Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Hà Tường Cát - Rủi ro kinh tế Trung Quốc đe dọa toàn cầu


HÀ TƯỜNG CÁT
(Tổng Hợp)

Sản xuất suy yếu của Trung Quốc, phản ánh qua hai chỉ số tiêu thụ công bố hôm Thứ Hai, là dấu hiệu về sự rủi ro kinh tế cho Hoa Kỳ và thế giới. Hai chỉ số thăm dò, một do chính quyền Trung Quốc, một do ngân hàng HSBC thực hiện, đều cho thấy có sự sút giảm từ tháng 5 qua tháng 6.


Công nhân Trung Quốc ráp các tấm bảng thu năng lượng mặt trời sản xuất tại công ty Suntech Power ở thành phố Vô Tích (Wu Xi) tỉnh Giang Tô. Công ty đứng đầu thế giới trong kỹ nghệ năng lượng sạch này vừa khai phá sản. (Hình: Peter Parks/AFP/Getty Images)  

Tân Hoa Xã nói rằng với tình trạng khó khăn về ngân sách và nợ nần ở Hoa Kỳ cũng như các nước Âu Châu chưa thể nhanh chóng giải quyết thì kinh tế Trung Quốc là tác nhân ổn định cho kinh tế toàn cầu. Nhưng nếu lập luận ấy phần nào có thể chấp nhận, thì thực trạng đang suy yếu của nền kinh tế Trung Quốc sẽ trở thành điều ngược lại. 

Sức tiêu thụ của nước ngoài cũng như trong nước tác động mạnh đến công nghiệp sản xuất của Trung Quốc với tình trạng tồn kho ứ đọng và đơn đặt hàng ít đi. Hậu quả là mức sa thải nhân công ở các doanh nghiệp đã tăng nhanh kể từ tháng 8 năm ngoái.

David Poh, trưởng ban lượng giá tài sản khu vực của tổng hội ngân hàng tư nhân, cho rằng thay vì là nhân tố thúc đẩy kinh tế thế giới như những năm trước, Trung Quốc bây giờ trở thành một đe dọa cho sự phát triển. Ông nói: “Trung Quốc đóng vai trò lớn trong sự tăng trưởng toàn cầu và nếu chiều hướng thoái trào tiếp tục thì sẽ là điều rất xấu cho toàn thế giới”.

Ông Poh giải thích: “33% xuất cảng của Trung Quốc sang khu vực đồng euro và chúng ta đều biết rằng khu vực này chưa lành những vết thương năm ngoái. Các công ty hầm mỏ Australia cũng như Châu Mỹ La Tinh lệ thuộc vào tăng trưởng của Trung Quốc. Sức tiêu thụ của Hoa Kỳ cũng sẽ đi xuống nều kinh tế toàn cầu không phát triển như dự tính”.

Trung Quốc hiện nay là cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới tính theo GDP (tổng sản lượng nội địa) góp phần 24% cho tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2011. Trung Quốc là đối tác mậu dịch lớn thứ nhì của Hoa Kỳ, nước nhập cảng hàng Nhật và xuất cảng sang Liên Âu nhiều nhất. Trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc cũng ở vị trí khống chế về hàng hóa xuất cảng.

Do nhu cầu khổng lồ về nguyên liệu, Trung Quốc cũng trở thành mối đe dọa nặng nề cho môi trường. Trong điều kiện phát triển, từ những năm kể từ khi chuyển sang đường lối đổi mới kinh tế thị trường, Trung Quốc chú trọng vào tiết kiệm ngoại tệ và gia tăng đầu tư ở hải ngoại. Sức tiêu thụ quốc nội chưa đạt tới trình độ một quốc gia phát triển kỹ nghệ và sự gia tăng khả năng của thị trường quốc nội sẽ là yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng ổn định của kinh tế Trung Quốc cũng như ảnh hưởng đến thế giới.

Trong hơn 30 năm vừa qua tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn luôn trên 10% nhưng trong quý 1 năm nay chỉ đạt tới 7.7%. Các chuyên gia kinh tế cho rằng bằng đường lối gì Trung Quốc cũng không thể nào tái tạo được mức tăng trưởng ấy trong một thời gian và có lẽ là vĩnh viễn. Nhiều sự kiện chứng minh cho nhận định này vì kiểu mẫu phát triển của Trung Quốc đến nay xuất hiện những điểm sai lầm.

Từ khi khởi đầu đổi mới theo kinh tế thị trường, Trung Quốc đã tập trung những tài nguyên khổng lồ, bằng tư bản trong nước hay đầu tư nước ngoài cùng với nhân lực dồi đào, để đẩy mạnh phát triển. Xí nghiệp, cơ sở văn phòng, hạ tầng cơ sở được xây dựng tràn ngập, hàng triệu công nhân nghèo lương thấp được huy động vào sản xuất đủ mọi mặt hàng tiêu dùng thông thường, quần áo bán giá rẻ cho đến đồ điện tử và xe hơi.

Bộ máy “tư bản quốc doanh” có khuynh hướng tập trung ưu tiên vào những công trình lớn hoặc dự án kỹ nghệ không thể tiến triển điều hòa mãi mãi. Lực lượng lao động rẻ dần dần giảm, do dân Trung Quốc già đi và hậu quả của chính sách gia đình một con đã không đem lại số nhân lực kịp thay thế. Thêm vào đó với mức sống được nâng cao hơn, đòi hỏi về điều kiện làm việc cũng tăng lên. Chưa kể tình trạng tham ô và lãng phí, hệ thống tư bản nhà nước đã tạo nên quá nhiều xí nghiệp và nợ nần chồng chất trong tất cả mọi khu vực kinh tế.

Nhiều ngành công nghiệp không có hiệu quả là nguy cơ khác của nền kinh tế Trung Quốc, chẳng hạn như năng lượng sạch. Theo tạp chí Time, các ngân hàng Trung Quốc đã bơm hàng tỷ dollars cho công nghiệp sản xuất bảng thu năng lượng mặt trời, tạo ra hàng trăm xí nghiệp và Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới ở lãnh vực này. Đến nay ngành năng lượng sạch trở thành nạn nhân của chính mình do sự dư thừa và dấu hiệu tiêu biểu cụ thể là công ty đứng đầu thị trường Suntech Power vừa khai phá sản. Năm ngoái, các công ty Hoa Kỳ đã tố cáo tại Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới là Suntech cạnh tranh không công bằng với sự bao cấp của nhà nước để sản xuất và bán phá giá.

Trong một ngành kỹ nghệ khác, các công ty sản xuất thép tiếp tục đầu tư để gia tăng sản lượng dù nợ nần và thua lỗ tăng lên. Rất nhiều xí nghiệp với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương vì muốn tạo ra công ăn việc làm đã hy sinh tốn kém và kết quả là những công ty quốc doanh ngốn hết đầu tư còn công ty tư nhân thì không có đủ vốn.

Theo cơ quan đánh giá tài chính Fitch thì mức tín dụng so với GDP lên tới 198% vào cuối năm 2012 nghĩa là tăng lên rất cao từ 125% năm 2008. Nợ của các chính quyền địa phương cũng leo thang, ước lượng $2,000 tỷ hay 25% GDP. Tình trạng này đưa đến sự xuất hiện những “ngân hàng ma” nghĩa là những nguồn cho vay vốn bí mật không có trong sổ sách thanh toán của bất cứ đại ngân hàng chính thức nào.

Tân Hoa Xã dẫn lời chủ tịch Tập Cận Bình trong một phát biểu mới đây, nói rằng “không thể đánh giá nền kinh tế bằng tăng trưởng của GDP, mà còn phải căn cứ theo nhiều yếu tố khác như cải tiến và phát triển xã hội, tình trạng môi trường,…”. Nhưng điều ấy có nghĩa là ban lãnh đạo Trung Quốc hãy còn do dự không muốn tiếp tục những kế hoạch kích cầu.

Từ lâu các chuyên gia kinh tế đã đồng ý rằng giải pháp cho nền kinh tế Trung Quốc phải là giảm lệ thuộc vào đầu tư với mục tiêu phát triển và quân bình hóa bằng cách gia tăng sức tiêu thụ trong thị trường nội địa. Tiêu thụ trong thị trường quốc nội so với GDP ở Trung Quốc chiếm tỷ lệ thấp hơn tất cả các quốc gia phát triển kinh tế trên thế giới. Giới kinh doanh cho rằng sau khi đã tiến lên hàng cường quốc kinh tế, Trung Quốc đã để qua hàng chục năm không có cải cách.

Với tình hình kinh tế còn khó khăn ở Hoa Kỳ và nhất là Âu Châu, thế giới không thể trông cậy vào sự phát triển của Trung Quốc để phát triển. Bởi vì khi Trung Quốc không có sự cải cách thích đáng mà vẫn duy trì kiểu mẫu phát triển cũ để ngày càng yếu kém dần thì cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng khó có thể tránh khỏi và sẽ tác động đến toàn cầu. (HC)


Phạm Thị Hoài - Xã hội Mỹ sẽ biết cách tự vệ. Noam Chomsky trả lời phỏng vấn



Phạm Thị Hoài dịch

Khi tôi dịch bài phỏng vấn này, chính phủ Đức sau nhiều ngày im lặng đã chính thức bày tỏ thái độ phản đối gay gắt việc cơ quan tình báo Hoa Kỳ NSA thực hiện do thám quy mô lớn với cả các đồng minh châu Âu, trong đó có Đức. Một cao ủy EU yêu cầu ngưng các cuộc thương lượng Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Hoa Kỳ, cho đến khi Hoa Kỳ triệt để giải trình mọi cáo buộc do thám, và Đảng Xanh trong Nghị viện EU đề nghị Liên minh châu Âu cấp quy chế tị nạn chính trị và trao giải thưởng mang tên nhà bất đồng chính kiến Xô-viết Sakharov cho Edward Snowden, người tiết lộ những bí mật tình báo của NSA. Quả thật, chúng ta còn biết nói gì nếu một dissident của thời hiện đại như Snowden phải chạy trốn chính quyền của một quốc gia dân chủ, một xứ sở nổi tiếng là “thế giới tự do”, để tị nạn tại một quốc gia chuyên chế?

Noam Chomsky

Vì thế, chút lạc quan vang lên về cuối, từ Noam Chomsky, người phê phán bền bỉ và mạnh mẽ nhất chủ nghĩa tư bản toàn cầu, chủ nghĩa đế quốc và đặc biệt là chính sách đối ngoại của các chính phủ Hoa Kỳ, khiến tôi không thể không dùng để giật tít.

Người dịch
_______________

Zeit: Thưa Giáo sư Chomsky, khi được biết về vụ bê bối giám sát internet của Hoa Kỳ lần đầu tiên ông nghĩ gì? Ông có ngạc nhiên không?

Chomsky: Không, tôi không ngạc nhiên, có gì mà ngạc nhiên. Khả năng dùng internet để giám sát dân chúng đã sẵn có trong công nghệ đó, là một bộ phận nội tại của nó. Đi liền với điều đó là một số thứ khá khó chịu, như ta đang chứng kiến. Chỉ cần đọc các tạp chí của Học viện [i] nơi tôi làm việc là thấy. Với các chuyên gia thì chế ra một kĩ thuật để ghi lại toàn bộ những gì anh làm trong máy vi tính và chuyển cho một người kiếm soát là việc dễ như chơi. Trớ trêu là: tất cả những chuyện đó xảy ra mà anh không hay biết. Hay chiếc kính của Google chẳng hạn. Nó cho phép vừa nhìn vừa chụp hình tất cả mà không ai để ý. Anh có biết khi được hỏi, liệu những công nghệ như vậy có xâm phạm ranh giới riêng tư của con người không, người điều hành Google, ông Eric Schmidt, đã trả lời thế nào không?

Ông ấy nói đại ý: Nếu có điều gì mà bạn không muốn ai biết thì có lẽ đằng nào bạn cũng không nên làm [ii].
Chính xác, ông ấy nói như thế. Và chính phủ Mỹ tất nhiên cũng tư duy như thế. Cùng một cách lập luận, cùng một cách nhìn. Nhưng không chỉ riêng chính quyền Obama, mà mọi hệ thống quyền lực đều tư duy như vậy.

Ông nói như thể giám sát là chuyện hoàn toàn bình thường ở các nước dân chủ.

Chúng ta vừa được biết là nhân viên của cơ quan tình báo quân sự NSA cũng được quyền theo dõi email. Từ nhiều năm nay tôi đã nói rồi: nếu muốn giữ một điều gì đó trong vòng riêng tư, không rơi vào tay các cơ quan nhà nước, thì đừng đưa nó lên mạng.

Chúng ta đã ảo tưởng về tự do trên mạng chăng?

Tôi mừng là có internet, đó là một công nghệ tuyệt vời và tôi thường xuyên sử dụng. Nhưng mặt khác, càng ngày chúng ta càng ý thức rõ hơn những khía cạnh tiêu cực của internet. Dùng internet là bày mình ra, là thả mình cho giám sát và kiểm soát.

Thời những năm 60 ở Mỹ người ta đã lo ngại là nhà nước theo dõi người dân. Cái đó được gọi là tổ hợp chính trị-quân sự.

Tôi cũng thấy được gợi lại thời đó. Khi tham gia ủng hộ các phong trào chống chiến tranh Việt Nam, chúng tôi không đời nào nói rõ trong điện thoại. Chúng tôi biết là mình bị nghe lén. Chỉ trong các nhóm nhỏ hay giữa những người biết nhau chúng tôi mới được nói thoải mái. Nhưng với một hệ thống nhà nước muốn kiểm soát phản kháng xã hội thì đó là điều hoàn toàn bình thường. Về việc này thì xã hội Mỹ đằng nào cũng khá kì cục.

NSA là một cơ quan thuần túy quân sự. Sự phân biệt giữa quân sự và dân sự ở Mỹ đã biến mất hay sao? Ranh giới giữa chính trị, xã hội và quân sự đã nhòa vào nhau chăng?

Không, câu hỏi này dẫn chúng ta đi lạc đường. Không thể quy trách nhiệm của những biện pháp nghe lén cho giới quân sự Hoa Kỳ. Nguyện vọng giám sát xuất phát từ chính trị và từ xã hội. Hệt như trong chiến tranh: thường thì giới quân sự không có hứng xung trận, không bao giờ tham gia với tinh thần hồ hởi.

Nghe ông nói thì dường như chức năng của các cơ quan tình báo không phải là bảo vệ nhà nước trước kẻ thù bên ngoài, mà là trước chính người dân của mình.

Tôi đã mất nhiều thời gian trong đời để đọc hồ sơ tình báo sau khi được giải mật. Anh có biết điều gì đáng lưu ý ở đó không? Chỉ một phần rất nhỏ liên quan đến an ninh quốc gia. Còn thực ra, chủ yếu là liên quan đến dân chúng. Người ta gọi cái trạng thái mà chính quyền được an toàn trước người dân là an ninh. Thí dụ như Hồ sơ Lầu Năm góc. An ninh của Hợp chúng quốc Hoa kỳ chẳng ăn nhằm gì ở đó. Các hồ sơ này tập trung cao độ, tới mức đáng ngạc nhiên, vào việc nắm thông tin để kiểm soát – vào câu hỏi: điều gì đang diễn ra trong dân chúng Mỹ.

Những hồ sơ mà WikiLeaks công bố cũng như vậy?

Đúng thế. Ở đó các lợi ích an ninh quốc gia cũng hầu như không hề bị chạm đến. Các văn bản mật chỉ thường xuyên đề cập việc bảo vệ chính phủ trước dân chúng như thế nào.

Nhưng Barack Obama sẽ bảo ông rằng: phòng trước chắc chắn là tốt hơn một vụ khủng bố mới ở Hoa Kỳ. Ông ấy sẽ nói rằng muốn đảm bảo an ninh thì đành chấp nhận một mức độ giám sát nhất định. Không thể muốn hết mọi thứ cùng một lúc.

Xin lỗi, tôi thấy lập luận ấy quá chung chung. Tổng thống Hoa Kỳ nên thay đổi đường lối thì tốt hơn. Obama nên chấm dứt hẳn việc điều hành một cỗ máy sản xuất khủng bố trên khắp thế giới.

Nhưng trong chuyện khủng bố thì Obama đâu có lỗi.

Mỗi người dân thường bị máy bay không người lái của Hoa Kỳ giết hại lại sinh ra những kẻ khủng bố mới. Đấy không phải là một điều bí mật. Tướng Stanley A. McChrystal là một trong số ít những người hiểu ra điều đó, rằng chương trình được thực thi khắp thế giới của Obama đẻ ra những kẻ khủng bố tiềm năng nhanh hơn tốc độ mà Hoa Kỳ có thể tiêu diệt những đối tượng bị tình nghi. Hãy nhớ đến chiến tranh Iraq. Các cơ quan tình báo đã chẩn đoán chính xác rằng lực lượng khủng bố sẽ tăng lên sau khi Mỹ vào chiếm đóng, so với trước đó. Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Người ta biết rõ, nhưng chẳng ai thèm quan tâm.

Những ngày này Barack Obama đang đến thăm Đức. Theo ông, bà Angela Merkel nên nói gì về vụ bê bối nghe lén?

Cái đó phụ thuộc vào việc bà Merkel có tin vào tự do và dân chủ không, và tôi nghĩ rằng bà Thủ tướng Đức có niềm tin đó. Bất kì ai tin vào tự do và dân chủ đều nên yêu cầu Obama chấm dứt việc giám sát dân chúng. Để tránh hiểu lầm: Không phải chỉ nên yêu cầu chính phủ Mỹ, mà gần như mọi chính phủ. Tiếc rằng chỉ có ít người đủ dũng cảm làm như vậy.

Ông có tin rằng chính phủ Đức thực sự không biết đến việc thực thi giám sát ở Mỹ?

Tôi không rõ. Biết đâu người Đức cũng làm hệt như Obama?

Bộ trưởng Nội vụ Friedrich thì chắc chắn là “rất hàm ơn sự hợp tác tốt đẹp với các cơ quan tình báo Hoa Kỳ”. Còn Cục Tình báo Liên bang BND thì được một ngân sách hàng triệu Euro cho một chương trình giám sát.
Tôi không muốn can thiệp vào việc của các vị. Tôi chỉ biết rằng: Công nghệ để giám sát người dân đang có đó. Và tiếc rằng chúng ta phải tính đến khả năng là mọi chính phủ đều sử dụng các phương tiện kĩ thuật để thâu tóm và kiểm soát dân chúng càng nhiều càng tốt.

Google, Apple, Amazon, Facebook đóng vai trò gì trong tấn trò này?

Khó xác định. Họ theo dấu vết ta suốt ngày đêm. Ta chỉ cần mua một cuốn sách ở Amazon là họ có thể nói ngay, sắp tới ta sẽ mua cái gì. Họ tìm cách thu thập thông tin tối đa. Với thông tin, họ hái ra tiền.

Nhưng Google và các doanh nghiệp ấy đại diện cho quyền lợi của ai? Của tự do, của internet, của chính phủ…?

Rất đơn giản: họ đại diện cho quyền lợi của chính họ, và đương nhiên đó là những quyền lợi thương mại. Họ muốn bán một cái gì đó. Cho nên họ muốn biết mọi thứ về khách hàng.

Nếu những núi dữ liệu này rơi vào tay các chính phủ thì một hình thức thực thi quyền lực và kiểm soát xã hội kiểu mới sẽ xuất hiện. Michel Foucault sẽ gọi đó là “Vật lí vi mô của quyền lực”.[iii]

Ồ, cần gì đến Foucault ở đây. Mắt thường cũng nhìn ra sự thay đổi hình dạng của quyền lực. Công nghiệp quảng cáo là một ví dụ tốt. Nghề “quan hệ công chúng” (PR) được phát minh ở đâu? Ở các xã hội tự do nhất thế giới, tại Mỹ và Anh. Và lí do? Vì ở các nước tự do, khó kiểm soát người dân bằng cách trực tiếp áp đặt quyền lực. Cho nên phải kiểm soát kiểu khác: bằng cách tác động vào ý kiến, vào quan điểm và thái độ của người dân. Trong các xã hội tự do, vấn đề là đưa đầu óc con người vào quy định. Giống như quân đội đưa thân thể lính tráng vào quy định.

Ông có coi Edward Snowden, người đã tiết lộ bí mật của NSA, là một anh hùng không?

Có.

Nhưng anh ấy đã phạm luật. Với Obama thì Snowden là một kẻ phản bội.

Edward Snowden đã làm điều phải làm: Thông tin cho công luận biết rằng mình bị nghe lén.

Vì sao những người như Julian Assange, Bradley Manning hay Edward Snowden lại nguy hiểm cho nhà nước như vậy?

Cái đó thì hai mươi năm trước, một nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng cũng được đọc nhiều ở Đức đã tóm gọn chính xác: Quyền lực phải ẩn trong bóng tối. Lôi nó ra ánh sáng là nó tan biến – nó bốc hơi luôn. Muốn duy trì quyền lực thì phải lo sao cho người dân không biết quyền lực đang làm gì với mình. Tên của học giả đó là Samuel Huntington.

WikiLeaks có phải là một quyền lực dân chủ không?

WikiLeaks đã bóc trần nhiều điều mà công luận nên được biết đến. Tất nhiên, phần lớn trong số đó khá hời hợt. Tôi đặc biệt sửng sốt về những cảnh báo của đại sứ Hoa Kỳ tại Pakistan. Ông ấy đã nói rất rõ rằng chính sách chống khủng bố của Hoa Kỳ đẩy dân chúng Pakistan sang phía Hồi giáo và cực đoan. Nhưng chẳng ai buồn quan tâm đến ý kiến đó.

Có thông tin rằng chỉ trong vòng một tháng, NSA đã thu thập gần 100 tỉ tập hợp dữ liệu. Có thể cưỡng được ấn tượng tai hại, rằng nước Mỹ dân chủ và nền độc tài Trung Quốc giống nhau đến bất ngờ ở một điểm: cả hai cùng giám sát dân chúng nước mình không?

Thú thật là điều này tôi không nghĩ đến. Hoa Kỳ là một nước dân chủ, còn Trung Quốc thì rõ ràng không là một nước dân chủ. Có lần tôi đến Bắc Kinh giảng bài, một sinh viên hỏi tôi nghĩ gì về nền dân chủ Trung Quốc. Tôi đáp: nền dân chủ Trung Quốc ở đâu, xin anh chỉ cho tôi được không, vì ở ngoài kia tôi không phát hiện ra nó. Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng ngàn cuộc nổi dậy của công nhân.

Các blogger Trung Quốc đang giễu: Phương Tây rao giảng tự do và giám sát chính người dân của mình.

Họ cứ việc giễu. Ta còn chưa hề biết chính phủ Hoa Kỳ có thể làm gì với những đống thông tin kia. Như cái danh sách kẻ thù của Richard Nixon [iv] – anh thấy đấy, có làm được gì nhiều đâu. Hơn nữa, tôi hi vọng thế, xã hội Mỹ sẽ biết cách tự vệ.

Nguồn: Phần chính của bài phỏng vấn đăng trên tuần báo Zeit, 21-6-2013. Người thực hiện: Thomas Assheuer. Nhan đề của bản tiếng Việt do người dịch đặt. Các chú thích đều của người dịch.

Bản tiếng Việt © 2013 pro&contra


[i] Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT)
[ii] Eric Schmidt trả lời phỏng vấn của Maria Bartiromo trên CNBC ngày 3-12-2009. Nguyên văn tiếng Anh: “If you have something that you don’t want anyone to know, maybe you shouldn’t be doing it in the first place.”
[iii] Khái niệm “microphysique du pouvoir” của Michel Foucault
[iv] Xem: http://www.enemieslist.info/


Bùi Tín - Văn kiện đầu hàng


Bùi Tín

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong buổi lễ ký kết tại Sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ngày 19/6/2013.


Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.

Nhân danh Chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức Trung Quốc. Ngày 21 tháng 6 ông đã ký với Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng CS Trung Quốc Tập Cận Bình bản Tuyên bố chung rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh nước ta.

Bản Tuyên bố chung bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Việt Nam này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác và phố biến đi khắp thế giới.

Mọi người Việt Nam yêu nước không thể không bàng hoàng và phẫn nộ khi đọc kỹ văn kiện nói trên, không thể không nhận định đây là một văn kiện tuyên bố đầu hàng bọn bành trướng và xâm lược phương Bắc.

Chắn chắn cả Bộ Chính trị 16 người đã được thông báo và đồng tình với bản Tuyên bố chung (TBC) thảm hại này.

Đọc thật kỹ bản TBC, có thể dễ dàng nhận ra nó được phía Trung Quốc khởi thảo và phía Việt Nam hoàn toàn không được đóng góp hay thay đổi gì hết. Bản TBC hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Đại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến nhà nước Việt Nam Cộng sản thành một chư hầu của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo CS bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực.

Kính mời đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, kể cả các đảng viên Cộng sản, hãy đọc cho kỹ bản TBC ký chưa ráo mực này.

Ngoài bản TBC dài lòng thòng gồm có 8 điểm, trong đó riêng điểm 3 chứa đựng đến 13 mục quan hệ hợp tác vừa mở rộng vừa ăn sâu, 2 bên còn ký đến 10 văn kiện khác, trong đó có Chương trình hoạt động chung của chính phủ 2 nước, Thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện giữa bộ Quốc phòng 2 nước, Thỏa thuận giữa 2 bộ Nông nghiệp về đường dây nóng trong nghề đánh cá trên biển, về giám sát chất lượng, kiểm dịch thực vật, Điều lệ hợp tác quản lý cửa khẩu trên đất liền, Ghi nhớ về xây dựng các trung tâm Văn hóa Việt – Trung, Quan hệ giữa các tổ chức hữu nghị, Hợp tác trong thăm dò dầu khí ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ.…

Trong 13 mục quan hệ mở rộng và ăn sâu, sau khi khẳng định phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt, TBC kể ra một loạt thỏa thuận : thường xuyên tiếp xúc ở cấp cao đảng, chính phủ, hoạt động của Ủy ban chỉ đạo hợp tác chiến lược toàn diện song phương, quan hệ chặt chẽ giữa 2 đảng, 2 ban Đối ngoại, 2 ban Tuyên huấn, về ngiên cứu lý luận, về xây dựng đảng, quan hệ giữa 2 bộ Ngoại giao, giữa các vụ, cục trong 2 bộ Ngoại giao, quan hệ giữa 2 quân đội, 2 bộ Quốc phòng, trao đổi về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, trong đào tạo sỹ quan, trong tuần tra chung ở vùng biên phòng đất liền, hợp tác về thực thi pháp luật, an ninh, về trật tự an toàn xã hội, về an ninh biên giới và cảnh sát biển, thực hiện kế hoạch 2 hành lang 1 vành đai vùng biên giới, hợp tác về năng lượng, giao thông vận tải, đầu tư kinh doanh, hợp tác về văn hóa, khoa học, công nghiệp và thông tin …

Bản TBC còn nhấn mạnh đến mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với 3 tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc - Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông - và đảo Hải Nam.

TBC cũng nói đến hợp tác của Ủy ban Liên hợp biên giới Việt – Trung để tàu thuyền đi lại tự do trong khu Bắc Luân, hợp tác khai thác du lịch thác Bản Giốc, và cũng không quên nói đến hợp tác đáng cá chung trong Vịnh Bắc Bộ.

Đọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy 2 mà một. Hoà nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội. Cứ như ở thời kỳ quan hệ anh em đồng chí bền chặt nhất vậy.

Đây phải chăng là một cạm bẫy do nhóm lãnh đạo mới của đảng CS Trung Quốc, với Tập Cận Bình cầm đầu, giăng ra để nhử Trương Tấn Sang chui vào tròng. Chiếc bẫy này chắc chắn đã được chuẩn bị rất công phu, và buộc Trương Tấn Sang phải cúi đầu chấp nhận cả gói, không sửa đổi du di gì được dù một ly.

Không hề có một chữ nào về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một yêu cầu nào về việc bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân VN trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái lưỡi bò phạm pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ. Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất, còn hơn anh em ruột thịt.

Đây có thể là phản ứng có tính toán của nhóm Tập Cận Bình đối với lời lên án của Việt nam tại cuộc họp Shangri La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua. Tuy chỉ là lời nói bóng gió, không nêu đích danh, nhưng cũng đủ để bị chạm nọc, để mất mặt giữa trường quốc tế và để nổi tự ái giận dữ. Đó là câu của thủ tướng Ba Dũng: «Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền». Đã nhún nhường, nói xa xôi, nhưng vẫn cay đắng, vì bọn trùm bành trướng luôn kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự coi là yêng hùng trong thiên hạ.

Trung Nam Hải gần đây tỏ ra rất lo ngại khi trí thức và tuổi trẻ Việt Nam cũng như một số đảng viên CS lão thành tỏ rõ ý muốn Việt Nam liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Liên Âu…trước mối đại họa bành trướng Trung Quốc. 

Cũng có thể đây là một tính toán thâm độc của Trung Nam Hải, nhưng cũng có thể là một tính toán sai lầm trong cơn hoảng hốt. Họ không tính rằng sự lộ mặt quá lộ liễu là ông chủ của 16 ông vua tập thể ở Ba Đình là dại dột và nguy hiểm cho họ ra sao. Nước cờ này sẽ đẩy đảng CS Việt Nam đang núng thế thụt sâu thêm xuống hố suy thoái, bị lên án mạnh thêm là bán nước cầu lợi riêng, chia rẽ thêm nhóm lãnh đạo vốn đã hiềm khích nhau, kích thích mạnh thêm các cuộc xuống đường quyết liệt chống bành trướng và tay sai của đồng bào ta.


Mai Vân - Du khách Trung Quốc : Bò sữa hay ác mộng ?


Mai Vân
(RFI)

Tháng 5/2013 vừa qua, một thiếu niên Trung Quốc đã phá hoại một bức phù điêu tại ngôi đền cổ Luxor tại Ai Cập. Thủ phạm mới 15 tuổi này đã khắc tên mình trên một bức điêu khắc cổ kính, có từ 3000 năm nay. Vụ tai tiếng đã được loan truyền khắp hành tinh, thu hút sự chú ý đến hành vi của du khách Trung Quốc ngày càng đông, mà hầu như nước nào cũng muốn chiêu dụ.

2013 : Theo dự trù, lượng du khách Trung Quốc vào Thái Lan lên đến gần 2 triệu người (Reuters)

Thái Lan cũng nằm trong danh sách các nước được du khách Trung Quốc "ưa thích" nhất, và dĩ nhiên cũng không tránh khỏi các hành vi vô lối, thiếu văn hóa của các du khách mới này, gây bực tức không chỉ cho người Thái, mà cả người nước ngoài ở Thái Lan. RFI đặt một số câu hỏi cho thông tín viên Arnaud Dubus ở Bangkok. Trước tiên anh mô tả lại những sự kiện thường thấy :      
 
Arnaud Dubus:
Cũng như ở mọi nơi, người Trung Quốc tại Thái Lan đã làm cho người ta chú ý qua những hành vi huyên náo, tùy tiện. Họ thường đi theo từng nhóm, và đặc điểm của họ là hay cản đường cản lối tại những nơi đông người qua lại, nói chuyện rất to, như khi phải tìm đường chẳng hạn, không cần biết là mình đang gây phiền hà, khó chịu cho người chung quanh. 

Phải nói là họ đặc biệt ồn ào và lộ liễu ở những nơi công cộng, như ở khách sạn, sân bay, bến xe ca, thậm chí ngay cả trong các đền chùa. Tại các ngôi đền, họ rõ ràng không hiểu là tại sao họ không thể vào bên trong vì họ mặc quần short, không hiểu được là cách ăn mặc như vậy thiếu tôn kính đối với tôn giáo. Hành vi của các du khách Trung Quốc ngược lại hẳn với cung cách của người Thái Lan, luôn tỏ lòng tôn trọng tự nhiên đối với người khác, ngay cả tại các khu vực đô thị. 

Du khách Trung Quốc cũng bị chỉ trích là không biết giữ vệ sinh chung, như không giựt nước sau khi đi vệ sinh… Ngay cả những người Hoa sinh sống tại Thái Lan cũng rất bực mình, xấu hổ trước cách sinh hoạt của đồng hương họ. 

RFI : Ta có thể giải thích ra sao về hiện tượng này ? 

Arnaud Dubus : Trước tiên hết, số lượng du khách Trung Quốc vào Thái Lan đang tăng vọt, dự kiến là có thể lên đến gần 2 triệu người trong năm 2013 này. Riêng trong quý một năm 2013, lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan đã tăng lên gấp đôi so với cùng thời kỳ năm ngoái. Càng có nhiều du khách Trung Quốc như thế, thì người ta càng chú ý đến hành vi, cách cư xử của họ. 

Nguyên nhân thứ hai là người Trung Quốc đi du lịch ngày càng nhiều có nghĩa là họ đã giàu lên, có nhiều tiền của, và qua hành động của họ, dường như họ nghĩ là ‘có tiền mua tiên cũng được’, nếu họ bỏ tiền ra thì họ có thể làm gì cũng xong. Đây quả đúng là hành vi, suy nghĩ của hạng trọc phú, của những người giàu mới. 

Thật ra thì cách hành xử của du khách Trung Quốc ở Thái Lan - hay ở những nước khác – cũng tương tự như cách làm của họ ngay tại xứ họ. Ở đấy, văn hóa Khổng giáo cũng như Phật giáo đã bị chính trị và bị đảng Cộng sản hủy hoại. Cộng thêm vào đấy là sức ép của đà gia tăng dân số và triết lý chạy theo tiêu thụ, chạy theo vật chất có từ thời Đặng Tiểu Bình. 

Tất cả những cái đó gộp lại đã tạo nên một lối sống ích kỷ, chỉ biết quyền lợi riêng mình mà không chú ý gì đến người khác. Ở Trung Quốc, cách cư xử như thế là gần như là bình thường, nhưng khi bị đặt vào một môi trường khác, thì nó trở nên rất chướng mắt. 

Theo một số chuyên gia ngành du lịch, những người Trung Quốc trên 50 tuổi và thuộc diện ít học thức nhất, thường là những người có hành vi tệ hại nhất. Có thể xem họ là con cháu của Mao. Phần đông không nói tiếng Anh và không biết gì về phong tục tập quán các nước mà họ đến tham quan. Ngay cả nhiều người có ăn, có học, nhưng cách cư xử cũng rất thiếu lịch sự. 

RFI : Chính quyền Trung Quốc phản ứng như thế nào trước những lời chỉ trích nhắm vào du khách của họ ? 
Arnaud Dubus : Sự kiện ở Luxor (Ai Cập) dường như đã khơi dậy một ý thức nho nhỏ về vấn đề này. Thiếu niên là thủ phạm đã vẽ lên bức phù điêu cổ kính đã bị chỉ trích khá dữ dội trên các mạng xã hội Trung Quốc. Trong giới phụ trách ngành du lịch chẳng hạn, người ta đã thấy được là thái độ của du khách Trung Quốc đã có hậu quả không hay trên hình ảnh Trung Quốc nói chung. 

Chẳng hạn như tại viện bảo tàng Louvre ở Paris, người ta thấy những tấm bảng viết bằng tiếng Hoa, và chỉ có bằng tiếng Hoa mà thôi, yêu cầu du khách không tiểu tiện hay đại tiện trong các hành lang của viện bảo tàng. 

Chính quyền Trung Quốc cũng bắt đầu quan tâm đến vấn đề này. Phó thủ tướng Uông Dương vừa qua đã kêu gọi du khách của minh là phải tôn trọng tín ngưỡng và phong tục tập quán các nước mà họ đến tham quan. Một đạo luật cũng đã được thông qua vào tháng Tư 2013, cho phép các công ty du lịch phạt vạ những du khách vi phạm điều mà đạo luật gọi là "đạo đức xã hội".

RFI : Cảm ơn Thông tín viên Arnaud Dubus đã tham gia vào chương trình hôm nay.


Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Ghé thăm các Blogs 01/07/2013


BLOG CẦU NHẬT TÂN

Mỗi khi kết thúc Hội nghị các nhà tài trợ, hàng chục năm qua, Việt Nam luôn hoan hỉ loan tin viện trợ ODA (đa số là vốn vay) cho Việt Nam năm sau tăng hơn năm trước với con số cam kết là hàng tỉ hàng tỉ USD, và lấy đó làm thành tựu chính trị. Ai cũng biết Nhật Bản luôn dẫn đầu, là nước cho Việt Nam vay tiền nhiều nhất và hầu hết ném vào các lĩnh vực phi sản xuất trong đó lớn nhất là xây dựng – lĩnh vực có mức độ tham ô cao nhất. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay này vẫn là đề tài ”nhạy cảm” tại cả hai quốc gia. Đã có một chút gợn sóng sau vụ PMU18, vụ hành lang Đông – Tây, vụ sập cầu Cần Thơ song những con sóng này đã nhanh chóng bị giới “buôn ODA” đứng sau dập tắp.

Nước Nhật hôm 25/6/2013 đã thực sự sốc bởi bài đăng tải trên nhật báo Asahi Shimbun xung quanh câu hỏi về viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam. Tác giả bài viết là giáo sư Ari Nakano (chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Nhật Bản về Việt Nam). Câu hỏi lớn nhất đặt ra là hiệu quả của cái gọi là “đối tác chiến lược” (bài báo để hai chữ này trong ngoặc kép) giữa Việt Nam và Nhật Bản trong giai đoạn tới được các chính trị gia hai nước đang miệt mài tô vẽ mà sau nó là nhiều chục tỉ USD tiền vay sẽ được chia đều cho từng công dân Việt Nam trả nợ. Lo ngại lớn nhất được tác giả đưa ra, minh chứng bằng dự án Bô-xít Tây Nguyên và dự án Nhà máy điện nguyên tử Ninh Thuận, là sự thiếu minh bạch, không có sự tham gia của người dân và các tổ chức phản biện độc lập. Vắng đi nền tảng này, các khoản vay chỉ đơn thuần là cuộc tiêu tiền xa xỉ, không mang lại những giá trị phát triển bền vững, thậm chí tổn hại đến lợi ích lâu dài của nước đi vay.

Thật vậy, tại dự án cầu Nhật Tân, trước khi khởi công, hàng nghìn dân ngay tại chân công trình chưa bao giờ được nghe tới cái tên, chứ chưa đề cập chuyện được tham gia vào quá trình chuẩn bị dự án xây dựng cây cầu tỉ USD này. Các công ty tư vấn của Nhật ăn theo khoản vay đứng sau đạo diễn tất tật với các vai diễn xuất sắc của một số quan chức trong bộ  máy chính quyền Việt Nam. Thế là để hợp thức việc tiêu một khoản tiền khổng lồ hàng tỉ USD, “tập đoàn lợi ích” – tạm gọi như vậy – bẻ cong quy hoạch, vẽ ra các báo cáo rất hay về lợi ích của cái gọi là mạng lưới giao thông mới với tâm điểm là cây cầu tỉ đô. Tập đoàn này thiết kế nhiều chuyến thăm lẫn nhau cho các quan chức nhằm làm ra vẻ có tí “chính trị” trong này. Nhiều đánh giá tác động, thuyết minh hiệu quả dự án được vẽ ra như thật. Lộ liễu nhất là màn lấy ý kiến người dân chịu tác động trong đó báo cáo rởm này loan ra rằng người dân nhất trí với các phương án mà tư vấn thiết kế đề xuất (sự thật là hoàn toàn ngược lại).

Kịch tính nhất của show diễn nằm ở màn kết – ký kết Hiệp định vay vốn. Chính trị gia hai bên cùng ký vào tờ giấy có giá trị tỉ đô rồi trao bút cho nhau, sâm banh nổ bùm bụp, đằng sau là các con buôn ODA với vẻ mặt vô cùng hoan hỉ. Cái nút chính của tờ giấy trên là: chỉ công ty của Nhật Bản được làm tổng thầu của gói vay tỉ đô. Đấu thầu ư? Chuyện vặt. Ba nhà thầu đều là quân xanh quân đỏ, “cổ cánh” với nhau thông thầu nâng giá lên gấp 5-10 lần giá trị thực tế là xong. Chính trị gia nước vay đứng sau sẵn sàng chấp nhận cái giá phi lý này. Thực tế là khoản này đã được “vo” trước khi ký hiệp định.

Triển khai dự án. Về lý thuyết, máy móc, trang thiết bị, vật liệu, con người, công nghệ là của Nhật với chất lượng Nhật, tiêu chuẩn Nhật nên đơn giá cũng phải cao như ở Nhật. Trên thực tế, toàn bộ công việc đều được ông tổng thầu Nhật giao cho các nhà thầu phụ Việt Nam và thi công với giá Việt Nam, với công nghệ Việt Nam, con người Việt Nam, vật liệu Việt Nam và … chất lượng Việt Nam. Các nhà thầu phụ Việt Nam, vốn đang đói việc, lao vào giành hợp đồng thầu phụ như thiêu thân, thậm chí sẵn sàng ký hợp đồng dưới giá thị trường để giữ quân, giữ máy – còn hơn để không và chịu hao mòn. Thậm chí có đơn vị ký xong hợp đồng liền bán luôn cho đơn vị khác kiếm tiền tươi thóc thật. Chất lượng công trình thì tính sau, cốt giành hợp đồng cái đã. Có hạng mục mà thực hiện một mét khối vật liệu trong công trình, đơn giá của tổng thầu Nhật được ký là 1000 USD, đến tay thầu phụ của Việt Nam chỉ còn ngót nghét 2 triệu VND (xấp xỉ 100 USD). Tổng thầu Nhật không phải làm gì mà tự nhiên được hưởng hơn 900 USD trên mỗi mét khối hạng mục này của công trình (ăn hơn 90%). Dĩ nhiên, khoản chênh này tổng thầu Nhật không ăn cả được mà phải chia theo danh sách đã có.

Nhờ có cái danh sách ăn theo dài đằng đẵng trên mà cầu Nhật Tân được đội lên gần 20.000 tỉ VND (gần 1 tỉ USD). Cùng là cây cầu vượt sông Hồng (dĩ nhiên quy mô có khác nhưng không nhiều), cầu Vĩnh Tuy sử dụng nguồn vốn trong nước chỉ tốn 3600 tỉ VND. Sau trượt giá và thất thoát đội lên thành 5500 tỉ VND.

Một điều mà cả ta và Nhật đều giấu ở công trình cầu Nhật Tân là tỉ lệ kinh tế nội hoàn (IRR – nếu tính chi tiết) thì hơn 50 năm công trình vẫn chưa thu hồi được vốn. Tức, nó sẽ hỏng trước khi hoàn vốn. Nói cách khác, làm cây cầu này chỉ mang lại giá trị âm, ngoại trừ được cái tiếng là Việt Nam có cây cầu to nhất Đông Nam Á và cái túi của giới buôn ODA cùng chính trị gia Việt được đút căng phồng. Hậu quả lâu dài là, cùng với nhiều khoản ăn vay khác, cầu Nhật Tân đang góp phần đắc lực khiến mỗi công dân Việt Nam dù mới chào đời đã được vinh dự khoác lên mình món nợ nước ngoài giá trị 4 con số (con số này vẫn đang gia tăng năm sau cao hơn năm trước).

Nguy hiểm hơn. Một cầu Cần Thơ, làm ăn bát nháo chỉ gây ra cái chết oan uổng cho vài chục mạng. Một cầu Nhật Tân làm ăn bậy bạ chỉ đem lại thiệt hại gần tỉ USD cho Việt Nam. Một nhà máy điện hạt nhân, với văn hóa ăn xổi ODA kiểu như trên sẽ giết chết nhiều triệu người, gây thảm họa lâu dài không những đối với nước ta mà cả khu vực và thế giới.

BLOG HAN TIMES

Tam Sa (三 沙) là cách mà người Trung Quốc gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Theo cách gọi này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được phân thành Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa.

Hoàng Sa đã bị người Trung Quốc cưỡng chiếm trái phép từ năm 1974; Trường Sa sau trận hải chiến 1988, Trung Quốc chiếm đóng và mở rộng chiếm đóng một số đảo. Đến ngày 14/7/2012, Trung Quốc tổ chức buổi lễ thành lập thành phố Tam Sa, trực thuộc tỉnh Hải Nam. Bản thân nhiều vị giáo sư và tướng lĩnh Trung Quốc kêu gọi phát động chiến tranh để "giải phóng Tam Sa" khỏi sự chiếm đóng trái phép của một số quốc gia trong khu vực.

Ngày 23/6 Tờ Xinhua loan tin: NXB Nhân Dân Trung Quốc đã xuất bản cuốn sách "Trung Quốc Tam Sa thị". 

Theo tin tức do các trang mạng Việt Nam đưa lại thì cuốn sách này có 5 bản đồ mô tả chi tiết thành phố và quần đảo mà Trung Quốc tự gán thành Tam Sa. 

Trang sina và trang Xinhua cho biết thêm: Cuốn Trung Quốc Tam Sa Thị của tác giả Lý Quốc Cường (李国强), một học giả là chuyên gia nghiên cứu Biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông). Ông là Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu địa lý,  Học viện Khoa học xã hội Trung Quốc. Cuốn sách "Trung Quốc Tam Sa thị" do NXB Nhân Dân Trung Quốc ấn hành, giá bán 34.000 tệ. Thời gian xuất bản: tháng 6/2013.

Nội dung cuốn Trung Quốc Tam Sa thị gồm: Đơn vị hành chính, lịch sử, Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa, tên đảo, tranh chấp chủ quyền cùng với các bản đồ mô tả cái mà phía Trung Quốc gọi là thành phố Tam Sa.  

Trang web riêng của thành phố Tam Sa cũng đã được xây dựng tại địa chỉ: http://www.unanhai.com/. 

Trong khi đó giới chuyên gia, học giả của Việt Nam chưa thể nào cho ra đời một cuốn sách tương ứng hay một bách khoa thư về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu đều nhỏ lẻ thậm chí mang tính chất cá nhân, tình cảm cá nhân nhiều hơn là một công trình khoa học phục vụ công chúng mang tầm quốc gia.

Blogger Trần Hùng đã phải kêu lên rằng: Trung Quốc đã xuất bản sách Tam Sa dày cộp, Việt Nam không một tấm bản đồ. Tại sao? Blogger này cho biết: "Không biết bao nhiêu lần mình lên Google Search để tìm bản đồ biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, Trường sa. Hoàn toàn không thấy bản đồ nào của Việt Nam, hầu hết là các sơ đồ lười bò của Trung Quốc. Việt Nam có chăng là một số sơ đồ manh mún chắc ghép, rải rác trên các web blog do nỗ lực của cá nhân tạo nên.

Về danh chính chỉ có bản đồ hành chính nước CHXHCNVN (tổng thể). chấm hết!

Truyền thông ra rả về chủ quyền quốc gia, giáo dục về lòng yêu nước thì trước hết phải là mắt thấy rồi mới đến tai nghe, nó ở đâu...? 

Góp đá cho Trường Sa, đã có mấy người biết cái chấm của nó ra sao trên Biển Đông?


BLOG NGUYỄN THÔNG

Suốt tuần rồi, nhất là hai ngày qua, dòng người ùn ùn đổ về những tiệm vàng. Đọc mấy cái tít trên vài tờ báo lớn “Chen nhau vét mua vàng”, “Giá vàng lên, chen nhau mua”… cũng đủ hình dung ra cảnh thị trường vàng tấp nập, sôi động, giá vàng nhảy múa ra sao. Có khi chỉ mua vài phân vài chỉ cũng tham gia cuộc đua tranh. Dường như có cả phong trào “người người sắm vàng, nhà nhà mua vàng” trên một đất nước vẫn còn nhiều khó khăn về kinh tế, nhất là thiếu vốn để thúc đẩy sản xuất. Có chi bất thường trong động thái đậm màu kinh tế-xã hội này?

Theo các chuyên gia, giá vàng thế giới đang xuống đến mức thấp nhất trong vòng hơn 3 năm qua, và đưa ra cảnh báo nếu ai có nhu cầu mua vàng thực sự cũng cần phải cân nhắc, thậm chí còn khuyên không nên mua vàng vào thời điểm này. Điều dễ hiểu là mua vàng khi giá vàng lao dốc sẽ chịu thiệt hại bởi mất lãi suất tiền gửi, giá trị vàng giảm dần, đó là chưa kể giá vàng trong nước đang có khoảng cách rất lớn so với giá thế giới, mà khoảng cách này chắc chắn sẽ được Ngân hàng nhà nước rút ngắn lại; sau thời điểm các ngân hàng thương mại tất toán xong trạng thái vàng (ngày 30.6) giá vàng trong nước có thể còn biến động mạnh nếu vàng thế giới tiếp tục giảm. Và điều quan trọng là hiện tại Nhà nước không khuyến khích việc kinh doanh, lưu trữ vàng miếng vì vàng dạng đó sẽ trở thành vốn chết, không tạo ra giá trị gia tăng của cải vật chất cho xã hội, mà ngược lại còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế, lãng phí một nguồn vốn to lớn đối với sự nghiệp phát triển đất nước…

Dù sự phân tích ấy đã được báo chí truyền thông nêu rất nhiều lần nhưng một bộ phận không ít dân chúng, thậm chí cả những người thu nhập thấp, xưa nay chả mấy quan tâm đến vàng vẫn hăng hái, nhắm mắt nhắm mũi vung tiền ra mua vàng. Cũng có thể do họ thiếu lòng tin vào sự phục hồi, phát triển nền kinh tế, cũng có thể ai đó có nhu cầu thực sự nhưng dư luận cho rằng phần lớn người kéo nhau đi mua sắm vàng là bởi “thấy người ta mua thì mình cũng phải mua” kẻo lỡ ít bữa nữa giá lên thì sao. Nếu không thế, tại sao lại đông người mua đến vậy. Theo họ, cái gì đã thành phong trào thì ít khi sai lắm.

Cảnh chen lấn mua vàng theo phong trào ăn xổi ở thì, bất chấp lợi hại có lẽ khiến chúng ta liên tưởng đến khá nhiều phong trào từng diễn ra trên đất nước này, mà cái kết cục thường là thua thiệt cho người tham gia, gây tổn hại cho nền kinh tế. Mặc dù điều đơn giản nhất là muốn làm điều gì phải có hiểu biết, trình độ, kinh nghiệm về điều ấy nhưng trên thực tế người ta vẫn bất chấp. Chắc nhiều người còn nhớ những phong trào nuôi cá trê phi, nuôi chó cảnh hồi thập niên 80-90 thế kỷ trước. Rồi phong trào chơi chứng khoán, ồ ạt trồng tiêu trồng điều, phá rừng làm thủy điện nhỏ, nơi nơi xây nhà máy đường, nhà máy xi măng lò đứng công nghệ cũ, bỏ lúa trồng khoai lang… từng khiến bao doanh nghiệp, bao người điêu đứng, trắng tay. Có thể do không gặp thời vận, do rủi ro khách quan, tuy nhiên không thể không nhắc tới yếu tố quan trọng: “làm theo phong trào” bất cần biết lợi hại thế nào. Dân gian gọi kiểu ấy là “thấy người ta ăn khoai, mình cũng vác mai đi đào”. Cứ chạy theo phong trào xổi, lúc rút được bài học kinh nghiệm thì cái giá đắt đã phải trả trước rồi.

29.6.2013
Nguyễn Thông


FACEBOOK NGUYỄN THÔNG

Hoàn toàn tôi chả muốn thả chữ nào về vụ án xử mấy cô gái bán dâm và môi giới bán dâm bữa qua. Chẳng qua tôi không muốn dính vào trò xử đó. Nhưng báo chí thì cứ lồng lộn lên, báo in báo mạng, đài phát thanh, truyền hình, cả chính thống lẫn không chính thống. Vậy mà cuối cùng cầm lòng chẳng đậu. Nhưng dứt khoát không nói chi về "tội" của mấy cô gái đó, chỉ nói chuyện tòa, chuyện báo.

Xứ ta hầu như ngày nào cũng mở tòa, ngày nào cũng kết án. Tội phạm nhiều, luật hình lắm nên tòa bận rộn. Tuyên đúng người đúng tội là đương nhiên, nhưng oan sai cũng chả thiếu. Cái cần xử kín thì hở toang toác, vụ cần công khai thì lại dấm da dấm dúi. Nhìn vào chỗ thần công lý ngự trị nhiều khi thấy cũng nực cười.

Giở lại vụ xử mấy cô gái trên. Tất nhiên các cô ấy phạm luật, mà đã vi phạm thì phải chịu sự phán xét của pháp luật, nên tôi không có ý bênh họ (phải nói trước ra như thế). Xứ ta cấm hành nghề mua bán dâm. VN chứ không phải Hà Lan hay nước Đức. Không có phố đèn đỏ, chỉ luật đỏ thôi, vượt lằn ranh thì ráng chịu.
Nhưng...

Đối với người đàn bà, hầu hết khi chọn sự bán dâm để sống tức là đã chả còn cách nào khác phù hợp với chính mình. Chấp nhận sự khinh rẻ của cộng đồng, xã hội. Vì tham tiền, muốn hưởng thụ, lười lao động, ham muốn thân xác, bị đẩy vào bước đường cùng... thôi thì đủ thứ lý do. Muốn lên án họ thế nào cũng được. Những cô bán dâm nhưng vẫn cố ý giấu diếm tức là trong họ vẫn còn chút mong muốn quay trở lại cuộc sống bình thường. Vậy mà tòa nỡ lòng nào, báo chí truyền thông nỡ lòng nào phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật. Ừ thì để cảnh báo, để làm gương, để rút ra bài học, để kẻ khác thấy mà chừa. Nhưng liệu có hồ hởi hăng hái tàn nhẫn thái quá chăng khi chưa xử đã công bố ngày này ngày nọ lôi ra tòa, khi xử thì mở cửa không khác gì tháo khoán cho người đến coi mặt bọn "đĩ" (dư luận kháo như thế), mời đủ cơ quan báo chí truyền thông, muốn quay phim chụp ảnh phỏng vấn cứ thoải mái. Phòng xử chật ních. Nhà báo đông hơn kiến cỏ. Có cảm giác nếu xử trùm phát xít Hitler cũng không đến nỗi thế. Mấy "cô gái sông Hương" ấy co ro nhưng con giun con dế giữa tòa, trong vòng vây trùng điệp của những người có nhân cách hơn họ. Dù tòa có tuyên án nhẹ, án treo, thậm chí trả tự do ngay sau đó thì cũng đã phăng một nhát dao tàn nhẫn chặt nốt đường về của họ. Phụ giúp đắc lực cho tòa là những anh chị nhà báo hăng hái kia, những người từng đọc leo lẻo truyện Kiều "chữ trinh còn một chút này/Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan". Lôi người đàn bà đang mắc nợ nhân phẩm ra trước chợ người, liệu tòa có chút băn khoăn nào không nhỉ? Dí cái ống kính máy ảnh vào tận mặt người ta trong giới hạn cuối cùng của lương tâm, thử hỏi các nhà báo có cảm thấy đắng chát lòng không nhỉ?

Giá như xử "mấy tên phản động" Hà Vũ, Điếu Cày, tòa lôi ra công khai thế này, cho báo chí tung hoành tác nghiệp thế này để dân tình thấu hiểu "tội lỗi của chúng" có phải hợp lý hợp tình không. Và ngược lại, với mấy cô gái ấy, lôi toẹt vào cái phòng kín, cấm tiệt bọn báo chí, ngắt điện tivi, thì dù án tuyên thế nào chăng nữa cũng vẫn có chút tình người.


BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN

Thế là cô hoa hậu Võ Mỹ Xuân, người bị tội bán dâm và môi giới bán dâm, bị phạt 30 tháng tù. Đọc tường trình của giới báo chí và nhìn qua những bức hình trong phiên toà, tôi thấy phiên toà của Mỹ Xuân rất khác với các phiên toà liên quan đến Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, và Phương Uyên. Những phiên toà liên quan đến chống Tàu, thì cảnh sát dày đặc, sóng điện thoại bị mất một cách huyền bí, loa bị rè một cách khó giải thích, hay khi bị cáo lên tiếng nói thì loa có khi bị mất tiếng, v.v. Nhưng phiên toà liên quan đến sex thì tất cả những “yếu tố nhiễu” trên đều không có. Phóng viên chụp hình thoải mái. Những phiên toà liên quan đến chống Tàu thì báo chí chỉ đưa tin sau khi tuyên án, còn phiên toà liên quan đến sex thì báo chí đưa tin rầm rộ trước và sau khi tuyên án. Những khác biệt rất thú vị này cho thấy Nhà nước VN vẫn còn rất “tế nhị” với những vụ án chống Tàu và rất thoải mái với sex, có lẽ sex vui hơn chống Tàu. 

Tôi tò mò làm một bảng so sánh về thời gian ngồi tù của những người được báo chí nhắc đến nhiều trong thời gian qua thì thấy như sau: 

Võ Mỹ Xuân (bán dâm): 2.5 năm tù. 
Nguyễn Thanh Thuý (bán dâm): 2.5 năm tù 
Nguyễn Thuý Hằng (bán dâm): 3 năm tù 
Sầm Đức Sương (mua dâm): 9 năm tù 
Nguyễn Trường Tô (mua dâm): 0 năm tù – thật ra ông này không ra toà. 
Ngô Tuấn Dũng (hiếp dân): 2 năm tù 

Trần Huỳnh Duy Thức (chính trị): 16 năm tù 
Nguyễn Tiến Trung (chính trị): 7 năm tù 
Cù Huy Hà Vũ (chính trị, chống Tàu): 7 năm tù 
Nguyễn Phương Uyên (chống Tàu): 6 năm tù 
Đinh Nguyên Kha (chống Tàu) 10 năm tù 

Phạm Thanh Bình (kinh tế): 20 năm tù giam 
Huỳnh Ngọc Sĩ (kinh tế): 20 năm tù giam 

Trương Ngọc Quyền (trộm vịt): 5 năm tù
Vy Hoàng Bảo Hưng (trộm vịt): 4 năm tù
Vy Kim Long (trộm vịt): 4 năm tù
Thân Văn Vĩnh (trộm trâu): 14 năm tù
Lê Văn Quyền (trộm trâu): 14 năm tù
Bùi Xuân Hương (trộm trâu): 12 năm tù

Bảng trên cho thấy một vài xu hướng thú vị. Tội kinh tế hình như bị phạt nặng nhất. Người mang tội bán dâm có thời gian ngồi tù ngắn hơn những người mang tội chính trị và kinh tế. Đặc biệt là chống Tàu cũng là một tội, và hai sinh viên Phương Uyên và Nguyên Kha bị phạt tổng cộng 16 năm tù! Chống Tàu có án phạt nặng hơn tội bán dâm. 

Nhưng ngạc nhiên là ăn cắp vịt (để nhậu) mà tội còn nặng hơn cả tội bán dâm. Đó trường hợp của 3 người tên Quyền, Bảo và Long, bị phạt tổng cộng 13 năm tù. Do đó, báo chí có lần kêu lên rằng “một con vịt đổi 132 tháng tù giam”. Ăn cắp trâu tội thậm chí còn nặng hơn ăn cắp vịt, có người bị phạt đến 14 năm tù! 

Dĩ nhiên, những con số trên đây không nói lên hết tình tiết và hoàn cảnh đằng sau mỗi vụ án và những qui định của luật pháp. Nhưng những con số trên đây cho thấy mức độ án phạt của toà án Việt Nam có vấn đề, vì khoảng cách quá lớn giữa các hình phạt, đặc biệt là tội trộm cắp. Ở nước ngoài, những khác biệt về án phạt được gọi là sentencing disparity, và là một đề tài nghiên cứu của giới khoa học xã hội. 

Ở Mĩ, ngay cả cùng một ông chánh án và cùng một tội danh và tình tiết mà mức độ án phạt cũng khác nhau từ 6-12 tháng! Mức độ khác biệt giữa các chánh án thì còn lớn hơn nữa. Có người thốt lên rằng khi phạm nhân ra toà thì mức độ phạt cũng chịu tác động bởi yếu tố ngẫu nhiên. Yếu tố ngẫu nhiên có thể là do tâm tính, suy nghĩ, quan điểm, v.v. của người xử án ngay thời điểm xử hay đơn giản là con người “nhân vô thập toàn”. Ở Mĩ mà còn như thế thì ở VN, nơi mà các chánh án và luật sư chưa được đào tạo bài bản và toàn là người của đảng, thì các “yếu tố ngẫu nhiên” chắc còn có tác động kinh hơn nữa, và hệ quả là phạm nhân phải chịu bất công. Chưa thấy ai làm nghiên cứu (như ở ngoài này) về mối tương quan giữa mức độ phạt tù và tội phạm, và tính reproducibility (độ tin cậy, tái lập) của các chánh án. Tôi nghĩ một phân tích như thế rất cần thiết và có thể cung cấp những dữ liệu dẫn đến cải cách. 



Huỳnh Ngọc Chênh - LÊNIN VÀ MANDELA



Huỳnh Ngọc Chênh

Định không viết gì về quốc sự nữa nhưng một vỹ nhân đang ở trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời nên không thể không kính cẩn nhớ đến ông. Xin đăng lại bài đã viết liên quan đến ông cách đây hai năm, trước khi có một bài viết nữa về ông.


Thưa ông Vladimir Ilyich Lenin kính mến! Tôi sống dưới chế độ XHCN tính đến nay cũng được 36 năm, chế độ được lập ra dưới ánh sáng chỉ đường của chủ nghĩa do ông đồng sáng tạo với Karl Marx và Engels. Đây là lần đầu tiên tôi cầm bút viết về ông. Trước đây tôi có đọc một ít của Engels và Marx. Còn của ông và của Staline thì tôi chưa đọc gì nhiều bởi lẽ theo tôi đoán những gì hai ông viết ra nó cũng giống giống như những gì mà ông Lê Duẩn đã vận dụng lại trong cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…” mà tôi đã đọc hồi còn tuổi hai mươi. Do vậy mà đã đọc Lê Duẩn rồi thì xét không cần thiết phải đọc ông và Staline.

Vì chưa đọc nhiều về ông nên tôi không dám viết gì về ông mãi cho đến mới đây tôi tình cờ đọc được bài viết  Chính Lenin mới là người đã làm Liên Xô tan rã của tác giả Vũ Cao Đàm đăng trên trang Bauxite Việt Nam. Bài viết này đã tạo cho tôi nguồn cảm hứng để mạo muội viết về ông.

Tháng 2 năm 1917, nhân dân Nga đã làm một cuộc nổi dậy kinh trời động đất lật đổ chính quyền chuyên chế của giai cấp phong kiến địa chủ và thay vào đó là một chính quyền của nhân dân. Đó là chính quyền chuyên chính toàn dân nghĩa là chính quyền dân chủ thật sự như Âu Mỹ. Nhưng theo ông đó là chính quyền của giai cấp tư sản nên ông không chấp nhận do vậy vào tháng 10 năm đó, ông lãnh đạo giai cấp vô sản đứng lên lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thay vào đó là chính quyền chuyên chính vô sản nghĩa là chính quyền của giai cấp vô sản chứ không phải là chính quyền chung cho nhiều giai cấp khác.(Tội nghiệp những người dân Nga còn lại không phải là giai cấp vô sản sẽ biết đi đâu mà sống?)

Nhưng nếu là chính quyền chuyên chính vô sản thì cũng tốt. Đó là chính quyền của toàn bộ giai cấp vô sản chứ không phải riêng một nhóm nào. Tuy nhiên đến đây thì dường như ông tự mâu thuẫn với chính cái chủ nghĩa do ông viết ra và đi chệch hướng. Ông dẹp bỏ hết tất cả các thành phần khác, các nhóm ý kiến khác, các đảng phái khác có trong giai cấp vô sản. Ông dẹp hết các đảng xã hội của nhân dân lao động, ông dẹp luôn nhóm Menxêvích, nhóm Trốt Kít cũng là cộng sản nhưng khác kiểu của nhóm ông để cuối cùng ông lập ra nhà nước chuyên chính Bonxêvich mà thôi.

Nghĩa là sau cách mạng vô sản tháng 10 đáng lẽ phải lập ra nhà nước chuyên chính cho toàn giai cấp vô sản ông lại lập ra một nhà nước chuyên chính chỉ cho nhóm nhỏ Bônsêvich của ông. Ông thay một nhà nước chuyên chính phong kiến bằng một nhà nước chuyên chính Bônsêvich.

Nghĩa là ông thay thế một nhà nước độc tài nầy bằng một nhà nước độc tài khác, thế thôi. Bánh xe đã trật đường rây ngay từ lúc bắt đầu vận hành. Càng chạy về sau nó càng lệch đi nhiều hơn. Nhà nước chuyên chính bônsêvich khi vận hành sẽ dần dần chuyển hóa thành nhà nước chuyên chính cho một nhóm rất nhỏ người trong Bộ Chính Trị và vận hành thêm một thời gian nữa nó biến thành nhà nước chuyên chính chỉ cho một người đó là người đứng đầu cao nhất của đảng. Ông Staline đã hoàn tất cơ chế chuyển hóa nầy. Nhà nước của giai cấp vô sản biến thành nhà nước của cá nhân ông Staline. Đoàn tàu trật bánh ngay từ lúc mới khởi hành nên chạy chưa được bao xa là tự lật nhào. 70 năm so với lịch sử phát triển toàn nhân loại thì nó ngắn ngủi như một chớp mắt phải không ông?

Ông lãnh đạo nhân dân Nga làm một cuộc cách mạng long trời lở đất nhưng bây giờ nhân dân Nga quên ông rồi. Không những thế họ còn căm phẫn ông, bằng chứng là tượng đài của ông khắp mọi nơi trên nước Nga đều bị lật xuống.

Và bây giờ tôi xin viết về Nelson Mandela. Ông ta quá vỹ đại nên có tới hàng chục vạn bài viết về ông ta trên khắp thế giới. Do vậy tôi chỉ viết rất ngắn về ông thôi.

Chế độ A pac thai ở Nam Phi là chế độ chuyên chính của người da trắng, đó là chế độ độc tài da trắng. Trong chế độ đó chỉ có người da trắng mới có quyền công dân, mới được lập đảng phái chính trị, mới được ra ứng cử, mới được tham gia bầu cử. Còn người da đen chiếm tuyệt đại đa số nhưng chỉ là công dân hạng hai mà thôi, không có những cái quyền như người da trắng có.

Ở cái thời đại văn minh này thì một chế độ độc tài như vậy, kể cả mọi chế độ độc tài khác đều  không thể nào tồn tại lâu. Nhân dân da đen Nam Phi dưới sự lãnh đạo của Nelson Mandela đã nổi dậy đấu tranh không mệt mỏi (mà đấu tranh bất bạo động) cuối cùng đã dành được thắng lợi. Chính quyền chuyên chính da trắng phải nhường chỗ. Chính quyền nào sẽ thay vào đây?

Theo lẽ thường người ta nghĩ rằng một chính quyền của người da đen, nghĩa là chính quyền chuyên chính da đen, sẽ thay vào và người da trắng xin mời đi chỗ khác hoặc ở lại thì chỉ làm công dân hạng hai. Nhưng không. Mandela rất vỹ đại, ông vượt lên trên lẽ thường tình đó, ông lập ra một nhà nước chuyên chính toàn dân nghĩa là nhà nước của cả dân da đen lẫn của dân da trắng, nhà nước của mọi giai cấp, mọi thành phần, mọi sắc tộc, nhà nước của nền dân chủ văn minh thật sự trong đó mọi người dân, da trắng lẫn da đen đều bình đẳng với nhau.

Ông được bầu lên làm tổng thống của nhà nước dân chủ đó qua phổ thông đầu phiếu tự do. Ông làm đúng một nhiệm kỳ 5 năm rồi về nghỉ.

Ông ở vị trí lãnh đạo không lâu. Nhưng nhà nước dân chủ do ông lập ra làm thế giới kính phục, sẽ trường tồn theo sự phát triển của nhân loại. Ông cũng trường tồn vì trở thành tượng đài trong lòng mỗi người dân Nam Phi và cả trong lòng của nhiều người khác trên khắp thế giới, trong đó có tôi.


Người Buôn Gió - Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 68.



Bấy giờ bên ngoài bể khơi, quân Tề hàng ngày ra sức cũng cố chiến lũy, xây hào, dựng thành ở những đảo chúng chiếm được của nước Vệ.

Nhà Sản họp bàn về việc luyện quân. Có ý nói phải tăng cường huấn luyện thủy chiến, mua sắm tàu lớn để đối phó với kẻ địch bên ngoài, nâng cao sức chiến đấu của binh sĩ trong trường hợp phải đối phó với ngoại xâm. Những điều này phải đưa vào giáo trình giảng dạy gấp rút phổ biến thực hành trong toàn quân.

Ý kiến ấy đưa ra, nhiều quan lại băn khoăn, có người nói.

- Chúng ta theo đạo  Lý Ninh, Người ấy nói rằng muốn giữ đạo thì phải đề phòng kẻ địch trong nước chứ không phải là ngoài nước. Người đã dạy rằng '' bất cứ cuộc nội chiến nào cũng tàn khốc hơn ngoại chiến''.  Làm sáng tỏ điểm này, trường lý luận cao cấp của nhà Sản ta đã công phu nghiên cứu chỉ ra rằng. Nội chiến bắt nguồn từ nhân dân. Bởi vậy lúc này nên chăng quân ta tập huấn đối phó với những tình huống phức tạp đông người lợi dụng danh nghĩa đòi đất để ý đồ gây nội chiến, đó là đường lối quân sự đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hơn cả.

 Quan khác nói.

- Tề dẫu sao cũng là anh em với triều đình ta, có thế nào cũng muốn nhà Sản ta trường tồn cai trị nước Vệ. Giờ huấn luyện quân lính tập trận đối ngoại há là khiến họ hoài nghi lòng trung thành của ta, như thế chúng ta đánh mất '' niềm tin chiến lược '' với thiên triều. Nay mai dân chúng can qua, nhà Sản biết chạy sang đâu cậy nhờ binh mã dẹp loạn.

Vệ Kính Vương phán.

- Chuyện chủ quyền phải gắn  với chuyện tồn vong của nhà Sản. Nếu vì chủ quyền mà nhà Sản ta suy vong thì điều ấy có nên không?. Các quan lại có ngồi trong biệt thự, đi xe tứ mã, hưởng của ngon vật lạ trong thiên hạ. Vợ con đề huề nhung lụa được nữa không.?

Các quan không ai nói gì, người nào người ấy quay sang nhìn nhau dò hỏi ý kiến. Thấy ai cũng béo tốt, mỡ màng do tẩm bổ nhiều chất quý báu trong thiên hạ, da dẻ đỏ au, trơn láng. Tất cả vì thế im lặng.

Vương lại hỏi.

- Thế giờ mất đảo, liệu những thứ các ngươi đang có trong nhà, có mất theo ngay không.?

Các quan lại đồng thanh đáp.

- Dạ thưa không.

Vương nói.

- Người quân tử bỏ cái mối lợi trước mắt, đang hưởng để lo đến những cái xa vời, không thiết thực đến bản thân. Loại như  thế liệu có đáng làm quan cai trị thiên hạ không.? Liệu có gọi là giữ vững lập trường không.?

Các quan nhất loạt đáp.

- Dạ thưa không.

Vương dạy.

- Thế nên nói chuyện biển đảo, không chỉ là biển đảo mà thôi,trong chuyện biển đảo còn có những thứ khác, nói chuyện về chủ quyền biển đảo thì cũng phải cân nhắc đến chủ quyền nhà cửa, biệt thự, trang trại, tài sản, con cái, thậm chí xa hơn còn là cháu chắt nhà các ngươi nữa. Lúc này bàn chuyện huấn luyện quân lính về giáo trình đối phó với ngoại xâm liệu có đẻ ra cho các người  thêm nhà cửa,thêm tài sản không mà bàn. Nếu không có nhà cửa, tài sản, tiền bạc thì liệu ai trong các quan lại ở đây còn mong muốn phụng sự triều đình.?

Các quan nín thinh.

Vương tiếp.

- Nay nhà Tề, đối với chúng ta trước kia có xung đột nhỏ, có thể sau này có xung đột nhỏ hơn. Nhưng phải khẳng định một điều là chúng ta mang ơn của Tề rất lớn, trước kia Tề giúp ta giữ nước, nay vẫn giúp ta giữ vững cơ đồ nhà Sản. Không nên có những quan điểm gây nghi ngờ, chia rẽ lòng trung thành, biết ơn của chúng ta với Tề quốc vào lúc này, để kẻ thù bên trong lợi dụng làm loạn.

 Vương ra lệnh cho triều đình tiếp tục sách lược cho quân lính tập huấn với chủ trương phòng ngừa đám đông  nhân dân lợi dụng oan khuất để tụ tập đông người gây biến loạn.


Lại nói chuyện khi ấy, tể tướng Bạo đi hội các sứ  bên Thượng La ngoài biên giới Vệ. Bạo hô hào kêu gọi các nước mạnh mẽ quan tâm tới tình trạng phức tạp ngoài biển Vệ, hàm ý nói cho thiên hạ biết mọi chuyện ấy đều do Tề chủ tâm gây ra cả. Bạo nói nhu, nói cương, nói đế quốc này, cường quốc nọ phải tham gia vào giữ an ninh chung ngoài biển Vệ. Lời nói có nhiều ý khiến sứ Tề ở đó không bằng lòng.

 Lúc trở về nước, Bạo nhận được một số lời khen. Chưa kịp phổng mũi thì bật ngã ngửa người nghe tin Vệ Kính Vương đã phái Thừa tướng Năm Trừ đi sứ sang Tề. Bạo thất kinh, đóng cửa phòng ngừa, nghe ngóng tin tức, toan tính đối phó. Từ lúc đi sứ Thượng La về Bạo chột dạ không xuất hiện xử lý việc lớn trong nước.

 Thiên hạ đồn Thừa Tướng  Năm Trừ bấy lâu  thấy Tể tướng Bạo khuynh loát thiên hạ, mọi nguồn tài vật đều nắm trong tay, thế lực nghiêng nước, nghiêng thành. Thừa tướng muốn trừ cái họa ngày càng lớn ấy, ngặt vì chức Thừa tướng nhà Sản hữu danh, vô thực. Nên Năm Trừ cậy nhờ vào Vệ Kinh Vương cũng mưu  trừ bớt thế lực của Bạo, năm lần bảy lượt công kích, thế của Bạo cũng giảm bớt đôi phần. Nhưng cũng chẳng ăn thua.  Vệ Kính Vương gọi Thừa tướng vào bàn chuyện, Vương tính.

- Nay trong nước không đủ lực trừ được hắn, chi bằng ngươi đi sứ sang Tề. Nhân lúc hắn mất lòng Tề ở Thượng La này, người có cơ hội mà mượn lực bên ngoài mà trừ hắn.

Thừa tướng Năm Trừ tỏ vẻ băn khoăn.

- Tề như con sói đói mồi, sang cầu cạnh, dâng bao nhiêu quà cho đủ, khéo lại mang tội bán nước.

Vệ Kính Vương cười khà khà.

- Ngươi chớ lo, cái chuyện biển đảo là mối bận tâm lớn của ta với Tề còn có một chuyện khác ở trong rất quan trọng. Đó là Tề muốn tiến xuống phía Nam xưng bá, phải có đường đi để áp lực. Đường ấy tất phải qua bể Đông.  Cho nên Tề muốn chiếm biển Đông có hai ý chiến lược của họ, chiếm hữu lâu dài khai thác tài nguyên và lấy đường đi bành trướng phía Nam.

Thừa Tướng Năm Trừ à một tiếng kinh ngạc, thán phục Vương.

- Vương thật anh minh, biết rõ thâm ý của họ.

Vương điềm đạm nói.

- Chả phải, chuyện này có từ mấy đời trước rồi, bí mật này chỉ có ai ngồi ngai vàng nhà Sản mới được biết. Từ khi nhà Sản  đánh xong nhà Hòa ở phương Nam nhất thống nước Vệ về một mối, Tề đã có ý  muốn nước Vệ ta như một con dốc mà đỉnh dốc hướng về Tề. Khi Tề tiến quân thì thuận lợi, nhưng khi kẻ khác muốn tiến về Tề  từ nước Vệ thì lại rất khó khăn. Đại ý nhà Tề muốn Vệ là bức tường, phên dậu che chắc cho Tề khi Tề thủ, làm bàn đạp cho Tề khi Tề công. Nhưng Vương nhà Sản lúc đó là Xuẩn không chấp nhận. Hai nước mới xảy ra binh đao. Sau này đặt lại quan hệ quần thần, Vương khác nên ngôi thuận lòng trời, theo ý đó, cho nên mọi chuyện diễn ra lớp lang lần lượt từ từ đến giờ Tề đã khá vững chãi ngoài biển là vậy. Cũng nhờ vậy mà chính sự nước ta ổn định suốt vài chục năm qua. Mọi âm mưu biến loạn trong nước Vệ đều nhờ kỹ thuật, sách lược của người Tề mà chúng ta phá được cả.

Năm Trừ hỏi.

- Vậy thần đi chuyến này sẽ thế nào.?

Vương cười khà khà, mái đầu bạc rung rinh, đôi mắt nheo lại rất nhân từ và độ lượng, ngài ân cần nói như chia sẻ nỗi lòng với bạn bè.

- Người chỉ cần làm sao để Tề hiểu, nước Vệ sẵn sàng giúp Tề có đường tiến xuống phía Nam, còn chuyện sở hữu biển cứ nói giờ lòng dân Vệ còn chưa dẹp yên, dù Vệ đã ra sức bắt nhiều đứa nho sĩ ghét Tề, nhưng dư âm còn sục sôi lắm. Xin cứ gác lại bàn sau.

Thừa tướng Năm Trừ đi sứ, ký với Tề hai nước hợp tác tuần tra trên biển Vệ. Chuyện chủ quyền biển đảo trong tay Tề đang nắm y rằng không được nhắc tới. Tề Vương Tạp Cặn cũng tạm thấy hài lòng hứa hẹn sẽ nâng đỡ nhiều sau này. Năm Trừ về nước vài hôm, ra thông báo đe dọa sẽ còn bắt nhiều những ''luồng gió độc'' về thông tin, ý nói những nho sĩ, kẻ sĩ dám bàn truyện không đúng với đường lối chủ trương triều đình.

 Người diễn kịch ở chợ có ba con rối. Ông ta lấy một cái bánh để trước mặt ba con rối, còn mình đóng vai quan tòa sói. Ba con rối tranh giành cái bánh, quan tòa sói chia bánh làm ba, rồi thủ thỉ với con rối này là phần con kia to hơn thì phải, nói xong ông ta đớp một miếng của con rối nọ, rồi lại kẻ cả phán con này to, ba con rối cứ nhìn phần bánh mà so đo, chành chọe.  Cứ thế ông ta xơi gần hết, đến nỗi miếng bánh chỉ đủ chia làm hai phần. Ông ta bảo với ba con rối.

- Thế này khó chia, thôi cứ để đó bao giờ có thêm chút nữa thì chia cho dễ.

 Người xem nói.

- Không đúng như trong chuyện kể, quan tòa sói ăn hết bánh cơ mà.

Người diễn kịch nói.

- Chuyện thì thế, diễn thì khác, ăn hết bánh thì lấy gì ra mai diễn tiếp vở này. Và  phải còn một ít cho bọn chúng hy vọng để làm rối tiếp cho quý vị xem.

Khách qua đường chứng kiến than.

- Nước Vệ loạn rồi, vợ thông dâm em chồng để giết chồng xong ân ái ngay trên giường, kẻ buồn đời thấy trẻ con ba tuổi ngoài đường rút dao đâm giải sầu, quan lại nhận hối lộ do rối loạn cảm xúc, công sai hiếp dâm cũng do rối loạn cảm xúc... giờ bọn diễn kịch dạo cũng diễn những vở quái gở. Hay cũng là rối loạn cảm xúc mà diễn vậy chăng.?

Nói xong nhìn lại mấy con rối, giật mình thấy có con tóc bạc, con mắt lươn, con cười nửa miệng. Vội rụng rời chân tay, rảo bước như chạy trốn khỏi chợ.




Nguyễn Văn Tuấn - Lan man chuyện báo chí … bán dâm


Nguyễn Văn Tuấn

Ở các nước phương Tây, người ta có câu “sex sells”. Hễ cái gì liên quan đến dục tính (sex) hay có một chút dâm là cái đó sẽ được bán chạy. Báo chí cũng thế, số nào có bài liên quan đến sex là bán chạy. Ở Việt Nam tôi thấy cũng có xu hướng sex sells. Mấy ngày qua, mở bất cử tờ báo mạng nào cũng thấy những bản tin, những câu chuyện liên quan đến hoa hậu Mỹ Xuân, người mới bị buộc tội bán dâm và phải ngồi tù 30 tháng. Nhưng điều đáng nói ở đây là Mỹ Xuân vừa là đối tượng mà cũng bị biến thành nạn nhân của những người chạy theo phong trào sex sells. Một buổi sáng bức xúc nên phải viết vài dòng để làm nhật kí.


Một trong những thói quen mỗi sáng của tôi (như sáng nay) là dạo qua một vòng báo chí mạng xem những “tin đọc nhiều nhất”. Không phải tôi đọc những tin đó, mà để xem người ta chú ý đến cái gì nhiều nhất. Biết được xu hướng này cũng cho chúng ta một vài ý niệm về trình độ dân trí và trình độ báo chí. Tôi thấy một cách nhất quán là người đọc báo (ít ra là báo mạng) ngày nay hay quan tâm đến những sự việc liên quan đến bạo lực (như giết người, cướp giựt) và … sex. Tiêu biểu cho xu hướng này là những tin được đọc nhiều nhất trên tuoitre.vn sáng nay (29/6):

• Mẹ sát hại 2 con ruột rồi tự vẫn
• Con trai Michael Jackson lần đầu tiết lộ về cái chết của cha
• Nam ca sĩ trẻ dọa tự tử vì bị Phạm Băng Băng “ngó lơ”
• Vàng nhà nước bán như "tôm tươi", dân mua rối bời
• Qua một đêm, lỗ 2,2 triệu đồng/lượng vàng
• Thân phận mại dâm nam - Kỳ 4: “Tai nạn nghề nghiệp”
• Cựu quan chức lộ băng sex nhận 13 năm tù
• Hoãn phiên tòa xét xử nguyên thượng sĩ công an dâm ô hàng loạt trẻ em
• Ôm tiền xếp hàng mua vàng trong tâm trạng phập phồng
• Bắt phó giám đốc MB.24 Lào Cai
• Hình ảnh phiên tòa hoa hậu, người mẫu môi giới mại dâm

Trong 11 bản tin được đọc nhiều nhất ở danh sách trên, có đến 4 bản tin liên quan đến sex! Trước đây, hình như có một thống kê của Google cho thấy người Việt khi lên mạng họ tìm những gì liên quan đến sex nhiều nhất. Có quá không nếu nói rằng Việt Nam là một đất nước đang bị obsessed (ám ảnh) vì sex.

Mà, obsession thì đi đôi với và hệ quả của suppression (cấm chỉ, ngăn chận). Cũng giống như người ta không có tự do nên mới khao khát đến độ ám ảnh vì tự do. Trong một xã hội mà những thảo luận về sex bị ngăn chận bằng luật pháp hay nguyên tắc đạo lí, và khi xã hội đó được mở thì mới tiết lộ “màu sắc” thật của nó. Tôi nghĩ tương tự, vì sex là một đề tài cấm kị, kiểu ai nói đến sex đều được xem là taboo, cho nên khi truy cập được Google thì người ta hăng say đi tìm cái cấm kị đó. Mà, báo chí thì cũng chỉ là thành viên trong xã hội thôi. Nhìn như thế thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên khi thấy giới báo chí rất thích những đề tài về sex hay liên quan đến sex. Có thể xem báo chí là những doanh nghiệp buôn bán thông tin. Thành ra, tôi nghĩ họ (giới báo chí VN) đang trở thành những nhà buôn sex.

Nhưng tôi nghĩ ở Việt Nam còn một vài lí do khác có thể giải thích tại sao giới báo chí chuộng buôn sex: họ bị đàn áp (hiểu theo nghĩa suppression) không cho đưa tin thời sự chính trị người dân quan tâm, nên họ phải quay sang bán sex. Theo tôi biết thì những bản tin của báo chí VN đều có định hướng từ đảng, hay cụ thể là ban tuyên giáo. Tuần nào họ cũng có chỉ thị phải đăng tin này, không đăng tin kia, tránh đề tài nọ. Một trong những đề tài cần cẩn thận là … chính trị. Tờ báo nào ở VN cũng đều có mục/cột chính trị - xã hội, nhưng nhìn vào cột đó chúng ta thấy toàn là những tin “phải đạo” theo hướng Nhà nước hay cụ thể là Thông tấn xã VN. Có rất nhiều những tin như lãnh đạo này đi thăm cơ sở kia, lãnh đạo nọ làm việc với tỉnh nọ, và những câu chữ mà đọc lên là người ta thấy rất quen quen (như “quyết tâm”, “kiên quyết”, “giữ vững”, v.v.) Không có hay rất ít những tin mà người dân quan tâm như vấn đề biển đông, vấn đề Tàu đang đe doạ Việt Nam, tham ô hối lộ, kinh tế và nợ công, v.v. Có thể tóm tắt rằng những gì người dân thật sự muốn biết thì báo chí không đưa tin, còn những gì báo chí đưa tin một cách hăng hái thì người dân không muốn biết. Nhưng báo chí là doanh nghiệp, và doanh nghiệp thì cần bán báo, cần người đọc. Không có những bản tin hấp dẫn về tham ô hối lộ thì họ phải quay sang bán những tin tức sex. Do đó, tôi nghĩ không khó hiểu khi báo chí VN rất hăng say với sex.

Cái hay của sex là nó hấp dẫn hơn những vấn đề thời sự nhàm chán. So với thời sự là chuyện đâu đâu, sex gần gũi hơn với người đọc. Sex ướt át với tuổi trẻ, và có hiệu ứng gây mê cho người lớn. Sex là liều thuốc an thần cho xã hội, vì qua nó mà người ta xoa dịu những nhọc nhằn và khó khăn của đất nước. Sex, cũng như thể thao, còn là nguồn giải trí mà qua đó những người cầm trịch xã hội muốn làm cho người dân quên đi những vấn đề bức xúc trong xã hội và bớt quan tâm đến an ninh quốc gia. Ngày xưa, người Pháp khi đô hộ VN họ áp dụng “nghệ thuật” đánh lạc hướng này rất hiệu quả. Lịch sử bây giờ có khi chỉ tái lập những gì thuộc ngày xưa.

Chạy theo sex sells còn là một cách rất tuyệt vời để khinh thường độc giả. Tuy sex là đề tài hấp dẫn, nhưng nó là loại đề tài thấp về mặt tri thức. Sex thuộc về bản năng của con người. Sex là đề tài bàn luận của những người kém văn hoá, chứ khó có thể là đề tài của người có văn hoá. Khi báo chí đua nhau đưa tin về sex cũng có nghĩa là họ xem thường độc giả. Đó là cách nói: chúng bay ngu dốt quá, làm sao có thể hiểu chuyện lớn được, nên chúng tao chỉ cho chúng bay đọc mấy thứ vớ vẩn thôi. Có thể báo chí không có ý đó, nhưng người đứng ngoài cuộc hiểu như thế.

Tôi thấy trong cơn xoáy điên cuồng sex sells ở Việt Nam, nữ giới là người bị thiệt thòi nhất. Người ta in những tấm hình nóng bỏng và khêu gợi của những cô gái được cho là ca sĩ, hoa khôi, hoa hậu, người mẫu trên báo, và chỉ ra họ là những người “bán dâm”. Có báo còn viết ra những con số về giá bán dâm, và số tiền đó được chia chác ra sao giữa các bên liên đới. Cách đưa tin như thế làm cho người đọc thấy những người đẹp kia chỉ là hàng hoá, một loại hàng hoá mà người nhiều tiền lắm của có thể mua. Đằng sau những bức hình đó, tôi đoán giới báo chí muốn nói rằng họ đẹp như thế đấy, nhưng họ cũng rất nhơ nhuốc. Đó còn là một cách khinh miệt giới nữ của giới báo chí. Người mình (mà hạng người có học – báo chí có thể xem là “có học”) mà khinh người mình, thì đừng trách tại sao báo chí Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan trưng hình phụ nữ Việt Nam như là những hàng hoá sex.

Trong cơn sốt sex sells vừa qua, có một điểm ít ai chú ý: không hề thấy bóng dáng của nam giới. Chúng ta không hề thấy báo chí cho biết danh tính của những người mua dâm. Những người này chắc chắn là nam và đại gia. Tại sao trong vụ mua bán dâm ở Hà Giang, báo chí sẵn sàng đưa tên của những người mua dâm như Sầm Đức Sương, Nguyễn Trường Tô (và một danh sách gần 20 quan chức), mà lần này thì họ không nói đến những kẻ mua dâm. Phải có cầu thì mới có cung chứ. Có thể họ là những người quyền thế và lắm tiền để có thể bịt miệng báo chí (còn trong trường hợp Hà Giang thì những người bị nêu tên là thấp cổ bé họng và/hay đang sắp xuống chức). Nếu không có những người sẵn sàng bỏ hàng ngàn USD để mua dâm thì làm sao có người cung ứng. Ấy thế mà nạn nhân trong trường hợp mua bán dâm mới nhất là những người đẹp, mà không có người mua dâm nào bị phạt cả. Ở các nước văn minh, người ta phạt người mua dâm là chính, (chúng ta còn nhớ vụ ông tổng giám đốc ngân hàng Thuỵ Sĩ ngồi tù vì mua dâm gái 17 tuổi, và vụ ông tổng giám đốc IMF đi tù vì nghi ngờ mua dâm). Ấy thế mà ở Việt Nam, nạn nhân là người bán dâm. Người ta đánh giá mức độ tiến bộ và văn minh của một xã hội qua cách đối xử với phụ nữ và sex. Thái độ của báo chí và luật pháp Việt Nam trong vụ mua bán dâm mới nhất là một điểm đen, và điểm đen đó đặt Việt Nam bên lề những xã hội văn minh.


Phạm Phú Minh - Hội thảo về ‘Tự Lực Văn Ðoàn’


Phạm Phú Minh

LTS - Trong hai bài phỏng vấn trước, Ban Tổ Chức buổi triển lãm và hội thảo về Phong Hóa, Ngày Nay và Tự Lực Văn Ðoàn (TLVÐ) đã nói về cuộc triển lãm và phần hội thảo về hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay. Trong bài viết hôm nay, nhà báo Phạm Phú Minh, đại diện ban tổ chức, nói về Tự Lực Văn Ðoàn. Mời độc giả theo dõi. 


 Bức tranh của Tô Ngọc Vân vẽ các thành viên Tự Lực Văn Ðoàn, đăng trong số Xuân 1940 của tuần báo Ngày Nay, ra ngày 3 Tháng Hai, 1940. Chúng ta có thể nhận ra bằng cách phỏng đoán theo hình dạng, tuần tự từ trái qua: Thế Lữ, Xuân Diệu, Hoàng Ðạo, Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ.

Nói về văn học cận đại của Việt Nam thì không thể thiếu Tự Lực Văn Ðoàn, vì những đặc điểm có tính cách lịch sử của nó. Từ đầu thế kỷ 20 trở về sau, nước ta bắt đầu manh nha việc dùng chữ quốc ngữ với sự xuất hiện của báo chí. Báo chí đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hướng dẫn đường hướng tinh thần, học thuật cho dân chúng trong những thập niên đầu thế kỷ cùng với việc phổ biến chữ quốc ngữ ngày càng rộng. Với Ðông Dương Tạp Chí từ 1913 Nguyễn Văn Vĩnh đã chủ trương dứt khoát với cái cũ của xã hội nho giáo và phong kiến, triệt để theo những điều mới mẻ hay ho của văn minh Âu Tây. Nhưng báo Nam Phong xuất hiện năm 1917, với chủ trương dung hòa mới cũ rất nổi tiếng của Phạm Quỳnh đã làm chậm bước cải cách của Nguyễn Văn Vĩnh. Cho mãi đến đầu thập niên 1930, khi một lớp Tây học trẻ tuổi đã thành hình trong xã hội, khi sự cọ xát cũ mới đã có đủ thời gian phân định ranh giới và ưu thế của phe theo mới thì xuất hiện hai tờ báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Ðoàn như một cú đẩy quyết định để xô ngã bức tường đã rệu rã của cái cũ. Cùng với sự trợ sức rất hữu hiệu của hai tờ báo đầy sáng kiến và linh động, Tự Lực Văn Ðoàn đã làm công việc xây dựng một nền móng mới mẻ cho tâm hồn giới độc giả của mình thời bấy giờ.

Văn đoàn này đã đưa Thơ Mới đến chỗ toàn thắng nền thơ cũ đã hiện diện trong đời sống tinh thần tình cảm của dân ta từ hàng ngàn năm, với những rung động mới lạ và hình thức tự do phá bỏ niêm luật để sự diễn đạt tiến tới chỗ tươi sáng, diễm lệ. Còn về tiểu thuyết, mời bạn đọc xem nhận xét sau đây của nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ:

...“ Song nhất là ở tiểu thuyết mà họ đã gây được thành tích vẻ vang hơn cả. Có thể nói chỉ với Tự Lực văn đoàn chúng ta mới bắt đầu có tiểu thuyết Việt Nam. Ở giai đoạn trước, như ta đã thấy, chỉ thịnh hành tiểu thuyết dịch, còn đến sáng tác nếu có thì thường đều mang dáng điệu mô phỏng, mô phỏng Tây, mô phỏng Tàu, mô phỏng cốt truyện, mô phỏng nhân vật. Ðến khi tiểu thuyết Tự Lực ra đời mới thấy những vai tuồng Việt Nam, hoạt động giữa khung cảnh Việt Nam, trong một câu chuyện Việt Nam. Những thanh niên như Mai và Lộc, Lan và Ngọc, Minh và Liên, Loan và Dũng xuất hiện trên đường phố Hà Nội, trên đê Yên Phụ hay trên những đồi chè Phú Thọ đã cho người đọc 1932 cảm tưởng là những người bạn rất gần, những mảnh đời rất quen thuộc, hơn nữa họ đóng những tấn tuồng tình cảm mà người đọc trẻ trung trong xã hội bấy giờ đều đã từng sống hoặc mơ ước sống... Không kể những tiểu thuyết Tự Lực về kỹ thuật ly khai hẳn với những sáo truyện Nôm (mà giai đoạn trước dù có sáng tác người ta vẫn còn chịu ảnh hưởng). (...) Cách hành văn của họ cũng mới mẻ, nhẹ nhàng, lưu loát, có nhiều phong vị hấp dẫn. Bởi tất cả những lẽ đó nên những tác phẩm của họ bắt đầu xuất hiện trên Phong Hóa rồi sách Ðời Nay, đã được người đọc bấy giờ đón nhận, mê say, và đã gây ra sau năm 1932 một phong trào tiểu thuyết mới phát triển rất mạnh khắp trong nước.” Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên của Phạm Thế Ngũ - quyển 3: Văn học Hiện đại 1862-1945. Quốc Học Tùng Thư, trang 447.

Có thể nói trong văn học sử Việt Nam, Tự Lực Văn Ðoàn xuất hiện như từ một con đường làng quanh co trong lũy tre xanh chuyển ra một con đường cái quan tráng nhựa rộng rãi thênh thang. Tính chất tiểu thuyết của nó có nhiều điều cần phân tích, vai trò của nó trong lịch sử văn học nước nhà cần phải minh định. Ðó là một công trình nghiên cứu dài hơi, sẽ phải qua nhiều giai đoạn thời gian. Riêng lần hội thảo về TLVÐ lần này, chúng tôi tiếp cận với một số nhà nghiên cứu, giáo sư đại học, các nhà văn nhà thơ... để thảo luận về một số đề tài và mời quý vị ấy tham gia trình bày trong hội thảo. Kết quả, những vị sau đây đã nhận lời thuyết trình:

- Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, giáo sư trường Ðại Học Victoria tại Melbourne, Australia sẽ thuyết trình đề tài: Ðánh giá lại Tự Lực Văn Ðoàn.

- Giáo Sư Kenichi Kawaguchi, Giáo sư Danh dự của trường Ðại Học Ngoại Ngữ Tokyo, sẽ thuyết trình (bằng tiếng Việt) đề tài: Tự Lực Văn Ðoàn và Văn học Cận đại Việt Nam.

- Nhà văn Phạm Thảo Nguyên sẽ trình bày đề tài: Câu chuyện Tự Lực Văn Ðoàn và những điều chưa nói.

- Nhà nghiên cứu văn học, nhà văn Trần Doãn Nho sẽ thuyết trình đề tài: Tự Lực Văn Ðoàn và câu chuyện văn phong.

- Nhà văn Trần Mộng Tú sẽ thuyết trình đề tài: Tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn.
- Nhà văn Đặng Thơ Thơ: Hoàng Đạo như một nhà văn đương đại.

- Nhà văn Ngự Thuyết sẽ thuyết trình đề tài: Thử đánh giá lại Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng.

- Giáo sư Trần Huy Bích, đại học UCLA, sẽ thuyết trình đề tài: Ảnh hưởng của Tự Lực Văn Ðoàn với phong trào Thơ Mới.

Các bài thuyết trình trên đây sẽ được trình bày trong chương trình hội thảo về TLVÐ vào ngày 7 Tháng Bảy, 2013.

Cuộc triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Ðoàn tổ chức trong hai ngày 6 và 7 Tháng Bảy, 2013 tại hội trường báo Người Việt. Lễ khai mạc sẽ vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 6 Tháng Bảy, tiếp theo là chương trình hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay, mà nội dung đã được chúng tôi trình bày trong bài phỏng vấn tuần trước. Ngày hội thảo thứ hai sẽ là về đề tài TLVÐ với các diễn giả và đề tài được trình bày như trên đây.