Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối


Lê Hữu

“Anh cho em mùa xuân
nhạc, thơ tràn muôn lối”...
(Nguyễn Hiền & Kim Tuấn)

“Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về, thấy trên bàn giấy có một tập thơ mỏng, tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ năm chữ ‘Nụ hoa vàng ngày xuân’. Ðọc qua thấy hay hay và đang lúc lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề, tôi nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn, tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay, và chỉ độ một, hai tiếng là xong bài nhạc. Xong, tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc... Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết, ‘Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài, nhưng không gặp được anh.’ Tôi nói, ‘Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong.’ Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra và… hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc, ‘Anh cho em mùa xuân’...”


      Người kể câu chuyện trên là nhạc sĩ Nguyễn Hiền. “Anh chàng trẻ tuổi” trong câu chuyện ấy là nhà thơ Kim Tuấn. Câu chuyện từng được nhạc sĩ Nguyễn Hiền kể không ít lần ở nơi này nơi khác, với người này người khác, những người muốn biết bài nhạc “Anh cho em mùa xuân” được ra đời như thế nào(?).

      Sau mỗi lần kể ấy ông đều kết luận, “Chuyện gì cũng có cái ‘duyên’ trong cuộc đời này.” Ông nói vậy và ông tin như vậy. Ông đã tin như vậy trong suốt cuộc đời mình.      

Trăng quê người, trăng quê mình 

Cái “duyên” mà nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói đến qua câu chuyện ấy là gì, nếu không phải là mối duyên cho ông “gặp” bài thơ ấy và tác giả bài thơ ấy. 

      Nếu không có mối duyên ấy thì “Nụ hoa vàng ngày xuân” dẫu có là bài thơ hay vẫn chỉ là bài thơ nằm im lìm trong những trang thơ.

      Nếu không có mối duyên ấy thì sẽ không có “Anh cho em mùa xuân”, một trong những bài nhạc xuân hay nhất của người Việt.

      Nếu không có mối duyên ấy thì chàng trai trẻ trong câu chuyện trên, tác giả “Nụ hoa vàng ngày xuân”, chắc sẽ không được nhiều nhạc sĩ tìm đến thơ chàng để phổ nhạc (để mong có thêm được một “Anh cho em mùa xuân” khác).

      Thế nhưng, “Anh cho em mùa xuân” có thực sự là một trong những bài nhạc xuân hay nhất? Hầu như trước giờ chúng ta chưa từng làm công việc tuyển chọn những bài hay nhất trong số những bài nhạc xuân, thế nhưng, ở trong nước thì đã có làm. Tết Ðinh Hợi năm kia, báo chí trong nước (Tuổi Trẻ Online, 10/2/2007) đã tổ chức một cuộc thi gọi là “bình chọn ca khúc Xuân hay nhất”. Cách bình chọn: độc giả chọn ra ca khúc mình yêu thích nhất trong một danh sách... đã được chọn sẵn gồm 22 bài nhạc xuân. Ba bài có số phiếu bình chọn cao nhất sẽ đạt danh hiệu “Những Ca Khúc Xuân Hay Nhất”. Trong danh sách ấy có 8 bài của các nhạc sĩ ở miền Nam trước năm 1975 (tất nhiên là không có những bài chưa được phép phổ biến ở trong nước). Ðiều thú vị, kết quả cuộc bình chọn: ca khúc đứng đầu trong số ba “Ca Khúc Xuân Hay Nhất” là “Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền, một nhạc sĩ miền Nam, sống ở nước ngoài, và đã qua đời. (Hai ca khúc xếp hạng nhì và ba thuộc về các nhạc sĩ ở trong nước). 

      Trước đó, “Anh cho em mùa xuân” cũng từng góp mặt trong “Tuyển Tập Những Ca Khúc Hay Nhất Về Mùa Xuân” phát hành ở trong nước (nxb Mũi Cà Mau, 12/2004).

      Người Việt ở ngoài nước hát “Anh cho em mùa xuân”, người Việt ở trong nước cũng hát “Anh cho em mùa xuân” (và còn bình chọn là “Ca Khúc Xuân Hay Nhất”). 

      Không chỉ là một trong những bài nhạc xuân hay nhất, “Anh cho em mùa xuân” còn là một trong những bài nhạc phổ thơ hay nhất. 

      Khi làm công việc “lấy thơ ghép nhạc”, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã không đổi một chữ nào trong ba đoạn thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” (từ câu thơ đầu cho đến câu “mùa xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá...”). Ông nhớ lại, “Thật là hứng thú khi tôi lấy ba câu thơ đầu (“Anh cho em mùa xuân / Nụ hoa vàng mới nở / Chiều đông nào nhung nhớ”...) phổ thành một câu nhạc, thấy đi rất ‘ngọt’ nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc.” Ðiều gì khiến ông phổ nhạc rất “ngọt”, rất nhanh bài thơ ấy? Có phải vì ông “bắt” được “tình thơ ý nhạc”? Có phải vì ông tìm thấy “trong thơ có nhạc” và ông chỉ làm công việc ghi xuống những notes, những ký hiệu âm thanh trên những dòng kẻ nhạc. Công việc có vẻ đơn giản ấy (không phải là ai cũng làm được) đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”. Nhiều người viết nhạc chỉ mong phổ được một bài thơ như ông, không chút gượng ép, đi rất “ngọt”, đi rất ngon trớn, rất tự nhiên, như nguồn nhạc hứng dâng trào, như nhạc và thơ chảy tràn như suối... 

      “Anh cho em mùa xuân” được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần đầu, được ca sĩ Lệ Thanh trình bày lần đầu qua dĩa nhựa và làn sóng đài phát thanh Saigon, và cũng gắn liền tên tuổi cô vào “cái thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Tuy nhiên, nhà thơ Kim Tuấn–trong một bài trả lời phỏng vấn trong nước (báo Thanh Niên, 22/01/2006)–cho biết là ông “chịu” Hà Thanh hát bài ấy nhất, và muốn được gửi đến ca sĩ ấy một lời cám ơn... muộn màng.

      Trở lại chuyện “mối duyên trong cuộc đời này”, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi chắc nhiều người cũng tin như ông vậy. Nếu không có cái “duyên” ấy thì dẫu có đi hết cuộc đời mình cũng chẳng ai gặp được ai, hay nếu có gặp, có “đụng” phải nhau thì cũng lại dạt ra, lại mỗi người một hướng, mỗi người một dòng chảy, cũng tựa như những anh chàng, những cô nàng vớ vẩn mà ta có lần gặp gỡ phất phơ đâu đó trong đời này, nói dăm ba câu chuyện nắng mưa rồi chia tay đường ai nấy đi và chẳng bao giờ còn gặp lại lần thứ hai.  

      Không phải chỉ “duyên” thôi, tôi chắc nhạc sĩ Nguyễn Hiền còn tin cả vào... “duyên số”, hay “duyên kiếp”, hay “duyên tơ” nữa. Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao hơn năm mươi năm về trước lại có cuộc hạnh ngộ giữa chàng nghệ sĩ tài hoa và cô cháu gái xinh đẹp của nhà thơ Tú Mỡ (khiến lòng nàng phải xao xuyến, khiến lòng chàng phải bâng khuâng “trăm năm biết có duyên gì hay không?”). Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao có ngày lễ vàng kỷ niệm 50 năm nên vợ thành chồng(?). 

      Trong một lần tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi được nghe ông nói thêm một chút về điều mà ông gọi là “cái ‘duyên’ trong cuộc đời này”. “Đúng vào ngày đó giờ đó,” ông nói, “gặp người nào đó ở nơi nào đó, một quán ăn, quán nước chẳng hạn, không phải là chuyện tình cờ, ngẫu nhiên như ta tưởng mà mọi việc đều có bàn tay sắp đặt. Đấy là bàn tay của định mệnh, hay... “định mệnh đã an bài.” Những chuyện như thế từng xảy đến trong cuộc đời tôi và tôi thực sự tin vào điều ông nói. Tôi cũng muốn thêm rằng: thứ nhất, những mối duyên kỳ ngộ ấy có khi dẫn chúng ta đến một lối rẽ khác trong cuộc đời; thứ hai, đôi lúc có những con người, tuy chỉ gặp một lần thoáng qua trong đời–chẳng biết có là duyên hay không duyên–cũng làm ta nhớ mãi nhớ hoài. Những con người đặc biệt. Cái “đặc biệt” ấy có thể là một vẻ đẹp thu hút, một nhân cách đáng quý, một câu nói hàm xúc, một hành xử ý nghĩa… Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi vẫn cho rằng ông là một trong những người “đặc biệt” như thế.

      Lần tiếp xúc duy nhất ấy kéo dài không quá... ba mươi phút nên chắc khó có thể gọi là “cái duyên” như ông nói, nhưng khá thú vị và cũng cho tôi thấy được phần nào tính cách con người ông; hơn thế nữa, còn gieo vào lòng tôi những cảm xúc sâu đậm. Tôi gặp ông trong một tiệc cưới ở nhà hàng Dalat Bistro, đường Brookhurst, Nam Calif. vào một đêm hè cuối tháng 7/2004. Ông đứng lên từ một bàn tiệc, cúi chào mọi người khi nghe giới thiệu tên mình trong số “khách đặc biệt”. Một “khách đặc biệt” khác tôi nhớ được là ca sĩ Ngọc Minh, chị hát bài gì đó tặng cho đôi tân hôn... Vào lúc nào đó gần cuối bữa tiệc, đầu óc váng vất vì có uống chút rượu, tôi đứng dậy, bước ra cửa tìm chút thoáng gió bên ngoài. Trước mặt tôi là khoảng parking rộng. Một bóng người đứng ở góc khuất. Người ấy quay lại, mỉm cười khi nhìn thấy tôi. Khi bước lại gần, tôi nhận ra ông, nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Ông đứng đó một mình, hút thuốc (ông tưởng tôi cùng “phe” hút thuốc với ông chắc). “Anh nói được lắm,” ông ngó tôi, nói, “ngắn gọn, ý nghĩa.” Khi ấy tôi mới hiểu ra nụ cười của ông. Ông nhận ra tôi, người đại diện hai họ có “đôi lời phát biểu” để chào đón khách đến với buổi tiệc cưới. Tôi nói cám ơn ông (ông không biết những lời ấy tôi gần như... thuộc lòng vì từng nói đi nói lại nhiều lần) và hân hạnh được biết ông. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên khi biết tôi từ nơi xa đến để làm chủ hôn cho đứa cháu sống một thân một mình ở Mỹ... Sau ít câu thăm hỏi xã giao, lúc ông lặng yên nhìn ánh trăng trên ngọn cây, tôi nhắc đến câu hát “trăng sáng soi liếp dừa” trong bài “Anh cho em mùa xuân” của ông. Tôi cũng “tán” thêm là tôi rất thích những câu hát mang theo hình ảnh hàng dừa, liếp dừa, như là:
      Đêm trăng ướt lá dừa... (“Tình quê hương”, Ðan Thọ & Phan Lạc Tuyên)
      Hàng dừa nghiêng thương nhớ... (“Thuở ban đầu”, Phạm Ðình Chương)
      Chiều xưa, gió êm lay nhẹ liếp dừa... (“Bóng người đi”, Văn Phụng)
      Gió mang mùa xuân tới, hôn liếp dừa lên hương... (“Mộng ban đầu”, Hoàng Trọng)

      “Còn nữa,” ông nói, dụi tắt điếu thuốc, “‘mắt xanh là bóng dừa hoang dại’, Phạm Ðình Chương phổ thơ Ðinh Hùng.”

      “Hàng dừa mang hình ảnh rất... quê hương Việt Nam,” tôi nói.

      “‘Hàng cau’ thì đúng hơn, theo tôi.”  

      Câu nói của ông làm tôi… “khựng” lại trong giây phút.

      “‘Trăng sáng soi liếp dừa’ và ‘trăng lên bằng ngọn cau’ (1),” ông nói. “Hai trăng đều trăng cả, trăng nào ‘quê hương’ hơn?”

      Tôi phải chịu là ông nói đúng. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?”… Tôi chỉ nghĩ đến vẻ đẹp của những hàng dừa, liếp dừa, bóng dừa..., trong lúc ông luôn cất dấu trong đáy tim hình bóng quê nhà. Ngọn cau, hàng cau, hoa cau, hương cau…, đấy mới là quê hương. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngay lúc ấy tôi nhận ra nơi ông một điều, ông yêu quê hương hơn tôi và hơn rất nhiều người khác. Ông yêu quê hương theo cách của ông.

      Tôi cũng ngước nhìn trời. Trăng chưa thật tròn, nhưng thật sáng. Vầng trăng như vừa xa xôi lại vừa gần gụi. Đêm bỗng trở nên yên tĩnh. Trong lòng tôi khi ấy bỗng dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ. Tôi có cảm giác tựa hồ đã lâu lắm, có khi là từ ngày đến Mỹ, lần đầu tiên tôi mới nhìn thấy lại bầu trời và ánh trăng, và nhìn thấy trăng sáng đến như vậy. Bầu trời ấy vẫn có hằng đêm, vầng trăng ấy còn theo tôi mãi, vậy mà bấy lâu tôi nào có để ý, cứ tưởng rằng phải đi về một nơi chốn nào xa xôi lắm mới mong tìm gặp. 

      Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà con người nghệ sĩ tôi mới gặp lần đầu ấy, nhìn trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào.

      Ông rút điếu thuốc khác, chìa gói thuốc về phía tôi. Tôi nói đã lâu tôi không hút lại, nhưng nếu ông mời tôi xin hút với ông một điếu cho vui. Trong những câu hát, câu thơ về “hàng cau” ông kể ra sau đó, tôi nhớ đại khái “... thương về mái tranh nghèo bên hàng cau” (2), và “... bóng tre ru bên mấy hàng cau, đồng quê mơ màng” (3). Nhất thời tôi không nhớ được bài nào, câu nào để góp chuyện với ông, thế nhưng đến khi nghe ông đọc câu thơ Hàn Mặc Tử, “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, tôi buột miệng nói tôi biết một bài hát cũng nói đến “hàng cau” mà tôi rất thích, có thể là ông quên, vì đã lâu lắm rồi. 

      “Bài gì?” ông hỏi.

      “‘Người em nhỏ’ của... Nguyễn Hiền,” tôi trả lời. “Ngày tôi đi, vàng nắng nghiêng nghiêng một hàng cau. Mai ta về quê cũ, gửi lời về thương nhau...” 

      “Làm sao mà quên được,” ông nói sau vài giây im lặng, hạ thấp giọng, như người nói một mình.
      Tôi hiểu. Không ai quên được mối tình đầu. Bài nhạc đầu tay ấy (của chàng trai 18 tuổi ấy), cũng tựa như mối tình đầu trong âm nhạc của ông. 

      Tôi nhớ đã nói với ông, không phải chỉ riêng ông mà rất nhiều người, trong số ấy có tôi, khó mà quên được “Người em nhỏ” (ông phổ từ thơ một người bạn văn nghệ, Nguyễn Thiệu Giang). Đã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, mỗi lần nghe lại câu hát ngày xưa ấy, những cảm xúc ở trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, như là thuở ban đầu của bài hát nghe qua giọng Ngọc Long. 

      Chiều nay buồn viễn xứ
      nhớ người em gái xưa
      Tôi thấy phương trời cũ 
      giăng giăng một hàng mưa... 

      Và giờ đây, trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người, tôi chắc không ai nghe câu hát ấy mà không khỏi chạnh lòng. Trong một thoáng, tôi hiểu được vì sao lâu nay tôi, và rất nhiều người, vẫn yêu thích nhạc của ông. Thật đơn giản, vì trong những bài nhạc ấy tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. 
      Có một khoảng yên lặng giữa chúng tôi lúc ấy. Sau đó, có vẻ như không muốn nói thêm về bài hát cũ ấy, ông trở lại chuyện “hàng dừa, hàng cau” và nhắc đến câu hát trong bài “Lá thư gửi mẹ” được ông phổ từ bài thơ năm chữ của Thái Thủy.

      Con về tầm đẹp lứa
      mẹ cười vun khóm dâu
      Mái tranh chiều vươn khói
      vườn thơm ngát hương cau...

      Những chuyện trò giữa ông và tôi là những câu chuyện lan man, không đầu không đuôi, nhảy lung tung từ chuyện này sang chuyện nọ và... không chuyện gì ra chuyện gì. Qua lối nói chuyện của ông và qua những lời ông nói tôi có cảm giác ông rất thành thực, và hơn thế nữa, rất thẳng thắn, theo cái nghĩa chuyện gì biết thì ông nói biết; chuyện gì không biết thì ông nói không biết. Tôi cũng để ý ông có lối nói chuyện thật chậm rãi, thật từ tốn, với một giọng trầm trầm. Ông cũng tỏ ra chăm chú lắng nghe người đối thoại. Thật không dễ gì đoán được một người biết chế ngự những cảm xúc như ông đang nghĩ gì trong đầu. Ở nơi ông như toát ra một phong thái điềm tĩnh, một dáng vẻ trầm mặc của người đang chìm đắm trong suy tưởng... 

      Tôi rất “chịu” những bài phổ thơ năm chữ của ông, tôi nhớ đã nói với ông như vậy. Có một lúc, nhắc đến bài “Anh cho em mùa xuân”, tôi hỏi ông về một “giai thoại” tôi nghe được từ... trước 1975: có đúng là ông đã đổi một chữ trong câu thơ của Kim Tuấn–“trong nắng vàng ban mai” đổi thành “rung nắng vàng ban mai”–khiến tác giả bài thơ phải “khẩu phục, tâm phục”(?). Ông mỉm cười, trả lời “đúng mà không đúng” và giải thích: đúng là ông đã đổi ra thành “rung nắng vàng ban mai” thật, nhưng câu thơ Kim Tuấn là “nắng vàng trên ngọn cây” chứ không phải “trong nắng vàng ban mai”. Tôi nói dù đúng sai thế nào tôi cũng rất thán phục tài dùng chữ của ông, vì thật khó mà tìm ra được chữ nào hay hơn chữ “rung” để đi với “xao xuyến” trong câu hát ấy. 

      Bài thơ còn xao xuyến
      rung nắng vàng ban mai...
      Chữ “rung” ấy nghe mới “xao xuyến”, và mới “thơ” làm sao!   
      Chữ “rung” ấy được ông sử dụng không phải chỉ một lần. 
      Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm...

      “Trong bản nhạc ‘Tìm đâu’ ấn hành lần đầu,” tôi nói, “chữ ‘rung’ đã bị in nhầm là ‘nung’.”

      “Đúng thế,” ông tỏ ra ngạc nhiên tôi còn nhớ được chi tiết ấy. “Cũng may là ca sĩ đã... tự điều chỉnh.” 

      Ông rút điếu thuốc khác. Tôi để ý thấy ông đốt thuốc hai lần trong câu chuyện.

      “Có một câu tôi rất thích trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’,” tôi nói, ngừng một chút, chờ ông hỏi “câu nào?” Nhưng ông chưa kịp hỏi và tôi chưa kịp nói thêm thì người nào đó từ trong nhà hàng bước ra tìm tôi, nói có người cần gặp... Tôi xin lỗi ông, nói rất tiếc phải tạm ngưng câu chuyện. Ông nói chờ một chút, và lấy từ trong ví ra tấm business card trao cho tôi, nói lúc nào tiện gọi phone nói chuyện cho vui. Tôi trở vào. Lúc cánh cửa khép lại, tôi quay nhìn, thấy ông vẫn đứng đó, lặng lẽ như một cái bóng. Chắc ông muốn hút cho xong điếu thuốc, tôi nghĩ. Và đấy là hình ảnh sau cùng tôi còn giữ được về ông... 

      Tấm danh thiếp, gần như đấy là “kỷ vật” duy nhất tôi còn giữ được của ông, trên đó tôi đọc thấy hàng chữ “Hien Nguyen. Cultural Arts Commissioner”. Tôi tưởng như một ông Hiền Nguyễn nào khác, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền của “Anh cho em mùa xuân”, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền đứng cạnh tôi giữa đêm trăng ấy. 

“Bầy chim lùa vạt nắng”

Đúng ra, tôi còn cuộc tiếp xúc khác với ông sau lần gặp ấy. Tôi gọi phone đến ông vào một chiều cuối tuần để “nói chuyện cho vui” như lời ông dặn (và nhận ra bốn con số cuối của số phone ông, 1496, trùng với số phone nhà của tôi). Tiếc một điều, lần tiếp xúc này  lại còn ngắn hơn cả lần trước vì chỉ kéo dài có... một vài phút. Ông nhận ngay ra giọng tôi khi tôi chưa kịp nói tên mình. Nghe giọng ông có vẻ vui. Sau ít câu thăm hỏi, tôi hỏi ông có bận gì vào lúc ấy không, ông nói đang sửa soạn đi dự... đám cưới. (Lại đám cưới, tôi chắc ông phải mất khá nhiều thì giờ cho những đám cưới vào cuối tuần vì những mối giao tiếp trong công việc, bè bạn). Tuy vậy, ông cũng nói được với tôi dăm ba câu cho đến lúc tôi xin gác máy để ông đi công chuyện. Ông nói sẽ gọi lại tôi sau và có chuyện vui vui muốn kể tôi nghe. Tôi không đoán ra được chuyện gì. Ít hôm sau ông gọi lại cho tôi thật và chỉ để lại... số phone của ông trên caller ID, vì tôi vắng nhà. 

      Sau đó ít lâu tôi “thấy” ông xuất hiện trên sân khấu Paris By Night (trong chương trình ca nhạc DVD mang tên một nhạc phẩm quen thuộc của ông), trả lời ít câu hỏi nhiều người muốn biết từ người dẫn chương trình, và đệm đàn cho ca sĩ Lệ Thu hát “Mái tóc dạ hương”–một bài ông phổ thơ Đinh Hùng–đưa người nghe về lại một mùa nào “hoa bướm ngày xưa”.

      Một trong những bài nhạc tiêu biểu của Nguyễn Hiền được giới thiệu trong chương trình ấy là “Anh cho em mùa xuân”. Giọng hát, cách thể hiện của cô ca sĩ trẻ và giàn nhạc làm tôi thêm nhớ cái “thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Ít nhất đã có hai thế hệ hát “Anh cho em mùa xuân”. Các ca sĩ và ban nhạc của thế hệ thứ hai (ở trong và ngoài nước) có khuynh hướng thay đổi tiết tấu của bài nhạc ấy bằng nhịp điệu nhanh, mạnh, sôi nổi, như muốn làm rộn ràng hơn không khí mùa xuân. Việc “cải biên” này cũng… tốt thôi, và cũng phù hợp với “phong cách trình diễn” trẻ trung, sống động hiện đại, tuy rằng bài nhạc, với âm giai La trưởng và nhịp điệu Tango Habanera dìu dặt ở “thuở ban đầu”, tự nó đã đủ để mang về mùa xuân (mà không cần phải “đánh nhanh, đánh mạnh” bằng điệu nhạc kích động để... mừng đón xuân về). Việc thay đổi tiết tấu và cách trình diễn ấy có phần nào đánh mất khí hậu của bài hát là vẻ lắng đọng của đất trời vừa mới sang xuân, pha lẫn chút thi vị ngọt ngào của “bài thơ còn xao xuyến”, thể hiện qua lời thơ và từng nốt láy mềm mại ở cuối những câu nhạc.

      Mùa xuân của “Anh cho em mùa xuân” là xuân của trời đất giao mùa, là xuân của “lộc non vừa trẩy lá”, là vẻ e ấp của “nụ hoa vàng mới nở”. Trong cái nắng sớm của ngày đầu xuân có chút se se lạnh của chiều cuối đông còn rớt lại, có chút vấn vương của “chiều đông nào nhung nhớ”, có chút hơi hướng của đông tàn, xuân mới vừa sang...

      Đôi lúc việc thay đổi hoặc hát sai lời nhạc cũng làm giảm phần nào cái đẹp và độ truyền cảm của bài nhạc gửi đến người nghe.
      Đường lao xao lá đầy 
      chân bước mòn vỉa phố 
      mắt buồn vin ngọn cây... (không phải là “mắt buồn... nhìn ngọn cây”) 
      Chữ “vin” ấy nghe rất thơ. Những chữ “lao xao” và “mòn” ấy nghe cũng rất  thơ.
      Hai câu hát trong bài được ca sĩ… hát sai nhiều nhất:
      Đất mẹ gầy có lúa
      đồng ta xanh mấy mùa

      Câu thứ nhất, “đất mẹ gầy có lúa”, là ước mơ đơn sơ của tác giả bài thơ gửi về quê mẹ Hà Tĩnh (vùng “đất cày lên sỏi đá”), được nhiều ca sĩ đổi thành “đất mẹ gầy… cỏ lúa”, hoặc “đất mẹ gầy… cỏ  úa”, hoặc “đất mẹ... đầy cỏ lúa”!?!

      Câu thứ hai, “đồng ta xanh mấy mùa”, ước mơ khác, được nhiều ca sĩ đổi thành “đồng xa xanh mấy mùa”, hoặc... “đồng xanh xa mấy mùa”!?!

      “Trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’ có một câu tôi thích nhất,” tôi nhớ đã nói với nhạc sĩ Nguyễn Hiền như vậy. Có thể là ông cũng muốn nghe, muốn biết, nhưng tôi lại chưa có dịp nào (nay thì không còn dịp nào) để bộc lộ với ông.  

      Bầy chim lùa vạt nắng
      trong khói chiều chơi vơi...

      “Bầy chim lùa vạt nắng…”, câu hát tôi thích nhất trong bài hát ấy. “Lùa vạt nắng”, tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Chữ “lùa” ấy rất mới, rất đẹp, rất thơ. Làm sao mà ông lại có thể nghĩ ra được cái chữ tài tình đến như vậy? Làm sao mà ông lại dùng chữ ấy chứ không phải là chữ nào khác? (“Bầy chim… đùa vạt nắng” chẳng hạn, như thế cũng là hay, nhưng không thể hay bằng “... lùa vạt nắng”). Ngày ấy chưa ai viết những lời như thế trong thơ, trong nhạc. Mãi về sau này ta mới nghe “lùa nắng cho buồn vào tóc em” (“Nắng thủy tinh”, Trịnh Công Sơn).

      Điều thú vị, câu ấy không phải là câu thơ Kim Tuấn trong “Nụ hoa vàng ngày xuân”, mà là thơ... Nguyễn Hiền.

      “Con chim mừng ríu rít” trong bài thơ được ông đổi ra thành “bầy chim lùa vạt nắng”, để tương ứng với những nốt nhạc thấp cao, trầm bổng, vừa vẫn giữ được ý thơ (vẫn “nghe” được tiếng chim “ríu rít” mừng vui), vừa “thơ” hơn và giàu hình ảnh hơn. 

      Tôi yêu câu thơ “mắt buồn vin ngọn cây” của Kim Tuấn và tôi yêu câu hát “bầy chim lùa vạt nắng” của Nguyễn Hiền. Câu thơ ấy rất “Kim Tuấn”, câu hát ấy rất “Nguyễn Hiền”. Tôi cũng yêu lối sử dụng những động từ “vin” và “lùa” ấy trong kho tàng tiếng Việt. 

      “Nhạc chan hòa đây đó”, câu hát ấy không thấy trong thơ Kim Tuấn. Hơn thế nữa, “nhạc, thơ tràn muôn lối”, câu hát cuối của bài hát ấy cũng không thấy trong thơ Kim Tuấn. Trong “Nụ hoa vàng ngày xuân” không có câu nào nói đến “nhạc” cả. Vậy thì những câu ấy ở đâu ra, nếu không phải là… thơ của Nguyễn Hiền. Trong nhạc có thơ, trong thơ có nhạc. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc. Nhạc thơ, thơ nhạc đã hòa làm một. 

      “Anh cho em mùa xuân. Nhạc, thơ tràn muôn lối...”

      Câu kết ở phần coda ấy là một “biệt lệ” (hiếm khi được sử dụng trong nhạc thuật của ông) trong số những bài nhạc vẫn được ông soạn theo khuôn mẫu “cổ điển” với cấu trúc khá cân phương. Những chuỗi nốt nhạc rải đều và nốt ngân cuối rướn cao như bay lên cùng mùa xuân và tan loãng trong không, vẽ lên một nét nhạc đẹp. Cái hay của phần coda ấy là cái hay của một kết thúc đẹp, tròn đầy, gói trọn tình ý của bài nhạc.

      Việc ông không thay đổi câu, chữ nào suốt khổ thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” làm nhớ tới những bài thơ ngũ ngôn khác từng được các nhạc sĩ khác phổ thành ca khúc cũng rất là “ngọt”. Hoặc, giữ nguyên vẹn bài thơ, như “Tiếng thu”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ cùng tên của Lưu Trọng Lư; hoặc, chỉ đổi có... một chữ trong toàn bài thơ, như “Chiều”, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ từ “Màu cây trong khói” của Hồ Dzếnh (chỉ đổi câu thơ cuối “khói xanh bay lên cây” thành “khói huyền bay lên cây”).

      Sau câu thơ “lộc non vừa trẩy lá”, những câu nào không giữ nguyên được thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bèn thay đổi chút ít, trong lúc vẫn giữ ý chính của câu thơ. Lạ một điều, những câu ông đổi nghe rất thơ, và có phần... thơ hơn cả tác giả bài thơ. Chẳng hạn:
      “Con chim mừng ríu rít” đổi thành “bầy chim lùa vạt nắng”
      “Ngoài đê diều thẳng cánh” đổi thành “ngoài đê diều căng gió”
      “Câu hát hò vẳng đưa” đổi thành “thoảng câu hò đôi lứa”
      “Trẻ đùa vui nơi nơi” đổi thành “trẻ nô đùa khắp trời”
      “Nắng vàng trên ngọn cây” đổi thành “rung nắng vàng ban mai” 
      Người nhạc sĩ đã “làm mới” thơ, đã làm thơ “thơ” thêm một lần nữa. 

      Tâm hồn nhạc sĩ Nguyễn Hiền vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ. Ông đã “nâng” thơ lên, đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”, đã tặng thêm cho bài thơ một đời sống khác. Ngôn ngữ nhạc quyện lấy ngôn ngữ thơ, khiến thơ bay lên, nhạc cũng bay lên. “Nụ hoa vàng ngày xuân” đã bước ra khỏi những trang thơ để hóa thành một trong những bài nhạc xuân hay nhất. 

      Nếu được phép “bình chọn ca khúc Xuân hay nhất” cho riêng mình, “Anh cho em mùa xuân” chắc chắn là một trong vài bài nhạc xuân tôi yêu nhất và luôn muốn được nghe đi nghe lại. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu vật đổi sao dời, bài nhạc xuân ấy nghe vẫn cứ “mới”, như mùa xuân vẫn “mới”, như những “nụ hoa vàng” vẫn nở trong nắng mới của một ngày đầu xuân. 

      Sau “Anh cho em mùa xuân”, ta còn có thêm những bài phổ thơ Kim Tuấn khác của các nhạc sĩ khác, như “Những bước chân âm thầm” của Y Vân, “Khi tôi về” của Phạm Duy, “Ta ở trời Tây, nhớ trời Đông” của Phạm Ðình Chương, “Khi xa Saigon” của Lê Uyên Phương... và không ít những ca khúc khác của các nhạc sĩ trong và ngoài nước. Hai ca khúc phổ biến nhất trong số ấy vẫn là “Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền và “Những bước chân âm thầm” của Y Vân (phổ từ bài “Kỷ Niệm” của Kim Tuấn).

      Tôi yêu thuở ban đầu của “Anh cho em mùa xuân”, như yêu tiếng hát mềm mại và nũng nịu của Lệ Thanh, như yêu những nốt nhạc luyến láy của “chiều đông nào nhung nhớ”, của “ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa…” Tôi cũng yêu thuở ban đầu của “Những bước chân âm thầm”, như yêu những tiếng hát trầm ấm của Mai Trường-Trần Ngọc-Hồng Phúc (và của ban hợp ca Thăng Long sau này), như yêu vẻ trầm mặc của những “rặng thông già lặng câm”, như yêu những mối “tình nở muộn” và những ngọn “đèn thắp mờ bóng đêm”. (Làm như có sự gần gũi nào đó giữa hai bài thơ, giữa hai bài nhạc, giữa “chân bước mòn vỉa phố” và “từng bước, từng bước thầm”...). Đó là những tiếng hát của một mùa kỷ niệm. Đó là thời kỳ của những tiếng hát thực sự là những tiếng hát, chưa có những phô diễn kỹ thuật và cũng chưa có những hòa âm phối khí tân kỳ. 

      Ðến nay thì cả Y Vân, Kim Tuấn và Nguyễn Hiền đều lần lượt đã ra người thiên cổ (và cả Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương... cũng đã ra người thiên cổ), thế nhưng những khúc nhạc đẹp tựa bài thơ ấy sẽ còn đọng lại mãi trong lòng người.

“Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ...” 

Không phải chỉ những ca khúc phổ thơ của Nguyễn Hiền mới là những ca khúc “đẹp tựa bài thơ”. Có thể nói, những người yêu cái đẹp cũng sẽ dễ dàng yêu những khúc nhạc êm êm, lâng lâng, yêu những khúc hát êm đềm, ngọt ngào và đầy thi vị của người nhạc sĩ ấy, những khúc hát đẹp và buồn như một nỗi tiếc thương...
      Về một hình bóng đã xa khuất và những ngày vui qua mau. 
      Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ 
      mây bay năm xưa còn đó 
      đâu tìm người hẹn hò... (“Ngàn năm mây bay”)
      Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm 
      tìm đâu muôn màu hoa nắng lung linh vương chân êm... (“Tìm đâu”)
      Nơi ấy bao ngày xanh qua 
      hồn thơ mơ màng quá 
      yêu những khung trời hoa bướm 
      với nắng tơ vàng êm... (“Hoa bướm ngày xưa”)
      Về một sân trường kỷ niệm và một mùa nào lãng mạn.
      Mùa thu ánh trăng dõi bên thềm...
      nắng loang trên sân trường một mùa nào... (“Từ giã thơ ngây”)
      Những mái tóc chấm vai, sân trường tìm đâu thấy... (“Em là vì sao sáng”)
      Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ
      tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ...
      Tôi đi trong mơ tìm bóng dáng yêu kiều
      mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều... (“Tiếng hát học trò”)
      Về một “quê hương khuất bóng hoàng hôn” và những mùa xuân thanh bình một thuở. 
      Lòng ta mơ quê hương nơi sống bao ngày thắm... 
      Ta nhớ tới những phút xa vời 
      làng cũ nay chìm trong sương mờ rơi... (“Ý nhạc chiều”)
      Cho nhớ thương về quê xưa
      mùa xuân không còn nữa 
      muôn cánh hoa đào phai úa 
      lối cũ rơi hững hờ... (“Hoa bướm ngày xưa”)

      Âm nhạc Nguyễn Hiền, nói như ca sĩ Quỳnh Giao, “là sự mời gọi trở về một không gian đã tắt, một thời gian đã lặng...” (4) Nghe nhạc Nguyễn Hiền là nghe những lắng đọng, là đắm chìm trong một ký ức xa vời, là tìm về những đường xưa “lối cũ chẳng sao quên”. Cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã dạo lên những khúc nhạc êm đềm để giữ cho những giấc mơ ngọt ngào của chúng ta không bao giờ tắt hẳn.  
    
      Có lẽ vì những nét nhạc lâng lâng gợi nỗi tiếc nhớ mênh mang ấy, các bài nhạc của Nguyễn Hiền thường được các giọng nữ thể hiện nhiều hơn (mặc dầu ở một đôi bài, giọng nam khá phù hợp). Chẳng hạn, “Lá thư gửi mẹ” với Thái Thanh, Khánh Ngọc, Mỹ Thể, Lệ Thanh, Thái Hiền; “Mái tóc dạ hương” (phổ thơ Đinh Hùng, tựa ban đầu là “Những phố không đèn”) với Hồng Vân, Lệ Thu, Thanh Lan, Ý Lan; “Anh cho em mùa xuân” với Lệ Thanh, Hà Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu; “Từ giã thơ ngây” với Thanh Thúy, Hà Thanh, Xuân Thu, Hoàng Oanh; “Ngàn năm mây bay” với Kim Tước, Mai Hương, Khánh Hà; “Người em nhỏ” với Lệ Thanh, Mỹ Thể, Mai Hương, Duy Trác; “Tiếng hát học trò” với Lệ Thanh, Thanh Lan, Hoàng Oanh; “Hoa bướm ngày xưa” với Trúc Mai, Lệ Thu; “Thầm ước” với Thái Thanh, Hoàng Oanh; “Tìm đâu” với Lệ Thanh, Mai Hương; “Em là vì sao sáng” với Hoàng Oanh, Hà Thanh; “Lá rơi bên thềm” với Mỹ Thể; “Hương thề” (phổ thơ Hoàng Ngọc Liên) với Thanh Thúy; “Hai mươi câu của tuổi trẻ” (phổ thơ Song Hồ) với Lệ Thu; “Tiếng sáo diều” với Quỳnh Giao; “Ý nhạc chiều” với Kim Tước; “Gửi một cánh chim” với Mai Hương…  

      Trong số những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngoài những bài phổ thơ, có những bài đến từ nguồn cảm hứng qua các tiểu thuyết hoặc phim ảnh trong nước thời ấy, như “Buồn ga nhỏ” (từ một truyện cùng tên của Thanh Nam) hoặc “Ngàn năm mây bay”, “Tiếng hát học trò” (từ các tiểu thuyết cùng tên của Văn Quang, được các đạo diễn Thái Thúc Nha và Hoàng Anh Tuấn thực hiện thành phim). 

      Đôi lúc ông cũng viết nhạc chung với những người bạn nhạc sĩ (như “Buồn ga nhỏ”, “Đã mấy thu rồi”, “Từ giã thơ ngây”, “Tiếng hát học trò” viết chung với Minh Kỳ; “Hoa đào năm trước” viết chung với Lê Dinh; “Về đây anh” viết chung với Nhật Bằng; “Bước chân dĩ vãng” viết chung với Lan Đài…). Có khi ông viết nhạc, bạn ông viết lời (như những bài “Hoa bướm ngày xưa” và “Thanh bình ca”, lời của Thanh Nam); có khi ông viết lời, bạn ông viết nhạc (như những bài “Lá rơi bên thềm” và “Màu tím hoàng hôn”, nhạc của Lê Trọng Nguyễn).         

      Những người từng quen biết hoặc có dịp gần gũi với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, khi nhắc đến ông, đều bộc lộ sự cảm mến, quý trọng và đều có chung một nhận xét về con người nghệ sĩ tài hoa với kiến thức sâu rộng về âm nhạc đông và tây phương, thể hiện qua mẫu người mực thước, trầm tĩnh và khiêm tốn; đồng thời, cũng tỏ lòng ngưỡng phục về những cống hiến của ông đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật làm nổi bật bản sắc của dân tộc, mang lại niềm tự hào cho cộng đồng người Việt. 

*  *  * 
gặp gỡ để chia phôi
cuộc đời như gió thoảng
còn chút tình trong tôi

      Quả đúng là “cuộc đời như gió thoảng”, như câu thơ nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết gửi cho người bạn thiết, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (tác giả “Nắng chiều”, “Sao đêm”, “Bến giang đầu”, “Chiều bên giáo đường”…), một năm sau ngày bạn ông lặng lẽ “rời bỏ cõi thế để an nghỉ trên đỉnh bình yên” (5). Ông gọi bạn mình là “một nghệ sĩ tài ba khiêm tốn rất mực” (5). Cái danh hiệu ông gán cho người bạn đã khuất, nay nếu có đem… gán cho ông chắc cũng không sai chút nào.

      Nay thì cả ông và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đều đã như những cánh “lá rơi bên thềm” nhà vắng. Những chiếc lá dẫu đã lìa cành, những người nhạc sĩ dẫu đã ngừng viết nhạc, thế nhưng những khúc nhạc ấy, những khúc nhạc làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, vẫn luôn được yêu thích, vẫn được hát lên ở trong nước ngoài nước, ở mọi nơi mọi chốn. 

      Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, cho đến cả những phút cuối đời, những phút chênh vênh giữa hai bờ tử sinh, những phút chạm tay vào lằn ranh sống chết, vẫn còn bày tỏ nỗi niềm trăn trở và ước mơ về một vận hội mới về trên quê hương. Ngọn nến leo lét tưởng chừng sắp tắt ấy trong giây phút cuối vẫn còn lóe sáng một niềm tin. 

      Tin nhạc sĩ Nguyễn Hiền bị ung thư phổi nặng khá bất ngờ đối với tôi và nhiều người, và cả… chính ông, vì trước đấy, hầu như không có dấu hiệu xấu nào cho sức khỏe của ông. Ông qua đời chỉ ít tuần sau khi nhận được tin xấu ấy, vì bệnh trạng đã ở vào thời kỳ “hết thuốc chữa”.    

      Tôi nhớ, vào một buổi tối, sau ngày ông mất, lúc đang ngồi ở bàn computer tôi bỗng nghe một giọng hát cất lên. “Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ...” Một bài của Nguyễn Hiền. Người ta đang cho phát thanh lại một bài nhạc cũ của ông. Tôi ngồi yên lặng một lúc, lắng nghe... Bỗng dưng tôi cảm thấy thèm hết sức một hơi thuốc. Tôi vẫn để gói thuốc lá trong ngăn kéo bàn làm việc, lâu lâu kéo một điếu khi bè bạn đến chơi. Có khi tôi quên bẵng đi, khá lâu không đụng tới. 

      Tôi khẽ mở cửa sau, bước ra ngoài. Trời gây gây lạnh. Đêm tối yên lặng quá. Tôi nhớ, đó là một đêm cuối năm. Tiếng hát vẫn như quấn lấy chân tôi. “Nhớ nhau khi mây vương vương mầu tím…” Tôi đốt một điếu thuốc, đứng nhìn thật lâu vào khoảng không. Cứ mỗi lần hay tin một người quen nào đó vừa mới qua đời, tôi lại có cảm giác thật hụt hẫng như vừa bước hụt vào khoảng không, và nhận rõ được cái vô nghĩa mênh mông đến tột cùng của đời sống. Trong bỗng chốc, tôi thấy rõ, cuộc sống… không là gì cả. Cuộc sống nhẹ tênh, như bóng mây qua, như… ngàn năm mây bay, mây vẫn bay.

      Bỗng dưng tôi nhớ lại một đêm nào, tôi cũng mở cánh cửa, cũng bước ra ngoài, và tôi... gặp ông. Tôi quăng điếu thuốc sau khi bập bập vài hơi, chẳng thấy ngon lành gì cả, và cảm thấy thiếu thiếu một cái gì(!)... Tôi ngước nhìn trời đêm, và gặp ánh trăng. Trăng chưa tròn, nhưng thật sáng, và trông thật gần. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?” tôi nhớ câu ông hỏi tôi. Tôi đã không trả lời dù biết câu trả lời. 

      Tôi dõi mắt hướng về một ngôi sao xa nhất, khi ẩn khi hiện trên nền trời đen thẫm, trông xa vẫn thấy lấp lánh như có một linh hồn. Tôi không biết giờ này ông ở đâu, nhưng tôi tin rằng linh hồn ông–như cụm mây lững lờ–đã bay về lại quê hương cũ, về lại nơi chốn có những thửa ruộng, có những mảnh “vườn thơm ngát hương cau”, có những chiều “ngoài đê diều căng gió”, có những đêm “trăng sáng soi liếp dừa”, có những “bầy chim lùa vạt nắng” và có những “mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều”... 

      Tiếng hát vẫn như quấn lấy chân tôi, “Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ...” Tôi bước chậm trở vào, tiếng hát như cũng theo sau, “Mây bay năm xưa còn đó, đâu tìm người hẹn hò…”       

      Bài hát ấy, “Ngàn năm mây bay” của Nguyễn Hiền, nói như nhà văn Bích Huyền, “là nỗi buồn thật đẹp, thật nhẹ nhàng, thật mênh mang như bức tranh thủy mạc...” (6)  Tại sao lại “Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ” mà không phải là “ngàn năm mây bay” như cái tựa của bài hát ấy?... Tôi hiểu, ông đã đổi một chữ trong câu hát cho tương ứng với nốt nhạc trầm bổng. Tôi tự hỏi và tự trả lời. Như ông đã đổi ít câu, ít chữ khi phổ nhạc bài “Nụ hoa vàng ngày xuân”. Anh cho em tất cả / Tình yêu non nước này / Bài thơ còn xao xuyến / Nắng vàng trên ngọn cây... Bài thơ đã làm ông “xao xuyến”. Bài thơ ông đọc thấy tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. Tôi hiểu được vì sao ông đã chọn bài thơ xuân ấy để phổ nhạc. 

      Người viết bài hát ấy đã đi xa, thế nhưng bài hát ấy, sau bao nhiêu năm, vẫn còn ở lại, vẫn có một sức sống, vẫn không bao giờ cũ. Như ngàn năm mây vẫn bay, như đất trời vẫn bốn mùa, như những lứa đôi vẫn yêu nhau, như những nụ hoa vàng vẫn nở khi đất trời vừa mới sang xuân. Và cuộc sống, nhờ thế, nhờ có những bài xuân ca như thế, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút.

      “Anh cho em mùa xuân”, bài nhạc xuân rất xuân, và rất thơ.


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - 

(1) Kỷ niệm, nhạc Phạm Duy
(2) Nhớ bến Ðà giang, nhạc Văn Phụng & Chiêu Tranh
(3) Làng tôi, nhạc Chung Quân
(4) Màu tím bên thềm năm mới, Quỳnh Giao (nhật báo Người Việt, 27/12/2005)
(5) Vài nét về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Hiền (lời giới thiệu Tuyển Tập Nhạc 
    Lê Trọng Nguyễn, 6/2005)
(6) Ngàn năm mây bay, Bích Huyền (Câu chuyện thơ nhạc, đài “Tiếng nói Hoa Kỳ”, 22/7/2006) 


Võ Phiến - Vươn Ra Ngoài Cuộc Sống


Võ Phiến

Sự thất vọng bắt đầu sau chuyến đi thăm mặt trăng về. Người về chỉ mang theo mớ đá: Tuyệt không có dấu vết sinh vật nào. Từ ấy, những thám hiểm khác không khá hơn. Nơi bấy lâu chúng ta vẫn đặt nhiều mơ tưởng là hỏa tinh: Hỏa tinh rốt cuộc cũng làm cụt hứng giới “tìm bạn bốn phương”.


Cuối thiên niên kỷ thứ II dấy lên một nghĩ ngợi: Phải chăng chúng ta là sinh vật duy nhất trong vũ trụ vô cùng? Cô đơn đến thế thật là cô đơn. Hãi hùng quá.

Con người khiêm tốn, xưa nay vẫn dành cho mình một vị trí thấp. Bên trên, bao nhiêu hạng tôn quí: ông Trời, bà Đất, tiên, thánh, thần, ma vương, thượng đế v.v...; xưa nay nó vẫn quen thờ phụng, lạy lục, lạy từ hòn đá cục đất lạy đi. Bỗng nhiên không còn gì còn ai để lạy nữa, con người hoảng hốt, hoang mang.

Trước, con người không thực sự nghĩ tới việc mình có thể rời khỏi quả đất. Nó yên phận ở một nơi này, và yên trí là đó đây cũng có những giống sinh vật như mình. Ai có cõi sống nấy. Như thế, nó yên tâm.

Năm 1969 — mới cách đây hơn ba chục năm — lần đầu tiên nó đặt chân lên một thiên thể ngoài quả đất.  Thấy mặt trăng trống trơ. Từ ấy nó tìm kiếm lung tung. Đem máy móc tiến gần, rình rập hỏa tinh: thấy khô ráo, lạnh ngắt. Lại tiến lên mộc tinh rình xem cái vệ tinh Europa chạy quanh: cũng không mảy may dấu hiệu sinh sống nào. Chỉ trong khoảng năm năm cuối thế kỷ vừa qua, ít nhất đã có 22 thiên thể bị dò xét. Sự hối hả thấy rõ, còn gì nữa.

Cái tìm kiếm lục soát càng ngày càng ráo riết, mà mức kỳ vọng mỗi lúc mỗi thấp. Thuở xưa, người ta mơ tưởng sẽ gặp trên thượng giới những sinh vật giống như mình: cũng những cô gái xinh đẹp với đầy đủ xiêm y, biết ca xướng đàn địch, cũng những cụ già tóc râu khả kính, thích chơi cờ thích ngâm thơ v.v... Về sau, con người địa cầu không còn đòi ai kia phải giống hệt mình. Chỉ mong đây đó may ra có những giống loài dù khác lạ dù dị hợm, nhưng vẫn có trí thông minh vẫn tài giỏi, đây đó may sao có thể khám phá ra những nền văn minh bất ngờ, xuất sắc, rải rác trong vũ trụ. Người vũ trụ, riết rồi hình ảnh ấy thật mơ hồ: nó nhỏ bằng nắm tay chăng? lớn bằng tòa nhà chăng? nó di chuyển bằng cách trườn mình oằn oèo trên đất chăng? bằng cách vỗ cánh trên không trung chăng? nó có được một vài cái tai để nghe, dăm ba con mắt để trông chăng? v.v...

Mãi không thấy gì, hết mong “người”, chỉ ao ước bắt gặp đôi giống bạn hữu có liên hệ xa xôi: bất cứ loài sinh vật nào cũng quí, thậm chí một manh nha thảo mộc nào cũng được.
Vẫn chưa thấy.

Về một phương diện, hoàn cảnh con người địa cầu thật là tệ hại. Tệ hại hơn bao giờ cả, kể từ thuở “khai thiên lập địa”. Chưa bao giờ nó bơ vơ đến thế. Mặc dù nó là... chúa tể. (Thì khắp nơi tuyệt nhiên không có sinh vật nào khác, nó phải là chúa tể chứ còn gì nữa?) Một đấng chúa tể không biết từ đâu đến, đến để làm gì, rồi đi về đâu! Tức thị là một chúa tể ngẩn ngơ. 

Cái sống, cả vũ trụ không có, ta có: thích ghê. Chỉ mình ta có: quí ghê. Giữa hai bên — sống và chết — chỉ có cái sống là đáng suy nghĩ. Còn cái chết, đáng gì mà xem là vấn đề triết lý căn bản (như có kẻ từng bảo). Chết là định luật chung: trăng sao ngời ngời đều chết, thiên địa bát ngát toàn chất liệu chết cả, cho đến mọi sinh vật cũng chỉ sống có hạn kỳ rồi cùng chết ráo trọi. Chết là tất nhiên, sống không tất nhiên. Sống là biệt lệ bất thường, tối bất thường. Thế mà lúc này ta lại đang sống. Chao ôi!

Cái chết không tự ý thức về nó; cái sống ý thức được về cái sống. Trong thế giới chết, mọi hiện tượng xảy ra, tự xảy ra, ngẫu nhiên. Trong thế giới các sinh vật, mỗi động tác mỗi biến cố diễn ra là có chủ định chủ ý. Big Bang tha hồ hùng vĩ, nhưng nó xảy ra không tự biết. Một trận đá lông nheo vụng trộm giữa cặp sinh vật hai chân cao chừng thước rưỡi, hoạt động ấy diễn ra âm thầm mà rạo rực. Diễn ra sau bao nhiêu mơ tưởng, ngần ngại, đắn đo, xếp đặt, bố trí v.v... Ơ kìa! Ý thức, cái gì kỳ vậy? Từ đâu, tại sao nảy sinh xuất hiện ra cái món lạ ấy, quí hóa ấy?

Cái sống, tưởng chừng nó tự đánh giá tầm quan trọng lớn lao của mình. Phút lâm chung là đau đớn cùng cực. Đau đớn đâu phải vì là bắt đầu cái chết? mà là vì chấm dứt sự sống. Hư vô vẫn chết tự bao giờ, và còn chết mãi mãi. Cái chết không đầu không cuối. Vật chết, không vật chết nào có sự cố gắng duy trì cái chết. Cái chết không thiết tự duy trì, không thiết phát triển. Nhưng muôn vật đã sống đều cố duy trì cái sống. Sinh vật đều có bản năng sinh tồn. Từ vật vô cùng nhỏ đến vật vô cùng lớn đều ráo riết cạnh tranh, phát triển, giành nhau, giết nhau để bành trướng, lớn thêm, cao thêm, sinh sôi nẩy nở thêm v.v....

Muôn loài có sống là bám lấy cái sống. Không một bộ phận nào trên cơ thể sinh vật mà không có vai trò cần thiết cho sự sống, không có hoạt động nào của sinh vật được phát khởi ngoài lợi ích cho sự sống. Ăn, uống, thở ra hít vào, ngủ nghê, âm dương thèm muốn nhau, gần gũi nhau, chiếc lá vươn ra ánh sáng, cái rễ chúi xuống đất đen..., thảy thảy đều vì cái sống. Muôn loài đã sống đều bám hết mình vào sự sống. Bám hết cả mình mẩy, và cả tâm trí (nếu có) vào cuộc sống.

Muôn loài sinh vật đều thế, duy có loài người không thế. Loài người như thể không thuộc hẳn vào muôn loài: chúa tể không thuộc muôn loài. Chúa tể thuộc loài muôn-lẻ-một.

Muôn loài ăn uống để sống, loài muôn-lẻ-một còn hì hục làm ra rượu, để uống thêm. Rượu, uống vào đã rõ không cốt để sống. Cũng như thuốc lá với á phiện, hít vào không cốt để sống. Vậy mà loài người khắp nơi đều hâm mộ.

Con người còn làm bao nhiêu cái kỳ quặc, vô bổ, vô cớ khác nữa.

Đánh cờ, đá bóng, thả diều, thổi kèn, làm thơ...cũng đều không nhằm củng cố, vun bồi, phát huy cái sống. Đều là những hoạt động “chơi”, không phải hoạt động hữu ích. Hoạt động linh tinh ấy không phải là hoạt động họa hoằn: nó nhiều lắm. Nhiều một cách khiêu khích. Con người càng văn minh càng lắm sáng kiến kỳ quặc, và càng đưa những hoạt động ấy lên địa vị cao, địa vị tiêu biểu của mức độ văn minh. Giọt nước mắt cô Kiều khóc cho số phận Đạm Tiên, La Joconde với nụ cười không đâu, hạt lệ rơi lặng lẽ vì một khúc nhạc tình phụ mà ngẫu nhiên tai bắt được trong đêm khuya, niềm khoái thích về một câu pha trò thông minh, những tra vấn khúc mắt mà đau đớn, những ám ảnh suy tưởng miệt mài, vật vã, đời này sang đời khác về ý nghĩa của cuộc sống... Những cái đó đánh dấu từng trình độ văn minh mà không đóng góp vào sự duy trì cuộc sinh tồn.

Các nghệ sĩ và trí thức sẽ phản đối: Vẽ nụ cười cũng là phát huy sự sống (tinh thần), sao không? Thổi điệu sáo buồn cũng có thể như thế. — Đã đành là vậy. Nhưng ở đây, khi nói về vấn đề sống chúng ta chỉ giới hạn vào cái nghĩa hạn hẹp, thích hợp với cái sống của cả muôn loài: cầm thú, cỏ cây. Tức sự sống còn của thể xác vật lý mà thôi. 

Nhìn chung, cứ như thể muôn loài sống đều hết mình vào cái sống, còn con người — loài muôn-lẻ-một — thì muốn vươn cả ra ngoài sự sống.

Trong số những thứ hoạt động “vươn ra” ấy, nên kể một thứ đặc biệt: là tự tử. Trương Quỳnh Như tự treo cổ trong ngày cưới, đó chắc chắn không phải một phát biểu1 để vun bồi cái sống. Nếu là phát biểu, chẳng qua cô ta vùng vằng ngúng nguẩy phát biểu về một nồng độ yêu đương thôi. Hoạt động ấy là một can thiệp táo tợn của con người vào định luật thiên nhiên. Là quá xá.

Lại nên kể thêm một hoạt động “vươn ra” thật ồ ạt. Là giết nhau. Loài người giết nhau liên miên không ngừng. Lịch sử loài người là lịch sử chiến tranh. Gì còn chừa bỏ được; giết đồng loại không chừa được, không bỏ được. Có khi không cần một khung cảnh chiến trường, người ta có thể xây lò lên đốt luôn sáu triệu dân Do Thái chẳng hạn.

Muôn loài khác, có khi con này cắn con kia, bầy này đánh nhau với bầy nọ, đàn này cắn nhau với đàn khác, nhưng không dữ dằn, qui mô bằng loài muôn-lẻ-một. Thú vật quá bận vì cái ăn, không thể lao vào những cuộc chiến đấu qui mô với đồng loại. Trong muôn loài thú, được tạo hóa trang bị cho nanh vuốt dữ nhất là những loài ăn thịt. Nhưng con thú ăn thịt, hễ cứ sau mấy giờ đồng hồ, tiêu hóa ngót bụng thịt là phải vội vàng đi tìm ngay con mồi khác để săn để giết; nếu không, chính nó kiệt sức bỏ mạng cấp kỳ. Con người trồng trọt được, có vựa có kho để tích trử thực phẩm, không bị cái đói đuổi theo sát sạt, nên có thì giờ tổ chức những cuộc giết nhau dài ngày.

Đánh nhau riết, loài người trau dồi kỹ thuật và trang cụ chiến tranh đến chỗ tuyệt vời. Đã lâu, loài người có thừa phương tiện khí giới để giết trọn loài người, giết đi giết lại nhiều lần.

— Giết làm chi vậy? 

— Tất nhiên không phải vì sự sinh tồn của nhân loại. Có thể cũng không vì lợi ích thiết thực của một bên nào.

— Vậy giết nhau làm chi?

— Vì một thứ gì đó, vượt ra ngoài cái cần thiết cho sự sinh tồn.
— Một thứ gì?

— Thí dụ một quan niệm, một chủ thuyết, một tín ngưỡng...

— Trời đất!

— Là những thứ không thể khoan nhượng.

— Trời đất!

— Muôn loài sinh vật giành nhau miếng ăn, giành nhau khu vực săn mồi, là những thứ liên quan trực tiếp đến sự sống còn. Tranh giành như thế có thể tương nhượng thỏa hiệp để cứu lấy mạng sống. Phía yếu xin nhường vài miếng mồi. Chưa được? Thêm một miếng nữa nhé. Vẫn chưa? Thế thì nửa miếng nữa vậy, được chứ gì? Tranh giành rừng núi, để nới rộng khu vực săn mồi? Thì bên yếu có thể thuận cắt đất mảnh này, mảnh nữa, nhượng bộ lần lần. Miếng ăn bớt được, đất đai bớt được; chứ quan niệm, chủ nghĩa, tín ngưỡng thì cắt giảm từng miếng để mặc cả thế nào được? Kẹt cứng thôi. Giết nhau vì cạnh tranh sinh tồn còn có cách giải quyết; giết nhau bên ngoài chuyện sinh tồn thì vô phương can thiệp.

Muôn loài răm rắp theo định luật tạo hóa: Luôn luôn bám dính vào sự sống, để rồi cuối cùng lăn ra chết cả. Loài muôn-lẻ-một thì trong khi chờ chết lại lắm trò linh tinh. Chút cá tính của nó gây nhiều rắc rối, mệnh số của nó đầy bất trắc.

Trong nghìn năm tới đây, nó thêm khả năng, thử xem còn linh tinh tới đâu.

 4 - 2000

1 Xem ‘Cái chết như một phát biểu’, cùng tác giả.


Thụy Khuê - Nguyễn Tất Thành


Thụy Khuê

Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. 

Chỗ nào ông muốn viết hoặc chỉ thị cho viết, chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này, chúng tôi chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến 1923. Thời gian này, ông tự nhận là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên tên tuổi và huyền thoại Hồ Chí Minh. 


Thật vậy, về Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tường Bách, em Nhất Linh Nguyễn Tường Tam viết: "Ngày 2/9 chính phủ Hồ Chí Minh làm lễ tuyên thệ độc lập ở Quảng trường Ba Đình. Tôi đã biết từ lâu Hồ Chí Minh ngày nay là Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ thời thiếu niên. Éo le là vận mệnh đã làm cho tôi đứng vào hàng ngũ đối lập" (1).

Đặng Thai Mai cũng viết tương tự: "Chúng tôi được đọc báo Nhân Đạo và những tờ báo Bác Hồ viết ở Pháp như tờ Le Paria. Chúng tôi nhận những sách báo đó qua cụ Ngô Đức Kế, lúc đó đang làm báo Hữu Thanh (...) Kể từ những năm 1925 trở đi, chúng tôi hiểu được Liên Xô hơn vì được đọc các báo Việt Nam Hồn, Le Paria, L'Humanité, do Thủy thủ Pháp, đảng viên đảng Cộng Sản đưa vào Sài Gòn" (2).

● Một tiểu sử đầy nghi vấn 
Cuối lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng thống Pháp, xin học trường Thuộc địa, ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác ghi 15/1/1894. Hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895. Còn ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, theo Nguyễn Thế Anh, có thể là ngày kỷ niệm thành lập Mặt Trận Việt Minh, 19/5/1941 (3). Daniel Hémery cho rằng chọn năm sinh chính thức 1890 -thay vì 1895 hay 1898- chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là đã ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác. Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Thành đến Pháp năm 1919, nhưng lại chọn năm 1917, vì năm này có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga (4).

Tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh được rút ra từ ba cuốn hồi ký Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, được coi là chính Hồ Chí Minh viết. Cuối sách này đề (viết xong) Mùa xuân năm 1948. Bản gốc, chữ Hán được in ở Thượng Hải năm 1949, dịch ra quốc ngữ và in ở Hà Nội lần đầu năm 1958. Cuốn thứ nhì: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan (5) một bút hiệu khác của Hồ Chí Minh, in năm 1963. Và Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1976. 

Viết về thời gian ở Pháp, cuốn Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực hơn cả. Cuốn Hồng Hà sửa lại, đầy đủ và hợp lý hơn, nhưng nhiều đoạn thêm bớt khá lộ liễu.

Lữ Phương nhận xét: "Cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên, viết từ năm 1948, đến nay đã in đi in lại đã có cả chục lần rồi. Cuốn sách này đã đóng vai trò hết sức đặc biệt đối với giới nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh trong chế độ cộng sản Việt Nam từ đó đến nay: nó được mọi người coi như là tác phẩm do chính Hồ Chí Minh viết về mình dưới bút danh Trần Dân Tiên, một tài liệu được tác giả giới thiệu như một "tiểu sử trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không bày đặt". Cuốn sách vì thế đã thành một nguồn tham khảo căn bản, quan trọng nhất cho tất cả những công trình biên khảo về Hồ Chí Minh: các sự kiện về cuộc đời hoạt động của ông đã được đương nhiên coi là chính xác, không thể nói khác, nói ngược lại" (6).

Dựa vào sự kiện bà Lê Thị Kinh đã gặp ông Vũ Kỳ và kể lại rằng: "Chiều ngày 2 tháng 3 năm 1993, tôi đã được gặp ông Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác từ Cách Mạng Tháng Tám đến ngày Bác qua đời và đã cùng một số người quanh Bác là đồng tác giả cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" với bút danh Trần Dân Tiên", Lữ Phương đưa ra lập luận sau đây: "Không có gì ngăn cản người ta tin rằng cái "tiểu sử" dưới hình thức "truyện" ấy được chính Vũ Kỳ và những người cộng sự viết ra và ký là Trần Dân Tiên. Nhưng như vậy thì lại gặp điều khó khăn phải giải thích tại sao cuốn sách tầm thường của một tác giả vô danh là Trần Dân Tiên ấy lại có thể trở thành một thứ tài liệu tham khảo vào bậc nhất về Hồ Chí Minh như đã xẩy ra, đặc biệt trong giới nghiên cứu, giảng dạy? Sự quan trọng ấy không thể nào có được nếu những gì đã viết về ông Hồ trong cuốn sách ấy không được chính ông xét duyệt (Vũ Kỳ là thư ký riêng của ông) và một cách nào đó đã làm cho người ta hiểu rằng chính ông đã muốn phổ biến cái "tiểu sử" có nội dung như vậy. Cuốn sách, do đó, dù có do Vũ Kỳ lấy tài liệu từ Hồ Chí Minh để viết hoặc do chính Hồ Chí Minh trực tiếp viết (hay đọc cho Vũ Kỳ viết), thiết tưởng ý nghiã cũng đều như nhau: Sự xuất hiện của nó là "cái cần thiết" cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh sau 1945" (7).

Tại sao lại cần thiết cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh, Lữ Phương giải thích: "Sau 1945, Khi Nguyễn Tất Thành đã trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với cái tên mới là Hồ Chí Minh (dân chúng chưa biết rõ lắm về lai lịch của cái tên này), 1948, đang ở chiến khu Việt Bắc kháng chiến chống Pháp: phải tạo cho mình hình ảnh một "đấng bậc trưởng thượng" kiểu Châu Á có uy tín vượt trội (...) một con người trong sạch, giản dị, hoà mình vào quần chúng, được bạn bè khắp hoàn vũ mến yêu giúp đỡ còn đồng bào trong nước thì đặt hình lãnh tụ lên bàn thờ và tôn xưng là "Cha già của dân tộc" v.v... Cuốn "tiểu sử" viết về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên đã biểu lộ rất rõ cái nhu cầu năm 1948 mà Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng của ông đang muốn tạo ra cho phong trào yêu nước cộng sản trước tình hình mới - một lãnh tụ tuyệt vời và chỉ có lãnh tụ đó mới là tuyệt vời thôi!" (8).

Lập luận của Lữ Phương rất sắc bén. Duy có một điểm: bản gốc cuốn "tiểu sử" là chữ Hán, in năm 1949, tại Thượng Hải, chắc chắn phải do Hồ Chí Minh viết - trừ khi Vũ Kỳ biết chữ Hán, nhưng điều này khó mường tượng: ông Hồ đọc cho Vũ Kỳ bằng tiếng Việt rồi Vũ Kỳ dịch sang tiếng Tàu! Ông Hồ viết chữ Hán vì ông giỏi chữ Hán hơn quốc ngữ. Nhưng bản dịch quốc ngữ in năm 1958 tại Hà Nội, chắc phải do Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" thực hiện, vì trình độ quốc ngữ của "Bác" không cao -xin xem bài Việt Nam Yêu Cầu Ca- không thể viết được cuốn "Những mẩu chuyện..." Lữ Phương có lý khi ông cho rằng Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" đã góp phần trong bản quốc ngữ. So với bản chính Hán văn, sự khác biệt ra sao? Phải hỏi những nhà Hán học. Nhưng chắc bản Hán văn gần với lời ông Hồ hơn cả.

Vậy cuộc đời "thật" của Nguyễn Tất Thành từ ngày rời nước năm 1911 đến năm 1923, đi Nga, như thế nào?
Từ 1911 đến 1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đã diễn ra như sau: 
Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn trên tàu L'Amiral Latouche-Tréville, thuộc Compagnies des Chargeurs Réunis - Công ty vận tải liên kết, chạy đường Hải Phòng - Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên Văn Ba. Trên tàu gặp ông Bùi Quang Chiêu và được 2 người lính trẻ, giải ngũ, hồi hương, dạy đọc và viết tiếng Pháp. Ông Chiêu nói với Tất Thành: "Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn..." (9).

Sổ hành trình ghi: Ngày 5/6/1911 rời Sài Gòn; 6/7 đến Marseille; 15/7 tới Le Havre; 26/8/1911 đến Dunkerque (10). Theo Trần Dân Tiên, tàu đến Le Havre để sửa chữa. Nhân viên được chuyển sang một chiếc tàu khác để trở về Đông Dương, nhưng anh Ba không muốn về, anh ở lại Le Havre, làm vườn cho ông chủ tàu tại Sainte-Adresse, ngoại ô Le Havre, trong khoảng một tháng, rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu. Tại nhà ông chủ, anh Ba học tiếng Pháp với cô sen (11).

 Lê Thị Kinh viết: "Từ Dunkerque, tàu quay lại Sài Gòn và trên sổ lương của tàu có ghi: "Văn Ba đã lĩnh lương tại Sài Gòn ngày 16/10/1911". Ngày 31/10/1911 Tất Thành đã gửi một thư cho cha. Thư lọt vài tay mật thám và được chuyển cho khâm sứ Trung Kỳ" (12).

 Vậy Trần Dân Tiên giấu việc trở lại Việt Nam, bịa ra chuyện đi vòng châu Phi để làm gì? Nếu không phải là để chứng minh muốn "đi xem các nước" để tính chuyện "giúp đồng bào" ngay từ 1911? Tất Thành lúc đó chưa thể bị "mật thám" theo dõi, vì chưa có thành tích gì. Thành viết thư thẳng đến Tòa Khâm, nhờ khâm sứ chuyển tiền cho cha, đồng thời viết thư cho anh là ông cả Đạt, đang làm việc tại Tòa Khâm - Sẽ nói rõ hơn ở dưới. Trong các thư Tất Thành gửi cho cha hay cho toàn quyền, năm 1911-1912, còn ký cả tên Tây: Paul Tatthanh hay Paul Thành... nữa, vậy khó có thể nói đến việc đi Tây "tìm đường cứu nước".

● Đơn xin học trường Thuộc Địa
Lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng Thống Pháp xin vào nội trú trường Thuộc Địa được Henri de Turenne (13) phát hiện và công bố trên đài truyền hình Pháp trong chương trình về Hồ Chí Minh, tháng 1/1982. Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh chụp được hai bức thư viết tay giống hệt nhau: một gửi Tổng Thống Pháp và một gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa (14) cùng về việc xin học.

Daniel Hémery, cho rằng sự lựa chọn này là do Phan Châu Trinh dẫn dắt. Lê Thị Kinh, có lẽ do ảnh hưởng Hémery, đưa ra giả thuyết: Khi ở Sainte-Adresse: "Chắc chắn Người đã tranh thủ đến Paris gặp bác Phan, làm quen với những người quanh bác, và đặc biệt để bàn bạc với bác về hướng sống và học tập... Và có thể không phải chỉ đến một lần". Và bà tiếp tục cho rằng nhân dịp này "Người" gặp Bùi Kỷ, đang học trường Thuộc Địa và Bùi Kỷ đã gợi ý và viết đơn giùm (15).

Lập luận này không vững vì nhiều lẽ: Tất Thành chỉ ở Le Havre từ 15/7/1911 đến 26/8 đã theo tầu lên Dunkerque. Phan Châu Trinh tới Paris ngày 27/4/1911, lúc đó chưa quen Phan Văn Trường -chỉ gặp ông Trường tháng 1/1912- và chưa chắc đã biết Bùi Kỷ ở đâu. Việc thông tin thời ấy không dễ dàng, Tất Thành vừa từ Sài Gòn sang, tiếng Pháp chưa biết, lạ nước lạ cái, mà cũng chỉ ở Le Havre hơn một tháng, làm sao đã tìm được địa chỉ của Phan Châu Trinh? Mà dù có địa chỉ cũng chưa chắc đã dám xin chủ nghỉ việc để về Paris nhiều lần thăm bác, vì thời ấy di chuyển không dễ dàng như bây giờ. Hơn nữa, cả Trần Dân Tiên, Bùi Kỷ và Phan Châu Trinh đều không nói đến những cuộc gặp gỡ này. Vậy giả thiết "Bác" đã gặp Bùi Kỷ và Phan Văn Trường tại nhà Phan Châu Trinh không thể đứng vững.

 Ngoài ra, hầu hết các tư liệu đều chứng minh: Năm 1911 Tất Thành chưa có ý đồ hoạt động chính trị, chỉ muốn giúp cha và tiến thân. Sau cùng, nếu Bùi Kỷ viết đơn giùm Tất Thành, thì cũng không gửi đơn xin học cho tổng thống và bộ trưởng, mà viết thẳng cho hiệu trưởng. Vậy người viết đơn giùm Tất Thành phải là người không có trình độ cao lắm, làm việc cùng với Tất Thành ở Công Ty Vận Tải tại Marseille, Le Havre hay Dunkerque, hoặc một sự quen biết nào khác. Ngày 21/10/1911, ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa viết thư trả lời từ chối, chỉ nhận những người đã học và được toàn quyền tuyển chọn tại Đông Dương (16).

Lữ Phương dựa theo tài liệu của Hémery, thuật lại những sự kiện: khi tàu ghé Sài Gòn giữa tháng 10/1911, ngày 31/10/1911, Tất Thành viết thư gửi khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển cho cha mandat 15 đồng Đông Dương và viết thư cho anh là ông cả Khiêm -Nguyễn Sinh Khâm hoặc Nguyễn Tất Đạt- đang giúp việc vặt tại Toà Khâm Sứ Trung Kỳ, nhờ vận động xin vào Ecole Coloniale. Việc này cũng thất bại.

 Theo lời khai của ông Bùi Quang Chiêu với mật thám Sài Gòn ngày 21/9/1922, thì khi gặp trên tàu, Tất Thành nói với ông mục đích sang Pháp là để xin khiếu nại cho cha vừa bị bãi chức, và muốn đến ở nhà thuyền trưởng Do Huu Chan đang làm việc ở Marseille để nhờ ông giúp đỡ trong việc khiếu nại đó (17).

Xin nhắc lại: "Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; năm 1906 vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1/1910, thì bị bãi chức và bị triệu về Huế. Lý do: theo sở mật thám ông đã uống rượu say và đánh chết người" (18).

Vậy việc khuyên Tất Thành xin vào trường Thuộc Địa và viết đơn giùm có thể là thuyền trưởng Đỗ Hữu Chân -hay Chấn- làm. Cũng không loại trừ khả năng chính ông Bùi Quang Chiêu đã nghĩ ra, vì thương Tất Thành là con quan -ông Chiêu đã dạy ông Nguyễn Sinh Huy về nông nghiệp- phải làm việc trên tàu cực khổ, nên đã giới thiệu Thành với ông Đỗ Hữu Chấn và nhờ ông Chấn giúp đỡ, vì ông Chấn ở cùng công ty hàng hải. Đơn xin học đề ngày 15/9/1911 ở Marseille, đúng là thời gian tàu ghé Marseille trên đường về Sài Gòn. Ngày 16/10/1911, Văn Ba lĩnh lương tại Sài Gòn. Tất cả ăn khớp vì đường Thủy Marseille - Sài Gòn là một tháng. Tại Sài Gòn, Tất Thành lại nhờ anh, ông Đạt, viết thư gửi khâm sứ và toàn quyền, xin vào trường Thuộc Địa một lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Từ đây, Tất Thành phải chấp nhận nghề thủy thủ.

Theo Hémery, từ 1912 tới mùa hè 1914, Tất Thành vẫn dùng tên Ba, tiếp tục làm bồi, phụ bếp, hoặc phu khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre - Londres - New York, hoặc Châu Phi - Châu Mỹ.

 Từ 1914 đến 1919, bỏ việc trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. Hémery cho rằng trong thế chiến, Tất Thành không sang Pháp vì sợ có thể bị gọi đi quân dịch. Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và hình như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện. Trao đổi thư từ với Phan Châu Trinh bằng Hán văn. Giữa tháng 6/1919, sang Paris. Hoạt động trong nhóm An Nam Yêu Nước. Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xã Hội (SFIO), Nguyễn Tất Thành xuất hiện công khai với tên Nguyễn Ái Quốc. Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923. Tháng 2/1925, Lý Thụy xuất hiện ở Quảng Đông, tình báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc. Thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội. 

● Trình độ học vấn
Theo năm sinh chính thức 1890, thì khi xuống tàu đi Pháp năm 1911, Tất Thành 21 tuổi.
Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức khác đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học vào Phan Thiết dạy trường Dục Thanh, ít lâu sau vào Sài Gòn, rồi từ Sàigòn "xuất dương tìm đường cứu nước". 

Daniel Hémery viết: "Theo lời khai của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, thì Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d'études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (...) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết" (19).

Hémery ghi rõ học trường Pháp-Việt, còn đậu cả bằng Certificat d'études primaires. Nếu chi tiết này đúng, tức là Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có Certificat d'études primaires, tất phải biết tiếng Pháp. 

Nhưng Trần Dân Tiên viết ngược lại: Ở tàu Latouche-Tréville "mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng", "công việc kéo dài suốt ngày", "suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than", buổi tối có hai người lính giải ngũ về Pháp, tốt bụng, "dạy cho anh đọc và viết". Và khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte-Adresse, "anh học tiếng Pháp với cô sen" (20). Một người đã có bằng Certificat d'études primaires không thể không biết đọc và viết tiếng Pháp, mà phải học tiếng Pháp với cô sen. 

Nhưng cũng không có lý gì mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông lập lại nhiều lần rằng khi đến Pháp ông không rành tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.

Tại sao có nghịch lý này? Xin tạm giải thích như sau: Trong lá thư từ chối đơn xin học của Nguyễn Tất Thành (21), ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa nói rõ lý do: Trường chỉ nhận những học sinh đã học ở Đông Dương và do toàn quyền Đông Dương quyết định. Vì vậy, khi về qua Sài Gòn, Tất Thành mới viết thư cho ông cả Đạt, nhờ ông viết thư cho khâm sứ và toàn quyền, để xin cho em mình vào học trường Thuộc Địa. Trong hai lá thư này, để có trọng lượng, chắc ông Đạt khai là em mình đã học các trường Pháp Việt Đông Ba và Quốc Học... Vì vậy, năm 1920, khi Nguyễn Tất Thành đã "nổi danh" là Nguyễn Ái Quốc, sở Mật Thám gọi ông Đạt lên hỏi cung, ông giữ nguyên lời khai cũ. 

Tóm lại, vấn đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, vì cha là phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn của Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh... Còn việc học ở các trường Đông Ba, Quốc Học, dường như không lấy gì làm chắc lắm. 

(Còn tiếp)

Chú thích:

1. Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Tủ sách nghiên cứu, Montréal, 1981, trang 70.
2. Đặng Thai Mai, Hồi ký, Tác phẩm mới, 1985, trang 355.
3. Nguyễn Thế Anh, L'itinéraire politique de Ho Chi Minh, in trong cuốn Ho Chi Minh, L'homme et son héritage, Đường Mới, Paris, 1990.
4. P. Brocheux dẫn Hémery, Ho Chi Minh, Presses Sciences Po, 2000, trg15.
5. T. Lan là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh sau 1951, theo Bùi Tín, ông Hồ rút ngắn bí danh Trần Thái Lan của Nguyễn Thị Minh Khai khi hoạt động ở Hương Cảng và Quảng Đông.
6. Lữ Phương, Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh, Thư Nhà, Melbourne, Australia, 2002, trang 5.
7. Lữ Phương, sđd, trang 26-27).
8. Lữ Phương, sđd, trang 25.
9. Trần Dân Tiên, trang 17. 
10. Chép theo sổ hành trình của tàu, Hồng Hà, trang 27-28-29. Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 187. 
11. Trần Dân Tiên, trang 18-19-20. 
12. Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 187-188. 
13. Nhà báo Pháp, cánh tả, nổi tiếng làm phim thời sự về Việt Nam. 
14. Vũ Ngự Chiêu &Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành, Tủ sách Văn Hoá, Paris, 1983, trang 117- 118.
15. Lê Thị Kinh, sđd, trang 188-190.
16. Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh, trang 121.
17. Hémery, sđd, trang 36-37. Lữ Phương, sđd, trang 19-20.
18. Trích theo Lữ Phương, sđd, trang 16, LP trích lại Hémery, Jeunesse d'un colonisé, genèse d'un exil. Ho Chi Minh jusqu'en 1911, Approche Asie, No 11, 1992.
19. Daniel Hémery, Ho Chi Minh De L'Indochine au Viet Nam, Gallimard 1990, trang 32-33. 
20. Trần Dân Tiên các trang 15-16-17 và 20. 
21. Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh, sđd, trang 121.

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

Tưởng niệm Võ Đình


Chỉ Còn Tiếng Sóng
Trần thị LaiHồng

ngày nào
chưa phải ngày xưa …
cát từng ghi dấu chân
thật gần
chim từng bay song đôi 
người ơi !  người ơi !
mà ngày nay
người đã xa, đã về, đã tới
cát cũng còn in dấu chân
một mình
một mình lẻ bước
bên trời mây nước
và trăng
nhưng chim thì gãy cánh
mà vẫn còn bay bổng…

bốn năm
bốn năm
một ngàn bốn trăm sáu mươi ngày trôi
bốn năm rồi …
tôi một mình gọi nhỏ
chim ơi !  biết đâu tìm *
nghe âm vang lời chuông vọng
ngân nga
ngân nga
lắng lòng nghe chuông gióng
hòa  tiếng sóng đồng vọng …
còn chi
còn chi
chỉ còn tiếng sóng
chỉ còn tiếng sóng trong lòng...

Hoa bang, Phật Đản 2557, Giỗ VõĐình năm thứ tư

* Thơ Phạm Thiên Thư : Vết Chim Bay

Đoạn ghi thắp cây hương cho ngày giỗ Võ Đình
ĐINH CƯỜNG                          

Cuối tháng năm rồi, năm nay là năm thứ tư [1]
ngày anh Võ Đình mất, nhớ mới buổi trưa nào 
chúng tôi cùng ngồi tụng  mấy tràng kinh Phật
bên chiếc giường cao, có cô y tá người Mỹ da đen rất tốt
kiểm soát từng hơi thở cuối của một họa sĩ, một nhà văn
làm rơi nước mắt, đừng khóc 
( nhưng Nguyễn Thị Hoàng Bắc đã khóc )

căn phòng sau anh nằm có ngọn đèn vàng
căn nhà vườn rộng có nhiều cây như ở Huế
phía sân trước có cây mai anh đặt tên Thanh Tuệ, 
chị Lai Hồng sắp thêm mấy hòn đá, vỏ sò vỏ hến

căn nhà ở West Palm Beach bây giờ một mình chị ở 
căn nhà có cánh cửa chính vào là tấm tranh anh 

còn nhớ câu viết anh dán bên tường 
đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi …
của Nguyễn Bá Học anh dịch ra tiếng Anh
nhớ mấy bức tranh màu nước cũ, mấy kệ sách cũ
đẹp làm sao, thời gian không làm nhòa đi dấu tích

như trưa nay ngồi trong tịch mịch
lục lại mấy câu thơ Thầy Nhất Hạnh
với nét chữ anh chép lại trên giấy sổ tay :
cửa tùng đôi cánh khép 
một mũi tên sáng loáng lìa giây cung
lao vút tới
mặt trời nổ tung
đầy sân hoa cam rụng 
phảng phất 
bóng vô cùng [2]

nhớ tiếng chuông đồng ngân vang rất thanh 
chiếc chuông đồng rất nhỏ trên bàn thờ Ôn Mệ
hương thơm một nén bay nghi ngút
chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang [3]

thênh thang như bóng anh hay bóng Vô Cùng …

Virginia, May 29, 2013
Đinh Cường

[1] Võ Đình mất ngày 31 tháng 5, 2009 tại West Palm Beach, Florida, 76 tuổi
[2] Đại Trượng Phu – thơ Nhất Hạnh 
[3] Chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang – thơ Võ Đình



Đoàn Thanh Liêm - Xã Hội Dân Sự là Cơ Hội Thăng Tiến Phẩm Giá Con Người


Đoàn Thanh Liêm

Vào hồi đầu thập niên 1950, dưới thời chính phủ Bảo Đại, có một khẩu hiệu được trưng bày phổ biến rộng rãi nơi chốn công cộng – khẩu hiệu đó thật ngắn gọn, vẻn vẹn chỉ có ba chữ như sau : “Dân Vi Quý “.


Lúc đó, ở vào tuổi 16 -17 tôi mới là một học sinh theo đuổi chương trình Trung học ở quê nhà tại miền Bắc. Tôi có hỏi mấy bậc đàn anh về ý nghĩa của cái khẩu hiệu này, thì được giải thích như sau : Ba chữ đó là trích trong một câu gồm tất cả 10 chữ nguyên văn như thế này :

Dân Vi Quý – Xã Tắc Thứ Chi – Quân Vi Khinh “.
Khẩu hiệu này có ý đề cao địa vị quan trọng của người dân mà nhân viên chính quyền phải ra sức quý trọng - chứ không thể coi rẻ, khinh thường con người như dưới chế độ quân chủ phong kiến thời xa xưa, hay dưới chế độ độc tài chuyên chế ngày nay được. Vị trí của Người Dân được coi quan trọng hơn cả những Phép tắc Quy lệ của Xã hội. Và Nhà Vua thì phải xem là Nhẹ thôi (Chữ Khinh ở đây có nghĩa là Nhẹ). Dưới thời Quân chủ Chuyên chế thời xa xưa, thì quan điểm của Mạnh Tử như thế đó quả thật là đã hết sức tiến bộ và can đảm. Rõ ràng là nó đã đi trước rất lâu so với các nhà tư tưởng ở Tây phương như Hobbes, Locke tại Anh quốc và Rousseau, Montesquieu tại Pháp … mới nghiên cứu khai triển chi tiết đầy đủ hơn về đề tài này vào hồi thế kỷ XVIII.

Nhưng với trình độ non nớt của một học sinh trẻ tuổi vào lúc đó, tôi cũng chỉ hiểu biết một cách rất đại cương hạn hẹp như vậy thôi. Vả nữa, vào lúc chiến tranh còn đang sôi động tàn khốc hồi ấy, nên chính quyền của phe quốc gia còn bận rộn phải đối phó với nhiều vấn đề cấp bách hơn, thì cũng chưa có dịp khai triển và phổ biến cho rõ ràng rành mạch hơn về cái đường lối lý tưởng “Dân Vi Quý” này.

Mà chỉ sau này, khi đã chín chắn trưởng thành hơn qua những năm tháng học tập tại Đại học Luật khoa ở Saigon, thì tôi mới có dịp tìm hiểu cặn kẽ hơn về sự điều hành sinh họat của một quốc gia theo trào lưu dân chủ tiến bộ của thế giới ngày nay. Cụ thể hơn, thì đó là ý niệm về “Nhà nước Pháp quyền’ (Rule of Law) tức là một thể chế chính trị được xây dựng dựa trên căn bản của một hệ thống luật pháp tương đối hiện đại, hòan chỉnh mà lại thích nghi với truyền thống văn hóa và lịch sử đặc thù riêng biệt của mỗi nước.

Tôi vẫn còn nhớ một câu trong cuốn sách khai tâm về môn Chính trị học rằng : “Người dân thế nào, thì thể chế chính trị như thế đó.” (nguyên văn tiếng Pháp : “Le régime vaut ce que valent les gens”). Như dân tộc Đức vì hèn nhát bạc nhược, nên mới phát sinh ra chế độ độc tài phát xít Hitler – hay dân tộc Nga trở thành tê liệt rã rời dưới chế độ sắt máu Stalin, hay dân tộc Trung Hoa đâm ra bất lực điêu đứng dưới chế độ tàn ác Mao Trạch Đông v.v…

Qua đến thế kỷ XXI ngày nay, thì nói chung trình độ dân trí tại nhiều quốc gia đã được nâng cao tương đối khả quan – nhờ vậy mà chính quyền tại các nước đó đã hành xử đúng mức để phục vụ chăm sóc cho người dân một cách tận tình chu đáo hơn – trong tinh thần tôn trọng phẩm giá của bất kỳ một người công dân nào. Và ta thấy tại những nước có chế độ thực sự tự do dân chủ như thế đó - thì Xã hội Dân sự càng phát triển khởi sắc và đóng được cái vai trò cực kỳ quan trọng là “Làm Đối trọng đối với Chính quyền Nhà nước, cũng như đối với khu vực Thị trường Kinh doanh” (Counterbalance vis a vis the State as well as vis a vis the Marketplace).

Trong các bài trước đây bàn về Xã Hội Dân Sự (XHDS), tôi đã có dịp đề cập đến nhiều khía cạnh chính trị xã hội thật đa dạng phong phú liên hệ đến khu vực thứ ba này của cái Không gian Xã hội (Social Space). Nên trong bài viết này, tôi muốn tập chú vào khía cạnh lý tưởng văn hóa đạo đức trong sinh họat thường ngày của các tổ chức phi chính phủ, bất vụ lợi và tự nguyện của quần chúng nhân dân vốn là cơ sở nền tảng cấu thành của XHDS (Non-governmental, Non-profit, Voluntary Organisations). Đó chính là những cố gắng liên tục nhằm cải thiện khung cảnh và môi trường xã hội thông qua những họat động phát sinh từ óc sáng tạo và sự bền bỉ tích cực của mọi thành viên nòng cốt trong các đơn vị tổ chức đó.

I – Quy mô bao quát rộng lớn của Xã Hội Dân Sự.

Như ta đã biết, nội dung họat động của XHDS bao gồm mọi hình thức sinh họat tự nguyện và tự phát của quần chúng nhân dân – điển hình như trong lãnh vực nhân đạo từ thiện, tương trợ trong nội bộ một tập thể, trong sinh họat tôn giáo, trong khu vực giáo dục thanh thiếu niên, trong lãnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, trong khu vực văn hóa nghệ thuật, giải trí thể thao v.v… Tức là XHDS có phạm vi họat động cực kỳ đa dạng phong phú trong mọi lãnh vực xã hội, văn hóa, nghệ thuật cũng như tôn giáo – phạm vi này rộng lớn hơn của khu vực Nhà nước hay khu vực Kinh doanh Kinh tế Thương mại rất nhiều.

Tại các nước dân chủ tự do đích thực, thì Nhà nước không bao giờ lại tìm cách thao túng, khống chế XHDS, mà lại còn khuyến khích yểm trợ cho các sinh họat của các đơn vị tổ chức thuộc khu vực XHDS nữa. Trái lại, tại những nước độc tài chuyên chế - dù khuynh tả hay khuynh hữu – thì chính quyền Nhà nước đều dùng mọi thủ đọan để hạn chế, khuynh lóat hoặc kiểm sóat tòan thể hay phần lớn khu vực XHDS.

Điển hình như ở Việt Nam, Trung quốc hiện nay, thì đảng cộng sản cầm quyền đều giật dây, thao túng XHDS thông qua các cơ sở ngọai vi của đảng như Mặt trận Tổ quốc, Đòan Thanh niên, Hội Liên Hiệp Phụ nữ, Hội Nhà văn, Nghiệp đòan Công nhân Lao động v.v… Họ lập cả các thứ Tôn giáo Quốc doanh để kiềm chế, kiểm sóat mọi sinh họat tôn giáo nữa. Điều này thật đã quá rõ ràng là họ du nhập cái chính sách tàn bạo thâm độc đó từ Liên Xô ngay từ hồi thập niên 1920 – 30 và hiện nay ở vào thế kỷ XXI đảng cộng sản ở nước ta vẫn còn cực kỳ ngoan cố bám víu lấy cái chủ trương lạc hậu tai hại đó - để mà nắm giữ mãi cái thứ quyền hành độc tôn độc đảng của riêng cho mình, bất kể sự rên xiết lầm than cùng cực của đại đa số quần chúng nhân dân.

II – Quyền Tự do Lựa chọn Tối thượng của Quần chúng Nhân dân.

Trước tình hình bế tắc tột cùng của xã hội nước ta do đảng cộng sản gây ra như thế, những người vốn có sự quan tâm đối với tiền đồ của Dân tộc, thì nhất quyết phải cùng nhau sát cánh hợp lực với nhau - để khôi phục lại cái Quyền Tự quyết, Quyền Tự do Lựa chọn của tòan thể khối đông đảo quần chúng nhân dân trong công cuộc mưu cầu hạnh phúc đích thực cho mỗi cá nhân cũng như cho tập thể cộng đồng xã hội. Đây chính là một công cuộc Tranh đấu Trường kỳ mà Bất bạo động bằng cách Xây dựng và Phát triển Xã Hội Dân Sự thành một cao trào quần chúng vững mạnh – hầu có đủ khả năng đóng vai trò làm Đối trọng đích đáng đối với Chính quyền Nhà nước hiện do đảng cộng sản độc quyền tự tung tự tác dòng dã đã gần 70 năm qua.

Cuộc Tranh đấu cam go này đã được nhà ái quốc Phan Châu Trinh khơi ra ngay từ hồi đầu thế kỷ XX qua cái khẩu hiệu gồm tất cả ba vế như sau: “Nâng cao Dân Trí – Chấn Hưng Dân Khí – Cải Tiến Dân Sinh”. Đây cũng chính là Nội dung Cô Đọng của các mặt Họat động mà Xã Hội Dân Sự phải thực hiện cho bằng được – hầu tạo được khả năng và khí thế của tòan thể đại khối Dân tộc bắt buộc đảng cộng sản ngoan cố phải trả lại cho Nhân Dân cái Quyền Tự Quyết để mà mưu cầu Hạnh Phúc cho chính mình – chứ không còn để bị lôi cuốn mê hoặc bởi những lời đường mật dối trá lươn lẹo trong thủ đọan tuyên truyền cố hữu của cái bè lũ tập đòan chỉ chuyên có một việc hại dân bán nước từ xưa tới nay nữa.

* * *

Nói vắn tắt lại, thì Xã Hội Dân Sự chính là cái Cơ Hội Thuận Lợi Duy Nhất để Nhân Dân chúng ta có thể sử dụng để mà nâng cao Phẩm giá của mỗi Cá nhân cũng như của tập thể Cộng đồng Xã hội. Đó mới đích thực là công cuộc Giải phóng Dân tộc thóat khỏi cái vòng Nô lệ tàn bạo nghiệt ngã - mà tập đòan cộng sản đã du nhập từ ngọai bang để áp đặt trên quê hương đất nước Việt nam chúng ta suốt từ 70 năm qua.

Điểm qua tình hình tranh đấu của thế hệ trẻ tuổi hiện đang ở trong nước mấy năm gần đây – chúng ta thật sự vui mừng phấn khởi trước sự dấn thân tích cực và dũng cảm của lớp những anh thư tuấn kiệt với lòng yêu nước tràn đầy nhiệt huyết - mà điển hình như Đỗ Thị Minh Hạnh, Phương Uyên, Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang, Nguyễn Đắc Kiên, Đinh Nguyên Kha v.v… Các em này quả thật là những nhân cách tiêu biểu thật trong sáng mà Dân tộc chúng ta có thể tin tưởng và trông cậy được - trong công cuộc tranh đấu trường kỳ và gian khổ để mà khả dĩ rũ bỏ dứt khóat khỏi cái tai ách nô lệ xiềng xích tàn ác của cái nhóm giặc nội xâm cấu kết với bè lũ bá quyền thâm độc từ phương Bắc vậy.

Minneapolis – Saint Paul, Minnesota ngày 29 tháng 5 năm 2013
Đoàn Thanh Liêm





Nguyễn Hưng Quốc - Tình hình và xu hướng chính trị tại Việt Nam hiện nay


Nguyễn Hưng Quốc


Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái)
và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, hầu như giới quan sát, từ người Việt đến người ngoại quốc, đều đi đến kết luận giống nhau: Chưa bao giờ Việt Nam yếu như hiện nay.

Tuy nhiên, nói đến cái yếu của Việt Nam, phần lớn đều tập trung vào quan hệ đối ngoại, chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói, ở châu Á, không có nước nào bị Trung Quốc “ăn hiếp” nhiều như Việt Nam. Với Nhật Bản hay Philippines, họ chỉ dòm ngó một hai hòn đảo; với Việt Nam, họ dòm ngó cả chùm đảo và cả một vùng biển mênh mông. Với các nước khác, lâu lâu họ đưa tàu đánh cá hay tàu hải giám lượn qua lượn lại vài vòng thị uy; với Việt Nam, họ tung tàu đánh cá và tàu hải giám ào ạt như vào chỗ không người, hơn nữa, còn bắt bớ, thậm chí, hãm hại cả ngư dân Việt Nam. Cũng có thể nói, trước sự đe dọa của Trung Quốc, không có nước nào có phản ứng nhu nhược như Việt Nam. Nhật Bản dám dọa đánh chìm tàu Trung Quốc, Philippines đem Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế, còn Việt Nam? Ngay cả một lời lên án, họ cũng không dám nói; và khi, trước áp lực của dân chúng, phải nói, thì chỉ nói một cách… thì thầm. Vừa lên án vừa run lẩy bẩy.

Tuy nhiên, cái yếu của Việt Nam còn thể hiện ở nhiều lãnh vực khác nữa. Phân tích những cái yếu ấy, chúng ta dễ thấy xu hướng phát triển của tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay.

Trước hết là lãnh đạo yếu.

Nói đến lãnh đạo chủ yếu là nói đến đảng Cộng sản, và nói đến “yếu” là nói đến tương quan quyền lực với các thiết chế khác. Công thức phân quyền ở Việt Nam, ai cũng biết, là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý”. Suốt hơn nửa thế kỷ, hầu như mọi quyền lực đều nằm trong tay đảng. Còn nhà nước, như chính lời thú nhận của Phạm Văn Đồng, người làm Thủ tướng lâu nhất ở Việt Nam (1955-1987), với những người quen: Chưa có ai làm Thủ tướng lâu mà bất lực như ông. Ông không những bị lép vế trước Lê Duẩn, Tổng Bí thư, mà còn bị lép vế cả trước Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng. Là Thủ tướng, Phạm Văn Đồng hoàn toàn không có quyền hạn gì trong việc chọn lựa, bổ nhiệm hoặc cách chức các Bộ trưởng hay Thứ trưởng, thậm chí, các giám đốc Sở ở địa phương. Quyền lực tập trung hết trong tay giới lãnh đạo đảng, chủ yếu là Tổng Bí thư. Tuy nhiên, sau Lê Duẩn, rõ ràng quyền lực của Tổng Bí thư cứ giảm dần. Quyền lực của các Tổng Bí thư kế tiếp Lê Duẩn, từ Trường Chinh (14/7/1986-18/12/1986) đến Nguyễn Văn Linh (1986-1991) và Đỗ Mười (1991-1997), không thể so sánh được với Lê Duẩn. Tuy nhiên, dù vậy, họ vẫn giống như những ông vua. Yếu thế, nhưng vẫn là vua. Chỉ từ Lê Khả Phiêu (1997-2001) trở đi, quyền lực của Tổng Bí thư mới bắt đầu mờ nhạt. Hơn nữa, càng lúc càng mờ nhạt. Nông Đức Mạnh (2001-2011) mờ nhạt hơn Lê Khả Phiêu. Đến nay, mờ nhạt nhất là Nguyễn Phú Trọng, người được lên làm Tổng Bí thư từ ngày 19 tháng 1 năm 2011.

Vai trò mờ nhạt của Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ nhất là qua hai lần thua cuộc trước Nguyễn Tấn Dũng. Lần thứ nhất, ở hội nghị Trung ương 6 vào tháng 10 năm 2012, khi Nguyễn Phú Trọng liên kết với Trương Tấn Sang tấn công Nguyễn Tấn Dũng - người được gọi là “đồng chí X” -, nhưng cuối cùng, cả hai đều thất bại. Lần thứ hai, mới đây, ở hội nghị Trung ương 7 vào đầu tháng 5/2013, Nguyễn Phú Trọng lại thất bại trước Nguyễn Tấn Dũng lần nữa khi đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị nhưng bị Trung ương đảng bác bỏ. Thế vào đó, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu. Cả hai đều là người của Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ có một Tổng Bí thư nào lại thua cuộc một cách thê thảm và nhục nhã đến như vậy.

Nhưng việc Tổng Bí thư và cùng với ông, cả cái Đảng do ông lãnh đạo yếu thế và việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chứng tỏ quyền lực mạnh mẽ của mình như vậy có làm cho chính phủ mạnh hơn không?

Không.

Thủ tướng mạnh. Nhưng chính phủ vẫn yếu. Nguyễn Tấn Dũng mạnh đủ để thoát các đòn tấn công hiểm hóc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, nhưng chính phủ do ông cầm đầu, trên nguyên tắc, vẫn phải được lãnh đạo bởi đảng. Các chính sách lớn vẫn do đảng quyết định.

Như vậy, ở đây, chúng ta thấy một nghịch lý: Người có chức năng lãnh đạo thì yếu; còn người mạnh lại không thể lãnh đạo. Hậu quả là ở Việt Nam hiện nay, giới cầm quyền, từ đảng đến chính phủ, chỉ quản lý (management) chứ không hề có lãnh đạo (leadership). Sự khác biệt căn bản giữa quản lý và lãnh đạo là với quản lý, người ta chỉ làm theo mệnh lệnh và chỉ nhắm tới những mục tiêu ngắn hạn; nhưng khi không có lãnh đạo, người ta vừa không có tầm nhìn xa lại vừa không có mệnh lệnh cụ thể để thực hiện. Một nền quản lý thiếu lãnh đạo bao giờ cũng vừa thiển cận vừa lúng túng, vá víu và đầy mâu thuẫn. Chúng ta có thể thấy rõ những điều đó qua các chính sách và cung cách làm việc của nhà cầm quyền Việt Nam những năm gần đây. Rõ nhất là qua cuộc thảo luận về thay đổi Hiến pháp do chính họ đề xướng. Thoạt đầu, bảo không có vùng cấm trong thảo luận; sau, lại lên án kịch liệt những người kiến nghị. Thoạt đầu, hứa hẹn như một sự thay đổi lớn lao; sau, cứ thu hẹp dần lại. Thoạt đầu, định thay đổi cả tên nước; sau, lại loại bỏ ý định ấy, v.v.. Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ lúng ta lúng túng của họ trong việc đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ. Ngoài vài lời thề nguyền là sẽ không bán nước, cho đến nay, vẫn không có ai trong giới lãnh đạo phác họa được một chiến lược rõ ràng, chưa nói đến việc có hiệu quả hay không. Một chút rõ ràng cũng không có.

Đảng lãnh đạo yếu, chính phủ cũng yếu, hậu quả tất nhiên là đất nước yếu theo. Tất cả những sự nhu nhược được đề cập ở phần đầu bài viết này đều là hậu quả của hai cái yếu ấy. Ngư dân Việt Nam đi đánh cá ngoài biển cả bị “tàu lạ” đâm chìm, bắt bớ hay giết chết, không có ai can thiệp. Dân chúng hàng ngày phải ăn uống hoặc tiêu dùng những thứ độc hại được nhập cảng chính thức hay qua các con đường không chính thức không hề được ai bảo vệ. Kinh tế ngày càng kiệt quệ, gánh nặng nợ nần trên đầu người dân càng ngày càng chồng chất, không có ai quan tâm. Những người có lòng với đất nước đứng lên chống lại Trung Quốc bị đối xử như tội phạm. Mở các trang báo ngoại quốc, mỗi khi thấy tin tức về Việt Nam, đoán mười lần đến chín lần đúng: tin xấu. Nếu không phải tham nhũng thì là trấn áp.

Đảng yếu, chính phủ cũng yếu. Vậy thì ai mạnh?

Thứ nhất, các phe phái mạnh.

Thật ra, đảng Cộng sản lúc nào cũng có nạn phe phái. Trong hồi ký của mình, Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Ban chấp hành Trung ương đảng và Tổng biên tập báo Nhân Dân, giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, kể, lúc Hồ Chí Minh còn sống và ngay cả trước mặt Hồ Chí Minh, các thành viên trong Bộ Chính trị cũng không thèm nói chuyện với nhau. Hồ Chí Minh khuyên mấy cũng không được. Nhưng, dù vậy, những sự xung khắc ấy chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân. Không có phe hay nhóm nào dám công khai chống lại phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Thành ra, Lê Duẩn và dưới bóng Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tha hồ tác oai tác quái. Sau này, các phe phái nổi lên rõ hơn, nhưng không có lúc nào các phe phái lại tấn công nhau một cách công khai như bây giờ. Trước, nếu tranh chấp, hầu như chỉ dừng lại trong phạm vi mấy người trong Bộ Chính trị với nhau; bây giờ, chúng bày ra trước Trung ương đảng gồm cả gần 200 người; hơn nữa, còn tràn ra cả trước quần chúng, dù được ngụy trang dưới mật danh “đồng chí X”.

Thứ hai, vai trò của các nhóm lợi ích. Cần nói ngay, ở nước nào cũng có các nhóm lợi ích luôn tìm cách ảnh hưởng đến các chính sách của nhà nước. Ở các quốc gia dân chủ, các nhóm lợi ích ấy có thể là các nhà tài phiệt, các công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự, các hội nghề nghiệp, v.v.. Các nhóm lợi ích ấy thường hoạt động công khai, một cách trực tiếp, dưới hình thức kiến nghị hoặc thậm chí, đình công và biểu tình, hoặc qua trung gian các cơ quan lobby chính thức, chuyên đi ngả tắt. Ở Việt Nam, trước đây, ngay cả sự hiện diện của cái gọi là “nhóm lợi ích” như thế cũng không thể có, thậm chí, không thể tưởng tượng được. Thế nhưng gần đây, các nhóm lợi ích ấy lại phát triển rất mạnh và khuynh đảo cả tình hình chính trị Việt Nam.

Theo Trần Kinh Nghị, chiến thắng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Nguyễn Phú Trọng trong hai kỳ hội nghị 6 và 7 của Trung ương đảng vừa qua chính là chiến thắng của nhóm lợi ích đối với nhóm bảo thủ. Mới đây, trong bài “Đổi luật chơi trong đảng”, nhà bình luận chính trị Ngô Nhân Dụng cũng có quan niệm tương tự khi cho lý do chính khiến Nguyễn Tấn Dũng chiến thắng liên tiếp là nhờ biết sử dụng một thứ luật chơi mới: dựa trên tiền.

Thường, để cai trị, người ta sử dụng một trong hai, hoặc cả hai yếu tố: quyền và tiền. Quyền để khai thác lòng sợ hãi; tiền để kích thích lòng tham. Trước, người ta chỉ dùng quyền; bây giờ, người ta dùng cả quyền lẫn tiền. Theo Ngô Nhân Dụng:
“Từ khi làm thủ tướng năm 2006, […] Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.”

Như vậy, cái mà Trần Kinh Nghị gọi là nhóm lợi ích ấy chủ yếu là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền. Sức mạnh của Nguyễn Tấn Dũng so với Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang chính là sức mạnh của nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy.

Sự thao túng của nhóm lợi ích ấy dẫn đến hai hệ quả:

Thứ nhất, nó tạo ra một vẻ dân chủ giả, thường được gọi là dân chủ trong nội bộ đảng (intra-Party democracy). Bộ Chính trị đề nghị kỷ luật Thủ tướng, Trung ương đảng bác bỏ: Bộ Chính trị chịu thua. Tổng Bí thư đích thân đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Trung ương đảng bác bỏ: Tổng Bí thư chịu thua. Giới quan sát chính trị quốc tế, ở xa, dễ ngỡ đó là dân chủ. Nhưng không phải. Một là, thứ dân chủ nội bộ ấy không biến thành dân chủ xã hội (social democracy). Hai là, nó chỉ là cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ. Chứ không phải là dân chủ.

Thứ hai, sự thắng thế của các nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy biến đảng Cộng sản thành một đám mafia không những khuynh loát chính trị mà còn vét kiệt hết tài nguyên của đất nước và tài sản của dân chúng, ngay cả của những người dân chưa ra đời (với số nợ khổng lồ nó tạo ra!).

Điều đáng chú ý là tất cả các hiện tượng trên, từ chuyện đảng và chính phủ yếu đến chuyện phe phái và các nhóm lợi ích mạnh đều cũng xuất hiện ở Trung Quốc. Trong bài “The end of the CCP’s resilient authoritarianism? A tripartite assessment of shifting power in China” đăng trên tạp chí The China Quarterly năm 2012, Cheng Li cũng phân tích các hiện tượng tương tự tại Trung Quốc. Chỉ có hai sự khác biệt lớn. Thứ nhất, ở mức độ: Cũng yếu, nhưng cái yếu của đảng và chính phủ Việt Nam ở mức trầm trọng hơn hẳn ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, quyền hạn của Chủ tịch đảng chưa bao giờ bị thách thức một cách nghiêm trọng như ở Việt Nam. Quyền lực của Tập Cận Bình cũng như của Hồ Cẩm Đào chưa bao giờ lớn bằng Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình nhưng dù sao vẫn nghiêng trời lệch đất; cả Trung ương đảng cũng không dám chống lại. Thứ hai, theo Cheng Li, nhiều nhà phân tích chiến lược tin tưởng: đảng Cộng sản Trung Quốc có thể yếu và càng ngày càng yếu, nhưng đất nước Trung Quốc thì vẫn mạnh.

Còn Việt Nam?

Chính cái mạnh không cưỡng nổi của Trung Quốc là một tai họa cho Việt Nam. Việt Nam càng yếu, cái họa ấy càng lớn.


Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình sẽ gặp cảnh bất ngờ!

Ngô Nhân Dụng

Chủ Nhật này, cùng trong một ngày, dân Sài Gòn, Hà Nội sẽ đi biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm và lấn áp dân Việt Nam. Ðồng bào tị nạn ở Quận Cam sẽ tổ chức biểu tình trong hai ngày cuối tuần sau, nhắm cùng một mục đích. So sánh các cuộc biểu tình đó sẽ thấy người Việt tại miền Nam California may mắn hơn bà con trong nước nhiều lắm. Cho nên bà con không nên bỏ lỡ một cơ hội hiếm hoi này: Tự do tổ chức “dàn chào” để phản đối đích danh một hoàng đế Trung Hoa!


Người Việt ở Quận Cam đi biểu tình sẽ không lo bị công an ngăn cản. Cảnh sát Mỹ có mặt sẽ chỉ để bảo vệ trật tự. 

Ngược lại, đồng bào ta ở trong nước cuối tuần này chắc chắn sẽ bị công an ngăn chặn, có thể bị bắt bớ, đánh đập. Nhiều người sẽ bị theo dõi từ ngay lúc ra khỏi cửa nhà mình, dọc đường bị cản trở, bị chụp hình để giữ hồ sơ, ghi vào sổ đen.

Người Việt tị nạn tại California đã may mắn vì Tổng thống Barack Obama chọn Palm Springs làm nơi thù tiếp Tập Cận Bình. Ðây là cơ hội để chúng ta bày tỏ thái độ tại ngay nơi phái đoàn Trung Cộng ở, trong hai ngày liên tiếp. Nếu Tập Cận Bình tới Hà Nội thì chắc guồng máy công an sẽ được huy động để bảo vệ ông hoàng đế đỏ; dân Việt Nam muốn phản đối sẽ bị chặn lại cách xa hàng chục cây số, để khỏi làm “kinh động” tới “thiên tử.”

Chúng ta cần tham dự thật đông trong các cuộc biểu tình chống Tập Cận Bình sắp tới. Ðây là một “dịp may hiếm có,” cho đồng bào Little Sài Gòn, Los Angeles, và San Diego. Từ mấy chục năm nay, người Việt ở Mỹ đi biểu tình phản đối Trung Cộng chỉ có thể tụ họp trước cửa các trụ sở ngoại giao cấp tổng lãnh sự của chính quyền Bắc Kinh.

Tuần sau, chúng ta sẽ có dịp tới trước một người lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc hô các khẩu hiệu và trương các biểu ngữ tố cáo các tội ác cướp chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và những hành động hải tặc cướp thuyền, bắt ngư phủ Việt Nam trong mất chục năm qua. Có thể nói từ sau trận Ðống Ða năm 1798, đây là lần đầu tiên một hoàng đế Trung Hoa gặp cảnh bất ngờ khi gặp người Việt Nam! Ðời trước là vua Càn Long, đời nay là Tập Cập Bình! Ðây cũng là một dịp hiếm có để người Việt trực diện phản đối một hoàng đế Trung Hoa, chúng ta lại chủ động tiến công chứ không phải bị đánh úp như ở Lạng Sơn năm 1979!

Nhưng điều quan trọng nhất là cuộc tiến công lần này có thể đạt được một mục tiêu lớn: Ðánh thức dư luận thế giới về tội xâm lăng Việt Nam của Cộng sản Trung Hoa từ năm 1974 tới nay. Vì cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa ông chủ tịch mới của nước Trung Hoa và ông tổng thống Mỹ chắc chắn sẽ được báo chí cả thế giới theo dõi. Nhưng trong cuộc họp này các nhà báo sẽ được nghe rất ít tin tức về những quyết định quan trọng mới. Vì hiện nay hai nước Mỹ và Trung Quốc không có một vụ xung đột lớn nào, mà cũng không trù tính hợp tác trên một phạm vi nào mới. Khi các người lãnh đạo hai nước nhắc lại những chuyện Bắc Hàn, Tây Tạng, nhân quyền, hay vụ giá đồng nhân dân tệ vẫn còn quá thấp so với đô la Mỹ, thì ai cũng đã từng nghe, biết các chuyện đó như thế nào rồi. Do đó, giới truyền thông quốc tế sẽ bắt lấy bất cứ một biến cố mới nào bên ngoài các cuộc gặp gỡ chính, vì các tin tức mới đó sẽ được độc giả, khán giả chú ý nhiều hơn các bản thông cáo chung của hai ông Obama và Tập Cận Bình. Người Việt yêu nước khắp tiểu bang California không thể bỏ lỡ cơ hội này!

Tập Cận Bình mới lên ngôi tại Bắc Kinh, đây là chuyến công du Mỹ đầu tiên của ông ta; cho nên lực lượng những người Trung Quốc đòi tự do dân chủ chắc sẽ tổ chức biểu tình khi ông ta đến; đặc biệt trong dịp họ đang tưởng niệm các nạn nhân vụ tàn sát Thiên An Môn ngày 4 Tháng Sáu năm 1989. Tuy nhiên, báo chí quốc tế chắc đã được chứng kiến nhiều vụ biểu tình như vậy ở nhiều nơi, nhiều lần trước đây. Cuối tuần tới, họ sẽ thấy một cảnh tượng hiếm xẩy ra, cảnh người Việt Nam biểu tình chống Cộng sản Trung Quốc cướp nước!

Các cuộc biểu tình chống Trung Cộng sắp tới ở Palm Springs, California, sẽ được lên báo, lên đài khắp thế giới, dù do người Việt Nam hay người Trung Quốc đòi dân chủ. Nhưng người ta sẽ chú ý đến hành động của người Việt hơn, nếu chúng ta đưa ra được trước công chúng những tin tức tương đối mới đối với nhiều độc giả các báo hoặc khán giả các đài truyền thông quốc tế, tuy đối với chúng ta đã cũ. Ðó là các hành động xâm chiếm biển, đảo của nước Việt Nam, cho đến những lần bắn, giết và bắt cóc các ngư phủ người Việt trong các năm qua.

Cho nên, trong cuộc biểu tình sắp tới, người Việt tị nạn cần nhân dịp trình bày trước cả thế giới về các sự kiện mà họ thường không chú ý hoặc dễ lãng quên. Cần cung cấp cho công chúng và các ký giả các hình ảnh, dữ kiện và con số về cuộc xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974. Nếu lại có các cựu sĩ quan Hải Quân Việt Nam mặc quân phục đi phân phát các tài liệu này thì chắc chắn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của dư luận quốc tế. Chúng ta cũng cần trưng ra hình ảnh và các con số về những vụ đánh, cướp tầu đánh cá mới diễn ra gần đây. Trong công việc này, người Việt tị nạn có thể liên kết tổ chức cùng các người Phi Luật Tân đang sống ở miền Nam California! Báo chí thế giới đều đã nghe nói về những cuộc tranh chấp biển, đảo vùng biển Ðông Nam Á. Nhưng chúng ta có thể cung cấp cho họ thêm những dữ kiện và hình ảnh cụ thể để dư luận quốc tế nhìn thấy hình ảnh các nạn nhân có thật, những tranh chấp lý thuyết trên bản đồ từ nay sẽ mang thêm bộ mặt “người.” Ðộc giả hay khán giả truyền hình sẽ xúc động nhiều hơn khi thấy hình ảnh các ngư dân Việt Nam nạn nhân của Cộng sản Trung Quốc, cùng thuyền bè của họ đã bị cướp, phá. Chúng ta có thể nêu ra những sự kiện mới nhất, như ngày 28 Tháng Năm, 2013 vừa qua tàu đánh cá của ngư dân Quảng Bình hoạt động ở khu vực giữa Ðà Nẵng và Hoàng Sa đã bị tàu tuần Trung Cộng bắt giữ trước khi trả tự do. Hai tháng trước thì tầu Trung Cộng bắn trái sáng làm cháy một tàu đánh cá khác. Chưa kể, tàu tuần Trung Cộng đã nhiều lần đâm cho chìm tầu của người Việt để giết người ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. Những vụ đó chỉ người Việt Nam biết với nhau, mà đồng bào trong nước còn bị che giấu không cho biết đầy đủ. Ðây là một cơ hội để tố cáo tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ðể gây ấn tượng mạnh nhất cho báo chí Mỹ và quốc tế, cuộc biểu tình nên chọn một mục tiêu chính để nhấn mạnh trên đó, mặc dù các người biểu tình vẫn tự do nêu lên các đề mục tranh đấu khác mà người tị nạn vẫn đang theo đuổi. Trong một cuộc biểu tình, nếu mục tiêu được lựa chọn để tập trung các thông điệp vào một hai vấn đề chính thì công chúng sẽ chú ý và nhớ lâu hơn. Trong cuộc biểu tình này chúng ta nên nhắm thẳng vào các tội ác của Trung Cộng đối với nước ta, đặc biệt là trong vùng Biển Ðông, từ vụ chiếm Hoàng Sa năm 1974 đến nay. Thêm vào đó, chúng ta cần nhấn mạnh các chứng cớ lịch sử cho thấy các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam từ hàng ngàn năm trước.

Người Việt Nam tị nạn không nên bỏ lỡ cơ hội nhân cuộc gặp gỡ Tập Cận Bình và Barack Obama tại Sunnylands Estate, Palm Springs trong những ngày cuối tuần tới. Không những người Việt tại quận Los Angeles và quận Cam nên tổ chức cùng đi cho đông đúc mà đồng bào từ San Diego, Las Vegas, San Jose và vùng Vịnh cũng nên kéo về cùng một ngày, một giờ để tập trung vào một giờ cao điểm đông người nhất. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, không biết bao giờ chúng ta mới có dịp biểu tình phản đối trực tiếp một lãnh tụ Trung Cộng như lần này! Ðồng bào trong nước không bao giờ có cơ hội như vậy; cho nên phải coi là chúng ta rất may mắn!


Viên Linh - Võ Đình, cơm với cá

Viên Linh

(Để tưởng nhớ nhà Văn/Họa sĩ Võ Đình, nhân ngày giỗ thứ 4 của Ông)

Trong giới nghệ sĩ tạo hình, họa sĩ Võ Ðình (1933-2009) là người có cuộc sống cách biệt với giới văn nghệ Việt Nam hơn cả, song lại là người đi vào nhiều ngành hơn cả trong sinh hoạt văn nghệ: ông vẽ và triển lãm nhiều đã đành, ông dịch thuật mấy tác phẩm từ tiếng Pháp qua Việt ngữ, ông dịch thơ các thiền sư Việt Nam ra quốc âm, là tác giả của mấy tập truyện ngắn, tùy bút, v.v... Và trong cuộc sống tình cảm, nét bút, câu văn của ông cho thấy một sinh lực tàn phá muốn vỡ bờ, một xung uất khó kìm hãm, một hụt hẫng nào đó phải chiêm nghiệm lâu mới có thể hiểu. Ông và tôi có lần đã chưng hửng cùng nhau, quanh một bữa rượu, trong dăm ba lần gặp nhau ba bốn mươi năm trước.


Tên thật ông là Võ Ðình Mai, song người ta biết đến ông qua bút hiệu Võ Ðình, tên ký trên các tấm tranh trong hơn 40 cuộc triển lãm từ Âu về Á, và trên khoảng ba chục bìa sách hay bốn chục ấn phẩm (vì có nhiều ấn phẩm viết chung với nhiều người), từ quốc nội tới hải ngoại.

Sau này khi đã nổi tiếng từ ngoài trở vào tới trong nước, dường như ông có ý định ghép tên Mai vào tên hiệu Võ Ðình cho đủ bộ như lúc vào đời, song độc giả không chấp nhận, nên tên Mai lại bị loại ra, Võ Ðình lại là Võ Ðình một mình mà thôi. Ông sinh năm Quí Dậu 1933 ở Huế, chánh quán huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Những năm '50 ông du học ở Lyon và Paris nước Pháp, song cuộc triển lãm tranh đầu tiên của ông được tổ chức ở New York. Một nghệ sĩ sinh hoạt trong nhiều ngành nghề như thế, hẳn có nhiều nguyên do? Có thể ta sẽ tìm được câu trả lời qua những dòng chữ do chính ông viết: “Phần tôi, có những điều tôi nói ra không được, viết ra không được, mà lại vẽ ra được. Ngược lại, có những điều tôi vẽ ra không được, cho nên tôi cần nói ra, viết ra. Không vẽ ra được, tôi khổ sở như bị đui mù. Không nói ra, viết ra được, tôi đau đớn như bị câm điếc.” (Võ Ðình, Lời Tác Giả, Sao Có Tiếng Sóng..., Văn Nghệ xuất bản, 1991).

Nếu chỉ căn cứ vào câu này, ta có thể hiểu, theo ngành nào, viết gì vẽ gì, ngay cả lúc không viết không vẽ, ông cũng chỉ “thực hiện” con người ông. Con người ông ra sao? Du học ở Pháp thuở thiếu thời, triển lãm ở Âu Châu và Mỹ, ông dịch và viết tiếng ngoại quốc, hai lần lập gia đình với phụ nữ ngoại quốc, và những bài viết đầu tiên của Võ Ðình là truyện dịch. Năm 1971 Sáng Tạo ở Sài Gòn đã in “The Stranded Fish” của ông. Võ Ðình dịch thơ Nhất Hạnh ra “Zen Poems” năm 1976. Danh sách các dịch phẩm của ông dài gần hai trang sách. Tuy thế, như ông đã trả lời một cuộc phỏng vấn của báo chí, tâm hồn ông rất Việt Nam:
Ðến một lúc nào đó trong đời, người ta trút bỏ nhiều thứ vẫn trân quí lâu năm, và chỉ giữ lại những gì cần thiết nhất. Tôi có dịp đọc đâu đó rằng, trong chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên), nhiều lính Mỹ trước khi chết thường chỉ thều thào hai tiếng: Mom! (Mẹ ơi!), và Milk! [cho tôi tí (Sữa!)]. Cho nên, có thể nói rằng “Cuốn sách đã ảnh hưởng tới tôi” là cuốn “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” và “Luân Lý Giáo Khoa Thư.” Những cuốn sách được học (chứ không phải đọc) những năm còn là một chú bé chưa được phép mặc quần tây dài, đi giày (chỉ được mặc quần “sọt” (shorts), đi dép, hay đi... chân đất! Những bài trong sách đó, tôi còn nhớ lai rai. Chẳng hạn, chuyện “một người đã đi du lịch” nhiều nơi,” về đến quê nhà lại nói rằng “chốn quê hương đẹp hơn cả.” Chẳng hạn bài ca dao: “Ðêm đêm ra đứng bờ ao / Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ / Buồn trông con nhện giăng tơ, v.v...” Thú vị vô cùng là cái con cò “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,” bị bắt được, có thể bị đem đi xáo măng, mà còn đòi cho được “Có xáo thì xáo nước trong / Chớ xáo nước đục đau lòng cò con.” Có một số bài nữa. Văn xưa cũ, ước lệ, nhưng hay. Chẳng hạn, chuyện người nọ đi trên đường lúc chạng vạng, thấy cục đá lớn, bèn hì hục khuân nó qua một bên, có người hỏi sao lại nhọc nhằn, trả lời là sợ có người trời tối đi vấp phải! Chẳng hạn, chuyện người nọ giấu vàng trong mấy hộp trà, đem biếu xén quan lớn. Quan cầm thấy nặng, không chịu lấy, người ấy nói: “Không ai biết đâu!” Quan bảo: “Trời biết, Ðất biết, ông biết, tôi biết, sao lại nói là không ai biết?” Chẳng hạn chuyện người thợ may (gặp khách hàng hạng người luồn cúi), ông may áo tà sau dài hơn tà trước...” (Võ Ðình trả lời Viên Linh, đăng trên Khởi Hành số 67, tháng 5.2002)

Sau khi kể như thế, Võ Ðình kết luận:
Sách hay như thức ăn ngon. Ăn ngon thì khoái, thì sướng. Cũng có thức ăn thực đơn sơ, đạm bạc, nhưng tiêu hóa đã lâu, món ăn đã thành máu trong người. Sách như Quốc Văn Giáo Khoa Thư, như Luân Lý Giáo Khoa Thư, là thức ăn đạm bạc đó. Ở quê tôi, Thừa Thiên, có thành ngữ: “Cơm với cá như Mạ với con.” Tiếng Huế, Mạ là Mẹ. Với tôi, và tôi nghĩ, với những người cùng lứa tuổi, QVGKT và LLGKT là “cơm với cá” vậy. (Sđd)

Ðó là ý kiến Võ Ðình về những cuốn sách hay đã đăng báo.

-Trong thư riêng với nhau, anh viết lác đác đây đó với tôi. Năm 2001 thấy tờ báo mình làm, là báo văn nghệ, cần những minh họa hay những nét phác họa nho nhỏ, tôi gửi qua Royal Palm Beach Florida cho anh chỉ một tấm danh tiếp ghi hai câu “lẩy Kiều”: “Mai sau dù có bao giờ / Vẽ dăm ba nét cũng nhờ được nhau.” Khoảng một tuần sau một cái phong bì khổ lớn, lộm cộm nhiều mảnh giấy bên trong, đã nằm trong Hộp Thư Lưu Trữ của tờ báo. Mở ra, có tới 10 bức vẽ nho nhỏ “từ dăm ba nét tới cả vài trăm nét,” và một bản photocopy cái thiếp nhỏ của tôi có hai câu lẩy Kiều nói trên, tiếp bằng hai câu “lẩy Kiều” Võ Ðình gửi trả lại: “Trăm năm một cuộc bể dâu / Nét thì nét bấc mà đau đớn lòng.” Mấy chữ đau đớn lòng, nghĩ thế nào cũng được; có thể hiểu là nội dung những nét vẽ, có thể hiểu là vẽ cho bạn ta thì chẳng có nhuận bút gì hết mà vẫn phải vẽ!

Bây giờ là tháng 10, 2005... Mấy tháng nay tôi lấn bấn với chuyện sức khỏe, không lái xe, không đọc sách báo được! Mổ 2 lần, làm lại cầu răng 1 lần. Ðang chờ bão Wilma. Tôi đồng ý với anh về chuyện dịch thơ. Tôi không bao giờ dịch thơ cả. Những bài thơ-kệ trong “Hương Thiền” và “Một Cành Mai” là những bài chú trọng về ý hơn là về lời thơ. Ý, có thể dịch ra một ngôn ngữ khác, thơ, không được.

Hơn một năm sau, anh gửi cho tôi một số “vài nét” khác, và một mảnh “post-it” trên có viết:
VL: Tôi gửi ông vài nét. Tùy theo nhu cầu, xin ông cắt xén tự do. Tôi gửi chậm vì mắt (phải mổ). Tôi thích mấy cái “collages-cắt dán” của ông trong KH mới nhất. Thân (VÐ 6.13.2006)

Khi đụng tới văn học nghệ thuật, Võ Ðình không nể nang. Ðây là điểm đáng quí nhất nơi người nghệ sĩ tự trọng. Ấy là tránh tối đa những viết lách, hay lời nói thù tạc, những khen ngợi chỉ cốt làm vừa lòng người khác, nhưng thật sự là giả dối. Võ Ðình đã nhiều lần bị than phiền vì những phát biểu về nghệ thuật - người có công tâm sẽ thấy, nếu những phát biểu ấy là đúng, và phải thấy như thế - thì người phát biểu chính là người nghệ sĩ chân chính.

Một trong những phát biểu ấy là câu họa sĩ trả lời nhà văn Phạm Thị Hoài, chủ bút Talawas năm 2002, khi cô hỏi ông câu hỏi sau đây: “...nhiều khi anh viết trực tiếp về việc vẽ. Chỉ có một số rất ít họa sĩ Việt Nam làm như vậy. Phần lớn thường từ chối phát biểu bằng lời. Phát biểu duy nhất của họ là: tác phẩm đã đủ nói lên tất cả. Ðây có phải là một thái độ riêng của giới sáng tác hội họa Việt Nam không? Nó có tất yếu không? Có nên giữ như vậy không?”

Võ Ðình:
Tôi thông cảm với những họa sĩ (Việt Nam) “từ chối phát biểu bằng lời.” Không, đây không phải là “một thái độ riêng của giới sáng tác hội họa Việt Nam.” Từng cư ngụ nhiều năm ở Pháp rồi ở Hoa Kỳ, tôi nhận thấy giới sáng tác hội họa ở đó cũng thường giữ im lặng lắm. Theo tôi hiện tượng ấy có mấy nguyên do.

1. Hội họa là một nghệ thuật câm nín. Người họa sĩ không có thói quen phát biểu bằng lời trong cuộc sống, trong công việc. Ngày xưa, Paul Cézanne, cha đẻ của hội họa hiện đại từng nói: “Người họa sĩ suy tưởng với cây cọ trong tay.” (Un peintre pense avec les pinceaux dans les mains.)

2. Ngôn ngữ hội họa là một ngôn ngữ dị biệt. “Nói” về hội họa thường chỉ đi vòng quanh hội họa, khó đi sâu vào bên trong. Câu 3 và câu 4 đã gây xúc động, bài này sẽ không nhắc lại hết, tuy nhiên khi Võ Ðình nói “hiếm có những tác phẩm đã đủ nói lên tất cả, hiếm lắm,” thì điều ấy không sai. Ông nói rõ rằng không chỉ giới họa sĩ, mà “nói chung, ở người Việt Nam,” người ta ngại phát biểu bằng lời vì “e ngại ‘bút sa gà chết’, đụng chạm tự ái kẻ khác.”

Những dòng này được viết ra nhân ngày giỗ thứ tư của họa sĩ (mất vào 6 giờ Chủ Nhật, giờ Florida, ngày 31 tháng 5, 2009). Như một tưởng nhớ người nghệ sĩ bộc bạch hiếm có.

(Ngày 29 tháng 5, 2013)