Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Nguyễn Đắc Kiên - THƯ NGỎ




Nguyễn Đắc Kiên

Thưa các bạn!

Tôi viết thư này để trả lời một số câu hỏi các bạn gửi đến tôi mấy ngày qua.

Về lo lắng cho sự an nguy của tôi. Tôi hiểu, càng nhiều người quan tâm, ủng hộ tôi, sự an toàn của tôi càng bị đe dọa cao hơn, nhưng cũng có thể ngược lại. Tôi biết trong đội ngũ lãnh đạo của ĐCS VN hiện nay cũng có rất nhiều người có suy nghĩ tiến bộ.


Tôi cũng tự dặn mình, phải hết sức thận trọng trong lời nói và hành động. Tôi không muốn đẩy người khác vào hành động phi nghĩa, vì tôi hiểu nỗ lực đẩy người khác vào hành động phi nghĩa tức là đang làm một việc phi nghĩa. Dân tộc chúng ta đã có quá nhiều sự thù hằn, tức giận rồi, tôi hy vọng, bản thân và tất cả chúng ta sẽ không cố gắng để tạo thêm những sự thù hằn và tức giận như thế nữa.

Cụm từ “sát cánh bên nhà báo Nguyễn Đắc Kiên”, khiến tôi ngại ngùng khi ký vào bản “Tuyên bố Công dân Tự do”. Tôi sẽ gửi thư đề nghị các bạn khởi xướng bỏ cụm từ đó đi, để tôi được ký tên mình, cùng với hàng nghìn, triệu đồng bào. Tôi nghĩ rằng, mỗi người chúng ta không sát cánh cùng anh Kiên hay bất cứ người nào khác, chúng ta ký tên vì chính chúng ta, vì tổ tiên ngàn đời, vì con cháu tương lai. Vì thế tôi kêu gọi tất cả, không phân biệt trong hay ngoài nước, còn hay không còn quốc tịch Việt Nam, miễn là mang trong mình dòng máu Việt, ký tên vào bản tuyên bố công dân này.

Có người chất vấn tôi về chuyện làm sao để Tha thứ và Hòa giải, đó là chất vấn xác đáng. Tuy tôi e rằng, nói điều đó ra bây giờ là sớm, nhưng vì không biết ngày mai sẽ ra sao nên cứ nói ra thì vẫn hơn. Chúng ta cứ nhìn sang Myanmar thôi, không cần nhìn đâu xa, họ làm được, tôi tin chúng ta cũng làm được, có khi còn tốt hơn. Sao không lập một Ủy ban hòa giải dân tộc, với thành viên là các nhân sỹ, trí thức trong và ngoài nước, kể cả một số lãnh đạo tiến bộ của ĐCS VN? Tôi nghĩ rất nhiều người sẵn sàng tham gia. Sao không lập một chính phủ lâm thời điều hành đất nước cho đến khi tổ chức xong Hội nghị lập Hiến, ban hành Hiến pháp mới, bầu Quốc hội mới? Tôi tin tưởng có nhiều người, kể cả trong đội ngũ lãnh đạo ĐCS VN hiện nay có thể đảm nhận tốt vị trí trong Chính phủ lâm thời để giữ vững sự thống nhất quốc gia trong giai đoạn chuyển giao.

Nhưng để làm được điều đó, trước tiên tôi nghĩ, không chỉ nhân dân, những người đấu tranh cho dân chủ tự do mà cả các vị lãnh đạo của ĐCS VN, cần vượt qua sự sợ hãi, vượt qua sự tức giận, thử một lần thôi, tôi xin các ngài đặt mình là một người Việt Nam bình thường, lắng nghe những ý kiến khác biệt.

Tôi nghĩ rằng, một điều kiện tiên quyết khác cho sự hòa giải là một điều khoản bắt buộc, trong đó, không cho phép hồi tố, truy cứu trách nhiệm những tội phạm làm tổn hại lợi ích dân tộc, quốc gia hay bất cứ hành động mang tính trả thù nào với những người ở chế độ cũ. Tôi cho rằng đây là điểm quan trọng trong việc giúp giới lãnh đạo ĐCS VN hiện nay vượt qua sự sợ hãi. Tôi cũng như tất cả các bạn đều đau xót vì những khoản tiền tỷ đô la bị thất thoát, tham nhũng, nhưng cứ thử nghĩ đến xương máu có thể đổ, thử nghĩ đến tương lai hàng trăm nghìn năm nữa của dân tộc, những khoản nợ đó chẳng phải là rất nhỏ sao? Vậy sao chúng ta không mạnh dạn xóa nó đi để bảo vệ cái toàn cục lâu dài. Hơn nữa, chúng ta có thể tha thứ cho kẻ thù ngoại bang, sao không thể tha thứ cho đồng bào, anh em ruột thịt mình?

Có nhiều người cho rằng, tôi chỉ là một kẻ cơ hội, tự bản thân tôi thấy không cần phải trả lời chất vấn này, nhưng tôi nói chuyện này ở đây để bàn sang chuyện khác xa hơn. Bác Nguyễn Quang A có nói là sẽ sắp xếp cho tôi một công việc biên tập ở một NXB. Đó là công việc mơ ước của tôi, tôi sẽ có điều kiện vừa làm việc, vừa đọc và tìm hiểu thêm các vấn đề mình quan tâm. Tôi chỉ mong ước có thế và không gì hơn, những người đã có thời gian quen thân tôi lâu có thể làm chứng. Tôi hiểu, một sự chuyển đổi nếu có, thì đằng sau nó còn rất nhiều việc phải làm, mà một việc quan trọng bậc nhất là phổ biến tinh thần dân chủ tiến bộ đến toàn thể nhân dân, công việc đã nói ở trên có thể giúp tôi thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Nhưng một điều quan trọng hơn tôi muốn bàn là suy nghĩ về những người tài và trọng dụng người tài. Nền nho học tuyển cử hàng nghìn năm đã khiến chúng ta đặt định vị trí hiền tài khi nào cũng gắn với việc làm quan. Điều đó sẽ thay đổi trong một xã hội dân chủ. Tôi hiểu, một đất nước muốn phát triển cần phải có thật nhiều người tài làm thương gia, nhà khoa học, giáo sư, bác sỹ, kỹ sư, công nhân lành nghề, nông dân thạo việc… không phải dồn hết người tài vào làm mỗi công việc quan, việc chính trị. Tôi thích cách người Mỹ thiết kế bộ máy nhà nước của họ, đó là một bản thiết kế không hoàn hảo, nhưng nó là bản thiết kế để cho mọi sai lầm có thể sửa chữa với ít hao tổn nhất cho nhân dân, đất nước.

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, mỗi khi lòng dân ly tán là lúc vận mệnh đất nước bị đe dọa nghiêm trọng nhất. Theo cảm nhận của tôi, đất nước chúng ta đang vào ở trong tình thế lâm nguy đó. Hơn khi nào hết, chúng ta cần sự đồng lòng, nhất trí của tất cả người dân Việt Nam, để đưa đất nước tiến lên.

Trân trọng,
Nguyễn Đắc Kiên


Ðoan Trang - “Nói với mình và các bạn”: Vẻ đẹp của chính trị





Chỉ còn không đầy một tháng nữa, công cuộc “toàn dân góp ý sửa đổi hiến pháp” sẽ kết thúc. Người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã tỏ rõ quan điểm rằng các đề nghị bỏ Điều 4 Hiến pháp, đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập và phi chính trị hoá quân đội, đều là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức. Đây là một cách bác bỏ Kiến nghị 72 do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng. Một kiến nghị khác, của các sinh viên và cựu sinh viên luật, yêu cầu huỷ bỏ thời hạn góp ý và tổ chức để nhân dân thực hiện quyền phúc quyết, chắc chắn sẽ chẳng hề được đếm xỉa.


Điều này đúng như một dự đoán phổ biến của dư luận, ngay từ đầu, rằng tất cả chỉ là một màn kịch. Từ quan điểm đó, đã có những tuyên bố sẽ không tham gia, không hưởng ứng, thậm chí không buồn theo dõi “trò hề”. Cũng có những ý kiến cho rằng người lên tiếng hoặc ký kết kiến nghị là ngây thơ về chính trị, ảo tưởng về Đảng, và là thiểu số giữa đại đa số người dân Việt Nam thờ ơ, xa lánh chính trị.

Nhưng nếu bỏ qua những thứ gây bực mình và ức chế, như các phát biểu đầy lỗi nguỵ biện của người này kẻ kia, hay màn bút chiến của một số cơ quan truyền thông quốc doanh hàng đầu, liệu có thể nhìn vào một khía cạnh tích cực hơn, rằng đây là một dịp rất tốt để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu về hiến pháp, về luật pháp, về tinh thần hợp hiến, về nhân quyền và dân quyền...?

Người viết bài này còn mong muốn hơn thế nữa: Đây là một dịp khuyến khích tất cả chúng ta – những người dân Việt Nam, nhất là các bạn trẻ – thử quan tâm một chút đến chính trị xem sao?

Loạt bài sau đây, mang một tựa đề chung là “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”, nỗ lực để được là tập hợp một số bài viết có tính chất nhập môn cho độc giả, nhất là các bạn trẻ, về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất phục tùng dân sự.


* * *

Kỳ 1:

CHÍNH TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG TA

Điều đầu tiên cần khẳng định là trong một xã hội tôn trọng đa nguyên, thì mọi người đều được tự do thích, theo đuổi, hoặc không thích, không theo đuổi cái gì đó. Nghĩa là người có thể đi làm kinh doanh, kẻ thì dấn thân cho sự nghiệp khoa học, một số khác lại đam mê nghệ thuật. Không nhất thiết ai cũng phải lao vào các hoạt động “vì cộng đồng” hoặc phải hăng hái đọc báo, xem tivi, nghe đài, hăng hái bàn luận về những vấn đề vĩ mô… Không phải nhất định chỉ có xả thân và cống hiến, “là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha” thì mới được xem là có “thời thanh niên sôi nổi” và tươi đẹp. (Nhưng tất nhiên, cũng phải thừa nhận là giữa các ngành nghề, các nhóm công việc khác nhau, có những nghề mang lại sự thú vị cao hơn cho người thực hành chúng – mà chính trị là một trong số đó).

Song, có một khoảng cách giữa thái độ không thích, không quan tâm, không dây dưa (đó là quyền của bạn, và là điều được chấp nhận, trên tinh thần đa nguyên), và sự kém hiểu biết về chính trị (có thể dẫn đến sự vô cảm).

Chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng bất kỳ, có thể ở quy mô một xã hội, đất nước. Bạn sẽ thấy ngay rằng, mâu thuẫn, xung đột là một phần tất yếu của quá trình ấy; hay nói cách khác, một trong các đặc điểm của chính trị là sự mâu thuẫn, xung đột. Chẳng quyết định nào, chẳng chính sách nào có thể đạt được đồng thuận. Vấn đề của tất cả mọi người là làm thế nào để giảm bớt tác hại của mâu thuẫn, xung đột ấy, dù không phải là triệt tiêu nó; nhưng đấy là chủ đề của những bài viết khác. Ở đây, chúng ta biết rằng chính trị thì phải mâu thuẫn.

Một nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, ông Austin Ranney (1920-2006), từng viết: “Chắc chắn, trong bất kỳ xã hội nào, cũng có rất nhiều mâu thuẫn trong những lĩnh vực ngoài chính trị, như kinh tế, học thuật, thể thao, và hôn nhân. Cái chính là không một xã hội nào – truyền thống hay hiện đại, tiến bộ nhiều hay ít, dân chủ hay độc tài – lại hoàn toàn không có mâu thuẫn chính trị cả. Và trong xã hội hiện đại, mọi mâu thuẫn xoay quanh vấn đề giá trị (cái gì tốt hay xấu, tốt nhiều hay tốt ít, xấu nhiều hay xấu ít, lợi hay hại, nên hay không nên… - ND) sớm muộn đều trở thành mâu thuẫn chính trị”.

Mà cuộc sống của bạn thì lại luôn đầy những xung đột, mâu thuẫn phải giải quyết. Nói cách khác, bạn luôn phải đối diện và xử lý mâu thuẫn.

Thế nghĩa là dù làm gì, bạn cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của chính trị được đâu.

Ngay trong lớp bạn, trường bạn, Ban Giám hiệu thay toàn bộ giảng viên từng du học ở Liên Xô bằng giảng viên học ở Mỹ về, đã là một quyết định chính trị ảnh hưởng đến bạn rồi. Bạn vận động thầy cô, bạn bè, để nam và nữ sinh viên đều có thể bơi chung bể trong môn thể dục hoặc ngược lại, nhất định phải tách riêng họ ra, đã là làm chính trị rồi.

Trong cơ quan, bạn khen ngợi anh A, ném đá chị B, dìm cô C, nâng chú D, để cho sếp chú ý đến bạn hơn một chút, hoặc để các đồng nghiệp yêu quý bạn hơn, đều là làm chính trị cả. Kể cả bạn quyết định không tham gia bè phái, chỉ tập trung chuyên môn thôi, đó cũng là một quyết định có tính chất chính trị và ngay cả khi ấy thì bạn cũng vẫn sẽ chịu ảnh hưởng từ sếp, từ đồng nghiệp, từ các chính sách của cơ quan.

Chính trị bao trùm như thế. Vấn đề là điều ấy không xấu như bạn nghĩ. Nếu bạn vận động thành công để trường lớp, cơ quan, tổ dân phố, ra những chính sách có lợi cho bạn và những người bạn ưu ái, thì bạn sẽ thấy chính trị tốt quá, phải không? Và có một nghịch lý thú vị mà Austin Ranney chỉ ra, là trong khi người ta khinh ghét chính trị gia, coi chính trị là bẩn thỉu, thì người ta cũng lại ngưỡng mộ các vị lãnh đạo nhà nước, các nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ, và luôn thấy họ đẹp, họ đúng, họ sáng suốt...

Vậy vì sao bạn không quan tâm đến chính trị, đến công cuộc sửa đổi hiến pháp – đạo luật “nguồn của mọi đạo luật”? Chúng ảnh hưởng đến bạn kia mà.


Kỳ sau: Nhưng đừng lên án người vô cảm!

Đoan Trang - "Nói với mình và các bạn": Đừng lên án người vô cảm



Đoan Trang

Trong xã hội và trong thế giới mạng lâu nay, có những ý kiến phê phán, trong đó nhiều quan điểm mang lời lẽ gay gắt, nhằm vào những người thờ ơ với chính trị, gọi họ là “vô cảm”, “ích kỷ”, “não nhẵn”. Một số ý kiến như vậy đi xa hơn để đạt đến một thái độ yếm thế, bất đắc chí, bất mãn và có phần cay nghiệt, khi coi toàn thể cộng đồng người Việt Nam là “vứt đi”, “không khá được”, “dân trí thấp kém”, “cái giống A-na-mít”, “xứ lừa”, v.v.


Dưới đây là bài viết thứ hai trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Mục đích mà loạt bài hướng tới là góp phần giúp độc giả, nhất là các bạn trẻ, hiểu hơn về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất phục tùng dân sự. Còn mục đích của bài thứ hai này là cùng bạn tìm hiểu về sự vô cảm, nguyên nhân của nó, và vì sao ta không nên công kích những người vô cảm.

Trong hệ thống đánh giá và biểu dương, khen thưởng thành tích của Đảng và Nhà nước, các bạn thường thấy có một tiêu chí là “ý thức chính trị cao”, “bản lĩnh chính trị vững vàng”, theo nghĩa là “hiểu rõ và hướng tới bảo vệ lợi ích của Đảng, trung thành với Đảng – lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Trên thực tế, khái niệm “ý thức/ bản lĩnh chính trị” có lẽ đơn giản hơn. Người có ý thức chính trị là người hiểu rằng “chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia”, nó có ảnh hưởng tới tất cả mọi người và đấy là lý do để tất cả nên có sự quan tâm, tìm hiểu ở mức cần thiết đến chính trị, đến các vấn đề chung của nhóm, cộng đồng, xã hội hay quốc gia đó.

Bất cứ khi nào bạn đặt ra và/hoặc tìm cách trả lời chỉ một trong các câu hỏi sau đây, là khi đó bạn đã có ý thức chính trị:

Tại sao một số người bạn yêu quý, bạn nể phục, lại không ở vị trí lãnh đạo “cho thiên hạ nhờ”? (trong công ty, trong tổ chức của bạn, cũng như trong một ngành nghề nào đấy – ví dụ bạn có ông chú là một vị bác sĩ rất có tâm, có tài, chẳng nhẽ không thể để chú làm Bộ trưởng Y tế thay Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến?)
Nếu bạn muốn đưa những người đó lên vị trí lãnh đạo thì bạn cần làm gì?
Bạn không muốn học môn kinh tế chính trị Marx-Lenin, hoặc ngược lại, muốn học kỹ hơn, đầy đủ hơn, thì phải làm thế nào?
Các ý kiến, đề xuất của bạn ở lớp, ở trường, cơ quan, công ty, NGO của bạn… có kết quả gì không?
v.v.
Chỉ cần đặt ra một trong số câu hỏi như thế, là bạn đã có ý thức chính trị rồi. Ý thức chính trị sẽ là cao nhất khi bạn tự hỏi: Mình muốn sống trong một tập thể/ cộng đồng/ xã hội/ đất nước như thế nào, và mình sẽ làm gì để đạt được điều đó?

Sự vô cảm đến từ đâu?

Paulo Freire (1921-1997) – nhà giáo dục nổi tiếng người Brasil, tác giả của cuốn sách sư phạm rất có ảnh hưởng ở thế giới thứ ba “Pedagogy of the Oppressed” (tạm dịch: Giáo dục dành cho người bị áp bức, xuất bản lần đầu năm 1970) – cho rằng con người có những nhu cầu căn bản về vật chất và tâm lý-xã hội: Phàm là người thì ai cũng có nhu cầu ăn ngủ, có chỗ ở, được chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh, được an toàn, được bảo vệ bởi pháp luật và lực lượng công quyền đáng tin cậy, được sống với người mình yêu, được thuộc về một cộng đồng, được mang bản sắc của một dân tộc, được làm việc và chăm lo cho gia đình, được tôn trọng, được giáo dục và được có các cơ hội để phát triển năng lực của mình. Paulo Freire tin rằng, nếu các nhu cầu căn bản đó không được đáp ứng, thì kết cục tất yếu là những căn bệnh tập thể, bệnh của cộng đồng sẽ xuất hiện, mà phổ biến nhất là bạo lực, sự vô cảm, ma tuý và rượu.

Ông viết: “Không ai có thể đáp ứng tất cả nhu cầu của mình. Chỉ khi nào ở trong một cộng đồng, được sự hỗ trợ của những người khác, chúng ta mới có thể thoả mãn các nhu cầu của chúng ta. Những tôn giáo tốt đẹp, những chính quyền tốt đẹp, thì đều chú tâm đến việc xây dựng một xã hội như thế”.

Ông khẳng định: “Vô cảm không phải là trạng thái tự nhiên của con người. Trạng thái tự nhiên luôn là hướng tới đáp ứng các nhu cầu của mọi người khác. Chỉ khi các nỗ lực đó liên tục bị ngăn trở, người ta mới rơi vào trạng thái vô cảm”.

Sự vô cảm được hình thành như vậy. Và Paulo Freire bảo rằng, nếu chính quyền thất bại trong việc tạo điều kiện cho người dân - ở bất kỳ bộ phận nào trong xã hội - thoả mãn được nhu cầu căn bản, thì điều đó sẽ tác động ngược trở lại cả xã hội, và gây thiệt hại về dài hạn. “Một xu chi ngày hôm nay vào nhu cầu của người dân, sẽ tiết kiệm được 10 USD phải chi ngày mai vào công an, cảnh sát, nhà tù, các chương trình phục hồi nhân phẩm”. 

Vô cảm là hệ quả tất yếu của một nền chính trị xấu, một nền chính trị đã bị mất đi vẻ đẹp của nó

Và cùng với sự vô cảm là…

Khi người dân của một quốc gia phải sống nhiều năm trong tình trạng bị một thiểu số kiểm soát, chi phối lâu dài về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, v.v., suy nghĩ của họ dần dần bị định hình, khiến họ tin tưởng vào sự ưu việt của thiểu số đó. Họ có xu hướng nghĩ rằng thiểu số ấy luôn đúng đắn, sáng suốt, ngoài ra thì không còn gương mặt nào sáng giá để lãnh đạo xã hội cả; các lực lượng khác đều dở tệ, không có khả năng thay thế đội ngũ lãnh đạo hiện nay. Nói chung, họ không được khuyến khích tư duy, trong khi lại luôn được khuyến khích (và bản thân họ cũng khuyên lẫn nhau) là nên sống đơn giản, vui vẻ, còn những vấn đề “vĩ mô” thì đã có một thiểu số lo – nhóm thiểu số này thay mặt toàn dân điều hành đất nước, ra các chính sách có ảnh hưởng đến cả nước, trong đó có cả phần lợi ích của chính những người đang sống đơn giản, vui vẻ.

Cùng trong quá trình ấy, bản thân nhóm thiểu số lãnh đạo cũng được định hình tư duy để tin rằng họ là giới tinh hoa, họ cao hơn các nhóm khác, họ cao hơn “dân” một bậc, và tóm lại, họ là lãnh đạo. Những việc mỗi cá nhân gọi là “dân” ấy làm chỉ ảnh hưởng tới cá nhân đó, nhiều hơn thì đến nồi cơm gia đình của ông/bà ta, cùng lắm là đến cơ quan, công sở của ông/bà thôi. Chứ còn những việc lớn, trọng đại, có ảnh hưởng tới toàn xã hội, đòi hỏi tầm vóc chiến lược, trí tuệ sáng suốt, phải là việc họ đang làm đây này. Mà vì làm việc lớn, quan trọng, cho nên họ nghiễm nhiên cho rằng họ phải được “tạo điều kiện” hơn “dân”: Cái này trong tiếng Việt gọi là “có tiêu chuẩn”, ví dụ có tiêu chuẩn nhà riêng, xe riêng, thậm chí chuyên cơ.

Và như vậy, cùng với trạng thái vô cảm của dân, là sự tự kiêu ngày càng lớn của chính quyền.

Chữa bệnh vô cảm

Như Paulo Freire đã nói, thực chất vô cảm là một dạng bệnh của cộng đồng (cùng với bạo lực, ma tuý và rượu chè). Nhưng ông cũng nhấn mạnh với chúng ta rằng bệnh ấy có ở nhiều xã hội, và chúng ta không nên tiếp tục công kích những cá nhân vô cảm – vốn cũng chỉ là “nạn nhân của áp chế và bóc lột” – vì những biểu hiện đó của họ.

Ông khuyên những người có tinh thần cộng đồng, muốn đấu tranh với bệnh vô cảm thì phải tạo đủ sức mạnh và niềm tin để đi xuyên qua sự vô cảm và khuyến khích các động lực trong cộng đồng. “Hãy giúp mọi người tìm ra những niềm hy vọng mới, hãy tạo ra nguồn năng lượng mới, để cùng nhau vượt qua bệnh vô cảm”.

Còn bạn, nếu bạn vẫn quyết tâm “không quan tâm đến chính trị”, thì chỉ xin bạn nhớ: Bạn có quyền như thế, nhưng điều đó không tốt cho cả bạn lẫn cộng đồng.

Kỳ sau: “Tham gia chính trị” là làm gì?

Blog Đoan Trang

Nguyễn Đắc Kiên - VỀ MỘT VÀI ĐỊNH KIẾN TAI HẠI



Nguyễn Đắc Kiên

Mỗi người chúng ta sinh ra ở trên đời là một sinh thể tự do. Mẹ cha – quê hương cho ta lời ru – giọng nói, nuôi dạy chúng ta khôn lớn, trưởng thành. Chúng ta có đi gây thù chuốc oán với ai đâu, mà sao lúc nào cũng “phải hỏi bạn thù, phải lo diễn biến”?


Mấy ngày qua, tôi phải giải thích cho một số bạn về hai chữ “phản động”. Thế nào là phản động? Nói xấu “Đảng và Nhà nước” là phản động à? Vậy hàng trăm báo, đài trong nước, rồi cả một số vị lãnh đạo của ĐCS cũng luôn miệng gọi các đài, báo nước ngoài là “phản động” thì không phải là nói xấu, là miệt thị họ đó sao?

Vậy ai mới là phản động?

Không ai cả.  Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ lại để thay đổi một vài nhận thức đã thành xưa cũ. “Phản động” là một trong số đó. Theo suy nghĩ của tôi, không có ai là phản động cả trong các trường hợp kể trên. Chỉ có những ý kiến khác biệt, thậm chí đối nghịch. Đó là lẽ thường. Chỉ có các nhóm, các đảng phái khác biệt, thậm chí đối lập. Đó cũng là lẽ thường.

Tôi coi ĐCS Việt Nam cũng như mọi đảng phái chính trị khác đã, đang và sẽ tồn tại trên đất nước Việt Nam. Tôi coi mọi đài, báo nước ngoài, như mọi đài, báo ở Việt Nam. Tôi nhìn nhận sự khác biệt về quan điểm nếu có của các đài, báo này như một lẽ thường tình. Không đài, báo nào là phản động cả.

Tôi cho rằng, muốn tất cả ngồi lại được với nhau, để cùng đối thoại thì đầu tiên phải xoá bỏ những rào cản nhận thức, như với hai chữ “phản động” bàn ở đây. Mọi người dân cần được giải thích rõ để hiểu rằng, không có ai là phản động cả. Nhưng trước tiên, tôi cho rằng, các nhà hoạt động dân chủ trong và ngoài nước phải đi đầu trong việc xoá bỏ nhận thức này. Các bạn phải khẳng định rõ ràng, chúng tôi không phản động. Chúng tôi khác biệt, đối lập với ĐCS VN, nhưng không phản động.

Khi điều này được xác quyết thì cách đặt vấn đề tự nhiên cũng sẽ khác đi. Khi đó tất cả sẽ đặt trong một trạng huống đối thoại sòng phẳng, không có chỗ cho sự phỉ báng, hằn học, quy chụp nặng nề của tất cả các bên.

Danh sách những người ký vào Bản Tuyên bố Công dân Tự do chẳng nhẽ không nói cho chúng ta điều gì sao?

Bản tuyên bố đâu có lời lẽ nào là tố cáo, là phỉ báng, là hằn học với ĐCS VN đâu? Ấy thế mà từ chị nội trợ, đến anh kỹ sư, từ bác giáo sư, đến cô bác sỹ… đều nhất loạt ký vào. Trong số 2.100 người ký tính đến tối 2/3, người Việt ở nước ngoài chiếm đa số tuyệt đối. Đấy chẳng phải là chỉ dấu cho mong muốn xoá bỏ hận thù, tức giận? Chẳng phải là chỉ dấu cho thấy người Việt ở khắp nơi đang mong mỏi cho một cuộc hoà hợp dân tộc nay mai hay sao?

Vì vậy, tôi kêu gọi tất cả mọi người Việt nam, ở trong hay ngoài nước, hãy xóa bỏ hết đi trong suy nghĩ của mình, nào là “phản động”, nào là “diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch”… Những thứ đó không đáng để tồn tại như một nỗi ám ảnh với một dân tộc yêu chuộng hòa bình và tự do như dân tộc Việt Nam.

Thân mến,
Nguyễn Đắc Kiên


Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Hà Kỳ Lam - Nỗi buồn thế kỷ



Hà Kỳ Lam

Tặng những người Việt ly hương


        Bây giờ là mùa xuân năm 2085.

        Người đàn ông lạc lõng, cô đơn nhất trái đất đang lái xe theo xa lộ vòng đai bao quanh thành phố Philadelphia thuộc Đông Bắc Hoa Kỳ, một xa lộ lưu thông hai chiều, mỗi chiều mười giòng xe cộ. Thực ra, anh ta không lái, mà chỉ ngồi cho xe tự bay bổng là là bên trên mặt đường. Anh ta tên là Lưu Thái Hồ. Tháng Tư ở vùng Philadelphia thật êm đềm, dễ chịu. Hàng cây bên kia bờ sông phủ đầy hoa trắng, soi mình bên giòng nước trong và phẳng như một tấm gương lớn gợi chàng những tháng Tư của Philadelphia ngày cũ. Một số các nhà chọc trời cũng cho chàng hình tượng của Philadelphia ngày xưa. Ngoài ra, tuyệt nhiên không còn đường nét nào của quá khứ để chàng thấy mình đang trở về chốn cũ. Thốt nhiên Hồ đưa tay bấm vào một nút nhỏ trên cần lái để chấm dứt sự điều khiển của hệ thống điện toán và ra-đa, và đích thân mình cho xe giạt sang đường ranh bên phải, giảm tốc độ, chuẩn bị rẽ vào công viên trước mặt, bên bờ sông Schuylkill. Còn những hơn một giờ đồng hồ nữa mới đến giờ hẹn tại một tiệm ăn ở trung tâm thành phố với người con gái mới quen ba tuần nay, và Hồ muốn vào đây tìm một góc yên tĩnh để ngồi một mình cho thoải mái. Sau chín mươi ba năm “ngưng hiện hữu”, trở lại Philadelphia chàng thấy lạc lõng, lạc lõng một cách ghê gớm, không sao tả xiết. Những con người với kiểu tóc, y phục, dáng điệu, những tiện nghi đời sống, tất cả đều quá xa lạ với Hồ. Ngày xưa, ở thời của chàng, Hồ chưa hề thấy những sự vật và sự việc như thế. Chàng khổ sở mà thấy rằng mình không thuộc về hiện tại này, dù có làm mọi cách, có cố gắng hòa đồng các mấy đi nữa. Mọi sự do bởi cái bi đát là thiếu hẳn sợi dây gắn liền cá nhân mình với chung quanh, với xã hội. Làm sao có thể có được sự gắn liền kia khi trong chàng không có chỗ nào cho sợi dây vô hình ấy có thể móc vào để bám vững. Hồ không lớn lên với các thế hệ chung quanh chàng; Hồ không hít thở cái văn hóa của họ; Hồ đi trước họ, nhưng Hồ “ngưng hiện diện”, Hồ “đi xa” gần cả trăm năm nay. Hồ thuộc về các bậc tiền bối “khả kính” xa xưa. Trong tâm trạng bàng hoàng, hoang man lẫn tuyệt vọng đến cùng độ, chàng chỉ còn biết chạy trốn, rút lui vào cái vỏ ốc của mình, cái vỏ ốc chứa trong lòng nó những chân trời dĩ vãng. Hồ là một “thiên thần đang nhớ về Trời”!

        Ngồi tựa lưng vào một thành ghế xi măng, nhìn những kiểu xe cộ kỳ dị  bay như tên bắn trên không phận xa lộ chạy ngang trước mặt – xa lộ từ trường – Hồ không tin nỗi mắt mình lẫn ý thức mình. Có thật chàng đã ngưng sống chín mươi ba năm nay không? Chiếc xe Hồ đang sử dụng cũng là loại xe hơi nam châm bay bổng trên mặt đường từ trường. Chàng rất mê chiếc xe này – thực ra, chàng thích tiện nghi của xe hơi thế kỷ này, bay bổng trên không, êm ái, xe tự điều khiển, tự giảm hay tăng tốc độ, tránh chướng ngại vật, và dừng lại khi cần,  chàng chẳng phải bận tâm với đường sá. Nhìn ra chung quanh, xe cộ đủ cỡ bay vù vù cùng chiều hay ngược chiều với mình. Trên hè phố, lát đát những người máy đi xen kẽ với người “thật”. Nhìn quang cảnh lạ lùng, Hồ thầm nghĩ, mình có diễm phúc thật. Dễ gì được chứng kiến cuộc sống nửa cuối thế kỷ 21 này! Đúng là họa trung hữu phúc, tai ương của đời chàng ở thế kỷ trước lại đem đến cái may mắn tuyệt vời cho chàng được sống dậy ở cuối thế kỷ sau.

        Hồ nhớ lại cả một quá khứ dài trước năm 1992, chuỗi ngày đẹp đẽ vô tư với bố mẹ, bạn bè, người yêu, bà con thân thuộc, cũng tại thành phố nầy. Theo cha mẹ vượt biển, rời bỏ Việt Nam, đến định cư tại Hoa Kỳ được mười năm thì xảy ra một tai ương cho đời chàng. Vừa ba mươi tuổi chàng bị một chứng bệnh không truyền nhiễm nhưng ngặt nghèo mà y khoa thời bấy giờ đành bó tay. Cái chết rất gần kề. Các bác sĩ ước tính sự sống của chàng không kéo dài tới một năm. Là đứa con duy nhất của gia đình, bệnh trạng của Hồ là niềm đau xót vô biên cho cha mẹ chàng. Họ không thể làm gì để cứu đứa con núm ruột đang từng ngày chờ chết, nhưng họ không muốn bó tay nhìn con ra đi tức tưởi như thế. Phải làm gì bây giờ? Trăm phương nghìn kế cũng vô ích khi chiếc đũa thần y khoa hiện tại đã thúc thủ! Thế rồi, một công ty chuyên về kỹ thuật đông lạnh làm ngưng sự sống đã tìm đến gia đình bệnh nhân độc đáo nhất thế kỷ để thương lượng một giao kèo, vì họ vừa thí nghiệm thành công mỹ mãn kỹ thuật nầy, và đang đi tìm những khách hàng đầu tiên. Cái khái niệm của dịch vụ nầy thì đơn giản, nhưng táo bạo: nếu phó mặc cho sự đưa đẩy của may rủi thì chỉ không đầy một năm chàng thanh niên Lưu Thái Hồ sẽ về với cát bụi; với kỹ thuật tối tân vô tiền khoáng hậu, công ty nầy có thể cứu mạng Hồ bằng cách bảo toàn bộ não và thân thể chàng trong nguyên trạng cho đến bao lâu cũng được, cho đến khi y khoa tìm ra được thuốc chữa chứng bệnh lạ lùng nầy. Khi đó Công Ty sẽ cho chàng hồi sinh để tiếp nhận sự chữa trị của y khoa. Nhưng giao kèo của Công Ty giới hạn thời gian hiệu lực là một trăm năm, không hiểu do chi phối của một lý do kỹ thuật, hay một luật lệ nào. Điều đó có nghĩa là, nếu đến một trăm năm, kể từ ngày Công Ty đưa Hồ vào phòng lạnh đặc biệt để “ngưng sống”, mà y khoa vẫn chưa tìm ra phương cách nào chữa trị chứng bệnh mà chàng đang mắc phải, thì hợp đồng vẫn hết hạn, và chàng phải hồi sinh để phó mặc cuộc đời với căn bệnh của mình. Gia đình chàng đã can đảm chọn giải pháp mà công ty kia đề nghị, một quyết định mà mọi người phải có đủ “sắt đá” và tinh thần thực tế mới làm nổi, chàng lẫn cha mẹ chàng, vì đó là quyết định nghìn thu vĩnh biệt, là hy sinh những ngày tháng quí giá còn lại trên đời về phía con cho một tương lai lâu dài hơn, mà cũng có thể cho một tương lai không bao giờ đến, như phi thuyền con ráp nối trật với phi thuyền mẹ và đi vào không gian miên viễn.

        Hồ nhớ lại giây phút đau lòng từ giã cha mẹ tại Chicago, nơi đặt cơ xưởng và phòng thử nghiệm của công ty ướp xác hồi sinh. Cha mẹ Hồ là một trong số ít người Việt đã thành công vượt bực trong thương trường ở Mỹ nên mới có đủ khả năng tài chánh chi cho dịch vụ cực kỳ tốn kém nầy. Họ sá chi tốn kém, miễn sao cứu được đời con, và họ sá chi chuyện vĩnh biệt con, nếu sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại con, miễn sao trong tương lai con họ sẽ đứng dậy hít thở khí trời, khỏe mạnh như xưa. Công Ty đã dàn xếp một trương mục ngân hàng đặc biệt để cha mẹ Hồ ký thác những gì muốn để lại cho con.

        Và rồi cách nay sáu tháng chàng đã được hồi sinh theo hợp đồng để nhận sự chạy chữa của y học, vì  cuối cùng thần dược đã được phát minh. Hồ đã bị “đông lạnh” ngưng sống, trong tình trạng không già không chết trong chín mươi ba năm nay. Việc chữa trị bệnh chàng chỉ mất có vài tháng, nhưng giai đoạn hồi sinh là một tiến trình khá chậm chạp. Công Ty đã phải mất gần hai tháng mới khôi phục lại tất cả các năng lực của các giác quan. Khởi đầu là bộ não sống dậy. Chàng nhận biết sự vật chung quanh, nhưng không hiểu mối tương quan giữa chúng, rồi dần dần chàng “tri giác” (hay nhớ lại) nhiều lên. Khi chàng hoàn toàn trở lại với sự sống bình thường trước kia, Hồ đã được Công Ty đưa cho ký một loạt giấy tờ, sổ sách để nhận lại tài sản, tiền bạc cha mẹ chàng để lại. Kể cả vốn lẫn lãi sinh sôi nẩy nở từ ngày xưa đến nay, Hồ hiện làm chủ một trương mục ngân hàng kết xù gần cả tỷ đô la. Căn nhà đắt  tiền của bố mẹ chàng ngày xưa ở một khu giàu có ngoại thành Philadelphia cũng thuộc về chàng. Và còn bao nhiêu tư trang quý giá. Qua giấy tờ để lại, Hồ được biết cha mẹ chàng lần lượt qua đời cách nay bảy mươi năm. Ông bố qua đời trước, và sáu năm sau mẹ chàng ra đi theo. Hồ tự hỏi không biết chuỗi ngày cuối đời bố mẹ có được sung sướng không. Chàng chỉ mới đến viếng phần mộ của song thân cách nay ba tháng, hôm trở lại Philadelphia để nhận lại cơ ngơi, nhà cửa theo di chúc, trước khi trở lại Chicago điều trị. Chàng đã yêu cầu Công Ty tiếp tục quản thủ căn nhà thêm vài tháng nữa, trong khi chàng nằm bệnh viện.

        Xúc động nhất là hôm đầu tiên trở lại căn nhà kỷ niệm. Từ chung quanh nhà cho đến vào bên trong chẳng có gì thay đổi từ ngày chàng tạm biệt ra đi. Mấy chục năm vắng bóng Hồ mà cha mẹ chàng vẫn duy trì căn nhà nguyên vẹn như xưa để cho chàng về không thấy lạc lõng. Ôi, chỉ có tình thương của cha mẹ cao hơn núi, dài hơn sông mới làm được như thế! Nhưng thà quang cảnh cứ thay đổi đi, cho chàng đỡ nhớ, đỡ đau lòng. Chỗ nầy một chồng đĩa nhạc, chỗ kia một chồng tạp chí Anh Ngữ, lẫn mấy cuốn sách báo Việt Ngữ. Tất cả đều gợi nhớ thương vô bờ bến.

        Tại Chicago, trước khi nhập viện chữa trị, Hồ đã được Công Ty thuyết trình vắn tắt những nét đại cương cần biết của cuộc sống trong thế kỷ 21. Đó là một phần trong giao kèo của dịch vụ, phần chuẩn bị cho khách hàng hội nhập vào xã hội mới, hay là phần “hậu hồi sinh”. Sau phần nầy là kết thúc giao kèo của dịch vụ. Trong số những điều họ hướng dẫn cho chàng, Hồ nắm được mấy điểm chính sau đây:
Cuộc cách mạng đo lường của nước Mỹ mà nhiều người đề nghị từ thế kỷ trước, thế kỷ 20 của chàng, đã hoàn tất hai mươi năm nay rồi: tất cả đều dùng hệ thống bách phân (độ C thay độ F, kí-lô thay pound, cây số thay cho dặm v.v.).

Kỹ thuật xe hơi đã tiến tới mức xe có thể tự lái, người ngồi chỉ chọn lựa lộ trình. Xe hơi bây giờ là xe điện từ, bay bổng bên trên đường sá có từ trường, và tiêu thụ nhiên liệu rất ít, vì không bị lực cản do ma sát với mặt đường.

Văn minh điện tử đã tiến xa. Một xã hội của máy điện toán tinh khôn hiểu được ý nghĩ của con người đã ra đời, điều mà ở thời mình Hồ đã đọc trong những bài dự đoán có tính cách hoang tưởng. Bây giờ con người chỉ cần nghĩ đến một mệnh lệnh nào đó, và điều mong muốn của mình liền được máy thi hành. Thực ra, cơ sở của kỹ thuật nầy đã được các nhà khoa học thời của Hồ thiết lập rồi – lần đầu tiên một thử nghiệm nối não bộ con người với máy điện toán đã thành công. Nhưng phải chờ đến gần một thế kỷ sau người ta mới hoàn chỉnh kỹ thuật đó như ngày nay. Hồ hiểu đại khái rằng chỉ cần mang điện cực quanh đầu con người, máy điện toán với nhu liệu đặc biệt có thể đọc tín hiệu của não bộ và giải mã, hiểu  dữ kiện nhận được, chứ không như những thử nghiệm ngày xưa, phải giải phẫu óc để gài vào một điện cực thủy tinh nhỏ li ti, và phải có cách “nối” nó với máy điện toán.

Nguồn thông tin liên mạng bây giờ là một thế giới thần tiên. Cái khái niệm về thông tin liên mạng thật khó hiểu với Hồ, vì thời của chàng tuy đã có kỹ thuật này nhưng còn phôi thai, và còn nằm trong vòng bảo mật của bộ quốc phòng Hoa Kỳ, chưa được tháo khoán cho ứng dụng thương mại. Theo sự trình bày của Công Ty, Hồ hiểu mơ hồ rằng liên mạng là một hệ thống toàn cầu của những mạng lưới máy điện toán liên kết với nhau, phục vụ hằng bao nhiêu tỉ người khắp hoàn vũ. Hồ được biết, ngày xưa - nghĩa là vẫn sau thời của Hồ – người ta dùng máy điện toán, hay điện thoại bỏ túi, liên lạc với nguồn thông tiên liên mạng; ngày nay với cặp kính mắt thường hay contact lenses con người có thể vào đọc thông tin liên mạng! Và điện thoại bây giờ đã lỗi thời, vì thông tin liên mạng bao gồm cả hình thái liên lạc cá nhân ấy.

Chiếc đũa thần y khoa đã thực hiện được nhiều điều thần thánh: làm chậm tiến trình lão hóa; tái tạo được các cơ quan trong thân thể bệnh nhân như gan, thận với phương pháp nuôi cấy tế bào; bệnh ung thư dễ dàng được khám phá và tiêu diệt sớm hàng chục năm, trước khi nó phát triển thành ung bướu. Tuổi thọ con người ngày nay có thể đến một trăm năm mươi tuổi; và v.v.

Thời trang bây giờ là tổng hợp kiểu cách của thập niên 1960 và thế kỷ trước đó. Hồ nghĩ, óc sáng tạo của con người vốn nghèo nàn thật; hết kiểu rồi phải quay về thời xưa. Nếu đến một lúc nào đó thời trang quay về thời kỳ ăn lông ở lỗ thì sao nhỉ?

Hôn nhân: nước Mỹ giảm thiểu đáng kể tình trạng sống chung thời tiền hôn nhân. Bây giờ ít cặp trai gái làm điều đó nữa. Tiến trình hôn phối trở lại cổ truyền, tức là sau hôn lễ họ mới bắt đầu cuộc sống chăn gối.

Thế giới đã đổi thay quá nhiều. Việt Nam, quê hương chàng bên kia biển, không còn trong vòng kiềm tỏa của các chế độ độc tài toàn trị nữa, và chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung trên toàn thế giới.

Nhìn đồng hồ tay, Hồ vội vã đứng dậy tiến về xe chàng. Còn hai mươi phút nữa là tới giờ hẹn. Leslie sẽ chờ chàng ở tiệm ăn tại ngã tư chỗ giao nhau của đường 16 và đường Oscar (đường Market ở thời của Hồ).

        Hồ đến sớm hơn giờ hẹn năm phút. Giờ nầy, gần sáu giờ chiều, tiệm ăn thường vắng khách. Chàng chọn một bàn gần cửa kính nhìn ra Tòa Thị Chính bên kia đường. Chàng thích hình ảnh tòa nhà, vì quang cảnh quen thuộc nầy mới cho chàng một cảm giác mong manh về sự gắn liền giữa mình với thành phố nầy, thành phố mà hơn một trăm năm về trước chàng và bố mẹ đã sống những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời tỵ nạn, và cũng là nơi gia đình đã mặc nhiên nhận làm quê hương mới. Hồ hơi nóng lòng liếc nhìn đồng hồ trên tường: quá mười phút rồi mà Leslie vẫn chưa đến.

        Chàng gặp Leslie ba tuần trước tại một ngân hàng. Gương mặt Á Đông thanh tú, trong vóc dáng cân đối, tròn lẳn, thoạt nhìn chàng thấy cô gái hao hao giống Nga của chàng hồi xưa. Chàng bỗng có linh cảm cô gái nầy là Việt Nam. Đôi lần Hồ bắt gặp cô gái liếc nhìn mình rất nhanh. Lúc cả hai người cùng tiến ra cửa, Hồ do dự mấy giây rồi đánh bạo lên tiếng trước, bằng Anh ngữ:
Xin lỗi, cô có phải là người Việt không?

       Qua một thoáng bỡ ngỡ – không phải vì bị người lạ hỏi bất chợt, mà vì nàng chưa bao giờ bị hỏi một câu như thế ở xứ nầy, cái xứ mà không ai còn để ý đến nguồn gốc chủng tộc nữa, khi hàng rào ngôn ngữ đã bị san bằng từ lâu rồi, và chỉ còn một ngôn ngữ độc nhất cho mọi người là Anh ngữ – Leslie trả lời:
Vâng, tôi cho là thế. Nãy giờ tôi đang cố nhớ xem đã gặp ông ở đâu, và tôi nghĩ tôi đã thấy ông trên màn ảnh liên mạng cách nay mấy tháng. Có đúng không?

        Đến phiên Hồ ngạc nhiên, không phải vì sự nhận diện của cô gái, mà vì câu nói “Vâng, tôi cho là thế.” Có phải là một câu nói kiểu cách, hay một câu nói “xỏ lá”? Nhìn gương mặt trong sáng và đầy vẻ chân thật kia, Hồ nghĩ, không phải thế, không có một nét gì ma mãnh ở người con gái nầy; chắc tại lối nói của người ở thế kỷ nầy như vậy. Hồ nói:
Đúng, người ta quay phim và phỏng vấn tôi. Vậy là cô có vào xem liên mạng, và biết về tôi?

        Leslie nhìn Hồ từ đầu đến chân với đôi mắt ngạc nhiên thích thú:
Ông là người từ thế kỷ trước sống lại thật sao? Có thể như thế được chăng?

Bộ từ hồi nào tới giờ chưa có ai như vậy sao?

Chưa bao giờ. Việc hồi sinh từ tình trạng “ngưng sống” là một điều được nói đến nhiều như một lý thuyết được kiểm chứng đúng và hoàn toàn thực hiện được, chứ chưa thấy xuất hiện bằng xương bằng thịt như vừa rồi cả nước xem ông trên liên mạng. À, tôi tên là Leslie Phạm, còn tên ông tôi có đọc nhưng khó nhớ quá.

Tôi tên là Hồ Thái Lưu. Cứ gọi tôi là Hồ.

        Leslie chìa tay ra cho Hồ nắm, và nói:
Rất hân hạnh được gặp ông. Chúng ta có thể tìm một chỗ ngồi nói chuyện được không? Ông có thì giờ không?

Tôi rất thích như thế.

Tuyệt! Tôi đang điên vì tò mò về ông.

        Và họ đã vào đây, tiệm ăn nầy, buổi trưa hôm đó, và nhiều buổi hẹn hò tiếp theo cũng đã diễn ra tại đây, nơi ưa thích của Leslie, vì nó tương đối kín đáo, và không ồn ào, một cảnh trí hợp với những cuộc hẹn hò tâm tình. Leslie đã biết rõ về Hồ, con bệnh từ thế kỷ trước chờ đến thế kỷ nầy để được cứu chữa. Hồ cũng biết gốc gác của Leslie, một gốc gác khá mù mờ, khá xa xôi trên đất nước nầy, chứ không rõ ràng như của chàng. Nàng chỉ biết là tổ tiên bốn đời của mình từ Việt Nam sang lập nghiệp ở Mỹ cùng thời với cha mẹ Hồ. Cha nàng hiện nay là thế hệ thứ tư của sự nối dõi đó, thuần giống Việt Nam. Mẹ nàng là Việt Nam nhưng có pha trộn độ 10% giòng máu Trung Hoa. Như vậy Leslie có 95% giòng máu Viêt Nam, tạm cho như vậy. Hồ giật mình khi nghĩ rằng tính theo niên kỷ sinh ra, chàng ngang hàng với tổ tiên ba đời của Leslie. Vậy mà bây giờ – sau chín mươi ba năm trong trạng thái không già, không chết -  chàng nhẩm tính mình chỉ lớn hơn Leslie chừng mấy tuổi. Nhưng có điều chàng thấy rõ là tâm hồn chàng không phải là tâm hồn của một người bạn chỉ lớn hơn Leslie dăm ba tuổi đời. Về nội tâm Hồ thấy mình quá già và quá xa cách đối với Leslie. Chàng đã sống, đã chứng kiến thế kỷ trước, và đang chứng kiến thế kỷ nầy, còn Leslie chỉ mới lớn lên ở phần cuối thế kỷ hiện tại thôi. Nhưng có một điều mỉa mai mà Hồ phải nhận là, mặc dù chàng cảm thấy mình quá già về tâm hồn, nhưng không phải quá từng trải. Chẳng hạn, về cuộc sống hiện nay, trong một hạn độ nào đó, chàng đâu đã từng trải bằng Leslie, vì chàng đã sống trong thế kỷ 21 nầy được bao nhiêu ngày đâu. Hồ cô đơn, lạc loài, và lạc hậu trong một thế giới lạ lẫm không sao tả xiết. Chàng thấy mình đang cần học nhiều thứ, học thay đổi lối suy nghĩ về hầu hết sự việc hằng ngày, học hiểu lối sự việc tự nó phải diễn ra như thế nào v.v. Hồ bắt đầu cảm thấy một cách mơ hồ một cái gì bi đát trong tương quan giữa chàng với con người ở thế kỷ nầy. Liệu có cách gì giải quyết nỗi cái khoảng trống ghê gớm giữa mình với xã hội nầy không? May mà còn được một điểm tương đồng: cảm giác của thể xác. Hai người đã đi đến độ thân mật của đôi trai gái. Hồ đã nếm thử nụ hôn đầu tiên với người đàn bà thế kỷ 21. Hồ đã xiết chặt trong vòng tay mình thân thể nóng bỏng của người đàn bà khác thế kỷ. Và Hồ đã có lại cái cảm giác ngây ngất tuyệt vời mà ngày xưa Nga đã đem đến cho chàng. Trong cọ xát của hai thân thể, trong hơi thở kề hơi thở, ánh mắt trong ánh mắt, con người vẫn mãi mãi là con người, một thực thể trừu tượng không biên cương. Hồ bỗng cười thầm với ý nghĩ ngộ nghĩnh: nếu trong nhu cầu hạ đẳng nầy, phản ứng của con người cứ thay đổi theo từng thời gian, “tiền hậu bất nhất”, thì chắc là bất hạnh cho con người, vì như vậy sẽ có lúc nó đi đến chỗ quái đảng, “dị hợm”, hay thú vật!

        Leslie bỗng xuất hiện trên mặt kính đeo mắt của Hồ, tươi cười cất giọng trong trẻo: 
Hồ, em xin lỗi đã trễ. Chiếc xe bị trục trặc dọc đường, và em tấp vào một trạm sửa xe bên đường. Người ta đang sửa, sẽ xong trong mười phút nữa. Khi xe sửa xong em sẽ đến ngay.

Ồ, thảo nào. Anh sắp gọi em thì em lại hiện đến. Không sao, anh sẽ chờ, miễn là em bình yên.

        Hồ gọi người bồi bàn đem cho mình một chai bia để nhấm nháp trong khi chờ Leslie. Một lát, Leslie từ ngoài đẩy cửa bước vào. Đưa mắt nhìn quanh một lượt khắp phòng, nàng thấy ngay Hồ bên chiếc bàn cạnh cửa kính lớn bên trái. Nàng mặc chiếc áo tay ngắn màu đỏ bó sát mgười, vạt áo sau dài hơn vạt trước, phần dưới hình bầu dục, ôm cặp mông tròn trịa. Chiếc quần vải thô xanh đậm, với ống quần khá chật, dừng lại ở khoảng gữa đầu gối và cổ chân nàng, để lộ một phần bắp chân nõn nà, thon thon. Hồ nghĩ, đúng là thời trang trở lại kiểu cách của những năm đầu thập niên 1960. Chàng rời ghế đứng dậy, và Leslie tiến đến, sà vào người chàng. Họ ôm nhau. Người con gái hôn lên môi chàng trai. Hồ thích tưởng tượng đang ôm Nga vào lòng, Nga của chàng ngày xửa ngày xưa. Một điều làm hư trí tưởng tượng của chàng là Leslie cuồng nhiệt quá, sôi nổi quá. Phải chi nàng đằm thắm hơn, dịu dàng hơn thì Hồ đã hưởng trọn một giấc mơ xưa đẹp vô ngần!

        Ngồi đối diện nhau, Hồ nhìn thẳng vào mắt Leslie một hồi lâu. Bỗng dưng hôm nay thắc mắc về tuổi tác của nàng thoáng qua trí chàng. Nàng có vẻ trẻ hơn chàng cả trên chục tuổi, chứ không chỉ dăm ba tuổi. Nhưng Hồ cũng thừa biết, theo như Công Ty hướng dẫn, do kỹ thuật làm chậm tiến trình lão hóa, không thể đoán tuổi con người ngày nay, vì dị biệt quá lớn giữa tuổi tác thực sự và tuổi tác biểu kiến. Chính chàng đã được mục kích điều đó trong một dịp khá tình cờ mới đây. Một người “con gái” mà chàng đoán chỉ ngoài hai mươi, hoá ra đã có tuổi đời là sáu mươi mốt! Nhưng Hồ nghĩ, Leslie không đến nỗi như thế, vì nếu nàng đã thực hiện chận đứng lão hóa, thì cũng chỉ mới cách nay mấy năm thôi. Leslie mỉm cười nhìn lại, cặp mắt nhung đen mở lớn chiếu tỏa một đam mê, một đắm đuối với người đàn ông xa lạ một cách hấp dẫn. Phải, Hồ không xa lạ sao được, một người còn sót lại từ một thế kỷ trước! Đôi hàng lông mày bán nguyệt của Leslie được nối dài ở hai đuôi về phía thái dương bằng hai đường tô vẽ đi lên thay vì đi xuôi chiều xuống để kéo dài đường cong tự nhiên như lối trang điểm ở thế kỷ của Hồ. Phải nói sự tô vẽ không đẹp mắt chút nào, giống như lối trang điểm của những kẻ hề trên sân khấu thời xưa của chàng, Hồ nghĩ thế. Để góp thêm cho sự trang điểm kỳ dị kia là làn môi sơn màu xanh rờn của lá cây.Nhưng Hồ tự nhủ, để đừng quên, rằng mình phải học để thấy cái đẹp của thế kỷ 21. Quan niệm thẩm mỹ của thời nầy không nhất thiết phải giống quan niệm của thời kia. Mái tóc ngắn của chàng lúc mới hồi sinh đã chẳng là một hình ảnh kỳ dị cho mọi người chung quanh là gì? Sau đó chàng đã phải để tóc dài chấm vai cho giống kiểu tóc của đàn ông bây giờ. Nhưng dù có bị tô vẽ cho “khó coi” như chàng đã thấy, Hồ cũng nhận ra một điều mà chàng rất hài lòng là khuôn mặt của Leslie thực chất là một gương mặt đẹp, với những đường nét tuyệt mỹ mà chàng nghĩ thời nào cũng không chối cãi được.

        Trong suốt buổi, họ vừa ăn vừa nói chuyện, hết vấn đề nầy đến địa hạt khác. Nhưng Hồ nhận thấy hai người ít gặp nhau ở những điều mà họ đã đề cập đến. Hồ nghĩ, đó là điều tất nhiên, và chính chàng mới là người phải học hỏi để nhích gần lại với thời đại. Hồ không trách Leslie mà chỉ thấy chua chát vì mình bỗng trở thành một món đồ cổ, tuy đang còn trong tình trạng tốt nhưng công dụng và kiểu cách đã lỗi thời!

        Bỗng nhiên hôm nay Leslie lại nhận xét đến giọng Anh Ngữ của Hồ:
Có phải những người Việt hồi xưa, thời của anh, đều nói tiếng Anh với giọng như vậy không?

Không phải thế đâu. Cái đó còn tùy. Những người đã lớn lên ở Việt Nam - như anh đã hai mươi tuổi mới sang Mỹ – thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Còn lớp người lớn tuổi hơn nữa, như tổ tiên của em chẳng hạn, có thể không nói được một tiếng Anh nào cả. Còn lớp sau anh, đến đất nước nầy lúc còn nhỏ, hoặc sinh ra ở đây, thì họ nói tiếng Anh như em và bao nhiêu người khác hiện nay vậy.

Như vậy anh phải nói được tiếng Việt?

Dĩ nhiên, nói, đọc, và viết.

Em chưa hề nghe âm thanh của tiếng Việt và chưa hề trông thấy chữ viết ra sao.

        Hồ mỉm cười nhìn Leslie và nói một câu tiếng Việt, câu nói “anh vẫn nhớ em.” Hồ đã định nói câu “anh yêu em” nhưng chàng chợt thấy mấy chữ đó là những âm không dấu, và vì thế, không tiêu biểu lắm của ngôn ngữ Việt, nên chàng đã gài hai chữ “vẫn” và “nhớ” cho đủ âm trầm bổng. Leslie giương đôi mắt tròn xoe với vẻ thích thú, cười và hỏi:
Anh đã nói gì thế?

Anh đã nói tiếng Việt đấy, nghĩa của câu đó là: anh vẫn nhớ em.

Anh viết câu đó ra đi.

        Và Hồ đã lật tờ giấy lót trên bàn ăn, viết câu tiếng Việt trên một cách nắn nót, với các dấu chững chạc, đúng vị trí, rồi đưa cho Leslie. Nàng xem xong, liền thốt lên:
Ồ, sao giống Anh Ngữ quá. Chỉ có những dấu nho nhỏ kia là lạ lùng thôi.

        Hồ chẳng buồn giải thích dài dòng vì sao ngôn ngữ Việt lại may mắn có được mẫu tự La Tinh. Chàng chỉ nói:
Ừ, tiếng Việt là thế đấy.

Vậy mà em cứ tưởng nó sẽ giống như chữ Á Rập ngoằn ngoèo, hay chữ Tàu gạch ngang dọc, móc lên, sổ xuống chứ! Em muốn học tiếng Việt.

Anh sẽ dạy cho em. Dễ lắm. Em biết có chỗ nào ở Philadelphia nầy mình có thể mua sách báo Việt Ngữ không?

Em không nghĩ là có một nơi nào như thế ở thành phố nầy. Ông bà Nội Ngoại em, rồi ba má em, không ai nói được tiếng Việt, nói chi đến đọc được sách báo bằng ngôn ngữ đó, thì có sách báo để bán cho ai.

        Câu nói vô tình làm Hồ cảm thấy như một mũi tên đâm vào tim mình. Một sự thật phũ phàng. Không phải đợi đến hôm nay, nghe những lời của Leslie, Hồ mới biết rằng tiếng Việt đã chết, đã theo những lớp người Việt xưa trở về hư vô, về với cát bụi. Tuần trước, từ California trở về sau mấy ngày “tuần du” ở đó chàng đã thấy sự diệt vong bi đát của một văn hóa trên xứ người. Westminster, nơi một thời được gọi là thủ đô của người Việt tỵ nạn, được mệnh danh Sài Gòn Nhỏ, giờ đây vẫn tấp nập, vẫn là thế giới của dân da vàng. Duy có điều, nếu ngày xưa, ở thời của Hồ, người ta thường nói về thành phố ấy rằng đi suốt ngày trong khu phố Bolsa cũng không nghe một câu tiếng Anh, thì bây giờ chàng phải nói rằng có sống một nghìn năm ở đó cũng không bao giờ còn nghe được một câu tiếng Việt nữa!

        Hai người trao đổi nhau một vài câu chuyện nữa rồi chia tay khi bên ngoài đêm đã xuống từ lâu. Tự nhiên Hồ thấy chán nản lạ thường. Leslie thì vẫn quấn quit bên chàng. Nàng hỏi:
Chúng ta có thể gặp nhau ngày mai không?

Ừ, lúc sáu giờ, tại đây.

        Hai người chậm rãi bước ra khỏi quán. Họ hôn từ giã, và Leslie băng qua đường, bước nhanh về hướng Tòa Thị Chính. Hồ uể oải, lững thững đếm bước trên vĩa hè không chủ đích. Chàng chưa muốn về nhà ngay. Đêm đã khuya. Chiếc đồng hồ trên tháp Tòa Thị Chính, dưới chân tượng ông William Penn, chỉ 11 giờ 5 phút. Bốn chiếc đồng hồ hình tròn, nền vàng rực, với hai kim và vòng số màu đen cẩn trên bốn mặt của tòa tháp đã vượt lên nền trời Philadelphia và “thi gan cùng tuế nguyệt” từ trên ba trăm năm trước khi gia đình Hồ đến đây, và trải qua chín mươi ba năm chàng “xa vắng”, nay vẫn tiếp tục đứng sừng sững làm biểu tượng của thành phố mệnh danh cái nôi của Cuộc Cách Mạng Mỹ. Đêm tháng Tư mát lạnh một cảm giác dễ chịu, nhưng lòng Hồ sao rã rời quá chừng. Chàng vẫn đi miên man, không để ý đến mọi sự chung quanh. Vài cô gái ăn sương đứng trên vĩa hè nở những nụ cuời mời mọc với Hồ. Chàng cảm thấy buồn mênh mông, buồn đến tê dại cả tâm hồn. Một ngôn ngữ, một văn hóa mà một lớp người khi ra đi bỏ lại quê hương nghìn trùng xa cách và nghìn lần thân thương đã đem đến gieo trồng trên đất nước hợp chủng nầy, đóng góp một tiểu văn hóa trong vườn văn hóa hiệp chủng Hoa Kỳ, ngày nay ngôn ngữ đó, nền tiểu văn hóa đó đã bị quét sạch vì không người tiếp tay vun trồng, chăm sóc, và gìn giữ. Đành rằng không ai chối cãi được sự già cỗi, sự chết của tế bào sinh vật, sự thối rữa của thân thể bằng xương bằng thịt nầy, sự nằm xuống của một lớp người, nhưng đồng thời không ai chối bỏ được sự di giống, sự kế tục; không ai chối bỏ được những cây con mọc quanh cây cổ thụ, dù cho cây cổ thụ kia đã chết, trơ cành khô đét. Vậy mà sự đồng hóa đã xảy ra, và xảy ra một cách triệt để. Chàng bàng hoàng, não cân như tê liệt. Hồ buồn rầu mà chấp nhận rằng đồng hóa là một sự kiện tất nhiên giữa một văn hóa cục bộ và giòng chảy của văn hóa chính. Trên những khuôn mặt Việt Nam kia – cái nét Việt Nam bao giờ cũng long lanh, gợi cảm đáng yêu – không còn âm thanh trầm bổng của một giọng miền Bắc, miền Trung, hay miền Nam. Hồ nhớ đến đau khổ một khúc hát Việt Nam, Hồ thèm đến chết được một trang báo Việt Ngữ. Ấy thế mà về nhà chàng không có can đảm nghe hết một bản nhạc, hay đọc hết một trang báo Việt Ngữ cũ cha mẹ chàng để lại, vì cứ đối diện với những vết tích kia chàng sẽ chết khô vì u hoài, vì nhớ nhung không bút nào tả xiết. “Lâu rồi, xa lắm rồi, những điều anh nói đó, ngôn ngữ và âm nhạc Việt, em chỉ nghe ông nội em kể lại một đôi lần. Chính ba em cũng chưa hề nghe hay thấy những gì của nền văn hóa kia.” Lời nói của Jennifer, người nữ y tá gốc Việt vang lên trong trí Hồ. Những ngày đó chàng vừa mới hồi sinh, đang nằm điều trị tại một bệnh viện ở Chicago, và Jennifer thấy chàng là người Việt nên có thiện cảm của người đồng chủng, hay đến trò chuyện với chàng. Dĩ nhiên ngôn ngữ đàm thoại là Anh Ngữ vì cô gái Việt đó đâu còn nói được tiếng Việt nữa.

        Hồ gần như rưng rưng nước mắt khi nhớ lại lời tiên đoán của cha chàng ngày xưa: “Qua một thế hệ nữa, tiếng Việt may lắm chỉ còn được nói chút đỉnh, còn sách báo, âm nhạc chắc sẽ biến mất, vì lớp người viết lách và thưởng thức qua đời hết, còn ai giữ gìn và phát triển chúng nữa.” Ba ơi, những điều Ba dự đoán, gần một trăm năm sau đã xảy ra, và còn đi xa hơn mức Ba dự tưởng. Tiếng mẹ đẻ đã tắt lịm trên môi những đứa con mang dòng máu Việt Nam.

        Buồn biết bao, và vô nghĩa biết chừng nào khi một lớp người từng vui sướng và đau khổ, từng hy vọng và hụt hẫng, đã hoài công viết lách mà không để lại được cho các thế hệ sau một chút gì của tim óc mình. Một Rip Van Winkle, hay một Từ Thức, dù có thật hay hoang tưởng, chắc cũng không mang nỗi đau sâu xa như Hồ hôm nay, vì hai nhân vật kia còn có cái may mắn trở về lại với cộng đồng cùng ngôn ngữ với họ; họ không có cái mất mát to lớn là bị tước đoạt cả một ngôn ngữ mẹ đẻ, nhịp cầu cảm thông huyền diệu nhất với đồng loại.

        Hồ đi miên man giữa phố phường mà như đi trong sa mạc. Chàng chẳng thấy người, chẳng thấy nhà cửa. Với nỗi hoang vắng trong lòng, chàng đi như một chiếc bóng không hồn. Chàng chợt nghĩ đến Leslie và phút chia tay vừa rồi. Một nỗi chán chường xâm chiếm tâm hồn Hồ. Chàng thấy mình trong một cảm giác lơ lửng, một cảm giác trống không, một người không một đam mê, không một chút tha thiết, ngay cả với sự sống. Hồ lững thững quay gót đi trở lại chỗ đậu xe, nghĩ đến Leslie, nghĩ đến ngày mai vô định...






                                         


Nguyễn Hưng Quốc - Vài đề nghị nhỏ liên quan đến sách



Nguyễn Hưng Quốc

Trong lãnh vực văn học, chúng ta có thói quen hay cao đàm khoát luận về đủ thứ chuyện lớn lao nhưng tiếc thay chúng ta lại thường lơ là về những thứ cụ thể, gần gũi và cấp thiết nhất. Hậu quả là có những khuyết điểm cứ kéo dài dằng dai mãi trong khi, thực ra, chỉ cần một chút xíu ý thức và quyết tâm, là chúng ta có thể khắc phục được ngay, chẳng cần một "hàn lâm viện" nào cả. Chỉ thử nêu lên một vài trường hợp nhỏ, sơ đẳng, đơn giản và dễ... thực hiện nhất.


Thứ nhất, về nhan đề in ở gáy sách. Trong sách tiếng Anh, nhan đề in ở gáy hướng về trang bìa trước, để, nếu chúng ta đặt sách nằm ngửa trên bàn, hàng chữ ở gáy sẽ thẳng đứng. Trong sách tiếng Pháp, ngược lại, nhan đề ở gáy được in hướng đầu về trang bìa sau, do đó, để nhan đề ở gáy được đứng thẳng, chúng ta phải đặt sách nằm sấp (trang bìa trước úp xuống bàn). Hướng về phía nào cũng được, chỉ là vấn đề thói quen, nhưng điều quan trọng là phải nhất quán: cuốn sách tiếng Anh nào cũng in nhan đề ở gáy giống nhau và cuốn sách tiếng Pháp nào cũng in nhan đề ở gáy giống nhau. Với sách tiếng Việt thì khác. Có cuốn nhan đề ở gáy nằm hướng này, có cuốn nhan đề nằm ở hướng khác. Rất vô chính phủ. Ai chưa hình dung ra tình trạng oái oăm này, xin thử nhìn lên kệ sách của mình (hoặc nếu không có, thì kệ sách Việt ngữ trong thư viện) một lúc thì sẽ thấy mỏi cổ ngay: lúc phải ngoẹo cổ về hướng này, lúc phải ngoẹo cổ về hướng khác để đọc các nhan đề trên gáy sách. Khổ!

Xin đề nghị: các nhà xuất bản (nhất là trong nước) thống nhất in gáy hướng về mặt bìa trước để bà con đỡ mỏi cổ!

Thứ hai, về vị trí của mục lục. Trong sách tiếng Anh, mục lục thường nằm ở trước. Trong sách tiếng Pháp, mục lục nằm sau cùng. Cách đặt mục lục ở những trang đầu tiên của cuốn sách hay tờ báo như cách các nước nói tiếng Anh làm rõ ràng hợp lý và tiện lợi hơn: mục lục là cái người đọc cần đọc đầu tiên để, thứ nhất, ít nhiều hình dung đại ý cuốn sách hay chủ đề của tờ báo; thứ hai, có thể xác định được ngay những gì mình cần đọc trước và những gì mình cần đọc sau. Đối với sách báo tiếng Việt thì đúng là... tự do tuyệt đối, lúc mục lục nằm trước, lúc nó lại nằm sau, khiến cho, khi cần phải tìm một bài viết nào đó trong đống sách báo Việt ngữ, chúng ta thường rất mất công và bực mình: mở cuốn thứ nhất, thấy mục lục nằm ở đầu; đến cuốn thứ hai, lật mấy trang đầu, không thấy, loay hoay một lúc mới phát hiện nó nằm ở trang... cuối; sang cuốn thứ ba, tưởng nó nằm ở trang cuối, té ra, nó lại nhảy lên trang đầu trở lại. Cứ thế. Tìm tài liệu mà cứ như là dò mìn.

Đề nghị: Thống nhất việc đặt mục lục ở những trang đầu. Luôn luôn. Để mở bất cứ tờ báo hay tạp chí hay cuốn sách nào ra là thấy ngay mục lục.

Thứ ba, về việc ghi chú tài liệu, chúng ta rất thường... quên. Hậu quả là, một, khi đọc, chúng ta cứ phân vân không biết tác giả lấy tài liệu từ đâu, có chính xác và đáng tin cậy được hay không; hai, khi đánh giá, chúng ta cứ phân vân không biết một ý tưởng nào đó là phát kiến riêng tác giả hay chỉ là sự vay mượn, tổng hợp từ những nguồn tài liệu khác; ba, nếu chúng ta muốn nghiên cứu thêm về đề tài ấy thì chúng ta cũng chẳng biết nên đọc thêm những gì và bắt đầu từ đâu.

Đề nghị: xin tác giả các bài nghiên cứu ghi giùm "tài liệu tham khảo" để bà con nhờ.
Thứ tư, với sách nghiên cứu, có lẽ nên thêm "Bảng tra cứu" (Index) trong đó ghi số trang của những vấn đề chính hoặc những tác giả được đề cập đến trong công trình để, độc giả, khi cần tìm hiểu về một tác giả hoặc một vấn đề nào đó, chỉ cần lật nhanh đến những trang liên hệ mà thôi. Ví dụ, để tìm những đoạn liên hệ đến Bùi Giáng trong cuốn Văn học miền Nam, tổng quan của Võ Phiến, chúng ta chỉ cần lật phần "Danh biểu" (tức một hình thức của ‘bảng tra cứu’), sẽ thấy ngay những trang mình cần đọc là: 47, 141, 285, v.v.. Rất nhanh. Tiếc là phần lớn sách tiếng Việt lại không có những bảng tra cứu tương tự, do đó, việc tìm tài liệu trở thành một cực hình, rất mất thì giờ, nhiều khi thành vô vọng.

Đề nghị: tất cả các sách nghiên cứu nên thêm phần "bảng tra cứu". Với việc xếp chữ trên máy computer như hiện nay, việc lập bảng tra cứu như thế rất đơn giản và nhanh chóng, ai cũng có thể làm được.

Thứ năm, về chính tả và cách trình bày: Chỗ nào cần in nghiêng? Chỗ nào phải viết hoa? Lúc nào thì dùng dấu một nháy (‘…’), lúc nào thì dùng dấu hai nháy (“…”)? Dấu chấm (.) lúc nào được đặt trước và lúc nào thì được đặt sau dấu ngoặc đơn ()? v.v..

Đề nghị: Nếu các nhà văn, nhà thơ có lơ đễnh thì các chủ bút hay các biên tập viên trong các toà soạn và các nhà xuất bản nên để ý sửa đổi hầu tránh tình trạng "vô chính phủ" đã kéo dài quá lâu này.

Trong sinh hoạt văn học Việt Nam có vô số những khuyết điểm cần khắc phục. Ở đây, tôi chỉ xin nêu vài vấn đề sơ đẳng và cũng dễ thực hiện nhất. Nhân tiện, cũng xin đề nghị Bộ Văn hóa hay Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam nên động não một tí: những chuyện như vậy mà không nghĩ ra và không làm được thì họ tồn tại để làm gì?


Ngô Nguyên Dũng - Bài bảy chữ về một nỗi mất mát


Ngô Nguyên Dũng
(tặng N.Ð.T.) 


Anh đi khắc khoải chiều gom gió
Tháng mười nắng chợt nở trắng bông
Góc phố ngập ngừng về quán trọ
Những tường những vách những trống không

Anh về hong lại ngày bóng mát
Chia nhau mấy thuở một dửng dưng
Quanh co lối cũ bàn chân lạc
Hỏi thăm thời tiết mùa thanh xuân 

Chốn hẹn anh tìm bàn ghế lạ
Ðánh rơi một chiếc đũa mất đôi
Sợi khói tay che hình bóng xoá 
Ra đi đành đoạn lạnh chỗ ngồi

Thôi anh về lại bên kia xứ
Thời gian khép cửa mắt rưng rưng
Ðất trời một cõi xôn xao ấy
Chia tay lặng lẽ ngày mênh mông

(tháng 2.2013)

Sao Biển - MÓN NGON QUẢNG NAM




Sao Biển

Đúng như câu slogan nói, Quảng Nam có hai di sản văn hóa vật thể của nhân loại được tổ chức UNESCO công nhận. Một là khu đền tháp Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên) - biểu trưng của văn minh lúa nước phương Đông, với trên 1.300 năm tuổi. Hai là khu phố cổ Hội An - biểu trưng của phong cách văn hóa Hoa Nam kết hợp cùng văn hóa Nhật Bản và văn hóa Việt Nam, với trên 300 tuổi. Cả hai đều là di sản văn hóa quý giá của nhân loại; được du khách và các nhà nghiên cứu quốc tế rất mến mộ, tôn vinh. Bạn đã bao giờ đi du lịch về Quảng Nam chưa nhỉ? Bên cạnh văn hóa, tôi xin giới thiệu với các bạn thêm về một vài món ăn ngon rất phổ thông và dân dã của miền đất này để các bạn thưởng thức. Những món ăn này cơ bản không có trong các nhà hàng, khách sạn sang trọng. Chúng chỉ có trong những nhà hàng bình dân, vừa phải túi tiền hoặc trong nhà của bà con (nếu các bạn đi du lịch homestay hoặc may mắn được mời ăn đám tiệc ở nhà). Xin mời các bạn... tưởng tượng. 


Ram Quảng Nam. Bà con Nam bộ gọi là chả giò thì bà con quê tôi gọi là ram. Bánh tráng gạo Quảng Nam thoa sơ nước cho mềm mình, cắt vuông vức. Một lát thịt heo ba rọi tươi, một con tôm tươi, một củ hành trắng bỏ vào gói chung trong bánh tráng. Cho cuốn ram vào chảo dầu phộng (người Quảng Nam gọi là dầu phụng) hoặc mỡ, để nhỏ lửa chiên vàng khoảng mươi phút. Chấm nước mắm ớt tỏi cay, ăn với rau sống. Nước mắm Quảng Nam làm theo công thức: giã nhuyễn một củ tỏi với hai trái ớt sừng trâu xanh, vắt một lát chanh, cho vào hai muỗng nước mắm nhỉ. Cuốn ram thơm phức, nước mắm cay sè, bảo đảm rất vinh dự cái miệng. Bạn nào ăn không thấy ngon, cứ kêu Sao Biển mà cự!

Nây heo nướng. Trong đám giỗ, hên lắm mới được ăn món này. Con heo cỏ Quảng Nam nuôi sáu tháng, chỉ nặng... 30 ký giác. Mổ lấy phần nây - thịt từ ngực đến bụng con heo, được một miếng thịt ba rọi. Người ta rửa sạch nây; giã tiêu xanh, ớt, tỏi, lá gừng, lá chanh, củ nghệ... xoa vào bên trong. Nây heo được cuộn tròn theo một khúc thân cây chuối, siết dây kẽm, nướng trên than hồng. Nướng đến đâu, phết mật ong lên da nây tới đó. Da nây trên lửa ngả sang màu hổ phách. Chấm nước mắm ớt tỏi, ăn khơi khơi với rau sống và bánh tráng, không có món thịt quay nào bằng. Heo sữa trong nhà hàng, xin lỗi, không bằng nây heo nướng.

Canh hến. Bạn về Hội An, Duy Xuyên buổi sáng, nhớ mua theo... một cái bánh tráng nướng. Con hến ở hạ du sông Thu và sông Ly Ly chỉ nhỏ hơn cái đầu mút đũa, được bà con nấu vừa xong là gánh bán lưu động. Bạn đừng vào hàng quán, cứ lựa một bóng cây đứng đó, thế nào bà con cũng đi ngang qua đó bán. Mua một tô canh hến vài chục ngàn đồng, bạn có được hến ở phía dưới, phía trên là nước hến với hành xanh, ớt xanh. Nên ngồi bên đường, chống một chân lên mà ăn để thưởng thức trọn vẹn cái hồn dân dã của nước ngọt, hến thơm. Nếu có được nửa chén cơm nguội thì tuyệt nhưng chắc bạn khó mua ra cơm nguội. Không ngon, kêu Sao Biển mà cự!

Cá dìa nướng. Bạn về chơi Tam Kỳ, chọn một nhà hàng bình dân, kêu món này. Con cá dìa sông Trường Giang khoảng 400 gr, hấp thụ âm dương nhị khí, thịt săn chắc và thơm, đã đạt đến mức lô hỏa thuần thanh. Nhà hàng làm sạch cá dìa, nướng trên than hồng. Bạn chỉ cần gạt bỏ da cá, lấy thịt cá trắng tươi cuốn với cải bẹ xanh và bánh tráng, chấm nước mắm tỏi ớt. Nếu không có cá dìa, bạn hãy gọi tạm cá căng hay cá hanh, cá hồng. Tuy nhiên, ăn qua ba con cá này dù tươi ngon đi nữa, khí tượng đã suy bại hết ba phần (so với cá dìa). Bảo đảm cá dìa nướng ngon tuyệt.

Cá khế kho dưa. Ba tiệm cơm ở Tam Kỳ có món này. Xắt một quả dưa gang muối, vắt sạch nước, kho với vài lát cá khế. Người Quảng Nam kho cá giản dị, không dùng nước màu như bà con Nam bộ. Cá ướp nước mắm ngon, tiêu Tiên Phước, bột ngọt, tí muối, vài trái ớt, một chén nước, bỏ chung dưa vào kho trong 15 phút, để lửa liu riu. Nếu không có cá khế, bạn hãy gọi cá thu hoặc cá ngứa. Khí tượng cá thu và cá ngứa không bằng cá khế. Món này không đủ cơm mà ăn.

Sò điệp, cá cu và cháo hàu. Nếu các bạn đi chơi biển Cửa Đại (Hội An), Tam Thanh, Tam Thăng (Tam Kỳ) hay Biển Rạng (Núi Thành), xin mời vào các hàng quán bình dân. Các bạn gọi cho ba món: sò điệp nướng, cá cu hấp và mỗi người một chén cháo hàu. Sò điệp nướng trên than hồng, thoa mỡ hành thơm phức, ngọt lịm. Cá cu cuốn bánh tráng, cải bẹ xanh. Tên con cá này tuy tục tĩu (như cá chim!) nhưng phẩm chất thì sáng rực rỡ; thơm, ngọt và bùi. Sau cùng, bạn chơi một chén cháo hàu. Bảo đảm đêm ấy, nhất dạ tam giao. Ăn ba món này mát đến ba năm khỏi đội nón (nhưng nhớ đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy).

Các món trên là món đồng bằng. Bây giờ, xin mời các bạn ăn món nguồn, tức là các món ngon vùng rừng núi.

Gà Đèo Le. Các bạn lên Đèo Le (Quế Sơn) mà không thưởng thức món gà ở đây là một thiếu sót nghiêm trọng trong sự nghiệp ăn uống. Con gà đang chạy chơi trên núi, bị chủ gọi về, nhử bắt làm thịt! Nếu các bạn đi bốn người, xin kêu một con luộc, một con nướng. Gà làm xong, chỉ nặng khoảng 300 gr. Người ta ướp lá chanh, lá sả; nướng con gà trên than hồng và dùng kéo cắt ra từng miếng. Gà luộc cũng vậy. Bạn phải dùng tay cầm từng miếng thịt chấm muối ớt, ăn với rau răm. “Lái xe, vi tính, thịt gà/ Gặp ba món ấy đều là dùng tay” - ca dao đời mới Quảng Nam nói như vậy. Ăn xong, mỗi bạn còn được một chén cháo nấu với lòng gà nhỏ xíu.

Cá niên nướng. Loại cá này tướng mạo gần giống cá đối; có nhiều ở Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn, Nông Sơn (năm huyện ven đầu nguồn sông Thu). Cá niên tươi rói, cấm không làm gì hết, kính cẩn nướng trên than hồng. Cá chín thơm phức, mùi thơm lan tỏa bảy xã cũng nghe. Cá nóng hổi, bóc ra chấm muối ớt. Ăn luôn cả bộ ruột nghe vị đăng đắng. Ghi chú: Bạn có thể đi ghe, mua cá niên nướng giữa trời.

Tôm đá rang mỡ tỏi. Ở các huyện miền núi lưu vực sông Thu, sông Tiên và sông Tranh, có loại tôm sống trong hốc đá, gọi là tôm đá. Nó thuộc giống tôm càng nhưng con nào cũng chỉ nhỏ bằng ngón tay út và đều trân một cỡ. Bà con bắt nó bằng vợt hoặc bằng tay. Tôm nhảy soi sói, cấm làm gì hết, bỏ vào chảo mỡ nóng khử tỏi, rang lên, thêm chút muối, chút bột ngọt. Tôm chín, da đỏ au như da cà chua chín. Bạn cứ... bốc ăn khơi khơi, cấm dùng thêm với món gì khác ngoài rau thơm. Vỏ tôm giòn, thịt tôm ngọt và thơm.

Cá bống Phú Ninh chiên xù. Đây là cá bống hồ Phú Ninh (huyện Phú Ninh) được bà con đánh bắt, nhỏ cỡ bằng ngón tay út. Cấm động đậy đến thân thể con cá bống. Bắc chảo mỡ nóng, khử ớt tỏi, cho vào chiên ngay, nêm muối, bột ngọt. Cá bống vàng ruộm, chấm nước mắm, ăn cơm. Cả huyện Phú Ninh, chỉ có một nhà hàng không tên bán món này.

Trên đây là những món ăn dân dã, ngon, bổ rẻ, an toàn vệ sinh mười phần. Theo sự... nghiên cứu của tôi, Tần Thủy Hoàng đế, Lưu Bang, Lyndon Johnson, Roosevelt... chưa hề được ăn các món này. Ăn được ba bốn món trong danh mục trên, bảo đảm bạn sẽ thấy cuộc đời thật ngon lành, xin hẹn ngày tái ngộ Quảng Nam ăn nữa!


Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

BS Hồ Hải - NĂM MƯƠI NĂM VÀ SÁU MƯƠI BẢY NĂM




Blog BS Hồ Hải

Năm mươi năm trước vào ngày 17/12/1963 ông Phát Chánh Huy - Park Chung Hee - tuyên bố là tổng thống của Hàn Quốc, với ngân khố trống rổng, sau cuộc nội chiến Nam Bắc Hàn, vừa mới kết thúc - 1953 - và phân chia ranh giới 2 miền ở vĩ tuyến 38. Khi ấy con gái của ông mới 11 tuổi.


Năm mươi năm sau, cô con gái 11 tuổi của ông khi ấy, bà Phát Cận Huệ - Park Geun Hye - cách đây 2 hôm, 25/02/2013 ngồi vào chiếc ghế nóng của ông ngày ấy, nhưng Hàn Quốc đã là một cường quốc châu Á, có nền kinh tế đứng thứ 12 của thế giới.

Năm mươi năm là một quãng thời gian hơn nửa đời người, nó đủ làm cho một đứa trẻ trở nên người bản lĩnh và chín chắn. Năm mươi năm nó cũng đủ làm một con người tham sống, sợ chết lúc trẻ trở thành một con người xem cái chết nhẹ tự lông hồng. Nhưng với lịch sử, nhiều khi chỉ là một dòng ngắn ngủi, để giáo khoa thư lưu lại sử sách cho thế hệ mai sau.

Năm mươi năm, quá ngắn khi nhìn một con người, hay một đất nước biết rũ bùn vươn thành một thế lực của toàn cầu. Nhưng năm mươi năm cũng lại là quá dài cho một dân tộc vẫn còn ngụp lặn trong hố đen của cùng khổ, vì các chính khách lầm đường lạc lối triền miên.

Năm mươi năm, hiến pháp Hàn Quốc chỉ thay đổi 1 lần vào năm 1987 của thời tổng thống Roh Tae Woo từ khi nó ra đời vào ngày 17/7/1948. Sau 39 năm là một nhà nước quân phiệt, nền kinh tế hùng cường bật dậy buộc hiến pháp Hàn Quốc phải thay đổi để phù hợp với tình hình, và biến nó trở thành một quốc gia tự do, dân chủ như hôm nay. Điều thay đổi quan trọng nhất của hiến pháp Hàn Quốc là, "Tất cả công dân đều được đảm bảo giá trị, nhân phẩm con người và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước có nhiệm vụ xác định, đảm bảo quyền cơ bản và không thể xâm phạm của cá nhân" trong điều 10. Từ đó, nhân dân Hàn Quốc được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống của mình.

Năm mươi năm đủ để một Hàn Quốc có nền văn hóa trọng nam khinh nữ đến cực đoan - do ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa - có được vị nữ lãnh tụ đầu tiên cho một Hàn Quốc dân chủ và tự do đến mọi nhà.

Cũng Nam Bắc phân tranh, cũng nồi da nấu thịt tương tàn. Đất nước Đại Hàn cùng thảm kịch như Việt Nam, nhưng không "độc lập và thống nhất" như Việt Nam.

Cũng năm mươi năm ấy - mà còn hơn thế nữa, đến 67 năm - nước Việt có đến 5 hiến pháp khác nhau với 4 lần thay đổi, 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Thay đổi nhiều, nhưng tập đoàn cầm quyền chưa bao giờ sử dụng nó để điều hành và tuân thủ nó.

Thay đổi nhiều, nhưng người dân ngày càng teo tóp dần quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc như tuyên ngôn độc lập đã được sao chép từ Hoa Kỳ và Pháp.

Thay đổi nhiều, nhưng thay đổi vì tập đoàn cầm quyền cần nó để hợp thức hóa quyền lực của mình.

Thay đổi nhiều, nhưng đất nước cứ thụt lùi, trong khi thế giới đang tiến về phía trước, đến nay, ngay cả Cambodia nước ta cũng không thể sánh bằng.

Và tất cả những điều trên đã được ông đảng trưởng tổng kết rất ngắn gọn, đơn giản và xúc tích theo kiểu mà Mao Trạch Đông đã dùng trong đại cách mạng văn hóa ở Trung Hoa: Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng, để tiêu diệt đồng đảng và bảo vệ ngai vàng.

Năm mươi năm là khoảng thời gian đủ để khoảng 5% những đứa trẻ sinh ra về với đất, nhưng sáu mươi bảy năm thì đủ thời gian để hơn 50% những đứa trẻ ấy từ giã cõi đời. Không lẽ, để cho một quốc gia mà ở đó dân giàu, nước mạnh, người dân được hưởng quyền tối thiểu làm người khó đến mức đó sao?

Asia Clinic, 8h09' ngày thứ Tư, 27/02/2013



Ngô Nhân Dụng - Bốn không hay không Bốn?



Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Hội đồng Giám mục Việt Nam chính thức góp ý kiến vào việc sửa đổi hiến pháp, và không ngần ngại nêu ý kiến phải bãi bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản, phải thiết lập một thể chế trong đó ba quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp phải được bảo đảm minh bạch bằng luật lệ. 


Tuy các vị giám mục thường không can dự vào những việc chính trị đảng phái, nhưng bản “Nhận định và Góp ý” của họ rõ ràng nói ngược lại với lời tuyên bố gần đây của ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Cộng sản. Trong chủ trương “4 không” của ông Trọng, ông nhấn mạnh là không thể chấp nhận bỏ độc quyền lãnh đạo ghi điều 4 hiến pháp; không chấp nhận đa đảng; cương quyết bác bỏ khái niệm tam quyền phân lập; và chống đề nghị đặt quân đội ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản. Dân Hà Nội bàn nhau rằng “Tuyên ngôn Bốn Không” của ông Trọng là phản ứng bất đắc dĩ, vì những tay đầu đảng đang lo sợ trước “Phong trào Không Bốn,” của những người dân đòi xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp. 

Cuộc đấu tranh giữa Bốn Không (viết tắt 40) và Không Bốn (viết tắt 04) đã bắt đầu. Dân Việt bây giờ có thể kín đáo bày tỏ thái độ bằng dấu hiệu: Tôi 04, anh 40 hay sao? Không, Tôi cũng 04! Những chiếc áo sơ mi với dấu hiệu 04 sẽ từ từ xuất hiện.

Ông Nguyễn Phú Trọng đánh phủ đầu những người chống chủ trương 4 không, kết tội họ là “suy thoái” về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã phản ứng ngay lập tức, nói thẳng rằng ông Trọng không có quyền nhân danh tất cả mọi người dân Việt Nam để kết luận tình trạng chung là suy thoái trên ba mặt đó. Nếu có suy thoái, thì chỉ có các đảng viên cộng sản của ông Trọng suy thoái thôi! 

Dấu hiệu suy thoái nặng nề nhất về tư tưởng, chính trị và đạo đức đã hiện ra trong chủ trương 40 (bốn không) của ông Nguyễn Phú Trọng; khi ông dám nói rằng những người đòi tam quyền phân lập là suy thoái. Lời tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với các bằng chứng lịch sử. Loài người, từ khi quy tục thành quốc gia, ngay lúc còn “ăn lông, ở lỗ,” thực ra người ta đã sống trong tình trạng tập trung quyền hành hàng mấy chục ngàn năm. Vì họ không biết cách sống nào khác. Lúc mới sinh ra đã thấy mọi quyền quyết định trong xã hội, trong quốc gia đều nằm trong tay một người hay một gia đình. Dù họ gọi chế độ của họ Đế quốc hay là Cộng Hòa, quyền bính vẫn tập trung tay một nhóm người được ưu đãi. 

Chỉ trong vài ngàn năm gần đây mới có những định chế nằm bên cạnh, có khả năng tranh giành ảnh hưởng với các nhóm độc quyền chính trị. Thí dụ, có những tổ chức tôn giáo tự coi mình độc lập với các ông hoàng, bà chúa. Hoặc khi các nhà quý tộc dám họp nhau lại đòi quyền hành của ông vua phải có giới hạn, như bản Magna Carta, Đại Hiến Chương ở nước Anh vào năm 1215. Tiến xa một bước nữa, từ thế kỷ 18 loài người đã biết chính thức thiếp lập các định chế độc lập và có thể kiểm soát lẫn nhau. Ba định chế thi hành ba thứ quyền: hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Từ đó tới nay, các dân tộc đều cố gắng tiến tới thực hiện việc phân chia ba thứ quyền hành như vậy. Những nước thực hiện “tam quyền phân lập” sớm nhất cũng là những nước tiến bộ nhất về kinh tế, mà người dân nước họ thường sống tự do và hạnh phúc hơn những nước độc tài chuyên chế.

Cho nên, chủ trương Bốn Không bác bỏ“tam quyền phân lập” là một ý kiến thực sự thoái hóa, hoàn toàn đi ngược với lịch sử tiến hóa của nhân loại. Giống như chủ trương đưa cả nước trở lại sống như vào thời Trung Cổ. Như vậy mà ông Nguyễn Phú Trọng lại bảo họ là suy thoái thì lạ thật!

Người Việt Nam không đến ai cũng nỗi lú như vậy. Nước ta đã sống dưới chế độ chuyên chế trong vài ngàn năm, nhưng ngay từ khi được biết có những tiến bộ của loài người thì dân Việt đã thấy muốn quốc gia tiến bộ cần phải có “tam quyền phân lập.”

Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã chủ trương phân biệt ba quyền. Trong một di cảo có lẽ viết trong năm 1940, năm chót trong cuộc đời hơn 73 tuổi, Phan Bội Châu cho thấy truyền thống văn hóa Á Đông đã có truyền thống đó, đặc biệt là quyền tư pháp phải độc lập với quyền hành pháp. Ngay trong Nho Giáo đã chấp nhận điều này. Cụ Phan kể lại một cuộc đối thoại giữa Mạnh Tử với học trò.

Người học trò Đào Ứng đem chuyện Vua Thuấn ra để hỏi ý thầy. Ông vua huyền thoại này được coi là mẫu mực của các ông vua tốt; còn cha vua là Cổ Tẩu thì mang tiếng xấu. Đào Ứng hỏi rằng: Nếu trong lúc Thuấn làm vua, Cao Dao làm sĩ sư (vị quan tư pháp cao nhất), mà Cổ Tẩu vô cớ giết người; thì Cao Dao phải xử trí ra sao? Mạnh Tử trả lời rằng: “Bắt ngay chứ còn gì nữa?” (Chấp chi nhi dĩ hĩ). Đào Ứng hỏi: “Thế Thuấn không ngăn cản hay sao?” Mạnh Tử: “Thuấn lấy cớ gì mà cấm được?”

Đào Ứng vẫn thắc mắc: Vậy thì Thuấn phải làm gì? Mạnh Tử cho là vua Thuấn nên bỏ ngôi vua, cõng cha đi trốn, nếu muốn giữ đạo hiếu.

Kể lại các câu đối thoại đó, Phan Bội Châu nhận xét: “Thuấn không dám ỷ quyền thiên tử mà xâm phạm đến quyền tòa án… Mà trong mắt Cao Dao cũng vậy, … theo luật pháp giết người phải bắt, cha thiên tử giết người cũng phải bắt.” Phan Bội Châu kết luận: “Thầy Mạnh chủ trương tam quyền phân lập.”

Bây giờ chúng ta đều hiểu tam quyền phân lập nghĩa là gì. Thời 1940 Phan Bội Châu phải giải thích với đồng bào: “Tam quyền là những gì? Tức là lập pháp (lập ra pháp luật); tư pháp (nghiêm giữ pháp luật); hành pháp (thi hành những việc quốc dân giao cho làm. Ba quyền đó không được xâm phạm lẫn nhau. Đọc câu ‘Thuấn ố đắc nhi cấm chi?’ (Thuấn lấy cớ gì mà cấm được) chẳng phải tinh thần của ‘tam quyền phân lập’ đó ru? Còn như quyền lập pháp là thuộc về quốc dân, l

Nếu Phan Bội Châu sống vào thế kỷ 21, vào năm 2013, ở nước Việt Nam bị đặt dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản thì chắc cụ đã bị ông tổng bí thư chê là “suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức.” Nhưng nếu phải phê phán thì giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Phú Trọng, thì chắc mọi người Việt Nam ai cũng biết người nào mới lú.

Nếu sống vào thế kỷ 21, chắc chắn Phan Bội Châu sẽ lên tiêng phản đối ngay chủ trương Bốn Không của đảng Cộng sản. Bởi vì cụ yêu thương người Việt Nam, suốt đời tranh đấu đòi quyền tự do, độc lập cho dân tộc. Không những đề cao tam quyền phân lập, chắc chắn Phan Bội Châu còn đòi phải bãi bỏ độc quyền cai trị cho bất cứ một đảng phái nào. Phan Bội Châu không bao giờ coi đảng của mình có quyền đứng trên đầu người dân. Sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở Sa Diện năm 1924, dù dư luận cả nước hoan hô, Phan Bội Châu vẫn viết ngay một bài trần tình để giải thích tại sao Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà cụ sáng lập ở hải ngoại, lại chủ trương vụ ném bom này. Chống chế độ độc quyền độc đảng, chắc chắn Phan Bội Châu cũng phản đối đặt quân đội dưới sự kiểm soát của bất cứ đảng phái chính trị nào. Có thể đoán, cụ Phan sẽ phản ứng trước chủ trương Bốn Không của Nguyễn Phú Trọng giống hệt như phản ứng của Nguyễn Đắc Kiên.
Người Việt Nam tranh đấu đòi tự do dân chủ có thể tin mình đang nối tiếp sự nghiệp tranh đấu của Phan Bội Châu.



Những ngày ở Hàm Tân với Bác Lý Trường Trân (1924 – 2013)




Đoàn Thanh Liêm
Bài viết để tưởng nhớ một bậc Huynh trưởng vừa mới ra đi


Vào tiết Trung thu năm 1992, Thầy Đạt – Hòa Thượng Thích Huệ Đăng và tôi là hai bạn tù chính trị cùng với cỡ 30 tù hình sự khác được chở từ trại giam Chí Hòa đến trại Z30D tại khu Rừng Lá Hàm Tân, gần với thị xã Phan Thiết. Chúng tôi được phân bố tới Phân trại K2 tọa lạc tại khu Căn cứ 6 Pháo Binh thời trước 1975.

Hồi đó tại K2 có đến cả ngàn tù nhân, trong đó có chừng 40 người là tù chính trị được phân bố trong nhiều đội lao động khác nhau. Sau một thời gian ổn định sinh họat nơi môi trường mới lạ này, tôi đã lần hồi liên lạc được với các bạn tù chính trị đã ở đây từ nhiều năm tháng trước.

Hai người cao tuổi nhất là Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng án chung thân và Dân biểu Lý Trường Trân án 15 năm. Bác Sủng thì quá yếu, thường được cho ở nhà để phụ lo dọn dẹp vệ sinh quanh phòng. Còn bác Trân lúc đó cỡ gần 70 tuổi, được bố trí chăm sóc các mảnh vườn hoa xung quanh trại. Vào những ngày nghỉ lễ, tôi thường tìm cách đến thăm hỏi chuyện trò với các bác. Vào cuối năm 1993, thì do bị đau bệnh nhiều, nên bác Sủng được cho đi chữa bệnh ở Saigon. Và vào đầu năm 1994, thì bác Trân và một số chừng 15 người tù nhân lớn tuổi chúng tôi cỡ ngòai 60 được chuyển tới một khu riêng biệt do cán bộ y tế là bác sĩ Nguyễn Trọng Cống trông coi. Tại đây, chúng tôi không còn phải đi làm việc vất vả mỗi ngày như hồi còn ở trong các đội lao động trước đây nữa.

 Thành ra, kể từ tháng 4 năm 1994 tôi được ở chung phòng với bác Trân đến 18 tháng cho đến khi bác được trả tự do vào tháng 10 năm 1995. Đối với tôi, thì rõ ràng đây là cái duyên tốt lành khiến cho mình có nhiều thời gian chuyện trò trao đổi tâm sự thân tình với một bậc Huynh trưởng thật đáng mến này.

Trước 1975, bác Lý Trường Trân là một Dân biểu Hạ Nghị Viện, do đó mà phải đi tù “cải tạo” mất đến 7 năm. Nhưng sau khi được thả về nhà ít lâu, thì vào cuối thập niên 1980 bác Trân bị bắt lại lần nữa và bị xử án tới 15 năm. Trong vụ án chính trị này, lại có cả Bác sĩ Trần Thắng Thức cũng là cựu Dân biểu mà bị tù lần nữa như bác Trân vậy.

Bác Trân người trầm tĩnh, ít nói nhưng có đời sống nội tâm thật sâu sắc. Về sinh họat tôn giáo, bác là một Phật tử thuần thành và trong nhà có cả một người con trai xuất gia đi tu từ hồi còn trẻ tuổi nữa. Với tinh thần cởi mở thông thoáng, bác có mối giao tiếp khá thuận thảo với các tu sĩ, chức sắc thuộc các Tôn giáo bạn như Công giáo, Cao Đài, Tin Lành ở địa phương miền Trung.

 Về sinh họat chính trị tại Quốc Hội, bác Trân cùng với Luật sư Trần Văn Tuyên là hai trong số những nhân vật sáng giá nhất trong Khối Dân tộc Xã hội - khác hẳn với Khối Dân biểu thân cận với Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tại nhà tù Hàm Tân, các trại viên dù là tù chính trị hay tù hình sự, thì ai nấy đều tỏ vẻ kính trọng đối với ông lão tuy cao tuổi mà sức khỏe vẫn còn dẻo dai tráng kiện này. Mà cả đến những cán bộ cai tù, thì cũng không một ai mà lại có thái độ coi thường hay bất nhã đối với người tù luôn giữ được sự mực thước phải chăng như bác Trân.

 Dĩ nhiên là trong sự giao tiếp chuyện trò giữa những bạn tù chính trị với nhau, thì chúng tôi luôn có sự cảnh giác đề phòng chuyện theo dõi nhòm ngó thường xuyên của cán bộ – thông qua những người tù được bố trí là tai mắt cho Ban Giám thị của trại mà các trại viên gọi đó là những “antennes”. Vì thế mà chúng tôi cũng tìm cách kiềm chế chuyện phát ngôn quá bộc trực, nhất là trước những vấn đề chính trị thời sự được coi là “nhạy cảm”.

 Trong chỗ riêng tư, bác Trân có lần kể cho tôi nghe về nhân vật Lương Vĩnh Thuật là một chức sắc rất có uy tín của Đạo Cao Đài ở miền Trung. Bác cũng nói về việc Việt Minh Cộng sản tàn sát đến cả ngàn tín đồ Cao Đài ở miệt Quảng Ngãi Bình Định vào giữa thập niên 1940. Ông cũng kể về chuyện hận thù ân óan giữa người cộng sản đối với các đảng viên như Việt Quốc, Đại Việt và cho rằng đó là điều thật bất hạnh cho dân tộc mình, vì cái vết thương tàn bạo hiểm ác đó giữa người đồng bào ruột thịt với nhau thì thật là khó mà có thể dễ dàng mau chóng hàn gắn lại được.

Là người đã từng làm việc lâu năm trong lãnh vực phát triển nông nghiệp, bác Trân truyền đạt cho chúng tôi cái kinh nghiệm trồng rau đậu để cải thiện bữa ăn cho các tù nhân trong trại. Bác chỉ dẫn cách thức tăng thêm hiệu quả của phân bón bằng việc đem trộn lẫn những thứ rác mục, lá cây, phân trâu bò và đem ủ nhiều ngày trong các ụ nhỏ được che kín ở góc vườn – nhờ vậy mà có được một số lượng phân hữu cơ với mùn tơi, xốp dễ dàng cho lớp cây non hấp thụ. Lọai phân hữu cơ này trong tiếng Anh, thì người ta gọi là “compost”. Nhờ làm công việc ngòai trời tương đối nhẹ nhàng với kỹ thuật thích hợp, nên người tù cao tuổi như chúng tôi hồi đó ai nấy đều có được niềm vui với kết quả là sức khỏe thể chất ổn định và sự bình tĩnh trầm lặng trong tâm hồn.

Bác Trân còn kể lại với tôi rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ trong suốt cuộc đời họat động sôi nổi của mình qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi suốt từ thời kỳ dưới chế độ thực dân Pháp trước năm 1945 và sau này dưới nhiều chế độ của Việt minh cộng sản, của chế độ quốc gia do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo và sau này dưới chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Rồi sau cùng là dưới chế độ Cộng sản sau năm 1975. 

Bác nói ; “Mình sống sót an lành được qua bao nhiêu gian truân khói lửa suốt trên 50 năm nay, thì quả đó là một điều may mắn, do Trời Phật độ trì và do âm đức của ông bà để lại. Do vậy, mà cần phải biết trân quý đối với cuộc sống của con người trên mảnh đất quê hương này...”

Bác Trân còn kể lại việc gặp gỡ và kết thân với nhà văn nổi tiếng Kim Dung ở Đài Loan trong dịp ông ghé thăm Saigon vào đầu thập niên 1970. Kim Dung là tác giả của những cuốn tiểu thuyết được nhiều người say mê theo dõi như “Cô Gái Đồ Long”, “Lục Mạch Thần Kiếm”, “Tiếu Ngạo Giang Hồ” v.v... Bác nói : “Ông Kim Dung cũng thuộc dòng họ Lý như tôi, ông lại nói tiếng Pháp trôi chảy, nên chúng tôi chuyện trò với nhau thật là tương đắc...”

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi lại là : Vào ngày nghỉ 2 tháng Chín năm 1993, một số tù nhân chính trị chúng tôi có chụp chung một vài tấm ảnh kỷ niệm, trong đó có hình của bác Trân, Thầy Đạt và các bạn Đoàn Viết Hoạt, Phạm Đức Khâm, Châu Sơn Nguyễn Văn Thuận, Vương Đức Lệ...

*   *   * 

Nay thì bác Lý Trường Trân đã ra đi trong sự luyến tiếc của bao nhiêu thân nhân và bằng hữu. Chắc chắn là ở phía bên kia thế giới, Bác đã gặp lại những chiến hữu thân thiết của mình, điển hình như Luật sư Trần Văn Tuyên, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Hòa Thượng Thích Huệ Đăng (Thầy Đạt), Nhà thơ Vương Đức Lệ v.v…

Xin vĩnh biệt người Huynh trưởng của các bạn tù nhân chính trị ở Hàm Tân vào những năm đầu thập niên 1990.

Xin cầu chúc Bác luôn thanh thản an nhiên nơi Cõi Vĩnh Hằng.

Costa Mesa California, Tháng Hai 2013
Đoàn Thanh Liêm