Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Nguyễn Văn Tuấn - Chính khách ta, chính khách Tây

 Nguyễn Văn Tuấn

Hồi sáng nay, tôi đi ra ga xe điện đi làm và chứng kiến một cảnh làm tôi suy nghĩ đến cách hành xử của chính khách Úc và Việt Nam. Anh chàng dân biểu (vùng tôi), chắc độ 45 tuổi, đang phát tờ rơi cho người dân sắp lên xe điện, với mục đích … xin phiếu. Tờ rơi mô tả những việc làm và thành tích của anh ta trong thời gian làm đại biểu Quốc hội. Một bà xồn xồn, tay vừa nhận tờ rơi, miệng mắng vào tay dân biểu như tát nước. Mày nhìn vào cái xe điện dưới kia kìa, thấy gì không, chật chội, chen chúc nhau như thế, mày có xấu hổ không? Bao nhiêu năm mày ngồi trong Quốc hội, mày làm được gì cho người dân ở đây? Tao không bầu cho mày nữa đâu. Anh chàng dân biểu bình tĩnh, chờ cho bà nói xong, bèn nói: để tao giải thích, blah blah blah. Bà kia nói thêm: “thôi, tao phải đi làm đây, mày hãy giải thích với bạn bè của mày đi”. Thật là vui! Tay dân biểu cũng chẳng phiền hà gì. Người dân đi qua cũng chẳng có phản ứng gì, xem như anh ấy đang mua phiếu thôi. 


Nhìn cảnh đó làm tôi suy nghĩ rằng làm nghề chính trị ở VN rất nhàn hạ. Ít ra là nhàn hơn các nước phương Tây hay các nước có nên dân chủ vững vàng (Việt Nam cũng là nước dân chủ?). Tôi thấy chính trị gia VN phần lớn thích ra chỉ thị, chứ chẳng làm gì mang tính thực chất. Phóng viên hỏi đến ông bà nào về bất cứ vấn đề gì, thì họ sẽ nói “tôi đã ra chỉ thị”, hay “Bộ tôi đã soạn luật”. Tại sao không giải quyết vấn đề hố tử thần? Tôi đã chỉ đạo cho huyện rồi. Hỏi huyện, huyện nói tôi đã chỉ đạo cho xã rồi. Hỏi xã, xã nói tôi đã chỉ thị cho ấp. Họ rất thích ra chỉ thị. Đến khi họ ra tay làm thì dân lãnh đủ, có khi chết. Tình trạng này cũng giống như bệnh nhân đang nằm cấp cứu mà bác sĩ thì phải xin phép cấp trên, và hệ quả là bệnh nhân về bên kia thế giới. 
Chính khách VN rất ít khi tiếp dân, hay có tiếp dân thì cũng chỉ là một nhóm được rà soát và chọn lọc theo tiêu chuẩn của họ. Họ cũng chẳng thèm trả lời ai. Bao nhiêu “dân oan” khiếu kiện mà có ai trả lời đâu. Mỗi ngày họ đi xe ngang những đoàn người khiếu kiện nằm la liệt trên đường phố Hà Nội, trong đầu họ nghĩ gì? Thật không hiểu nổi. 

Còn bên mấy nước dân chủ (hay có chút dân chủ khá hơn VN ta) thì rất khác. Chính khách phải tiếp dân và phải nói chuyện với dân (như anh chàng dân biểu tôi vừa đề cập). Ngay cả Thái Lan, cũng chẳng dân chủ gì, nhưng hơn VN một bậc về dân chủ. Hôm nọ tôi thấy cảnh nông dân trồng đu đủ biểu tình trước nhà bà thủ tướng Thái Lan. Hình như giá đu đủ bị giảm hay gì đó, và thế là nông dân nổi quạu kéo đến nhà bà ấy để biểu tình. Bà ấy về tới nhà, ra xe, và đứng trước đám đông biểu tình giải thích (qua lời dịch): đây là nhà tao, tao cần sự riêng tư, chúng bay muốn nói chuyện với tao thì ngày mai đến văn phòng tao nhé. Ấy thế mà đám đông giải tán và ngày mai kéo đến văn phòng chính phủ đem theo yêu sách. Hôm nọ, một tay họa sĩ nổi nóng với bà thủ tướng, nên nói lời xúc phạm rằng “bà là con điếm”. Bà thủ tướng cũng bình tĩnh coi như “ne pas”, nhưng luật sư của bà thì hẹn tay họa sĩ ở tòa án! Đi trên xa lộ thỉnh thoảng tôi thấy có cái pano thật lớn với hình của ông bà mặc áo trịnh trọng và một ông có dáng dấp cảnh sát, tôi hỏi anh bạn họ là ai, và sao có hình ở đây, thì biết là họ là quan chức địa phương và cảnh sát trưởng. Tấm pano nói nếu dân chúng có vấn đề gì thì liên lạc với họ để giải quyết. Tôi nhủ thầm, ước gì VN mình cũng có những tấm pano như thế này. Nói chung, cách hành xử của họ rất khác với chính khách VN ta. Chính khách Thái Lan gần dân hơn và văn minh hơn. 

Nói chung, chính khách VN cũng có cuộc sống sướng lắm. Có thể kể qua vài đặc quyền đặc lợi: 

• Làm gì sai cũng chẳng ai dám cách chức. Lí do là đương sự có thể là do đảng (ban bí thư) quản lí. Đến thủ tướng mà còn không cách chức được thứ trưởng. Còn cấp thấp hơn thì còn phải hỏi ý kiến của chi bộ. 

• Chẳng có chịu trách nhiệm với dân gì cả; họ chỉ chịu trách nhiệm với đảng thôi.

• Ăn uống thì an toàn. Cấp cao thì có ruộng lúa riêng, có vườn rau quả riêng (organic đàng hoàng nhé), rượu bia toàn loại hảo hạng. Mà ăn uống bậy bạ và chẳng may mắc bệnh thì có máy bay chở lên các bệnh viện tuyến trên. 

• Xây nhà thì có các đại gia xếp hàng cung cấp vật liệu. Nhà ở đường không tiện thì có Sở giao thông mở đường. Không có hối lộ gì ở đây, tất cả đều tự nguyện và … tự giác. “Giác” ở đây là “giác ngộ”.

• Đi đường phạm luật thì chỉ cần rút cái thẻ đảng ra là được cảnh sát thông cảm ngay. Cái này thì tôi từng chứng kiến anh bạn tôi, khi lái xe vi phạm gì đó, bị cảnh sát thổi còi, anh ta xuống xe và chỉ rút cái thẻ đảng ra là cảnh sát “thông cảm”. Hay thiệt! 

Nói cho ngay, không phải chính khách nào cũng sướng như thế. Cũng có những người đau đáu với vận nước, gần dân, và chạy sốt gió. Những người như thế thường có học và có lòng. Bọn có học thì lúc nào cũng đau đáu, cũng đau khổ, khổ cái nỗi khổ của người khác. Mà, những chính khách này thì càng ngày càng là rare species. Hôm nọ, khi còn ở Sài Gòn, tôi đi nhậu trong một quán bình dân, và vô tình gặp một bác từng là hiệu trưởng đại học kinh tế ở Sài Gòn. Bác ấy cũng cao tuổi rồi, đang bị Parkinson’s. Bác nhận ra tôi và thao thao và lớn tiếng phàn nàn về vụ bauxite và đọc nhưng con số vanh vách cho thấy dự án này đang bị lỗ. Bác cũng từng kí tên phản đối dự án bauxite. Tôi thì không muốn nói chuyện này ở quán nhậu, nên cứ phải gật đầu ủng hộ bác ấy. Đi cùng với tôi có anh nguyên là người của P25 của Thành phố, anh ấy cũng “chịu trận” như tôi trước những lời ta thán của bậc tiền bối. :-) Nhưng tôi kính trọng bác ấy. 

Tôi nghiệm ra một điều là nền kinh tế VN khá lên đâu phải do mấy chính khách tài ba gì, mà do người dân xoay xở là chủ yếu. Mà cũng chỉ xoay xở trong cái vòng được cho phép thôi.


Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Ngô Nhân Dụng - Còn biển Ðông thì sao?


Ngô Nhân Dụng

Người Việt tị nạn đã thành công trong cuộc tổ chức biểu tình tại Rancho Mirage phản đối Trung Cộng trong hai ngày liên tiếp. Ngay từ đầu, mọi người đã quan niệm các cuộc biểu tình này chỉ nhằm đánh thức dư luận về các hành động xâm lấn Việt Nam của Cộng Sản Trung Hoa từ hàng nửa thế kỷ qua. Dư luận đã chú ý. Ngay trong ngày Thứ Bảy, 8 tháng 6, đã thấy hình ảnh lá cờ vàng bay phất phới trên trang nhất tờ nhật báo Desert Sun tại vùng này; và nhiều hình ảnh khác ở trang trong.


Sau Ðặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình là lãnh tụ Trung Cộng đầu tiên có tư thế đi nói chuyện thẳng với người lãnh đạo nước Mỹ, bỏ qua các lễ nghi. Bởi vì địa vị của ông ta trong đảng vững, mạnh hơn hai người tiền nhiệm, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào. Ngay khi nhậm chức chủ tịch đảng, nhà nước, ông cũng nắm ngay chức chủ tịch quân ủy trung ương; cái ghế mà đời trước Giang Trạch Dân phải chờ Ðặng Tiểu Bình đứng dậy mới được ngồi vào; còn Hồ Cẩm Ðào thì phải chờ hai năm mới được họ Giang truyền cho. Với vị thế vững chắc như thế, Tập Cận Bình muốn gặp ngay tổng thống Mỹ để hai bên cùng ấn định các “luật chơi” trên bàn cờ kinh tế, chính trị, quân sự thế giới, trong ít nhất 5 năm tới.

Ai cũng phải thấy là chính Tập Cận Bình muốn thu xếp một cuộc gặp gỡ sớm, và yêu cầu gặp nhau theo lối không chính thức. Chính phủ Mỹ không ngỏ lời mời trước hàng năm, Bộ Ngoại Giao hai bên không cần xếp chương trình. Không tổ chức gặp gỡ các yếu nhân đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội, theo phép xã giao thường lệ. Rõ ràng, họ bỏ qua các lễ nghi thù tiếp; họ gặp nhau để nói chuyện công việc, bi di nét! Tập Cận Bình mới lên nhậm chức được ba tháng, còn ông Obama mới nhậm chức lại được năm tháng. Hiện nay hai chính phủ không có vấn đề gì cấp bách phải bàn, ngoài một vài bất đồng vẫn tranh cãi liên miên. Họ cũng không có một hiệp định nào, nhỏ hay lớn, mới bàn xong và cần ký kết với nhau. Ðể cho cuộc thăm viếng có vẻ tự nhiên, Tập Cận Bình đã tạo ra một chuyến công du trong vùng Trung Mỹ để mượn cớ “ghé qua” California gặp ông Obama trên đường về.

Nhiều người bàn rằng chuyến đi Trung Mỹ của ông Tập Cận Bình nhằm gửi một “tín hiệu” cho chính quyền Mỹ: Nếu ông Obama dám nói sẽ “xoay trục” ngoại giao sang vùng Ðông Nam Á, ở ngay “cái ao trong vườn sau” của Trung Quốc, thì họ Tập cũng có thể “xoay trục” sang vùng “sân sau” của nước Mỹ. Có người còn nêu thí dụ cụ thể hơn: Obama đã giật lấy nước Miến Ðiện, vốn đang nằm trong vòng tay Trung Quốc từ mấy chục năm rồi; bây giờ đến lượt Trung Quốc sẽ xâm nhập vào ao sau nhà của Mỹ để bắt cá!

Nhưng lối giải thích này không có bằng chứng đáng tin. Ông Tập Cận Bình không làm gì gây khó chịu cho chính phủ Mỹ. Ông không ghé thăm Cuba và Venezuela, là những nước cùng “theo chủ nghĩa xã hội” như người Tàu, cả hai đều ghét Mỹ, chống Mỹ. Ông cũng không ghé Brazil, cùng nằm trong khối các nước đang lên khối “BRIC” (Brazil, Nga, Ấn, Tàu) và cũng là nước mua bán với Trung Quốc nhiều nhất trong vùng. Trong chuyến đi này, ông lại thăm Mexico, nước láng giềng, đồng minh của Mỹ. Nền kinh tế Mexico và Canada gắn bó với Mỹ không thể nào tách được. Số hàng hóa dân Mexico bán sang Trung Quốc trong một năm cũng chỉ trị giá bằng số hàng bán qua Mỹ trong tám ngày! Mexico đang hoan hỉ tham dự chương trình Hợp Tác Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partnership) của Mỹ, để có cơ hội bắc cầu tới các nước Châu Á, phía bên kia Thái Bình Dương. Trong khi đó Bắc Kinh thì rất ghét cái dự án TPP này, coi đó là một thủ đoạn của Mỹ nhằm cô lập Trung Quốc. Tóm lại, ở Mexico, ông Tập Cận Bình không thể làm gì để phá Mỹ, mà cũng chả có chuyện gì quan trọng để nói cả. Ông Tập đi qua những nước trên các hòn đảo Caribbean, mà có nhắc đến tên chắc nhiều người cũng quên ngay. Những cuộc gặp gỡ đó, với món quà ba tỷ Mỹ kim cho vay lãi nhẹ, không gây xáo động nào khiến chính quyền Mỹ lo ngại có gì xảy ra trong ao nhà của mình. Có thể nói, cả chuyến công du đầu tiên qua Châu Mỹ của ông Tập Cận Bình chỉ cốt tạo một dịp ghé qua California.

Vậy tại sao ông Tập Cận Bình lại muốn gặp riêng ông Obama, nói chuyện kín đáo, lâu đến sáu giờ đồng hồ, ngay ba tháng sau khi ông nhận ba chức vụ cầm đầu đảng, nhà nước, và quân đội Trung Quốc?

Tập Cận Bình muốn gặp Obama để duyệt qua tất cả các điều xung khắc trong quyền lợi của hai quốc gia. Hai bên phải tìm hiểu quan điểm của nhau trên những vấn đề lớn, mỗi bên biết bên kia muốn gì và có thể nhượng bộ tới mức nào. Nhưng cuối cùng, điều quan trọng mà Tập Cận Bình muốn nói với Obama có thể chỉ là một điều này thôi: Trong mười năm tới, khi Tập Cận Bình còn cầm đầu nước Trung Hoa, thì cam đoan không muốn gây rắc rối với Mỹ. Tất cả các vụ bất đồng ý kiến sẽ phải được giải quyết dựa trên căn bản đó. Cần nói dứt khoát như vậy ngay từ đầu, để tránh mất thời giờ sau này, mỗi khi xảy ra bất hòa. Vì biết rằng thế nào cũng sẽ có nhiều xung khắc không thể tránh được. Nếu hai bên không biết ý nhau trước, thì nhiều khi các xung đột nhỏ có thể gây hậu quả tai hại bất ngờ.

Có lẽ đó là thông điệp quan trọng nhất mà ông Tập Cận Bình thấy cần phải gửi tới tất cả giới lãnh đạo nước Mỹ, mà ông Obama sẽ thông báo với họ theo cách của ông. Có yên tâm về mặt đối ngoại, thì Tập Cận Bình mới có thể chú ý giải quyết những khó khăn kinh tế, xã hội sắp tới ở trong nước Trung Hoa. Tuy lâu nay rất hung hăng đối với một số nước Ðông Nam Á, Trung Cộng vẫn tỏ ra nhún nhường đối với Mỹ. Mặc dù gia tăng ngân sách quốc phòng, họ biết không đủ sức đương đầu trực tiếp với Mỹ về mặt quân sự, ít nhất trong vòng nửa thế kỷ nữa. Nhiều người thường đề cao chương trình phát triển vũ khí của Trung Cộng. Nhưng cho tới nay, tất cả các chương trình đó vẫn nhắm vào việc phòng thủ, đề phòng một cuộc chạm súng với Mỹ, chứ chưa có khả năng tấn công, dù chỉ là đánh nhau với Ðài Loan hay đụng độ với Nhật Bản. Trung Cộng khai trương hàng không mẫu hạm Liêu Ðông một cách rầm rộ, cũng vì họ là quốc gia duy nhất không có lấy một chiếc mẫu hạm trong số 5 quốc gia thuộc Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Trong khi đó nước Mỹ đang điều động 11 hàng không mẫu hạm thuộc hạng tối tân nhất. Mỹ trải các hạm đội ra khắp các đại dương, trong khi Trung Cộng chưa thể tổ chức được một cuộc tập trận đầy đủ cho một hạm đội. Mà một chiếc hàng không mẫu hạm không có các tàu chiến khác đi chung quanh thì cũng không có giá trị nào trong chiến tranh.

Hai nước Mỹ và Trung Quốc sẽ không thể lâm chiến, ít nhất trong thế kỷ này. Vì Trung Cộng không thể tính đến một cuộc cạnh tranh quân sự với Mỹ trong một trăm năm nữa. Họ cũng đủ khôn ngoan để nhìn thấy cục diện như ông Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng Singapore đã khuyến cáo họ. Trong cuốn sách, “Lee Kuan Yew: The Grand Master's Insights on China, the United States and the World,” ông Lý tiên đoán Mỹ và Trung Quốc sẽ cạnh tranh nhau gay gắt trong thế kỷ 21; mà mặt trận chính sẽ là vùng Ðông Nam Á; trong đó có xứ Singapore. Nhưng ông nghĩ rằng các người lãnh đạo Trung Quốc cũng hiểu là họ không thể nào chạy đua với Mỹ về quân sự được. Ông nhắc tới các thí dụ, hai nước Nhật Bản và Ðức đã sử dụng binh lực gây chiến với Mỹ trong thời chiến tranh 1939-45, rồi cả hai đều thất bại. Tiếp theo, trong các thập niên từ 1950 đến 1980, Nga Xô đã chạy đua với Mỹ về quân sự. Họ đã đổ bao nhiêu tài nguyên vào cuộc cạnh tranh gay go này, cuối cùng cuộc chạy đua làm cho kinh tế của họ kiệt quệ. Lý Quang Diệu kết luận: Giới lãnh đạo Trung Cộng hiểu điều này, họ sẽ không tính cạnh tranh với Mỹ về quân sự. Ai dại gì mở một cuộc chạy đua khi biết trước mình sẽ kiệt sức trước đối thủ?

Như vậy thì khi Tập Cận Bình và Obama gặp nhau cuối tuần qua, điều mà họ có thể đồng ý với nhau là “không gây lộn!” Nói cách khác: “Giữ thế giới y nguyên như hiện nay,” ai ở đâu ở đó. Trung Cộng sẽ kềm Bắc Hàn trong vòng dây xích ngắn, như con chó có thể chạy qua lại, được sủa, nhưng không được cắn ai. Sẽ không tấn công Ðài Loan, như từ năm 1950 đến nay. Không gây sự với Nhật Bản về Ðiếu Ngư Ðài. Ðiều mà Tập Cận Bình cũng như Ðặng Tiểu Bình lo nhất là dân Nhật hoảng sợ, đòi tái vũ trang. Trung Tướng Thích Kiến Quốc, phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc mới nói với các nhà báo ở hội nghị Singapore rằng, đối với Ðiếu Ngư Ðài, Trung Quốc sẽ theo đường lối Ðặng Tiểu Bình: Ðời này chưa giải quyết được, thì đến đời con cháu sẽ lo tiếp! Vào Tháng Giêng, ông tướng chuyên về ngoại giao này mới viết một bài trên tờ Học Tập Thời Báo, nói rằng các quyền lợi lâu dài của hai nước Mỹ và Trung Quốc tương đồng nhiều hơn là xung khắc.

Nhưng còn biển Ðông của nước ta thì sao? Người Việt Nam phải lo ngại khi nhìn vào bài báo này, vì trong đó Thích Kiến Quốc xác định, một lần nữa, chủ quyền của Trung Cộng trên toàn vùng lưỡi bò. Ông ta vẫn chống việc các cường quốc bên ngoài can thiệp vào khu vực này. Nói vậy, nhưng đây không phải là một điều mới lạ, xưa nay các chính quyền Trung Cộng vẫn nói thế. Và chúng ta cũng biết, cả chính phủ Obama lẫn chính quyền các nước Ðông Nam Á đều nói ngược lại, công nhận nước Mỹ có quyền can thiệp vào vùng biển Ðông Nam Á. Ðây không phải một điều gì mới lạ nữa, trong chuyện này hai nước vẫn nói ngược nhau từ ba năm qua.

Vậy trong cuộc gặp gỡ cuối tuần qua, khi chủ trương của họ trái ngược nhau như vậy, hai ông Tập Cận Bình và Obama có thể đã nói gì với nhau về vấn đề biển Ðông nước ta?

Chắc họ chỉ nói một quy tắc tổng quát: Không gây thêm rắc rối. Chúng ta có thể tin rằng Tập Cận Bình tìm gặp Obama lần này để bắt tay, hứa hẹn hai bên sẽ không gây lộn với nhau trong mười năm tới. Cứ giữ nguyên trạng, ai ở đâu ở đó, cùng lo cạnh tranh kinh tế mà thôi.

Nếu đúng như vậy thì có thể tin rằng trong tương lai tất cả những tranh chấp giữa nước ta và Trung Cộng trong vùng biển Ðông chỉ có người mình phải giải quyết lấy. Không thể trông vào một quốc gia nào đưa sáng kiến hỗ trợ cho mình, từ các nước Ðông Nam Á đến nước Mỹ.

Nhưng mặt khác, chúng ta cũng có thể tin rằng trong thời gian tới Trung Cộng sẽ không dám nổ súng, không dám gây chiến tranh trong vùng biển Ðông nước ta. Bởi vì gây chiến tức là đương nhiên xóa bỏ nguyên trạng! Là làm mất thế cân bằng trong toàn thể khu vực. Tức là xóa bỏ cái bắt tay giữa Tập Cận Bình và Obama. Nếu Trung Cộng gây xáo trộn, chính phủ Mỹ sẽ có lý do phải can thiệp. Họ can thiệp không phải vì được Philippines hay Việt Nam yêu cầu. Họ phải can thiệp vì các cam kết của họ với toàn vùng Ðông Nam Á. Họ phải bảo vệ nguyên trạng; ngăn không cho chiến tranh xảy ra, dù Việt Nam có yêu cầu hay không.

Nhận định về cuộc gặp gỡ Tập Cận Bình và Obama, dựa trên quyền lợi của hai nước lớn như vậy, giúp chúng ta nhìn thấy chiến lược biển Ðông của nước Việt Nam phải đi theo hướng nào; sẽ bàn tiếp trong một bài sau. Khi người Việt tị nạn, từ San Jose đến Las Vegas, San Diego đổ về Rancho Mirage biểu tình cùng đồng bào Tiểu Sài Gòn, chúng ta đã nhắc cho ông tổng thống Mỹ một điều: Vì năm 1974 nước Mỹ bỏ Việt Nam, cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, cho nên chính phủ Mỹ bây giờ gặp nhiều rắc rối. Từ nay, đừng có dại dột như thế nữa.


Đại Nghĩa - Cù Huy Hà Vũ, người không tầm thường


Đại Nghĩa

Cù Huy Hà Vũ, một con người mà gần đây chế độ cộng sản làm cho ông trở thành một người theo Giáo sư Ngô Bảo Châu là “không tầm thường”. Chính chế độ này đã đánh bóng tô son cho Cù Huy Hà Vũ bằng những ngón đòn thù bẩn thỉu “thấp tầm” với bản án 7 năm tù và 3 năm quản chế, Cù Huy Hà Vũ lớn vì đồng chí X quỳ xuống (ý thơ của Tố Hữu). Miến Điện có Aung San Suu Kyi thì Việt Nam có Cù Huy Hà Vũ. Không biết rồi một ngày “Hoa Lài” nào đây khi được tháo củi sổ lồng, con người “không tầm thường” ấy sẽ “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc” đem tài trai phụng sự đất nước cho thỏa chí tang bồng. 


A - Đối nội:

1. Quốc hiệu: VIỆT NAM
Tất cả hoài bão của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã nằm gọn trong cái quyết định muốn đặt tên nước là Việt Nam với đầy đủ lịch sử vinh quang qua bài học tình đoàn kết chống ngoại xâm mà tổ tiên đã để lại. Ông với quan niệm dứt khoát rằng Việt Nam là Việt Nam trường tồn, không mang chủ nghĩa nhất thời nào gán ghép vào đó được.

“Chính trên quan điểm “Việt Nam là Tổ quốc của mọi người Việt Nam” mà ngày 30-8-2010 tôi đã gửi Quốc hội Việt Nam kiến nghị lấy “Việt Nam” là Quốc hiệu để thực hiện hòa giải dân tộc nhằm đoàn kết tất cả mọi người Việt Nam trong nước và ngoài nước, bất luận chính kiến trong nỗ lực chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngang tầm thời đại.“Cha ông ta trước đây lấy Việt Nam làm quốc hiệu, ngoài ra không thêm những từ gì nữa. Thế thì tại sao bây giờ chúng ta không thể bắt chước cha ông mà lấy Việt Nam làm quốc hiệu?” (RFA online ngày 31-8-2010).

2. Phản bác Chủ nghĩa Xã hội: 

Nhận định về Xã hội Chủ nghĩa, Tiến sĩ Hà Vũ cho thấy rằng ông không đồng tình với cái chế độ do những người cộng sản hậu Hồ Chí Minh áp đặt cái chủ nghĩa ấy lên đầu nhân dân Việt nam.

“Ngay tôi với tư cách là một người sống trong chính thể Cộng sản, tôi cũng căm phẫn, bởi vì cái việc dùng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để thay thế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đó là sự phản bội, đó là một sự đảo chính của những người cầm quyền sau năm 1975 đối với ngay chính thể của Hồ Chí Minh” (RFA online ngày 31-8-2010).

Theo Tiến sĩ Hà Vũ thì cái xã hội chủ nghĩa “chưa bao giờ là một hiện thực” ở Việt Nam vì nó chỉ là một chủ nghĩa “mù mờ, u u minh minh” ngay cả những nhà trí thức cách mạng cũng không hình dung ra được nó là cái hình thù gì, nó đã bị xóa đi trên thực tế và chỉ còn trên danh nghĩa lừa dối mà thôi. Có lần trả lời phỏng vấn của đài VOA, Hà Vũ nói:
“Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được Đảng CSVN phục hồi tại Đại hội 6 của đảng vào năm sau, 1986.

“Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của Đảng CSVN diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân” (VOA online ngày 30-4-2010).

3- Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992, thiết lập thể chế đa đảng đa nguyên:
Với thái độ dứt khoát, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong một lần trả lời phỏng vấn của Thomas trên diễn đàn Dân Luận ông đã thẳng thắn phát biểu khẳng định lời báo tử cho đảng CS độc tài rằng:
“Tôi khẳng định đa đảng là truyền thống của Việt Nam từ trước cho đến khi chủ tịch Hồ Chí Minh chết và thậm chí đến 1988…

“Tuy nhiên tôi vẫn lên án sự độc tài của Đảng CSVN. Nên mục tiêu đấu tranh của tôi, cái đầu tiên là buộc nhà cầm quyền VN phải thực hiện đa đảng…

“Nếu đảng cộng sản mà không bỏ Điều 4 Hiến pháp thì việc đó đồng nghĩa với cái chết. Cái chết đó còn không bao lâu nữa đâu, cái chết đó trước hết với Ban lãnh đạo đảng cộng sản. Đảng cộng sản đừng có nghĩ rằng đã vơ vét được nhiều rồi đến khi chế độ cộng sản sụp đổ thì họ trở thành những ông chủ mới” (Dân Luận online ngày 7-11-2010).

Ủng hộ quan điểm chính đáng của Tiến sĩ Hà Vũ, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang cũng đồng thanh:
“Đối với đảng tôi cho rằng“nên” xóa bỏ, vì Điều 4 làm mất thanh danh của đảng. Một đảng tự xưng là “đội tiên phong đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân”, là “ngôi sao sáng nhất trong muôn vì sao” mà phải dựa vào sự cưỡng bức một điều luật và nghĩ rằng buông nó ra tức là tự sát thì còn gì đáng xấu hổ cho bằng” (RFI online ngày 13-9-2010).

Luật sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Tòa án tối cao cũng nhiệt liệt tán đồng với Tiến sĩ Hà Vũ:
“Việc thiết lập thể chế đa đảng, là việc làm không thể đừng được. Ta hiện nay suy thoái nặng nề không lối thoát, còn con đường nào khác đâu. Cả thế giới một đường, một mình ta một hướng quả thật là quá lạ, mà cái hướng của ta lại mù mờ, ngay cả trong nội bộ cũng không thông suốt. Thiết lập thể chế đa đảng là việc làm sáng suốt, một lựa chọn đúng đắn” (Đối Thoại online ngày 10-6-2010).

4- Hòa giải hòa hợp, đoàn kết dân tộc:

Với một tình yêu nước nồng nàn, Tiến sĩ Hà Vũ đã trình lên Quốc hội xin đại xá cho tất cả cán bộ, viên chức và sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa để cùng nhau phát triển và bảo vệ đất nước. Trả lời phỏng vấn của đài RFA ông nói:
“Kiến nghị này, cụ thể tôi đề nghị Quốc hội đại xá tức là trả tự do không điều kiện, nó khác với đặc xá, đặc xá là trả tự do có điều kiện, ví dụ những người tù phải thấy mình cải tạo tốt này, theo quan điểm này theo quan điểm kia của nhà cầm quyền, nhưng đại xá là bình lập tức trên tinh thần dân tộc, đại xá trên tinh thần anh em, đồng bào mà trả tự do không điều kiện” (RFA online ngày 31-8-2010).

Cùng một nhận định và chủ trương HGHH, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, người cũng có lòng và đầy nhiệt huyết với dân tộc, với tinh thần hòa giải ông cũng đã nhiều lần phát biểu qua những bài viết dài:
“Hòa giải Hòa hợp…đó là niềm thôi thúc, là sự nghiệp của cả dân tộc”. Khoan hãy bàn đây là yêu cầu bức thiết và mọi người Việt Nam dù là đang ở trong hay ngoài nước, dù từng ở chiến tuyến nào đều phải dốc tâm thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng cao cả này. Có vậy mới mong xây dựng nước Việt Nam mạnh giàu, dân tộc an lành, hạnh phúc” (Thông Luận online ngày 14-11-2007).

B - Đối ngoại:

1- Nhận diện kẻ thù, đề cao cảnh giác:
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, người cũng đã nhận diện được kẻ thù truyền kiếp của Tổ quốc ta là ai và kẻ thù ấy ngày nay vẫn giữ nguyên bản chất và về âm mưu và thủ đoạn thì còn xảo quyệt gấp trăm lần, nhất là trong nhiều năm nay, những hành động lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc đang xảy ra hàng ngày trên biển cũng như nhiều hành động quỷ quyệt của bọn chúng liên miên xâm nhập vào chính trị, kinh rế, văn hóa, xã hội trong nội địa nước ta. Ông Hà Đình Sơn trong bài “Trung quốc là kẻ đắc lợi với kết cục vụ án Cù Huy Hà Vũ” đã lưu ý lời cảnh báo của TS Cù Huy Hà Vũ về cái nguy cơ mất nước vào tay người đồng chí láng giềng khốn nạn qua những hành động cụ thể:
“Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là người năm 2007, có kiến nghị gửi nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh về một số phương sách bảo vệ Tổ quốc chống lại nguy cơ xâm lược của Trung quốc” (Bauxite Việt Nam online ngày 3-8-2011).

“Ông Vũ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Trung quốc sau khi Đông Âu sụp đổ đã biến tướng thành chủ nghĩa đế quốc cổ điển hay chủ nghĩa Tân Đại Hán với đặc trưng là sự bành trướng lãnh thổ và Trung Quốc đang trở thành mối đe dọa quân sự có tính toàn cầu, nên Việt Nam không thể “tự lực cánh sinh” mà phải dựa vào liên minh quân sự với một cường quốc hạt nhân khác” (Cù Huy Hà Vũ - Wikipedia tiếng Việt online ngày 7-8-2011)

2- Liên kết đồng minh, bảo vệ Tổ quốc:
Không màu mè úp mở, Hà Vũ đã nói thẳng ra cái quốc gia có thể và có khả năng liên minh để cùng bảo vệ quyền lợi chung và nhờ đó mà Việt Nam sẽ được bảo vệ không bị thôn tính bởi quân bành trướng, đó là:
“Liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và thu hồi toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị nước ngoài xâm lược ở biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa” (Dân Làm Báo online ngày 23-1-2011).

Đảng cộng sản từ lâu cũng đã thấy được rằng đồng minh với Mỹ là bảo vệ Tổ quốc, còn đồng chí với Tàu thì chỉ có mất nước mà thôi, nhưng vì còn sợ mất lòng “thiên triều” nên đã đàn áp không chút nương tay những thành phần nào dám lên tiếng chống lại quan thầy của họ. Tuy nhiên chính quyền CSVN cũng phải công nhận:
“Mới đây, trong chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii, Đại sứ Việt Nam tại Hoa kỳ Lê Công Phụng nhận định “Quan hệ Việt - Mỹ đang ở giai đoạn tốt nhất trong vòng 15 năm qua”. Việt Nam và Mỹ đang thúc đẩy mạnh mẽ các bước cần thiết nhằm đưa mối quan hệ hai nước lên tầm cao mới, trở thành đối tác chiến lược của nhau trong thời gian tới” (BBC online ngày 16-3-2011).

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, người cũng đã từng nhận bản án 13 năm tù của chính quyền cộng sản về tội phổ biến Dân chủ-Tự do cũng đồng thuận rằng:
“Nếu bây giờ có cuộc thăm dò xã hội (kín, một cách độc lập) thì chắc tỷ lệ người dân Việt Nam ủng hộ việc thiết lập quan hệ đồng minh toàn diện, không chỉ về quân sự, với Mỹ sẽ thuộc về đa số áp đảo, và trong đa số đó cũng sẽ có rất nhiều đảng viên cộng sản” (Đàn Chim Việt online ngày 29-7-2011).

C - Tư cách không tầm thường:

1- Uy vũ bất năng khuất:
- Kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên huỷ hoại môi trường sống của dân tộc và phá vỡ địa điểm chiến lược bảo vệ an ninh của Tổ quốc. 

- Kiện tướng công an Vũ Hải Triều khoe đã đánh sập 300 trang mạng và blog vi phạm Điều 19 Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký ngày 24-9-1982.

- Gửi đơn lên Quốc hội tố cáo Bí thư thành ủy Sài Gòn Lê Thanh Hải đã cướp đất và đập phá nhà của bà Dương Thị Kính, thân nhân của 3 liệt sĩ ở phường Bình Thạnh.

Ngoài ra trong bức “Thư cám ơn của tiến sĩ Hà Vũ” khi đang ở trong tù có đoạn viết như sau:
“Kinh thưa đồng bào,

Bản chất việc làm của Hà Vũ trong những năm qua hoàn toàn không vụ lợi. Đòi lại Đàn Âm hồn - Đài liệt sĩ chống ngoại xâm đầu tiên của Việt Nam; Đòi giử Đồi Vọng cảnh, một khu đồi án ngữ ngay trước khu lăng mộ của các vua nhà Nguyễn khỏi trở thành khu khách sạn (Hotel Resort); bênh vực Giáo dân xứ Cồn Dầu; chống lại việc bán tài nguyên ở Tây Nguyên; bênh vực nhân dân bị cấm khiếu kiện đông người; lên tiếng bảo vệ các nhà trí thức; lên tiếng xin hòa hợp hòa giải dân tộc trên thực tế, bằng công việc công nhận liệt sĩ cho các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hy sinh ở Hoàng Sa năm 1974…” (Đàn Chim Việt online ngày 31-7-2011).

2- Bần cùng bất năng di:
Vì chống lại bọn cường quyền nên Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bị bọn cầm quyền hãm hại bằng cách bôi nhọ và bắt giam vì những tội vu vơ mà khi ra tòa không có chứng cớ để khép thành tội. Tuy thế trong hai lần sơ thẩm và phúc thẩm chúng vẫn kết án ông 7 năm tù giam và 3 năm quản chế bằng một phiên tòa mà Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng gọi là phiên tòa “kangaroo”, và theo ông thì từ điển Webster định nghĩa:
“Phiên tòa kangaroo là phiên tòa giả hiệu, bỏ qua hoặc áp dụng sai lạc các nguyên tắc của luật pháp và công lý, như từ chối những quyền tố tụng cơ bản của bị cáo và luật sư trong đó có quyền triệu tập người làm chứng, quyền loại bỏ bằng chứng sai trái và quyền thẩm vấn, quyền từ chối quan tòa hay luật sư do thiên vị hay mâu thuẩn quyền lợi, quyền không buộc tội chính mình, quyền tự bào chữa, và quyền kháng án. Phiên tòa kangaroo nhảy vội đến kết luận với một bản án đã có từ trước khi phiên tòa diễn ra, tiếng Việt gọi nôm na là “án bỏ túi” (BBC online ngày 11-4-2011).

Trong phiên tòa sơ thẩm ấy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dõng dạc tuyên bố:
“Tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi”.

Gần đây qua người vợ, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, Tiến sĩ Hà Vũ gửi lời cảm ơn tất cả những người đã ủng hộ ông, đã theo dõi vụ án và nói chung tới đồng bào Việt Nam:
“Cù Huy Hà Vũ không có tội song cũng biết chấp nhận hy sinh. Xin đồng bào hãy coi như đứa con này lưu lạc xa nhà ít lâu. Những điều tiêu cực không thể sống lâu hơn những điều tích cực! Điều Hà Vũ này lo lắng nhất khi xa gia đình, xa bạn bè, anh, chị em ấy là lo cho đất nước rơi vào tay bọn đại giảo hoạt Bắc kinh. Đó mới là điều đau lòng nhất của Cù Huy Hà Vũ này!” (Đàn Chim Việt online ngày 31-7-2011).

D - Quần chúng ngưỡng mộ:
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vì ưu ái một con người nghĩa khí, thành tâm nặng lòng với đất nước, hy sinh vì dân tộc, nên ông đã làm hai câu đối tặng Hà Vũ như sau:
“Hà Vũ bộc trực vô ưu, khả dĩ anh hùng khí tiết!
Dương Hà trung trinh hữu luật, dục thành thục nữ tâm cang!”
(Bauxite Việt Nam online ngày 14-3-2011).

Một vị Giáo sư trẻ đã thành danh được mọi người mến mộ và cả Nhà nước CSVN cũng hết lời ca tụng đó là Ngô Bảo Châu, ông đã có một nhận định sâu sắc về Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ như sau:
“Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt. ‘Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường. Như Hector người thành Troy, như Turnus người Ruliti hay như Kinh Kha người gốc Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình.

“Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này” (BBC online ngày 6-4-2011).

Và một nhà giáo khả kính là Phạm Toàn cũng phải nói lên lời khâm phục và tình cảm chân thành của mình với phu nhân của một người “không tầm thường” sau khi người ấy nhận bản án 7 năm tù và 3 năm quản chế:
“Anh không mong chú ấy thành anh hùng. Anh chỉ chúc mừng Dương Hà đã có riêng cho mình một người chồng cao cả. Hôm nay, nói thật lòng với Dương Hà nhé: trong vụ xử án, điều mọi người như anh lo nhất là chú ấy lú lẫn sao đó lại nhận tội và xin khoan hồng. Chú ấy đã hành động cao cả. Thế là đủ. Đủ cho chú Vũ. Đủ cho tất cả. Nếu ngày mai anh chết, nếu anh không chờ được 7 năm nữa để bắt tay chú Vũ, em nhớ nhắn lại cho nó rằng anh rất yêu nó” (Đàn Chim Việt online ngày 5-4-2011).

Một danh sách gồm mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam từ những nhà trí thức lão thành cách mạng đến những thanh niên trẻ hoặc người dân bình thường Kiến nghị trả tự do cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tính đến ngày 9-11-2010 là 2.765 người, ngoài ra sự can thiệp của quốc tế như ông Mark Toner, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ; Khối Dân biểu Đảng Dân chủ Tự do của bà Thủ tướng Angela Merkel của Đức; Liên hiệp Âu châu…

Để nói lên sự ngưỡng mộ và tin tưởng một người đã có được cái khí phách anh hùng ngay cả trong lúc gian nguy, tù ngục, tôi xin mượn lời nhà thơ Bùi Minh Quốc gửi đến con người “không tầm thường” ấy:
“Thức thời để thấy rằng mỗi ngày giam giữ Cù Huy Hà Vũ chỉ càng tăng thêm ý chí của người trí thức ưu tú này tự rèn luyện hiệu quả hơn thành người chiến sĩ cách mạng từ trong ngục tối giương cao ngọn cờ vì Tổ quốc vì Tự do vẫy gọi lớp trí thức tinh hoa kế tiếp nối gót theo anh chiến đấu” (Bauxite Việt Nam online ngày 1-8-2011).

Đ.N.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Hoài Hương - Những thách thức đối với giới lãnh đạo Việt Nam


Hoài Hương 
- VOA
11.06.2013 

Giữa lúc Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ tiếp tục cuộc tuyệt thực trong một nhà tù ở Việt Nam, và các nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước cũng như ở ngoài nước cũng tổ chức tuyệt thực để ủng hộ Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, và kêu gọi sự chú ý của quốc tế tới chính sách của nhà nước Việt Nam đàn áp những tiếng nói bất đồng, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc Phòng Australia, nhận định rằng chính sách cứng rắn hơn đối với giới bất đồng, một phần, là do những đấu đá trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông nhận định là có bất mãn sâu xa trong công chúng, và giới lãnh đạo Việt Nam đang đương đầu với một “thách thức về mặt đạo đức” phải giải quyết, và “đáp ứng một cách thuận lợi, nếu không sẽ khó tránh khỏi những nghi vấn về tính chính đáng của chế độ”. Từ Australia, Giáo sư Thayer dành cho Ban Việt Ngữ cuộc phỏng vấn sau đây.

Từ trái: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

VOA: Thưa Giáo sư, trong những tháng gần đây, Việt Nam đã gia tăng nỗ lực nhằm bịt miệng giới bất đồng và tiếp tục các hành vi... có thể nói là truy bức một số người dân, chỉ vì họ đã nói lên lòng yêu nước trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng có hành động lấn át hơn ở Biển Đông. Ngay cả các sinh viên trẻ tuổi như Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha chẳng hạn, và nhiều người khác nữa, cũng bị tuyên những bản án tù khắc nghiệt. Đấy có phải là những dấu hiệu để chứng tỏ là Hà Nội quyết tâm đàn áp những ý kiến bất đồng?

Giáo sư Thayer: “Vâng, rõ ràng tình hình tại Việt Nam ngày càng tệ hại hơn kể từ sau Đại Hội Đảng Cộng Sản mới nhất. Trong năm nay, không biết là bao nhiêu người đã bị bắt giữ. Sự thể này phản ánh hai điều: thứ nhất, có nhiều người bước qua giới hạn đỏ để đặt ra những vấn đề mà chế độ không muốn được nêu lên, nhưng quan trọng hơn, theo tôi, đó là kết quả của cuộc giằng co bên trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi ông Nguyễn Tấn Dũng 'sống sót' qua cuộc biểu quyết đòi kỷ luật 'đồng chí X' hồi năm ngoái, ông đã cam kết sẽ xử lý các trang blog, và ông ấy đã thực hiện lời hứa của ông. Thế cho nên tôi tin rằng điều đó có thể được phản ánh trong cuộc biểu quyết tín nhiệm ông tại quốc hội.”

VOA: Thưa tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại nhắm nhiều nhất vào các blogger?

Giáo sư Thayer: “Bởi vì các blogger chỉ trích những lĩnh vực nhạy cảm đối với chính quyền, như lòng ái quốc của họ, tinh thần quốc gia của họ khi đối mặt với Trung Quốc, và một số blogger khác thì đặt ra những nghi vấn về tham nhũng và các mạng lưới gia đình của các quan chức, và một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm là những đấu đá trong nội bộ Đảng Cộng Sản. Chính vì vậy mà các blogger, nhà báo và một số người khác đang phải trả một cái giá rất đắt.”
VOA: Thưa Giáo sư, những hành động mạnh tay hơn của nhà nước Việt Nam có phải là dấu hiệu của một chính quyền cảm thấy mình đang bị đẩy vào thế thủ trước cơn phẫn nộ ngày càng dâng cao trong công chúng, vì thành tích quản lý kinh tế yếu kém và những thất bại khác?

Giáo sư Thayer: “Đúng, bởi vì sự phẫn nộ ngày càng lan rộng, và nó đang len lỏi vào cuộc tranh luận vì cách quản lý nền kinh tế của ông Thủ Tướng bị những người khác bên trong Đảng Cộng Sản đả kích. Vấn đề này lại được nêu lên rộng rãi hơn trong những giới khác và lại liên quan tới những vấn đề khác nữa, khiến họ cảm thấy bất an. Họ muốn giữ kín tất cả mọi chuyện trong nội bộ đảng hơn là tiết lộ các vấn đề ấy ra bên ngoài.”
 Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà cầm bức tranh tự hoạ của TS Vũ 1 ngày trước khi ông tuyệt thực.

VOA: Thưa Giáo sư, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đang tuyệt thực ở trong tù, vợ ông rất lo lắng. Quan tâm về tình trạng của ông đã khiến một số người cả ở trong lẫn ở ngoài nước bắt đầu cuộc tuyệt thực của riêng họ để ủng hộ Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Mới hôm qua, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân -trước đây bị cầm tù tại Việt Nam, đã bắt đầu tuyệt thực, để góp sức biểu lộ sự ủng hộ đối với ông Cù Huy Hà Vũ, bên trong nước thì đã có bác sĩ Phạm Hồng Sơn cũng bắt đầu tuyệt thực 7 ngày. Những diễn tiến này nói lên điều gì về Việt Nam?

Giáo sư Thayer: “Những hành động như thế chưa từng xảy ra trong quá khứ, trước đây cũng có một vài người, thường là đang ở tù, tuyệt thực để phản đối các điều kiện trong nhà tù, nhưng điều mà chúng ta chứng kiến ở đây là ngày càng nhiều người hơn trong thành phần chính trị ưu tú, nhất là trong giới những cựu cố vấn của các Thủ Tướng tiền nhiệm, đã bị gạt sang bên lề, rồi các công dân khác theo chân họ, từ những người ký tên vào bản kiến nghị để sửa đổi Hiến Pháp cho đến những người khác...Ngoài ra cách đối phó với những sinh viên trẻ tuổi yêu nước có ý kiến bất đồng, những người tìm cách dùng pháp luật để chống lại chính phủ...Có một nỗi bực dọc là: sự thể rồi sẽ dẫn tới kết cuộc nào? Đâu là giải pháp để giải quyết vấn đề? Liệu Hiến Pháp có được sửa đổi để cho phép quyền tự do ngôn luận? Câu trả lời có thể là “Không”, rồi người ta sẽ chỉ đãi bôi cho có chuyện trong khi nỗi bất mãn đã âm ỉ từ năm 2008 tới nay, từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới. Tôi thực sự tin là có bất mãn sâu xa. Việt Nam không có một hệ thống đại nghị, không có một cách dễ dàng nào để có thể thay đổi chính phủ, hay ngay cả các Bộ trưởng, để giải quyết những khiếu nại của người dân.”

VOA: Giáo sư không tin tiến trình tham khảo ý dân để sửa đổi Hiến Pháp là một nỗ lực thành thực hướng tới dân chủ hóa, mà chỉ là một màn diễn mà thôi?

 Hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha đứng trước phiên tòa tỉnh Long An, ngày 16/5/2013.

Giáo sư Thayer: “Họ muốn đây là một cơ hội để tái khẳng định quyền cai trị của chế độ, rằng nhiều người dân đưa đề nghị là bởi vì họ ủng hộ tiến trình này, nhưng khi phải đối đầu với một bản Hiến Pháp thay thế, với những lời kêu gọi phải sửa đổi Điều 4 Hiến Pháp- về vai trò của Đảng Cộng Sản- thì chế độ cảm thấy rất là không thoải mái, đó không phải là điều mà họ muốn. Họ chỉ muốn mọi người hưởng ứng một cách qua loa, với một hai sự thay đổi hời hợt, nhưng tựu chung vẫn ủng hộ hệ thống cai trị, để rốt cuộc, họ có thể tuyên bố là họ đã lắng nghe tất cả các đề nghị, và quốc hội, với sự khôn ngoan chín chắn của mình, khi tới tháng 9, sẽ quyết định về một bản dự thảo Hiến Pháp. Tôi không tin là trong các điều kiện hiện nay, làm như thế là đủ, thời đó qua rồi.”

VOA: Thế thì tình hình này sẽ đi tới đâu?

Giáo sư Thayer: “Tôi không tin là nó sẽ dẫn tới một “mùa xuân Việt Nam” hay “mùa Xuân Ả Rập”, tôi không tin là điều đó xảy ra, nhưng nỗi bức xúc sẽ trào dâng. Tôi không tin là chế độ cầm quyền ở Việt Nam đoàn kết, như tôi đã nói có những đấu đá trong nội bộ, có bất đồng ý kiến rộng rãi trong các thành phần chính trị ưu tú về cách làm sao xử lý những vấn đề đó.

VOA: Thưa Giáo sư, những hành động hồi gần đây của nhà nước liên quan tới hai sinh viên trẻ tuổi đã gây phản ứng rất mạnh trong nhiều thành phần xã hội, kể cả trong giới trí thức và một số quan chức nhà nước. Rồi các cuộc tuyệt thực đang diễn ra. Theo Giáo sư, những hành động đặt ra thách thức như thế nào đối với các vị lãnh đạo đang cầm quyền tại Việt Nam trong bối cảnh lần đầu tiên, họ phải đương đầu với tiến trình bỏ phiếu tín nhiệm để duy trì chức vụ?

Giáo sư Thayer: “Đây là một thách thức về đạo đức mà chế độ phải đáp ứng, và đáp ứng một cách tích cực, nếu không muốn người ta đặt ra những nghi vấn về tính chính đáng của chế độ. Chúng ta phải chờ xem nó dẫn tới đâu, liệu các đại biểu quốc hội có đủ can trường, đủ can đảm về mặt đạo đức để biểu quyết “Không tín nhiệm ”hay không? Chúng ta còn phải chờ xem. ”


Phạm Thị Hoài - Quét rác

Phạm Thị Hoài

Cho đến nay tôi chưa xóa một bình luận nào trên trang Facebook cá nhân, địa chỉ tương tác của blog pro&contra. Bây giờ tôi ân hận về sự dễ dãi đó. Ngôi nhà của tôi vẫn tiếp tục rộng mở cho bất kì ai muốn ghé thăm, song kể từ nay tôi sẽ mời tất cả những phát ngôn rác rưởi về với nhau trong đặc khu của chúng: thùng rác.


Khả năng sống chung với rác ở mỗi người tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Về phần mình, tại thời điểm này của cuộc đời, tuy sức chịu đựng vẫn còn đủ mạnh nhưng tôi không thấy có một lí do nào để mình phải kiên nhẫn hơn với những độc giả rác. Tôi tuyệt đối không có nhu cầu được họ quan tâm và càng không có nhu cầu biết họ nghĩ gì, nghe họ nói gì, dù chỉ về thời tiết.

Họ là ai, tôi thường không rõ. Phần lớn họ tự khai báo sự hèn nhát của mình qua một căn cước chế biến, ít nhiều nặc danh, và rất tiếc phần lớn họ là nam giới. Hãy tin tôi, tôi biết đọc ra giọng một người đàn ông hay một người đàn bà.

Giọt nước làm tràn chiếc li kiên nhẫn của tôi là những phát ngôn hạ cấp của họ về sự kiện ông Phạm Hồng Sơn bắt đầu đồng hành tuyệt thực với người tù chính trị Cù Huy Hà Vũ.

Tuyệt thực là lấy chính mình ra làm vũ khí phản kháng. Những người quyết định đi đến cùng cuộc phản kháng ấy, khi không còn một vũ khí nào khác, là những nhân cách đặc biệt mà lòng dũng cảm và kiên định khiến cả kẻ thù của họ cũng phải khâm phục [1]. Song phần lớn các cuộc tuyệt thực, đặc biệt là tuyệt thực tập thể, hiện nay thường được tiến hành trong một khuôn khổ định trước, có lịch trình rõ ràng. Ở các nước phương Tây, ban tổ chức một cuộc tuyệt thực như thế còn có trách nhiệm bố trí bác sĩ và chuyên gia tâm lí đi kèm. Quan niệm tuyệt thực như một sự đánh đổi tính mạng cho lí tưởng và mục đích đã nhường chỗ cho quan niệm về tuyệt thực như một hình thức phản kháng bất bạo động quyết liệt hơn, cực đoan hơn, khó khăn hơn, nguy hiểm hơn nhưng có thể có hiệu quả truyền thông hơn và gây tác động mạnh hơn những hình thức khác, chẳng hạn đình công hay diễu hành, biểu tình. Bảy ngày là giới hạn thường được chọn cho tuyệt thực “ướt” – tức không ăn, chỉ uống nước – vì đạt được nó không dễ dàng, mà vượt quá nó thì những hậu quả lâu dài cho sức khỏe có thể không kiểm soát được. Tuyệt thực “khô” – tức cự tuyệt cả nước uống – như ông Mikhail Khodorkovsky trong một nhà tù ở Moskva, chỉ sau hai ngày cơ thể có thể hoàn toàn suy sụp.

Đã nhiều lần trong thời gian vừa qua, một số bạn bè và tôi thảo luận – đôi khi rất gay gắt và không hoàn toàn đồng thuận – về sự cần thiết và tính khả thi của tuyệt thực như một hình thức ủng hộ các tù nhân chính trị và phản đối chính sách trấn áp của chính quyền Việt Nam. Rất nhiều ví dụ, không chỉ ở các quốc gia toàn trị, cung cấp những bài học bổ ích và cả những câu hỏi không dễ tranh luận thấu đáo: cuộc tuyệt thực tập thể năm 2010 của 5 tù nhân chính trị Cuba sau cái chết vì tuyệt thực của một tù nhân chính trị là Orlando Zapata; cuộc tuyệt thực thành công, kéo dài 4 tuần, tháng Tư năm nay của 60 thành viên tổ chức dân chủ Unión Patriótica de Cuba đòi thả nhà bất đồng chính kiến Lozada Igarza; cuộc tuyệt thực kéo dài 1 tuần của hơn 500 tù nhân thuộc 39 nhà tù tại Đức năm 2008 cùng những người đồng hành tuyệt thực với họ tại Thụy Sĩ, Bỉ và Hà Lan; cuộc tuyệt thực kéo dài 9 ngày của 12 tù nhân chính trị tại Iran năm 2011 sau cái chết vì tuyệt thực của nhà báo và nhà hoạt động chính trị Hoda Saber; những cuộc tuyệt thực tập thể không dứt tại nhà tù Guantanamo, từ thời Bush đến thời Obama…

Tôi, người viết bài cho blog bằng một chiếc computer không bao giờ bị lục soát, tại một căn hộ không bao giờ bị khám xét, cách xa Việt Nam hơn vạn dặm và không nhịn đói nổi một ngày, đã lấy bao nhiêu lí lẽ thông minh để ngăn bạn tôi không thực hiện hành động này, trong một sự kiện khác. Nay ngay sau Phạm Hồng Sơn, theo thông tin từ RFA Việt ngữ, 5 người Việt Nam khác đã tuyên bố đồng hành tuyệt thực với Cù Huy Hà Vũ, trong số đó có Phạm Thanh Nghiên, người phụ nữ vừa rời nhà tù sau 4 năm với một sức khỏe hết sức suy nhược. Thực tế đã đi nhanh hơn những cuộc thảo luận. Phong trào đấu tranh cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam lần đầu tiên đã thực hành một hình thức phản kháng mới và trước hết: một hình thức đoàn kết mới.

Phong trào ấy cần cả những tiếng nói khích lệ lẫn những phê bình khe khắt. Nó thậm chí cần chịu đựng cả sự vu khống và xúc phạm. Điều nó không cần và không cần bận tâm là những lời thị phi hạ cấp.

Ở nhà mình, điều tối thiểu tôi phải làm là quét sạch những phát ngôn rác rưởi ấy.

© 2013 pro&contra


________________________________________
[1] Bạn có thể không ủng hộ đường lối và hành động của tổ chức IRA, nhưng thật khó mà không nghiêng mình trước cuộc tuyệt thực của Bobby Sands và các thành viên IRA tại nhà tù Long Kesh ở Bắc Ireland năm 1981, dưới thời Margaret Thatcher. Và chính là nền điện ảnh Anh cuối cùng đã xây đài tưởng niệm Bobby Sands với bộ phim cùng cực của bi tráng, bàng hoàng, không khoan nhượng: Hunger (2008) của Steve McQueen.


Người Việt - Ông Nguyễn Tấn Dũng 'đội sổ' về mức độ tín nhiệm


Người Việt

Theo kết quả đợt “lấy phiếu tín nhiệm” 47 cá nhân là lãnh đạo của quốc hội, nhà nước và chính phủ CSVN, thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nằm trong số ba người dẫn đầu về “tín nhiệm thấp” (160 phiếu). 

Đại biểu Quốc hội bỏ phiếu trong đợt “lấy phiếu tín nhiệm” đầu tiên. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hai người còn lại, cùng ông Nguyễn Tấn Dũng, đội sổ về mức độ tín nhiệm là ông Nguyễn Văn Bình – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (209 phiếu) và ông Phạm Vũ Luận – Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo (177 phiếu).

Đây là lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam tổ chức “lấy phiếu tín nhiệm” 49 cá nhân, đang đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong quốc hội, nhà nước và chính phủ như: Chủ tịch Nhà nước, Phó Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, các thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và những thành viên khác của chính phủ, Chánh án Tòa án Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Nhưng vì Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán Nhà nước mới được bầu lại nên số cá nhân được đưa ra để Quốc hội Việt Nam “lấy phiếu tín nhiệm” chỉ còn 47.

Theo một nghị quyết do Quốc hội Việt Nam ban hành hồi cuối năm ngoái, “lấy phiếu tín nhiệm” là bước đầu tiên để xác định mức độ tín nhiệm của các đại biểu Quốc hội, dành cho những cá nhân là lãnh đạo quốc hội, lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo chính phủ. Nếu cá nhân nào bị 2/3 đại biểu Quốc hội xếp vào loại “tín nhiệm thấp” thì Quốc hội sẽ khuyến cáo cá nhân đó từ chức, hoặc tổ chức cho đại biểu Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm” để miễn nhiệm.

Do vậy, tuy cùng đội sổ về mức độ tín nhiệm, song Thủ tướng, Thống đốc Ngân hàng nhà nước, Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo vẫn có thể tại vị, bởi số phiếu “tín nhiệm thấp” chưa vượt chạm mức 2/3.

Một điểm rất đáng chú ý là dù Quốc hội Việt Nam có tới 498 đại biểu, song kết quả kiểm phiếu đợt “lấy phiếu tín nhiệm” đầu tiên này cho thấy, có rất nhiều đại biểu không bày tỏ chính kiến: Không xác định họ “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, hoặc “tín nhiệm thấp” một số cá nhân trong nhóm 47 cá nhân được đưa ra “lấy phiếu tín nhiệm”.

Chẳng hạn, nếu cộng toàn bộ số phiếu mà các đại biểu Quốc hội đã bỏ cho bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Phó Chủ tịch Quốc hội, người dẫn đầu về mức độ “tín nhiệm cao” (372 phiếu) thì có thể thấy còn đến 8 đại biểu Quốc hội không bày tỏ chính kiến của họ đối với nhân vật này. Nói cách khác, chỉ có 490 phiếu/498 đại biểu cho biết mức độ tín nhiệm của họ đối với bà Ngân.

Tình trạng tương tự xảy ra đối với tất cả 47 cá nhân được đưa ra “lấy phiếu tín nhiệm” lần này. Không có ai nhận đủ toàn bộ số phiếu của 498 đại biểu Quốc hội cho cả ba mức độ tín nhiệm: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, hoặc “tín nhiệm thấp”.

Nếu đại biểu Quốc hội kín đáo cho thấy việc họ không đồng tình với phương thức đã được chọn để bày tỏ “mức độ tín nhiệm” của họ, đối với việc “lấy phiếu tín nhiệm”, bằng cách không bỏ phiếu, thành ra không cá nhân nào nhận đủ 498 phiếu, thì dân chúng công khai chỉ trích chuyện chia mức độ tín nhiệm thành ba loại: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, hoặc “tín nhiệm thấp”. 

Một blogger viết: “Nói một cách bình dân thì tín nhiệm là tin. Bàn về niềm tin thì chỉ có hai khía cạnh là tin hoặc không tin. Khi chưa đủ cơ sở để tin hoặc xác quyết là không đáng tin thì người ta ‘bán tín, bán nghi’. Xét cho cùng, chuyện ‘lấy phiếu tín nhiệm’ của đại biểu Quốc hội đối với lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Chính phủ cũng không thể nằm ngoài quy luật này. Sự khác biệt, nếu có, chỉ là cách gọi. ‘Tín nhiệm cao’ có nghĩa là ‘tin’. ‘Tín nhiệm’ là ‘bán tín, bán nghi’ và kế đó, ‘Tín nhiệm thấp’ có nghĩa là ‘không tin chút nào’. 

'Đã là lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Chính phủ mà tỷ lệ ‘tín nhiệm’ (bán tín, bán nghi) và tỷ lệ ‘tín nhiệm thấp’ (không tin chút nào) cao quá thì còn để đó làm gì? ‘Lấy phiếu tín nhiệm’ có giúp gầy dựng lại được niềm tin trong nhân dân hay không là ở chỗ đó đó. Cũng phải nói thêm là thông thường, nếu có tập thể nào đó, trong một dịp nào đó phải bày tỏ niềm tin mà đa số không bảo họ không tin, cũng chẳng khẳng định họ vững tin, chỉ ‘bán tín, bán nghi’. Và ‘bán tín, bán nghi’ chiếm tỷ lệ áp đảo thì rõ ràng là có rất nhiều thứ phải bàn”. (G.Đ)


Nhà văn Thế Uyên qua đời, thọ 78 tuổi

Tin từ gia đình cho hay, nhà văn Thế Uyên đã qua đời lúc 5 giờ 31 chiều ngày 11 tháng 6, 2013 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington sau một thời gian dài bệnh hoạn, thọ 78 tuổi.


Vào tháng 3 năm 1999 ông bị “stroke” lần đầu tiên, bị tê bại một nửa người, phải ngồi trên xe lăn để di chuyển trong nhà, nhưng nhờ nghị lực phi thường ông đã tập viết lại bằng tay trái, và đã viết bài cho các tạp chí văn học hải ngoại. Tuy nhiên vào tháng 8 năm 2012, bị “stroke” lần thứ hai, ông rơi vào tình trạng hôn mê nhiều tháng trước khi qua đời. Ông đã qua đời đúng một tháng sau ngày mất của người cậu ruột của ông là cụ Nguyễn Tường Bách (qua đời vào ngày 11 tháng 5 năm 2013 tại Garden Grove, California).

Nhà văn Thế Uyên tên thực là Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam. Cùng với người anh ruột là nhà văn Duy Lam, Thế Uyên khi vừa qua tuổi 20 tên tuổi đã hiện diện trong làng báo. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, ông là người sáng lập tạp chí Thái Độ, như là một điểm khởi hành mới trong hành trình chữ nghĩa cho chính bản thân ông. Ông là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam như Mười ngày phép của một người lính, Tiền đồn ... Và đặc biệt hơn cả, ông là một trong những số rất ít nhà văn tiên phong trong việc đụng tới vấn đề tình dục, một vấn đề mà dường như văn học Việt Nam còn coi như một cấm kỵ trong thế kỷ 20 vừa qua.

Nhà văn Thế Uyên tốt nghiệp Trung học Chu Văn An, theo học tại Đại học Văn Khoa và Sư Phạm, trở thành giáo sư Việt văn, dậy tại nhiều trường trung học công lập ở miền Nam, rồi thuyên chuyển lên dậy ở Ban Mê Thuột, trước khi bị động viên vào khoá 14 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng một lượt với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Sau 1975, cũng như hàng trăm ngàn sĩ quan của miền Nam, ông bị đi tù cải tạo một thời gian, trước khi đến định cư tại tiểu bang Washington – Hoa Kỳ vào năm 1987. Sau khi định cư  ở Mỹ ông vừa viết văn vừa đi học, ông tốt nghiệp bằng BA về Khoa Học Xã Hội tại Evergreen State College – Olympia, WA năm 1992.

Trước tháng 4-1975 ông đã có 21 cuốn sách được xuất bản, gồm đủ loại sáng tác, biên khảo, giáo khoa cũng như dịch thuật (cuốn sách dịch được nhiều người biết tới là cuốn Về miền đất hứa (Exodus- Leon Uris). Sau khi định cư ở Hoa Kỳ ông có thêm mười cuốn được in ra: Sài Gòn sau mười hai năm, Con đường qua mùa Đông, Nghĩ trong mùa Xuân, Tuyển tập truyện ngắn Thế Uyên, Tuyển tập dâm tình của các nhà văn nữ Hoa Kỳ, Khu vườn mùa mưa, Nhà văn gìa và cô bé gù, Không một vòng hoa cho người chiến bại, và Những người Mỹ chung quanh chúng ta.


Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

TS Đinh Xuân Quân - TỪ THÀNH ĐÔ ĐẾN DIỄN ĐÀN SHANGRILA hay TỪ NÓI ĐẾN LÀM


TS Đinh Xuân Quân

Từ cuộc gặp tại Thành Đô năm 1991 với giới lãnh đạo Trung Quốc, Việt Nam luôn luôn nói đến “16 chữ vàng và 4 tốt” ngay cả trước những hành động không vàng mà cũng không tốt như cấm đánh cá, đâm tàu, bắt giữ, ngay cả giết ngư dân VN của Trung Quốc tại Biển Đông, đã gây phẫn nộ cho dân nước ta. Tại Diễn đàn đối thoại an ninh khu vực Á châu gọi là Shangri-La được viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) tổ chức hàng năm tại Singapore Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng (NTD) đã được mời đọc bài tham luận chính (key note speaker) trong ngày khai mạc 31/05/2013. 

Tại Singapore, Thủ tướng NTD nhắc tới nhiều lần ý tưởng chủ đạo trong bài diễn văn quan trọng là “Cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta.” 

Qua nội dung bài tham luận của TT NTD quan điểm của VN là gì? Quan điểm của Trung Quốc là gì? Quan điểm của Mỹ và của các quốc gia khác là gì ?  Thủ tướng NTD đã đưa ra một cách suy nghĩ mới về đối ngoại tại Shangri La nhưng việc này sẽ giúp gì cho các vấn đề đối nội của VN hay không?  

Khó khăn đối ngoại của VN và quan điểm của các bên tại Shangri La

Trong nhiều năm qua thái độ của TQ tại Biển Đông đã làm người dân phải xuống đường và công an đã đàn áp các công dân VN chống TQ, chống “đường lưỡi bò” là những đòi hỏi phi lý và “cường quyền kiểu Đại hán.” 

Qua lời phát biểu của TT NTD các quan sát viên quốc tế cho đây là lần đầu tiên một giới chức cao cấp phát biểu quan điểm của VN: 

VN không liên minh với nước này chống nước khác, không chấp nhận căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ VN, và chính sách quốc phòng của VN là tự vệ; 

TQ và Mỹ là hai cường quốc Thái Bình Dương (TBD) và sự hiện diện của họ đáng hoan nghênh. Họ có trách nhiệm đóng góp vào hoà bình, thịnh vượng, và an ninh khu vực theo các luật quốc tế. 

Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông đe dọa an ninh khu vực và quyền lợi mọi nước; 

TQ cần chấm dứt các hành động đơn phương, các đòi hỏi phi lý, trái luật pháp quốc tế, các áp đặt có tính cách cường quyền.  

ASEAN cần đoàn kết, và cảnh báo “một ASEAN thiếu thống nhất sẽ tự đánh mất vị thế và không có lợi cho bất cứ một ai, kể cả các nước ASEAN và các nước đối tác.”

Ông nhìn nhận rằng: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.” Qua phát biểu này, coi như VN có một chính sách đối ngoại mới đối với TQ mặc dù vẫn chỉ là lên án một cách gián tiếp.  

Qua phát biểu của Tướng Thích Kiến Quốc, quan điểm của Trung Quốc là: 
TQ tiếp tục xác định chủ quyền của mình trong vùng tranh chấp; 
TQ đồng ý giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình; 
TQ sẽ tiếp tục có hải quân và hải giám trong vùng vì đây là “lãnh hải TQ”. 

Trung tướng Thích Kiến Quốc, phó tổng tham mưu trưởng quân TQ cho là “Các tàu chiến TQ sẽ tiếp tục tuần tra tại các vùng biển mà TQ tuyên bố thuộc chủ quyền của họ (1) /và các cuộc tuần tra như thế là ‘hợp pháp’ và rằng chủ quyền của nước ông đối với những vùng biển này là ‘không thể tranh cãi’. Đây chính là ngôn ngữ ngoại giao của kẻ ngang ngược coi Biển Đông như cái ao nhà.  

Bộ Trưởng Hagel (2) / nêu lên quan điểm của Mỹ: 

Chính sách tái phối trí chiến lược hướng về Á châu-Thái Bình Dương là một “cam kết bền vững” (enduring commitment) được thể hiện bằng những hành động cụ thể;
Việc cắt giảm ngân sách quốc phòng không ảnh hưởng gì đến việc thực hiện cam kết này và Hoa Kỳ sẽ chuyển thêm các vũ khí tối tân và sẽ gia tăng khả năng tác chiến của mình sang Á châu-Thái Bình Dương.

Các nước đối tác của Hoa Kỳ phải vững tin vào mối liên hệ song phương với Hoa Kỳ và những cam kết của Hoa Kỳ đối với họ và đối với khu vực Á châu Thái Bình Dương, kể cả các hiệp ước liên minh mà Hoa Kỳ đã ký kết như với Nhật Bản và Phi Luật Tân. 

Hoa Kỳ cảnh báo và quan tâm đến tiềm năng có thể xảy ra những tính toán sai lầm hoặc các khủng hoảng phát sinh từ những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ / lãnh hải trong khu vực này.

Ông Hagel trình bày chính sách tái cân bằng của chính quyền Obama đối với khu vực và “chủ yếu là một chiến lược kinh tế và văn hóa, ngoại giao" và cũng đã học được tầm quan trọng của việc nước Mỹ phải làm thế nào "để tham dự một cách khôn ngoan ở châu Á."

Các khó khăn đối nội tại VN

Ngày 19/01/2013, một nhóm 72 nhân sĩ/trí thức đã đưa ra bản tham gia ý kiến chi tiết cùng với một bản dự thảo sửa đổi Hiến Pháp (HP) được gọi là “Kiến nghị 72.(3) /.” Việc khởi xướng của họ đã kéo theo một số đóng góp khác của nhiều nhóm về những vấn đề nóng bỏng như đa đảng, quyền con người, quyền tư hữu đất, tổ chức luật pháp, hành pháp, tư pháp, quân đội phi chính trị, trưng cầu dân ý và kéo dài thời gian đóng góp ý kiến. 

Ngày 21/02/2013, nhóm sinh viên và cựu sinh viên Luật Hà Nội (4) / công bố bản kiến nghị độc lập về sửa đổi HP.  

Ngày 28/02/2013, ‘Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do’ gồm 5 điểm chính được công bố và kêu gọi những công dân khác xác nhận: muốn 

bỏ điều 4, đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội, và có quyền tuyên bố.   

Ngày 1/3/2013, Hội đồng Giám Mục VN (HĐGMVN) gởi thư đề nghị nhằm vào ba vấn đề: I) Quyền con người; II) Quyền làm chủ của nhân dân; III) Thi hành quyền bính chính trị.  Đây là lần đầu tiên các lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (CGVN) công khai và mạnh mẽ lên tiếng về một vấn đề hệ trọng của đất nước.  

Ngày 05/03/2013, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tuyên bố: « … chúng tôi vui mừng thấy giới sĩ phu đất nước, giới trẻ, giới công dân mạng đã gạt phăng sợ hãi bấy lâu, đứng lên nói bằng lời, bằng bài viết, bằng kiến nghị, bằng cả xuống đường đòi hỏi dân chủ hóa đất nước.” 

Ngày 07/03/2013 Khối 8406 lên tiếng: “…Thiết tha kêu gọi đồng bào tiếp tục ký tên ủng hộ 4 văn kiện nói trên, đồng thời ký tên ủng hộ việc mở một chiến dịch đấu tranh dân chủ, đòi nhà cầm quyền cộng sản tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ý có quốc tế giám sát,..”  

Ngày 08/03/2013 Giáo hội Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy tán đồng quan điểm chánh trị và ủng hộ các ý kiến của Đức Tăng Thống GHPGVNTN, của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, của các nhân sĩ, của anh chị sinh viên, của các Công dân Tự Do và của Khối 8406 đòi đảng Cộng sản phải trả lại quyền Lập hiến và quyền Phúc quyết (Trưng Cầu Dân Ý) của toàn dân. 

Những khó khăn kinh tế trong nước

Theo Tổng cục Thống kê thì VN trong năm 2012 chỉ tăng 5,03%, mức thấp nhất kể từ 13 năm qua (năm 1999 với 4,77%).  Kinh tế VN đang gặp nhiều khó khăn, như mức tín dụng sụt giảm mạnh – đóng băng trong bối cảnh các ngân hàng đầy nợ xấu và thiếu vốn, trong khi đó khu vực kinh tế Nhà nước vẫn hoạt động kém hiệu quả, do nạn tham nhũng và quản lý kém cỏi.

Ta thấy giảm lạm phát phần nào, tăng xuất khẩu và tăng dự trữ ngoại tệ cho năm 2012 (Hối kiều giảm từ trên 10 tỷ xuống còn dưới 9.5 tỷ).  Chỉ số giá tiêu dùng cuối năm là 6,81%, giảm mạnh so với tốc độ phi mã 18,3% của năm 2012 và thấp nhất kể từ 2009 đến nay.  

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã 8 lần hạ lãi suất giúp các công ty vượt qua khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, nhưng không chắc là biện pháp đó đủ để cải thiện tình hình trong ngắn hạn.

Trong năm giá địa ốc ở VN đã sụt giảm 30%. 

Chỉ số thị trường chứng khoán VN rơi xuống mức thấp nhất trong một năm. Công ty Moody’s và  Standard and Poor’s đã hạ điểm các trái phiếu của Việt Nam xuống hạng “mang tính đầu cơ cao”.

Hậu quả của tình trạng tăng trưởng chậm lại là thất nghiệp tăng cao. Theo một báo cáo do Tổng cục Thống kê hiện có gần 1 triệu người thất nghiệp ở Việt Nam. 

Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN).  Việt Nam muốn “hoá rồng” theo định hướng XHCN chép mô hình Chaebol qua chính sách “quả đấm thép.” Chính sách này cho thấy thất bại nặng gây nhiều hậu quả xấu.  TS Vũ Quang Việt (5) / nói nhiều về cách quản lý các doanh nghiệp nhà nước không mấy thành công.Theo TS Lê Đăng Doanh (6) / khó khăn nhất trong 20 năm qua là 2011 và cứ "đầu tư 100 đồng thì hàng hóa, tài sản tạo ra được có lẽ chỉ khoảng 40, 50 đồng, còn lại 60, 50 đồng kia nó bốc hơi."

Hệ thống tài chính – Ngân Hàng.  Với gần 50 ngân hàng trong đó có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh [Năm ngân hàng lớn nhất tại VN có tổng tài sản lên tới 63 tỷ đô la.] và 5 ngân hàng nước ngoài. Việt Nam lúng túng trong việc đối phó với lạm phát từ 2008 đến nay 2012 chỉ vì hệ thống tài chính, thị trường tài chính (thị trường vốn + thị trường tiền tệ) bị chính phủ/Ngân hang quốc doanh chi phối. 

Theo công ty tư vấn Anh Quốc Capital Economics đánh giá rằng nợ xấu tại Việt Nam có thể cao gấp ba lần con số thẩm định chính thức và có thể tăng nhanh. 

Nợ xấu ngân hàng cao kỷ lục

Mới đây theo báo cáo của Ủy ban Tài chính của Quốc Hội VN thì “…Tình hình kinh tế và ngân sách hiện nay phải dùng từ “cực kỳ khó khăn.” (7) / và cho số liệu về nợ công của ViệtNam.


Số liệu nợ công từ năm 2003 (tính trên %GDP) 

Trong số nợ trên, và theo định nghĩa nợ công của VNthì chỉ tính nợ được nhà nước bảo lãnh mà "không kể" nhiều khoản nợ rất lớn của DNNN.  Cách tính nợ của World Bank và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được xác định là tổng khoản vay mượn và trái phiếu phát hành hoặc được bảo lãnh phát hành bởi chính quyền Trung ương, địa phương và cả DNNN. Do đó, số nợ công VN của VN không phải là 54.9% mà lên gần 95% GDP. 

NHNN cho là số nợ xấu là 4.9% GDP trong khi cơ quan giám sát nói là hơn 8,8%, và thống đốc ngân hàng đưa ra 10% còn các nhà phân tích công bố tỷ lệ này cao hơn mức 10%.  Theo TS V. Quang Việt  thì nếu dùng tiêu chuẩn quốc tế (nợ không trả được sau một số thời gian + nợ DNNN + nợ do nhà nước bảo đảm) thì nợ xấu có thể lên cao hơn nhiều và các vụ vay bất động sản và các món vay của DNNN là chính. 

Trong cuộc họp ngày 18/12/12 với lãnh đạo thành phố HCM, (8) / TT Nguyễn Tấn Dũng cho biết, tổng số nợ xấu của Việt Nam năm 2012 khoảng 400.000 tỷ đồng, trong đó nợ xấu từ bất động sản chiếm 70%, tương đương 140.000 tỷ đồng.  

VN cũng đưa ra một gói tín dụng 30,000 tỷ giúp khu vực bất động sản. Theo người viết / thì gói “tín dụng ưu đãi” chỉ giải các vấn đề ngắn hạn (band aid solution) mà không giúp đi đến cải cách cơ cấu trong nghành bất động sản.  Sẽ có nhiều xác xuất (probability) gây thêm tham nhũng vì lãi suất < 6% trong khi lạm phất > 6%. Nó cũng sẽ gây thêm nợ xấu vì cách tài trợ của các ngân hàng.

Hiện nay có nhiều tranh chấp trong nội bộ chính trị VN, có nhiều vụ bắt bớ, đàn áp các người muốn tỏ ý chống TQ và các khó khăn kinh tế cực kỳ khó khăn.Vậy theođúng tham luận của ông NTD thì VN làm gì để lấy niềm tin chiến lược của dân trong nước?  

Nếu chính quyền, như trong tham luận của TT NTD tạo được niềm tin trong dân chúng và trí thức ví dụ như là chính quyền hay Quốc Hội bàn bạc việc thay đổi có thật với KN 72 và thả các công dân chống đối TQ một cách ôn hòa thì nhiều hồ sơ tiềm tàng gây bất ổn ở VN sẽ giảm đi rất nhiều.

Việc này sẽ gây niềm tin và việc thay đổi cơ cấu kinh tế, chính trị, việc đứng lên bảo vệ quyền lợi VN tại Biển Đông sẽ dễ hơn nhiều.

Kết luận

Tại Shangri La, TT NTD đã đưa ra một bước đi mới về chính sách đối ngoại, khác với quá khứ và đã giám chỉ trích “gián tiếp” các hành động “cường quyết, phi lý, trái với luật của TQ.”  

Nếu nhanh chóng rút ra được các bài học đang diễn ra quanh mình như tại Myanmar, VN có thể tìm được nhiều giải pháp để “chấn chỉnh lòng tin của dân chúng.” Nếu lời nói của TT NTD tại Shangri La đi đôi với việc áp dụng “gây dựng lòng tin chiến lược với các nhóm trong xã hội VN” thì cơ hội chấn chỉnh cơ cấu, kinh tế, kiềm chế các nhóm lợi ích, thả các người bị bỏ tù vì ý kiến sẽ giúp cho việc chuyển biến, thay đổi cơ cấu trong xã hội một cách có trật tự. Liệu TT NTD có thể làm việc này hay không?

TS ĐXQ


Nguyễn Hưng Quốc - Ai có thể đánh bại được Cộng sản?


Nguyễn Hưng Quốc



Nhìn lại lịch sử tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng sản trong gần suốt thế kỷ 20, nhận xét đầu tiên người ta có thể rút ra là: Không ai có thể đánh bại được Cộng sản.

Nhận xét ấy được hỗ trợ bởi hai bằng chứng:

Thứ nhất, trên phạm vi toàn cầu, trong 70 năm đầu tiên, chủ nghĩa Cộng sản phát triển cực nhanh, nhanh đến độ dường như không có ai và không có cái gì có thể ngăn cản được. Ra đời tại Nga năm 1917, năm năm sau, 1922, Liên bang Xô Viết được thành lập với vai trò nòng cốt của Nga, châu tuần bởi các nước láng giềng nhỏ của Nga, như Ukraine, Belarus, Georgia, Armenia và Azerbaijan. Sau đó, một số nước khác bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết, như Estonia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Đến giữa thập niên 1980, Liên bang Xô Viết, với diện tích trên 22 triệu cây số vuông và đường biên giới trên 60.000 km, chiếm đến một phần sáu diện tích trái đất, rộng bằng cả Bắc Mỹ. Năm 1945, sau Đệ nhị thế chiến, một số nước thuộc Trung Âu và Đông Âu lần lượt rơi vào tay Cộng sản: Albania, Ba Lan, Bosnia, Bulgaria, Croatia, Đông Đức, Hungary, Macedonia, Montenegro, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, Tiệp Khắc, Nam Tư. Sau đó nữa là các nước thuộc châu Á và châu Phi, như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Afghanistan, Campuchia, Congo, Mông Cổ, Yemen, Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Somalia, Eritrea và Mozambique. Vào giữa thập niên 1980, khối Cộng sản rất mạnh, chiếm một phần ba dân số thế giới. Cho đến lúc ấy, câu khẩu hiệu chủ nghĩa Marx-Lenin hoặc chủ nghĩa Cộng sản bách chiến bách thắng vang lên khắp nơi. Dân chúng ở các nước Cộng sản, vốn bị nhồi sọ, tin điều đó, đã đành. Ngay phần lớn dân chúng ở Tây phương, tuy biết tất cả những mặt trái đầy tiêu cực của chủ nghĩa Cộng sản, vẫn không tin là Tây phương có thể đánh bại được Cộng sản.

Thứ hai, dù cả hai bên, tư bản và Cộng sản, lúc nào cũng cố gắng tự kiềm chế, nhưng ít nhất cũng có hai nơi cuộc chiến tranh lạnh đã biến thành chiến tranh nóng: Ở Triều Tiên trong ba năm, 1950-1953, và ở Việt Nam, từ 1954 đến 1975. Ở trận chiến đầu, hai bên hòa nhau, Triều Tiên bị chia đôi, Nam và Bắc. Điểm phân cách vẫn là vĩ tuyến 38, đúng với quyết định của phe Đồng Minh trong hội nghị Potsdam vào tháng 8 năm 1945. Ở trận chiến sau, Mỹ tự nhận là thua sau khi rút khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. (Về điểm này, tôi có phân tích khá kỹ trong bài “1975: Việt Nam có thắng Mỹ?”. Ở đây, tôi tạm thời chấp nhận cách nhìn quen thuộc và phổ biến để khỏi bị gián đoạn mạch lý luận trong bài viết này.)

Có điều, từ nhận xét nêu ở đầu bài viết, không ai có thể đánh bại được Cộng sản, người ta lại chứng kiến một sự kiện oái oăm vào thời điểm bản lề giữa hai thập niên 1980 và 1990: chủ nghĩa Cộng sản đã bị sụp đổ trên phạm vi toàn cầu. Cái gọi là “sụp đổ” ấy có hai mức độ: sụp đổ hoàn toàn và sụp đổ một phần, hơn nữa, phần lớn. Nhưng dù sụp đổ hoàn toàn hay sụp đổ một phần thì cũng vẫn là sụp đổ. Một sự sụp đổ lớn lao, nhanh chóng, và đặc biệt, hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của mọi người ở mọi phía.

Sự sụp đổ hoàn toàn diễn ra ở Nga, Đông Âu, Trung Âu, Trung Đông, Trung Mỹ và châu Phi.

Trước hết, ở châu Âu, chỉ trong vòng chưa tới ba năm, toàn bộ các đảng Cộng sản đang nắm quyền sinh sát gần như tuyệt đối ở Đông Âu và Trung Âu đều mất sạch quyền hành; chế độ độc đảng trở thành đa đảng; bầu cử tự do được tổ chức khắp nơi, các thành phần đối lập hoặc lên cầm quyền hoặc được chia quyền (ở Ba Lan, ngày 4/6/1989; Turkmenistan 7/1/1990; Uzbekistan 18/2/1990; Lithuania 24/2/1990; Moldova 25/2/1990; Kyrgyzstan 25/2/1990; Belarus 3/3/1990; Nga 4/3/1990; Ukraine 4/3/1990; Đông Đức 18/3/1990; Estonia 18/3/1990; Latvia 18/3/1990; Hungary 25/3/1990; Kazakhstan 25/3/1990; Slovenia 8/4/1990; Croatia 24/4/1990; Romania 20/5/1990; Armenia 20/5/1990; Tiệp Khắc 8/6/1990; Bulgaria 10/6/1990; Azerbaijan 30/9/1990; Georgia 28/10/1990; Macedonia 11/11/1990; Bosnia & Herzegovina 18/11/1990; Serbia 8/12/1990; Montenegro 9/12/1990; và Albania 7/4/1991). Liên bang Xô Viết tan rã. Hầu hết các quốc gia trước đây bị sáp nhập vào Liên bang đều tuyên bố độc lập hoặc tự trị. Ngay cả ở Nga, đảng Cộng sản không những bị mất quyền mà còn bị khinh bỉ và tẩy chay, không còn đóng vai trò gì trên bàn cờ chính trị quốc nội.

Xin lưu ý; sự sụp đổ của chế độ Cộng sản ở các nước trên đều diễn ra rất gọn gàng, không gây xáo trộn và đặc biệt, không đổ máu, trừ Romania, nơi Ceaușescu bị lật đổ và giết chết, kéo theo cái chết của khoảng 1.100 người khác.

Sự sụp đổ ấy nhanh chóng lan sang các vùng khác, đặc biệt các vùng Trung Mỹ, Trung Đông và châu Phi. Năm 1990, ở Nicaragua, sau một cuộc bầu cử tự do, đảng Cộng sản mất quyền; ở Angola, cuộc chiến giữa Cộng sản và phe chống Cộng chấm dứt; năm 1991, ở Ethiopia, Trung tá Mengistu Meriam, nhà độc tài Cộng sản từng thống trị đất nước suốt gần 15 năm, chạy trốn khỏi đất nước, và Eritrea tuyên bố tách khỏi Ethopia, trở thành độc lập và từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản. Ở Trung Đông, năm 1990, chế độ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Yemen bị sụp đổ, sau đó, hợp nhất với Nam Yemen, thành lập nước Cộng hòa Yemen; ở Afghanistan, chế độ Cộng sản của Najibullah sụp đổ vào mùa xuân 1992.

Sự sụp đổ một phần diễn ra ở Trung Quốc, Lào, Cuba và Việt Nam.

Chế độ Cộng sản, như nó từng tồn tại từ năm 1917 đến cuối thập niên 1980, dựa trên ba nền tảng chính: Về ý thức hệ, dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin; về kinh tế, dựa trên chính sách quốc hữu hóa và nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung; và về bộ máy quyền lực, dựa trên sức mạnh độc tôn của đảng, công an và quân đội. Ở cả bốn quốc gia kể trên, từ đầu thập niên 1990, nền tảng ý thức hệ coi như đã bị phá sản; nền tảng kinh tế cũng bị biến chất theo chiều hướng tư bản hóa. Trên cái thế kiềng ba chân của chế độ, hai chân đã bị sụp. Chỉ còn một chân là bộ máy quyền lực. Gọi chế độ Cộng sản ở bốn quốc gia này bị sụp đổ một phần, thậm chí, phần lớn, là vậy.

Trên thế giới hiện nay, chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ được chế độ Cộng sản chính thống và “truyền thống” trước năm 1990, đó là Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, không ai xem đó là điều đáng tự hào. Ngược lại. Nó chỉ bị xem là một thứ quái thai.

Như vậy, chúng ta chứng kiến một nghịch lý: một mặt, có cảm tưởng như không ai có thể đánh bại được Cộng sản; mặt khác, chỉ trong vòng mấy năm thật ngắn ngủi, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều thi nhau ngã gục. Vậy thì ai đánh bại nó?

Có nhiều câu trả lời đã được đưa ra. Nhưng câu trả lời được nhiều học giả đồng tình nhất là: Không có ai đánh bại Cộng sản cả. Chỉ có Cộng sản mới đánh bại được Cộng sản.

Cộng sản đánh bại Cộng sản bằng cách nào?

Bằng nhiều cách. Thứ nhất, bằng các sai lầm có tính hệ thống trong kinh tế khiến nước Cộng sản nào cũng nghèo đói xơ xác. Giữa thập niên 1980, phần lớn các cửa hàng quốc doanh, kể cả cửa hàng thực phẩm, ở phần lớn các nước Cộng sản, bao gồm cả Liên Xô, đều trống không. Nợ nước ngoài chồng chất. Riêng Ba Lan, nơi chế độ Cộng sản sụp đổ đầu tiên, nợ các nước Tây phương đến trên 100 tỉ đô la và đối diện với nguy cơ không thể trả được. Thứ hai, tình hình kinh tế tồi tệ ấy càng tồi tệ thêm nữa do nạn tham nhũng tràn ngập ở mọi cấp. Thứ ba, những thất bại về kinh tế, sự hoành hành của tham nhũng và những chính sách độc tài tàn bạo của chính quyền làm dân chúng bất mãn và nổi dậy tranh đấu đòi thay đổi chính sách, đặc biệt, dân chủ hóa. Cuối cùng, đối diện với tất cả các vấn đề ấy, hầu như mọi người, kể cả các cán bộ cao cấp nhất, đều mất hẳn niềm tin vào chủ nghĩa Cộng sản. Họ biết chắc chắn một điều: họ không thể tiếp tục tồn tại được nếu họ không tự thay đổi. Chính sách glasnost và perestroika của Mikhail Gorbachev ra đời là để đáp ứng lại nhu cầu đó. Nhưng ngay cả khi đưa ra chính sách cải tổ và tái cấu trúc như vậy, giới lãnh đạo vẫn không an tâm hẳn. Họ biết đó chỉ là những biện pháp vá víu. Tự thâm tâm, tất cả đều mất niềm tin vào chế độ.

Chính vì mất niềm tin như vậy nên ở những thời điểm quan trọng nhất, mọi người đều đâm ra hoang mang, không ai dám quyết định điều gì. Ngày 9 tháng 11 năm 1989, khi dân chúng đổ xuống đường biểu tình trước bức tường Bá Linh, bộ đội và công an, dù đông hơn hẳn, không biết đối phó thế nào. Họ gọi điện thoại lên cấp trên. Các cấp trên của họ sợ trách nhiệm, cứ đùn qua đẩy lại với nhau: Cuối cùng bức tường bị đổ. Ở Nga cũng vậy, trước các cuộc xuống đường của dân chúng, không ai dám ra lệnh quân đội hay công an nã súng vào dân chúng: cuối cùng, chế độ sụp.

Không phải cán bộ, công an hay giới lãnh đạo bỗng dưng nhân đạo hơn. Không. Ở đây không phải là sự thay đổi trong tính khí. Mà ở nhận thức. Tất cả đều nhận thức được sâu sắc mấy điểm chính: Một, ngày tàn của chế độ Cộng sản đã điểm; nó không thể tồn tại thêm được nữa. Hai, nó cũng không thể cứu được. Mọi nỗ lực cứu vớt đều tuyệt vọng và chỉ gây tai họa không những cho đất nước mà còn cả cho chính bản thân họ. Cuối cùng, như là hệ quả của hai điều ấy, chọn lựa tốt nhất mà họ nên làm là buông tay bỏ cuộc.

Cả ba nhận thức ấy đều không thể có nếu không có hai điều kiện: Thứ nhất, người ta có dịp so sánh với sự giàu có, tự do và dân chủ ở Tây phương và thứ hai, các nỗ lực tranh đấu không ngưng nghỉ của dân chúng, đặc biệt giới trí thức, trong việc vạch trần các sai lầm và tội ác của chế độ. Cả hai điều kiện đều quan trọng, nhưng điều kiện thứ nhất chỉ có thể phát huy được tác dụng là nhờ điều kiện thứ hai. Những sự phê phán và tranh đấu cho dân chủ liên tục càng ngày càng làm nổi bật sự khác biệt sâu sắc giữa tự do và toàn trị, càng làm lung lạc niềm tin ngay cả ở những kẻ cuồng tín và mê tín nhất, cuối cùng, cô lập những kẻ lì lợm bám víu vào bộ máy độc tài. Khi sự cô lập đến mức độ nào đó, người ta chỉ còn hai lựa chọn: hoặc trở thành Gorbachev hoặc trở thành Ceaușescu (hay gần hơn, Muammar Gaddafi ở Libya).


Lê Phan - Quan hệ Mỹ-Trung


Lê Phan

Vào tháng 2 năm 1950, khi thế giới đang bắt đầu bước vào cuộc Chiến Tranh Lạnh, Thủ Tướng Winston Churchill đã yêu cầu một cuộc họp cấp cao với Liên Xô, tin tưởng như chính lời của ông, thật khó có thể thấy “tình hình tệ hơn sau một cuộc thảo luận thượng đỉnh”. Cho đến lúc đó, danh từ “thượng đỉnh” không có trong lịch sử ngoại giao. Nhưng năm 1950 là năm mà người ta nghĩ đến thượng đỉnh, bởi đó là năm các nhà thám hiểm tìm cách lên đến đỉnh ngọn Everest. Thành ra khi ông Churchill lại một lần nữa dùng đến danh từ này, vào tháng 5 năm 1953, kêu gọi một quyết tâm cho hòa bình “ở một thượng đỉnh các quốc gia” thì ai cũng ngỡ là hoàn cảnh thuận lợi hơn. Lúc đó hai nhà mạo hiểm Edmund Hillary và Tenzing Norgay đang leo lên đỉnh Everest và vào cuối tháng đó họ đạt đích.


Năm nay đánh dấu đúng 60 năm của cả hội nghị thượng đỉnh ngoại giao lẫn việc lên được đến đỉnh cao nhất của thế giới. Năm nay cũng là năm thế giới đang đứng bên bờ của một giai đoạn khủng hoảng sắp tới.

Các sử gia thường xuyên khuyến cáo là trong suốt lịch sử nhân loại, chưa có sự canh tranh giữa một cường quốc đang lên và một cường quốc đang tại vị mà lại không có chiến tranh đụng độ. Trừ có mỗi một trường hợp, đó là sự Hoa Kỳ thay thế Anh, trở thành cường quốc đứng đầu thế giới. Nhưng các sử gia cũng chỉ ra là sự việc đó chỉ có thể xảy ra vì ở một khía cạnh nào đó, Anh Quốc không cảm thấy bị đe dọa từ Mỹ và chấp nhận điều mà một vị lãnh tụ Anh đã gọi là “a gentle decline”. Dầu sao chăng nữa Anh và Mỹ vẫn còn có nhiều liên hệ. Nói theo quan niệm người Việt Nam mình thì họ là anh em họ.

Nhưng các trường hợp khác chưa bao giờ được như vậy. Cách đây một thế kỷ, sự trỗi dậy của Ðức trở thành một cường quốc đã phá tan thăng bằng quyền lực cũ và trật tự ở Âu Châu, dẫn đến một sự đụng độ mà kết quả là hai cuộc thế chiến. Xa hơn nữa, từ thời cổ đại ở Âu Châu, sự lo sợ của Sparta trước sự trỗi dậy của Athens đã dẫn đến một cuộc chiến mà kết quả là toàn thể trật tự thế giới cổ đại tan tành.

Cuộc gặp gỡ mà Tòa Bạch Ốc gọi là để “làm quen” giữa Tổng Thống Barack H. Obama và Chủ Tịch Nước Tập Cận Bình, cũng có thể coi như là một cố gắng thượng đỉnh nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của trật tự thế giới hiện nay.

Trong mấy tháng nay, Bắc Kinh đã nói đến rất nhiều về điều mà họ gọi là “một liên hệ cường quốc mới”. Nhưng thực sự họ muốn nói gì với một điều mà hầu như đã trở thành thần chú. Washington cũng rất muốn tìm hiểu.

Tòa Bạch Ốc đã đưa ra chỉ dấu là sẽ không có loan báo gì quan trọng. Thay vì vậy, họ hy vọng hai lãnh tụ có thể hợp ý nhau. Hai vị đã dự định đến sáu giờ nói chuyện không bị ép vào khuôn khổ của một phòng họp chính thức. Ðề tài bao gồm an ninh Internet, Bắc Hàn, nhân quyền, biển Hoa Ðông, biển Hoa Nam, và liên hệ quân sự.

Một trong những điều mà Tòa Bạch Ốc sẽ muốn theo dõi là những chỉ dấu cho thấy ông Tập, khác với các vị tiền nhiệm, có công nhận là chiến dịch tình báo trong thế giới ảo, vốn nay đang bị giới doanh nghiệp coi như là một đe dọa chiến lược chứ không phải chỉ là chuyện làm ăn không thôi.

Nghị trình mở cũng có cái đáng ngạc nhiên của nó. Năm 1961, Tổng Thống John F. Kennedy, vừa đắc cử, đề nghị một cuộc họp không chính thức với Thủ Tướng Nikita Khrushchev. Và họ đã gặp nhau hai ngày ở Vienna. Mọi sự đã thất bại ngay từ đầu. Hai ông đụng độ nhau về quy chế của Berlin, về vũ khí hạt nhân, về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Vào cuối cuộc thương thảo, ông Khrushchev tuyên bố “Tùy Hoa Kỳ quyết định xem liệu sẽ có chiến tranh hay hòa bình”. Ông Kennedy đã trả lời “Vậy, thưa ông chủ tịch, sẽ có chiến tranh. Sẽ là một Mùa Ðông giá rét.”

Một số các nhà bình luận, nhất là những chuyên gia về Trung Quốc của Hoa Kỳ thì tin là có cơ hội cho hội nghị thượng đỉnh này thành công vì nó là để tạo liên hệ thay vì trao đổi hiệp định.

Những hội nghị thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trước đến nay thường gặp nhiều khó khăn. Mà một trong những khó khăn đầu tiên là vì các lãnh tụ đến họp không có đủ thẩm quyền để có thể áp đặt quyết định của mình đối với hàng lãnh đạo trong nội bộ đảng. Sở dĩ cuộc gặp gỡ giữa ông Mao và ông Nixon ở Bắc Kinh năm 1972 đã thành công vì ông Mao có đủ uy quyền để gạt sang một bên những tiếng nói chỉ trích trong nội bộ đảng. Cũng vậy, khi ông Ðặng Tiểu Bình đến thăm vào năm 1979, ông cũng đã củng cố được nội bộ.

Nhưng năm 2011, Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào cần nghi thức 21 phát súng thần công chào mừng để chứng tỏ là mình có quyền, trong khi không dám nói gì khác ngoài những công thức có sẵn do tập thể lãnh đạo đưa ra. Một số các nhà bình luận chỉ ra là khi nhận gặp gỡ thân mật, ông Tập có lẽ đã củng cố đủ địa vị của mình để không cần lễ nghi quân cách như ông Hồ. Nhưng những người khác thì chỉ ra là ông Tập tuy có vẻ cởi mở nhưng chưa từng nói ra điều gì không đúng “giáo điều” của đảng.

Mà “liên hệ nước lớn” mà Bắc Kinh muốn đó là gì? Cho đến nay, các viên chức Trung Quốc thường hay nói một cách chung chung. Họ nói đến “tôn trọng lẫn nhau, quyền lợi hỗ tương, và hợp tác song phương” hay là nhu cầu “luật lệ được tôn trọng”.

Ở Washington, một số những người ưa nghi ngờ sợ điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ phải chấp nhận lập trường của Bắc Kinh trong những vấn đề tế nhị như về quy chế của Ðài Loan, về Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, và ngay cả về quần đảo Sensaku/Ðiếu Ngư, và biển Ðông, như là điều kiện tiên quyết cho hợp tác về những vấn đề khác.

“Nếu Trung Quốc nghĩ một khuôn khổ mới là một khí cụ để buộc Hoa Kỳ tôn trọng những điều mà Trung Quốc gọi là quyền lợi cốt lõi thì tôi sợ là chúng ta đang đi đến thất bại,” ông Paul Haenle, cựu giám đốc Trung Quốc tại Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ nhận định. “Nếu đó là điểm khởi đầu cho hợp tác của Trung Quốc, thì nó sẽ không đạt được gì cả.”

Ở một khía cạnh nào đó, triển vọng một cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là chuyện khó tránh được. Không một cường quốc đương thời nào lại chấp nhận bị thách thức, bị đẩy ra khỏi vị thế mà họ nghĩ là an toàn. Ông Tập chẳng đã từng nói với các lãnh đạo đảng là “đám ngoại quốc với bụng no kềnh và không có việc gì làm ngoài chỉ trích công việc của chúng ta”.

Nhưng ông Obama cũng đã tuyên bố “Tôi hoàn toàn tin sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc tốt cho thế giới và tốt cho Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ muốn bảo đảm là sự trỗi dậy đó xảy ra trong một phong cách mà sẽ củng cố luật lệ quốc tế và tăng cường an ninh.” Và cũng đừng quên là khi một Tổng Thống Obama còn non nớt, vừa nhậm chức đến thăm Trung Quốc, ông đã bị Bắc Kinh làm bẽ mặt. Kinh nghiệm đó khó phai nhạt lắm.