Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Ian Buruma - Ngục tù của trí tuệ


Ian Buruma
Phạm Vũ Lửa Hạ dịch

Ở TÙ xứ nào cũng khổ, nhưng mỗi xã hội có những cách hành xử văn hóa riêng để đày đọa người tù. Óc tưởng tượng tàn ác của giới cai tù Trung Quốc tuy không phải là độc nhất vô nhị, nhưng thường rất khác thường. Mà chính các tù nhân, những người tự phân chia đẳng cấp và lập nên nhà tù trong nhà tù, cũng có óc tưởng tượng khác thường.


Ví dụ, ở Trung tâm Điều tra thuộc Sở Công An Thành phố Trùng Khánh, còn gọi là Trung tâm Điều tra Tung Sơn, những tay trùm xà lim sáng chế một thực đơn gồm các món tra tấn quái dị. Thử điểm qua vài món:
Vịt hun khói kiểu Tứ Xuyên: Kẻ tra tấn đốt lông hạ bộ của tù nhân, tụt da quy đầu rồi dùng lửa đốt đen đầu dương vật.

Hoặc:
Mì nước trong: Những dải giấy vệ sinh được nhúng trong một bát nước tiểu, rồi tù nhân bị buộc ăn giấy vệ sinh và uống nước tiểu.

Hoặc:
Canh mai rùa và da heo: Kẻ tra tấn đánh hai đầu gối của tù nhân cho đến khi chúng thâm tím và sưng lên như mai rùa. Hết đi nổi.

 Còn nhiều trò tra tấn khác nữa, được ban phát tùy theo tài ứng biến của kẻ thực hiện. Trong hồi ký lao tù lạ thường có nhan đề “Vì một bài hát và một trăm bài hát” (For a Song and a Hundred Songs, do Hoàng Văn Quảng dịch từ tiếng Trung, nhà xuất bản New Harvest), Liệu Diệc Vũ kể chuyện một tiều phu bị tâm thần phân liệt đã chặt chính vợ mình vì cô ta hốc hác đến nỗi anh tưởng lầm cô là một bó củi. Trùm xà lim pha thuốc nhuận trường vào nước súp của anh, rồi không cho anh dùng chậu đi tiêu đi tiểu chung, thế là anh chàng buồn đi cầu đến tuyệt vọng đành ỉa vấy lên khắp người một bạn tù. Vì cái tội đáng kinh tởm này, anh bị đập mặt vào bồn nước. Rồi đến lượt bọn quản giáo vì tưởng anh muốn tự tử, một trọng tội trong tù, nên dùng dùi cui điện đánh anh nhừ tử.

Alexis de Tocqueville đến Mỹ vào năm 1831 để nghiên cứu hệ thống nhà tù của nước Mỹ, nhưng rốt cuộc viết nên tác phẩm Dân chủ ở Mỹ (Democracy in America).[i] Quan sát hệ thống nhà tù Trung Quốc từ bên trong, với tư cách là một “tù nhân phản cách mạng” từ năm 1990 đến 1994, Liệu Diệc Vũ kể cho chúng ta biết rất nhiều về xã hội Trung Quốc, cả truyền thống lẫn cộng sản, trong đó có tác động của kiểu tuyên truyền cách mạng khoa trương, đấu tố vì bị ép buộc và thú tội công khai, và, khi thời thế thay đổi kể từ sau thời kỳ cai trị sai lầm của Mao Trạch Đông, áp dụng chủ nghĩa tư bản dưới những hình thức đồi bại. Ông kết thúc câu chuyện của mình bằng nhận xét “Trung Quốc vẫn còn là một nhà tù của trí tuệ: thịnh vượng nhưng không có tự do”.

LIỆU DIỆC VŨ bị tống giam vì sáng tác Thảm sát – một bài thơ theo phong cách dòng-ý-thức (stream-of-consciousness) tưởng niệm hàng ngàn người bị sát hại vào ngày 4/6/1989,[ii] khi phong trào đòi dân chủ bị đàn áp trên toàn Trung Quốc. Bài thơ (theo bản dịch tiếng Anh của Michael Day) mở đầu như sau:
Lại thêm một kiểu thảm sát diễn ra ở trung tâm xứ hoang tưởng
Thủ tướng cảm lạnh, nhân dân phải ho theo;
thiết quân luật ban bố bao lần.
Cỗ máy không răng của nhà nước cán lên những người can đảm không chịu bệnh theo.

Liệu Diệc Vũ không phải là nhà hoạt động chính trị, hay nói đúng hơn, một người bất đồng chính kiến, và sự phản kháng của ông mang tính tự phát. Ông không quan tâm lắm đến chính trị, ngay cả trong những năm 1980 khi mà nhiều thanh niên Trung Quốc chẳng nghĩ đến gì khác ngoài chính trị. Ông có cuộc sống khá phóng đãng, lang bạt kỳ hồ như một “kẻ đạo đức giả ăn mặc bảnh bao, một nhà thơ tự khắc họa mình là một tấm gương mẫu mực nhưng đồng thời lại hít thở bằng đàn bà như tôi đang hít thở bằng không khí, tìm chỗ trú ẩn và hơi ấm trong thú ăn nằm lang chạ”.

Cũng như nhiều người Trung Quốc lớn lên trong thời Cách mạng Văn hóa, Liệu Diệc Vũ coi như tự học văn chương, tuy ông được cha là thầy giáo truyền thụ nền tảng căn bản về Tứ Thư Ngũ Kinh. Rải rác trong hồi ký của ông, ta bắt gặp tên những tác giả phương Tây – Orwell, Kundera, Proust – một số tác phẩm của họ thậm chí lọt qua được những bức tường nhà tù ở Trùng Khánh. Trong số đó, đáng chú ý là có cả cuốn Một chín tám tư của Orwell. Liệu Diệc Vũ viết: “Trên trang sách là một nhà tù tưởng tượng, còn xung quanh tôi là nhà tù thật”.

Khác với người bạn Lưu Hiểu Ba, nhà phê bình được Giải Nobel và là một tác giả có chính kiến mãnh liệt, Liệu Diệc Vũ chưa bao giờ muốn liều lĩnh chấp nhận rủi ro. Ông mô tả mình là một nghệ sĩ chỉ muốn được tự do viết theo ý thích của mình. Mới hồi năm 2011, ông nói với nhà báo Ian Johnson: “Tôi không muốn phạm luật của họ. Tôi không quan tâm đến họ và mong muốn họ chẳng quan tâm đến tôi”. Nhưng, năm 1989, ông tự đẩy mình “vào con đường tự hủy diệt” khi đến các tửu quán và hội quán khiêu vũ để ngâm bài thơ của mình bằng giọng than khóc theo lối cầu siêu truyền thống của Trung Quốc. Một băng thu âm bài thơ này được lén lút phát tán, và một nhóm nghệ sĩ và bạn bè đồng cảm đã làm một bộ phim mang tên Lễ cầu hồn (Requiem) quay những cảnh ông ngâm bài thơ này. Theo Liệu Diệc Vũ, không một ai trong số đó có thể được liệt vào hạng “kẻ bất đồng” hay “nhà tranh đấu dân chủ”. Nhưng tất cả đều bị bắt, tác phẩm của họ bị tịch thu, và nhờ đó “Sở Công An triệt hạ một cộng đồng văn chương bí mật hoạt động mạnh ở Tứ Xuyên”.

Thời gian ở tù cũng không biến Liệu Diệc Vũ thành một nhà hoạt động chính trị. Có lúc một người cũng thuộc phong trào Bát Cửu (89) muốn khởi xướng một tổ chức gồm các tù nhân chính trị đã tiếp xúc với ông. Liệu Diệc Vũ không chịu tham gia, và giải thích lý do tại sao ban đầu ông viết bài thơ Thảm sát. Ông nói ông “buộc phải phản kháng” vì “ý thức hệ nhà nước mâu thuẫn dữ dội với quyền tự do diễn đạt của nhà thơ”. Trong hồi ký, ông kể rằng đối với chuyện này, “ông không hề có ý định làm anh hùng, nhưng ở một đất nước mà sự điên rồ ngự trị, tôi phải có lập trường. Thảm sát là tác phẩm nghệ thuật của tôi, và tác phẩm nghệ thuật của tôi là cách phản kháng của tôi”.

Nhiều nhà bất đồng nổi tiếng đã viết khá sinh động về kiếp lao tù của họ. Lòng can đảm để đứng một mình của Ngụy Kinh Sinh kể chuyện 18 năm ông ở tù sau khi ông lãnh đạo phong trào Bức tường Dân chủ trong những năm 1970. Những ngọn gió rét của Ngô Hoằng Đạt (Harry Wu) mô tả kiếp đọa đày của ông ở những trại lao động cưỡng bức trong thập niên 1960 và 1970. Những câu chuyện quả cảm của họ chuyển tải một thông điệp chính trị mạnh mẽ về việc đứng lên chống lại chế độ độc tài. Liệu Diệc Vũ là một văn nhân, và nhờ đó hồi ký ở tù của ông càng có sức thuyết phục hơn. Trước hết, ông thành thực đến tàn nhẫn về các nhược điểm và nỗi sợ của mình. Ông chẳng có gì đặc biệt anh hùng cả. Nhìn bọn quản giáo tập dượt chiến đấu trong ngày đầu tiên ở tù, ông “rùng mình như một con chuột nơm nớp lo sợ”. Buộc phải hát đi hát lại nhiều bài với cổ họng khô rát trong trời lạnh cóng người để mua vui cho bọn quản giáo, ông bị đánh bằng dùi cui điện. Khi không thể hát tiếp được nữa, ông bị lột hết áo quần và quật ngã xuống đất: “Tôi có thể cảm nhận được cái dùi cui trên hậu môn của mình, nhưng tôi không chịu đầu hàng. Đầu dùi cui đi vào người tôi. Tôi hét lên rồi rên khóc như một con chó”. Liệu Diệc Vũ đã hai lần tìm cách tự vẫn, một lần bằng cách đập đầu vào tường. Chuyện này khiến những tù nhân cùng xà lim chế nhạo ông; họ tố ông đóng kịch, cho rằng đó là trò tiêu biểu của một nhà thơ mọt sách. Nếu thực sự đã muốn vỡ sọ, lẽ ra ông nên đập đầu vào gờ tường.

Liệu Diệc Vũ mô tả rất tỉ mỉ tâm trạng của kẻ lúc nào cũng sợ hãi, phải sống trong một xà lim chật chội với quá nhiều người khác đến nỗi chẳng có chỗ nằm, đói ăn và thiếu tình dục. Có tù nhân đói lả bắt được một con chuột bèn lột da khi nó đang còn sống rồi ăn tươi. Có người vục mặt vào xô đồ ăn thừa mà ngoạm đầy miệng. Sinh hoạt tình dục vẫn diễn ra, nhưng theo kiểu đê tiện. Một tù nhân suýt đốt trụi giường vì thủ dâm với một cái bật lửa khi bật lên thì hiện ra hình ảnh một phụ nữ khỏa thân. Có người chỉ cần thấy một ngôi sao phim sến trên truyền hình là không nhịn được lòng thèm muốn nhục dục. Liệu Diệc Vũ chứng kiến đám tù nhân bu quanh cửa sổ, tay trùm xà lim được đôn lên vai những kẻ nô lệ của mình, khi cả đám thủ dâm trong lúc cố nhìn cho được một người đàn bà bên ngoài. Một anh tù nhân trẻ bị trùm xà lim hãm hiếp, đem lòng yêu hắn, rồi bị ruồng bỏ bằng một cái tát vào mặt khi tay trùm bị bất lực.

MỘT trong những lý do không mấy đáng khoe khiến ta đọc các hồi ký lao tù như cuốn này với cảm giác thích thú pha lẫn khiếp đảm là nỗi thống khổ của kẻ khác lại có thể có sức hấp dẫn khiêu dâm ghê gớm. Nhưng tác phẩm của Liệu Diệc Vũ hết sức lôi cuốn chính nhờ tài quan sát của ông. Tuy bản thân cũng chịu đau khổ, ông luôn tò mò về những người khác, về tính cách của họ, về những câu chuyện của họ, và về cách họ đối phó với bao nỗi kinh hoàng của đời sống ngục tù. Những lần tiếp xúc của ông với các tù nhân khác được khéo léo biến thành các truyện ngắn. Vì một số tù nhân này đang chịu án tử hình, truyện thường bàn chuyện đối mặt với cái chết cận kề. Một tay buôn lậu ma túy có biệt danh Tử Thường muốn mượn tập sách bản đồ của Liệu Diệc Vũ để chuẩn bị cho kiếp sau làm con ma lang thang. Tử Thường đã lạc lối quá nhiều lần ở kiếp này, và muốn tới thăm những nơi hắn thích lai vãng sau khi hắn bị kết liễu bằng một viên đạn vào cổ. Nghe kẻ tử tù này nói họ có thể gặp lại nhau ở kiếp sau, Liệu Diệc Vũ thấy “tứ chi tôi run rẩy”. Tử Thường hỏi ông có sao không, rồi “bật ra tiếng cười quái gở. Vết nhăn hằn sâu giữa hai chân mày của hắn cứ như mở toang hoác giống cái miệng chực nuốt chửng tôi”.

Một số trong những tù nhân này được khắc họa trong một cuốn sách khác của Liệu Diệc Vũ, được xuất bản ở Đài Loan với nhan đề Phỏng vấn những người ở dưới đáy xã hội (Interviews with People from the Bottom Rungs of Society, 中国底层访谈录, 2001), và ở Mỹ với nhan đề Người vác thi thể (The Corpse Walker, 2008). Trong đó có truyện về một nông dân mù chữ tuyên bố làng quê của mình là một nền quân chủ độc lập, tự phong mình làm hoàng đế. Vì hành động lật đổ phản cách mạng này, ông bị tù chung thân. Liệu Diệc Vũ thấy “hoàng đế nông dân” lý thú ở chỗ các ảo tưởng của ông bắt nguồn từ Tứ Thư Ngũ Kinh. Một trong những tuyên bố của ông là dải băng vàng mang niên hiệu của ông được tìm thấy trong một con cá. Khi Liệu Diệc Vũ chỉ ra rằng cái mẹo này đã được một nông dân phiến loạn sử dụng hai ngàn năm trước để phỉnh dụ thiên hạ theo ông, vị hoàng đế nông dân bảo ông câm mồm: “Ngươi quả là thất lễ vì dám nói với Trẫm như vậy. Trẫm biết ngươi là ký giả giả trang do vương quốc Trung Hoa thù địch phái tới đây. Ngươi đã âm mưu cấu kết với bọn cán bộ quản giáo để lừa Trẫm cung cấp bằng chứng kết tội”.

Văn học có thể dùng làm lối thoát, như khi Liệu Diệc Vũ thả mình dạt theo những ký ức về Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez. Ông thấy mình đặc biệt giống một nhân vật trong tiểu thuyết này: đó là Đại tá Buendia, mất trí sau khi bị cột vào một cây dẻ trong nhiều năm. Giống như Đại tá, Liệu Diệc Vũ rút lui vào trong tâm trí của mình. Những lúc khác, các tác phẩm văn học minh họa các khía cạnh sơ khai nhất của kiếp tù. Liệu Diệc Vũ nhớ trong Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being),[iii] Milan Kundera định nghĩa cái kitsch toàn trị (totalitarian kitsch) là “sự hoàn toàn phủ nhận cứt”. Liệu Diệc Vũ viết rằng ông không thể nâng phân người lên một tầng ẩn dụ cao hơn: “Trong cuốn hồi ký tầm thường này của tôi, cứt là cứt. Tôi cứ nhắc mãi đến cứt vì tôi suýt chết đuối trong cứt”. Thực tế quả gần đúng như vậy; là ma mới trong xà lim, hoặc nếu không còn được lòng một trong những tay trùm xà lim, ông thường phải ngủ kề mặt bên chậu đi tiêu đi tiểu.

Song, ông không nhịn được cách nhìn ẩn dụ về cứt, như trong nhận xét ông đang sống “trong một chuồng heo đầy cứt gọi là Trung Quốc”. Bệnh tật cũng được nâng lên thành một ẩn dụ. “Nếu Trung Quốc là một bệnh nhân bị ung thư ruột, thành phố Trùng Khánh là điểm cuối bẩn thỉu của khúc ruột đó, cái hậu môn bệnh hoạn”. Trong sách, nhà tù thường được mô tả là một nhà tù bên trong một nhà tù khổng lồ của một xã hội Trung Quốc bệnh hoạn, một tấm gương lố bịch của các thể chế chính trị và sự khoa trương khoác lác của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

NGÔN NGỮ của chủ nghĩa Mao, nay gần như đã thấm nhuần vào đời sống Trung Quốc như các giáo điều Khổng giáo đã từng ăn sâu, thường được dùng theo lối tương tự, cứ liên tục bật ra giữa các cuộc trò chuyện trong tù. Tù nhân thường nhại các phát biểu của Mao với vẻ mỉa mai, như khi anh tiều phu bị cấm dùng chậu đi tiêu đi tiểu sau khi dính thuốc nhuận trường, đám tù nhạo anh: “Không có kỷ cương và phép tắc thì cách mạng sẽ không thành công”. Đôi khi Mao được trích dẫn nghiêm chỉnh. Một tay trùm xà lim có cảm tính với Liệu Diệc Vũ cảnh báo ông đừng kết bạn với một người khác cũng là trí thức: “Đừng có mà sách vở quá … Hãy nhớ lời dạy của Mao Chủ tịch về đấu tranh giai cấp – đừng bao giờ mất cảnh giác đối với kẻ thù giai cấp của anh”.

Ngoài suy nghĩ đượm chất Mao, chính hệ thống chính quyền kiểu Trung Quốc được sao chép bên trong nhà tù. Một phần là do cách tổ chức Đảng Leninist, nhưng phần lớn là do những tập quán truyền thống. Khi Liệu Diệc Vũ nhập trại ở Trung tâm Điều tra Tung Sơn, trùm xà lim của ông giải thích cơ chế vận hành xà lim. Hắn so sánh hệ thống tôn ti trong xà lim với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; ủy viên BCT và Quân ủy đứng trên dân thường. Họ muốn làm gì cũng được. Nhưng, để duy trì trật tự, họ phải áp đặt tính đoàn kết tuyệt đối trong xà lim. Dấu hiệu phản loạn đầu tiên sẽ bị bóp nát không thương tiếc. Tuy nhiên, phản ánh hàng trăm năm theo Khổng giáo, trùm xà lim nói giới cai trị không thể quá tàn nhẫn: “Chúng ta cần để những người dưới quyền chúng ta có cảm giác chúng ta là cha mẹ của họ”. Khi Liệu Diệc Vũ phản đối, trích lời Mao Chủ tịch nói rằng nhân dân là cha mẹ của Đảng, trùm xà lim tỏ vẻ hiểu rõ hơn về thực tế Trung Quốc: “Tào lao! Nếu một tên trộm ở đây muốn có một bữa ăn đường hoàng đủ no, chuyện đó do tao quyết định”.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi giới quản giáo cũng dựa các phương pháp của mình theo các tập quán phổ biến ở Cộng hòa Nhân dân. Chẳng hạn như việc sử dụng các chiến dịch chính trị. Tù nhân ở Trung tâm Điều tra bị ép buộc tham gia một chiến dịch hàng năm gọi là “Tự thú tội và đấu tố người khác”. Những cuộc mít-tinh chính thức được tổ chức trong sân trại, giống như dưới thời Mao, với các khẩu hiệu chính trị hô vang trời, và những bài phát biểu dài lê thê của những cán bộ công an và quản giáo. Tù nhân phải dành hàng giờ để viết lời tự thú và đấu tố. Các trùm xà lim được khuyến khích chọn những món hấp dẫn nhất trong thực đơn tra tấn cho những tù nhân bị xem là chưa đủ nhiệt tình tự thú hay đấu tố người khác.

Chiến thuật này cũng là một kết hợp hiểm độc giữa truyền thống và sáng tạo hiện đại. Tự thú theo lễ nghi xưa nay đã luôn là một phần trong công lý Khổng giáo. Việc bị buộc phải đấu tố người khác, tuy không phải là không có trong quá khứ, là một thủ đoạn tinh vi của chế độ toàn trị nhằm triệt tiêu lòng tin giữa người với người, để họ chỉ còn biết trung thành với Đảng. Liệu Diệc Vũ kể những chiến dịch tự thú và đấu tố quá ác nghiệt đến nỗi nhiều người chết do tra tấn. Song, khi tình hình có nguy cơ vượt quá tầm kiểm soát, cấp quản lý trại giam cho ngừng các màn xử tội, và đúng theo kiểu hành xử Maoist thường thấy, trở mặt đổ tội cho các thủ phạm bằng cách mở một chiến dịch khác, lần này gọi là “Xử lý những kẻ bắt nạt bạn tù”. Chính những kẻ trước đây được khuyến khích trấn áp những tù nhân ngoan cố nay lại bị đàn áp.

Nhưng, dĩ nhiên, Trung Quốc đã tiến tới kể từ sau mấy chục năm dưới chế độ kinh hoàng của Mao. Khi Liệu Diệc Vũ ở tù, Trung Quốc đã mở cửa làm ăn với thế giới tư bản hơn mười năm. Cải cách kinh tế bắt đầu vào đầu thập niên 1980 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Năm 1992, Đặng Tiểu Bình kêu gọi tăng trưởng kinh tế nhanh hơn nữa. Chính vì thế, theo lời của Liệu Diệc Vũ, “cán bộ quản giáo không để lỡ nhịp và nhanh chóng lợi dụng sức lao động miễn phí để tư lợi đầy túi”.

Lao động miễn phí là mỹ từ để chỉ nạn nô lệ. Mỗi tù nhân buộc phải đóng gói thuốc men ít nhất mười giờ mỗi ngày, trong khi tai phải nghe loa phóng thanh ra rả những lời hô hào chính trị – cách kết hợp thường thấy của Đảng Cộng sản Trung Quốc giữa áp bức ý thức hệ và bóc lột kinh tế. Liệu Diệc Vũ nhận xét rằng kiểu lao động chân tay lặp đi lặp lại này đã bị các nhà máy địa phương bãi bỏ. Nhưng giới quản giáo có thể kiếm bộn lợi nhuận nhờ ép buộc các nô lệ bị cầm tù hoàn thành chỉ tiêu tới ba ngàn gói mỗi ngày. Tù nhân nào tìm cách trốn hoặc phản đối chế độ nhà tù sẽ bị đánh đập hoặc tống vào ‘xà lim tối” chỉ đủ chỗ để bò vào rồi nằm bẹp xuống. Liệu Diệc Vũ viết: “Sau chừng một năm, da của kẻ ở xà lim tối trở nên nhợt nhạt, xương yếu đi, còn tóc trắng bệt. Da trong suốt đến nỗi ta thấy rõ những gân máu xanh”.

Liệu Diệc Vũ nhắc đến vài giây phút thư thái. Có nhiều ví dụ về lòng tốt của những trùm xà lim ưu ái ông, đôi khi nhờ là nhà thơ; lòng tôn trọng văn chương chưa chết ở Trung Quốc. Một thầy tu đạo Phật dạy ông thổi sáo. Và thảng hoặc, điều kiện sinh hoạt trong tù có khá lên đôi chút vì nước ngoài gây áp lực buộc Trung Quốc cải thiện về nhân quyền. Điều này có thể khiến những người trong chúng ta đã hết hy vọng gây ảnh hưởng từ bên ngoài đối với cách hành xử chính thức của Trung Quốc sẽ bớt hoài nghi hơn đôi chút.

Trong khi đó, Liệu Diệc Vũ cố gắng lưu giữ ký ức về những điều tai nghe mắt thấy trong tù bằng cách chép vội trong một cuốn Tam quốc chí. Ngày 31/1/1994, ông được trả tự do. Nhưng, theo ông kể, việc ra tù của ông chỉ là khởi đầu của một kiểu đọa đày khác, có lẽ còn cay đắng hơn theo cách riêng của nó. Người gây rối và người bất đồng hiếm khi được ưa chuộng ở các xã hội áp bức. Họ gây rắc rối cho người khác vì xúi giục trả đũa, và họ khiến đa số những người không chịu chống đối thấy bất an về thái độ phục tùng của mình. Liệu Diệc Vũ ghét về quê ăn tết và vào các dịp lễ lạt gia đình khác, vì ông biết mình sẽ bị chỉ trích. Vợ ông quyết định ly dị ông – có lẽ cũng chẳng đáng ngạc nhiên, vì Liệu Diệc Vũ chưa bao giờ tự nhận là một người chồng tận tụy. Tệ hơn nữa là ông bị chính bạn cũ ruồng bỏ. Sau bốn năm ở tù, ông viết, “tôi chẳng khác nào một đống cứt chó dưới mắt những bạn văn của tôi”. Sự ruồng bỏ này có thể thể hiện một kiểu nhẫn tâm đặc thù Trung Quốc, nhưng thực ra chủ yếu là do cách quản lý Trung Quốc hiện nay. Sau cuộc dấy loạn bất thành năm 1989, chính quyền cộng sản đã có một thỏa thuận khôn khéo với các giới có học: nếu những người thuộc thành phần ưu tú ở thành thị tránh xa chính trị, họ sẽ được tự do mở mang trí tuệ cho chính mình. Liệu Diệc Vũ viết: “Cả nước ta đột nhiên mải mê kiếm tiền, đó chính là axít ăn mòn làm hòa tan chính kiến bất đồng. Cũng chính những người từng can đảm tuần hành trên đường phố đòi dân chủ nay lại hóa ra “phi chính trị” trong thời đại hiện nay khi ai cũng chạy theo vật chất tiền tài – theo kiểu cộng sản”. Nhiều bạn văn nghệ đồng chí hướng với ông đã trở thành doanh nhân.

Trong những hoàn cảnh như vậy, thiên hướng thông thường khiến con người lảng tránh kẻ gây rối càng được củng cố bởi cái ý thức không kiềm nén được về việc đã chấp nhận một thỏa thuận đê hèn. Cũng giống như trong thực tế thường xảy ra với những người sống trong chế độ độc tài, các độc giả hăng hái nhất của Liệu Diệc Vũ là các cán bộ ăn lương để kiểm duyệt ngôn từ của ông. Buộc phải chấp nhận kiếp sống của một kẻ lang thang có học, đôi khi thổi sáo ngoài đường để kiếm sống, và sợ bị tống giam trở lại, Liệu Diệc Vũ xoay xở vượt biên sang Việt Nam, rồi từ đó ông tìm đường sang Đức, nơi ông sinh sống hiện nay. Và thế là chính nhà thơ Trung Quốc đầy tài năng này trình diễn những buổi ngâm thơ tưởng niệm của ông để mua vui cho khán giả ở Berlin và New York – một “người bất đồng” kỳ lạ ở nước ngoài, tiếng nói của ông được nghe ở khắp nơi ngoại trừ nơi nó cần được nghe nhất.

Nguồn: Ian Buruma, Prison of the Mind, The New Yorker, 1/7/2013
Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra
______________
 Liệu Diệc Vũ bị cầm tù từ năm 1990 đến 1994 sau khi sáng tác bài thơ Thảm sát để tưởng niệm những người biểu tình đòi dân chủ. Minh họa của Peter và Maria Hoey.

[i] Bản dịch tiếng Việt có nhan đề Nền dân trị Mỹ. Trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ Đài VOA, dịch giả Phạm Toàn cho biết ông và Nhà xuất bản Tri Thức chủ động đổi nhan đề vì hiểu tâm lý chính quyền Việt Nam dị ứng với từ “dân chủ”.
[ii] Sự kiện Thiên An Môn
[iii] Bản dịch tiếng Việt của Trịnh Y Thư


Blogger Điếu Cày tuyệt thực trong tù

SÀI GÒN (NV) .- Ông Nguyễn Văn Hải, 61 tuổi, một blogger có nick name là Điếu Cày đã tuyệt thực gần một tháng để phản đối sự ngược đãi của công an trong trại giam.  
    
Nhà báo tự do Điếu Cày bị y án 12 năm tù ở phiên tòa phúc thẩm ngày 28/12/2012 tại Sài Gòn mà các luật sư tố cáo cơ quan tư pháp CSVN vi phạm luật tố tụng hình sự và vu cáo cho ông cũng như hai người cùng vụ là Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải “tuyên truyền chống nhà nước”. (Hình: VTV)  

Nguyễn Trí Dũng (con trai ông Hải) cùng với mẹ tới trại giam chiều ngày Thứ Ba 16/7/2013 để thăm gặp nhưng bị ban giám thị trại tù số 6 đuổi về dù đợi nhiều giờ giữa trời nắng. Khi về tới Sài Gòn ngày hôm sau thì được bà Nguyễn Thị Nga, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa gọi điện thoại báo cho biết “Ông Hải đã tuyệt thực 25 ngày”.

Ông Hải bị đưa từ nhà tù Long Khánh ở miền Nam tới giam giữ tại Trại giam số 6, tọa lạc ở xã miền núi Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An cùng với một số tù nhân chính trị khác bị đưa từ nhà tù Nam Hà (miền Bắc) tới giam chung như Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Anh Kim.

Trên mạng xã hội facebook, một đoạn tin ngắn tường thuật lời thông báo của bà Nguyễn Thị Nga về chuyến thăm chồng (nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa) ít phút ngắn ngủi chỉ vì ông Nghĩa nói với vợ tin ông Nguyễn Văn Hải tuyệt thực:
“Bà Nga gặp ông Nghĩa lúc 15h40 ngày 17/7/2013, sau 15 phút ông Nghĩa nói to cho bà Nga: “Anh Điếu Cày tuyệt thực 25 ngày cho đến hôm nay”. Ông Nghĩa bị hai giám thị trại giam bịt miệng và lôi đi rất bạo lực ra khỏi phòng thăm gặp ngay lập tức.

Hai giám thị có tên Hùng và Phương đã lập biên bản và bảo bà Nga ký vào vì vi phạm nội quy. Bà Nga không chấp nhận và khiếu nại rằng ông Nghĩa chỉ nói thông tin trong phòng giam mà các cán bộ trại giam ngăn cấm không cho gặp. Trong khi đó, ông Nguyễn Kim Nhàn bị hai thanh niên cùng buồng giam đánh bầm tím mặt. Ông Nhàn có báo cáo với cán bộ trại giam 3 lần nhưng họ đều không giải quyết.”

Trên mạng Facebook, anh Nguyễn Trí Dũng tường thuật chuyến đi thăm nhưng bị từ chối cho gặp. Anh kể rằng chờ đợi khoảng 3 tiếng, họ được một nhóm người mặc thường phục, không rõ họ tên, cấp bậc mời vào “làm việc”. Nhóm này loan báo không thể cho thân nhân gặp mặt ông Hải vì ông “bị kỷ luật” do “gây mất trật tự trong phòng giam”. 

Nhóm này giải thích rằng, sở dĩ họ không thông báo trước cho gia đình để thân nhân ông Hải khỏi mất công đi từ Nam ra Bắc thăm ông vì “kết quả cải tạo chỉ thông báo mỗi quý/lần”. Nhóm này nói thêm rằng, sở dĩ họ bắt thân nhân ông Hải đứng chờ nhiều giờ dưới nắng vì họ cần phải hội ý và cuối cùng đã chấp nhận cho thân nhân ông Hải gửi “đồ tiếp tế” vì “lý do nhân đạo”.

Thân nhân ông Hải tin rằng, việc không cho họ gặp mặt ông Hải theo định kỳ là bất thường. Ông Hải đang bị giam cùng phòng với ông Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Trần Anh Kim. Cả hai đều là tù chính trị nên việc ông Hải “bị kỷ luật” vì “gây mất trật tự trong phòng giam” là không hợp lý. 

Ông Hải bị bắt năm 2008, bị hệ thống tòa án Việt Nam kết án ba năm tù về tội “trốn thuế”. Bản án này bị cả dư luận Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế chỉ trích vì có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy đó là sự ngụy tạo. Trước khi bị bắt, ông Hải là một trong những người sáng lập “Câu lạc bộ Nhà báo tự do” và là một trong những người tích cực vận động cho các hoạt động chống ảnh hưởng của Trung Quốc trên vận mệnh Việt Nam. 
 
Năm 2011, tuy đã thi hành xong bản án 30 tháng tù về tội “trốn thuế” nhưng ông Hải không được trả tự do. Công an Việt Nam tiếp tục cầm giữ ông để điều tra về các hành vi liên quan đến cái gọi là hoạt động “tuyên truyền chống nhà nước”. 

Năm 2012, hệ thống tòa án Việt Nam đưa ông Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), bà Tạ Phong Tần (blogger Công lý và sự thật), ông Phan Thanh Hải (blogger Anh Ba Sài Gòn) ra xử. Ông Nguyễn Văn Hải bị phạt thêm 12 năm tù, bà Tạ Phong Tần bị phạt 10 năm tù, ông Phan Thanh Hải bị phạt 4 năm tù.

Kể từ khi bị bắt, tên của ông Nguyễn Văn Hải luôn xuất hiện trong các văn bản của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, gửi chính quyền Việt Nam, yêu cầu phải phóng thích ngay lập tức và vô điều kiện các tù nhân lương tâm. Ông được xem như một bằng chứng rõ ràng, cụ thể về việc chế độ Hà Nội thẳng tay đàn áp những tiếng nói đối lập, bóp nghẹt dân chủ. 

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải đã tuyệt thực nhiều lần trong tù và thân của ông thường bị cấm thăm gặp. Gần đây, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cũng tuyệt thực 25 ngày và chỉ ngưng vào ngày 21/6/2013 vừa qua để phản đối ban giám thị nhà tù số 5 ở Thanh Hóa vi phạm luật lệ. (G.Đ)

Gia đình blogger Điếu Cày quyết tìm ra sự thật
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok 

Thông tin blogger Điếu Cày, Nguyễn Văn Hải, tuyệt thực trong tù 25 ngày được đưa ra vào ngày 17 tháng 7 vừa qua khiến cho gia đình ông này hết sức lo lắng và họ quyết tâm phải tìm cho ra sự thật.

Chính quyền bưng bít sự thật

Bà Nguyễn thị Nga, vợ của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vào ngày 17 tháng 7 vừa qua vào trại thăm chồng. Nhân dịp này bà được chính ông thông báo cho biết việc người từng bị giam chung là ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, tuyệt thực đến hôm đó là 25 ngày rồi.

Bà Nguyễn thị Nga cho biết lại thông tin mà bà nhận được từ chồng về ông Nguyễn Văn Hải:
Trước đây tôi có nhiều chuyện cho qua, không muốn có chuyện gì để giữa trại giam và chồng tôi trở nên to tát; thế nhưng càng ngày họ càng đối xử với những người trong đó càng thậm tệ. Khi ông Nghĩa ra chỉ hỏi han qua về sức khỏe; tôi có nói hôm qua vợ anh Điếu Cày có vào gửi đồ cho anh ấy, thì anh ấy có nhận được chưa. Họ nói vi phạm nội qui, họ định dừng nhưng không hiểu sao vẫn cho tôi nói; nhưng tuyên bố chỉ được nói 15 phút. Nói chuyện qua cửa kính rất lờ mờ. 

Sau đó tôi hỏi chồng tôi ăn với ai, còn ở với anh Điếu Cày không. Tôi sợ trong quá trình có sự di chuyển, có thể hôm nay anh Nghĩa ăn với anh Kim, bữa sau ăn với anh Nhàn. Tôi sợ họ chuyển ở với ‘đầu gấu’ tôi không yên tâm; vì thế tôi rất quan tâm đến chuyện ăn ở trong đó. Anh nói với tôi anh ăn một mình. Khi đến gần cuối anh thét lên nói ‘em biết không anh Hải tuyệt thực hôm nay là ngày 25 rồi’. Thế là lập tức họ bịt mồm chồng tôi như bịt mồm Cha Lý, và lôi anh ấy vào trong ngay. Trông thấy cảnh ấy rất uất ức.

Trước khi bà Nguyễn thị Nga và bà Ngô thị Lộc vợ ông Nguyễn Kim Nhàn đi thăm hai ông này tại trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An, bà Dương thị Tân liên lạc với bà Nga và nhờ nhắn lại là gia đình có đến thăm và gửi quà nhưng không được gặp.

Nguyễn Trí Dũng, con trai của ông Nguyễn Văn Hải, nói lại điều này:
Gia đình chỉ nghe thông báo, chỉ được gửi đồ và không có cách nào vào được nên gia đình quyết định đi về. Nhưng tâm trạng rất lo; lúc đó em và mẹ có gọi cho cô Nga, vợ ông Nguyễn Xuân Nghĩa ở cùng phòng với bố, nhờ là lúc nào đi thăm vui lòng báo giúp với ông Nghĩa gia đình có gửi đồ và hỏi thăm xem bố em đang bị gì. Cô Nga nói tin rất bất ngờ và vui là sẽ đi thăm ông Nghĩa ngay ngày hôm sau. 

Không may ngày hôm sau là ngày mà em và mẹ em phải bay về Sài Gòn theo vé đã đặt trước. Khi về tới Sài Gòn thì nghe cô Nga báo một tin mà cô vừa vào trong ra rất sốc là bố em đã tuyệt thực 25 ngày và chồng cô cũng rất nguy hiểm vì đã báo tin đó ra ngoài. Cô Nga có nói chi tiết là chưa bao giờ gặp chồng mà phải chuẩn bị lâu đến như vậy: hơn nửa tiếng đồng hồ và bốn công an đứng canh; và khi cô Nga đề cập đến việc vợ ông Điếu Cày có gởi quà thì cán bộ gạt phăng nói chỉ được nói chuyện gia đình không được nói chuyện ngoài.

Ông Nguyễn Văn Hải tuyệt thực phải có lý do

Theo con trai ông Nguyễn Văn Hải thì khi được tin ông này đang tuyệt thực trong trại giam đến ngày 17 tháng 7 là đã 25 ngày thì gia đình rất hoang mang lo lắng. Dù vừa mới bị từ chối thăm nuôi hôm ngày 16 tháng 7, gia đình đã chuẩn bị để ngày 19 tháng 7 ra lại Nghệ An đến trại để hỏi cho ra lẽ về thông tin được cho biết.

Anh Nguyễn Trí Dũng nói về điều đó:
Quay lại để làm cho ra nhẽ về chuyện an nguy của chính người tù trong đó và phải gặp bố để xem tại sao ông lại tuyệt thực, vì đã tuyệt thực chắc chắn phải có chuyện gì rất nghiêm trọng ông mới phải tuyệt thực như vậy. Lần đầu tiên bố em tuyệt thực là vào tháng hai đến đầu tháng ba năm 2012, ông chỉ tuyệt thực được 28 ngày. Sau 28 ngày đó, cơ thể của ông đã bị tổn hại rất nhiều. Lần này đã 25 ngày, và chuyện ông có vượt qua được 28 ngày như trước hay không em rất lo lắng về chuyện đó. 

Theo em nghĩ, người đã có những tổn hại trong cơ thể như vậy rồi không thể vượt qua giới hạn mà người đó đã vượt qua lúc ban đầu. Bởi vậy gia đình rất lo lắng cho tính mạng của ông Nguyễn Văn Hải. Thứ hai gia đình phải đến để làm cho ra nhẽ chuyện mà những người cán bộ buông những lời dối trá; nói những điều làm như đúng luật lệ đó. Tại sao làm như vậy với ông Nguyễn Văn Hải, nhằm mục đích gì?

Theo anh Nguyễn Trí Dũng ý định của gia đình khi quyết định phải gặp cho được ông Nguyễn Văn Hải tại trại giam số 6 ở Thanh Chương, Nghệ An có thể không như ý nguyện; nhưng đó là lựa chọn cuối cùng trong tình huống này:
Tất cả những chuyện này gia đình đều đã nghĩ đến hiệu quả và hậu quả rồi. Nhưng việc này rất cấp bách dù hiệu quả thấp và hậu quả cao, gia đình vẫn phải làm để được gặp ông Hải và được trả lời cho thích đáng và đúng theo pháp luật. Em không cần yêu cầu gì khác ngoài đúng theo pháp luật về những gì họ nói dối gia đình; và ông Hải đang trong tình trạng nguy kịch phải cho thăm gặp; tối thiểu phải báo cho gia đình biết.

Mong muốn của gia đình lúc này là cần được sự ủng hộ của mọi người về việc làm của ông Nguyễn Văn Hải, người vì lên tiếng cho thực trạng của đất nước giống như các nhà đấu tranh khác mà chịu cảnh tù tội bấy lâu nay. Nguyễn Trí Dũng trình bày:
Em rất mong mỏi mọi người có thể cùng cất lên tiếng nói của sự thật để nhìn rõ vào chuyện này. Bố em hy sinh như vậy không phải vì bản thân của ông, không phải vì danh tiếng gì cả. Ông muốn mọi người thấy được chuyện gì đang xảy ra; thậm chí lúc ông ở bên ngoài cũng như khi ở trong tù. Những chuyện gì đang xảy ra trong tù, những chuyện gì đang xảy ra với những tù nhân chính trị. Em không yêu cầu gì sâu xa cả, em chỉ yêu cầu ý thức của mọi người thôi : hiểu được rằng vì sao ông Hải dấn thân vào con đường này, không vì điều gì khác chỉ để cho mọi người thấy được sự thật.

Trại giam số 6 ở xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đây được xem là một nơi giam giữ xa xôi khiến cho gia đình những tù nhân một lần đi thăm phải gặp nhiều gian nan, trắc trở. Hiện tại đó đang giam giữ một số tù chính trị gồm những người như ông Nguyễn Văn Hải, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Nguyễn Kim Nhàn, cựu trung tá Trần Anh Kim.

Những người này đều là những nhà đấu tranh kiên cường cho dân chủ, nhân quyền, quyền lợi của người dân oan và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trước mối nguy bị Trung Quốc xâm lược.

Gia đình của những tù nhân lương tâm hiện đang bị giam tại trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An cho biết người thân của họ bị đánh đập trong tù … Vào ngày 18 tháng 7, bà Ngô thị Lộc sau khi đi thăm chồng là ông Nguyễn Kim Nhàn về cho hay ông này ra gặp bà trong tình trạng mắt còn thâm tín do bị đánh trước đó.


Thanh Hà - Trung Quốc đẩy mạnh khai thác dầu khí tại các vùng biển tranh chấp


Thanh Hà

Nguy cơ căng thẳng tại vùng biển Hoa Đông lại dấy lên với việc tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNOOC trình lên chính phủ dự án khai thác 7 mỏ khí đốt gần khu vực có tranh chấp chủ quyền giữa Tokyo và Bắc Kinh. Tổng dự án đầu tư lên tới 5 tỷ đô la. Nhật Bản phản đối mọi dự án đơn phương khai thác khí đốt của Trung Quốc.

Một dàn khoan của tập đoàn dầu hỏa Trung Quốc CNOOC (DR)

Trích dẫn một nguồn tin thông thạo, bản tin của Reuters đề ngày 17/07/2013 cho biết tập đoàn CNOOC cùng với một vài công ty dầu khí khác của Trung Quốc đang xin phép Bắc Kinh triển khai dự án khai thác khí đốt Hoàng Nham II (Huangyan) và dự án Bình Bắc (Pingbei).

Một khi được thông qua, hai dự án này cho phép tập đoàn dầu khí Trung Quốc khai thác thêm 7 mỏ dầu khí ở vùng biển Hoa Đông, xây dựng thêm 11 dàn khoan ở khu vực này. CNOOC hiện tại đã được phép khai thác 2 mỏ khí đốt trong khuôn khổ dự án Hoàng Nham I.

Vấn đề đặt ra là 2 trong số 7 mỏ khí đốt mới kể trên nằm tại nơi có tranh chấp chủ quyền giữa hai chính quyền Bắc Kinh với Tokyo. Trước mắt, hãng tin Reuters chưa liên lạc được với ban lãnh đạo tập đoàn dầu khí Trung Quốc, CNOOC để xác định tin trên. 

Trung Quốc đang cần năng lượng để phục vụ cho guồng máy sản xuất khổng lồ của mình. Khí đốt là nguồn năng lượng rẻ hơn dầu hỏa và ít gây ô nhiễm hơn so với than đá. CNOOC kỳ vọng 7 mỏ khí đốt của hai dự án kể trên sẽ bắt đầu cung cấp năng lượng cho Trung Quốc vào cuối năm 2015, chủ yếu là để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn của tỉnh Chiết Giang. Các dự án Hoàng Nham và Bình Bắc trên Biển Hoa Đông nằm trong chiến lược mở rộng các hoạt động khai thác khí đốt của Trung Quốc. 

Lợi ích kinh tế hay chính trị ? 

Tuy nhiên về thực chất, theo đánh giá của các chuyên gia Trung Quốc và quốc tế, các mỏ khí đốt trên biển Hoa Đông nhỏ hơn và rải rác hơn so với mỏ trong vùng vịnh Bột Hải, phía bắc Trung Quốc hay so với ở Biển Đông. Bắc Kinh, với bản đồ « đường lưỡi bò », đang khẳng định chủ quyền với 80 % diện tích vùng biển này. 

Trong tài liệu được công bố hồi năm ngoái, Cơ quan Năng lượng Hoa Kỳ thẩm định là dự trữ khí đốt tại vùng Biển Hoa Đông là vào khoảng từ 28 đến 57 triệu mét khối, con số này thấp hơn đến 250 lần so với thẩm định của giới địa chất Trung Quốc.

Do tiềm năng khai thác tương đối thấp, nhiều nhà quan sát cho rằng cả hai dự án Hoàng Nham II và Bình Bắc cùng theo đuổi một mục tiêu chính trị. Việc Bắc Kinh cho phép tập đoàn dầu khí nhà nước CNOOC mở rộng các dự án trong vùng Biển Hoa Đông sẽ khiến căng thẳng trong quan hệ với Tokyo leo thang. 

Theo phân tích của một chuyên gia chính trị học thuộc đại học Sophia –Tokyo, giáo sư Koichi Nakano, dự án khai thác khí đốt của CNOOC là dấu hiệu cho thấy nhu cầu về khí đốt của Trung Quốc ngày càng trở nên cấp bách. Dường như phía Bắc Kinh bắt đầu mất kiên nhẫn, bởi vì thực ra, từ năm 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt thỏa thuận cùng khai thác mỏ khí tự nhiên ở vùng Biển Hoa Đông.

Cụ thể là Nhật Bản và Trung Quốc hợp tác để cùng khai thác dầu khí trên tuyến có tên gọi Shirakaba theo tiếng Nhật và Xuân Hiểu, theo tiếng Hoa. Thế nhưng, thỏa thuận này từ đó đến nay vẫn dậm chân tại chỗ, do Nhật Bản luôn chủ trương là đôi bên phải giải quyết xong những tranh chấp chủ quyền trên biển trước khi bắt tay vào hợp tác. 

Câu hỏi đặt ra theo giáo sư Nakano là liệu Tokyo phản ứng ra sao trên vấn đề này, và liệu chính quyền Nhật Bản có thể cản bước Trung Quốc trong việc đơn phương khai thác khí đốt trong vùng hay không. Nhìn nhận căng thẳng trong khu vực leo thang, nhưng chuyên gia Nhật Bản này không tin rằng hai dự án Hoàng Nham II và Bình Bắc có thể là mầm mống dẫn tới xung đột vũ trang giữa Nhật Bản với Trung Quốc.

Bởi vì theo ông Nakano, trong trường hợp cần thiết, Mỹ sẽ đóng vai trò trọng tài. Hơn nữa theo giới quan sát, quyết định sau cùng về hồ sơ khai thác khí đốt ở Biển Hoa Đông sẽ tùy thuộc vào bộ Ngoại giao Trung Quốc. Quyết định đó sẽ phụ thuộc vào mức độ « nóng » hay « lạnh » giữa Bắc Kinh với Tokyo trên hồ sơ tranh chấp chủ quyền vốn đã kéo dài hàng thập kỷ nay. 

Tham vọng không chỉ khoanh vùng ở Hoa Đông 

Ngoài khu vực Biển Hoa Đông, Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng các hoạt động khai thác dầu khí ở những vùng biển có tranh chấp. Nhật báo tài chính Mỹ, The Wall Street Journal, số đề ngày 16/07/2013 cho biết, tại Biển Đông, lại cũng CNOOC đã ký kết với tập đoàn dầu khí Anh, BP để thăm dò lô dầu khí 54/11 nằm tại phía tây lòng chảo cửa sông Châu Giang, rộng khoảng 4.500 km2, ở khu vực có độ sâu 1.300 mét.

Trước đó nữa, vào đầu tháng 5/2013, dàn khoan Hải Dương 981 được điều tới giếng dầu Lệ Loan cũng ở cửa Châu Giang, gần sát đảo Hải Nam và gần với Philippines. Đây được coi là một khu vực « nhạy cảm » do bất cứ lúc nào Trung Quốc cũng có thể chuyển dàn khoan này xuống phía Nam, tức là vào vùng nằm trong bản đồ « đường lưỡi bò » mà Trung Quốc đã vẽ ra.


André Menras – Hồ Cương Quyết - Dân chủ là niềm tin chiến lược hợp lý duy nhất giúp thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn Hán hóa đã được lập trình!


André MenrasHồ Cương Quyết
Phạm Toàn dịch

«Chẳng có cách gì giúp cho con nhím được nhẵn nhụi cả» (Aristophane)

Ta nghĩ gì đây về hàng trăm ngư dân Thanh Hóa đã đi làm thuê cho chủ tàu đánh cá Trung Hoa để có đồng lương tốt hơn? Liệu họ có là những phần tử duy nhất đáng bị buộc tội? Ai là kẻ phải chịu trách nhiệm về nỗi ô nhục thực sự của tình trạng này? Đâu là những hứa hẹn phát triển kinh tế vùng ven biển được Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh tuyên bố rùm beng ở Lý Sơn hơn hai năm trước? Đâu là những công trình điện khí hóa cho Lý Sơn được cũng cái ông lãnh đạo cấp cao đó hứa hẹn? Có tin tức gì không về lời hứa hẹn xây dựng đội tàu đánh cá có động cơ mạnh có vỏ sắt đủ sức chống lại những cú thúc bằng gót sắt của bọn giả danh ngư dân Tàu và chống lại được những trận bão kinh hồn? Tất cả những thông tin về các chủ đề nêu trên đều là thông tin ma.

André Menras Hồ Cương Quyết  

Trải nghiệm sống hàng ngày thường xuyên xác nhận một chân lý có giá trị lịch sử bất biến: nước Việt Nam đang dấn sâu vào một tình trạng lệ thuộc bi thảm vào Trung Hoa. Rất nhiều người cho rằng đó là mối nguy hiểm nặng nề nhất hạng đang đè lên nước Việt Nam hôm nay. Đến độ có thể làm cho đất nước này ngạt thở. Họ đã phác họa thấy rất rõ và vô cùng chi tiết cảnh lệ thuộc này. Chẳng cần phải nói lại những điều đó ở đây. Tình trạng cúi đầu cam chịu này ngày càng gia tăng và sâu sắc thêm. Tình trạng lệ thuộc đó được chính thức hóa sau mỗi cuộc gặp cấp cao ở các thứ bậc của hai đảng Cộng sản, và sau mỗi lần họ đặt bút ký kết công khai hay bí mật. 

Thất vọng thật đấy…, nhưng liệu cứ hy vọng thì có ngây thơ chăng?

Một công dân Việt Nam đã biểu đạt lại một cách sáng sủa tình hình khi chất vấn Chủ tịch Trương Tấn Sang sau chuyến ông này mới đi Bắc Kinh về: “… Chúng ta hợp tác với người Tàu. Người Tàu đã cai trị chúng ta hàng trăm năm, hàng ngàn năm và luôn luôn tìm cách chèn ép chúng ta. Ngày hôm nay người Tàu có mặt khắp nơi, từ rừng núi, đồng bằng, cao nguyên, bờ biển… » (Nguyên văn trích dẫn bằng tiếng Việt của A.M. Hồ Cương Quyết – ND).

Lẽ ra người chất vấn nên nói thêm: «Người Tàu không chỉ có mặt mà trong nhiều trường hợp họ còn xua đuổi chúng ta, còn ngược đãi chúng ta và ngăn cấm chúng ta kiếm miếng ăn ngay trên mảnh đất quê hương mình». Đó chính là hoàn cảnh đặc biệt của hàng ngàn bà con ngư dân miền Trung Việt Nam.
  
(Hình minh họa do André Menras - Hồ Cương Quyết chọn)

Nhưng ông Chủ tịch là con người của «Chân lý». Người công dân ở trong Trương Tấn Sang biết khá rõ cái «thực tế khách quan» này (tiếng Việt trong nguyên văn – ND). Người cộng sản ở trong Trương Tấn Sang có quá đủ thời gian để nhìn thấy cái thực tế khách quan đó nảy nở phát triển suốt dọc hành trình ông ngoi lên trong bộ máy của Đảng. Và điều đó vẫn chẳng ngăn cản ông Trương Tấn Sang vị Chủ tịch đại diện cho nhân dân Việt Nam cất công đi cúi đầu trước đám cận vệ Tàu mặt vênh lên, vênh cao lên như những dùi cui bọn lính rằn ri Tàu lại đã một lần nữa giơ cao và đập xuống đầu những ngư dân Lý Sơn và Bình Châu của Việt Nam đang đánh cá ở Hoàng Sa. Ngài Chủ tịch hiểu rõ những vết thương này vì bà con ngư dân đã nói với Ngài về những vết thương ấy, nói tại chỗ, nói ở ngay Lý Sơn, nói trực tiếp, nói đúng lúc Ngài sắp du hành sang Tàu. Khi ấy, Ngài Chủ tịch đã công khai nói cho họ yên lòng(1). Ngài biết rõ rằng trong lòng những nạn nhân những vết thương ấy còn sâu xa đau đớn hơn nhiều so với những vết thương nằm trên thân thể bên ngoài, những vết thương không chỉ của ngư dân Việt Nam mà là những vết thương của toàn thể nhân dân Việt Nam. Ngài Chủ tịch biết rằng những vết thương ấy rồi còn kéo dài và toang hoác thêm trong khuôn khổ những mối quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” (tiếng Việt trong nguyên văn – ND) giữa hai Đảng và được đảng của bên Trung Hoa rất mong đợi. Ấy vậy nhưng rồi ông Chủ tịch vẫn cúi đầu chấp nhận… Lúc ông bay đi Bắc Kinh, dù muốn dù không thì ông cũng thủ sẵn trong bọc cái mà đồng chí Chủ tịch Tàu của ông hẳn sẽ đánh giá cao hơn là một dấu hiệu tỏ lòng tôn kính, mà hơn cả thế, đó thực sự là một món quà tỏ lòng quy thuận: có những công dân Việt Nam hãnh diện và xứng danh Công Dân Việt đã bị trói chân và trói tay, đã lại mới bị mất tự do vì đã «nói không hay về Trung Quốc» (tiếng Việt trong nguyên văn - ND). Có những công dân rất trẻ trong số đó đã bị người ta cướp mất những năm tháng đẹp đẽ nhất, và có những công dân khác bớt trẻ hơn trong số đó đã bị người ta cướp mất sức khỏe đang tàn tạ trong cuộc tuyệt thực kéo dài hoặc trong cảnh bệnh tật mà không được chăm sóc tử tế…

Và rồi sau chuyến du hành hữu nghị, ông Chủ tịch đã đem về những gì cho nhân dân Việt Nam? Những cam kết để cho phép những cuộc xâm nhập mới của nền văn hóa Đại Hán, cho một sự «hợp tác» ở những chốn biên thùy, chắc chắn không phải là hợp tác ở Biển Đông như ta đã thấy đối với những chiến sĩ Biên Phòng tội nghiệp ở Thanh Hóa, Huế, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Ngãi… đang không ngừng xua đẩy cả bầy đàn tàu đánh cá Trung Quốc cứ mỗi ngày lại tiến sát hơn vào bờ biển Việt Nam. Ông Chủ tịch cũng mang về trong bọc của mình một chiếc «điện thoại nóng» «made in China» (tiếng Anh trong nguyên văn – ND) để nói chuyện với bọn cá mập và gọi chúng tới cấp cứu. Ông Chủ tịch cũng mang về một «đặc quyền đẹp đẽ» nữa để được ngập sâu hơn nữa và dài lâu hơn nữa vào cảnh nợ nần. Ông chủ tịch cũng mang về một dự án đẹp như trong mơ đôi bên cùng thăm dò trong Vịnh Bắc Bộ, tay trong tay cùng với những chuyên gia trong nghệ thuật cắt cáp … Đó là những món quà đẹp ơi là đẹp ông Chủ tịch đã mang về. Không thấy một dòng nào, không hề có một từ nào về những điều cơ bản cốt tử: những đòi hỏi về chủ quyền của nhân dân Việt Nam trên biển và trên các đảo. Tất cả đều biến hết sau những rùm beng «dũng cảm và sáng suốt» tại Shangri-La! Chúng ta hãy giữ lại đem dùng nội bộ cái bài diễn văn làm cho ta tức điên người đó. Hãy để bài diễn văn đó cho người phát ngôn Bộ Ngoại giao chẳng hạn. Tại cuộc họp báo ngày 11 tháng 7 ở Hà Nội, viên Đại sứ Trung Quốc chỉ còn có thể vỗ tay hoan hô: «chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc» (tiếng Việt trong nguyên văn – ND) Một «động lực» (tiếng Việt trong nguyên văn – ND) chết người cho Việt Nam. Một sự thất vọng cay đắng. Một nỗi buồn to lớn… Thực sự chân thành đấy. Thưa Ngài Chủ tịch nước, nếu ngay bây giờ Ngài không nói «Sự thật» ra, cái sự thật Ngài mong muốn nói ra đến vô cùng, vâng, nếu ông không nói ra thì ai sẽ nói?

Tìm đâu ra ánh sáng?

Kể từ bây giờ, biết tin vào ai nữa? Chắc chắn là không còn tin vào những lời lẽ tốt đẹp của các nhà lãnh đạo nữa! Đó là những lời lẽ hình như được nói ra ở những cuộc đấu giá tranh nhau nói hay cho chính quyền, phần nhiều là nói có tính cách trình diễn chính trị hơn là phát biểu một lập trường chính trị nghiêm túc có giá trị cam kết đáng tin cậy trước toàn thể nhân dân. Những cam kết không được thực hiện đó, những lời nói gió bay đó, những quay ngoắt 180 độ đó, chúng đem lại một hình ảnh gì về các nhà lãnh đạo Việt Nam trước con mắt nhà quan sát nước ngoài? Như Giáo sư Carl Thayer đã nói về một nhà lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam: «… lời hứa duy nhất ông ta thực hiện, đó là việc đàn áp các chủ trang blog». Ấy thế nhưng những tuyên bố của nhà lãnh đạo cấp cao ấy đã được rõ ràng và trịnh trọng xác nhận … Đó là những lời tuyên bố có tầm cỡ «chiến lược»!

Và thế là, với người công dân Việt Nam bình thường, biết tin cậy vào ai bây giờ, biết trông đợi ánh sáng từ đâu bây giờ? Từ nước Tàu ư? Từ Đảng Cộng sản Việt Nam ư? Từ Hoa Kỳ ư?

Đối với Bắc Kinh, đặt ra câu hỏi đã là hàm ý câu trả lời rồi. Rành rành là những con diều hâu đang nắm quyền hành ở đó sẽ không bao giờ ký vào một bản quy tắc hành xử COC hoặc một văn kiện bất kỳ nào khác khả dĩ ép buộc họ phải tôn trọng luật pháp quốc tế và từ bỏ cái «đường lưỡi bò» xâm lấn của họ. Nghĩ như thế là điên rồ hoặc là lòe bịp. Cuộc xâm lăng Hán tộc đã bắt đầu và sẽ tiếp tục trừ phi có sự kháng cự mạnh mẽ lại. Rõ ràng là nhà cầm quyền Trung Hoa đã đặt niềm tin chiến lược của họ vào Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không đặt vào nhân dân Việt Nam. Họ e sợ như sợ nạn dịch nếu xuất hiện nền dân chủ ở xứ «Yuè Nán» (phiên âm tiếng Tàu trong nguyên văn – ND) vì họ biết rằng nền dân chủ đó mang trong nó sự kháng cự, thậm chí là sự độc lập thực sự – mà Bắc Kinh coi như một tội ác cao nhất.

Còn với Đảng Cộng sản Việt Nam thì sao? Họ đối xử với khát vọng dân chủ đó như thế nào? 

Việc gia tăng giam cầm những người có vấn đề về chính trị, việc giở trò thô bạo trong vụ lấy ý kiến toàn dân nhằm dân chủ hóa Hiến pháp và tiến tới một xã hội dân sự, sự im lặng đáng khinh khi không trả lời đòi hỏi trưng cầu dân ý minh bạch về vấn đề sở hữu đất đai, tất cả những điều đó cho thấy rõ Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không chịu giải quyết thách thức dân chủ hóa đất nước. Nhất hạng là không chịu giải quyết xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp. Ngược lại là khác. Và chuyện biển Đông, vấn đề lá phổi chiến lược cốt tử đối với Việt Nạm: nói chi những chuyện đó nữa! Ngư dân liệu có được thực sự trợ giúp hay không? Hẳn nhiên là có sự trợ giúp để tuyên truyền rộng khắp, nhưng đó là sự trợ giúp lố bịch nếu đem so với những nhu cầu có tầm quan trọng chiến lược của chuyện này. Chuyện trợ giúp chủ yếu được đem đặt lên đôi vai cấp tỉnh và sự trợ giúp của vài doanh nhân. Liệu những người ngư dân có được che chở như được tuyên bố nghiêm chỉnh bởi ông Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh?(2). Thực vậy không? Ngay cả lá quốc kỳ Việt đang tung bay trên những thuyền đánh cá cũng bị các «đối tác chiến lược» mặc đồ nhà binh rằn ri xé rách và vứt xuống biển! Tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giời, nếu những hành động xâm lấn cố ý như vậy mà lặp đi lặp lại với mức độ cực kỳ trầm trọng, và khi có những chứng cớ không chối cãi được như những chứng cứ thu được trong những ngày vừa qua, thì như thế là đủ để đổ xuống đường hàng trăm nghìn người biểu tình phẫn nộ. Ở Việt Nam thì ngược lại, những ai có gan đi biểu tình liền bị bỏ vào nhà tù. «Đi thôi, đi đi thôi, có chuyện vì mà xem! Ổn định chính trị!» (tiếng Việt trong nguyên văn – ND).

Mức sống của đại đa số người lao động trên biển liệu có khuyến khích họ «bám lấy ngư trường truyền thống»? Ta nghĩ gì đây về hàng trăm ngư dân Thanh Hóa đã đi làm thuê cho chủ tàu đánh cá Trung Hoa để có đồng lương tốt hơn?(3) Liệu họ có là những phần tử duy nhất đáng bị buộc tội? Ai là kẻ phải chịu trách nhiệm về nỗi ô nhục thực sự của tình trạng này? Đâu là những hứa hẹn phát triển kinh tế vùng ven biển được Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh tuyên bố rùm beng ở Lý Sơn hơn hai năm trước? Đâu là những công trình điện khí hóa cho Lý Sơn được cũng cái ông lãnh đạo cấp cao đó hứa hẹn? Có tin tức gì không về lời hứa hẹn xây dựng đội tàu đánh cá có động cơ mạnh có vỏ sắt đủ sức chống lại những cú thúc bằng gót sắt của bọn giả danh ngư dân Tàu và chống lại được những trận bão kinh hồn? Tất cả những thông tin về các chủ đề nêu trên đều là thông tin ma. Chắc chắn đó là những thông tin không đủ chất «chính trị» theo thị hiểu của ông Nguyễn Thế Kỷ và các đồng chí của ông này tại Ban Tuyên giáo TW để có thể loan báo cho đông đảo nhân dân.

Cần nhận rõ điều này: không phải cái Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay sẽ đưa đất nước ra khỏi cái hố lệ thuộc vào nước Tàu! 

Vậy thì, hay là bám vào ông Obama chăng? Sẽ là không công bằng nếu cứ nằm lỳ ở nơi đau lòng của Lịch sử và chẳng chịu giở cho nó sang trang. Ta cần thừa nhận rằng Hoa Kỳ luôn luôn nói vô cùng hay về quyền Con Người. Hoa Kỳ tiếp tục công việc đó một cách kiên quyết và có kiềm chế. Tuy nhiên, tính kiên quyết đó đã được đổi thay tùy theo hoàn cảnh và tùy theo tầm quan trọng của những hiệp nghị được ký kết hoặc dự phòng ký kết với những chính quyền đang thiếu những quyền đó. Ta hãy nói thẳng đi, xa hơn ngôn từ, trong những hành động trước sau như một, cái chú Sam tử tế kia luôn luôn biết nương nhẹ tay với những kẻ vi phạm Nhân quyền – nương tay với con dê vào vườn ăn trộm bắp cải. Đó là chuyện bình thường: chú Sam tôn sùng sữa dê. Đó là quy tắc bất khả biến của «quyền lợi quốc gia»: đối với các doanh nghiệp và các nhà băng Hoa Kỳ, thì đô-la đã rồi mới đến quyền con người … Hoặc là không có gì hết. «Chúng tôi đang kinh doanh: yêu cầu không quấy rầy!». Ta chớ nên mơ mộng: Chúa cũng chẳng dùng business để cứu chúng ta một cách tự nhiên và vô tư đâu.

Niềm tin chiến lược duy nhất hợp lý

Không, nhân dân Việt Nam không hề thay đổi gì ở gốc rễ để đến nỗi trông đợi vào những cuộc du hành «tái cấu tạo thăng bằng» của anh này anh nọ tới thăm chốn nọ chốn kia. Mấy anh ấy sẽ chẳng giải quyết được vấn đề cốt lõi, sống còn của đất nước: vì đất nước đang cần có một sự dân chủ minh bạch và chính danh. Chỉ duy nhất dân chủ mới có thể giải phóng những trái núi năng lượng và trí khôn đang bị vùi lấp ở trong vùng sâu xa nhất của một dân tộc có một Lịch sử phi thường đang được thừa kế bởi thế hệ trẻ Việt Nam bên trong bên ngoài đất nước. Chỉ duy nhất dân chủ mới đủ sức làm lay động các phòng tuyến và đem lại cái mới. Duy nhất cái ánh sáng dân chủ đó là có thể bảo vệ được di sản quốc gia và giải thoát một cách tích cực những kho báu tự nhiên chứa đựng trong lòng đất và ngoài biển nhằm hiện đại hóa lành mạnh và bền vững đất nước với những chọn lựa cho đất nước.

Niềm tin chiến lược hợp lý cho nước Việt Nam hôm nay là niềm tin của một nhân dân đã trưởng thành và kiêu hãnh, trong từng cá nhân và trong toàn thể mọi người, sẵn sàng chiến đấu kháng cự, một cuộc chiến đấu mang tính công dân, hòa bình và giải phóng. Những thành tựu sẽ tới khi dân tộc này cùng tiến bước, và cùng đi với họ là vô số người bạn cũ và mới.

Chú thích:
(1) «Chủ tịch nước khẳng định, Đảng, Nhà nước luôn theo sát những hoạt động của bà con, làm tất cả để bà con yên tâm hoạt động trên biển. (VOV)» (Tiếng Việt trích dẫn trong nguyên văn – ND).
(2) Vietnamnet 29-5-2013 «Nguyên tắc của ta là bảo vệ ngư dân »… « Còn trên ngư trường, nếu có những vi phạm vào vùng biển của ta thì các lực lượng chức năng sẽ có trách nhiệm bảo vệ» (Tiếng Việt trích dẫn trong nguyên văn kể cả chữ in to và in đậm – ND).
(3) Người lao động 21 05 2013

A.M. H.C.Q.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Những Người Tù Ngoại Trú

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Cái sự coi mỗi công dân là một người tù dự khuyết mở đầu cho một thời đại khốn nạn. Rồi đây chúng ta sẽ phải trả giá cho sự thất nhân tâm này. - Vũ Thư Hiên – Đêm Giữa Ban Ngày
Từ Hà Nội, Zoe Daniel, ABC News, tường thuật:
“Vụ xét xử một luật sư nhân quyền đang làm dấy lên những lời kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích những người chỉ trích chính quyền khỏi nhà tù. Chỉ trong năm nay, hơn 50 người đã bị kết án và tống giam trong các phiên toà chính trị.”


Con số “hơn 50 người đã bị kết án và tống giam trong các phiên toà chính trị” trong năm nay, ngó bộ, hơi nhiều à nha. Đã vậy, còn có “tin đồn vỉa hè là số blogger có thể bị bắt giữ lên đến 20” mạng – theo như bản tin của Thụy My, qua RFI :
“Hiện nay các blogger tại Việt Nam thường xuyên liên lạc với nhau để biết ‘ai còn, ai mất’, cũng như chuẩn bị sẵn tinh thần để ‘lên đường’ khi có tin xấu nhất.”

Dù giọng nói của thông tín viên Thụy My nghe rất nhẹ nhàng và khả ái, nội dung bản tin mà bà vừa chuyển tải (vào hôm 3 tháng 7 năm 2103 vừa qua) vẫn khiến người ta lên tưởng đến cái không khí đe doạ nặng nề đã bao chụp lên đời sống của những người bất đồng chính kiến – vào những năm cuối thập niên 1960 – ở miền Bắc Việt Nam: 
 “Bình bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’….  Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. … Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa.

Trời đất đảo lộn. Cuộc sống dù sao cũng là cuộc sống. Vẫn có trời. Có gió. Có mây. Có cánh đồng, có đường phố. Có lúc giận vợ. Có lúc nô đùa với các con. Và viết. Nay sắp mất tất cả... Và có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.”

(Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Cái “guồng máy khổng lồ” của nhà nước Việt Nam, vào thời điểm này, đã mang đến nỗi sợ hãi (cũng như phẫn uất) cho rất nhiều người nằm trong vòng quay của nó:
 “Hôm ấy là ngày 24-12 hôm trước của Nô-en 1967. 

Từ sớm đã có báo động máy bay. Trẻ con nhà tôi đã đi sơ tán cả, ở nhà chỉ còn có hai vợ chồng. Hai chúng tôi nhảy xuống cái hố cá nhân ở mảnh sân con trước cửa nhà. Đứng nép hai người dưới cái hố cá nhân chật chội, nghe tiếng bom nổ, tôi nói: 

- Ước gì một quả bom rơi xuống trúng hố cho chúng mình chết luôn. Có đôi. 

Nghe tôi nói, vợ tôi mỉm cười buồn rầu. Vợ tôi hiểu tâm trạng của tôi là tâm trạng của một con thú bị săn đuổi không có đường chạy tháo thân. 

Thế là sau đợt bắt bớ thứ nhất hồi tháng 7, đến tháng 10 đã diễn ra đợt bắt bớ thứ hai. Số người bị bắt bao nhiêu tôi không rõ, chỉ biết là nhiều hơn lần trước và trong đó có Kiến Giang. 

Thông báo số 1, Thông báo số 2... Nghe ghê cả người! 

.....

Tối hôm đó vợ tôi chuẩn bị cho tôi một ba lô đầy chăn màn, quần áo ấm. Sáng sớm lại chạy đi mua một đôi bánh mì cặp nhân đầy lên, đút cả vào ba lô. Vừa xong thì báo động máy bay. Đạn cao xạ ầm ầm... 

Một lát lâu sau có tiếng commăngca đỗ xịch ngoài sân. Tôi chưa kịp định thần đã thấy xuất hiện hai viên thiếu úy trẻ tuổi nai nịt chỉnh tề, một người dừng lại trấn giữ cửa, người kia bước xộc vào. Tôi giật thót mình. 

Viên thiếu úy thứ hai nói như ra lệnh: 

- Anh đứng nghiêm nghe lệnh! 

Anh ta rút trong sắc cốt ra một tờ giấy nhỏ bằng trang vở học trò, tuyên đọc: 

Lệnh bắt giam. 

Ra lệnh bắt: Tên phản cách mạng 

Trần Thư. 

Vì tội: có hành động nguy hại đến nền an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Nơi giam: Hỏa Lò. 

Ký tên 

Đại Tá Kinh Chi. Cục Trưởng Cục Bảo Vệ 

Lệnh vắn tắt một cách đanh thép, không có những câu thừa như căn cứ điều khoản bao nhiêu của bộ luật nào đó v.v... Bắt, thế thôi, không oong đơ (un deux) gì cả... 

Âu thế cũng là xong. Chứ sống như những ngày tháng vừa qua thì tôi không chịu nổi nữa rồi. 

Tôi có cảm giác được giải thoát. 

Cái cảm giác được giải thoát ấy nó mạnh đến nỗi khi hai cánh cổng nặng chịch của nhà tù Hỏa Lò mở ra cho chiếc xe chở tôi từ từ bò vào trong sân, tôi không có gì xao xuyến, lo âu.” 

[Trần Thư. Tử Tù Xử Lí Nội Bộ (Hồi Ký Của Anh Cả Cò). Văn Nghệ, Westminster, CA:1995] 

Nhà báo Trần Thư bị bắt vào cuối năm 1967. Từ đó đến nay đã gần nửa thế kỷ trôi qua. Nhà giam Hoả Lò vẫn vẫn trơ gan cùng tế nguyệt, và vẫn lầm lì đe doạ như xưa. Nhà nước Việt Nam cũng thế. 

Chỉ có thái độ của lớp người cầm bút thuộc thế hệ tiếp thì hoàn toàn đổi khác. Họ coi “cái guồng máy khổng lồ” của nhà nước toàn trị hiện nay không có kí lô nào hết trơn hết trọi, còn nhẹ hơn bông nữa. Blogger Mẹ Nấm là một trong số những người có thái độ (bông lơn) như vậy đó:
 “Vừa nhận được một email của bà bạn, gửi cho mình ngắn gọn thế này: ‘Tui báo cho bà biết, bà nằm trong danh sách mà người ta gọi là Top 20. Hai mươi người này được phía bạn giao cho chính phủ để ‘nhập kho’. Liệu mà viết.

Hi hi... Xem cái thư này mình không thể nhịn cười...

Hai mươi con người với hàng ngàn bài viết có thể làm chế độ lo sợ và lung lay. Họ không phải là những con số nằm im để cho nhà nước ném vào thống kê tội phạm. Hai mươi con người ấy dù không làm được gì lớn lao nhưng chắc chắn là họ không hề thiếu niềm tự hào vì đã dám nghĩ và viết những điều mà 17 ngàn nhà báo Việt Nam không dám.

17 ngàn là con số. Hai mươi người là những con người, những con người cầm viết.

Con người, hai mươi cái tên trong danh sách Top 20 kia thật đáng tự hào. Mình sẽ thật sự kiêu hãnh nếu được nằm trong cái danh sách ấy.”

Ý trời, đất, qủi, thần, thiên địa ơi! Còn “tự hào” với “kiêu hãnh” nữa chớ. Không biết con cái nhà ai mà ăn nói (nghe) bán mạng vậy cà? Con nhỏ “khiêu khích” thấy rõ. Và cái thái độ “gây gỗ” tương tự cũng có thể tìm thấy ở một “con nhỏ” khác, blogger Còn Huỳnh Thục Vy:
"Bấy nay yên lặng vì bận thôi chứ không phải sợ đâu."

Thiệt là quá đáng, và ... quá đã! 

Còn đối với những blogger thuộc lớp trước nữa thì sự kiện đã được họ đón nhận một cách... nhẹ nhàng hơn và cũng giễu cợt hơn – theo như cách bầy tỏ của ông Huỳnh Ngọc Chênh, một trong những nhân vật (“đang nằm”) trong cuộc và ... trong rọ:

“He he, ngày xưa có rừng để trốn, bây giờ thì có chỗ nào chui? Thôi thì...’hãy cứ vui như mọi ngày, dù ngày mai không ai thăm nuôi’ như Đỗ Trung Quân vẫn nghêu ngao hát.

Hôm qua nghe Nguyễn Trọng Tạo nói về danh sách lên đến 20 người thì bao nhiêu chút sợ hãi còn vương vất lại trong chúng tôi đều bay đi sạch. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, từ Hà Nội bay vào với tâm trạng phơi phới rủ chúng tôi đi nhậu. Nghe nói anh cũng có tên trong danh sách nầy.

Rượu vào rồi thì chuyện tới trời cũng xem như chuyện đùa bỡn. Những bạn bè ngồi trong bàn mà không có tên trong danh sách tự dưng thấy thiệt thòi. Nhưng các bạn ấy cũng không ganh tị và tự nguyện phân công nhau lo thăm nuôi những người được xem là có tên. 

Nguyện vọng thăm nuôi của nhà văn Nguyễn Quang Lập là một cái laptop, nếu có ba gờ nữa thì càng tốt để anh tiếp tục viết blog và liên lạc với thế giới bên ngoài. Nhà thơ kiêm họa sĩ Đỗ Trung Quân thì cần giá vẽ với màu xịn để vẽ và một chút ánh trăng qua cửa sổ... để làm thơ. Còn nguyện vọng của tôi: Cứ gởi đều đặn viagra vào. Các bạn hỏi: Để làm gì trong đó? Tôi nói: Buồn quá để đục vô tường chơi cho vui. he he.”

Tính tôi vốn (vô cùng) đa cảm nên nhìn mấy vị xồn xồn (từ phải qua trái: Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên, Huỳnh Ngọc Chênh) có tên trong danh sách top 20 mà không khỏi sinh lòng ái ngại. Không phải tôi ái ngại vì cái bàn rượu  quá hoành tráng so với tình trạng sức khoẻ (chắc) đã hom hem của họ mà là ái ngại khi nghĩ đến thân phận của những người cầm viết ở Việt Nam, trước đó.

Trước đó, chỉ mới nằm “trong tầm ngắm” mà nhà văn Nguyên Bình đã cảm thấy “bàng hoàng,” cùng với cái “cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được.” Và giữa hoàn cảnh cùng quẫn, tuyệt vọng này thì nhà báo Trần Thư ước chỉ ước mong sao có “một quả bom rơi” để được chết chung với người thân, cho nó xong đời.

Còn bây giờ thì những kẻ “ở trong tầm ngắm” vẫn cứ ngồi nhậu lai rai, với “tâm trạng phơi phới” cứ y như là họ đang còn ở tuổi đôi mươi và vừa có tên trong sanh sách thi đậu tú tài vậy.

Thiệt là hết thuốc!

Sẵn trớn đang ái ngại, tôi cũng cảm thấy ái ngại (luôn) cho tướng Trần Đại Quang, vị Bộ Trưởng Công An đương nhiệm, khi chợt nhớ đến người tiềm nhiệm của ông: Trần Quốc Hoàn. Nhân vật này – rõ ràng – đã sinh ra đời dưới một ngôi sao cực tốt, và ở vào một thời đại cực thịnh của chế độ công an trị. Muốn bắt ai thì bắt, muốn hiếp ai thì hiếp, và muốn giết ai rồi vứt xác ra đường cũng được mà cả nước vẫn cứ im thin thít.

Cái thời vàng son đó, tiếc thay, không còn nữa. Giờ đây, ông Quang mới đổi có mấy cái bảng số xe (từ trắng ra xanh) và đổi tên tuổi mình (chút xíu) thôi mà trên diễn đàn Dân Luận đã có lắm điều tiếng eo xèo rồi: ”cơ hội, thoái hoá, đổi trắng thay đen, thao túng luật pháp...”

Dân tình, rõ ràng, mỗi lúc một thêm khó dậy, và ... mất dậy. Đưa ra nguyên một cái danh sách dài thòng (Top 20) mà không thấy dư luận “rúng động” gì ráo trọi, chỉ nghe có những tiếng cười (“he he”) hồi đáp – từ bàn nhậu – thôi hà.

Những tiếng cười giễu cợt tương tự đã vang lên từ mọi ngõ ngách ở đất nước Việt Nam, và mọi người đều nghe thấy – trừ ông Trần Đại Quang, và những người thuộc giới lãnh đạo của đất nước này. Họ vần cứ hành xử như thể là “chưa” có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra. Họ không có khả năng thích nghi với tình thế và thời thế; bởi thế, họ sẽ không thể tiếp tục tồn tại nữa.


Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Trần Vinh Dự - Khoáng sản quý và chiếc thòng lọng của người khổng lồ


Trần Vinh Dự (VOA) - 


Công nhân làm việc tại một mỏ kim loại đất hiếm tại tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.

Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong vài thập kỷ trở lại đây, khoáng sản quý hiếm, đặc biệt là các loại có ứng dụng rộng rãi như wolfram, bismuth và đất hiếm đang trở thành một con át chủ bài đối với sự phát triển kinh tế và quốc phòng của mọi quốc gia. Từ chiếc điện thoại, radio, máy tính, xe hơi cho đến những thiết bị tối tân như ra đa, tên lửa, tàu vũ trụ, máy bay phản lực, lò phản ứng hạt nhân, rất khó có thể tìm được thiết bị nào không dùng các kim loại quý trên. Chất bán dẫn trong các thiết bị điện tử làm từ đất hiếm, buồng đốt động cơ phản lực chịu nhiệt cao bằng hợp kim wolfram cho đến vật liệu chuyên chở nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân làm từ bismuth. Sở dĩ nền công nghiệp hiện đại có thể sản xuất hàng loạt với tốc độ cao và giá thành giảm đáng kể so với chỉ vài thập kỷ trước đây phần lớn là nhờ các mũi khoan, máy cắt kim loại và chi tiết máy làm bằng hợp kim wolfram với độ cứng và độ bền cao, cùng tính chịu nhiệt vượt trội[i].

Trung Đông có dầu mỏ, Trung Quốc có đất hiếm

Mặc dù nhu cầu thế giới hiện nay rất lớn nhưng nguồn cung các khoáng sản này lại rất hạn chế và tập trung chủ yếu tại Trung Quốc. Theo thống kê, Mỹ, châu Âu và Nhật Bản tiêu thụ hết khoảng 55% lượng wolfram, tuy nhiên nhóm này lại sản xuất ra chỉ khoảng 5% tổng lượng cung toàn thế giới, phần lớn nguồn cung đều đến từ Trung Quốc (khoảng 85% nguồn cung và 62% trữ lượng thế giới)[ii]. Với hai loại còn lại, Trung Quốc cũng chiếm vị thế chủ chốt trong cung cấp với khoảng 80% sản lượng bismuth và 97% sản lượng đất hiếm[iii].

“Trung Đông có dầu mỏ, Trung Quốc có đất hiếm”, tuyên bố nổi tiếng này của Đặng Tiểu Bình năm 1992 cho thấy Trung Quốc coi các loại khoáng sản thiết yếu là một trong những vũ khí hàng đầu trong cuộc chiến kinh tế - chính trị hiện đại. Và thực tế là Trung Quốc đã và đang tận dụng tối đa loại vũ khí ấy để chiếm thế độc quyền trên thị trường nhằm tìm kiếm các lợi ích riêng cho quốc gia. Các nước cờ của Trung Quốc rất rõ ràng: triệt tiêu các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, thâu tóm các mỏ còn lại trên thế giới và sử dụng nguồn cung độc quyền như là một công cụ điều khiển giá cả cũng như ép buộc các công ty lớn phải đầu tư tại Trung Quốc để đổi lấy nguồn nguyên liệu quý giá này.

Ngay từ thập niên 90 trở về trước, Trung Quốc đã sớm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khỏi cuộc chơi khi quặng wolfram và đất hiếm giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập thị trường thế giới đã khiến cho hàng loạt mỏ tại phương Tây, với chi phí sản xuất cao hơn, buộc phải đóng cửa[iv]. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang vươn tới các mỏ khác bên ngoài lãnh thổ. Thí dụ như trong năm 2010, các nhà đầu tư Trung Quốc đã tiếp cận với Malaga, một công ty khai thác wolfram tại Nam Mỹ với mục đích thôn tính nhưng không thành công. Nước này cũng mua lại hàng loạt các mỏ quặng wolfram chất lượng thấp từ Châu Phi[v]. Tại Tây Úc, chính phủ Trung Quốc thông qua khoản đầu tư 366 triệu đô, đã sở hữu phần lớn một mỏ đất hiếm có trữ lượng khá lớn của thế giới từ Lynas Corp[vi] sau khi chính phủ Úc phủ quyết không cho Trung Quốc mua kiểm soát tập đoàn này.

Nước cờ tiếp theo trong chiến lược là siết chặt nguồn cung và đẩy mức giá lên cao đã bắt đầu được thực thi trong những năm gần đây. Cụ thể, vào năm 2003, Trung Quốc đã tiến hành hạn chế xuất khẩu quặng wolfram. Trong 2007, áp thuế xuất khẩu 15% lên các sản phẩm từ wolfram và giới hạn mức hạn ngạch xuống 14,900 tấn trong năm[vii]. Kết quả là giá wolfram đã tăng gần gấp ba từ 2004 đến nay[viii]. Đối với bismuth, kịch bản tương tự cũng diễn ra khi chính phủ Trung Quốc tuyên bố ngưng xuất khẩu kim loại này và áp dụng chính sách cấp giấy phép đối với bismuth vào năm 2006[ix] khiến giá bismuth tăng gấp 3 lần trong một năm sau đó[x].

Lượng xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc đã giảm từ 60,000 tấn năm 2002 xuống 45,000 tấn năm 2008 khiến giá của kim loại này tăng gấp đôi trong khoảng thời gian tương ứng[xi]. Cuối năm 2010, cuộc khủng hoảng đất hiếm của thế giới đã nổ ra khi Trung Quốc ban hành lệnh hạn chế xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản. Giá đất hiếm sau đó đã tăng vọt lên gấp 3 chỉ trong 3 tuần trong tháng 6 năm 2011[xii].

Thế giới tìm cách thoát khỏi thòng lọng độc quyền

Chiến lược độc quyền hóa khoáng sản quý của Trung Quốc rõ ràng đang phát huy tác dụng. Chiếc thòng lọng đã được treo lên và chỉ chờ các nạn nhân chui đầu vào. Điều này tạo nên mối lo thực sự trong cộng đồng thế giới. Việc hóa giải thế cờ này không dễ dàng và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nước. Theo cách nói của Dân biểu Hạ viện Mỹ Donald Manzullo, Chủ tịch Tiểu ban về quan hệ đối ngoại khu vực châu Á Thái Bình Dương, là “thật không may là quy mô của cuộc khủng hoảng này rất lớn và chỉ có sự phối hợp chung tay tầm cỡ quốc gia mới có thể giúp chúng ta thoát ra được”[xiii].

Trước ảnh hưởng quá lớn của chính sách về khoảng sản của Trung Quốc, các nước còn lại đã có nhiều động thái nhằm chống lại các tác động bất lợi của chính sách này. Mỹ, Nhật và Liên minh châu Âu đã đệ đơn yêu cầu Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tiến hành điều tra các chính sách thắt chặt xuất khẩu liên quan đến đất hiếm của Trung Quốc và WTO đã chấp thuận mở cuộc điều tra trong năm 2012[xiv]. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia thương mại quốc tế, Trung Quốc khó thua trong vụ kiện này vì họ có thể viện đến các tiêu chuẩn về môi trường và chuẩn mực công nghiệp để biện minh cho việc giảm sản lượng khai thác nội địa.

Quan trọng hơn là việc xúc tiến tìm kiếm các nguồn cung cấp thay thế. Hiện nay, hoạt động này đang được đẩy mạnh như là một nước cờ chiến lược để phá thế độc quyền của Trung Quốc. Ví dụ như Nhật Bản đang tiến hành dự án khai thác đất hiếm tại Quebec và tìm kiếm các nguồn đất hiếm ở Việt Nam[xv]. Một hướng khác nữa cũng đang được nhiều nước quan tâm là nghiên cứu cách khai thác đất hiếm dưới đáy đại dương[xvi]; Tập đoàn Lynas của Úc đang mở lại một mỏ đất hiếm khác ở Nam Phi[xvii]. Các phản ứng tương tự cũng xuất hiện để đối phó với thòng lọng khoáng sản của Trung Quốc đối với wolfram và bismuth. EMC Metals, một công ty khai thác mỏ wolfram của Mỹ đang tiến hành mở lại mỏ Springer tại Nevada trong năm 2013[xviii]. Núi Pháo, một mỏ wolfram và bismuth thuộc hạng lớn nhất nhì thế giới cũng đi vào hoạt động tại Việt Nam trong năm nay.

Quân cờ Việt Nam trên bàn cờ khoáng sản

Việt Nam có lợi thế về nguồn khoáng sản đa dạng và dồi dào, đặc biệt là các khoáng sản quý hiếm. Điển hình nhất trong số đó là các mỏ đất hiếm phần lớn nằm trong tỉnh Lai Châu và các tỉnh Tây Bắc, bao gồm Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lào Cai) và Yên Phú (Yên Bái). Tổng trữ lượng tài nguyên tại các mỏ này được cho là trên 16 triệu tấn oxit đất hiếm[xix], nhiều hơn cả trữ lượng này ở Mỹ là 13 triệu tấn (Mỹ từng là một cường quốc về đất hiếm)[xx]. Wolfram và bismuth cũng bắt đầu được tìm thấy ở một số tỉnh phía bắc, trong đó mỏ Núi Pháo (Thái Nguyên) được coi là mỏ đa kim có trữ lượng thuộc hàng lớn nhất thế giới với các khoáng sản quý chủ lực như wolfram, florit và bismuth.

Nhờ lợi thế này, Việt Nam đang được nhìn nhận là một quân cờ quan trọng trong nỗ lực phá thế thòng lọng độc quyền của Trung Quốc. Gần đây, Việt Nam đã tích cực tham gia vào cuộc chơi thông qua các hình thức hợp tác với các nước khác như Nhật Bản, Ấn Độ[xxi].

Cụ thể là trong năm 2012, Việt Nam và Nhật Bản đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đất hiếm với nhiệm vụ phát triển công nghệ khai thác đất hiếm tại Việt nam. Bên cạnh đó, Công ty cổ phần đất hiếm Lai Châu và Công ty Phát triển đất hiếm Đông Pao - Nhật Bản đã ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác khai thác, chế biến dất hiếm thân quặng F3 ở mỏ Đông Pao với mục tiêu đạt công suất 10.000 tấn/năm ô xít đất hiếm[xxii]. Dự án mỏ đa kim Núi Pháo cũng đã chính thức đi vào khai thác trong năm nay.

Dĩ nhiên, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ không dễ ngồi nhìn Việt Nam “lên hạng”. Với chủ tâm thâu tóm thị trường khoáng sản thế giới, dĩ nhiên là Trung Quốc sẽ khó có thể bỏ qua các mỏ khoáng sản của Việt Nam. Với chiến lược đã áp dụng ở nhiều nước, một mặt, các công ty Trung Quốc có thể áp dụng các phương pháp truyền thống như thu mua lại nguồn quặng từ Việt Nam cả thông qua chính nghạch và nhập lậu như lâu nay vẫn đang diễn ra; đầu tư, mua lại các mỏ; thăm dò và phát triển các dự án mới tại Việt Nam. Mặt khác, Trung Quốc có thể sẽ lợi dụng ưu thế độc quyền của mình để chèn ép các công ty khoáng sản Việt Nam trên thị trường thế giới cũng như gây áp lực lên các đối tác khác nhằm giành lại lợi thế về tay mình. Liệu Trung Quốc có dùng các gọng kìm này để “bóp” Việt Nam hay không và Việt Nam có thoát khỏi các gọng kìm này hay không thì chỉ có hạ hồi phân giải.


[i] Tungsten – The story of indispensable metal by Mildred Gwin Andrews – Pg 19
[ii] http://www.metalinvestmentnews.com/tungsten-shortage-to-benefit-playfair/ và http://www.kitco.com/ind/MetalsReport/20130416.html
[iii]http://www.indexmundi.com/en/commodities/minerals/bismuth/bismuth_t5.html
[iv]http://www.kitco.com/ind/MetalsReport/20130416.html và http://www.usnews.com/opinion/blogs/world-report/2012/11/20/the-us-needs-rare-earth-independence-from-china và http://www.usnews.com/news/national/articles/2009/07/01/americas-new-energy-dependency-chinas-metals
[v] Malaga breaks Chinese grip on Tungsten by Trish Saywell – 11/8/2010
[vi]http://www.usnews.com/opinion/blogs/world-report/2012/11/20/the-us-needs-rare-earth-independence-from-china và http://www.usnews.com/news/national/articles/2009/07/01/americas-new-energy-dependency-chinas-metals
[vii] Malaga breaks Chinese grip on Tungsten by Trish Saywell – 11/8/2010
[viii] USGS Data :
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/tungsten/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/bismuth/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/rare_earths/
[ix] Global Bismuth Metal Market by Metalworld 2009
[x] USGS Data :
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/tungsten/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/bismuth/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/rare_earths/
[xi] Xem tại:
http://www.usnews.com/opinion/blogs/world-report/2012/11/20/the-us-needs-rare-earth-independence-from-china 
http://www.usnews.com/news/national/articles/2009/07/01/americas-new-energy-dependency-chinas-metals
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/tungsten/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/bismuth/
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/rare_earths/
[xii] http://security.blogs.cnn.com/2011/09/22/with-chinese-monopoly-u-s-should-create-rare-mineral-reserve/ và http://www.upi.com/Business_News/Energy-Resources/2011/06/23/Rare-earth-minerals-prices-skyrocket/UPI-76601308849756/
[xiii] http://security.blogs.cnn.com/2011/09/22/with-chinese-monopoly-u-s-should-create-rare-mineral-reserve/ và http://www.upi.com/Business_News/Energy-Resources/2011/06/23/Rare-earth-minerals-prices-skyrocket/UPI-76601308849756/
[xiv] http://chinadigitaltimes.net/2012/07/wto-probe-chinas-rare-earth-policies/
[xv] http://www.idsa.in/idsacomments/ChallengingChinasRareEarthMonopoly_alele_190712
[xvi] http://www.electricmetalsinc.com/800594174/new-mining-projects-aim-to-ease-rare-earth-concerns/
[xvii] http://chinadigitaltimes.net/2012/07/wto-probe-chinas-rare-earth-policies/
[xviii] http://tungsteninvestingnews.com/3282-reviving-tungsten-interview-with-emc-metals.html
[xix] http://vampro.vn/cong-trinh-khoa-hoc/tai-nguyen-khoang-san/tong-quan-ve-dat-hiem-viet-nam.aspx
[xx] http://www.usgs.gov/newsroom/article.asp?ID=2642&from=rss_home
[xxi] http://www.idsa.in/idsacomments/ChallengingChinasRareEarthMonopoly_alele_190712
[xxii] http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/76909/khanh-thanh-trung-tam-nghien-cuu-dat-hiem-tai-ha-noi.html và http://www.vinacomin.vn/vi/news/Tin-tuc-Vinacomin/Cong-ty-CP-dat-hiem-Lai-Chau-quan-ly-toan-bo-mo-dat-hiem-lon-nhat-Viet-Nam-2874.html



Bùi Tín - Tầng lớp trung lưu kêu cứu!


Bùi Tín

Tầng lớp trung lưu là một khái niệm thường được đề cập đến trong các giáo trình xã hội – kinh tế của các trường đại học. Những năm gần đây, trong các bài bình luận thời sự Việt Nam, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cũng nhắc đến khái niệm «tầng lớp trung lưu».


Thế nào là tầng lớp trung lưu (TLTL)? Phải chăng đó là một tầng lớp xã hội đứng ở giữa - giữa thượng lưu và hạ lưu - không giàu mà cũng chẳng nghèo, thường thường bậc trung. Xưa kia có người gọi tầng lớp ấy là tầng lớp «tạch tạch xè», tiểu tư sản.

TLTL, về lý thuyết cũng như trên thực tế, có vai trò và vị trí nhất định trong xã hội, đặc biệt là trong một xã hội có nền kinh tế thị trường đang phát triển. Phải chăng trong xã hội có tốc độ phát triển cao, hiện tượng tốt đẹp đáng mừng là số người giàu càng ngày càng đông, số triệu phú USD, rồi số tỷ phú USD xuất hiện ngày càng nhiều, như sự xuất hiện số tư sản đỏ ở Trung Quốc và Việt Nam trong 20, 25 năm nay? Hay như ở Nga, số người giàu sụ tăng lên nhanh chóng, đang đổ sang trung Âu và tây Âu, mua biệt thự sang, mua cả lâu đài cổ ở vùng sông Loire của nước Pháp?

Không phải như vậy. Việc một thiểu số 10 % nắm đến 50% tài sản chung và đa số 90 % chia nhau 50% tài sản còn lại là một tình hình cực kỳ nguy hiểm. Nó báo hiệu một hiện tượng không bình thường, dẫn đến xã hội phân hóa, đầy bất công, xáo trộn, mất ổn định.

Ở Trung Quốc và Việt Nam, hiện nay TLTL bị kiềm chế chặt chẽ, gần như là bị cầm tù bởi các phe nhóm lãnh đạo cầm quyền mang danh cách mạng nhưng bị tha hóa bởi quyền lực, bởi đặc quyền đặc lợi. Có thể nói TLTL nước ta rất đông nhưng còn tản mạn, bao gồm hàng triệu tiểu nông và trung nông đã bị mất đất do hậu quả của chế độ sở hữu toàn dân do đảng Cộng sản áp đặt, cùng với hàng triệu tiểu thương, tiểu chủ bị các công ty quốc doanh khống chế, và lực lượng trí thức tiểu tư sản đông đảo, gồm có giáo viên, bác sỹ, dược sỹ, luật sư, sinh viên, viên chức công và tư….

Sinh ra từ lao động, chưa nhiễm phải lòng tham vô hạn của bọn trọc phú mới, lại có chút vốn vật chất cũng như tinh thần, tri thức, TLTL chính là tinh hoa của dân tộc, là hy vọng chính của đất nước.

Có thể nói hơn nửa thế kỷ trước, đông đảo tầng lớp tiểu tư sản nước ta ở thành thị cũng như ở nông thôn đã ủng hộ và gia nhập đảng Cộng sản (đặc biệt là ở miền Bắc) với lòng yêu nước truyền thống trong một xã hội thuộc địa bị thực dân Pháp thống trị. Từ khi đổi mới và mở cửa hòa nhập với thế giới, đảng CS dần dần suy thoái nghiêm trọng và phân hóa rất nhanh thành một tầng lớp tư bản đỏ mới, phất lên do tham nhũng, biển thủ tài sản quốc gia trên quy mô lớn, đoạn tuyệt với giai cấp vô sản mà họ tự nhận là đại diện, đồng thời xa rời các đồng chí của họ ở cơ sở, trong đó có không ít trung nông mất đất và trí thức ở thành thị. TLTL đến nay bị đảng khinh thị, bỏ rơi, thậm chí đàn áp trong quá trình tư bản hóa bản thân, trọc phú hóa phe nhóm, thượng lưu hóa gia đình theo tốc độ tên lửa.

Trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, TLTL với các giai cấp công nhân và nông dân có vai trò quan trọng. Kinh nhiệm phổ biến chỉ ra rằng sở dĩ chủ nghĩa tư bản đạt tốc độ phát triển cao là do chế độ tư hữu hợp pháp được tôn trọng và quy luật cạnh tranh bình đẳng được thi hành triệt để, giải phóng mọi sáng kiến cá nhân và quy mô kinh doanh. Nền tảng vững mạnh nhất của nền kinh tế tư bản từ khởi đầu không phải là các đại công ty tư bản độc quyền từng ngành, mà bao giờ cũng là hàng triệu nhà kinh doanh vừa và nhỏ, như những tế bào sống trong nền kinh tế cả nước. Không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới mức tập trung cao độ, có mối quan hệ chằng chịt toàn cầu, mà ở Pháp, Đức, Anh, Ý hay ở Hoa Kỳ, Canada trong chính phủ vẫn có một bộ quan trọng chuyên lo đến sự phát triển mạnh của các cơ sở kinh doanh nhỏ và vừa.

Sau khi trúng cử lần thứ 2, trong diễn văn nhậm chức tháng giêng năm 2013, Tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama có một câu nói rất đáng nhớ : «Chúng ta tin tưởng rằng phồn vình của nước Mỹ phải được đặt trên bờ vai rộng của tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển» (We believe that America ‘s prosperity must rest on the broad shoulders of a rising middle class). Đây vừa là sự thật, là quy luật, vừa là yêu cầu của cuộc sống và phát triển bền vững trong một đất nước văn minh.

Trong một nước phát triển lành mạnh, dù nền công nghiệp có tập trung đến mức rất cao, xuất hiện những ngành công nghiệp nhà nước, những tổng công ty quốc doanh lo về điện lực, giao thông, hàng không, công nghiệp quốc phòng… thì nhìn chung giá trị sản lượng của tư nhân trong các xí nghiệp nhỏ và vừa vẫn chiếm phần áp đảo. Ngay trong sản lượng của các tổng công ty quốc doanh, phần các công ty tư nhân vừa và nhỏ đóng góp cũng chiếm phần quan trọng, khi nhận làm những sản phẩm phụ, những chi tiết thiết bị, những dự án nhỏ của những công trình quốc gia.

Ở nước ta đang có tình hình ngược lại. TLTL bị hạn chế, kìm hãm và cản trở. Hai nguyên tắc lớn nhất trong kinh tế thị trường là quyền sở hữu phương tiện sản xuất và quyền tự do cạnh tranh không được khẳng định và bảo vệ bằng luật pháp. Trong cuộc họp Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu báo động là số công ty tư nhân vừa và nhỏ bị phá sản mỗi năm lên đến trên dưới 100 ngàn.

Phương châm lấy sở hữu quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế còn dẫn đến các tổng công ty quốc doanh được nuông chiều quá mức, sinh ra hư hỏng lỗ lã, cũng bị phá sản hàng loạt, lãng phí và tham nhũng hoành hành trên quy mô lớn. Đó là nguyên nhân, nguồn gốc của thảm họa kinh tế - xã hộ.

Đã vậy, ở nước ta các nhà chính trị mù tịt về khoa học kinh doanh lại hăng hái lao vào đảm nhận các chức vụ tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị các tổng công ty nhà nước có vốn hàng chục, hàng trăm triệu cho đến vài tỷ đôla.

Khi còn sống ông Võ Văn Kiệt đã nhìn ra nguy cơ trên và nghiêm cấm các bộ trưởng, thứ trưởng không được kiêm nhiêm các chức vụ kinh doanh. Các bộ trưởng, thứ trưởng chỉ quản lý về luật pháp và chính sách, cấm không được vừa đá bóng vừa thổi còi. Thế nhưng không một ai tuân hành. Tất cả, từ thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng cho đến các vụ trưởng các bộ, đều nhất loạt nắm pháp luật, chính sách ở cổng trước cơ quan, còn kiêm nhiệm hàng loạt chức vụ kinh doanh trực tiếp cực kỳ béo bở ở sân sau. Và chính cái sân sau ăn vụng, bất hợp pháp mới là nơi tấp nập, sôi động ra vào, lót tay các dự án, chia chác hoa hồng, chia lãi, chia phần thưởng kết thúc dự án hết sức hào phóng cho các quan lớn.

Không phải ngẫunhiên mà Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh Vốn Nhà nước (State Capital Investment Corporation) là con bạch tuộc khổng lồ, toàn do các quan chức cấp cao nhất của Phủ thủ tướng và các bộ Kế hoạch, Kinh tế, Tài chính… điều hành và nắm quyền quản trị là cơ quan kém cỏi nhất về quản lý, nhưng lại tệ hại nhất về nhũng lạm và chia chác bổng lộc. 

Cả làng báo hàng chục ngàn người bị bịt mồm, bịt mắt, luật gia bị răn đe, vào tù hàng loạt, các blogger bị truy bức đe dọa khẩn cấp cũng đều thuộc TLTL, bị coi là "đối tượng, là phần tử nguy hiểm, là tay chân của bọn phản động ở nước ngoài", khi vạch trần tình hình trên.

Cho nên một việc làm cấp bách là cả TLTL Việt Nam cần nhìn lại mình, xác định mình là những ai, có vai trò lịch sử ra sao, bị kềm chế đàn áp đến mức nào, vì sao có hại cho đất nước, để đoàn kết, bênh vực nhau, tạo nên lực lượng xã hội chống độc đoán bất công, khẳng định vai trò lịch sử của mình, đưa đất nước phát triển đúng quỹ đạo cần thiết, đạt phát triển phồn vinh cho toàn xã hội chung hưởng. Một cuộc đấu tranh quyết liệt đang mở ra để nền kinh tế đất nước thật sự nằm trên đôi vai rộng lớn của TLTL Việt Nam, trên nền tảng kinh doanh và cạnh tranh theo luật pháp, tạo nên triệu triệu tế bào kinh doanh khỏe khoắn trong toàn xã hội.