Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Trịnh Hội - 7 đề nghị


Trịnh Hội

Đầu tiên tôi cần phải thú nhận là lúc còn đi học luật ở Melbourne, môn học luật hiến pháp (constitutional law) là một trong những môn tôi chán nhất. Thứ nhất vì lúc ấy những bài giảng (lectures) được sắp quá sớm. Hình như vào khoảng 8:30 sáng của ngày. Là cái khoảng thời gian mà tôi nghĩ chúng ta hoàn toàn vẫn còn có thể say đắm với cái giường của mình (nhất là ở cái độ tuổi 18,19!) . Chứ không phải là ngồi trong một lớp học để tìm hiểu xem tại sao điều khoản của bộ luật trong tiểu bang này đi ngược lại với nội dung của bộ luật liên bang kia. Và thế là bộ luật của tiểu bang kia đã vi hiến. 


Thứ hai, nghiệt ngã hơn, nó lại rơi đúng vào ngày thứ hai của mỗi tuần. Báo hại ít khi tôi có đủ thời gian để đọc trước các tài liệu hoặc phán quyết của tòa. Để từ đó mình có thể hiểu rõ hơn vấn đề đang được mang ra bàn cãi trong lớp học. Vì một lần nữa tôi cũng phải thú thật là trong một, hai năm đầu khi mới vào trường luật, tôi là thằng cực kỳ ham... chơi hơn ham học. Đang phơi phới tuổi xuân mà cuối tuần bắt tôi phải ngồi nhà đọc ba cái tài liệu nhảm nhí về hiến pháp thì...không bao giờ.

Thế mới thấy thời gian xảy ra (timing) rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là càng già tôi lại thấy mình càng nhảm nhí.

Bởi trong vài tháng gần đây bỗng nhiên tôi lại thích tìm hiểu hơn về vấn đề này. Dĩ nhiên vì nó liên quan đến Việt Nam. Nhưng hơn hết vì cuối cùng tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của luật hiến pháp. Vì nói đến hiến pháp là chúng ta nói đến bộ luật căn bản nhất của một đất nước. Không có nó quốc hội đơn giản không thể thông qua các bộ luật. Không thật sự tôn trọng nó, đất nước ấy chỉ là sân chơi của những kẻ có quyền. Nơi pháp quyền (rule of law) nằm dưới sự chỉ đạo của những kẻ cai trị (rule of men). Như những gì đã và đang xảy ra ở Việt Nam.

Thế nhưng điều kỳ lạ là hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam lại đang muốn sửa đổi hiến pháp. Và họ đang hồ hởi, phấn khởi kêu gọi tất cả mọi công dân Việt Nam đóng góp ý kiến.

Cũng nhờ vậy mà trong ba tháng vừa qua, tôi đã đọc được một số kiến nghị liên quan đến vấn đề này. Từ kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức cho đến lời kêu gọi của các công dân tự do, tuyên bố của các sinh viên luật, luật sư trong nước. Hay bản thông cáo của Phong Trào Con Đường Việt Nam dành cho các tổ chức trong và ngoài nước. Hoặc bản đệ trình của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam.

Nhìn chung có thể nói đây là vấn đề ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm, theo dõi. Nó khác hơn nhiều so với năm 1992 là năm Hiến pháp Việt Nam được sửa đổi lần cuối. Đây là một sự thay đổi tích cực và là một điều may cho dân tộc.

Dĩ nhiên tôi cũng thừa hiểu là ở Việt Nam, quan tâm, theo dõi hay kiến nghị là một chuyện. Đảng và nhà nước có thật sự lắng nghe và thay đổi hay không lại là một chuyện khác.

Nhưng có còn hơn không. Và đặc biệt hơn, dù muốn hay không, thì tất cả những ý kiến ấy cũng đã được thế giới lắng nghe và công nhận. Nếu Đảng và nhà nước không thực thi thì nó chỉ làm bẽ mặt họ và một lần nữa xác nhận là Hiến pháp Việt Nam thật sự chỉ là một công cụ để họ bảo vệ chế độ độc tài, độc quyền của họ.

Cũng bởi tôi nghĩ thế nên sau khi đọc một số kiến nghị, tôi cũng muốn viết riêng cho mình một bản đề nghị sửa đổi Hiến pháp. Nó không khác gì mấy so với những bản khác nhưng nó là của riêng tôi, một công dân Việt Nam theo đúng luật quốc tịch Việt Nam hiện hành.

Hay là thế này. Nếu bạn đồng ý thì cùng ký với tôi. Còn không thì cũng xin cho tôi biết. OK?

***

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, có những đề nghị sau:
Gia hạn thời gian lấy ý kiến cho đến ngày 31/12/2013. 

Sửa đổi Hiến Pháp là một việc tối trọng. Chỉ dành vài tháng để lấy ý kiến nhân dân không thể hiện đủ sự tôn trọng của nhà nước đối với văn bản luật căn bản nhất của một đất nước và chủ quyền của tất cả mọi công dân Việt Nam trong và ngoài nước.

Bất kỳ Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp nào trong tương lai cũng phải được thông qua bằng một cuộc Trưng cầu Dân ý được tổ chức công khai, công bằng và minh bạch thì sau đó nó mới có chính danh và hiệu lực. 

Quyền lập hiến là quyền sinh ra tất cả các quyền và nghĩa vụ khác của mọi công dân, tổ chức, cơ quan, hoặc đảng phái. Vì vậy, không một ai hoặc đảng phái, cơ quan nào, kể cả Quốc hội, có quyền thông qua bất kỳ Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp nào mà không được sự chấp thuận trực tiếp từ cử tri Việt Nam.

Thành lập một Tòa án Hiến pháp độc lập có thẩm quyền xem xét và phán quyết tất cả những vấn đề liên quan đến các qui định trong Hiến pháp.

Tòa án này sẽ có thẩm quyền và nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, không cho phép bất kỳ một ai hay đảng phái nào lạm dụng quyền hạn đã được phân chia theo hệ thống tam quyền phân lập. Vai trò của nó không thể chỉ là một cơ quan tư vấn, kiến nghị như được quy định trong bản dự thảo hiện hành.

Bản Dự thảo Sửa đổi cuối cùng dành riêng một chương bảo đảm các Quyền Con Người theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn Quốc tế năm 1948 về Quyền Con Người của Liên Hiệp Quốc và các Công ước Quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia.

Trong trường hợp có sự khác biệt giữa các điều luật khác và những quy định trong Hiến pháp về quyền con người thì đương nhiên những điều luật khác sẽ không còn hiệu lực và không được áp dụng. Để giải quyết những tranh chấp giữa các cá nhân, đoàn thể hoặc đảng phái liên quan đến quyền con người, một Hội đồng Quốc gia về Quyền Con Người (Human Rights Council) độc lập phải được thành lập để xem xét và đưa ra phán quyết cuối cùng.

Bảo đảm và tôn trọng quyền sở hữu tài sản, đặc biệt là quyền sở hữu đất đai của tất cả mọi người dân hoặc tổ chức cá nhân. 

Đây là một trong những quyền tự nhiên và căn bản nhất của con người. Vì vậy không một nhà nước nào có thể mệnh danh nhân dân sở hữu hoặc quản chế thay họ ngoại trừ đối với những khu vực, biển đảo liên quan đến an ninh quốc gia.

Xác nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường không theo bất kỳ định hướng nào.

Bất kỳ một nền kinh tế nào mang đến sự no ấm, sung túc cho người dân Việt Nam đều sẽ được áp dụng. Mọi định hướng, xã hội chủ nghĩa hay tư bản, đều vi hiến. 

Bản Dự thảo Sửa đổi cuối cùng sẽ không đề cập, tán dương hay lên án bất kỳ một đảng phái, chế độ, cơ quan hay cá nhân nào, trong quá khứ cũng như hiện tại. 

Chỉ có chủ quyền, lợi ích và dân tộc Việt Nam sẽ được nêu đích danh để bảo vệ và phát triển. Mọi ý tưởng khác như Điều 4 trong bản dự thảo hiện hành ghi nhận “Đảng Cộng sản Việt Nam... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” hoặc Điều 70 cho rằng “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đều vi hiến, đặt quyền lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam trên chủ quyền và quyền lập hiến của công dân Việt Nam.


Phạm Thị Hoài - Hiệu ứng Trương Duy Nhất


Phạm Thị Hoài

Vài tháng trước, một người từng tham gia những hoạt động không được chính quyền Việt Nam ưu ái như biểu tình, kiến nghị, đồng thời là tác giả của một số bài viết thẳng thắn về những đề tài nhạy cảm đăng trên blog cá nhân, chia sẻ với tôi rằng cho đến nay ông vẫn an toàn và sự an toàn đó có ý nghĩa lớn, vì nó giúp những người khác bớt sợ hơn.


Quả thật số người không còn sợ hay đã bớt sợ bộ máy trấn áp của chế độ chưa bao giờ tăng nhanh như trong thập niên vừa qua tại Việt Nam, và một phần quan trọng là do được khích lệ bởi sự an toàn tương đối của cá nhân một số người đi ở hàng đầu. Cho đến Chủ nhật vừa rồi, blogger Trương Duy Nhất thuộc về số ấy. Song việc ông bị bắt khẩn cấp một lần nữa cho thấy: bảo hiểm chính trị ở Việt Nam chỉ đảm bảo một điều duy nhất, đó là: nó không bảo đảm điều gì hết.

Trương Duy Nhất đã chuẩn bị sẵn chỗ dựa lập luận để tránh cho mình khỏi trở thành nạn nhân của bộ máy trấn áp một cách vô ích. Bài trả lời một nhân vật Tom Cat nào đó của ông là tổng kết của những lập luận này, không ai có thể bảo vệ ông xuất sắc hơn. Ông trình bày mình như một tiếng nói độc lập chứ không đối lập, một nhà báo tự do chứ không li khai, một người phát ngôn chính kiến riêng chứ không bất đồng chính kiến, phản biện chứ không phản động, phản đối chứ không chống đối. Ông không treo biển “Kính Đảng, trọng chế độ, yêu Bác Hồ” [i], không trưng hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không đồng tình với mọi biểu hiện chống cộng cực đoan, không đi biểu tình, chưa bao giờ kí tên vào một bản tuyên bố hay kiến nghị, và bất chấp những tấn công và đe dọa từ nhiều phía vẫn không rời góc nhìn KHÁC của mình. Trong nhiều năm trời, ông đi ở ranh giới giữa an toàn và mạo hiểm mà tỉ lệ có thể là 51 % nghiêng về an toàn.

Một số người có cảm giác rằng thời gian gần đây, tỉ lệ ấy đã đảo ngược, Trương Duy Nhất đã ngày càng đi xa hơn trong quan điểm phê phán chế độ và đó là một trong những lí do khiến ông bị bắt. Tôi cho rằng mọi phỏng đoán đều vô nghĩa, vì không có một biểu giá an toàn nào cố định trong một chế độ công an trị, trừ biểu giá duy nhất là không làm gì hết. Ảo tưởng về những vùng an toàn nào đó, trớ trêu thay, được nuôi dưỡng trên mảnh đất đầy mìn, gài bởi chính sách chia để trị, kết tinh thành thủ pháp điêu luyện nhất của bộ máy an ninh Việt Nam. Người chưa bị đụng tới có thể là một cái thớt hữu ích cho con dao bổ xuống người nằm trên thớt. Hay đơn giản hơn, những người còn đi xa hơn Trương Duy Nhất mà vẫn an toàn chẳng qua là “của để dành”, nói theo cách dân dã của blogger Người Buôn Gió, cho những thao tác khác trong chiếc hộp đen của bộ máy quyền lực mà chúng ta chịu đựng và dung dưỡng.

Quan sát từ những bản án chính trị trong ba năm gần đây (2011, 2012, 2013), tôi nhận thấy hai đặc điểm đáng lưu ý: Thứ nhất, tuyệt đại đa số những người bị kết án đều không phải là đảng viên Đảng Cộng sản [ii]. Thứ hai, tuyệt đại đa số những người bị kết án đều không ở trong biên chế cán bộ, nhân viên, công chức các cơ quan Đảng và nhà nước [iii]. Ông Trương Duy Nhất thỏa mãn cả hai đặc điểm này. Khả năng vụ điều tra ông được đình chỉ như trong trường hợp ông Phạm Chí Dũng, đảng viên, cán bộ Thành ủy TPHCM khi bị bắt, có vẻ như xa vời.

Trở lại với câu chuyện mở đầu bài viết này, vâng, tôi đồng ý rằng người ta bớt sợ khi dựa lưng vào an toàn. Nhưng điều đáng nói hơn là: người ta có thể can đảm lên, khi chứng kiến người khác thách thức mạo hiểm và đường hoàng chấp nhận cái giá của hành động đó. Trương Duy Nhất rất chú trọng đến hiệu ứng thông điệp của các hình ảnh. Ông từng ca ngợi hình ảnh hiên ngang của Cù Huy Hà Vũ, hình ảnh trong trắng, đĩnh đạc của Nguyễn Phương Uyên. Bức hình chụp ông trong ngày bị bắt cho thấy một Trương Duy Nhất khỏe mạnh và tự chủ, không một nét khiếp nhược. Tôi hoàn toàn tin rằng nếu phải đứng trước tòa, ông sẽ là một hình ảnh đẹp và hình ảnh ấy sẽ có ý nghĩa lớn, vì nó gây cảm hứng cho lòng can đảm, cũng như blog Một góc nhìn khác của ông đã góp phần quan trọng để giới blogger Việt Nam bớt e sợ, khi ông còn an toàn.
© 2013 pro&contra

[i] Ngay sau khi Trương Duy Nhất bị bắt, chủ nhân của blog “Kính Đảng, trọng chế độ, yêu Bác Hồ” này, nhà báo kì cựu Đào Tuấn, người có nhiều bài viết nhạy bén và thẳng thắn mà tôi thường xuyên theo dõi, lập tức lên tiếng với bài “Cái còng và khẩu súng không thể chĩa vào Nhất”. Nhưng một ngày sau, bài ấy chỉ còn là mã 404 trên chính trang của chủ blog.
[ii] Riêng ông Vi Đức Hồi từng là giám đốc trường Đảng một huyện ở Lạng Sơn, nhưng đã trở thành thành viên Khối 8406 và bị khai trừ Đảng nhiều năm trước khi bị bắt.
[iii] Ngoại lệ duy nhất là ông Đinh Đăng Định, giáo viên trung học phổ thông ở Đắk Nông.


Bùi Tín - Chủ nghĩa tư bản lương thiện, hay chủ nghĩa tư bản rừng rú?


Bùi Tín

Nhận diện cho thật rõ bộ mặt của chế độ kinh tế và chế độ chính trị ở Việt Nam là cả một quá trình khó khăn, phức tạp.


Các nhà lý luận kinh tế trứ danh trên thế giới, các nhà nghiên cứu chính trị kinh tế Việt Nam trong, ngoài nước đã có nhiều luận văn, trao đổi tranh luận về vấn đề này.

Hiện nay các tạp chí kinh tế quốc tế gọi nền kinh tế VN là nền kinh tế theo «chủ nghĩa tư bản theo phe nhóm được nhà nước đỡ đầu» (state-sponsored crony capitalism), một sản phẩm mới mẻ kỳ lạ đang trong thời kỳ phôi thai thử nghiệm, sinh ra từ thời kỳ «hậu Liên Xô», «hậu phe xã hội chủ nghĩa».

Nhiều nhà lý luận cho rằng đây là một quái thai sinh ra từ những yếu tố mâu thuẫn nhau trong một cuộc hôn nhân cưỡng ép, một chế độ chính trị độc quyền đảng trị kết hợp với một nền kinh tế thị trường tư bản mang bản chất tự do.

Nền «kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa» là gì? Kinh tế thị trưởng là chỉ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vốn mang bản chất tự do (dưới chế độ tư bản – pháp quyền), còn định hướng xã hội chủ nghĩa là chỉ chế độ cai trị độc đoán của đảng CS, một chế độ chuyên chế độc quyền trong đó Bộ Chính trị là ông vua tập thể có mọi quyền hành chính trị - kinh tế - tài chính không hạn chế, không ai kiểm soát.

Hiện nay phần lớn các nước trên thế giới theo chủ nghĩa tư bản lương thiện (tạm dịch chữ Pháp capitalisme honnête), xã hội vận hành theo luật pháp nghiêm minh không ngừng được hoàn thiện, kết hợp hài hòa nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tự do, bình đẳng, cạnh tranh nhau trong trật tự luật pháp, với một chế độ chính trị dân chủ ngày càng được nâng cao.

Tại các nước này, nền tảng kinh tế vững chắc, cũng là động lực xã hội là chế độ tự do kinh doanh và chế độ tư hữu được luật pháp bảo đảm. Nền tảng chính trị là các quyền tự do của công dân: tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do bầu cử… Các đảng phái bình đẳng, vừa hợp tác vừa ganh đua phục vụ xã hội, lấy cử tri làm trọng tài trong các cuộc bầu cử định kỳ. Do có ganh đua và bầu cử định kỳ, đảng nào cũng phải cố lập thành tích, tạo tín nhiệm với cử tri, giữ mình trong sạch.

Ở nước ta do độc quyền đảng trị nên dân không có sự lựa chọn. Bộ Chính trị lộng hành không ai kiểm soát, kiềm chế. Thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nghiêm cấm các bộ trưởng, thứ trưởng không được tham gia quản lý trực tiếp các công ty quốc doanh, cấm ngặt chuyện vừa đá bóng vừa thổi còi. Chức trách các bộ trưởng, thứ trưởng chỉ là quản lý về chính sách cho thật nghiêm trong ngành mình.

Vừa nắm luật pháp,chính sách vừa chỉ đạo kinh doanh, sẽ thiên vị bất công, khuyến khích tham nhũng không giới hạn, chia chác hoa hồng, bổng lộc không ai kiềm chế, làm cho các tổng công ty quốc doanh làm ăn thua lỗ liên miên và phá sản hàng loạt. Vinashin, Vinalines, các tổng công ty điện lực, khoáng sản, giao thông vận tải, hàng không, dầu mỏ, bô xít… đều là những công ty «phá gia chi tử», những đứa con hư hỏng do được nuông chiều quá đáng.

Sau khi ông Võ Văn Kiệt mất vào tháng 6/2008, Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh với vốn của Nhà nước, mang tên SCIC (State Capital+Investment Corporation) được thiết lập. Đây là con bạch tuộc khổng lồ tiếp nhận vốn quy mô ngày càng lớn từ 2 nguồn ngoại tệ tuôn vào là vốn ODA (Official Development Assistance), và vốn FDI (Foreign Direct Investment), mỗi năm hàng chục tỷ đôla. Ban quản trị là ai? Các phó thủ tướng, bộ trưởng và thứ trưởng các bộ kinh tế, kế hoạch đầu tư, tài chính… đều có chân trong ban quản trị, ban giám đốc, ban thanh tra, kiểm sát… của Tổng công ty khổng lồ này cũng như của các công ty quốc doanh khác. Ngoài lương phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, họ nhận lương, phụ cấp, tiền thưởng, tiền hoa hồng từ mỗi khoản xây dựng xong công trình, từ chuẩn bị và hoàn thành mỗi đề án… Số tiền phụ thu của «trọng tài» có khi gấp 5, gấp 7 lần tiền phụ cấp cho «cầu thủ đá bóng». Cũng có người cho rằng có khi gấp trăm lần hay hơn nữa. Máu mê kinh doanh không sao kiềm chế nổi. Thảm họa dân tộc là từ đây. Có ông nghị nào dám lên tiếng?

Con bạch tuộc SCIC lộng hành, vươn vòi ra hút vô vàn tài nguyên, xương tủy người lao động, để một khối tài sản lớn, cuối cùng là chui vào túi các quan chức CS chóp bu. Chính đó là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính và khủng hoảng ngân hàng, là nguyên nhân của «núi nợ» quốc gia có thể lên đến 1 triệu tỷ đồng, bằng 50 tỷ đô la. Chủ nghĩa tư bản độc đảng rừng rú là đây.

Cho nên không có gì lạ là khi Bộ Chính trị giở mưu mẹo mỵ dân, bất đắc dĩ chơi trò sửa Hiến pháp, vẫn một mực trơ tráo giữ nguyên cái cốt lõi XHCN vu vơ và cái độc quyền đảng trị - Điều 4 -, không ai còn ngửi được, kể cả những đảng viên lão thành và nhiều trí thức đảng viên có nhân cách và công tâm. Biết bao đảng viên đang thất vọng, hổ thẹn còn là đảng viên CS.

Không có gì lạ khi Quốc hội đang họp vẫn dửng dưng không ai quan tâm đến tiền lương quá thấp (tối thiểu là 1 triệu 6/tháng, bằng 80 US$), tỷ lệ thất nghiệp tăng nhanh, nhất là trong lao động trẻ, mới ra trường, và mỗi tháng đang có trên 60 ngàn cơ sở kinh doanh vừa và nhỏ đóng cửa, phá sản. Tầng lớp trung lưu trong toàn quốc đang bị dồn vào thế suy kiệt chỉ vì cái phương châm lấy kinh tế quốc doanh làm chỉ đạo, dồn vốn, nguyên liệu, phương tiện cho các cơ sở quốc doanh được ưu đãi, nuông chiều đặc biệt, do các quan chức CS đầy quyền lực điều hành, che chắn, vì đây là bầu vú sữa của các quan vừa nắm quyền lực vừa trực tiếp kinh doanh, dù không mảy may có tri thức, kinh nghiệm.

Tầng lớp trung lưu Việt Nam đang thức tỉnh. Cả một tầng lớp có số đông, có tiềm năng kinh tế tài chính, trí thức, kinh doanh to lớn bị kiềm chế, đối xử lạnh nhạt, thậm chí đàn áp thô bạo khi ngẩng cao đầu đòi chút tự do quá hiếm hoi. Cả một tầng lớp đang lần lượt đứng dậy, nhận ra mình, nhận ra thời cơ nghìn năm có một, khinh bỉ những kẻ tự nhận là cách mạng lại hèn với giặc, ghê tởm lũ chính trị gia bịp luôn mồm, thề thốt xoá bỏ bóc lột và liên minh với vô sản nhưng lại tự biến thành lớp tư bản đỏ chưa kịp sống đến cuối đời đã sớm chuẩn bị giãy chết.

Hãy thực hiện chủ nghĩa tư bản lương thiện trên cơ sở nền dân chủ đa nguyên, từ bỏ dứt khoát cái đuôi súc vật xã hôi chủ nghĩa với nền chuyên chính một đảng rừng rú.

Bộ Chính trị 16 người hãy suy nghĩ cho kỹ về vấn đề quyền con người, khi chỉ đạo phiên họp Quốc hội hiện tại, dắt dẫn việc sửa đổi Hiến pháp, khi bàn về những vấn đề gay gắt của nền kinh tế tài chính, về việc cơ cấu lại nền kinh tế, ngành ngân hàng, khi lãnh đạo việc bỏ phiếu tín nhiệm 49 nhân vật then chốt, và nhất là khi thực hiện cuộc dân vận mới với phương châm «trọng dân, gần dân, hiểu dân và tin dân».


Tưởng Năng Tiến – Chỉ Một Góc Nhìn Duy Nhất

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Trước một thông tin, trước một tác phẩm, một bài viết, một cây bút, một góp bàn phản biện, chỉ được phép dùng chính phương cách truyền thông “tham chiến”, chứ không được phép dùng đến cái còng số 8, nòng súng và nhà giam. - Trương Duy Nhất

Sau quyết định (“Nghỉ Báo Viết Blog”) của Trương Duy Nhất, có độc giả “bình” rằng đây là một “cáo phó” cho báo bổ thời bao cấp. Ông Mặc Lâm thì mô tả hành động này như là một phương cách “thoát khỏi vòng kim cô” của nhà báo nổi tiếng này.


Trương Duy Nhất, nói nào ngay, không phải là người đầu tiên có quyết định ngon lành như thế. Hơn nửa thế kỷ trước, Nguyên Hồng còn tuyên bố một câu (ngon) hơn thế:

 “Đủ, đủ lắm rồi. Ông đéo chơi với chúng mày nữa.”

Ấy thế nhưng chả bao lâu sau, vẫn theo lời kể của Tô Hoài: 
“Hội Nhà văn Đức tặng Hội Nhà văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình của Việt, của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế.
Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe lăn cả vào kho Bộ Thương nghiệp.” (Tô Hoài. Cát Bụi Chân Ai. Westminster, CA: Hồng Lĩnh, 1993.)

Tôi nghe nói, Bộ Thương Nghiệp, vào thời điểm vàng son của nó, quản  luôn cả đến cây kim và sợi chỉ nữa cơ. Nhờ thế, nhà nước cột chặt được tất cả mọi người, không xót một ai.  Muốn “đéo chơi” (với chúng nó) nữa cũng chả phải là chuyện dễ dàng gì.

Cái thời hoàng kim (thổ tả) đó, của chúng nó, may quá, đã qua. Bây giờ, cả ông hai ông Hữu Thỉnh và Đinh Thế Huynh dù có tam cố thảo lư, và khiêng đủ “200 chiếc xe đạp Diamont mới cứng” đến tận nhà (chắc) cũng không cách chi thuyết phục được Trương Duy Nhất trở lại cái “Hợp Tác Xã Tư Tưởng” của nhà nước nữa.

Nhất đã đi rồi.

“Hợp Tác Xã Tư Tưởng” là chữ dùng (riêng) của Trương Duy Nhất để mô tả những sinh hoạt có liên quan đến sách báo thời bao cấp. Cái thời mà blogger Đào Tuấn đặt tên, một cách (vô cùng) lãng mạn, là “Thời Đại Buông Rèm.” Tôi vốn sính Tây nên gọi cái thứ của nợ này là một loại ghetto, dành cho những người cầm viết, ở Việt Nam.

Trong Thế Chiến Thứ II, ghettos được Đức Quốc Xã tạo nên (ở nhiều thành phố Đông Âu) để làm nơi tập trung người Do Thái. Với thời gian, hạn từ ghetto được phổ biến theo một nghĩa  rộng rãi hơn – để chỉ những nơi biệt cư, thường là nghèo nàn và chật hẹp, của một nhóm người (nào đó) trong lòng phố thị: Black Ghetto, Mexican Ghetto, Chinese Ghetto, Student Ghetto, Gay Ghetto...

Từ hơn nửa thế kỷ qua, nhà đương cuộc Hà Nội cũng thiết lập một loại ghetto bẩn chật (tương tự) để làm nơi quần tụ cho những người cầm viết. Kẻ nào lỡ bước qua (hay bị đẩy ra) khỏi lằn ranh của cái ghetto văn hoá này là sẽ bị rơi ngay vào “bước đường cùng” – theo như (nguyên văn) lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Có một ý kiến (hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của Mặc Lân, Lê Bầu. Nếu hạn hữu có in cũng không được ký tên hai người… không được in đã hẳn, nhuận bút cũng không có nốt.

Túng thiếu. Mà phải có tiền. Phải sống. Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mặc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu…

Lân mừng như người chết đuối vớ được cọc… Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít máu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui…

Bán máu êm ả là thế mà nhiều lúc vẫn giật mình. Ví như đang ngồi nhìn cả vào người y tá chờ gọi tên mình thì người ấy bỗng bật ra những cái tên bất ngờ nhất:
Chính Yên!

Phan Kế Bảo!

…..

Phương Nam!

Toàn những người quen. Toàn những trí thức. Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng.” (Bùi Ngọc Tấn. “Thời gian gấp ruổi“. Viết về bè bạn. Fallchurch, Virginia: Tiếng Quê Hương, 2006.)

Và đến “bước đường cùng” thì mới thấm thía hương vị của một tô phở, cho dù là phở quốc doanh. Nó có thể làm cho khách qua đường phải ứa nước miếng, và (đôi khi)… nước mắt:
“Ngày ấy từ quê ra đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ còn ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở.” (Bùi Ngọc Tấn. Vũ trụ không cùng. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2007).

Ở trong vòng ghetto, tuy bẩn chật nhưng được cái an toàn. Nó an toàn đến độ khiến không ít kẻ sinh tật múa gậy vườn hoang – theo như lời than phiền của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, về một cây viết và một tờ báo tăm tiếng (và tai tiếng) nhất hiện nay:

“Vì sao Nguyễn Như Phong và báo An Ninh Thế Giới dám tự tung tự tác, ngang nhiên hoành hành, đổi trắng thay đen, ngậm máu phun người như vậy? “

An Ninh Thế Giới không phải là tờ báo duy nhất chuyên ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người như thế. Ngày 31 tháng 10 năm 2009, qua một bài báo (“Bán dâu - Hủ tục man rợ vẫn hoành hành”) tờ Tiền Phong cũng đã ngang hiên xỉ nhục người dân ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, về điều mà họ mô tả là “tập tục vô luân” nơi địa phương này: ”Thích thì bỏ tiền cưới vợ, khi ‘bực mình’ thì rao bán cả vợ cả con, bố mẹ chồng cũng có quyền bán con dâu và cháu nội…”

Một tuần sau, cũng báo Tiền Phong, số ra ngày 8 tháng 11, đăng lời “xin lỗi nhân dân và chính quyền xã Phong Dụ cùng bạn đọc...” vì “tác giả bài báo đã xào xáo và không hiểu biết gì về tập tục và đời sống bà con đồng bào dân tộc, thêm thắt, thổi phồng sự việc...” 

Xin lỗi quấy quá, cho có lệ vậy thôi, chứ “đổi trắng thay đen” hay “thêm thắt, thổi phồng sự việc” để phỉ báng thiên hạ – đối với những người cầm viết trong ghetto Việt Nam – chỉ là chuyện nhỏ, không đáng để họ phải bận tâm. Họ còn được dung túng để thay mặt cho cả ngành tư pháp của xứ sở này kết án hết người này, đến người nọ về tội danh này hay tội danh khác nữa cơ.

Qua một cuộc phỏng vấn, do Lê Thị Thái Hoà thực hiện, đọc được ở Thanh Niên Online vào ngày 30 tháng 4 năm 2008, nhà văn Trần Đăng Khoa cho biết:
”Tôi nói thật, chưa bao giờ tôi viết có xúc cảm hết. Thời trẻ con cũng thế và sau này cũng vậy. Thấy cần viết là tôi viết. Họ đặt ký tôi viết về người này người kia thì tôi viết. Thế là có tập Chân dung và Đối thoại đấy. » 
“Thế ... đấy” nhưng tập Chân Dung Và Đối Thoại vẫn được tái bản đều đều. Lý do: ghetto chữ nghĩa ở VN là một loại công ty độc quyền, không có đối thủ, miễn có cạnh tranh, và thường kín như bưng. Bởi vậy, khi Trần Đăng Khoa hé mở cho chút xíu ánh sáng (sự thật) soi rọi vào một vài mảng tối thui ở đất nước này là tác phẩm của ông liền được đón chào nhiệt liệt.

Dù thế, chỉ hơn một năm sau, qua một cuộc phỏng vấn khác – đọc được vào hôm 13 tháng 7 năm 2009, do Hồng Thanh Quang thực hiện – Trần Đăng Khoa đã nói khác ngay. Ông không đề cập đến chuyện “viết không cần cảm xúc” hay “viết theo đơn đặt” nữa. Thay vào đó, ông nêu lên“thiên chức của nhà văn” bằng những lời lẽ hết sức trang trọng và cảm động:
“Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội.”

Cảm ơn Trần Đăng Khoa, và cảm ơn Trời. Thế thời, rõ ràng, đã đổi. Và đổi nhanh ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Mới bữa nào người dân Việt còn thi thoảng uống cà phê chui, nay thì họ ngồi đầy những tiệm cà phê internet. 

Cái phương tiện truyền thông (tân kỳ) này đã làm cho quả địa cầu nhỏ lại. Nhân loại nhích lại gần nhau hơn. Việt Nam không còn là một nơi biệt cư, dành riêng cho một dân tộc hoàn toàn mù thông tin, như trước nữa. Bây giờ mà vẫn cứ “viết theo đơn đặt hàng” thì rách việc như không. Và điều này thì Trương Duy Nhất biết rõ hơn rất nhiều người. 

Cuối bài “Viện Sĩ Tự Sướng” (viết ngày 4 tháng 2 năm 2011) ông cho biết: “Tôi post bài này lên lúc 14 giờ 57, xong đi một vòng chúc Tết. Chưa đầy 2 tiếng sau về mở lại thì thấy báo Nhân Dân đã tháo bài này xuống khỏi trang Nhân Dân điện tử.”

Trước đó không lâu, báo Pháp Luật cũng bị một tai nạn tương tự vì bài báo “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Xuất Sắc Nhất Châu Á” của ông hay bà Phượng Lê nào đó. Nó cũng được “tháo xuống” tức thì.

Hệ thống truyền thông quốc doanh, rõ ràng, không còn là nơi để có thể múa gậy vườn hoang (như xưa) nữa. Dù nấp dưới bút danh nào, và trong ngõ ngách nào chăng nữa, hễ cứ nói bậy hay nói láo là bị chúng “vả” vào mồm – khiến mặt mũi sưng vù – ngay tức khắc.

Cái ghetto chữ nghĩa Việt Nam bây giờ, ví von mà nói, là một con thuyền lủng. Nó sắp đắm đến nơi. Bởi thế, khi Trương Duy Nhất tuyên bố “bỏ thuyền” thì ai cũng lấy làm mừng. Đây là một tin vui. Một người ngay thoát nạn!

Nhất đã đi rồi!

Tưởng là đi đâu, ai dè ổng đi ... vô hộp, theo như tin loan của Thanh Niên On Line, đọc được vào hôm 26 tháng 5 năm 2013:
“Bộ Công an vừa tiến hành bắt giữ ông Trương Duy Nhất (49 tuổi, ngụ tại TP.Đà Nẵng) về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân theo điều 258, Bộ luật Hình sự.”

Nguyên Hồng, rõ ràng, vẫn may mắn hơn Trương Duy Nhất. Thời của ông nhà văn ở miền Bắc Việt Nam ngày trước – nói nào ngay –cửa tù không mở rộng (hết cỡ) như thời của ông nhà báo hôm nay, trên toàn lãnh thổ. Bởi vậy, nhiều người cầm bút ở Việt Nam đã chọn cuộc sống trong ghetto (được lúc nào hay lúc đó) thay vì ở trong tù. Cái trước, khách quan mà xét, vẫn rộng rãi thoải mái hơn cái sau  nhiều lắm. Thiệt đúng là một xứ sở chỉ có một góc nhìn duy nhất.!




Hoàng Kim - Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ


Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam thu nhập một tháng 79.749.000 đồng, hộ nông dân 4 người có 3,3 ha thu nhập mỗi người chỉ có 550.000 đồng một tháng. Tức là lãnh đạo Tổng công ty lương thực miền Nam thu nhập gấp 145 lần một nông dân.

Với thu nhập 550.000 đồng/ tháng, nông dân làm không đủ ăn, nên dù có cố gắng nhịn ăn nhịn mặc cả đời cũng không thể để dành được số tiền bằng lương một tháng của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam.

Đây không phải là nghịch lý, đây là cả một sự khốn nạn!

Nếu sự bất công khốn nạn này không thay đổi, sẽ có ngày nông dân buộc phải tức nước vỡ bờ để đòi lại quyền lợi cho mình.

Thu nhập của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực Miền Nam gần 1 tỷ đồng một năm 

Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước gởi đến Quốc hội cho biết vào năm 2011: 
“ Tại Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1), thu nhập bình quân của lãnh đạo năm 2011 là 56,5 triệu đồng/người/tháng…

“Khủng” hơn là thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) với 79,749 triệu đồng/người/tháng. Khối văn phòng Tổng công ty là 32,9 triệu đồng/người tháng” [1].

Thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam 79.749.000 đồng/ tháng, vậy một năm mỗi lãnh đạo thu nhập 956.988.000 đồng. 

Tiền lương gần 1 tỷ một năm đã biến lãnh đạo của Tổng công ty Lương thực miền Nam thành bọn tư bản hút máu của nông dân.

Một hộ nông dân 4 người có 3,3 ha chỉ thu nhập 6.750.000 đồng một năm 

Tổ chức Oxfam tại Việt Nam phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard) điều tra, nghiên cứu đưa ra số liệu:
“ Kết quả điều tra tại thời điểm năm 2011 cho thấy, với diện tích bình quân 3,3ha/hộ, thu nhập hàng năm của người trồng lúa chỉ đạt 27 triệu đồng, tương đương với 550.000 đồng/người/tháng, thấp hơn thu nhập từ làm các cây trồng khác” [2].

Với thu nhập không đủ sống này nông dân đang bị bần cùng hóa phải bán dần đất để ăn.

Bán gạo xuất khẩu giá thấp nhất thế giới, nhưng lương lại cao ngút trời 

Chúng ta hãy xem tài năng bán gạo xuất khẩu của lãnh đạo VFA và lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam liệu có xứng đáng nhận mức lương khủng hay không.

– Hiệp hội lương thực Việt Nam luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới:
Đây là giá gạo thế giới ngày 22/5/2013 do Gafin.vn cung cấp, trong đó Việt Nam luôn bán gạo với giá thấp nhất so với Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan [3].


– Còn những năm trước VFA bán gạo thế nào?

Báo Tuổi Trẻ Online cho biết: “Trong vòng 5 năm 2001-2005 “giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân thế giới (220USD/tấn). Đó là giá bán “bèo” nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan”.

Năm 2006, trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo VnExpress, ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc công ty Lương thực miền Nam, kiêm Chủ tịch VFA, cho biết: “Chỉ trong một thời gian ngắn từ mức giá hơn 260 USD/tấn, loại gạo 5 % tấm liên tục rớt giá và hiện được doanh nghiệp ký bán với giá chỉ 242 – 245 USD/tấn. Trong khi giá thành loại gạo này lên đến 248 USD/tấn”. 

Năm 2008, ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực, giá gạo xuất khẩu giảm, theo các chuyên gia nông dân thiệt khoảng nửa tỷ đô la Mỹ.

Năm 2009, báo Lao Động Online cho biết: “Nghịch lý ở chỗ "làm chủ" thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới...”. 

Từ năm 2010 đến nay Việt nam vẫn giữ vững thành tích bán gạo rẻ nhất thế giới so với 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, đặc biệt trong năm 2013 này, gạo Việt Nam bán rẻ hơn gạo của Ấn độ cùng loại từ 70-80 đô la Mỹ/ tấn trong khi gạo Việt Nam có chất lượng cao hơn gạo Ấn Độ.

“Nay, gió đã đổi chiều, khi mà từ đầu năm tới nay, có lúc giá gạo bình quân của Việt Nam rẻ hơn gạo Ấn (ở đây chỉ nói tới gạo trắng như Việt Nam, vốn chiếm chủ lực trong xuất khẩu của Ấn chứ không phải gạo Basmati) 50 đô la, thậm chí rẻ hơn tới 75 - 80 đô la/tấn.

Hồi đầu tháng 5, trong một cuộc họp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), những con số mà tổ chức này đưa ra khiến những người gắn bó với cây lúa, hạt gạo nản lòng. Từ cuối tháng 3 đến nay, giá chào gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam cũng rất ít lần vượt quá 390 đô la Mỹ/tấn. Giá chào gạo 5% tấm của Viêt Nam ngày 7-5 từ 375 đến 385 đô la Mỹ/tấn, thấp hơn gạo 5% tấm của Ấn Độ 75 đô la Mỹ” (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn [3]).

Bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, bán kiểu ngu đần này thì ai bán mà không được, không bắt tội gây hại cho quyền lợi của nông dân là may rồi, tài năng gì mà nhận lương cao chót vót?

Ép giá lúa của nông dân tận đáy nên VFA và Tổng công ty Lương thực miền Nam lời khủng 

Năm nào cũng bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, nhưng do được Chính phủ cho phép độc quyền mua lúa của nông dân, nên VFA và Tổng Công ty Lương thực miền Nam luôn dùng mọi thủ đoạn để hạ giá lúa của nông dân đến đáy mới mua.

Năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu giá quy ra giá lúa 6.432 đồng/kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.

Năm 2009, bán gạo xuất khẩu quy lúa giá 6.362 đồng/kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.

Năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/kg, cả năm này, nông dân lời không đủ sống.

Năm 2011 và 2012 vẫn áp dụng thủ đoạn hạ giá lúa đến đáy để mua tạm trữ nên lợi nhuận của doanh nghiệp trong VFA rất cao. 

Năm 2013 này Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA ép giá lúa của nông dân từ 5.400 đồng/kg khi bắt đầu thu hoạch xuống còn có 4.500 đồng/kg để bắt đầu mua tạm trữ.

Với thủ đoạn ép giá lúa nông dân đến tận đáy, VFA và Tổng công ty lương thực Miền Nam chính là bọn cường hào mới đang bóc lột nông dân đến tận xương tủy.

Nông dân đang bị bần cùng vì lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA đem gạo của nông dân bán như bèo ra thị trường thế giới, thế mà lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam lại có mức lương cao gấp 145 lần nông dân. 

Coi chừng! Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ đấy.

H.K.

Tài liệu tham khảo:
(1) doanhnhansaigon.vn. Bài “ Lương lãnh đạo cao, hiệu quả kinh doanh thấp” http://www.doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/chinh-tri-xa-hoi/2013/05/1073862/chuyen-thu-nhap-cua-sep-doanh-nghiep-nha-nuoc/
(2) Dân Việt Online. Bài “ Oxfam: Trồng lúa ngày càng lãi ít” http://danviet.vn/132442p1c25/oxfam-trong-lua-ngay-cang-it-lai.htm
(3) Bài “Tổng hợp tin thị trường gạo thế giới ngày 22/5” http://gafin.vn/20130522090121291p39c48/tong-hop-tin-thi-truong-gao-the-gioi-ngay-22-5.htm
(4) Bài “Bán gạo giá rẻ, tại người hay tại ta?” http://www.thesaigontimes.vn/home/diendan/goctoasoan/96201/
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Huy Đức - Cờ đỏ, cờ vàng và hòa giải



Huy Đức

Tháng 8-2001, tôi ghé thăm một phóng viên báo Tuổi Trẻ đang học báo chí ở đại học Fullerton, California. Cô khoe, nhóm sinh viên đến từ Việt Nam vừa đấu tranh thành công để cờ đỏ sao vàng được treo ở trại hè do trường tổ chức.


Cuộc tranh giành màu cờ tại Fullerton trở nên kịch tính trong năm 2004 khi nhóm sinh viên gốc Việt tuyên bố không tham dự lễ ra trường nếu cờ đỏ sao vàng được sử dụng theo yêu cầu của các sinh viên đến từ Việt Nam. Trường Fullerton phải chọn giải pháp không treo cờ của nước nào trong lễ tốt nghiệp.

Phần lớn người Việt đến Mỹ phải lao động, học tập để vươn lên, họ không có nhiều thời gian để "care" (quan tâm) đến chính trị Việt Nam. Tháng 7-1995, khi Hà Nội và Washington thiết lập bang giao, cờ đỏ sao vàng chính thức được kéo lên trên đất Mỹ. Thật dễ hiểu khi những người Việt vượt biển trên những chiếc thuyền con, những người Việt đã nằm 15 năm, 17 năm trong các trại cải tạo, từ chối đứng dưới cờ đỏ sao vàng.

Nhưng phản ứng chỉ bắt đầu quyết liệt vào năm năm 1999, khi một người đàn ông sống tại Little Sai Gon, tên là Trần Văn Trường, cho treo trước cửa tiệm ảnh Hồ Chí Minh cùng cờ đỏ sao vàng. Cộng đồng người Việt đã biểu tình liên tục trong suốt 53 ngày để phản đối. Từ California,"chiến dịch Cờ Vàng” bắt đầu, dẫn đến việc 14 tiểu bang, gần 100 thành phố công nhận cờ vàng ba sọc đỏ như một biểu tượng của cộng đồng gốc Việt.

Cờ vàng không chỉ xuất hiện ở Mỹ.

Từ giữa thập niên 1990, nhiều nhà lãnh đạo của Hà Nội phản ứng gay gắt khi trong các chuyến công du thấy "quần chúng đón rước" không dùng cờ đỏ sao vàng mà chỉ dùng cờ vàng ba sọc đỏ. Không phải quan chức Việt Nam nào cũng hiểu chính quyền sở tại không (dại gì) đứng sau những nhóm quần chúng tự phát đó. Cho tới năm 2004, các nhà ngoại giao Việt Nam ở Mỹ vẫn mất rất nhiều công sức để ngăn chặn chính quyền các tiểu bang công nhận cờ vàng.

Việc chính quyền tiểu bang công nhận cờ vàng chỉ là một động thái đối nội. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa rõ ràng không còn tồn tại, chính quyền Mỹ bang giao với nhà nước CHXHCN Việt Nam và công nhận cờ đỏ sao vàng. Nhưng, chính quyền Mỹ không thể ngăn cản cộng đồng người Mỹ gốc Việt chọn cho mình biểu tượng.

Một quan chức Việt Nam và thậm chí một thường dân đang cầm hộ chiếu nước CHXHCN Việt Nam, trong một nghi lễ chính thức, có quyền chỉ đứng dưới cờ đỏ sao vàng. Nhưng, một quan chức đi làm "kiều vận" mà không dám bước vào một ngôi nhà có treo cờ vàng thì sẽ không thể nào bước vào cộng đồng người Việt. Tất nhiên, bất cứ thành công nào cũng cần nỗ lực từ nhiều phía.

Năm 2006, tôi gặp lại cô bạn phóng viên Tuổi Trẻ từng học ở Fullerton. Nhà cô vào giờ đó thay vì treo cờ đỏ sao vàng, góc nào cũng tràn ngập cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi chưa kịp tìm hiểu đó là sự lựa chọn mới của cô hay đó là cách để có thể hòa nhập vào "cộng đồng".

Năm 2008, "cộng đồng người Việt Cali" đã biểu tình kéo dài khi người phụ trách tòa soạn tờ Người Việt, Vũ Quý Hạo Nhiên, cho in tấm hình chụp một cái bồn ngâm chân có in biểu tượng cờ vàng. Hạo Nhiên, thêm sự cố 2012, đã phải ra đi và biết chắc khó lòng quay trở lại. Biểu tình năm 1999, cho dù là "ôn hòa", cũng đã khiến cho Trần Văn Trường phải chạy về Việt Nam.

Cờ đỏ sao vàng khó có thể xuất hiện ở Californiacho dù ở đó có xuất hiện một cộng đồng người Việt đến từ miền Bắc.

Nếu như nhiều người dân miền Nam trước đây tin cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của tự do thì đối với phần lớn người dân miền Bắc và thế hệ trẻ hiện nay ở miền Nam, cờ đỏ sao vàng không hẳn là biểu tượng của chế độ mà là biểu tượng quốc gia. Nhiều người đã đứng dưới lá cờ ấy để đấu tranh cho điều mà họ tin là độc lập, tự do; nhiều người đã theo lá cờ ấy mà không phải là cộng sản.

Nhiều người dân trong nước vẫn dùng cờ đỏ khi bày tỏ lòng yêu nước.

Tất nhiên cũng cần phân biệt hành động của một số kẻ cực đoan (chống lại cờ đỏ sao vàng) với hành vi của những quan chức chính quyền. Ngăn cản những du học sinh đến từ Việt Nam sử dụng cờ đỏ sao vàng cũng là một việc làm phi dân chủ. Những người hiểu được các giá trị của tự do không thể ngăn cản người khác đứng dưới một lá cờ mà mình không thích.

Nhiều người Mỹ vẫn treo cờ miền Nam cho tới ngày nay cho dù nội chiến Bắc - Nam đã kết thúc từ năm 1865. Thật khó để nghĩ tới tình huống người dân miền Nam Việt Nam được phép treo cờ vàng sau ngày 30-4-1975. Cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm không chỉ thống nhất non sông mà còn để áp đặt ý thức hệ cộng sản lên người dân Việt. Một thời, phải "yêu chủ nghĩa xã hội" mới được Đảng công nhận là yêu nước. Ngay lá cờ nửa đỏ nửa xanh của "mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam" một tổ chức do Đảng cộng sản lập ra cũng đã biến mất chỉ sau mấy tháng.

Nhiều người Việt Nam nghĩ, làm biến mất lá cờ vàng ba sọc đỏ là khôn ngoan. Nhiều người cho rằng lá cờ đó thuộc về một chính thể không còn tồn tại và là biểu tượng của một sự thất bại. Nhiều người được dạy, lá cờ đó gắn liền với những xấu xa như là "Việt gian, bán nước".

Cuối năm 2012, sinh viên Phương Uyên và Nguyên Kha bị bắt khi rải truyền đơn ở Long An có kèm theo biểu tượng cờ vàng.

Chúng ta không có đủ thông tin để khẳng định Phương Uyên và Nguyên Kha chủ động chọn lá cờ này hay được hướng dẫn "bởi các thế lực bên ngoài". Cho dù lá cờ ấy đến từ bên nào cũng cho thấy cờ vàng đã không biến mất như nhiều người mong muốn. Cho dù không ai biết được lá cờ nào sẽ được chọn trong tương lai, sự trở lại của cờ vàng buộc chúng ta phải thừa nhận, trong nội bộ người Việt với nhau còn bao gồm cả người Việt Nam quốc gia và người Việt Nam cộng sản.

Và, trong không gian nước Việt cũng không chỉ có người Việt.

Chín mươi triệu người dân Việt Nam rõ ràng không phải là "con một cha, nhà một nóc". Khi "mở cõi" xuống phía Nam, các bậc tiền bối đã từng mang cuốc nhưng cũng đã từng mang gươm.

Người dân thuộc các dân tộc Tây Nguyên và những bộ tộc Chăm chưa hẳn không còn nghĩ tới đế chế Champa. Những chính khách đối lập ở Campuchia vẫn thường khai thác chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi nhắc Sài Gòn và một số tỉnh miền Tây một thời là đất đai của họ...

Sự khác biệt đó trong cộng đồng Việt Nam có thể là những mối đe dọa, đồng thời, cũng là nền móng để xây xựng một Việt Nam thống nhất mà đa dạng. Một quốc gia sẽ trở nên vững mạnh khi sự đa dạng được thừa nhận. Một quốc gia cũng có thể rơi vào sự hỗn loạn hoặc không thể phát triển nếu sự thống nhất bị phá vỡ.

Nhưng, thống nhất quốc gia mà không dựa trên nền tảng hòa giải quốc gia thì sự thống nhất đó chỉ là tạm thời. Thống nhất quốc gia mà bằng cách ém nhẹm lịch sử và dùng vũ lực để dập tắt sự trỗi dậy của những sự khác biệt thì chẳng khác nào gài vào thế hệ tương lai một trái bom.

Nam Tư thời Tito được coi là thịnh trị, các cuộc nổi dậy đều bị dập tắt. Nhưng, ngay những ngày đầu thời hậu Tito, nước Nam Tư bắt đầu rơi vào một thập niên xung đột. Các sắc tộc chém giết lẫn nhau, cơ cấu liên bang sụp đổ. Không chỉ có Nam Tư, Indonesia hồi thập niên 1990 và Myanmar hiện nay cũng đang diễn ra những điều tương tự.

Đừng sợ những người Khmer ở miền Tây sẽ đòi mang đất về Campuchia trừ khi về phát triển và tự do, dân chủ, Việt Nam kém quá nhiều so với Campuchia. Không có người dân Arizona nào không biết đất ấy từng thuộc về Mexico nhưng không ai đòi đưa Arizona trả về cho "đất mẹ". Ranh giới quốc gia càng ngày càng trở nên mong manh. Ở đâu có cơm no áo ấm hơn, ở đâu có tự do hơn, thì người dân sẽ chọn.

Sự khác biệt và đa dạng lúc nào cũng có thể bị kích động bởi các thế lực cực đoan. Không phải độc tài, toàn trị mà theo kinh nghiệm của những quốc gia thành công, càng nhiều tự do thì càng tránh cho sự khác biệt đó trở thành xung đột.

Tiến trình tự do cũng phải mất thời gian để thuyết phục không chỉ với những người đang cầm quyền mà cả những người dân bình thường và những thành viên trên facebook này. Trong ngày 30-4, có thể nhiều người không muốn treo cờ đỏ sao vàng (khi bị tổ dân phố yêu cầu) nhưng chính họ, chưa chắc đã hài lòng khi nhà hàng xóm treo cờ vàng ba sọc đỏ. Vấn đề là chính quyền phải làm sao để mọi phản ứng đều phải ở dưới hình thức ôn hòa.

Câu chuyện đốt cờ Mỹ sau đây có thể giúp ta có thêm thời gian suy nghĩ.

Nhiều thập niên sau nội chiến (1861-1865) nhiều người Mỹ lo ngại giá trị quốc kỳ bị giảm khi nó được các thương gia dùng để vẽ logo và đặc biệt khi nhiều người da trắng ở miền Nam thích treo cờ miền Nam (Confederate flag) hơn. Để phản ứng lại điều này, 48 tiểu bang của Hoa Kỳ đã thông qua luật cấm mạo phạm quốc kỳ, các hành động như xé, đốt, dùng cờ để quảng cáo... đều bị cấm.

Năm1905, Halter đã bị tòa tiểu bang buộc tội "khi kỳ" khi bán những chai bia có in cờ Mỹ. Năm 1907, Halter tiếp tục thua kiện ở Tối cao pháp viện.

Cho tới năm 1968, Quốc hội Mỹ vẫn thông qua luật cấm "đụng chạm" tới quốc kỳ sau khi một nhóm người Mỹ chống chiến tranh Việt Nam đốt cờ ở Central Park. Nhưng một năm sau đó, khi nghe tin cảnh sát bắn James Meredith, một nhà hoạt động dân quyền, Sydney Street đã đốt một lá cờ Mỹ ở một ngã tư của New York. Ông bị bắt và bị buộc tội "khi kỳ".

Sydney Street kháng án vì cho rằng: "Nếu cảnh sát làm điều đó với Maredith chúng ta không cần lá cờ Mỹ". Tối cao pháp viện đã bác án của tòa New York vì, Hiến pháp bảo vệ quyền bày tỏ chính kiến khác nhau, bao gồm cả quyền thách thức hay khinh thường quốc kỳ.

Cuộc đấu tranh đã không dừng lại.

Năm 1972, một học sinh ở Massachusetts, Goquen, bị bắt, bị xử 6 tháng tù khi may một cờ Mỹ ở đít quần. Nội vụ được chuyển lên Tối cao pháp viện. Tối cao pháp viện tuyên bố luật tiểu bang (dùng để xử Goquen) là vi hiến. Các vị thẩm phán Tối cao cho rằng, trong một quốc gia đa văn hóa, có những hành động mà người này cho là "khinh " thì người kia lại cho là trân trọng, cho nên, chính phủ không có quyền bảo người dân phải bày tỏ thái độ, ý kiến theo cách nào.

Năm 1984, để phản đối các chính sách của Tổng thống Reagan, Lee Johnson đã nhúng dầu và đốt một lá cờ trước cửa cung đại hội của đảng Cộng hòa. Ông bị bắt, bị xử tù 1 năm và phải nộp phạt 2000 dollars. Tòa tối cao tiểu bang Texas bảo vệ Johnson và cho rằng tòa án cấp dưới sai khi coi hành vi "gây xáo trộn xã hội" của Johnson là "tội". Theo Tòa tối cao Texas: Tạo ra sự bất ổn, tạo ra sự xáo trộn, thậm chí tạo ra sự giận dữ của người dân là cần thiết, vì chỉ khi đó chính phủ mới biết rõ nhất chính kiến người dân.

Vụ việc dẫn tới, năm1989, Tối cao pháp viện Mỹ quyết định bãi bỏ các luật cấm đốt cờ ở 48 tiểu bang. Các quan tòa đưa ra phán quyết này giải thích rằng, nếu tự do bày tỏ chính kiến là có thật nó phải bao gồm cả tự do bày tỏ những ý kiến mà người khác không đồng ý, hoặc làm người khác khó chịu. Ngay cả thái độ với quốc kỳ, chính phủ cũng không có quyền bắt người dân chỉ được gửi đi những thông điệp ôn hòa và không làm cho ai khó chịu. Cuộc tranh cãi kéo dài tới nhiều năm sau, Quốc hội Mỹ có thêm 7 lần dự thảo tu chính án để chống lại phán quyết này nhưng đều thất bại.

Việc để cho người dân treo lá cờ cũ của phe bại trận miền Nam, việc để cho người dân quyền được bày tỏ thái độ, kể cả bằng cách đốt cờ, đã không làm cho giá trị quốc kỳ của Hoa Kỳ giảm xuống.

Những điều trên đây rõ ràng chưa thể xảy ra ở Việt Nam. Nhưng chúng ta cũng không nên coi đấy là độc quyền của Mỹ. Người dân Việt Nam cũng xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Người dân Việt Nam, dù là Việt hay H'mong, dù là Khmer hay Chăm... cũng xứng đáng được gìn giữ và phát triển sự khác biệt của mình. Người Việt Nam, dù là cộng sản hay quốc gia, cũng xứng đáng có quyền bày tỏ những gì mà mình tin tưởng.

Không thể có tự do trong một chế độc tài toàn trị. Nhưng, tự do cũng không thể có nếu như mỗi người dân không tự nhận ra đó là quyền của mình. Bạn không thể hành động như một người tự do nếu không bắt đầu bằng tự do trong chính tư duy của bạn. 


Ghé thăm các Blogs: 27 tháng Năm, 2013



BLOG ĐÀO TUẤN

Đừng bao giờ dùng từ “buông thả” đối với những người thầy, cho dù đó có thể là sự buông thả.

Vụ mại dâm mà CA TPHCM vừa “hốt” ngay lập tức đã “gây bão” trong  dư luận. Hãy nhìn trong những từ khóa liên quan “Mại dâm nam”; “nghiện hút”; “Quý bà”, và…”Thầy giáo”. Không khó để nhận ra, dư luận sốc nặng chính từ tình tiết một thầy giáo phải đi bán dâm.

Thế là từ nay, công cụ tìm kiếm sẽ mặc định thêm một cụm từ “thầy giáo bán dâm”. Nhưng thưa các bạn, với tư cách là một người học trò, đã từng là học trò, bạn có thấy đau đớn khi người thầy của mình, những người có khi chúng ta còn trọng hơn cha mẹ phải ẩn mặt dấu tên che thân phận kiếm tiền bằng cách bán đi thứ của cải lớn nhất là thanh danh.

Có bao giờ bạn nhìn thấy đằng sau 4 chữ “thầy giáo bán dâm”, là nỗi khốn khổ cam chịu đến cùng cực của không chỉ một câu chuyện, không chỉ một thân phận?

Giữa Thủ đô, ở Đông Anh, báo chí có lần sót thương nói đến chuyện những cô giáo mầm mon phải ra chợ bán bánh rán, làm ô sin để lấy nghề phụ nuôi thân khi nghề chính chỉ cho họ đồng lương bọt bèo đến mức sau hàng chục năm quá quen với sự tủi nhục mà mỗi cuối tháng nào đến ngày lĩnh lương các cô cũng muốn khóc.

Ở Hải Phòng, một cô giáo đã bật khóc nức nở khi bị rình bắt dạy thêm như rình bắt trộm, bị lập biên bản như bắt… mại dâm ngay trước mặt học trò.

Đừng bao giờ trách người thầy khốn khổ “sao không kiếm việc gì khác mà làm”.

Tháng 11 năm ngoái, trong một buổi tọa đàm về hình ảnh người thầy, Nguyên Phó Ban tư tưởng văn hóa Thành Ủy TP HCM Hồ Thiệu Hùng, đã nói ra một sự thật là trong khi luôn miệng khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, thì những thầy cô giáo hưởng một mức lương không bằng một lái xe của nhân viên ngành điện. “Nguyện vọng số 1 của nhà giáo là sống được bằng lương để có thể toàn tâm toàn ý dốc sức tại lớp, để có thời gian chăm sóc học sinh, để tích cực tham gia đổi mới giáo dục, để tự học và cả nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình. Một đòi hỏi chính đáng và rất tối thiểu mà mấy đời bộ trưởng của “ngành quốc sách hàng đầu” chưa ai làm được và chưa biết đến bao giờ mới làm được”.

Hôm nay, câu chuyện của ngành “Quốc sách hàng đầu” lại được nhắc lại khi trước Quốc hội, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Trịnh Ngọc Thạch đã thẳng thắn phê bình ngành giáo dục là “phiến diện”, là “không đánh giá đúng thực trạng xã hội” khi chỉ biết “cấm dạy thêm”, dù “chưa chắc nó đã phải là xấu”.

Không ai muốn sau một ngày đứng lớp mệt mỏi phải xách cặp đi dạy thêm. Có phải đi dạy thêm thì chắc chắn cũng không phải để làm giàu.

Không sống được bằng đồng lương chết đói. Không kiếm được tiền bằng chính nghề nghiệp của mình. Vậy thì các thầy cô giáo sẽ phải sống thế nào và bằng cách gì đây?!

Cô giáo dạy nhạc đi hát đám cưới kiếm tiền. Cô giáo mầm non đi làm ô sin. Và giờ, một thầy giáo đi bán dâm, thực ra cũng chẳng phải trộm cướp của ai, để mỗi lần nhận số tiền 200-300 ngàn đồng.
Đừng bao giờ dùng từ buông thả đối với những người thầy, cho dù đó có thể là sự buông thả.


BLOG ĐÀO TUẤN

Ngày mai, sau khi nghe Nick nói có bao nhiêu người sẽ lại quên ngay sau khi quay lưng, như bao người đã bỏ quên lời hứa bên bậu cửa nhà Lê Thị Huệ?!

12 giờ sau khi Nick Vujicic đến Việt Nam, con số 31,7 tỷ đồng chi phí cho 4 ngày anh mang “điều kỳ diệu” đến Việt Nam đã được công bố. Dẫu đây là số tiền không từ tiền thuế của dân, nhưng mặc nhiên nó vẫn là con số quá lớn trong tương quan với sự khốn khó của khoảng 6,7 triệu người khuyết tật trên toàn quốc. Để tiện so sánh, 19,6 tỷ đồng là kinh phí trợ giúp 250.000 người khuyết tật ở Kiên Giang trong suốt 10 năm 2010-2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Còn kinh phí để giúp đỡ 6,7 triệu người khuyết tật cả nước trong 10 năm là 2.025 tỷ đồng.

Thưa các bạn, nói đến “điều kỳ diệu Nick” của ngày hôm nay, không hiểu sao tôi lại nhớ đến “ngày hôm nay” của Lê Thị Huệ.

Ngày 14.5 của 10 năm trước, với chỉ một cú ngã tưởng chừng bình thường, cô gái vàng của thể thao Việt Nam, đô vật Lê Thị Huệ, năm đó vừa tròn 18 tuổi, đã gãy tới 3 đốt sống cổ, giập tủy sống, liệt tức thời tứ chi.

10 năm sau, khi PV Lao động đến gặp cô trong một ngôi nhà nhỏ, ở một làng quê nghèo nào đó của huyện Quảng Xương và viết về nghị lực xen lẫn nỗi tuyệt vọng trong một cuộc sống ngập tràn khốn khó và sự lãng quên, dư luận đã sững sờ trước những sự thật cay đắng.

Sự cay đắng không phải là việc hàng ngày tất tật mọi sinh hoạt cá nhân từ chuyện tối thiểu nhất như đi vệ sinh, nữ đô vật khỏe mạnh và xinh đẹp ngày nào giờ phải trông cả vào người mẹ già đã ngoại 70. Sự cay đắng không phải ở việc dù ngã lên ngã xuống hàng vạn lần trong suốt 10 năm với một nghị lực phi thường nhưng cô vẫn không thể đứng dậy. Cũng không phải việc mất “Nửa tiếng để cài một chiếc cúc áo”. Sự cay đắng và nỗi xót xa đến từ chiếc xe lăn đã dùng suốt gần 10 năm giờ đã lên lão. Và nỗi tủi thân trước sự lãng quên, trước sự bạc bẽo, trước những lời hứa của quan chức ngành thể thao 10 năm trước, bị bỏ rơi ngay sau khi quay lưng, quên ngay bên bậu cửa.

Chẳng nghị lực nào có thể chiến thắng sự bạc bẽo của con người với con người.

Kể lại câu chuyện Lê Thị Huệ, không phải để nói số tiền 31,7 tỷ đồng là đắt, hay rẻ. 31,7 tỷ để dù chỉ vài người khuyết tật như Huệ có thêm niềm tin và nghị lực để sống thì chẳng có gì là đắt đỏ cả. Có nhiều thứ khác người ta còn ném cả ra sông ra biển đó thôi. Bởi giá như Lê Thị Huệ được đến Mỹ Đình, biết đâu, cô sẽ xua tan được nỗi tuyệt vọng và mặc cảm sau khi đã bị lãng quên hoàn toàn. Biết đâu cô sẽ tìm thấy cho mình một lẽ sống sau khi đã mất hết niềm tin vào những lời hứa hẹn.

Niềm tin và nghị lực mà “điều kỳ diệu Nick” mang tới Việt Nam không thể đo bằng tiền bạc.

Có điều Huệ sẽ không thể đến Mỹ Đình, vì thiếu tiền chẳng hạn, hay vì hướng tới Nick, chẳng ai còn nhớ đến cô nữa.

Nick đáng được khâm phục. Nick đáng được coi là một bài học. Nhưng đó là bài học cho cả những người không khuyết tật.

Bao nhiêu người sẽ đến để “xem”, thay vì nghe Nick nói. Bao nhiêu người sau đó sẽ biến sự cảm thông với những người khuyết tật thành những hành động cụ thể.

Ngày mai, khi nghe Nick nói, khi chứng kiến sự tự tin và nghị lực phi thường của chàng trai kỳ diệu, bạn có bao giờ tự hỏi mình sẽ làm gì cho những đồng bào đang khốn khó và cần sự trợ giúp của mình. Hay sau khi xúc động rớt nước mắt trước nghị lực và sự can đảm của anh, bạn cũng sẽ lại quên ngay sau khi quay lưng, như bao người đã bỏ quên lời hứa bên bậu cửa nhà Lê Thị Huệ?!

Sự đắt hay rẻ của khoản tiền 31,7 tỷ để Nick đến Việt Nam không phải chỉ là bài học nghị lực mà những người khuyết tật có được sau khi chứng kiến điều kỳ diệu Nick, có lẽ, nó còn phụ thuộc vào những hành động cụ thể của những người không khuyết tật.

Một kiến trúc sư sau khi nghe Nick thì từ tự hứa với mình, trong mọi công trình của ông kể từ giờ đều dứt khoát phải có thiết kế lối đi xe lăn cho người khuyết tật chẳng hạn.


FACEBOOK ĐOÀN KHẮC XUYÊN

Gần đây xảy ra ba vụ việc thoạt nhìn không liên quan gì đến nhau nhưng thực ra cùng xuất phát từ một nguyên nhân, một lối suy nghĩ, một não trạng. Vụ thứ nhất: phản ứng trước một bài báo của báo Thanh niên về chính sách tạm xuất -tái nhập vàng của Ngân hàng nhà nước, lãnh đạo NHNN đã đề nghị Tổng cục an ninh II, bộ Công an “phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật” việc báo đưa tin mà NHNN cho là sai lệch. Vụ thứ hai: trả lời kiến nghị của cử tri về việc cần xử lý nghiêm các vụ tiêu cực, tham nhũng, nhất là đối với các vụ việc xảy ra tại các tập đoàn kinh tế lớn hay có liên quan đến hoạt động ngân hàng..., Bộ Công an bên cạnh việc thừa nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân, lại đề xuất sửa đổi điều 7 luật Báo chí để yêu cầu báo chí cung cấp nguồn tin cho chánh án toà án, viện trưởng viện kiểm sát và thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp (Luật báo chí hiện hành chỉ buộc báo chí cung cấp nguồn tin cho chánh án toà án nhân dân, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trở lên khi có yêu cầu). Vụ thứ ba: Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo trong công văn chỉ đạo kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh ĐH gửi đến chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mới đây đã đề nghị chủ tịch UBND các tỉnh thành “chỉ đạo các cơ quan truyền thông trao đổi kỹ với cơ quan chức năng trước khi cho đăng tải các thông tin nhạy cảm liên quan đến đề thi như lộ đề, đề thi có sai sót, tiêu cực trong kỳ thi...”

Về vụ thứ nhất, không bàn đến tính chính xác của bài báo nêu trên, giả dụ báo chí đưa tin sai NHNN có nhiều cách để công luận hiểu đúng chính sách của mình, chẳng hạn họp báo chính thức giải thích rõ ràng, cặn kẽ, thuyết phục những thắc mắc mà công luận và ngay cả nhiều chuyên gia đặt ra, đồng thời chỉ ra những chỗ sai của bài báo. Như vậy công luận sẽ nắm được một cách chính thức và chính xác thông điệp mà NHNN muốn chuyển tải đến người dân, và mọi nghi ngờ sẽ được hoá giải. Ngoài ra, nếu tin chắc rằng chính sách của mình ban hành bị cố tình bóp méo, xuyên tạc, NHNN có thể kiện ra toà án. Ngay cả những nguyên thủ quốc gia ở những nước phát triển, khi cho rằng mình bị vu khống, bôi nhọ, cũng dùng con đường kiện ra toà. Toà án sẽ là người phân xử. Đó là một cách hành xử phù hợp với luật pháp, với thông lệ của một xã hội pháp quyền văn minh thay vì tìm cách hình sự hoá vấn đề bằng cách đề nghị cơ quan an ninh “phối hợp xử lý”. 

Trong vụ thứ hai, đề nghị của Bộ Công an ngoài việc đi ngược lại một nguyên tắc cơ bản của nghề báo tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, đi ngược lại điều 8 Luật Tố cáo quy định nghiêm cấm tiết lộ danh tính của người tố cáo, còn muốn biến người làm báo thành “cộng tác viên” của cơ quan điều tra thay vì ngược lại chính cơ quan điều tra phải là người cung cấp thông tin cho báo chí, tức cho cả xã hội, về hoạt động phòng chống tội phạm, bảo vệ trị an của mình. Trong vụ thứ ba, mặc dù bộ GDĐT sau đó đã thanh minh rằng không phải không cho báo chí đưa tin tiêu cực nếu thông tin chính xác và chỉ yêu cầu chủ tịch tỉnh chỉ đạo báo chí thuộc địa phương (làm như báo chí địa phương không đưa thì không ai biết !), nhưng công văn của bộ rõ ràng bộc lộ ý muốn “gói ghém” các tiêu cực, sai sót vì sợ ảnh hưởng đến thành tích mà thường sau mỗi kỳ thi bộ đều họp báo công bố rùm beng. Thay vì tìm cách “gói ghém”, lẽ ra bộ nên cảm ơn công luận, báo chí đã chỉ ra những chỗ tiêu cực, thiếu sót và ra sức khắc phục, như vậy công việc quản lý điều hành sẽ ngày càng tốt hơn.

Nhìn chung, cả ba vụ kể trên đều bộc lộ một não trạng, một lối suy nghĩ cho rằng mọi “tội lỗi”, mọi khó khăn trong điều hành quản lý đều do báo chí gây ra, rằng chỉ cần báo chí bớt “dòm ngó” vào công việc quản lý điều hành của cơ quan công quyền, tức là giảm bớt vai trò thay mặt xã hội để giám sát cơ quan công quyền, hoặc tốt hơn nữa là “hợp tác” với công quyền trong việc đưa tin, nhận định thì tự khắc mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp. Khỏi phải nói đó là lối suy nghĩ không thích hợp trong một xã hội hiện đại, nơi mà mỗi thiết chế xã hội có vai trò riêng của mình. Các thiết chế xã hội khác nhau cũng không nhất thiết có cái nhìn và tiếng nói giống nhau trước mỗi vấn đề. Và chính nhờ mỗi thiết chế làm tốt vai trò riêng của mình mà xã hội nói chung tránh được những sai lầm phải trả giá, nhờ đó phát triển. Cũng cần phải nói những nhà quản lý tự đặt mình dưới con mắt giám sát của xã hội sẽ buộc phải cẩn trọng, cân nhắc hơn trong việc đề ra các chủ trương chính sách ảnh hưởng tới đông đảo công dân và trong từng hành vi, phát ngôn của mình.

Nhưng Việt Nam có đặc thù riêng – đến đây có thể hình dung sẽ có người phản bác như vậy. Vâng, nhưng vấn đề là đặc thù nào? Bởi có những thứ gọi là đặc thù mà nếu cứ mãi bám lấy thì đó chỉ là sự tự đặt mình ra ngoài dòng chảy chung của xã hội văn minh, và là đầu mối của sự lạc hậu.


BLOG HUỲNH NGỌC CHÊNH

Oanh Yến Thị Phạm

Mùa mưa 2013 có vẻ đến sớm hơn mọi năm khi chỉ mới bắt đầu bước vào tuần lễ cuối của tháng 5 Dương lịch. Những cơn mưa đã bắt đầu dần nặng hạt hơn trên cả ba miền. Trước đó những cơn lốc xoáy, mưa đá cũng đã gây thiệt hại tại nhiều khu vực. Những cơn mưa, giông, lốc xoáy đến sớm như một điềm báo chẳng lành cho một năm đầy bất trắc cho nền kinh tế và chính trị tại Việt Nam mà những mâu thuẫn vốn luôn tiềm ẩn đã được che đậy bằng những "thỏa hiệp được định hướng" trước đây, nay ngày càng thoát khỏi từ trường của nguyên tắc Tập trung Dân chủ, một nguyên tắc sống còn của Xây dựng Đảng và Nhà nước theo mô hình nhà nước Độc tài toàn trị.

*Những tác nhân sẽ gây nên cơn lốc xoáy tỷ giá đa phương giữa đồng nội tệ VNĐ và các loại  ngoại tệ khác, đang hội tụ và ngày càng tạo ra những vùng áp lực hình thành rốn xoáy. Với trên 80% nguyên, phụ liệu, phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung quốc trong bối cảnh NHNN Trung quốc đang áp dụng chính sách đồng tiền mạnh khi cho phép nới biên độ co giản tỷ giá song phương giữa đồng Nguyên và USD. Từ tỷ giá 1 USD đổi được 6,735 (lấy tròn) nay 1 USD chỉ còn 6,235 (lấy tròn). Chính phủ Trung quốc đang áp dụng chính sách đồng Nguyên mạnh để đối phó với khủng hoảng nợ công và hạn chế tiêu dùng trong nước trong bối cảnh tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng, có dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng. Nguồn nguyên, phụ liệu đầu vào của nền sản xuất tại Việt Nam, đang bị đẩy lên cao.

Ngược lại những thị trường xuất khẩu truyền thống và chủ yếu của Việt Nam là Mỹ và các nước trong khối EU, Nhật Bản, đồng nội tệ đang được các chính phủ áp dụng chính sách đồng nội tệ yếu. Tỷ giá song phương giữa đồng Yen/USD đã bất ngờ tuột giá trong nữa cuối tháng 5, khi tỷ giá bình quân đang từ 1USD/77 Yen đã tăng lên 1USD/99,7 - 99,8Yen. Cũng tương tự Tỷ giá song phương bình quân giữa USD và đồng EURO, đang từ 1USD/0,765 đã bất ngờ tăng lên quanh trục 1USD/0,779 - 0,776. Đồng USD, trên thực tế đã mất giá trên 24% so với VNĐ từ những tháng đầu năm 2012.

-Rõ ràng hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường truyền thống và chủ yếu này đang kém cạnh tranh vì đã trở nên quá đắt do cuộc chiến tiền tệ giữa các nước.

-Cơn lốc xoáy lãi xuất cao do khủng hoảng thanh khoản kép của hệ thống NHVN, đã giật sập trên 100.000 Doanh nghiệp và đẩy trên 65% Doanh nghiệp lâm vào cảnh làm ăn thoi thóp lỗ lã.

-Việc NHNNVN, với độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng, đã bán đấu giá vàng với giá cao, đã tạo chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới luôn ở mức cao từ 18 cho đến 20%, cũng đã tạo nên áp lực tăng tỷ giá song phương giữa USD/VNĐ.

-NHNNVN, đang cố kiềm chế tỷ giá song phương giữa USD/VNĐ để áp dụng chính sách đồng nôi tệ mạnh vì hai lý do:

1-Cố gắng cứu sự sụp đổ theo hiệu ứng domino do khủng hoảng thanh khoản kép của hệ thống NHVN.

2-Nợ công của Chính phủ Việt Nam ngày càng phình to.

-Áp lực phá giá VNĐ để hổ trợ xuất khẩu cứu những doanh nghiệp còn sống sót và áp lực giữ ổn định tỷ giá song phương USD/VND để giảm nợ công và cứu hệ thống NHVN khỏi sụp đổ, đã càng làm tăng tác nhân hình thành "rốn xoáy" của cơn lốc xoáy tiền tệ lên đến cực đại.

*Cơn lốc xoáy trên chính trường qua hai Hội nghị BCHTW6 và BCHTW7, đã giật phăng cây đũa thần nguyên tắc Tập trung dân chủ trong tay Giáo sư, Tiến sỹ Xây dựng Đảng TBT Nguyễn Phú Trọng và bẻ gẩy vụn qua việc không kỷ luật được đồng chí X và hai ứng cử viên do đích thân TBT giới thiệu vào BCT bị gạt ra lề.

-Việc những cuộc họp của BCHTWĐCS VN vừa qua được tổ chức họp kín như trong thời chiến tranh cũng như cuộc họp bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội đang diễn ra cho thấy "rốn xoáy" đã hình thành trên chính trường Việt Nam.

*Bên cạnh đó việc ngày càng có nhiều lớp người tuổi trẻ Việt Nam như các em Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha và 14 thanh niên công giáo ở Nghệ An quê hương Bác, đã can đảm, kiên định dấn thân vào con đường đấu tranh cho Dân chủ, Tự do, Nhân quyền cho đồng bào và họ đã nhận được sự ủng hộ và đồng thuận của đại đa số dân chúng và ngay cả những người còn giữ thẻ đảng. Đối lập lại là những bản án và thái độ nhò nhen của Đảng CS VN và Chính phủ VN, là tác nhân hình thành một rốn xoáy thứ hai trên chính trường Việt Nam.

*Ba "rốn xoáy" của nền Kinh tế và Chính trị Việt Nam sẽ giao thoa và cộng hưởng để đạt đến bước sóng  cực đại làm bật đến tận gốc trốc tới tận rễ mọi thứ rác rưởi đang ngăn cản vòng xoay của bánh xe lịch sử
......

Hãy chuẩn bị.


BLOG NGUYỄN VẠN PHÚ
SATURDAY, MAY 25, 2013

Kênh VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam một hôm bỗng nhận thông báo từ những quốc gia họ đang phủ sóng (nghe đâu là toàn cầu) buộc VTV4 phải dịch tất cả các chương trình từ tiếng Việt sang ngôn ngữ bản địa, rồi phải nộp băng hình trước để một cơ quan của nước họ biên tập sau đó mới được phát hình. Đối diện với một khoản chi phí khổng lồ, Ban Giám đốc VTV quyết định rút lui khỏi các nước đưa ra yêu cầu này.
Đây chỉ là một chuyện giả tưởng nhưng nó giúp chúng ta hình dung được tình cảnh của các chương trình truyền hình nước ngoài đang gánh chịu ở nước ta.

Kể từ ngày 15-5-2013, các chương trình truyền hình nước ngoài muốn phát sóng ở Việt Nam phải được biên tập và biên dịch. Trước khi xem thử một quyết định như thế có lợi gì không, có lẽ nên làm rõ một số hiểu nhầm:

-          Theo quy định cũ, hầu như mọi chương trình đều phải biên dịch 100% sang tiếng Việt nhưng sau đó có điều chỉnh, miễn trừ việc dịch cho chương trình tin tức, khoa học và giáo dục, ca nhạc, thể thao. Cho nên nói phải cắt kênh CNN hay BBC vì không biên dịch là không chính xác.

-          Nhưng yêu cầu biên tập thì vẫn giữ nguyên cho mọi kênh. Mà việc biên tập phải được thực hiện ở các cơ quan nhà nước được cấp giấy phép biên tập (hiện nay chỉ có Đài Truyền hình và Thông tấn xã Việt Nam).

-          Biên tập ở đây là làm chậm lại chương trình phát sóng khoảng 30 phút, có người xem trước để bảo đảm nội dung không có gì vi phạm luật lệ.

Theo tôi thì không nên có yêu cầu biên dịch, biên tập gì các chương trình truyền hình nước ngoài cả. Chuyện biên dịch thì nếu có nhu cầu từ thị trường, ngay lập tức các đài phải tự lo mà biên dịch và chạy phụ đề như đã từng làm từ mấy năm nay rồi. Chi phí dịch phim truyện có thể không cao (vì có thể lấy file cũ có sẵn trên Internet) nhưng dịch các chương trình phóng sự, tài liệu là đắt lắm lại khó tìm người dịch cho có chất lượng. Việc biên tập cũng vậy, báo chí trong nước không hề có chuyện kiểm duyệt trước thì truyền hình nước ngoài mà áp dụng cái cách kiểm duyệt này nó phản cảm lắm. Thử tưởng tượng các đài CNN hay BBC mà biết chương trình của họ bị “săm soi” để cắt bỏ những đoạn nhạy cảm như thế thì ai mà cho phát. Ở đây nên áp dụng lý thuyết trò chơi, các nơi chịu trách nhiệm tự lo để khỏi bị phiền phức về sau.

Chỉ cần lập luận như thế này sẽ thấy không nên áp dụng quy định này. Hiện nay nội dung các chương trình truyền hình như thế đều có thể tiếp cận qua Internet. Tin từ CNN trên Internet làm sao ai mà bắt biên tập biên dịch được; vì sao lại phải loay hoay với chương trình phát trên sóng, ít người xem, chủ yếu là người nước ngoài và một số người Việt biết tiếng Anh.

Cũng bởi thế nên có kênh làm đúng quy định, tức đợi cấp giấy phép biên tập rồi mới phát; có nơi phớt lờ quy định. Kiểu luật lệ làm cho có, không thực thi nghiêm minh, lúc làm lúc không như thế này làm sút giảm hiệu lực quản lý nhà nước.


BLOG QUÊ CHOA

Chục năm nay tối qua lần đầu mình ngồi xem chương trình TV từ đầu chí cuối, đó là cuộc nói chuyện đầu tiên của Nick tại Việt Nam. Thật cảm động, mình đã ứa nước mắt khi thấy anh đi lại đầy tự tin trên chiếc bàn lớn và hào hứng kể chuyện cho mọi người. Mình cũng là người tàn tật, so với Nick chẳng nhằm nhò gì, nên mình khâm phục vô cùng nghị lực của anh.  Phải có một nghị lực phi thường mới làm được những gì mà Nick đã làm.

Mình nghĩ việc đưa Nick về Việt Nam rất có ý nghĩa. Có lẽ Việt Nam là một trong những đất nước có người khuyết tật lớn nhất, vì chiến tranh liên miên, vì nguồn nước ô nhiễm, vì chất độc da cam… Có hàng chục vạn người khuyết tật đang sống khổ đau giữa cuộc đời này. Nick đến để truyền cho họ niềm tin và hy vọng để họ vươn lên chiếm lĩnh một cuộc sống có ý nghĩa, đó là điều tuyệt vời! Mình nghĩ 30 tỉ là cái giá rất rẻ  nếu Nick làm được điều đó. 

Nhưng sau đó được biết Nick đi nói chuyện với doanh nhân để “chia sẻ khá nhiều những kinh nghiệm, quan điểm trong việc kinh doanh và quản lý doanh nghiệp” thì quả thật mình hơi bị thất vọng. Mình nghĩ đấy không phải việc của Nick, trong lĩnh vực kinh doanh chắc chắn Nick không phải là một chuyên gia đáng nể. Các doanh nhân Việt Nam liệu có thu được gì ngoài triết lý “Không bao giờ bỏ cuộc”, triết lý mà chính các doanh nhân Việt thường dùng để khuyên các nhân viên của họ. Ý mình muốn nói là cuộc nói chuyện với doanh nhân Việt của Nick không phải là có hại hay vô nghĩa, nhưng không lẽ người ta bỏ ra 30 tỉ mời anh về để nói chuyện này sao?

Đến đoạn Nick dùng tư tưởng Hồ Chí Minh để khuyến dụ các doanh nhân Việt Nam thì thú thực ngửi không nổi. Nick ơi, người Việt Nam chục năm nay liên miên học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mệt lắm rồi. Họ không cần nghe Nick nói với họ, rằng “Hãy làm theo gương Bác Hồ”, rằng “Trước muôn vàn thử thách, Hồ Chủ Tịch vẫn từng, từng bước dẫn dắt dân tộc Việt tiến lên phía trước”. Biết rồi khổ lắm nói mãi.
Hãy đến với hàng chục vạn người khuyết tật Việt Nam và hãy truyền lửa, truyền niềm tin, niềm hy vọng và khát vọng sống cho họ, đấy là điều dân Việt đang chờ ở anh chứ không phải tư tưởng Hồ Chí Minh đâu Nick ơi!

Chớ có nghe mồm mấy ông tuyên giáo mớm cho Nick nhé!


BLOG TRƯƠNG DUY NHẤT 

Trong số bạn đọc của Một góc nhìn khác, có “thầy” nào biết xem chữ ký đoán coi thử tân Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thiện Nhân có phải là một “nhà kỹ trị”, vai trò, vận số của ông sắp tới và liệu việc thay đổi chữ ký của ông có liên ứng gì?

Ngay sau khi ông Nguyễn Thiện Nhân được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị, một số cây bút đã kỳ vọng vị Phó Thủ tướng, giáo sư tiến sĩ, nhà giáo ưu tú này là… nhân tố khởi đầu cho một chính phủ kỹ trị!

Ông Nhân có phải là một “nhà kỹ trị” và vai trò sắp tới của ông thế nào sau khi được bổ sung vào BCT- Tôi đã có đôi dòng nhận xét trong bài “Nhân trị, pháp trị hay kỹ trị” đăng lại của tác giả Hiệu Minh như sau:
- Chính trường Việt chưa manh nha tư tưởng kỹ trị. Phái bảo thủ, phái lợi ích, phái X, S, Y nào đó thì có, chứ nói phái kỹ trị thì… quá sớm! Phải hết thế hệ này may ra mới mong nhìn trông được.

Nguyễn Thiện Nhân không phải là người có tư tưởng kỹ trị. Tôn vị Phó Thủ tướng, giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo ưu tú này là “nhà kỹ trị” e… việt vị! Không phải cứ tu nghiệp ở Mỹ về là thành “nhà kỹ trị”. Nguyễn Thiện Nhân là một chính khách giáo điều, hình thức chủ nghĩa. Nếu giao ông cầm lái, chắc cũng chẳng khác gì “ông nhóm lò” Nguyễn Phú Trọng.

Dấu ấn lớn nhất trong sự nghiệp chính trị (tính đến bây giờ) của Nguyễn Thiện Nhân là giai đoạn ông cầm lái ngành giáo dục. Xin bấm đọc lại bài “Giáo dục thời bất… Nhân” để thấy ông Nhân có vẻ còn chưa hiểu “kỹ trị” là gì, để thấy một Nguyễn Thiện Nhân đầy giáo điều và hình thức chủ nghĩa.

- Việc Nguyễn Thiện Nhân được cơ cấu vào Bộ Chính trị nghe nói là để sang ngồi ghế Chủ tịch Mặt trận thay Huỳnh Đảm. Và ông sẽ ngồi đấy đến hưu, chăm cho sự nghiệp Mặt trận có thể bớt nhạt hơn thời ông Đảm, nhưng sẽ giáo điều, hình thức chủ nghĩa hơn, chứ chẳng phải để chèo lái hay “kỹ trị” gì.

Có thể, sẽ còn nhiều bàn cãi về nhà giáo ưu tú Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Ở bài viết này, xin giới thiệu thêm một chuyện nhỏ: chữ ký của ông Nhân.

Nghe nói tâm tính con người cũng phản ánh qua chữ ký, nhìn chữ ký đoán được tương lai sự nghiệp và vận mệnh. Bạn đọc ai rành món này xem thử liệu nhà giáo ưu tú hay nhiệt thành với việc bắt gà lậu và thăm heo liệu có đúng là một “nhà kỹ trị” mới cho công cuộc tái cấu trúc chính phủ hay tái cấu trúc… Mặt trận?

Hơn 4 năm trước, khi vừa được bổ nhiệm Phó Thủ tướng (vẫn kiêm nhiệm Bộ trưởng Giáo dục), ông Nhân đột ngột thay đổi chữ ký. Ngay sau đó, nghe nói ông được giới thiệu vào Bộ Chính trị để kiêm nhiệm ghế Bộ trưởng Ngoại giao nhưng trượt trong đại hội XI.

Hội nghị 7, tức đúng nửa nhiệm kỳ, ông được bổ sung vào Bộ Chính trị với số phiếu được cho là gần như tuyệt đối, bỏ xa nhiều ứng viên nặng ký khác trong cuộc bỏ phiếu đầy căng thẳng quyết liệt.


Nam Mô - Nick và vài chuyện khác



Nam Mô

"...mặc cho thiêng hay không, ở chùa nhà hay chùa chợ, chỉ muốn lưu ý các cụ rằng, Bụt trước sau vẫn là một người đàn ông ngoại quốc."

Trao đổi về bài viết “Hiện tượng Nick Vujicic bóc trần thói sính ngoại của người Việt?” của tác giả Phan Anh.http://www.reds.vn/index.php/thoi-su/cong-dong-mang/4424-hien-tuong-nick-vujicic-va-thoi-sinh-ngoai-cua-nguoi-viet  

Cách tiêu tiền của Tôn Hoa Sen

Trong bài viết của mình tác giả Phan Anh đã đưa ra con số 32 tỷ đồng, được cho là chi phí Tôn Hoa Sen bỏ ra để tổ chức các sự kiện liên quan đến Nick ở Việt Nam.


Tôn Hoa Sen

Không khẳng định trực tiếp nhưng có thể thấy được tác giả cho rằng có vấn đề không ổn trong cách tiêu tiền của công ty này, theo một số lập luận về lý do như sau:

Đầu tiên, tác giả gắn số tiền trên với hoàn cảnh kinh tế đất nước:
“32 tỷ đồng, một con số khổng lồ trong thời điểm hiện tại, khi mà các doanh nghiệp đang lao đao vì khủng hoảng kinh tế và người dân cũng đang ngập chìm trong khó khăn”

 Câu hỏi đặt ra là, Tôn Hoa Sen có trách nhiệm gì trong cuộc khủng hoảng này không hoặc có phải đã khiến người dân ‘ngập chìm trong khó khăn’ chăng? Nếu câu trả lời là không, vậy việc tiêu tiền của Tôn Hoa Sen có liên quan gì đến tình cảnh kinh tế quốc gia.  

Thứ hai, tác giả cho rằng:
“Bởi những người khuyết tật Việt Nam cần những sự giúp đỡ thiết thực hơn là những “cú hích” về tinh thần mà Nick đã mang tới.”

Không rõ sự thiết thực mà tác giả muốn nói đến là gì? Tiêu chí nào để đánh giá sự thiết thực đó? Khi đặt sự thiết thực trong so sánh với ‘cú hích tinh thần’, phải chăng tác giả đang cho rằng chỉ có ‘vật chất’ – tiền hoặc quà, là thiết thực đối với người khuyết tật? 

Bên cạnh đó, lập luận này đặt trên tiền đề là đối tượng duy nhất mà sự kiện này hướng đến là người khuyết tật ở Việt Nam, trong khi đó, hoàn toàn có thể Tôn Hoa Sen muốn hướng đến cả những người không khuyết tật – những người đang mong muốn nhận được cảm hứng để vận động cơ thể lành lặn một cách có ích hơn.

Sau cùng, tác giả đưa ra lời khuyên cho Tôn Hoa Sen,

 “Tuy nhiên, tôi cứ nghĩ nếu Hoa Sen chịu bỏ ra phân nửa số tiền đó thôi, để giúp đỡ những gương mặt khuyết tật tài năng vươn lên... thì họ vẫn có thể tạo được một chiến dịch PR vừa thành công cả về mặt truyền thông lẫn ý nghĩa xã hội.”

Tôi nghĩ rằng tác giả đã có sự nhầm lẫn khi đặt đối xứng giữa ‘truyền thông’ và ‘ý nghĩa xã hội’ để suy ra là, Tôn Hoa Sen, qua sự kiện vừa rồi, chỉ đạt được ‘mặt truyền thông’ mà thất bại ở về ‘ý nghĩa xã hội’.

Nhưng, lưu ý rằng, ‘truyền thông’ là một phương tiện, còn ‘ý nghĩa xã hội’ thuộc về phạm trù mục đích. Tôn Hoa Sen dùng ‘truyền thông’ để đạt được ‘ý nghĩa xã hội’; ý nghĩa này có thể lớn – nhỏ tùy vào đánh giá của mỗi người, song thật khó có thể phủ nhận sự tồn tại của nó trong sự kiện vừa qua của họ.

Với đề nghị rằng, Tôn Hoa Sen nên ‘bỏ ra phân nửa số tiền đó thôi, để giúp đỡ những gương mặt khuyết tật tài năng vươn lên’ thì mới có thể đạt được ‘ý nghĩa xã hội’, tác giả, một lần nữa, đã đánh đồng một phương tiện cụ thể (ở đây là tặng quà-tiền) với mục đích (ý nghĩa xã hội), đồng thời ưu việt hóa phương tiện này so với những phương tiện khác (chẳng hạn như truyền thông) – điều rõ ràng không hợp lý trong thời đại thông tin ngày nay, khi mà truyền thông đại chúng có vai trò quyết định đối với nhận thức và hành vi của con người.

Thử đặt một giả thiết: sự kiện của Tôn Hoa Sen dẫu không giúp người khuyết tật có thêm một đồng nào, song có thể thay đổi nhận thức của những người lành lặn theo hướng từ bỏ sự kỳ thị, đồng thời khuyến khích sự cảm thông với họ. Nhận thức xã hội từ đó sẽ chuyển biến, và khả năng có được những chính sách xã hội tốt cho người khuyết tật sẽ cao hơn. Nếu vậy, liệu có thể khẳng định rằng những sự kiện kiểu này hoàn toàn không ‘thiết thực’ và không có ‘ý nghĩa xã hội’ chăng? 

Quyền được tiêu tiền tự do

Thực ra, tồn tại một vấn đề lớn hơn, ngụ ý trong bài viết của tác giả, vốn được nhiều người đồng tình, song lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với đời sống tự do đang dần bắt rễ vào xã hội Việt Nam. Đó là, việc chất vấn đạo đức đối với cách chi tiêu của người khác.

Với số tiền Tôn Hoa Sen bỏ ra, tác giả nhìn nhận, “32 tỷ đồng, một con số khổng lồ trong thời điểm hiện tại, khi mà các doanh nghiệp đang lao đao vì khủng hoảng kinh tế và người dân cũng đang ngập chìm trong khó khăn”

Với các bạn trẻ dự khán, tác giả viết ,“nhưng nhiều bạn trẻ sẵn sàng bỏ 2 triệu để nghe Nick nói chuyện về nỗi khổ, về nghị lực sống... trong khi họ sẵn sàng bĩu môi và không thèm bố thí một đồng cho người ăn xin tàn tật.”

Những chất vấn kiểu này vừa nguy hiểm vừa nguy hại. Nguy hại vì nếu được nhân rộng, không sớm thì muộn sẽ dẫn xã hội đến bình quân chủ nghĩa. Nguy hiểm vì nó dễ thu hút số đông, bởi tính chất cảm tính của nó phù hợp với bản năng khao khát bình đẳng tuyệt đối nơi con người.

Lưu ý rằng, trừ phi chứng tỏ được tiền bạc của một ai đó có được là do phạm pháp, hoặc việc tiêu tiền của người đó gây hại đến quyền lợi của người khác, chúng ta không được quyền chất vấn hay đặt ra vấn đề đạo đức đối với cách họ xài tiền. Đây là cách ứng xử trong một xã hội tự do và tôn trọng lẫn nhau.

Nhớ rằng, việc thực hiện quyền tự do của một số cá nhân đôi khi tạo ra những thứ không đẹp trong mắt bạn, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng thực sự xấu. Và, ngoài sự thăng tiến tự do của mỗi cá nhân, xã hội sẽ không có cách nào tìm được sự thăng tiến thực sự cho nó.

“Sản phẩm truyền thông”, “Sính ngoại” hay một căn bệnh khác

Trong bài viết, tác giả khẳng định “Nói đơn giản hơn, Nick cũng chỉ là một sản phẩm truyền thông”. Chúng ta hiểu nhận xét này như thế nào?

Truyền thông là sự truyền đạt thông tin giữa người với người thông qua nhiều phương tiện và cách thức khác nhau. Với nghĩa này thì không chỉ Nick mà tất cả chúng ta đều là sản phẩm truyền thông, của nhau và trong nhau. Song, như thế thì chẳng có gì đáng nói, và có lẽ, đây không phải là điều tác giả muốn ngụ ý.

Liên hệ với các nội dung khác trong bài, có lẽ tác giả cho rằng Nick không quá đặc biệt, ít ra là so với những người khuyết tật nổi tiếng khác của Việt Nam, nhưng chỉ nhờ các cơ quan truyền thông mà nhận được sự chú ý.

Thật khó và đồng thời cũng thật nhẫn tâm, nếu những người lành lặn, ngồi đo đếm xem ai đặc biệt hơn ai, Nick hay những người khuyết tật có tiếng ở Việt Nam như Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Công Hùng, Phạm Thị Thu.

Song cần lưu ý rằng, nếu coi Nick là sản phẩm của truyền thông thì ba người khuyết tật Việt Nam kể trên cũng vậy. Cũng đã có những cơ quan truyền thông đưa câu chuyện của họ đến với chúng ta, để giờ đây chúng ta biết và bàn về họ. Nếu có một điều gì khác biệt thì đó là những cơ quan truyền thông khai thác chuyện của Nick đã biết cách ‘kể’ hay hơn, bằng một cách làm việc hiệu quả hơn so với các cơ quan ‘truyền thông’ chuyện của Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Công Hùng, Phạm Thị Thu.

Chuyển qua chuyện sính ngoại, xin bàn đôi chút về nguồn gốc của tâm lý này. Con người nhìn chung khi được lựa chọn sẽ tìm đến cái tốt hơn. Nếu chúng ta đồng ý với nhau rằng, Việt Nam là một nước chậm tiến về mọi mặt so với nhiều nước trên thế giới, chúng ta sẽ dễ dàng giải thích được tâm lý này. Nói gọn hơn, cũng như bao dân tộc khác, người Việt Nam ‘sính’ cái tốt hơn, và trong đa số trường hợp, chẳng may, cái tốt hơn đó có xuất xứ ngoại quốc.

Nhưng theo tôi, dường như có một vấn đề sâu xa hơn trong cách nhìn nhận câu chuyện của Nick.

Nhìn Nick, quả tình tôi chỉ thấy một phận người bẩm sinh bất hạnh song nhờ nghị lực đã vượt qua được số phận để góp ích cho đời. Tôi chẳng quan tâm anh ta là người nước nào, trước mắt tôi độc nhất một thân phận.

Rõ ràng, đang có một cái lăng kính ‘quốc gia-dân tộc’ được đặt ra trước mắt nhiều người trong số chúng ta khi nhìn bất kỳ con người hay sự việc nào trên đời.

Dường như nhiều người trong chúng ta mắc một căn bệnh khác, có liên quan đến dân tộc chủ nghĩa, mà tôi cho rằng đáng lo hơn thói ‘sính ngoại’ rất hợp lý nói trên.

Cuối cùng, khi nghe tác giả chỉ dẫn đến truyền thống, “các cụ ta nói cấm có sai, Bụt chùa nhà không thiêng là vậy...,”  tôi tự hỏi rằng không biết ông bà của tôi có từng nói câu này hay không. Song, mặc cho thiêng hay không, ở chùa nhà hay chùa chợ, chỉ muốn lưu ý các cụ rằng, Bụt trước sau vẫn là một người đàn ông ngoại quốc. 

Nick. Nguồn: Vnexpress.vn