Rải rác trong 27 điều ghi chú có nhiều câu đáng học thuộc lòng: Đừng quá thành kiến với công an. Nhưng phải cảnh giác khi họ tử tế. Người ác nhất vẫn có lúc tử tế nhưng hãy nhớ công an là công cụ của chế độ độc tài toàn trị – chế độ không bao giờ muốn tính thiện con người trỗi dậy có lợi cho bạn (Điều số 9). Chính kẻ thẩm vấn cũng có nỗi hoang mang của riêng họ. Họ sợ không khuất phục được bạn. Họ hồi hộp sẽ không moi tin thêm được từ bạn (số 10). Khi nỗi nhớ thương gia đình (con cái, cha mẹ, vợ chồng) trào dâng, nên nghĩ đến ba điều … (13). 

Nhìn lại tất cả 27 “điều ghi chú” của Phạm Hồng Sơn, thấy giống như mới dự một bài giảng trong một khóa huấn luyện dành cho những ai “sắp vào tù.” Có thể đặt tên lớp huấn luyện này là “Khóa Phạm Hồng Sơn.” Khi ghi lại 27 điều này, Phạm Hồng Sơn cho thấy anh đang nhìn tương lai và tin tưởng. Cuộc tranh đấu của dân ta sẽ ngày càng lan rộng và mạnh mẽ hơn. Sẽ còn rất nhiều người, nhiều bạn trẻ sẵn sàng bước vào tù. Vì họ yêu nước; vì họ muốn dân Việt được sống trong tự do dân chủ. 

Sau “Khóa giảng” chuẩn bị vào tù này, chắc Phạm Hồng Sơn sẽ còn tiếp tục các “khóa giảng” khác, cùng các nhà tranh đấu khác, cùng đóng góp vào cuộc vận động dân chủ của dân Việt. Những người tranh đấu cần chuẩn bị tinh thần; nhưng cũng cần chuẩn bị cả một hành trang lý luận khi phải đối phó với các cuộc hỏi cung, nhất là giới trẻ chưa đủ kinh nghiệm. Chuẩn bị thân, tâm để sống trong tù, nhưng cũng phải chuẩn bị lý trí, kiến thức, để sẵn sàng giải thích tại sao mình tranh đấu, sẵn sàng bước vào tù. Hơn nữa, cần nối kết các cuộc tranh đấu đòi tự do và chống xâm lược với cuộc vận động của các người lao động lương không đủ sống, các nông dân đang bị cướp đất ruộng, và các ngư dân đang bị tàu thuyền Trung Cộng tấn công. Đồng bào tranh đấu vì các nhu cầu thiết thực; nhưng họ cũng cần hiểu tại sao dân tộc Việt phải được sống tự do dân chủ. Vì chỉ trong cuộc sống tự do dân chủ thì mới có cơ hội giảm bớt những nỗi khổ của đồng bào.

Tại sao người nông dân bị cướp đất? Tại sao họ không được đền bù xứng đáng? Tất cả chỉ vì bọn tham quan ăn cướp, ăn chặn. Tại sao nhiều tham quan ô lại như vậy? Tại sao chúng hoành hành mãi như vậy? Vì có một nhóm người độc tài lạc hậu, dốt nát ngồi trên đầu trên cổ người dân suốt bao nhiêu năm nay. Tại sao các ngư dân vẫn tiếp tục bị “tàu lạ” đuổi bắn, bị cướp bóc ngay trong biển nước mình? Vì có một chế độ nhu nhược không cương quyết phản đối công khai, cũng không dám thưa kiện ra trước các tòa án và dư luận quốc tế! Tại sao họ lại hèn yếu, nhu nhược như vậy? Vì họ bị ràng buộc bởi một thứ chủ nghĩa lỗi thời, vì thế mà kết tình “đồng chí anh em” với bọn xâm lăng. Cuối cùng, chỉ vì một chế độ độc tài nên các nông dân đã bị cướp đất, các ngư dân cứ tiếp tục bị cướp nguồn sống ngoài biển. Muốn thoát các nỗi khổ đó, phải chấm dứt chế độ độc tài, cho dân tộc Việt được sống tự do dân chủ. 

Đầu tiên, phải thi hành đầy đủ những quyền tự do, như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, được chính thức ghi ngay bản hiến pháp hiện nay. Người dân phải được quyền làm chủ đất, ruộng, nhà ở, chứ không để cho một đảng Cộng sản tiếp tục vai trò một địa chủ vĩ đại, còn nhân dân thành bọn mướn đất, làm thuê, cấy rẽ. Phải xóa bỏ chế độ hộ khẩu đang tước bỏ các quyền công dân của những nông dân lên thành phố tìm việc làm. 

Muốn đạt được những đòi hỏi trên, tự nhiên phải xóa bỏ điều số 4 trong hiến pháp dành độc quyền thống trị cho riêng các đảng viên Cộng sản. Phải thi hành quyền tự do hội họp để mọi người được tự do lập công đoàn độc lập, các hiệp hội nông dân, các giáo hội, hội từ thiện, cho tới các đảng chính trị. Phải sửa đổi luật bầu cử để mọi người dân trưởng thành được tự do ứng cử, bỏ phiếu kín; những người nắm quyền hành pháp, lập pháp đều phải do dân tự do bầu lên. Quyền tư pháp phải độc lập, không bị một phe đảng nào thao túng.

Cần phải cung cấp những lý luận trên đây trong các “Khóa huấn luyện Phạm Hồng Sơn.” Phải chuẩn bị một hành trang đầy đủ cho các bạn trẻ đang dấn thân trên con đường mà bao người đi trước đã mở ra. Những Tạ Phong Tần, Điếu Cày, các cháu Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Trần Huỳnh Duy Thức, Việt Khang, vân vân, đang sống trong tù, cũng chỉ theo cùng một chí hướng như ông cha chúng ta trước đây, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, vân vân. 

Chúng ta đang chứng kiến cuộc thức tỉnh của một thế hệ mới. Ngày nay, những người tranh đấu không cần phải xuất ngoại, cũng không cần phải “lập hội kín.” Họ lại có thể sử dụng một trang bị tối tân là mạng lưới internet. Cho nên chúng ta có thể những “mở khóa huấn luyện” công khai hoàn toàn mở cửa, cho tất cả các bạn trẻ tham dự. Phạm Hồng Sơn đã khai giảng lớp huấn luyện đầu tiên. Mọi người phải giúp anh tiếp tục.


TS. Đinh Xuân Quân - NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG TRÒ CHƠI 'ĐÁNH ĐU' CỦA VIỆT NAM


TS. Đinh Xuân Quân

Tại kỳ họp Shangri-La TT Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhìn nhận rằng: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.” Sau đó ta thấy Việt Nam tiếp tục bắt giữ những người vận động cho dân chủ, nhân quyền. 


Nay ông Trương Tấn Sang (TTS) viếng thăm Trung Quốc và Indonesia trong khi ông Nguyễn Phú Trọng (NPT) thăm viếng Thái Lan, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội, tướng Tỵ, thăm Hoa Kỳ. 

Rõ ràng VN đang đánh đu về đối ngoại - xây dựng nhiều “đối tác chiến lược” qua các chuyến viếng thăm. Chuyến thăm TQ có thể là một “tụt hậu“ so với Shangri La? Sau vụ họp ASEAN tại Brunei và vụ họp của 26 Ngoại trưởng (ARF) Châu Á – Thái Bình Dương và Liên Hiệp Châu Âu thì hậu quả của chính sách “Hợp tác chiến lược“ và “đánh đu“ của VN sẽ ra sao?

Diễn đàn quốc phòng Shangri La

Tại Singapore khi TT Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận rằng: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành độngtrái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền” thì ta có thể coi như VN có một chính sách đối ngoại mới đối với TQ  (1) và ông NTD nói đến việc “Cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta.” 

Phía TQ vẫn cho là Biển Đông thuộc về chủ quyền của họ qua lời phát biểu của Tướng Thích Kiến Quốc: “Các tàu chiến TQ sẽ tiếp tục tuần tra tại các vùng biển mà TQ tuyên bố thuộc chủ quyền của họ   (2) và các cuộc tuần tra như thế là ‘hợp pháp’ và rằng chủ quyền của nước ông đối với những vùng biển này là ‘không thể tranh cãi’.

Bộ Trưởng QP Hagel   (3) của Mỹ trình bày chính sách tái cân bằng của chính quyền Obama đối với khu vực và “chủ yếu là một chiến lược kinh tế và văn hóa, ngoại giao" và ông khôn khéo trấn an các nước Á châu, nhất là các đồng minh của họ. 

Chuyến viếng thăm Ngũ Giác Đài

Từ 17 đến 22/06/2013 một phái đoàn quân sự cao cấp Việt Nam do thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, thứ trưởng bộ quốc phòng kiêm tổng tham mưu trưởng đã thăm chính thức Hoa Kỳ.   (4). Theo ông chuyến đi này "là dịp để tăng cường quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng lên một bước mới....giữa Việt Nam và Hoa Kỳ".

Phái đoàn quân sự VN gồm có các tướng lĩnh như trung tướng Phương Minh Hòa, tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, trung tướng Phạm Ngọc Hùng, phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng, chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, thiếu tướng Phạm Hữu Mạnh, chánh văn phòng Bộ Tổng Tham mưu và thiếu tướng Vũ Chiến Thắng, cục trưởng Cục Đối ngoại.

Họ đã thăm Bộ quốc phòng Hoa Kỳ (Ngũ Giác đài), Đại học Quốc phòng, Bộ tư lệnh Hạm đội 3, Cảnh sát biển thành phố San Diego, Đơn vị tìm kiếm cứu nạn, Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, Căn cứ liên quân Lewis-McChord. 

Ngoài việc triển khai quan hệ quốc phòng, TT Đỗ Bá Tỵ đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh (rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn lại sau chiến tranh, tìm kiếm các quân nhân còn mất tin, mất tích trong chiến tranh và tẩy rửa chất độc dioxine v.v...) và VN sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác ASEAN-Hoa Kỳ vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

Tướng Dempsey đồng ý với ý kiến phía VN và việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình và đề nghị các bên tranh chấp tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), đồng thời cũng mong muốn ASEAN và TQ sớm xây dựng được Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (Code of Conduct-COC). Phái đoàn có thăm TNS John Mc Cain, tại Quốc hội (xem hình). 


Phái đoàn thăm viếng Thượng viện Mỹ

Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố không liên minh quân sự với nước nào. Hiện nay hai bên chỉ có thể cùng tham gia huấn luyện gìn giữ hòa bình và quân y.

Chuyến viếng thăm Trung Quốc của Trương Tấn Sang



Ngày 19/06/13 chủ tịch Trương Tấn Sang của VN thăm chính thức TQ và được đón tiếp linh đình tại Bắc Kinh, thể hiện chủ trương Đối Thoại Song Phương Trung-Việt (trong khi ASEAN và Hoa kỳ luôn luôn chủ trương Đối Thoại Đa Phương.)  

Hai bên đã ký kết 10 văn kiện hợp tác song phương. Đáng chú ý như: “Hai nước mở rộng, kéo dài đến năm 2016 về việc hợp tác thăm dò dầu khí ngoài khơi vịnh Bắc Việt”. Các văn kiện hợp tác, gồm có:

Chương trình hành động giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.
Thoả thuận hợp tác biên phòng giữa hai Bộ Quốc phòng.
Thoả thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển. 
Hiệp định khung giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi (cho Dự án hệ thống thông tin đường sắt) trị giá 320 triệu Nhân dân tệ.
Bản Ghi nhớ giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc thành lập Trung tâm văn hoá tại hai nước.
Điều lệ công tác của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc.
Thoả thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Tổng cục giám sát chất lượng, kiểm nghiệm, kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu.
Kế hoạch hợp tác giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc giai đoạn 2013-2017.
Hiệp định vay cụ thể tín dụng người mua ưu đãi cho Dự án Nhà máy Đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu đôla Mỹ.
Thoả thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam và Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc liên quan tới Thoả thuận thăm dò chung trong khu vực thoả thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ.

Đáng chú nhất là mở rộng diện tích thỏa thuận trên Vịnh Bắc Bộ về thăm dò tìm kiếm các mỏ dầu khí. Theo báo chí VN thì thỏa thuận nhằm mở rộng khu vực xác định từ 1,541km2 lên thành 4,076km2, bao gồm hai phần tương đương nhau từ mỗi bên; và tiếp tục gia hạn hiệu lực của Thỏa thuận thăm dò chung đến hết năm 2016.  Theo ông Đỗ Văn Hậu TGĐ Tập đoàn Petro Việt Nam thì thỏa thuận này không ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia mỗi nước trên Vịnh Bắc Bộ, vì chỉ là hợp tác thuần túy về kinh tế, cùng nhau thăm dò, khai thác nếu phát hiện ra dầu khí và đây là sự hợp tác giữa hai Tổng công ty Dầu khí của hai quốc gia Việt-Trung.

Hai bên còn ký: “Chương trình hành động giữa hai chính phủ về triển khai quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện”. Từ trước tới giờ hai bên chỉ làm việc “bí mật” qua đảng hai đảng CS nhưng đây là lần đầu tiên có sự ký kết công khai hợp tác chiến lược toàn diện song phương giữa hai chính phủ. 

Trong tuyên bố hai bên kết thúc bằng lời cam kết: “Trước khi tranh chấp trên biển được giải quyết dứt điểm, hai bên nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt – Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông”. 


Chuyến viếng thăm Indonesia của Trương Tấn Sang


Nhân chuyến viếng thăm hai ngày 27-28/6 tại Indonesia  (5) ông TTS khẳng định chính sách của VN coi trọng tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Indonesia, đối tác truyền thống và quan trọng của Việt Nam trong ASEAN" và việc này cho thấy VN đang theo đuổi chiến lược tăng cường "lòng tin chiến lược" thông qua thỏa thuận thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Indonesia.

Indonesia và Việt Nam đã ký trên 30 hiệp định và thỏa thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực kể cả việc tăng cường hợp tác công nghệ quốc phòng với Indonesia.

Chuyến viếng thăm Thái Lan của ông Nguyễn Phú Trọng

Thái Lan trở thành đối tác chiến lược mới nhất của Việt Nam

Chuyến viếng thăm Thái Lan của TBT Nguyễn Phú Trọng đã giúp hai bên thiết lập quan hệ chiến lược Việt Nam-Thái Lan với 5 nội dung chính  (6) gồm: quan hệ chính trị, hợp tác quốc phòng và an ninh, hợp tác kinh tế, hợp tác xã hội văn hóa, hợp tác khu vực và quốc tế. 

Hai bên cam kết xây dựng chương trình hành động và lộ trình thực hiện cụ thể và đẩy mạnh hợp tác kinh tế lên 20% để đạt mục tiêu 15 tỷ USD vào năm 2020.

Hai bên cũng trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực, trong đó có vấn đề của khối ASEAN và an ninh khu vực, đặc biệt về an ninh và xử lý tranh chấp trên Biển Đông, “…. giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982, Tuyên bố Ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), Tuyên bố 6 điểm của ASEAN; nhất trí sớm xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử ở biển Đông (COC).” Thái Lan trở thành một trong các đối tác chiến lược mới nhất của Việt Nam.

Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF)

Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) ngày 02/07/2013 tại Bandar Seri Begawan, Brunei, có 26 Ngoại trưởng Châu Á – Thái Bình Dương và Liên Hiệp Châu Âu. Hai hồ sơ chính của diễn đàn là Biển Đông và Triều Tiên.  Tại cuộc họp ASEAN trước một ngày, Philippines đã tố TQ tăng cường lực lượng quân sự tại BĐ là một mối đe dọa đến hòa bình. 

NT Philippines Albert Del Rosario cho biết là tại Diễn đàn khu vực ASEAN toàn bộ các Ngoại trưởng đều nhấn mạnh đến sự cần thiết của đàm phán tránh để xảy ra xung đột trên Biển Đông.

Phân tích - Các khó khăn trong chính sách đánh đu  

Tại diễn đàn quốc phòng Shangri La - Singapore 30/5/2013 phía VN lần đầu tiên công kích TQ “cường quyền” vào lúc phía Mỹ trấn an các đồng minh, trong khi TQ cho là họ có quyền tại BĐ. 

Ngày 27/6 ông Vương Nghị, Ngoại trưởng TQ nhân dịp Diễn đàn thế giới tổ chức tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh  (7) tuyên bố “một số quốc gia đã đưa tàu chiến và xây dựng bất hợp pháp trên các bãi cạn trong chủ quyền lãnh thổ của TQ và đưa các tranh chấp song phương ra hội đồng trọng tài của Liên Hiệp Quốc, làm phức tạp thêm tình hình."

1) Về chuyến viếng thăm TQ (19/6/2013) vấn đề tranh chấp BĐ là then chốt nhưng VN không nói gì đến việc “quốc tế hóa“ như TT NTD tại Shangri La mà ngược lại thu hẹp vấn đề trong phạm vi hai nước “nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ NG hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông.”
Ông TT Sang được coi là người chống chính sách bá quyền của TQ và mới đây có thăm đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi khuyến khích ngư dân “yên tâm bám biển, đoàn kết tương trợ nhau để tránh thiên tai, địch hoạ.” 

Trong chuyến viếng thăm TQ của TTS, một giả thuyết cho là TQ muốn chia rẽ lãnh đạo VN, muốn ngăn chặn NTD chuyển hướng đối ngoại sang phía Mỹ. Dù không ưa TQ, TT Sang vẫn cần phải dựa vào TQ để bảo vệ Đảng và giảm căng thẳng. Kết quả là nội dung tuyên bố Việt-Trung vẫn theo khẩu hiệu “16 chữ vàng và 4 tốt,“ nhu nhược trước TQ để tranh thủ thời gian, để sống còn.

Nhưng bản tuyên bố chung này  (8) cũng cho thấy là ĐCSVN vẫn tiếp tục cho phép TQ tham gia vào sinh hoạt chính trị và kinh tế của VN trong khi không có chuyện ngược lại.  

Một giả thuyết khác là các ông TTS, NTD, và NPT chia vai trò, mỗi người làm việc trong quy trình chuyển hướng đối ngoại sang phía Mỹ. Giả thuyết này cho là “dù muốn giữ đảng“ nhưng các lãnh đạo CSVN cũng chưa hẳn là hoàn toàn tuân phục TQ.

Về “quan hệ đối tác chiến lược (QHĐTCL),“các chuyên gia quốc tế cảm thấy là VN có phần "lạm phát về QHĐTCL." Trong thập niên 80 và 90, Thái Lan từng đi cầu cứu TQ khi bị VN đe dọa (quân VN chiếm Campuchia và tiến sát biên giới Thái). Mặc dù Thái Lan có hiệp ước với Mỹ nhưng ai cũng nói là Thái Lan luôn luôn có chính sách đánh đu – thời cơ chủ nghĩa đổi cờ khi cần cho nên khó tin. Indonesia thì có phần khác vì có quá khứ “diệt CS thân TQ“ vào thập niên 80, và nay có vùng biển bị ảnh hưởng vì chiêu bài “lưỡi bò.“ Tiếng nói của Indonesia có trọng lượng nhưng người Java/Indonesia thì tính khí có phần ôn hòa.

Theo người viết bài này thì đây là một cố gắng trong chính sách “đánh đu/QHĐTCL“ của VN, muốn làm thân các nước ASEAN để củng cố một khối ASEAN trước nguy cơ TQ. VN đang làm nhưng không giám nói ra như lời tuyên bố của BT quốc phòng Philippines V. Gazmin: “Lúc này, chúng ta không thể đơn độc được. Chúng ta phải có đồng minh. Nếu không chúng ta sẽ là nạn nhân bởi những hăm dọa của nước lớn. Đó chính là điều đang diễn ra hiện nay khi Trung Quốc đang ngồi trên lãnh thổ của chúng ta“.  Ông đặt câu hỏi: «Vậy chúng ta phải làm gì? Ngồi chờ cho đến khi họ vào đến tận gara nhà mình sao?». Tại Brunei, từ ngày 27/06 đến 02/07/2013, khối ASEAN  (9) sẽ tiến hành nhiều cuộc họp ở cấp bộ trưởng như Hội nghị các Ngoại trưởng (AMM), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh các Ngoại trưởng Đông Á lần thứ 3 (EAS FMM). Sau đó ta sẽ có thể thấy được hậu quả của “Hợp tác chiến lược“ sẽ ra sao?  Dù sao đi nữa, trên bàn cờ Trung - Mỹ thì VN đang tìm một lối ra qua việc “đánh đu“ giữa Mỹ và TQ và cố gắng “liên hoàn“ với ASEAN. Tại cuộc họp tại Brunei, khác hẳn với cuộc họp tại Campuchia, các nước ASEAN đã đồng ý thúc TQ đàm phán về quy tắc ứng sử (COC) cho BĐ, quốc tế hóa vấn đề BĐ và đây cũng là thắng lợi phần nào của VN và Philippines với sự hỗ trợ ngầm của Mỹ, Nhật, Anh, và Âu châu, vv.  Việc này cũng cho thấy là có sự phân chia trách nhiệm giữa TT Sang, NTD và NPT.

2) Về chuyến viếng thăm Hoa kỳ của quân đội VN thì cần biết: trước khi thăm Hoa kỳ, tướng Đỗ Bá Tỵ đã đi thăm TQ vào tháng 4/2016. Tại đây tướng Đỗ Bá Tỵ khẳng định "Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông... Quan hệ hữu nghị Việt-Trung có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cả hai nước, cũng như đối với hòa bình, ổn định và phát triển chung của khu vực..." Sau tướng Đỗ Bá Tỵ, theo truyền thông VN thì ngày 26/6, Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng sẽ đến thăm Hoa Kỳ. Nên nhớ là tướng Nguyễn chí Vịnh vừa mới có mặt ở Bắc Kinh hôm 6/6, cầm đầu phái đoàn CSVN dự cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng Việt Nam-Trung Quốc lần thứ tư. 

Việc này cho thấy có “bắt đầu đối thoại” giữa VN và Hoa Kỳ ở bình diện quân sự.  VN dần dần đi nói chuyện với Mỹ. Các hoạt động ngoại giao và quốc phòng dồn dập trong tháng 6/2013 cho thấy VN tiếp tục chính sách “đa phương hóa, đa dạng hóa” với các đối tác chiến lược, cố gắng thoát khỏi 16 chữ vàng và 4 tốt. 

Chính sách “đánh đu” kiểu VN cho thấy nhiều nghịch lý. Tại Shangri La thì NTD muốn quốc tế hóa BĐ dựa trên luật pháp quốc tế, như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982, v.v. thì ngay sau đó, trong Thông cáo Trung-Việt thì TTSang không nhắc tới bộ luật về ứng xử COC và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982.  Hơn nữa bản tuyên ngôn chung cho TQ nhiều lợi thế và chính sách “Bắt cá hai tay” khiến không ai hiểu VN muốn gì. Có thể hậu quả của trò bắt cá hai tay này là sẽ không có ai tới giúp Việt Nam khi nước này bị TQ đánh. 

Trong ngắn hạn khó mà nước nào có thể giúp được VN vì chính sách đánh đu (ít nhất nếu dựa vào bên ngoài). Nhưng ai cũng biết “CSVN nói một đằng làm một nẻo” cho nên có thể hiểu VN cần bớt căng thẳng với TQ để mua thời gian hầu “đa dạng hóa” quan hệ quốc tế, tiến dần về Hoa Kỳ để dùng làm đối trọng với TQ.

Tại cuộc họp ASEAN tại Bandar Seri Begawan, Brunei, Philippines thẳng tay chỉ trích TQ là mối đe doại tại BĐ.  Vào ngày 30/06/2013 TQ đã hứa sẽ bàn về Quy tắc ứng sử (COC) và đây là bước đầu tiên từ khi ký DOC từ 2002, một văn bản mà TQ không áp dụng tại BĐ, nhất là khi có các tranh chấp.  Việc này có thể có vì Mỹ đang tái cân bằng lực lượng (NT Kerry ủng hộ COC và giải quyết theo luật quốc tế vì nước Mỹ có “lợi ích quốc gia“ trong việc giữ hòa bình, ổn định, tự do hàng hải theo luật quốc tế). Trong khi NT Kerry tuyên bố điều này thì hạm đội 7 của Hoa kỳ tập trận với Philippines, Thailan và Nhật và cũng tái bố trí thêm máy bay, tàu chiến tới Okinawa, Guam và Subic Bay.  TQ cũng thấy chưa phải lúc (hay chưa đủ sức) để có thể gây khó khăn tại BĐ. 

Kết luận

Theo Ian Storey của Viện ISAS của Singapore thì COC chỉ là biện pháp giảm căng thẳng chứ không giải quyết các tranh chấp chủ quyền và các tranh chấp chủ quyền còn kéo dài.

Việc thành công của ASEAN và ARF kỳ này cho thấy là có sự phân chia trách nhiệm phần nào giữa TT Sang, NTD và NPT về vấn đề biển Đông.  Nó đã giúp tạo ra sự đồng ý – nhất trí của các nước ASEAN đối với sức ép của TQ. Ngược lại với tình trạng năm trước tại Campuchia, nay các nước ASEAN đã đồng ý thúc TQ đàm phán về quy tắc ứng sử (COC), quốc tế hóa vấn đề BĐ. Đó là thắng lợi của Philippines và phần nào của VN với sự hỗ trợ của Mỹ, Nhật, và Âu châu. 

Hơn nữa hậu quả của các cuộc bạo động, nổi dậy đẫm máu ở Tân Cương  (10) giữa dân Duy Ngô Nhĩ với người Hán đã buộc Bắc Kinh phải gởi ủy viên thường trực Bộ Chính trị Du Chính Thanh (Yu Zhengsheng) đến Tân Cương.  TQ cũng bị tố là đang cố phá hủy văn hóa Tây Tạng. 

Các khó khăn về kinh tế, ngân hàng, hay việc giảm đà tăng trưởng kinh tế hay các tranh chấp nội bộ khác về đất đai, về tham nhũng có lẽ đã khiến TQ hạ giọng tại Brunei.  Mặc dù những lời lẽ rất ngoại giao, Mỹ vẫn tiếp tục tái bố trí quân sự, thủy quân lục chiến tại Okinawa, tập trận với Philippines, Nam Hàn, Ấn Độ, các tàu chiến và tàu ngầm tiếp tục ghé trở lại Subic Bay, vv. Và vì vậy có lẽ TQ sẽ tạm hoãn các đòi hỏi quá đáng trong thời gian tới. 
Trong bàn cờ Trung-Mỹ, Nhật sẽ là con “xe” trong khi Nam Hàn có thể là “con ngựa hay con pháo” và các nước Á châu khác như Phi, Úc, vv. là những con tốt đang tiến sang sông.  

Hậu quả của chính sách đánh đu kiểu VN là các con cờ khác tại TBD vẫn chưa có “lòng tin chiến lược“ đối với VN. Cho đến khi nào có các thay đổi trong nội bộ VN như về dân chủ hay nhân quyền thì VN mới có cơ may tạo nên cái gọi là "lòng tin chiến lược" đối với nhân dân mình và bạn bè quốc tế. 

TS ĐXQ





VOA - Dấu hiệu không đồng nhất về chính sách của TQ đối với TâyTạng


VOA

Những người biểu tình phản đối cầm ảnh của những người tự thiêu trong một cuộc tuần hành, bày tỏ tình đoàn kết, từ Lãnh sự quán Trung quốc đến trụ sở Liên hiệp quốc ở New York 10/12/12

Việc thờ phượng đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn còn là bất hợp pháp tại các khu vực Tây Tạng ở Trung Quốc, mặc dầu có tin tức trước đây về những thay đổi của Trung Quốc trong chính sách ở Lhasa và tại một số nơi trong tỉnh Thanh Hải kế cận.

Trong một phúc trình hôm thứ Ba, một tổ chức bênh vực mang tên Tây Tạng Tự do, có trụ sở ở London, nói rằng nhà chức trách tỉnh Thanh Hải đã gởi một thông điệp cho cư dân Tây Tạng, thông báo cho họ biết lệnh cấm hình ảnh của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng vẫn còn có hiệu lực.

Bà Alistair Currie, viên chức truyền thông của tổ chức Tây Tạng Tự Do nói, “Chúng tôi đã có xác nhận từ nhiều nguồn rằng, thông điệp này đã được gởi từ sở tuyên truyền ở Thanh Hải bằng tiếng Tây Tạng cho người Tây Tạng.”

Tổ chức Tây Tạng Tự Do đã đăng lại thông điệp vừa kể trong phúc trình của họ như sau:

“Trong những ngày gần đây, một số người đã loan truyền tin đồn qua Internet nói rằng, một chính sách mới đã được đưa ra trong khu vực của người Tây Tạng. Chúng tôi loan báo rõ ràng rằng không có thay đổi nào trong chính sách của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và chính phủ đối với Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.”

Trong một tuyên bố với đài BBC, cơ quan phụ trách vấn đề tôn giáo nhà nước cũng phủ nhận bất cứ thay đổi nào trong chính sách.

Kể từ năm 1996, chính phủ Trung ương đã áp dụng một chính sách cấm các đền thờ cũng như những khách sạn và tiệm ăn không được trưng bày hình ảnh của nhà lãnh đạo tinh thần sống lưu vong của Tây Tạng.

Hồi tuần trước, có tin là một số tu viện được phép treo hình hay mở các cuộc họp để thảo luận về việc bãi bỏ lệnh cấm này. Tin vừa kể đã khiến có đáp ứng của Ủy ban Tôn Giáo Nhà Nước là không có thay đổi về chính sách.

Các cơ sở truyền thông Trung Quốc đã giữ im lặng về vấn đề này. Hôm thứ Ba, việc thảo luận về vấn đề này đã bị kiểm duyệt một phần trên Internet.

Ông Trương Hải Dương, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Sắc Tộc Thiểu Số của Trung Quốc và Trường Đại Học Dân Tộc ở Bắc Kinh, nói rằng một đồng nghiệp của ông đã gởi cho ông một số thông tin về phúc trình này.

Ông nói rằng mặc dầu ông không biết trực tiếp về các cuộc thảo luận về chính sách trong giới hữu trách tại các vùng của người Tây Tạng, nhưng có giới hạn về những khác biệt trong quan điểm về vấn đề cách xử lý đối với Tây Tạng.

Ông nói: “Tôi nghĩ rằng chắc chắn có những ý kiến khác biệt nhau, và chắc chắn có những người tin vào những chuyện khác cần phải được thực hiện tại TâyTạng, nhưng giáo dục vẫn như cũ trong thời gian quá lâu, và nhân dân quen mang tới những ý kiến mới hay hòa giải khi đề cập tới vấn đề thiểu số và tôn giáo.”

Các tăng, ni, và dân thường đã thực hiện các biện pháp cực đoan để phản đối điều họ tin là ách cai trị đàn áp trong vùng.

Kể từ năm 2009, ít nhất đã có 120 người tự thiêu, một hành động mà nhà chức trách Bắc Kinh tin là bị xúi giục bởi Đạt Lai Lạt Ma và “đồng bọn” trong toan tính tách vùng này ra khỏi Trung Quốc.

Tháng trước, một giáo sư tại Trường Đảng của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức tách ra khỏi tính cách chính thống của đảng về Tây Tạng. Giáo sư Jin Wei đã nói với rằng một tạp chí tại Hong Kong rằng thái độ của Bắc Kinh đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma - người vẫn còn được hết sức kính trọng ở bên trong Tây Tạng - có ảnh hưởng tới cách nhân dân Tây Tạng phản ứng trước sự cai trị của Trung Quốc.

Bà nói với tạp chí Á Châu Tuần Báo rằng, “Chúng ta không thể chỉ đối xử với ông và coi ông như một kẻ thù.” Bà cũng gợi ý rằng, nếu thương thuyết trôi chảy Đức Đạt Lai Lạt Ma có thể được phép di chuyển tới Hong Kong, và ngay cả thực hiện những chuyến trở về Tây Tạng.

Các học giả ở bên ngoài Trung Quốc đã đồn đoán là có sự ủng hộ của giới lãnh đạo Trung Quốc cho việc nới lỏng chính sách cứng rắn của Bắc Kinh đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Ông Thubten Sampel, giám đốc Viện Chính sách Tây Tạng, một Cơ quan Nghiên Cứu Chính Sách trong chính phủ Trung Ương Tây Tạng có căn cứ ở Dharamshala nói rằng, những ý kiến của bà Jin gợi ý rằng có một cuộc đối thoại về Tây Tạng giữa những nhà lãnh đạo cao cấp của chính phủ Bắc Kinh.

Ông nói: "Có thể có một mức độ đối thoại nào đó về cách tốt nhất mà Trung Quốc nên giải quyết vấn đề Tây Tạng. Bất cứ thay đổi nào trong chiều hướng giải quyết vấn đề Tây Tạng cũng được coi như quá nguy hiểm, và cho tới nay không có nhà lãnh đạo nào đủ can đảm chấp nhận nguy cơ đó.”

Đồng thời, ông Thubten nói rằng để mọi chuyện như cũ – với tình trạng không giải quyết những mối bất bình sẵn sàng biến thành bất ổn cũng nguy hiểm không kém. Ông nói:

“Hy vọng của chúng tôi là các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ chấp nhận một chính sách nhân hậu hơn, bao dung hơn đối với nhân dân Tây Tạng.”

Ông Tập Cận Bình, người đã trở thành Chủ tịch Trung Quốc hồi tháng Ba, trong quá khứ đã đưa ra những tuyên bố chỉ trích các “hoạt động ly khai” tại Tây Tạng, và các nhà phân tích nói rằng chắc ông sẽ không xoay chiều đáng kể khỏi các chính sách cứng rắn của những người tiền nhiệm của ông. 


Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Nguyễn Hưng Quốc - Chính trị Úc: Trò chơi quyền lực trong một chế độ dân chủ


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà cựu lãnh đạo Australia Kevin Rudd, đã tuyên thệ nhậm chức Thủ Tướng Úc, 3 năm sau khi ông bị bà Julia Gillard lật đổ.

Ngày 26/6 vừa qua, tại Úc lại có cuộc đảo chính: Cựu Thủ tướng Kevin Rudd lên thay thế đương kim nữ Thủ tướng Julia Gillard.

Đó là cuộc đảo chính thứ hai trong vòng hơn ba năm tại Úc. Lần trước, ngày 24/6/2010, Julia Gillard, lúc ấy là Phó thủ tướng, đảo chính Kevin Rudd để lên nắm quyền.

Suốt ba năm và hai ngày giữa hai cuộc đảo chính là vô số các âm mưu giành giật quyền lực, lúc âm thầm lúc lộ liễu, khiến chính trường Úc nhiều lúc giống như một sân khấu đầy kịch tính, trên đó, ngoài hai diễn viên chính, Kevin Rudd và Julia Gillard, còn lố nhố các diễn viên phụ khác.

Sinh năm 1957, Kevin Rudd là một người có máu chính trị gần như bẩm sinh. Mười lăm tuổi, tham gia đảng Lao Động; 24 tuổi, sau khi học xong Cử nhân về Á châu học (ngành học chính là ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc), ông làm việc trong ngành ngoại giao; 41 tuổi trở thành Dân biểu Quốc Hội liên bang; tám năm sau, trở thành lãnh tụ đảng Lao Động (thay thế Kim Beazley); một năm sau đó, trong cuộc bầu cử năm 2007, ông đánh bại đương kim Thủ tướng John Howard để trở thành Thủ tướng thứ 26 của Úc vào lúc vừa được 50 tuổi.

Một hai năm đầu, Kevin Rudd được xem là một vị Thủ tướng rất giàu sáng kiến và đầy quyền lực. Giới bình luận chính trị khen ông có đầu óc chiến lược, tận tụy, làm việc không biết mệt mỏi. Nhưng sau, tiếng tăm và uy tín của ông cứ mờ dần. Cung cách làm việc quá chi li (micro-management) của ông khiến nhiều người trong đảng bất mãn. Ngày 23/6/2010, Phó Thủ tướng Julia Gillard tuyên bố không đồng ý với cách làm việc của ông và thách thức ông tổ chức cuộc bầu cử trong nội bộ các dân biểu và nghị sĩ trong đảng. Sau mấy tiếng đồng hồ thăm dò, biết mình thua, ông tuyên bố từ chức và Julia Gillard lên thay thế. Cuộc “đảo chính” diễn ra một cách gọn gàng và nhanh chóng trong một buổi tối. Nhiều người Úc, tối, ngủ sớm, hoặc không theo dõi tin tức, sáng 24/6 thức dậy, mới biết nước mình có Thủ tướng mới. Và là nữ Thủ tướng đầu tiên trong lịch sử.

Nhiều người tưởng Kevin Rudd sẽ từ bỏ chính trị. Nhưng không. Mất chức Thủ tướng, ông nhận làm Bộ trưởng Ngoại giao dưới quyền của tân Thủ tướng Julia Gillard. Làm việc chung, nhưng quan hệ giữa hai người hoàn toàn lạnh nhạt, có lúc, đầy căng thẳng. Họ không những thù ghét nhau mà còn có những toan tính chính trị khác hẳn nhau. Có lúc đâm sau lưng nhau, nếu có thể.

Cuối tháng 2 năm 2012, Kevin Rudd lại thách thức quyền lãnh đạo của Julia Gillard. Nhưng trong cuộc bầu cử trong nội bộ đảng, ông chỉ được 31 phiếu trong khi bà Gillard được đến 71 phiếu. Thất bại, ông rút vào hàng ghế sau (backbench, chỉ những dân biểu và nghị sĩ không nắm giữ chức vụ nào trong chính phủ, thường ngồi ở các dãy ghế sau cùng trong phòng họp Quốc Hội), và tuyên bố sẽ không tranh giành chức lãnh tụ đảng Lao Động với bà Gillard nữa.

Tuy nhiên, ngày 21 tháng 3 năm 2013, một số bộ trưởng ủng hộ Kevin Rudd trong nội các của bà Gillard lại yêu cầu bà tổ chức bầu cử trong nội bộ đảng lại lần nữa. Bà Gillard đồng ý. Nhưng sau khi thăm dò tình hình, biết sẽ không thắng được bà Gillard nên ông Rudd tuyên bố rút lui. Cuối cùng bà Gillard vẫn là lãnh tụ đảng và vẫn là Thủ tướng.

Có điều, uy tín của bà Gillard trong dân chúng vẫn tiếp tục xuống thấp. Nhiều người khen bà thông minh và đảm lược, nhưng sau một số lần thất hứa, dân chúng không còn tin bà nữa. Theo các cuộc thăm dò dư luận, số người ủng hộ đảng Lao Động dưới sự lãnh đạo của bà Gillard càng ngày càng giảm. Nếu bầu cử diễn ra, chắc chắn đảng Lao Động sẽ đại bại. Điều đó khiến nhiều người lo lắng. Nhiều tờ báo lớn tại Úc (như The Age và Sydney Morning Herald) viết xã luận kêu gọi Thủ tướng Julia Gillard nên từ chức. Họ công nhận bà Gillard thông minh và có năng lực, làm được rất nhiều việc trong những tình thế thật khó khăn, nhưng việc bà thiếu sự tín nhiệm từ trong đảng đến ngoài quần chúng không phải là một dấu hiệu lành mạnh cho nền dân chủ tại Úc. Triển vọng liên đảng đối lập thắng lớn, chiếm đại đa số ghế trong Quốc Hội, dưới mắt mọi người có ý thức chính trị, là một nguy cơ đối với dân chủ. Theo họ, dân chủ chỉ thực sự được bảo đảm nếu, một, tương quan lực lượng giữa đảng cầm quyền và đảng đối lập không có khoảng cách quá lớn; và hai, lực lượng đối lập phải mạnh đủ để kiểm soát chính phủ. Bởi vậy, các nhà báo kêu gọi bà Gillard ra đi để trước hết, bảo vệ các thành tích bà đã đạt được; và sau đó, tránh tình trạng đảng Lao Động bị thua quá nặng có thể ảnh hưởng đến tính cạnh tranh và sinh hoạt dân chủ trong nền chính trị Úc.

Julia Gillard bác bỏ các lời kêu gọi của báo chí. Bà khẳng định vẫn tiếp tục lãnh đạo đảng Lao Động và tiếp tục làm Thủ tướng cho đến ngày bầu cử dự định sẽ tổ chức vào ngày 14 tháng 9. Có điều nhiều Bộ trưởng cũng như nhiều dân biểu và nghị sĩ thuộc đảng Lao Động lại không chấp nhận viễn tượng bị thất cử và hậu quả là đảng Lao Động có thể bị đẩy vào vị thế đối lập trong cả một, hai thập niên sắp tới. Vì vậy, nhiều người trong họ lại vận động cho ông Kevin Rudd lên làm lãnh tụ trở lại.

Bảy giờ tối ngày Thứ Tư 26/6, các dân biểu và nghị sĩ đảng Lao Động lại họp và bầu cử lãnh tụ. Sau hơn một tiếng đồng hồ họp, kết quả được công bố: Ông Rudd được 57 phiếu; bà Gillard được 45 phiếu. Một tiếng sau đó, lúc 9 giờ 15 tối, bà Gillard tổ chức họp báo, tuyên bố từ chức Thủ tướng và chúc mừng người thắng cuộc, Kevin Rudd. Bà cũng cho biết bà sẽ không ra tranh cử trong cuộc bầu cử sắp tới, nghĩa là, sẽ vĩnh biệt sân khấu chính trị. Hơn một tiếng đồng hồ sau đó, lúc đã hơn 10 giờ rưỡi, Kevin Rudd tổ chức họp báo và khen ngợi Gillard là một phụ nữ thông minh, can đảm và tận tụy.

Sáng sớm ngày hôm sau, Kevin Rudd chính thức tuyên thệ làm Thủ tướng mới của Úc. Lần thứ hai.

Có lẽ các bạn đọc ở ngoài nước Úc khó hình dung tại sao ở Úc việc thay đổi Thủ tướng lại dễ dàng như vậy. Chỉ xin lưu ý là hệ thống chính trị tại Úc giống Anh nhưng lại khác hẳn Mỹ hay những nước theo Tổng thống chế. Ở Úc – cũng như ở Anh – dân chúng không trực tiếp bầu người lãnh đạo cao nhất nước (là Thủ tướng, trong khi Nữ Hoàng chỉ giữ vai trò tượng trưng). Họ chỉ bầu cho đảng. Đảng nào chiếm nhiều phiếu nhất trong Hạ viện sẽ lên cầm quyền và lãnh tụ của đảng ấy sẽ nắm chức Thủ tướng. Bởi vậy, khi đảng quyết định thay đổi lãnh tụ, họ cũng đồng thời thay đổi cả Thủ tướng.

Khi nào thì người ta có thể quyết định thay đổi lãnh tụ? Trên nguyên tắc, bất cứ lúc nào cũng được, với điều kiện có ít nhất một phần ba số dân biểu và nghị sĩ trong đảng yêu cầu. Trong cuộc bầu cử, người nào được nhiều phiếu nhất, người đó sẽ lên làm lãnh tụ, và do đó, lên làm Thủ tướng.

Ở đây, có hai điều cần được nhấn mạnh:

Thứ nhất, do cơ chế dân chủ tại Úc quá vững vàng, việc thay đổi Thủ tướng không hề gây nên bất cứ một xáo trộn nào trong sinh hoạt chính trị cũng như đời sống của dân chúng cả. Đã đành mỗi Thủ tướng có thể có một số chính sách riêng, nhưng, một, phần lớn các chính sách ấy cũng đều nằm trong khung chính sách chung của đảng; hai, ngay cả khi nó nằm ngoài chủ trương chung của đảng thì nó vẫn cần phải được Quốc Hội thông qua; và ba, bộ máy nhà nước, với nhân viên các cấp, vẫn tiếp tục làm việc bất kể mọi sự thay đổi từ bên trên.

Thứ hai, tôi đoán một số “dư luận viên” ở trong nước, đọc những lời tường thuật và bình luận ở trên, sẽ tìm cách biện hộ cho đảng và chính phủ của họ: Ừ, thì Úc cũng giống Việt Nam thôi: Thủ tướng do đảng cầm quyền chỉ định chứ dân chúng đâu được bầu! Nhưng ở đây lại có bốn sự khác biệt về bản chất: Một, tại Úc, đảng cầm quyền là do dân chúng bầu chứ không phải bị áp đặt, thậm chí, áp đặt ngay từ trong Hiến pháp (điều 4) như ở Việt Nam; hai, ở Úc, bầu là bầu thật, bầu một cách dân chủ với sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau chứ không phải là bầu cử vờ vĩnh lấy lệ dưới chế độ độc đảng như ở Việt Nam; ba, nếu Thủ tướng không còn được tín nhiệm thì sẽ bị thay thế ngay tức khắc (chứ không giống cái kẻ bị rất nhiều phiếu “tín nhiệm thấp” vẫn cứ có thể ung dung ngồi lì trên ghế như Nguyễn Tấn Dũng); và bốn, nếu Thủ tướng và đảng cầm quyền bị dân chúng không tín nhiệm nữa thì họ sẽ mất tất cả trong kỳ bầu cử kế tiếp (cứ ba năm thì được tổ chức một lần!)

Với các đặc điểm kể trên, cái gọi là đảo chính ở Úc khác hẳn kinh nghiệm đảo chính chúng ta thường biết. Đảo chính ở Úc không có máu me, đã đành; nó cũng không có cả nước mắt nữa. Các quan sát viên chính trị tại Úc ghi nhận, đọc bài diễn văn từ giã ngay sau khi bị thua phiếu và mất chức vào tối ngày 26/6, đôi mắt của Julia Gillard, tuy thoáng buồn, nhưng vẫn ráo hoảnh. Không một giọt nước.