Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Cánh Cò - Phản động như VTV là cùng



Cánh Cò

Tôi không thù hằn gì ông nhưng nói thật giá mà ông đừng lên TV.

Khối người nghĩ lên TV là để hãnh diện với giòng họ, chóm xóm hay lớn hơn là cả nước thì đôi khi sẽ bị hố to, đặc biệt đối với người có danh có vị, nói theo kiểu giang hồ là có số có má, vì khi lên chỗ thị phi trước mắt hàng triệu người mà ăn nói rối rắm, câu cú lủng củng thì có mà ốm đòn với báo chí, chí ít là bị ném đá mềm người.


TV còn có một tai hại nữa mà các phương tiện truyền thông khác không có, đó là hình ảnh của người “muốn nổi tiếng” sẽ không cách gì mà không “lộ nguyên hình” khi lên TV.

Mặc dù trước khi trình diện bản mặt mình với khán giả thì mấy anh chị đã được bộ phận hóa trang mà Tây gọi là make-up son phấn che lấp những sai sót của tạo hóa. Hố bom hố bò, tàn nhang hay vết nám sẽ bị che bằng các lớp hóa chất mỏng tang nhưng có khả năng biến xấu thành dễ coi, biến hốc hác thành đầy đặn, biến nhăn nheo thành trơn láng và cũng có thể, tùy theo tài năng của người nghệ sĩ make-up, biến hung dữ thành hiền hậu, và hay hơn nữa là biến lùn thành cao ráo hơn một tí!

Nhưng có một điều mà tất cả các tay phù thủy của Holywood bó tay không làm được, đó là biến phì nộn thành…ốm o.

Cái yếu huyệt này đã khiến rất nhiều người nổi tiếng tránh lên TV, nhất là ở Việt Nam, khi người dân vẫn quen nhìn người phì nộn là…lười biếng, háo ăn với hàng lô hàng lốc từ ngữ biếm nhẽ khó nghe.

Có một người không thấy được cái yếu huyệt ấy, ông ta vẫn lên TV, vẫn trả lời phỏng vấn trong vai trò một Bộ trưởng, một Ủy viên Trung ương Đảng, tức là một người có số có má.

Ông ta là Giàng Seo Phử, Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Sắc tộc Việt Nam.

Tôi không mặc cảm gì với thân phận của ông, tôi chỉ thương hại thay cho ông và giận cho VTV khi đem ông lên trong chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”.

Tôi thấy thảm hại vì khuôn mặt quá khổ của ông tương phản một cách khôi hài với các câu trả lời về tình trạng đói ăn lưu cửu của đồng bào miền núi. Ông càng cố lột tả sự khó khăn của các hộ dân ít người tại các tỉnh vùng cao thì người xem càng cảm thấy ông đang lừa dối họ.

Khi ông nói về sự khó khăn của người dân thì những khối thịt trên mặt chống lại ông một cách quyết liệt. Cơ hàm ông bạnh ra, cổ ông láng bóng và chúng đang quằn quại hết sức đế thoát ra chiếc cổ cồn quá chật, cộng với chiếc cà vạt nhà quê cố thắt cổ thân chủ thay vì làm đẹp cho người mang chúng. Ông ạ, tôi có cảm tưởng khi trả lời xong cuộc phỏng vấn ông sẽ ngã lăn ra mà thở.

Đáng buồn là ông không ngã lăn ra thở như tôi tưởng tượng, mà thay vào đó các cháu miền cao, những người được ông nhắc tới sẽ tiếp tục lăn ra vì đói.

Điều này tôi biết chắc ông không bao giờ để ý, vì nếu biết ông sẽ chấm dứt bài nhạc có cung “cơ chế” mà toàn Đảng, toàn hệ thống kể cả ông đang vin vào khi bị vặn hỏi.

Ông không ở bên ngoài cái cơ chế ấy, vì ông là Bộ trưởng.

Và vì ông không biết chương trình “Cơm có thịt”, “Áo ấm biên cương”… cũng như những chương trình khác của những con người ngoài cơ chế đang cật lực mang tới cho các em vùng cao chút ấm lòng.

Họ không lãnh lương như ông. Họ không tròn trịa như ông. Không áo vét, cà vạt sang trọng như ông ngồi không đổ vấy cho cơ chế. Họ miệt mài cứu trẻ đói, che chắn trẻ lạnh, ấp ủ những trẻ thiếu chữ vùng cao bằng những hành động thực tiễn. Họ săm soi từng vết nứt dưới chân các em để biết rằng cần phải xin giày mang lên cho chúng.

Họ ngồi ngắm nghía những trẻ ở truồng không phải bằng đôi mắt tò mò mà cố tìm cách nào che cho chúng trôi qua mùa lạnh.

Họ chụp những tấm ảnh ngây thơ nhưng đói lả của các em không phải để dự thi ảnh nghệ thuật mà muốn những tấm ảnh ấy đánh vào lương tâm dư luận để giúp được phần nào những cộng đồng mang tiếng là Việt Nam nhưng thật khó làm cho giới chức Hà Nội hiểu thế nào là cái đói, cái lạnh của trẻ em miền núi.
Chúng còn một cái đói khác lớn hơn, sẽ làm suy dinh dưỡng trí não của chúng cho đến khi trở thành kiệt quệ, đó là đói chữ.

Phải chăng thức ăn của trẻ em đồng bào thiểu số đã chạy về đắp lên đôi má nặng nề của ông? Phải chăng cái đói thảm thương của họ có dính líu tới con đường danh vọng của một đồng hương mang tên Giàng Seo Phử?
Có hay không có ông thì những tộc người ấy vẫn sống, vẫn tìm củ mài củ chuối mà ăn thay vì cơm và gạo như người Kinh. Họ bất cần tới sự trả lời của bộ trưởng Giàng cùng với thứ ngôn ngữ được đánh bóng tới từng dấu phẩy.

Những con người âm thầm sau lưng đang giúp cho các em không được hỏi công khai trên TV và nhiều người tin rằng có hỏi họ cũng không trả lời. Họ khác ông nhiều thứ, từ tâm hồn cho tới bộ dạng. Họ ốm yếu, trong khi ông nung núc. Họ khuân vác những kiện hàng xin được từ xã hội lên tận những nơi tưởng chừng không thể nào lên được trong khi ông ngồi phòng lạnh, chỉ tay năm ngón tới những điều bất cập mà ai cũng biết.

Họ, những con người không muốn nổi danh ấy, đau đáu với những ánh mắt chờ mong rất ngây thơ và đầy bất nhẫn. Những cái tên của các em rất khó phát âm và xa lạ đối với nhiều người nhưng rất quen thuộc với ông vì ông từ vùng núi mà ra. Ông nói chung thứ tiếng nói của họ nhưng không đồng cảm với cái đói, cái khổ đau mà hàng trăm ngàn người đang chịu. Ông cố chứng minh thay Đảng rằng sự đói nghèo của các bộ tộc rất gần gũi với ông là do hoàn cảnh đặc thù của dân tộc.

Ông đã làm tròn trách nhiệm nói dối, lấy nước miếng làm mát những lò điện hạt nhân đang sôi có tên Cao Bằng, Hà Giang, đặc biệt là Lai Châu, Mường Nhé nơi hàng trăm ngàn người H’mông như ông đang ăn củ mài trừ cơm hay đang ở trong các căn nhà chiều cao một thước hai, cố trốn đói bằng cách lên rừng đào củ để sống trong khi Bộ trưởng của họ thủng thình nói rằng tất cả đều do cơ chế!

Tôi cảm thông với ông ở cái góc là ông đã làm tròn công tác lừa dân mà Đảng giao phó. Tôi có thể ghét cái cơ địa của ông nhưng phải nói thật, ông không đủ thông minh để thoát ra khỏi cái bẫy của VTV.

Còn cái góc khác, góc phá hoại của VTV khi mời một con lợn lên thuyết trình về lợi ích của ăn chay thì tôi xin hỏi thẳng: VTV đã nhận của bọn phản động bao nhiêu tiền để làm chương trình này?

Góc Cỏ May - Liệu quan Tổng Thanh tra CP Huỳnh Phong Tranh có “trượt mồm”?



Góc Cỏ May


Bình luận về lời đề nghị “Yêu cầu cưỡng chế đoàn khiếu kiện đông người qúa khích, “mang màu sắch chính trị” của ông Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh hôm 18/4/2013, có ý kiến cho rằng đó chỉ là cú “trượt mồm” qúa mạnh so với các cú “trượt mồm” gần đây của các ông từ TBT, Chủ tịch QH, Chủ tịch nước… đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trong công luận.

Horst Köhler,
Tổng thống thứ 13
của Đức.
Nhìn rộng ra thế giới. Chuyện các chính khách hàng đầu ở các nước bị “trượt mồm” là không thiếu. Một ví dụ như ông Tổng thống Đức Horst Köhler (2004-2010) chẳng hạn. Ông là người có gương mặt khả tín, thân thiện, cùng sự chín chắn trong từng lời ăn tiếng nói. Đã gây được nhiều thiện cảm trong dân chúng. Vậy mà trong chuyến thăm viếng binh sĩ Đức đồn trú ở Afghanistan hồi đầu năm 2010, chỉ với mỗi một câu nhỡ miệng rằng, sự hiện diện của các binh sĩ Đức ở nơi đây (Afghanistan) là để bảo vệ quyền lợi kinh tế của nước Đức. Câu nói này ngay tức thì đã gây tranh cãi nhiều trên truyền thông báo chí. Khiến ông phải xin từ chức vào ngày 31.05.2010. Làm không ít chính khách cũng như người dân Đức luyến tiếc.

Trở lại chuyện của Huỳnh Phong Tranh.

Tại một hội nghị quan trọng do ông chủ trì để bàn về việc nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phục vụ các kỳ họp của Trung ương Đảng và Quốc hội diễn ra vào hôm 18/4 vừa qua. Với sự hiện diện đầy đủ lãnh đạo các Bộ, ngành và 22 tỉnh, thành phố trên cả nước. Người dân oan khắp nơi đang hồi hộp ngóng chờ tiếng nói của một ông quan đứng đầu cơ quan thanh tra của chính phủ. Như ông ta đã từng tuyên bố lúc mới nhậm chức (8/2011) rằng:
“Công tác thanh tra là bạn của dưới, tai mắt của trên. Nếu làm tốt công việc chúng tôi có thể giúp cho công tác điều hành của Chính phủ và giúp cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng sát thực tế hơn.

Tôi cũng sẽ cố gắng là nếu có cám dỗ sẽ tránh, đồng thời giáo dục lực lượng công chức trong bộ máy của mình trung thành, trung thực và trong sạch để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn…” (xem ở đây).


Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh chủ trì cuộc họp ngày 18/4/2013.

Vậy mà mới nhậm chức chưa được nửa nhiệm kỳ, trong lúc công tác phòng chống tham nhũng và chỉnh đốn còn đang diễn ra nhằm lấy lại niềm tin của nhân dân đối với đảng mà ông Tổng Thanh Tra lại chụp cái mũ qúa khích, ”mang màu sắc chính trị” để đòi “cưỡng chế” những “khiếu kiện đông người” như thế thì có khác gì “tự đá vào lưới nhà” trong trận cầu sống mái với nạn tham nhũng đang có nguy cơ ngày càng gia tăng?

Ở bài viết Nhân dân đứng ngoài chính trị? nhà văn Thùy Linh đã chỉ rõ:
“Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Khi luật lệ chung này có vấn đề thì đương nhiên sẽ có bộ phận dân chúng phản ứng với sự sai khác này. Hành động của họ, đương nhiên, là hành động chính trị.”

Cho nên có khiếu nại tố cáo (khiếu kiện dù đông hay ít người) nào là không “mang màu sắc chính trị”, thưa ông Tổng Thanh tra Chính phủ?

Với sự hiện diện đầy đủ lãnh đạo các Bộ, ngành và 22 tỉnh, thành phố trên cả nước, nhưng tín hiệu phát ra rõ ràng là muốn rập tắt khiếu nại tố cáo kéo dài bằng cách chụp cho những người đi khiếu kiện cái mũ là “mang màu sắc chính trị” thì có khác gì coi dân oan là “thế lực thù địch” và cần phải mạnh tay trấn áp chứ đâu phải muốn làm “bạn của dưới” (dân đen) như lời ông nói lúc mới đăng quang?


“…những người dân mặc áo quốc kỳ đi khiếu kiện đã làm xấu hình ảnh thủ đô” – Lời Nguyễn Thế Thảo.

Ai chứ Nguyễn Thế Thảo (người đã phát ngôn: những người dân mặc áo quốc kỳ đi khiếu kiện đã làm xấu hình ảnh thủ đô) và Lê Thanh Hải (người đang bị hàng chục người dân tố cáo cướp đất ở TP Hồ Chí Minh) sẽ mở cờ trong bụng. Bởi ông quan “mặt lạnh như tiền” Tổng Thanh tra Chính phủ – Huỳnh Phong Tranh đã chọn chỗ đứng về phía những quan tham đang bị dân tố cáo. Chứ không phải ngược lại.

Đó là thông điệp gì mà Huỳnh Phong Tranh muốn gửi tới các quan tham nhũng ở tất cả bộ ngành từ trung ương tới các địa phương?

Nhớ lại câu chuyện nghe được từ chính một người bạn thân của tôi cách đây hơn 7 năm. Anh là giám đốc một công ty lớn của nhà nước. Bạn đã từng than với tôi:
- Bất kể ai đang ăn nên làm ra trong guồng máy (doanh nghiệp nhà nước) mà không biết “quan hệ tốt” với các quan lớn trên thượng tầng là khó mà tồn tại được.

Anh còn khoe, nhờ có được tấm ảnh anh ta chụp chung với ông Tổng Thanh tra Chính phủ (thời đó là Quách Lê Thanh) trên sân quần vợt. Mà hầu như tất cả các đợt thanh tra lớn nhỏ đều xuôi chèo mát mái hết.

Tôi giả bộ thắc mắc:
- Tớ thấy cậu có khoái chơi thể thao bao giờ đâu mà bày đặt thế?

- Không khoái cũng phải cố. Như ăn nhậu cũng vậy, không thích cũng phải gắng… làm công chức thời nay cơ cực lắm chứ không như người ta tưởng đâu ông ơi…

Được đà tôi lấn tới:
- Chả nhẽ chỉ có mỗi tấm ảnh chụp chung với quan lớn Tổng Thanh tra trong tư thế thân mật mà được châm chước hết thảy sao?

- Ồ không không, còn thêm nhiều tích tắc nữa chứ. Nhưng như người ta nói “đầu xuôi đuôi lọt”. Biết mình có quan hệ với trên cao chót vót, bên dưới chúng cũng đỡ hành tỏi đi nhiều. Ngay cả khoản “lót tay, đưa tiễn” cũng có phần nhẹ nhàng hơn…

Có một hiện tượng lạ là gần đây tất cả các ý kiến phản biện trái với “định hướng” của Ban Tuyên giáo đều bị các “dư luận viên xã hội” (như khoe khoang của Hồ Quang Lợi) nhảy vào chửi bới mạt sát một cách vô văn hóa bất kể phải trái trắng đen.

Liên hệ với chuyện tham nhũng của chính những người mang danh đi “chống tham nhũng”, một thực tế mà ai cũng thấy, thời gian qua hoạt động của ngành Thanh tra Chính phủ rất tích cực. Nhưng tham nhũng cứ ngày càng tăng lên. Nó chứng tỏ điều gì?

Theo báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng của Chính phủ, toàn ngành thực hiện gần 63.000 cuộc thanh tra, kết thúc gần 53.000 vụ, tuy nhiên, số vụ chuyển cơ quan điều tra chiếm chưa tới 1%. Như vậy các cáo buộc nhận hối lộ của các quan thanh tra từ thấp lên cao để “giơ cao đánh khẽ” trong hoạt động thanh tra là đúng hay sai?

Đại biểu Lê Như Tiến, tại phiên chất vấn công khai Tổng Thanh tra Chính phủ sáng 22/8/2012 ở diễn đàn QH đã hỏi thẳng ông Huỳnh Phong Tranh về tiêu cực, nhũng nhiễu của thanh tra viên. Qua các đợt thanh tra, cơ quan, doanh nghiệp phải lo chăm sóc chu đáo, khi thanh tra về phải lo tiễn đưa hậu hĩnh, “kính gửi đậm đà”…

Đó là các khoản lệ phí gia tăng theo kiểu luật bất thành văn. Có phải là nguyên nhân của “hàng trăm cuộc thanh tra không có kết quả?”


Tổng TTCP Huỳnh Phong Tranh thừa nhận có tiêu cực, nhũng nhiễu, để lộ lọt thông tin trong đội ngũ thanh tra viên…

Trước những chất vấn trực diện như thế, Tổng Thanh tra Huỳnh Phong Tranh buộc phải thừa nhận có tiêu cực, nhũng nhiễu, để lộ lọt thông tin trong đội ngũ thanh tra viên… Dẫn tới kết qủa trong 5 năm (từ 2007 tới 2012), 16 cán bộ thanh tra đã bị xử lý, trong đó 2 người bị xử lý hình sự, một người bị buộc thôi việc. (Xem ở đây).

Nhưng câu hỏi lớn hơn đặt ra là: Có phải trong gần 53 ngàn vụ thanh tra đã kết thúc ở trên chỉ có một con số rất ít những đồng chí cán bộ thanh tra “bị lộ” đã được xứ lý một cách nhẹ nhàng như thế là đã thỏa đáng?
Nay trong cuộc họp Chính phủ do ông Tổng Thanh tra Huỳnh Phong Tranh chủ trì để bàn về việc nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Với sự hiện diện đầy đủ lãnh đạo các Bộ, ngành và 22 tỉnh, thành phố trên cả nước. Nhưng tín hiệu phát ra rõ ràng là muốn rập tắt khiếu nại tố cáo kéo dài của dân oan bằng cách chụp cho những người đi khiếu kiện cái mũ là mang “màu sắc chính trị” thì có khác gì coi dân là “thế lực thù địch” cần phải mạnh tay để “cưỡng chế” đối với họ.

Đó chính là thông điệp rõ ràng táo tợn mà Huỳnh Phong Tranh muốn ngầm nhắn gửi tới các quan tham nhũng ở tất cả bộ ngành từ trung ương tới các địa phương rằng: “cứ yên tâm đi… các đoàn khiếu nại tố cáo đông người đã bị qui kết “qúa khích” và ”mang màu sắc chính trị” hết rồi. Sẽ bị “cưỡng chế” bịt miệng không trừ một ai… để các quan yên tâm mà vơ vét! Nhưng chớ có quên các khoản “lót tay, đưa tiễn” hậu hĩnh tương xứng với quan thanh tra lớn nhỏ là được!

Luận điệu này thể hiện rất rõ cái lối “tư duy nhiệm kỳ” của ông Tranh! Nó là cực kỳ phản động hay chỉ là sự ”nhỡ miệng”

Gocomay

Oanh Yến Thị Phạm - AI NÊN KHÔN KHÔNG KHỐN MỘT ĐÔI LẦN?



Oanh Yến Thị Phạm

Tôi nhớ hồi bé, nếu không nhầm, đâu khoảng lớp ba hay lớp tư (1) gì đó, tôi có được dạy một bài học về sự trung thực qua một câu chuyện ngụ ngôn. Hình như của La fontaine, trong môn Công dân giáo dục. Nội dung của câu chuyện là: Tại một làng quê hình như thuộc nước Ý, có một gia đình nông dân, sống bằng nghề chăn cừu. Gia đình này có ba người con, người anh cả, rắn mắt, nghịch ngợm, rất hay nghĩ ra những trò chọc phá hàng xóm, láng giềng. Một hôm, ban đêm cậu hô hoán lên rằng nhà bị cháy. Hàng xóm nghe hô hoán vội vã mang những dụng cụ chữa cháy chạy đến để dập lửa cứu giúp. Thế nhưng khi đến nơi, chẳng thấy cháy đâu, chỉ thấy cậu bé đang ôm bụng cười ngặt nghẹo. Cậu bé cứ trò rắn mắt ấy trêu ghẹo được người dân trong làng được vài lần và rất lấy làm thích thú. Dân làng riết không ai buồn ra khỏi giường, mỗi khi nghe tiếng cầu cứu của cậu bé ấy. Cho đến một hôm tiết trời hanh khô, đốm lửa tro tàn trong bếp lò đã bùng cháy, thiêu rụi căn nhà của cậu bé. Mặc cho cả gia đình kêu gào trong đêm, mọi người trong làng vẫn ngủ yên vì nghĩ rằng đấy lại là một trò đùa nghịch của cậu bé.


Không biết có phải do bài học đạo đức được truyền đạt một cách nhẹ nhàng qua cách kể lại câu chuyện ngụ ngôn của bà giáo dạy tôi lúc đó hay không, mà hầu như sau này tôi chỉ nói dối đôi ba lần gì đó!???

-Vài lần khi còn bé, nói dối mẹ bị ốm, để được mẹ ôm vào lòng và dỗ cho ăn phở!?

-Chỉ được một lần nói dối bọn bạn gái: không có tiền vá ruột xe, xin mỗi đứa bọn chúng vài hào, sau khi xì bánh xe, đứng canh me trước cổng trường. Dĩ nhiên từng đứa một và cách nhau vài phút, để chúng không biết bị lừa. Sau đó cả bọn con trai ù qua đường ăn đá bào xi-gô. Sau này bị lộ, bọn con gái cứ lườm nguýt tôi mãi cho tới hè và từ đó không bao giờ còn cơ hội xin được của bọn bạn gái dù chỉ một chút nước mũi.
-Vài lần dối vợ: "em đẹp quá chời" để xin tiền vợ đi nhậu.

Chỉ từng ấy thôi, chứ không dám đi xa vì tôi ý thức được câu nói răn người của ông bà để lại:
"Một sự bất Tín, Vạn sự bất Tin".

Một khi đã mất tín nhiệm một lần thì uy tín sẽ đi về vô cực âm, chứ không chỉ dừng lại ở con số 0. Lúc đó chỉ có nước lê la đầu đường, xó chợ, bến xe để hát xẩm ăn mày với ăn xin hoặc đi ăn cướp chứ chẳng làm ăn với ai được hết.

Sáng nay, thấy báo Thanh Niên đưa tin Ông Nguyễn Chí Thành, Cục trưởng cục phát hành và kho quỹ NHNN, khẳng định: sẽ không có chuyện đổi tiền. Và ông Nguyễn Chí Thành cũng hùng dũng tuyên bố: Không có bất kỳ sự thay đổi nào với đồng tiền đang lưu hành do NHNN VN phát hành và khuyến cáo người dân bình tĩnh, yên tâm với đồng tiền do NHNN VN phát hành.

Cách đưa tin của báo Thanh niên cũng rất lạ, nó giống như lối nói trời ơi đất hỡi một cách rất là à uôm khi khơi khơi đưa bản tin với những dòng chữ:
"Trong những ngày qua, thị trường xuất hiện tin đồn NHNN sắp tới sẽ phát hành tiền mới... Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Thành, Cục trưởng Cục phát hành và kho quỹ NHNN, khẳng định..., ông Thành tuyên bố." (hết trích).

Chẳng hiểu ông Thành đã tuyên bố nhân danh hoặc thừa lệnh ủy nhiệm của ai? cấp nào? hay tuyên bố với tư cách cá nhân? Cách hành văn cẩu thả và khác xa với văn phong báo chí chính thống của báo Thanh Niên, càng củng cố thêm mối quan ngại của dư luận về tin đồn "Đổi tiền" mà ông Cục trưởng và giới truyền thông thông tin đang ra sức trấn an. Nếu việc xẩy ra ngược lại với những lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Thành, chắc thiên hạ tìm ông ta để ăn vạ???.

-Một ông Thủ tướng với lời hứa "quyết liệt" chống tham nhũng, "quyết liệt" chống tăng giá xăng, không tăng giá điện!?. Gía xăng, giá điện như vận động viên chạy vượt rào, tăng ào ào.

-Một ông Thống đốc Ngân hàng cũng "quyết liệt" kéo chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế xuống 400.000/lượng, "quyết liệt" ổn định thị trường vàng nhưng không "nhiệt tình" ổn định giá!?. Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới có lúc cách nhau sơ sơ 7 triệu đồng/lượng.

-Một ông TBT "quyết liệt" với NQTW4, mà kết quả là huề cả Đảng!?100% đảng viên đều trong sáng như trăng rằm.

-Một ông CTN "quyết liệt" bắt sâu, chẳng thấy con sâu nào được vớt ra khỏi bát canh!?Đảng viên Đảng CS VN cứ thế thi nhau húp sùm sụp???

Các vị này lặn đâu không sủi tăm? Lại đẩy một ông cục trưởng cục phát hành và kho quỹ chứ không phải là Cục trưởng hoặc Vụ trưởng Pháp chế Ngân hàng???? ra trấn an dư luận!

Việc các phương tiện truyền thông thông tin, báo chí đưa một ông cục trưởng cục phát hành và kho quỹ ra trấn an dư luận, chẳng khác nào thằng bé rắn mắt của gia đình nông dân Ý kia, đã đẩy thằng em út trong nhà ra giữa làng để nó hô hoán lên rằng "Cháy, cháy, bớ làng nước ơi cháy".

Liệu dân làng có tin được lời kêu cứu lần này. Sau những lần bị thằng anh cho những vố lừa đau?

Bất chợt, tôi lại chợt nhớ đến lời của bài hát "Dậy mà đi":
"Ai nên khôn không khốn một lần?
Dậy mà đi, dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi..."

Phải thức dậy để mà đi trên đôi chân của mình chứ! Ai lại cứ nhắm mắt, nhắm mũi, nửa tỉnh, nửa mê, cho dù có thằng nắm tay dẫn đường mà đi bao giờ? chỉ có nước sụp hầm xuống gặp Diêm Vương chứ ở đó mà lên Thiên đàng????.

Đã một lần khốn đốn vì tin lời anh Ba Duẩn, vào ngày 13/09/1985 (3) là quá đủ sau hai lần cũng đã khốn, trong hai đợt đổi tiền trước đó.

Ông bà nói chớ có sai: "Qúa tam ba bận"

Ai lại đâm đầu để dại chợ lần thứ tư nhỉ?

Sài Gòn 23/04/2013
Oanh Yến Thị Phạm

-----------------------------------------------------------------------
1-Chương trình 12/12 của VNCH. Chương trình Tiểu học từ lớp một cho đến lớp năm. Trung học đệ nhất cấp từ Đệ Thất (lớp 6) cho đến Đệ Tứ (lớp 9). Đệ nhị cấp từ Đệ Tam (lớp 10) cho đến Đệ Nhất (lớp 12, thi Tú Tài toàn phần (Tú Tài II) ), Đệ Nhị (lớp 11) thi Tú tài I.
2-Dậy mà đi, Tác giả (cố?) nhạc sỹ Nguyễn Xuân Tân.
3-Tối ngày 13/09/1985 TBT Lê Duẩn lên truyền hình, chiếm thời lượng phát hình của chương trình Những bông hoa nhỏ, để thay mặt Đảng Chính phủ cam kết không có đổi tiền. Và sáng 14/09/1985, có đổi tiền thiệt!!!???. Cả nước đi ăn mày sau cú đổi tiền này.

Tony Judt - Xa cộng sản, gần con người: Đi dây ở Đông Âu (1)



Tony Judt
Phan Trinh dịch

Bài liên quan: Xa cộng sản, gần con người: Bể dâu ở Tây Âu

Giới thiệu của người dịch: 
Như Tony Judt trình bày trong phần trước, có thể nói vui rằng: so với đồng sự ở phía Đông, trí thức Tây Âu sướng thật, họ tự do, muốn theo cộng sản thì theo, muốn bỏ thì bỏ, muốn thậm thụt thì thậm thụt, chẳng chết anh Tây nào.
Ngược lại, ở Đông Âu và các nước tương tự, theo cộng sản cũng chết – chết lâm sàng, vì bám theo một chủ nghĩa sai lầm tất yếu vùi đất nước xuống dưới hầm tai vạ và cuối cùng vứt cả đảng vào hố rác lịch sử – nhưng không theo cũng chết, vì chế độ nắm trong tay cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, lẫn quân đội, công an, báo chí, luôn tự cho mình đúng và cưỡng bức mọi người tuân phục. Ai chống đối sẽ bị đẩy vào chỗ chết, chết ngay hay chết dần dần, trong tù, trong nhà thương điên, trong đồn công an, hay trên ruộng đồng, trên rừng, ngoài biển…
Trên đe dưới búa như thế nhưng những con người khát khao sự thật và có trách nhiệm với đồng loại vẫn cứ như mầm cây đội đất ngoi lên, vẫn cứ như nước len lách mọi kẽ hở để xuyên qua núi đá. Họ đi dây giữa hai bờ vực, dù có thể rớt bỏ mạng bất cứ lúc nào. Sợi dây họ bước lên trên cũng không thẳng một đường, mà cong cong, ngoài vòng chính trị.
Họ không đấu tranh, họ bảo vệ: bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền công nhân, bảo vệ dân oan bị ngược đãi, bảo vệ hòa bình… đôi khi nghe như bảo thủ. Hiến chương 77 ở Tiệp Khắc, KOR ở Ba Lan và những kiến nghị, tuyên ngôn, hành vi phi chính trị khác ra đời trong hoàn cảnh này. Họ làm những việc mình có thể làm, thay vì những việc mình muốn làm, hoặc cần phải làm, như người ở “đàng ngoài” thường cổ vũ.
Tên họ cũng khó gọi. Không ai thích được gọi là “phản kháng”, vì nghe chẳng khác gì lời mời “Tù ơi, mở cửa ra!” Người ngoài nhắc đến họ như những nhà bất đồng, nhà dân chủ, người phê phán, nhà phản biện, hay công dân tự do,… nhưng chế độ chỉ một mực xem họ là tội phạm, hoặc tội phạm sẽ thành.
So cả hai, có thể thấy trí thức sống trong lòng chế độ cộng sản và trí thức ở ngoài tuy có nhiều điểm tương đồng, nhưng không hẳn đã có cùng mẫu số. Trong bối cảnh Việt Nam, khoảng cách trong và ngoài không phải không có, dù giữa thời internet. Hy vọng rằng sự thấu hiểu sẽ xóa tan những ngộ nhận chủ quan của cả trong lẫn ngoài, bằng không thì người đang đi dây trong lòng chế độ, và cả người đang cố đi dây nối liền trong và ngoài nữa, sẽ rất dễ lãnh đạn từ cả hai phía.



Chính trị qua ngả “phi chính trị”

Năm 1975, ông Zdeněk Mlynář [i], một người cộng sản Tiệp Khắc phe cải cách, đã viết “Thư ngỏ, gửi bè bạn cộng sản và chủ nghĩa xã hội ở Châu Âu”, kêu gọi họ lên tiếng chống đàn áp trí thức tại Tiệp Khắc. Việc làm nghịch lý này cho thấy rằng ảo tưởng về khả năng cộng sản tự sửa đổi quả là rất khó loại bỏ. Tuy nhiên, vào lúc đó, những người như Mlynář chỉ là thiểu số, niềm tin của ông vào chủ nghĩa xã hội và vào những cảm tình viên tại phương Tây đã làm kinh ngạc cả những trí thức phê phán chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu.

Những trí thức này, lúc đó chưa được gọi là những “nhà phản kháng” (từ ngữ mà bản thân người được mô tả không hề thích), hầu hết đều tránh giáp mặt chế độ, tránh xa cả thứ ngôn ngữ “xã hội chủ nghĩa” chế độ quen dùng. Sau những gì xảy ra năm 1968 [Liên Xô xâm lăng Tiệp Khắc, đè bẹp cải cách và đàn áp kéo dài], thì thứ ngôn ngữ kia, với những từ ngữ rôm rả như “hòa bình”, “công bằng”, “hữu nghị “, vốn đã xơ cứng, nghe lại càng giả dối hơn, nhất là với những người hoạt động tích cực trong thập niên 1960. Hầu hết trong số họ là sinh viên, học giả, nhà báo, kịch tác gia, nhà văn… nạn nhân chính trong những vụ đàn áp tại Tiệp Khắc, vào khi mà đảng, dưới quyền Gustáv Husák (ngài “chủ tịch hay quên”), tính toán chính xác rằng: hy vọng tốt nhất để lập lại trật tự là dùng những cải thiện vật chất để trấn an dân chúng, trong lúc vẫn phải tích cực trấn áp tiếng nói phản kháng và cả những ký ức về quá khứ.

Bị đẩy lui vào bóng tối, sống chui – cuộc sống chui đúng nghĩa trong trường hợp Tiệp Khắc, nơi rất nhiều giáo sư đại học và nhà văn phải làm nghề đốt lò, đun hơi – người bất đồng chính kiến rất khó dự phần vào những tranh luận chính trị với kẻ đàn áp mình. Thay vào đó, sau khi thoát vòng kim cô chữ nghĩa cộng sản và những tranh cãi loay hoay để cải thiện chế độ trong những thập niên trước, họ đã biến yếu thành mạnh và tập trung cổ xúy những đề tài phi chính trị. Trong những chủ đề này, nhờ vào Thỏa ước Helsinki, “quyền con người” trở thành chủ đề dễ khai thác nhất.

Luật ông đập lưng ông

Mọi bản hiến pháp trong các nước khối Xô-viết đều long trọng nhắc đến quyền công dân, bổn phận công dân; vì vậy, những quyền bổ sung được Hội nghị Helsinski thông qua đã trang bị cho những nhà bất đồng tại đây một lối đi thông thoáng có tính chiến lược. Nói theo sử gia Tiệp Khắc Petr Pithart, thì mục tiêu của những nhà bất đồng không phải là đòi thêm một vài quyền hạn mình chưa có – đòi như vậy chẳng khác gì mở đường cho chính quyền gia tăng đàn áp – nhưng là yêu cầu thực hiện những quyền hạn đã được công nhận và long trọng ghi trong luật pháp. Điều này tạo cho những người bất đồng một hình ảnh “đối lập” ôn hoà, thậm chí bảo thủ nữa, trong khi đẩy đảng cầm quyền về phía bị động.

Xem trọng từng chữ của luật pháp “xã hội chủ nghĩa” không chỉ là một thủ thuật hay chiêu thức khiến nhà cầm quyền cộng sản lúng túng, mà còn có ý nghĩa khác. Trong những xã hội khép kín, nơi mọi thứ đều được xem là chính trị – còn bản thân chính trị lại bị ngăn cấm – thì “quyền con người” mở ra một lối thoát, một khe hở xuyên qua bức màn bi quan đen tối bao phủ Đông Âu suốt “thập niên câm lặng 1970”, một dấu chấm hết cho nạn độc chiếm ngôn-ngữ-như-quyền-lực của chế độ. Hơn nữa, quyền cá nhân được ghi trong hiến pháp, về bản chất, là bằng chứng chính thức cho sự tồn tại của con người, và con người có những quyền hạn mà người khác và cả cộng đồng phải tôn trọng. Những quyền hiến định này xác lập một không gian tách bạch giữa một bên là những cá nhân tay trắng và bên kia là một nhà nước toàn năng.

Xã hội dân sự

Phong trào đấu tranh cho nhân quyền, như nhận định của Miklós Haraszti, một lý thuyết gia trẻ Hungary, xác nhận rằng điều cần thiết không phải là sửa đổi để có một chủ nghĩa cộng sản tốt đẹp hơn, mà là sự thiết lập, hay tái lập, một xã hội dân sự (“tư sản”). Cái nghịch lý trong việc bẻ ngược lộ trình của Marx, và thay thế xã hội xã hội chủ nghĩa bằng xã hội tư sản này, cũng là suy nghĩ của các trí thức tại Praha và Budapest. Như đồng nghiệp người Hungary của Haraszti, ông Mihály Vajda, giải thích thì: sự siêu việt của xã hội tư sản chắc chắn đáng mơ ước hơn “nền chuyên chính công dân, một kinh nghiệm lịch sử không thể chịu đựng được” ở nước họ.

Ý nghĩa lớn của nỗ lực tái lập xã hội dân sự – một ý niệm vẫn còn mơ hồ với mục tiêu không chắc chắn, nhưng được giới trí thức đối lập Đông Âu tán thành rộng rãi từ giữa thập niên 1970 trở về sau – nằm ở chỗ nó gián tiếp công nhận rằng sau những gì xảy ra vào năm 1968 thì khả năng tự cải tổ của đảng và nhà nước là một con số không to tướng. Ít ai thực sự chờ đợi lãnh tụ Husák ở Praha, hay Honecker tại Bá Linh, (quan chức Xô-viết thì càng không), sẽ thừa nhận tính chính đáng của những vận động cho quyền con người hoặc nghiêm chỉnh tôn trọng hiến pháp của chính họ. Nói về quyền con người trên lý thuyết là để minh họa rằng nó vắng mặt trên thực tế, là để nhắc mọi người trong và ngoài nước biết rằng những xã hội này mất tự do đến đâu. Thay vì tấn công trực diện vào nhà cầm quyền cộng sản, những người đối lập mới đã cố tình tâng bóng bổng qua đầu họ.

Václav Havel

Với những người bất đồng như Haraszti, hoặc Adam Michnik ở Ba Lan – tác giả luận văn “Chủ nghĩa tiến hóa mới”, một luận văn vạch ra hầu hết đường lối chiến lược của phe đối lập Ba Lan những năm sau đó – thì thời điểm giữa thập niên 1970 chính là bước ngoặt, tách rời hiện tại của họ với thời tuổi trẻ hăm hở đi theo chủ nghĩa Marx với những hứa hẹn kinh tế và xã hội các loại của nó. Với những người chưa hề bị lôi kéo vào các cuộc tranh cãi về chủ nghĩa Marx, như Václav Havel, thì sự chuyển đổi diễn ra dễ hơn nhiều. Là con của một doanh nhân giàu có tại Praha, gia đình bị nhà cầm quyền cộng sản tước đoạt tài sản năm 1948, Havel không có bất cứ sự phấn khích cách mạng nào như những bạn trẻ dấn thân cùng thời, ông cũng không giữ vai trò tích cực gì trong những cải cách dẫn đến biến cố 1968. Nhìn chung, quan hệ giữa Havel và chủ nghĩa cộng sản luôn nằm ở thế đối đầu, phần lớn là vì gốc gác tư sản của mình, nhưng chưa bao giờ đó là một quan hệ có màu sắc chính trị.

Nhưng rồi trải qua thập niên 1970 và 1980, sau khi bị quấy nhiễu, bắt bớ, vào tù vì các hoạt động của mình, Havel cũng đã trở thành một nhân vật chính trị tột bậc. Nhưng “thông điệp” của ông vẫn dứt khoát không có màu chính trị. Ông kiên định lập trường rằng không cần phải tranh cãi với nhà cầm quyền làm gì. Cũng chẳng cần, về cơ bản, nói hết sự thật, mặc dù biết rằng trong một chế độ được dựng trên dối trá thì điều này rất quan trọng. Điều duy nhất có ý nghĩa trong hoàn cảnh đó là “sống trong sự thật”, chỉ vậy thôi, còn mọi thứ khác đều là thỏa hiệp – ông cũng cho rằng: “Ngay việc thành lập một lực lượng chính trị cũng khiến người ta phải chơi trò chơi quyền lực, thay vì giương cao sự thật.”

Như Havel giải thích trong luận văn viết năm 1984 về mục tiêu và chiến thuật của phe đối lập còn non yếu tại Tiệp Khắc, thì mục tiêu chính là hành động độc lập, bất kể chế độ tìm cách áp đặt mình ra sao, là cứ sống như là mình thực sự tự do. Đây rõ ràng không phải là bài thuốc cho đại đa số quần chúng, và Havel hiểu điều này, ông viết: “Đây có lẽ là những phương thức không thực tế trong hoàn cảnh hôm nay, và rất khó áp dụng trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, tôi không biết cách nào khác tốt hơn.”

Lập trường của Havel không phải không có tiền lệ. Trước đó không lâu, Ludvík Vaculík, phát biểu tại Đại hội Lần thứ Tư của Công đoàn Nhà văn Tiệp Khắc năm 1967, đã đề nghị với đồng nghiệp của ông một chiến lược sống “như là” tương tự đề nghị của Havel. Ông nói: “Chúng ta nên ra vẻ như là những công dân…, diễn thuyết như là những người lớn và độc lập trước pháp luật.” Trong không khí lạc quan hơn của thập niên 1960, Vaculík và những người khác vẫn hy vọng nhà cầm quyền sẽ nhượng bộ hay đáp ứng nguyện vọng của họ cách nào đó. Nhưng khi Michnik hay Havel cổ vũ cho chủ trương tương tự thì hoàn cảnh đã khác. Không còn có thể khuyên nhủ nhà cầm quyền nên điều hành đất nước ra sao, mà chỉ có thể đề xuất cho người dân cả nước – bằng cách làm gương – cách sống sao cho hợp lẽ.

Trí thức và quần chúng

Trong thập niên 1970, nói rằng giới trí thức Đông Âu có thể “đề xuất cho người dân cả nước” cách sống đúng nghĩa thực ra nghe cũng hơi quá – hầu hết giới trí thức không ở vị trí có thể đề xuất điều gì có ý nghĩa ngay cho trí thức giống mình, nói gì đến đề xuất cho quần chúng. Giới trí thức, nhất là tại Hungary và Ba Lan, hầu hết không biết về điều kiện sinh sống và lập trường của công nhân tại các trung tâm công nghiệp, càng không biết gì về hoàn cảnh của nông dân. Thực vậy, như hai nhà phản kháng Hungary, Iván Szelényi và George Konrád, từng nói rằng hệ thống chính trị cộng sản đặt “trí thức trên con đường dẫn đến quyền lực giai cấp”, thì cũng có thể nói rằng chính nhờ cộng sản mà khoảng cách có tính truyền thống Trung Âu giữa “giới trí thức” và “quần chúng” lại xuất hiện lần nữa, nặng nề hơn (trước đây, khoảng cách này tại những xã hội quý tộc như Hungary và Ba Lan rõ nét hơn là tại Tiệp Khắc bình dân, nhưng từ 1948, khi cộng sản lên nắm quyền, thì mâu thuẫn giai cấp tại Tiệp Khắc cũng được đào sâu, dù gượng gạo).

Ba Lan: KOR

Xã hội đầu tiên dẹp bỏ được hàng rào chia cắt trí thức và quần chúng vừa kể chính là Ba Lan. Năm 1976, sau một loạt các cuộc biểu tình phản đối giá thực phẩm leo thang đến chóng mặt, chế độ đã phản ứng mạnh, đánh đập, bắt bớ công nhân tại các thị trấn công nghiệp Ursu và Radom. Trong một phản ứng có thể coi là giúp chấm dứt sự thờ ơ của cả công nhân lẫn trí trức về các cuộc biểu tình của nhau, Jacek Kuroń và một số đồng nghiệp đã công bố thành lập Ủy ban Bảo vệ Công nhân (KOR) vào tháng 9, 1976. Mục tiêu của KOR, cũng như của Ủy ban Bảo vệ Nhân quyền và Dân quyền (ROPCiO) thành lập vào tháng 10 cùng năm, là công bố cho mọi người biết về những vụ xâm phạm quyền tự do dân sự của công nhân, hỗ trợ họ về pháp lý, và thành lập một mặt trận chung. Ba năm sau, tháng 12, 1979, những trí thức lãnh đạo KOR – gồm một số người Do Thái, người Công giáo, người cộng sản cũ, và những thành phần khác – đã viết và phổ biến một văn bản có tên là “Hiến chương Quyền Công nhân”

Tiệp Khắc: Hiến chương 77

Sự hình thành – hoặc đúng hơn, sự khẳng định – một không gian dân sự độc lập tại Ba Lan đã ra đời từ một xung đột có tính xã hội. Trong khi đó, bên kia biên giới, tại Tiệp Khắc, với bối cảnh chính trị ngột ngạt hơn, không gian dân sự này đã hình thành từ một cơ hội có tính pháp lý. Vào tháng 1, 1977, một nhóm công dân Tiệp Khắc đã ký vào văn bản (ban đầu được phổ biến như tuyên ngôn đăng trên một tờ báo Tây Đức) phê phán chính quyền không tôn trọng các điều khoản về nhân quyền được ghi trong Hiến pháp Tiệp Khắc, cũng như trong Đạo luật Cuối của Hiệp định Helsinki 1975, và các hiệp ước của Liên hiệp Quốc về quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, là những hiệp ước mà Tiệp Khắc đã ký tên thỏa thuận – riêng Sắc lệnh Helsinki 120 thì còn được chính thức đưa vào Luật pháp Tiệp Khắc nữa.[ii]

Những người ký tên vào văn bản này (sau được biết đến như “Hiến chương 77”) mô tả chính họ như “một tập hợp không ràng buộc, không chính thức, mở rộng, quy tụ những con người… kết nối với nhau bằng khát khao dấn thân, với tư cách cá nhân và như một tập thể, cho sự tôn trọng quyền con người và quyền dân sự tại đất nước chúng ta và trên thế giới.” Họ thận trọng nhấn mạnh rằng Hiến chương 77 không phải là một tổ chức, không có quy chế gì, không có cơ cấu tổ chức gì thường trực, và “không hình thành nền tảng cho bất cứ hoạt động chính trị đối lập nào”, một quy định nhằm giữ cho hoạt động của họ luôn ở trong vòng pháp luật tại Tiệp Khắc.

Hiến chương 77 là thành quả của một nhóm rất nhỏ những cá nhân dũng cảm không đại diện cho ai ngoại trừ chính họ: 243 người ký tên vào văn bản gốc, và trong một thập niên sau đó thu hút được chữ ký của 1.621 người khác (trên dân số 15 triệu). Phát ngôn viên đầu tiên của Hiến chương 77 là Havel, Jiří Hájek (ngoại trưởng Tiệp Khắc dưới thời Dubček) và cụ Jan Patočka, triết gia hàng đầu của Tiệp Khắc, tất cả họ đều là những cá nhân riêng biệt, không có địa vị hay thế lực xã hội nào. Nhưng điều này không ngăn cản nhà cầm quyền đáp trả dữ dội, họ chụp mũ Hiến chương 77 là “một văn bản chống nhà nước, chống chủ nghĩa xã hội, xách động mị dân, tuyên truyền bịp bợm”. Mỗi người một kiểu, những người ký tên đã bị bêu xấu, bằng ngôn ngữ y như trong các phiên đấu tố thập niên 1950, là “phản bội và làm loạn”, là “tôi tớ trung thành và tay sai đế quốc” và là “bọn phiêu lưu quốc tế”. Những người ký tên bị trả đũa và đe dọa, hình thức trừng phạt gồm cả đuổi việc, không cho con cái học hành, treo bằng lái, bị trục xuất ra nước ngoài và mất quyền công dân, bị quản thúc, xét xử, bỏ tù.

VONS: bảo vệ người bị ngược đãi

Phản ứng gay gắt với những người ký tên vào Hiến chương 77, và đòn thù của chính quyền nhằm đàn áp một thế hệ những nhạc sĩ trẻ (nhất là nhóm “Người Nhựa Vũ trụ”), đã thúc đẩy việc thành lập nhóm hỗ trợ họ vào tháng 4, 1978, có thêm “Ủy ban Bảo vệ Người bị ngược đãi” (VONS), với mục tiêu tương tự như mục tiêu của KOR. Nhà cầm quyền tại Praha phản ứng bằng cách bắt sáu nhân vật lãnh đạo của VONS, trong đó có Havel, và vào năm sau đó, xử họ tội phá hoại. Tháng 10, 1979, họ bị kết án tù, có án lên tới năm năm.

Sau những biến động vào năm 1968 thì tất cả các chế độ cộng sản tại Đông Âu (ngoại trừ Rumani dưới quyền Ceaușescu) đều áp dụng đường lối mà Kadár đã dùng ở Hungary. Họ không còn giả vờ tìm kiếm sự trung thành thật lòng của kẻ bị trị nữa, mà chỉ đòi quần chúng tỏ vẻ tuân phục bằng những dấu hiệu bên ngoài là đủ. Một trong những mục tiêu của Hiến chương 77 – tương tự mục tiêu của VONS hoặc KOR – là giúp đồng bào vượt qua sự thờ ơ với việc chung của đất nước. Đặc biệt, Havel còn nhấn mạnh đến việc đừng để nhà cầm quyền thỏa mãn khi thấy nhân dân hạ mình tuân phục một cách vô tình chỉ vì không muốn bị nhòm ngó. Còn nếu cứ tuân phục thì chế độ có thể xem như đã đặt được “một trạm gác trong đầu mỗi công dân” – một đề tài được mô tả trong tiểu luận kinh điển “Power of the Powerless”[iii] với ví dụ về anh hàng rau treo trong cửa hàng mình khẩu hiệu “Vô sản thế giới, đoàn kết lại!”

Bảo vệ môi trường

Trong nỗ lực vượt qua sự thờ ơ và sợ hãi của quần chúng, có một số đề tài do trí thức dấn thân đưa ra dễ được quần chúng tán đồng hơn những đề tài khác. Thảm họa môi trường chẳng hạn. Tại Slovakia, theo con số chính thức được chế độ đưa ra, có 45% trong 5.600 km sông ngòi tại Slovakia bị ô nhiễm “ở mức nguy hiểm” vào năm 1982. 4/5 nước giếng ở phía đông nước cộng hòa này không thể dùng cho người uống được. Nguyên nhân chính là do dùng quá nhiều phân bón tại các nông trại tập thể trong vùng, làm đất bị nhiễm độc và mùa màng thất bát, như đã từng xảy ra tại các vùng đất đen ở Liên Xô.

Vào đầu thập niên 1980, khu vực phía bắc Bohemia có mức ô nhiễm không khí tệ hại nhất Châu Âu, vì dùng than nâu (rẻ tiền) trong sản xuất công nghiệp và điện. Trong 73,5 tỉ kwh điện sản xuất từ vùng này, có đến 64 tỉ kwh được sản xuất từ các lò đốt than nâu, vốn thải ra lượng lưu huỳnh cực lớn. Hậu quả là đến năm 1983, có đến 35% rừng trên toàn Tiệp Khắc đã chết hoặc đang chết, và 1/3 tất cả các nguồn nước tại Tiệp Khắc đều bị ô nhiễm nặng đến mức không thể dùng, kể cả trong công nghiệp. Tại ngay thủ đô Praha, chính quyền bắt buộc phải thành lập một dịch vụ đặc biệt tại bệnh viện để điều trị các chứng bệnh đường hô hấp trẻ em. Nhà văn Ivan Klíma, trong truyện ngắn “Âm mưu ngày Giáng sinh”, mô tả không khí tại thủ đô Tiệp Khắc bằng dòng này: “Một làn sương đục, lạnh, có mùi khói, mùi lưu huỳnh và mùi khó ở.”

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thì nhà nước chính là kẻ gây ô nhiễm, nhưng xã hội lại là người chịu khổ. Vì vậy, ô nhiễm là đề tài mọi người đều quan tâm. Nó cũng ngầm mang tính chính trị: vì sao quá khó để bảo vệ môi trường? Câu trả lời rất đơn giản, vì chẳng có ai quan tâm áp dụng những biện pháp phòng ngừa ô nhiễm ngay từ đầu. Chỉ có những biện pháp hiệu quả và đồng bộ được nhà nước chấp thuận mới có thể bắt buộc các cấp cải thiện tình hình, nhưng khốn nỗi, những biện pháp này lại không thể đến từ một nhà cầm quyền vốn khuyến khích sự phí phạm ngay từ đầu. Bất cứ quản đốc nhà máy hay nông trại nào đủ thận trọng, dám chấp nhận giảm “chỉ tiêu”, để tự đưa ra những sáng kiến ngăn ngừa ô nhiễm đều sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng. Hệ thống kinh tế cộng sản tự bản chất sẽ tàn phá môi trường nơi nó vận hành, và điều này ngày càng có nhiều người hiểu ra.[iv]

Tự kiểm duyệt

Trong khi đó, cũng dễ hiểu thôi, người cầm bút và các học giả lại quan tâm nhiều hơn đến vấn đề kiểm duyệt. Trở ngại trong việc được phép xuất bản, hoặc biểu diễn, khác nhau tùy từng nước cộng sản. Ở Tiệp Khắc năm 1969, nhà cầm quyền đã đàn áp không chút nao núng: không chỉ hàng ngàn người cầm bút và nghệ sĩ nam nữ bị cấm xuất bản hay biểu diễn trước công chúng, mà một loạt rất nhiều những đề tài, nhân vật hay sự kiện cũng bị cấm nhắc tới. Ngược lại, ở Ba Lan, Giáo hội Công giáo với những thiết chế và báo chí của mình, đã tạo ra được một không gian an-toàn-một-nửa, trong đó một số tự do trong sinh hoạt văn học và trí thức được thực thi, dù mọi người vẫn phải thận trọng.

Nhưng điều đáng nói ở đây, tương tự như ở Hungary, đó là kiểm duyệt lại thường là tự kiểm duyệt. Để có thể tiếp cận với khán giả, các trí thức, nghệ sĩ, học giả luôn bị cám dỗ phải tự điều chỉnh tác phẩm của mình, phải cắt xén hoặc rào đón lập luận để tránh những phản bác chính thức có thể có. Cái lợi về vật chất và nghề nghiệp mà hành động tự kiểm duyệt mang lại không hề nhỏ, nhất là trong các xã hội nơi văn hóa và nghệ thuật được xem như những công cụ quan trọng; bù lại, cái giá phẩm hạnh phải trả vì mất tự trọng cũng có thể rất lớn. Y như nhà văn Heine đã viết 150 năm trước, bằng lời lẽ khiến nhiều trí thức Đông Âu có thể hiểu ngay, rằng: “những đao phủ tư tưởng kia đã biến chúng ta thành lũ tội phạm. Người cầm bút … phải liên tục phạm tội giết con: hắn giết chết đứa con tinh thần của mình, vì sợ đến khiếp vía phán đoán của kẻ kiểm duyệt.”

Im lặng và in chui

Tự kiểm duyệt là hình thức đồng lõa một phần. Một hình thức đồng lõa khác là im lặng – cuộc đào tẩu nội tâm của “Ketman” trong tác phẩm Captive Mind [trí tuệ ngục tù] của Czesław Miłosz. Nhưng, những người đã mở miệng, đã phổ biến chui tác phẩm tự đánh máy và sao chép bằng giấy than của mình, lại cũng đối diện với một thực tại không sáng sủa gì, đó là họ trở nên gần như vô hình, vì ý tưởng và tác phẩm nghệ thuật của họ bị giới hạn trong một nhóm khán giả ít ỏi, khép kín – họ trải qua tình trạng mà một trí thức Tiệp Khắc đã cay đắng gọi là tình trạng tự sướng nhờ phát hành các tác phẩm chui samizdat cho cùng một số khoảng 2000 trí thức, bản thân số trí thức này cũng viết cho cùng đối tượng đọc.

Dũng cảm không tạo ra chất lượng

Thêm vào đó, lòng dũng cảm cũng không bảo chứng cho chất lượng. Sự bất phục tùng, đối kháng, và mối nguy hiểm thường có của việc viết chui, mang lại cho tác phẩm (nhất là với người ái mộ ở phương Tây) một hơi hướng lãng mạn, và đôi khi, những đề cao quá đáng. Những ý tưởng độc đáo và tiến bộ dĩ nhiên có thể bừng nở và lớn mạnh trên đống phân hổ lốn đang phân hủy của khối Xô-viết – trong đó, những tác phẩm của Havel và Michnick là xuất sắc nhất, nhưng không nhất thiết là đại diện duy nhất cho những Fleurs du Mal [cánh hoa đớn đau] mọc lên từ chủ nghĩa cộng sản.[v] Nhưng đối với nhiều người khác, việc không được xuất bản chính thức không có nghĩa là tác phẩm của họ có chất lượng. Không có “nàng thơ kiểm duyệt” nào ở đây (từ ngữ của George Steiner). Chế độ không thích anh không có nghĩa là anh có tài.

Vì vậy, danh tiếng của cả một số những trí thức nổi tiếng nhất cũng nhăn nhúm và teo tóp lại khi tác phẩm của họ được bày ra giữa thị trường tư tưởng tự do. George Konrád tại Hungary chẳng hạn, những luận văn khá dễ dãi có tên “Phản chính trị” được khen ngợi rộng rãi vào thập niên 1970, nhưng ông là một trong nhiều người gần như không còn được ai nhắc tới sau năm 1989. Những người khác như nhà văn nữ Đông Đức Christa Wolf hiểu rất rõ rằng chính những gian truân của việc cầm bút dưới chế độ cộng sản đã cho bà những đề tài mãnh liệt, và một nguồn năng lượng nhất định nào đó (và một vị thế xã hội nữa). Đó cũng là một trong những lý do vì sao nhiều trí thức trong các xã hội cộng sản chấp nhận từ chối cơ hội di dân ra nước ngoài hoặc sống lưu vong – họ tin rằng thà là bị ngược đãi trong nước mà có ảnh hưởng, còn hơn tự do mà chân không chạm đất, đầu không đụng trời, chẳng dính líu vào đâu.

Milan Kundera 

Nỗi sợ không dính líu vào đâu nằm phía sau một trăn trở khác rất phổ biến trong những năm này, đó là thiết tha mong cho Đông Âu được “trở về” với Châu Âu càng sớm càng tốt. Giống như mối quan tâm về kiểm duyệt, trăn trở này cũng chỉ giới hạn trong hàng ngũ trí thức – đúng ra là với phần lớn người cầm bút tại các tỉnh phía tây Đế quốc Habsburg cũ [tức Trung Âu], nơi lạc hậu và kém phát triển được áp đặt theo lệnh của Liên Xô đã gây ra nhiều tai ương đau đớn. Người phát ngôn nổi tiếng nhất, đại diện cho trăn trở này, là nhà tiểu thuyết, nhà biên kịch Tiệp Khắc Milan Kundera, viết và sống lưu vong tại Paris. Đối với ông, bi kịch của Trung Âu (một từ được tái sinh và tái sử dụng để minh họa cho ý kiến của Kundera) nằm ở chỗ nó bị thôn tính bởi một nền độc tài ngoại lai, đến từ Châu Á [ám chỉ đế quốc Nga Xô-viết] [vi]

Bản thân Kundera không được trọng vọng nhiều ở quê hương mình, nơi mà cả chọn lựa lưu vong lẫn sự thành công của ông bị các đồng nghiệp xem nhẹ, họ là những người đã tự nguyện từ bỏ cả lưu vong lẫn cơ hội thành công để ở lại trong nước. Nhưng quan điểm chung của ông về Trung Âu cũng được chia sẻ rộng rãi, nhất là với độc giả phương Tây, vốn bị chỉ trích là đã sao nhãng, bỏ mặc một phương Tây “khác” ở sát nách phía Đông của họ – đề tài này cũng được Miłosz phác họa trong thập niên 1950 khi ông nói: “một chương trong cuốn sách tưởng tượng về thơ Ba Lan hậu chiến nên được dành để nói về cái nghịch lý, và thậm chí trò hề, trong cách đối xử của trí thức Tây Âu, nhất là trí thức Pháp, đối với Đông Âu.”

Trung Âu: nghiêng Tây

Với Kundera, người vốn hoài nghi những sáng kiến công dân như Hiến chương 77, thì hiện trạng của Tiệp Khắc thời cộng sản chỉ là cái đuôi nối dài của một vấn đề cũ hơn, đó là vấn đề bản chất và số phận của một quốc gia chẳng may nằm ở trung tâm Châu Âu, nơi các nước nhỏ, các dân tộc ít người luôn có rủi ro bị xóa sổ. Vì vậy, Kundera cho rằng mục tiêu của trí thức đấu tranh tại Tiệp Khắc và trí thức lưu vong là làm sao cho thế giới biết đến nỗi trăn trở này, thay vì mất thời giờ tìm cách thay đổi đế quốc Mạc-Tư-Khoa mang đậm màu độc tài phương Đông Trung cổ. Hơn nữa, theo Kundera, Trung Âu là “định mệnh của phương Tây ở dạng cô đặc”. Havel cũng đồng ý với nhận định này khi cho rằng: Chủ nghĩa cộng sản là tấm gương đen tối mà lịch sử đưa lên cho phương Tây soi thấy mặt mình.

Những người Ba Lan như Michnick không dùng cụm từ “Trung Âu”, hoặc nói nhiều về nhu cầu “về với Châu Âu”, một phần là vì, không như người Tiệp, trí thức Ba Lan có thể theo đuổi các mục tiêu gần hơn, dễ đạt hơn. Điều này không có nghĩa người Ba Lan và các dân tộc khác không mơ đến ngày sẽ được chia sẻ các lợi ích từ một Cộng đồng Châu Âu mới, hoặc không mơ đến ngày có thể thay thế câu chuyện huyền thoại thảm hại có tên chủ nghĩa xã hội bằng một câu chuyện thần thoại “Châu Âu” dễ chịu hơn nhiều. Họ không nói, vì họ có những ưu tiên cấp bách hơn, như ta sẽ thấy sau đây.

(Còn 1 kì)

Nguồn: Post War, Tony Judt, NXB Penguine Books, 2006, trang 566-577
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra

Chú thích (Các chú thích của người dịch sẽ viết tắt là ND. Các chú thích của tác giả sẽ viết tắt là TG)
[i] Zdeněk Mlynář là một trong những người cùng Václav Havel khởi xướng Hiến chương 77. Mlynář một thời là bạn học của Gorbachev. Ông là chồng của bà Klímová, người đặt tên “Cách mạng Nhung”. (ND)
[ii] Điều đáng chú ý là quyết định của chính quyền Tiệp Khắc thông qua Hiệp ước về Nhân quyền của Liên hiệp Quốc năm 1976 – và là quốc gia thứ 35 thông qua văn bản này – đã làm Hiệp ước trở nên có hiệu lực trong khuôn khổ luật pháp quốc tế. (TG)
[iii] Tên tiểu luận “Power of the Powerless” được dịch bằng nhiều cách: Quyền lực của không quyền lực (Khải Minh, bản dịch năm 2006), Sức mạnh của thảo dân (Phạm Nguyên Trường, bản dịch năm 2012), cũng có thể dịch là “quyền lực của người không quyền lực” hay “quyền lực của người bị trị”, “quyền lực dân đen”… (ND)
[iv] Nhưng trong nội bộ những người chủ trương bảo vệ môi trường cũng có người nghĩ khác. Milan Šimečka, một nhà văn Slovak, đã cảnh báo các đồng nghiệp (trong số có cả Havel) rằng đừng đánh giá thấp lợi ích của hiện đại hóa: “Tôi chủ trương rằng ngay cả ô nhiễm đi kèm với phát triển công nghiệp thì vẫn tốt hơn là tình trạng hỗn loạn và hung bạo tràn lan trong một xã hội mà người dân không thể thỏa mãn những nhu cầu căn bản của mình.” Milan Šimečka, “A World With Utopias or Without Them”, Cross-Currents, Số 3 (1984), trang 26. (TG)
[v] Yugoslavia [Nam Tư] là một ngoại lệ so với các nước khác: “Vì chưa từng có một văn hóa chính thức hình thành tại Yugoslavia (không có nghĩa là không có những quan chức nhà nước trong sinh hoạt văn hóa), nên không thể có một đối trọng tự nhiên, tức một văn hóa chui, có tính thay thế và tồn tại song song, như được yêu thích rộng rãi tại các nước xã hội chủ nghĩa khác.” Dubravka Ugrešić, The Culture of Lies (1998), trang 37. (TG)
[vi] Đế quốc Nga Xô-viết được xem là mang tính độc tài Châu Á phần lớn vì di sản còn sót lại của gần 250 năm bị Mông Cổ đô hộ, thế kỷ 13-15. Các phương pháp cai trị được nước Nga Sa hoàng lẫn nước Nga Xô-viết áp dụng rộng rãi như trung ương tập quyền, tôn giáo bám vào nhà nước, quí tộc cung đình, trí thức ngoan ngoãn, đất đai toàn là của vua, nông dân là nông nô, hộ chiếu nội địa (một hình thức hộ khẩu)… được cho là vay mượn hoặc biến thể từ thời Mông Cổ cai trị. Hơn hai thế kỷ bị đô hộ cũng làm nước Nga chậm phát triển gần 200 năm so với Châu Âu, khiến Nga không tham gia vào những biến đổi tích cực ở Châu Âu trong thời kỳ Phục hưng và Cải cách. Một hệ quả là Nga thiếu hẳn một tầng lớp trung lưu độc lập, tác nhân cần có của những thay đổi kinh tế, xã hội, chính trị… Nước Nga ngày nay vẫn còn nhiều dấu vết của chế độ cũ cũng vì di sản này. Richard Pipes (1923-), một sử gia Mỹ gốc Ba Lan, giáo sư Đại học Harvard, nghiên cứu sâu về đề tài này qua tác phẩm Russia Under the Old Regime xuất bản năm 1974, sách tham khảo của sinh viên ngành sử và chính trị ở các nước nói tiếng Anh. (ND)

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

Nguyễn Mộng Giác - Thư Gởi Đám Mây Xa



Nguyễn Mộng Giác 


Tối hôm đó, hai bà cháu lo viết thư gửi về Việt Nam. Ngoại dặn cháu:

- Hà nhớ viết thư cho rõ nghe. Chữ cháu viết xấu khó đọc lắm.

Thằng bé kinh ngạc hỏi:

- Ngoại xem vở của cháu hồi nào? Ngoại biết chữ rồi à?

- Ðâu có. Ngoại nghe má cháu bảo vậy. Ngoại từng này tuổi còn học gì nữa.

Thằng Hà thắc mắc:

- Tại sao hồi trước ngoại không đi học?

- Hồi trước chỉ có con trai đi học, con gái ở nhà lo chuyện bếp núc thêu thùa. Ngoại làm bánh cũng giỏi lắm. Cả vùng không có cô gái nào làm bánh giỏi và thêu đẹp bằng ngoại.

Bà cụ mơ màng nhớ lại thời còn trẻ. Thằng Hà hỏi:

- Ngoại buồn ngủ hở ngoại?

- Không. Ngoại nhớ hồi… nhưng thôi, lo viết thư đi.

Ðứa cháu không chịu được điều gì thiếu rõ ràng, nên thắc mắc:

- Nhớ hồi nào hở ngoại?

Ngoại mỉm cười, giọng run run vì xúc động:

- Hồi trước ngoại thật ngơ. Ông ngoại theo mai dong đến xem mắt mà ngoại có biết gì đâu. Lúc đó ngoại đang chơi ô làng. Nghe bà cố gọi vào pha nước mời khách, ngoại bọc đống hột me bằng vạt áo trước, để hở cả rún. Bưng nước lên mời khách mà tay vẫn cứ khư khư giữ túi hột me. Không ngờ do thế mà được ông ngoại khen là da dẻ trắng trẻo.

Thằng Hà cười thích thú. Nó không thể tưởng tượng ra cảnh bà ngoại ham chơi ô làng đến nỗi giơ rún cho ông ngoại ngắm. Nó cười đến chảy nước mắt. Ngoại gắt:

- Cười cái gì? Hồi nhỏ ai chẳng thế. Thôi lo viết đi.

Hà nín cười nhưng cây viết trên tay cứ run run. Nó hoãn binh bằng cách vuốt lại tờ giấy, vặn cho tim đèn dầu hỏa cao lên một chút. Nó sơ ý làm cho dầu dính lên một góc giấy viết thư. Sợ ngoại la, nó lấy tay che vết dầu bẩn lại. Hà hỏi:

- Viết gì hở ngoại?

Ngoại đằng hắng rồi nói:

- Viết dặn má mày đêm nào cũng nhớ thắp hương trên bàn thờ ông ngoại.

Thằng Hà ngớ ra, lo âu hỏi:

- Viết cách sao ngoại?

Ngoại bực:

- Thì viết dặn má nhớ thắp hương.

- Nhưng đầu tiên phải viết cái gì đã chứ. Chưa gì đã nói chuyện thắp hương, đâu có ra lá thư.

Ngoại gật gù bảo cháu:

- Ờ phải. Cháu liệu viết vài dòng cho ra lá thư. Hà học lớp sáu, biết cách viết thư rồi.

Hà không dám thú nhận bài luận viết thư của mình bị cô giáo đọc cho cả lớp cười giải lao. Thú nhận như vậy mất mặt quá. Cho nên Hà lặng lẽ viết mấy hàng mở đầu:

Thư của ngoại – và của con – gửi má.

Ngoại và con đến đảo Kuku hôm 5-12-82. Ði biển gặp sóng lớn dữ quá, má à. Con bị ói, ngoại cũng bị ói. Chắc má lo cho ngoại dữ lắm. Bữa đó con cũng sợ dữ lắm. Ngoại vừa dặn: Qua bên đó rán học giỏi và nghe lời cậu Liễn, thôi ngoại về, thì súng nổ dễ tè. Ngoại sợ con bị đạn lạc ôm cứng lấy con. Mấy chú trên ghe hối thúc dữ lắm, hai bà cháu mới leo lên được. Ra ngoài xa ngoại mới nhớ phải về, kêu mấy chú cho xuống…

Bà ngoại thấy cháu viết một mạch không thèm hỏi ý kiến mình, đâm lo, vỗ vai cháu hỏi:

- Cháu viết gì nhiều vậy?

Hà hãnh diện đáp:

- Ðầu tiên cháu kể lại hôm mình lên ghe cho nhà biết. Cho má đỡ lo chứ ngoại.

- Cháu kể được à?

- Ðược chứ ngoại. Ðể cháu đọc cho bà nghe.

Hà bắt đầu đọc. Càng đọc, nó càng thấy mình viết dữ quá dữ lắm đến thừa thãi. Còn hai chữ dễ tè học được của tụi bạn bụi đời ở Sở Thú thì Hà rất khoái nhưng má lại rất ghét. Nhưng lỡ viết rồi, làm sao đây? Ngoại gật gù khen cháu viết ngắn gọn mà đầy đủ. Phải. Chưa chi đã căn dặn thắp hương. Má thằng Hà đang lo không biết mình lạc đi đâu, chết sống thế nào sau khi bãi bị vỡ, một số bị bắt, không nói ngay cho con yên lòng, đã dặn chuyện cúng tế. Tuổi nhỏ thời nay thông minh thật. Hà hỏi:

- Con viết chuyện thắp hương được chưa ngoại?

Bà cụ hoàn toàn tin tưởng sức cháu, mau mắn đáp:

- Ðược. Cháu liệu viết sao cho má cháu nhớ. Ngoại sợ má cháu đi làm về lo đủ thứ chuyện mệt quá, quên đi.

Hà lại tự tin, nó viết:

Ngoại và con qua đây nhớ nhà dữ lắm…

Hà giật mình ngưng lại. Lại dữ lắm. Nó xóa hai chữ thừa thãi đi, suy nghĩ một lúc, rồi viết thêm hai chữ ghê lắm. Bà ngoại thấy Hà khựng lại, tưởng cháu quên, nhắc nhở:

- Cháu viết đi. Dặn má dù mệt cũng nhớ…

- Con nhớ mà ngoại.

Rồi Hà nói dối lấy oai:

- Con suy nghĩ xem nên viết thế nào cho má nhớ lâu.

Thằng bé gặm cán bút một lúc cho đúng với lời nói dối, mặt đăm chiêu. Ngoại yên lặng kính trọng phút suy tư thâm trầm của cháu. Một lúc sau, Hà viết tiếp:

Thật tức cười. Ngoại vừa kể con nghe chuyện hồi nhỏ vì ham chơi ngoại lỡ để cho ông xem rún. Ngoại có kể chuyện đó cho má nghe chưa? Ngoại cứ lo ở nhà má nấu ăn xong, mệt ngủ vùi, quên thắp hương trên bàn thờ ông ngoại. Nhớ thắp hương nha má!…

Sau khi chấm dấu than theo đúng lời dạy cô giáo dạy văn, Hà ngừng lại. Nó đắc chí hỏi:

- Con đọc lại cho ngoại nghe nha?

Ngoại lắc đầu:

- Khỏi cần. Viết nhanh kẻo đèn hết dầu. Con nhắc má mỗi lần thắp hương nhớ khấn ông ngoại rằng bà ngoại đã qua đây rồi, ông ngoại không nên lo quá. Khấn thêm rằng hồn ông có thiêng thì xin theo ngoại cho ngoại dễ hương khói. Bên đó xa quá, ngoại muốn nói gì với ông cũng không nói tới được.

Thằng Hà thấy ý của bà hay thật. Ừ nhỉ. Sao ông không theo bà để má nó nếu có quên thắp hương cũng không đến nỗi mang lỗi nặng. Mỗi lần Hà ham ra bờ biển câu cá lượm vỏ ốc, bà ngoại có người để tâm sự, khỏi phải thấp thỏm đi vô đi ra. Nó hỏi:

- Ông qua đây được hở ngoại? Ði cách nào cho đỡ nguy hiểm, chứ như chuyến hai bà cháu mình, ghê quá.

Ngoại trầm ngâm nghĩ đến lúc có thể thắp hương tâm sự thỏa thuê với vong hồn ông, không nghe được câu hỏi của Hà. Thằng bé hiểu được tâm trạng của ngoại.

Nó cúi xuống viết:

Ngoại thường cầu khẩn nếu ông có thiêng xin qua đây cùng ngoại. Tội lắm nha má. Ngoại lên chùa cầu Phật, chưa yên lòng, ngoại còn bảo con qua bên nhà thờ cầu thêm Chúa. Con được ăn bánh thánh rồi. Bánh họ cho ít đường quá má à. Lại nhỏ xíu.

Hà vừa viết xong, ngoại đã nhắc:

- Cháu viết nhắc má nhớ cho gà uống nước. Cái chuồng heo hướng bắc bị gió, nhớ mua tấm tôn cũ dưới đường Bạch Ðằng về che lại. Heo bị cảm gió dễ chết lắm, mà má mày thì đổ biết bao nhiêu tiền mua cám với xác mì rồi.

Hà nhận thấy ngoại dặn như thế là thừa. Việc cho gà uống nước, má đã giao khoán cho em Ri. Còn chuyện nuôi heo, chính vì má đã đổ quá nhiều tiền mua cám nên bà khỏi nhắc, má cũng đã lo rồi. Vả lại, khi thư về đến Việt Nam, biết đâu má túng tiền đã kêu người tới bán heo non. Biết không thể tranh luận với ngoại được, Hà viết:

Trong hai bọc lương thực họ phát cho con với ngoại ăn năm ngày, chỉ có hai gói đường thôi. Cà phê cũng có nhưng ngoại cấm con không được uống. Ngoại để dành đem đổi cá về nấu canh. Ðồ hộp được bốn lon. Con khoái ca ry thịt gà hơn ba tê heo, tuy hộp ba tê lớn hơn hộp kỳ trước má mua về ăn bánh mì. Hơn tháng nay ăn ba tê hoài con ớn quá.

Thằng Hà liếc nhìn ngoại, sợ ngoại khám phá sự tự chuyên của nó. Cách nhìn của ngoại có vẻ ngờ vực thật. Ngoại hỏi:

- Con đã nhắc má mua tôn ở đường Bạch Ðằng chưa? Mua ở Bạch Ðằng rẻ hơn bên bến Chương Dương. Năm ngoái ngoại có đi với cậu Liễn, hồi cậu chưa đi Mỹ đó, hỏi giá hai chỗ thấy cách nhau cả trăm bạc.

Hà vội đáp để giấu lỗi:

- Con chép đủ lời ngoại dặn rồi.

Nói xong nó lấy bạo tố thêm:

- Con đọc cho ngoại nghe nha.

Bà nó lắc đầu như dự đoán của Hà. Hú vía.

Phần bà cụ, cũng nhận ra mình sơ ý. Ai đời lo cho heo gà, cho người đã khuất, mà không lo gì đến con gái mình. Mà bà cụ biết lắm, con gái bà đang mất ăn mất ngủ vì chưa biết tin tức sức khỏe con trai cưng ra sao. Ngoại liền bảo Hà:

- Thôi bây giờ nói tới chuyện cháu đi. Cho má biết tin cháu vẫn khỏe, có hơi mập thêm chút ít. Hôm qua trên bệnh viện, cháu cân tăng được một ký rưỡi phải không?

Hà vui mừng vì chờ đợi mãi, nhường ưu tiên cho ông ngoại, cho heo gà mãi, bây giờ mới đến lượt mình.

Phải gò phần này cho kỹ mới được. Sau khi suy nghĩ chín chắn nó viết:

Phần con vẫn khỏe. Hàng ngày con đi câu cá. Ở đây cá biển nhiều lắm nha má. Cá để nấu canh nhiều, mà cá vàng để chơi cũng nhiều. Hôm qua con bắt được ba chú cá đủ màu sắc tím xanh vàng đỏ. Vây dài và rộng tỏa theo hình rẽ quạt. Con còn đi lượm củi cho ngoại nấu cơm và ngày mai bắt đầu học Anh văn. Con lên được – Hà do dự một chút rồi mím môi viết – ba ký rưỡi. Má hết gọi con là Hà Ròm chưa?

Ngoại nghiêng đầu nheo mắt ngắm đứa cháu ngoan đang viết thư. Cách lập nghiêm của Hà giống y cách phụng phịu của má Hà, lúc má Hà còn là cô bé dễ thương thường làm nũng với mẹ. Ngoại cảm thấy bồi hồi, lòng lâng lâng buồn. Thời gian qua mau, thoáng một cái ngoại đã già, rồi tử biệt sinh ly, rồi nụ cười trẻ thơ héo dần cho nước mắt rỏ xuống. Bao nhiêu đổi thay ngoại từng chứng kiến, cho đến lúc hai bà cháu lưu lạc đến chốn hoang đảo này.

Ngoại đang nghĩ ngợi đủ thứ chuyện, chợt nhớ đến chuyện bên nhà, giật mình bảo cháu:

- Hà viết xong chưa? Cháu phải viết ngay, kẻo quên thì mang tiếng với người ta chết. Cháu viết cho má biết là hôm đi, ngoại còn nợ của bà Tư sét hai đồng bạc đường, và một đồng bạc ớt. Ngoài chợ thì thím Năm Cần bán rau chưa thối cho ngoại ba đồng. Hôm đó ngoại mua bảy đồng bầu với chuối, ngoại đưa mười đồng thím Năm không có tiền lẻ thối. Ngoại còn mượn của dì Bảy cái dao têm trầu chưa kịp trả. Ngoại tưởng xuống đưa cháu đi xong rồi về, ai ngờ…

Thằng Hà liền hỏi:

- Sao hôm đó ba má cháu không đưa cháu đi, hở bà?

Bà cụ nhìn quanh, thấp giọng đáp:

- Ba cháu đi học tập về chưa được trả quyền công dân đâu có đi được. Má cháu làm công nhân viên mới có thể mua gạo rẻ cho cả nhà. Ðưa cháu đi, lỡ chẳng may…

Hà thấy thương má và nhớ em Ri, buồn rầu hỏi:

- Vậy cho cháu đi làm gì? Bà ơi, cháu nhớ ba má với em Ri quá.

Ngoại xoa đầu an ủi cháu:

- Cháu là con trai phải can đảm và biết điều. Lý lịch cháu xấu, làm sao học cho được. Cháu qua với cậu Liễn nếu chăm có thể thành ông này ông nọ. Ba má và bà hy vọng ở cháu nhiều lắm. Vả lại Trời Phật xui khiến thế nào mà cuối cùng cháu có bà theo hầu hạ. Còn đòi gì nữa nào? Thôi, cháu viết tiếp đi.

- Viết gì hở ngoại?

Bà cụ ngớ ra, quên mất điều vừa dặn. Một lúc sau, cụ mới nhớ:

- Ngoại già lú lẫn mất rồi. Chỉ có bao nhiêu mà cũng quên lên quên xuống. Nhắc má ngoại nợ bà Tư Sét hai đồng đường nè, một đồng ớt nè, mượn của thím Năm con dao têm trầu chưa trả nè, bà Năm Cần chưa thối cho ngoại ba đồng nè…

Thằng Hà thấy nợ nần ngoại còn dây dưa ở Việt Nam không đáng bao nhiêu, trong khi nó chợt nhớ nợ nần ơn nghĩa của nó quá lớn. Hà vội viết vào thư:

Ngoại nhắn má trả nợ cho bà Tư Sét ba đồng, trả thím Năm cái dao và đòi bà Năm Cần ba đồng rau chưa thối. Em Ri, thằng Châu con ông Nhật Trường mượn của anh cuốn Tên Xì Trum Thứ 101 và Tintin Ở Xứ Vàng Ðen đã đem trả chưa? Em qua đòi và nhớ lật kỹ xem có thiếu tờ nào không. Sách vàng và báo Tuổi Xanh của anh, em cứ xem nhưng không được xáo lộn xộn và cho bạn bè mượn bừa bãi. Anh thấy tụi nhóc con gái ít quí sách vở. Mấy cái xe hơi nhựa em nên giữ cẩn thận, chơi xong bỏ vào hộp kẻo vô ý bể hết. Cái cặp da của anh em cứ dùng nhưng rán đừng để cho trầy uổng lắm. Tụi bồ ruột của anh như thằng Huy con bà bác sĩ Liên Hương, thằng Hà con ông cán bộ đài truyền hình, thằng hề Bảo Quốc có đến hỏi anh không? Trên trường có xôn xao bàn tán sau khi anh đi không? Ðã thi học kỳ một chưa? Nếu thi, thi xong môn nào rồi? Thầy Anh văn nghe anh đi chắc tiếc lắm lắm lắm…

Hà dừng lại, thỏa mãn dễ tè vì ba chữ Lắm cuối cùng. Ngoại ngạc nhiên, không hiểu cháu viết thứ gì mà nhiều quá, viết xong lại cười hoài, nên hỏi:

- Cháu viết xong chưa? Ngoại chỉ nợ có hai chỗ thôi mà.

Hà đỏ mặt nói dối:

- Con dặn đi dặn lại cho má khỏi quên.

Ngoại nửa tin nửa ngờ nhưng không lâu, vì bà cụ chợt nhớ tới con dao têm trầu:

- Qua đây ngoại thèm trầu quá đi mất. Không biết bên Mỹ có bán trầu không Hà?

Hà đáp liền:

- Có chứ ngoại. Con nghe dì thằng Thắng bảo có đủ cả. Nào chao, tương, nước mắm, tiêu tỏi ớt, trầu cau. Cần thứ gì có thứ nấy. Ở khu vực nhiều người Việt chỉ ra ngõ là mua đủ. Ở xa phải đi xe hơi. Nhiều người thèm bún bò lái xe cả trăm cây số ăn một tô bún rồi về.

Ngoại đâm lo:

- Phiền nhỉ. Ngoại không chịu được mùi xăng. Ði xe hơi lần nào ngoại cũng muốn nôn mửa. Qua Galang, mình đi Mỹ bằng gì hở cháu?

Hà đáp theo ước vọng chứ không phải vì thành thạo:

- Phải đi bằng máy bay chứ ngoại. Vù một cái là tới.

Giọng của ngoại thêm lo lắng:

- Có bao giờ máy bay rơi không cháu?

Hà nghĩ tới cái thú được nhảy dù, vui vẻ đáp:

- Có chứ. Rơi là thường.

Thấy ngoại quá lo, nó thú vị một cách trẻ con, thêm vào:

- Cháu nghe nói bị rớt máy bay nếu không kịp mang dù sẽ bị tan xác ra thành cám. Không còn nhận được ai ra ai hết. Mỗi người thu lại không đủ một trăm gam. Sách có nói thế.

Ngoại thì thào:

- Không đủ trăm gam. Ghê quá. Qua đó, cháu viết thêm lá thư đi Mỹ, bảo cậu Liễn đem xe qua đón bà.

Rồi muốn quên ngay ám ảnh đó, ngoại nói:

- Còn giấy không? Nửa trang thôi à? Cháu viết thêm hẹn má qua đến Galang sẽ chụp ảnh màu gửi về. Ngoại gặp cậu Liễn sẽ kể rõ tình cảnh má để cậu tìm cách giúp đỡ. Mấy loại thuốc và vải má dặn con nói với cậu, bà cũng nhớ. Cậu Liễn sẽ gửi về đều.

Thằng Hà xịu mặt. Nó thấy tự ái gia đình bị va chạm. Nó nhớ ba nó thất nghiệp nhưng thích âm thầm chịu đựng cảnh thiếu thốn hơn là lên tiếng nhờ vả. Một lần cậu Liễn gửi quà về cho ngoại, ngoại thương má khổ đem chia bớt cho má một nửa. Má mừng, đem vải đen Isofi và mấy lọ thuốc Tylenol ra khoe với ba. Ba không vui, sau đó ba má dẫn nhau ra sân trước rì rầm gì đó thật lâu. Lúc trở vào, nét mặt ba dàu dàu, còn mắt má thì đỏ hoe.

Từ đó về sau, mỗi lần ngoại hớn hở mang quà cậu Liễn xuống, má đón ngoại từ cổng và dẫn theo lối sau vào nhà bếp. Hôm Hà sắp đi, má cũng chờ ba đi vắng mới đem tờ giấy ghi tên loại vải và thuốc tây được giá tại Sài Gòn ra bắt Hà học thuộc để nói lại với cậu Liễn. Tuy thương má vô cùng, mỗi lần thấy má bần thần rầu rĩ vì túng thiếu, Hà muốn ôm má để an ủi, nhưng tận thâm tâm, Hà thích cách suy nghĩ của ba hơn. Không hiểu rõ người lớn, nhưng Hà lờ mờ cảm thấy trong lối chịu đựng của ba, có cái gì dũng cảm đáng kính. Vì thế Hà viết vào cuối thư:

Hiện ngoại và con chưa biết lúc nào mới qua Galang. Qua đó con sẽ chụp hình màu gửi về cho má ngay. Con sẽ cười thật tươi để má và em Ri thấy con vui và khỏe biết chừng nào. Ngoại nhắn má nên yên tâm. Tàu chở hai bà cháu đi Galang lớn lắm, không dễ đắm như cái ghe con nhỏ xíu dưới Bặc Liêu. Phần em Ri anh chúc em học giỏi. À quên, em sang đây thì mặc sức mà nhặt bao ni lông nộp cho đội. Anh thấy họ vứt bao ni lông khắp nơi, cái nào cũng còn trong veo và thật dày liền nghĩ lại cảnh em phải đi góp từng cái bao ni lông hôi rình mỏng dính để làm kế hoạch nhỏ mà tiếc. Qua Mỹ anh sẽ mua đồ chơi bằng thiếc gửi về cho em. Hẹn ngày gặp em trở lại, anh sẽ dẫn Ri đi mua mía và ổi hư vào Sở thú cho voi và khỉ ăn. Ri có nhớ hôm anh suýt bị chú khỉ níu tóc, còn em bị con voi già phun nước ướt cả quần áo hay không?

Ký tên: Hà và bà ngoại.

Hai bà cháu viết xong thư thì đêm đã khuya. Hà hãnh diện được ký tên như một tổng thống ký vào lời hiệu triệu quốc dân. Hà còn đề nghị bà ngoại điểm chỉ vào cạnh chữ ký của mình, nhưng ngoại bảo không cần. Bạn đọc có thể thắc mắc tại sao trong thư Hà không nhắc gì đến ba cả. Hà vẫn nhớ ba, thương ba, phục ba. Nhưng trước khi đi, má dặn nếu có viết thư, đừng nhắc gì đến ba hết. Sợ công an kiểm duyệt thư đọc được, sẽ bắt ba đi học tập trở lại. Má bảo thế.

Nguyễn Mộng Giác

Thơ Ngu Yên


Ngu Yên


Ngày 1 tháng 2 năm 2013

Nhìn bút đăm đăm
cây bút bất động
nhìn nảy lửa
nhìn thật lâu
nhìn năm này tháng nọ.

Một hôm
bút trổi dậy.
Đi
chạy
nhảy
múa
cây bút sống.

Giữ bút thẳng đứng, đừng để cong
Giữ bút cứng cỏi, đừng để mềm
Giữ bút nhẹ nhàng, đừng vất vả.
Và chờ
khi bút bốc cháy
lửa đốt chữ xuống giấy
chữ thành thẹo.

Ngày 23 tháng 2 năm 2013

Ôi, lương tâm
như cây tăm
xỉa vào hồn
lởm chởm răng
cắn 
gãy.

Tăm gãy
như lương tâm
xỉa vào hồn
khi hết răng. 

Ngày 24 tháng 2 năm 2013

Ông già đi phố hướng Đông
bà già đi chợ hướng Tây
nắng chiều chiếu hai bóng 
ngã
chồng lên nhau.

Ông già nắm tay bà già
đêm xuống
không thấy bóng
chỉ thấy
hai mái đầu
bạc.

Sáng mai thức dậy
bà già 
gọi 911
ông già ngủ say
lạnh.

Nguyễn Bính - Thư gửi thày mẹ



Nguyễn Bính


Ai về làng cũ hôm nay
Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi
Con đi mười mấy năm trời
Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương
Thày đừng nhớ, mẹ đừng thương
Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi!
Thày mẹ ơi! Thày mẹ ơi! 
Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư!
Con đi năm ấy tháng tư
Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba
Con đi quạnh cửa quạnh nhà
Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm.
Cha dậm gạo, mẹ thổi cơm
Có con con vắng ai làm thay cho
Con dan díu nợ giang hồ
Một mai những tưởng cơ đồ làm nên.
Ai ngờ ngày tháng lưu niên
Đã không gọi chút báo đền dưỡng sinh
Lại mang ân ái vào mình
Cái yêu làm tội làm tình cái thân
Bó tay như kẻ hàng thần
Chán chường như lũ tàn quân lìa thành
Mẹ cha thì nhớ thương mình
Mình đi thương nhớ người tình xa xôi...
Ở thư này thày mẹ ơi!
Nhận cho con lấy vài lời kính thăm
Xin thày mẹ cứ yên tâm
Đừng thương nhớ, một vài năm con về.
Thày ơi, đừng chặt vườn chè
Mẹ ơi, đừng bán cây lê con trồng...
Nhớ thương thày mẹ không cùng
Lạy thày, lạy mẹ thấu lòng cho con.
NGUYỄN BÍNH