Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Võ Thị Điềm Đạm - TÌNH XUÂN CUỐI ĐỜI



Võ Thị Điềm Đạm

- Con coi, chú Út về già bày đặt làm thơ, in thành sách nữa chớ.

- Hai tập thơ!  Kỳ rồi con về sao không nghe nói gì hết?

- Ổng trở chứng, trong vòng chưa tới hai năm chớ mấy.  

- Chưa tới hai năm mà cho xuất bản hai tập thơ!  Ha… ha… thần đồng!  Chuyến này ta quyết làm thơ - Trả nợ công danh trả nợ đời.  Con phải dành thì giờ đọc mới được.  Thím cho con hết hai quyển này nghen.


- Ờ thì con đem về bên đó cho tụi nó đọc.  Để chờ chú Út về, chú viết tặng mỗi đứa.

- Con không đem về Pháp được nhiều đâu, con định mua một số sách nữa, thế nào cũng quá ký.  Hay là chú đề tặng hết mấy đứa cháu, tụi con chuyền tay nhau đọc.

- Ờ, thì con cũng phải lại thăm chú thím lần nữa để chính tay chú viết tặng tụi con bên đó.

- Dạ… Lúc này sách báo cho in dễ dàng không thím?

- Thì cũng kiểm duyệt từng câu từng hàng, bắt bỏ câu này, sửa chữ kia.  Em Thanh lo hết, chịu khó chầu chực chờ tụi nó duyệt, hết ban nhỏ tới ngành lớn, không tặng thì biếu.  In được quyển đầu, quen nước quen cái, cứ vậy mà tiếp tục in quyển sau.

- Sách in đẹp quá.  Tốn nhiều không thím?  Bán được không thím?

- Thì cũng tốn.  Bán gì mà bán, toàn để tặng không thôi.  Mà kệ!  Chú con sống không bao lâu nữa, cho ổng thỏa nguyện.  Hình như thơ văn tạo được nguồn sống mới cho ổng hay sao đó.  Thím thấy lúc này coi bộ chú Út tụi con khỏe ra, chịu khó tập thể dục, đi bộ mỗi buổi sáng.  Ông này chướng lắm, đi bộ để tập thể dục mà bữa nào cũng áo bỏ vô quần, chải tóc chải tai như hồi còn đi làm.

- Hi… hi… giày da láng cón?  

- He… he… may mà mang giày bata.  Con biết mà, tánh chú con ra đường là áo quần tươm tất.

- Hi… hi… ngay cả khi đi bộ tập thể dục?  Con tưởng kỳ này về không còn gặp được chú nữa.  Con nghe má nói chú đã mua phần mả ở chùa Khánh Tường, cùng chỗ ba con.

- Thì thím cũng vậy.  Thím tưởng chú tụi con không qua nổi cái tiệc thất tuần vợ con dự tính cho.  Vậy mà, tính ra là hai cái Tết cũng không quật được ổng.  Chú tụi con vừa tái khám, coi không thay đổi gì nhiều.  Lạ thiệt!

- Tụi con bên đó cũng… hi… hi… trông điện thoại bên này.  Tụi con tính rồi đó chớ, thế nào cũng có một người đại diện về… về… hi… hi… Cầu trời!

- Thím cũng cầu Trời niệm Phật cho ổng sống thêm vài năm, mong sao Út Thanh chồng con đâu đó đặng ổng yên lòng mà nhắm mắt.  Trời biểu đâu nghe vậy.  Trời cho chú sống được ngày nào hay ngày nấy.

- Chú Út hay thiệt há thím.  Ung thư đến thời kỳ cuối mà kéo dài được như vầy, kể ra chú cũng dai đó chớ.

- Thím nghe người ta chỉ biểu, đi tuốt Dĩ An, Lái Thiêu, Hốc Môn… không cần biết lạ quen, vô vườn, tìm xin lá đu đủ, đủ thứ rễ cây, nấu nước cho chú uống, uống toàn nước này.  Thêm nữa là chú siêng tập tập thể dục… và… he… he… nguồn thơ nuôi sống.  Con đọc mấy bài thơ trong quyển Tình Xuân Cuối Đời này, coi thấy gì không nha.

- Ha a… lời tặng sao mà tình quá vậy.  “Trao về em, thương yêu cuối đời”.  Không được, phải đề là “Trao về em Ngọc Xuân, thương yêu hai phần ba cuộc đời tôi” mới phải, đâu có chỉ cuối đời, phải tính toán phân minh rõ ràng chớ.

- Con này… ai mà đem chuyện toán số đề tặng cho tập thơ.  Ổng đề tặng như vậy ai cũng hiểu lời tặng dành cho thím.  Bạn bè ổng ai cũng biết thím tên Ngọc Xuân.  Đọc bài này… bài này… bài này… he… he… Xuân tới Xuân lui hoài, bốn mươi sáu năm mà chưa chán sao hổng biết nữa, già dịch!

- Ôi… ôi… tình quá là tình.  Cái này là “Tình Già” đúng nghĩa của nó, không cần “hai mươi bốn năm sau”, không cần “con mắt còn có đuôi” như ông Phan Khôi.  Ôi… ôi… tình già mà sao nghe “xuân” còn mơn mởn.  Hi… hi… hồi xuân sao trễ vậy thím?  

- Ổng hồi xuân mình ên.   Thím còn giật mình nữa đây.  Mình ở trong cuộc, mình mới biết phục trí tưởng tượng của người làm thơ viết văn, một vẽ thành mười, trăm thứ thâu về vài ba câu.

- Ngọc lan ngọt đẫm đêm mưa tạnh - Mời gọi chân anh lại cõi mơ -   Ủa… nhà thím đâu có cây ngọc lan.  
- Thi sĩ mà!

- Cái này là “Đêm khuya nguyệt lặn, sao tàn - Đồng hồ nhật điểm nhớ nàng không quên”   Ủa, nàng nằm kế bên thì nhớ gì nữa mà nhớ.  Thím… bộ… hi… hi… chú còn… hi… hi… gân hả thím?

- Con quỷ!  Gân gì…!  Từ ngày chú con ngã bịnh, thím dọn qua phòng tụi nó.  Đem bàn làm việc vô phòng chú thím cho chú được làm việc, nghỉ ngơi thoải mái, tối có trăn trở thì tự do mà trở trăn.  Giang sơn của chú bây giờ là trong phòng đó, đóng cửa im ỉm cả ngày.  Cũng mười năm rồi đó, có đụng chạm gì nhau đâu.  Già rồi con ơi, thơ văn đôi lúc chỉ là một hình thức níu kéo, khỏa lấp ước mơ.

- Nhiều người trên bảy mươi mà trông vẫn còn phong độ là do cách sống lạc quan từ tư duy đến sinh hoạt hàng ngày.   

- Thực vậy, nhìn bên ngoài không ai biết chú con bịnh gần đất xa trời, tướng ổng còn đi tán mấy bà sồn sồn được đó con.  Nhưng… thơ văn nghe ngon lành vậy chớ, ổng hết xí quánh rồi con ơi.

- Thím cũng còn… hi… hi…. còn xuân lắm đó chớ.   Thím thua chú gần chục tuổi mà.

- Thôi… thím vui với mấy đứa cháu nội, cháu ngoại của thím, siêng năng lên chùa làm công quả tạo phước cho con cháu, cầu thọ cho chú.  Mấy bà bạn của thím biểu chú con khôn.

- Sao vậy?

- Mấy bà nói:  “Cuối đời, ổng làm thơ vuốt ve, nịnh vợ đặng vợ mủi lòng mà lo thuốc thang tới cùng, đặng vợ làm ma chay, cúng giỗ đình đám… “  Đúng là mấy bà ganh.  Mà kệ, ổng làm thơ thì cứ làm, thím không cần nịnh, không cần vuốt ve, ổng bịnh thì thím lo thuốc, ổng nằm xuống thì thím lo ma chay, mình làm vợ…

- Con nhớ hồi còn trè, chú cũng đào hoa lắm phải không thím?

- Chu cha… nói nói chuyện đào hoa của chú bây, nói tới khuya cũng không hết.  Làm ngành cầu đường, ổng đi công tác khắp bốn miền đất nước, chỗ nào cũng nghe có bà này thương, cô kia mến, ghen thét rồi thím bỏ lơ luôn.  Được có cái, hào hoa ở đâu không biết, đi đâu thì đi rồi cũng về nhà với vợ với con, lương phạn giao hết cho thím.  Tới bây giờ, thím cũng không hiểu nổi, chú con cả ngày im ỉm, vậy mà hồi trẻ đi đâu cũng có cô này bà kia đeo miết.

- Chắc mấy cô mê thơ Vĩnh Thường, muốn được là “nàng thơ” của Vĩnh Thường.

- Đã nói về già ổng mới trở chứng mà.  Hồi đó ổng có làm thơ làm thẩn gì đâu, lâu lâu quá chén với bạn bè thì ngã nghiêng ngâm thơ của thiên hạ.  Được cái chú có giọng ngâm trầm, truyền cảm.

- Hồi nhỏ mỗi lần chú lai rai, con với Ngân, với Ngọc thường lân la ngóng nghe mấy chú nói chuyện văn thơ, lâu lâu được một miếng giò.  Bây giờ chú mặc sức mà ngâm thơ của mình.

- Kể cũng lạ, chú không bao giờ ngâm thơ của mình.  Chắc tại bây giờ chú không được phép uống rượu, không có men nên không ngâm thơ được.  Mấy ông bạn lại chơi, lai rai, ngâm thơ, bình thơ của chú.  Ai bình thì bình, ai chọc thì chọc, ổng cười cười làm thinh.  Nghe thét, thím chán, thím làm cho một dĩa mồi rồi đi nhà hàng xóm chơi, bỏ mấy ổng ở nhà mặc sức mà bình thơ luận nghĩa.  

- Chú thường đọc thơ, bình thơ của chú cho thím nghe không?

- Ôi… thím có rảnh đâu mà nghe chú con bình thơ.  Tụi nó đọc thơ của ba, bình kiểu này, giảng kiểu kia, ổng im ỉm cười cười, không thêm một lời.  Từ đó giờ, thím chỉ thích đọc sách, chẳng màng gì tới thi thơ.  Chỉ cần thấy chú con có niềm sống mới là thím vui.

- Tính ra cũng mấy trăm bài thơ đây chứ.  Chú có gởi thơ đăng báo không thím?  Họ có trả nhuận bút không thím?

- Cũng mấy tờ, tiền nhuật bút lai rai, khi năm chục, lúc sáu chục.  À… hôm Tết, tuần báo Nghệ Thuật trả tiền nhuận bút cho cả năm được bốn trăm đồng.  Ổng làm ngon, mua tặng thím xấp áo dài do thợ vẽ trang hoàng toàn cánh áo, hết trơn tiền.  Vài ngày sau lại xin tiền thím bao đám bạn già đi quán cà phê.

- Bữa nào rảnh, con ghé nhà, thím kể chuyện tình chú thím, chuyện về chú…

- Chi vậy?

- Để con làm chứng.  Vài chục năm sau, biết đâu thơ của chú nổi tiếng, người ta muốn tìm kiếm những giai thoại về nhà thơ Vĩnh Thường thì con kể cho báo chí nghe, bật mí cho báo chí biết về “nàng thơ”, “nàng Ngọc Xuân” của nhà thơ Vĩnh Thường.  Chà, kiếm bộn tiền đây.

- Con quỷ!

***

- Nhà lúc này sửa lại coi khang trang ghê, vườn tược không thay đổi chi cho lắm.  Ô… cây ngọc lan vẫn còn, cám ơn Thảo.

- Bà nội tụi nhỏ biểu bán bớt đất vườn mới có tiền xây nhà đó chớ.  Bà còn biểu cắt đất, bán, bỏ tiền vô ngân hàng, lấy lời mà tiêu xài.  Mình tiếc, muốn chia cho con, đứa một miếng.  Có đất sẵn, muốn cất lúc nào thì cất, mẹ con sống có nhau.  Hơn nữa, vùng này đang phát triển, nếu mai mốt tụi nó không muốn cất nhà thì bán lấy vốn mua nhà khác.  Hồi còn sống, bà nội tính đâu ra đó.  Bà cho dời mổ mả gia tộc ra nghĩa trang của chùa để sau này con cháu không bị ràng buộc, không cất nhà thì bán cũng dễ dàng. 

- Anh Mẫn mất bao lâu rồi?

- Đến tháng bảy này là anh Mẫn mất đúng mười lăm năm.  Kể cũng mau thiệt.

- Nếu anh Mẫn không mất là giờ này Thảo ở Mỹ.  Đợt HO đi Mỹ cuối cùng hình như là năm 95.

- Không thoát qua Mỹ được, Thảo cũng tiếc cho mấy đứa nhỏ.  Nhưng an ủi là những tháng cuối cùng của anh Mẫn có cha mẹ, anh chị em gần gũi, được chết tại nhà tự, được chôn nơi đất nhà.  Chớ qua Mỹ, một thân Thảo làm sao lo cho anh chu đáo được.

- Biết đâu qua Mỹ có bệnh viện tân tiến.

- Thôi… Trời kêu đâu dạ đó.

- Đôi lúc mình thấy an phận như Thảo mà thanh nhàn.

- Bởi an phận mới còn đi dạy đây.

- Giờ này còn đi dạy à.

- Ráng vài năm nữa là về hưu, có lương hưu sống qua ngày.  

- Ủa, ở Việt Nam cho về hưu sớm vậy sao?

- Ờ, đàn bà 55 tuổi.  Tụi trẻ nhiều quá, cho lớp già về hưu sớm đặng trống việc.  Thảo chỉ còn một đứa tới hè này ra trường nên không lo nữa.  Tụi nó thương mẹ, đi làm có lương, tặng tiền mẹ hoài, bắt mẹ mua sắm, bắt mẹ xài.  Thôi, có con vậy cũng an ủi tuổi già.  Thi coi, Thảo chừng tuổi này mà tụi nó còn tặng áo tặng vòng vàng cho mẹ.  Thảo có bao giờ dùng tới đâu.  Ăn diện với ai?

- Bộ tính ở già luôn hả?  Ràng buộc với tụi nhỏ?  Thảo sợ tụi nhỏ than: “Con quạ nó đứng bên sông – Nó kêu bớ mẹ, lấy chồng bỏ con”?  Vậy thì Thảo nói với tụi nó: “Ngày sau, con lễ ba bò – Sao bằng lúc sống, con cho lấy chồng”

- Thôi, tuổi này mà chồng con gì nữa.  

- Con có đường sống của con.  Đây rồi tụi nó ra riêng, con cái bận rộn, bỏ mẹ già thui thủi một mình.
- Chừng đó Thảo nuôi cháu.

- Trời!  Đúng là đàn bà Việt Nam!  Cái này là tứ tòng.  Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, hi… hi… tử đắc nhi tòng nhi.

- Không nuôi cháu thì làm gì?

- Thảo may mắn, con đứa nào cũng tự lập.  Bây giờ là Thảo phải sống cho mình chớ.  Nhất định không tái giá sao?

- Thôi, già rồi Thi ơi.  Thi sống lâu năm ở Tây, quen cách suy nghĩ, quan niệm sống như đàn bà tây phương.  Thi coi, đang ở trong nhà tự của phía chồng mà tính chuyện bước thêm bước nữa, nghe sao chướng mắt quá.  Hơn nữa, ở Việt Nam chứ có phải Tây Mỹ gì mà tính chuyện tái giá ở tuổi năm mươi.

- Nếu sợ ánh mắt anh Mẫn nhìn theo sau lưng thì Thảo thắp nhang mà khấn: “Hỡi anh chồng cũ tôi ơi! – Anh có khôn thiêng, xin anh trở dậy ăn xôi, ăn kèn – Thôi anh đã về kiếp, xin đừng ghen - Để cho người khác cầm quyền thê nhi”.

- Con quỷ!   Chuyện gì cũng giỡn được hết.  Thiệt tình thì những năm đầu sau khi anh Mẫn mất, Thảo cũng cô đơn lắm, cũng muốn bước thêm bước nữa.  Nhưng rồi một thân một mình lo cho bốn đứa, đầu tắt mặt tối, đi dạy một buổi, phụ bà nội buôn bán một buổi.  Quay qua quay lại, năm mươi hồi nào không hay.

- Thảo trông còn tươi lắm, nét Thảo lâu già.  Năm mươi hai tuổi mà tóc vẫn thả dài thướt tha như thiếu nữ, đôi mắt vẫn còn ướt mềm.  Kiểu này là “Ra đường thiếp hãy còn xuân, về nhà thiếp đã dâu hiền, rể ngoan.”  Thảo phải chịu khó đi tiệc đi tùng, giao thiệp thêm, biết đâu gặp người hợp nhãn, an ủi tuổi chiều.

 - Thì bởi, đi tiệc có một một lần là sanh chuyện.

- Ủa… có chàng nào theo hả?  Dính rồi hả?  Được lắm… được lắm… “Chơi xuân kẻo hết xuân đi – Cái già xồng xộc nó thì theo nhau”.  Góa vợ?  Vợ bỏ?  Bỏ vợ?  Trễ duyên?

- Con quỷ!  Không góa vợ, không vợ bỏ, không bỏ vợ, không trễ duyên.
- Vậy là đèo bồng?  

- Vậy mới mệt.

- Đã yêu sao mà than mệt?

- Yêu gì nổi mà yêu.

- Gặp Thúc Sinh hở?  Nàng Kiều cũng yêu Thúc Sinh chút chút đó chớ, cũng muốn làm lẻ cho yên phận, ngặt cái mụ Hoạn Thư. 

- Bà vợ có biết gì đâu mà Hoạn với Thư.

- Vậy chớ than là cái nổi gì?

- Bảy mươi hai tuổi.

- Ma quỷ thần ơi!  Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời.  Năm anh bốn mươi, em mới vừa đôi mươi.  Và bây giờ… ngày anh bảy hai, em vừa tròn năm hai…. - Anh em cái con khỉ!  Bạn của bạn của ba Thảo.  

- Thì kêu bằng chú.

- Thì Thảo kêu bằng chú.

- Vậy chớ cớ chi… Bây giờ Thi ngồi xếp bằng, dựa lưng vô vách, ôm cái gối cho vững đây, kể nghe coi.  

- Hôm tiệc khánh thành căn biệt thự ở Thảo Điền của bác Hữu, ba Thảo bị bịnh không đi được, má rủ Thảo đi cho có bạn vì bác Hữu gái gọi điện thoại nhắc mời miết thôi.  Cả hai vợ chồng ông ấy đều đi dự tiệc, bà vợ còn trẻ đẹp, trông phúc hậu lắm.  Vậy mà Thảo bị ông này chiếu tướng từ đầu đến khi ra về.  Chỉ chiếu tướng, không nói một lời.  Thảo nghĩ chắc ổng định hỏi mình, hỏi má mình chuyện gì, hay thấy Thảo giống ba.  Chừng về là quên luôn.  Tối đó ổng gọi điện thoại hỏi thăm.  Thảo thật tình khai hết, chồng chết vì bịnh gì, chết hồi nào, dạy ở đâu.  

- Và rồi “Anh theo Ngọ về”?

- Không theo Ngọ về mà đón Ngọ đi dạy mỗi buổi sáng.  Biết sao không?

- Hi… hi… trưa nắng, vợ không cho đi, sợ bị nóng đầu sổ mũi.

- Em Thi này thông minh.

- Ngọ giả bộ làm rớt cặp cho anh… ý… cho chú lại lượm dùm?

- Trốn gần chết.  Sáng nào ổng cũng áo quần tươm tất, đứng chờ Thảo vừa chạy xe đến cổng trường là ổng xấn tới, kiếm chuyện hỏi thăm.  Thảo phải kiếm đường khác đi, vài ngày sau, lại bị ổng chận đường đó.  Thảo không dám hé một lời với bạn bè.  Thảo năn nỉ ông đừng đến trường, tai tiếng cho Thảo.  Ổng đòi tới nhà, Thảo hoảng hồn, cấm tiệt.  Thi coi, dầu cho ông bà nội không còn nữa, nhưng bàn thờ ông bà, cha mẹ chồng, nhất là bàn thờ anh Mẫn… quay đâu cũng thấy, mặt mũi nào mà rước trai vô nhà.

- Thì Thảo làm cơm cúng lạy anh cho tui đi lầy chồng.

- Phải chi là góa vợ, vợ bỏ, bỏ vợ, trễ duyên thì còn được đàng này… đèo bồng… rồi lại năm-anh-hai-mươi-em-mới-sanh-ra-đời, thiệt tình…

- Vậy chớ sao từ chú thành anh?

- Ổng biết giấc chiều Thảo ở nhà, ổng gọi điện thoại hoài thôi.  

- Biết vậy thì đừng bắt điện thoại.  Không có lửa làm sao có khói.

- Thấy tội!

- Tội?

- Ông kể ông bị một chứng bịnh rất hiểm nghèo, bác sĩ phán ông chỉ còn cao lắm là bốn tháng.  Ông nói mỗi lần chuyện trò điện thoại với Thảo là ông cảm thấy như được chuyển thêm sức sống.

- Em Thảo cảm động.  Em Thảo ngồi nói chuyện điện thoại ngày này qua ngày kia?

- Đâu có, lâu lâu ông mới gọi một lần.

- Đúng rồi, bà vợ lâu lâu mới qua nhà hàng xóm.  Em Thảo chuyền sức sống cho ông này bao lâu rồi?
- Một năm rưỡi.

-Hả?  Nghĩa là liều thuốc tình-em- Xuân-Thảo đã âm thầm “chuyền sức” cho “anh chú” sống lâu thêm một năm hai tháng?  Mà ổng còn sống không?

- Còn

- Chết bà!  Vậy là trách nhiệm của em Thảo là tiếp tục chuyền-sức-sống?  Em Thảo mà cúp điện thoại là “anh chú” ngủm?

- Ông này kiên trì lắm Thi ơi!  Thảo cương quyết không cho gặp trước cổng trường, không cho lại nhà, vậy mà sáng nào ổng cũng đi lảng vảng con đường Thảo chạy xe ngang.  Mà có ở gần đây đâu!  Tuốt bên chợ Thủ Đức, sáng sớm ổng đi bộ lại trường Thảo, xong rồi đón xe buýt về.

- Đi bộ từ chợ Thủ Đức qua chợ Nhỏ, rồi vô tuốt xóm Tăng Nhơn Phú.  Ôi… tình thiên lý! Ôi… “Thương em tam tứ núi cũng trèo - Thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua”…

- Thảo có thương yêu gì đâu.  Ông chấp nhận tình một chiều, chỉ yêu cầu Thảo gọi ông bằng tiếng anh.
- Để tim anh đập nhẹ sống lai rai?

- Con khỉ!  

- Và thế là anh… anh… em… em… ngọt xớt!

- Thét rồi quen.  Kể cũng an ủi.

- An ủi cho ai?

- Cho Thảo.  Có người chịu khó nghe mình khoe con, thở than chuyện trường lớp.  Đến tuổi này mà có người mê mình đến độ đưa mình vào thơ.   Ông làm nhiều thơ lắm, thơ cho Thảo, thơ về Thảo, thơ ca tụng Thảo.

- Còn có chuyện này nữa sao?  Nghĩa là em Xuân Thảo là nàng thơ.  Kể cũng đáng đồng tiền đó chớ, chỉ cần kêu tiếng “anh” là “được” làm nàng thơ. 

- Cũng khoái chớ bộ!  In thơ đề tặng mình nữa.

- À há… em Xuân Thảo hy vọng được nổi tiếng, được làm Hoàng Thị thứ hai.  Nghe cũng khoái thiệt, tên tuổi được đi vào văn chương mà không cần làm thơ viết văn gì cả.  

- Biết đâu!  Coi nè, hai tập thơ chớ bộ ít sao.

- Hả!  Chú… hả!

- Bộ Thi nghe tiếng ông thi sĩ này hả?

- Ơ… không

- Coi ông đề tặng nè: “Trao về em, thương yêu cuối đời”.  Tình chưa.


- Ổng biểu cái tựa Tình Xuân Cuối Đời là từ tên Xuân Thảo đó, nàng Xuân là Xuân Thảo.  Ông sợ tai tiếng cho Thảo nên chỉ dùng chữ Xuân.


- Tập thơ đẹp ha.  Ổng cho cái tựa như vậy ai mà nghi ngờ là tên Xuân Thảo được.  Nàng thơ Xuân Thảo, nghe cũng khoái ha?

- …

- Thơ được đó chớ?

- Ờ…  Xuân đứng trước hay sau gì cũng vậy thôi, cũng là “nàng Xuân”.  Nhưng… có phải thương-yêu-cuối-đời?  Tình Xuân Cuối Đời… cái tình “Xuân” này là của ai đây?  Mơ hồ quá!  Nếu với nàng Xuân Thảo thì cái này không phải là “tình cho không biếu không”.  Nàng Xuân Thảo cho chút tình để được làm nàng thơ của nhà thơ Vĩnh Thường.  Còn nhà thơ Vĩnh Thường mượn chút tình còm cuối đời để nuôi thơ trả nợ đời.  
- Tình không có, nhưng… “Dẫu xây chín đợt phù hồ - Không bằng làm phước cứu cho một người”.

- Ngụy biện!  Thảo tự tin dữ ha.  Biết đâu do bà vợ chăm sóc thuốc men chu đáo, Trời chưa chấm số.  Nghe chuyện Tình Xuân Cuối Đời của mấy người, vừa hoảng hồn, vừa đói bụng, Thi gần xỉu rồi đây.  Mà này, chút Thi đón taxi về, không sợ hết xe buýt.  Nhà còn cá kho, canh chua gì không, Thảo hâm cho Thi tô cơm rồi kể hết những đeo-đuổi của nhà thơ Vĩnh Thường cho Thi nghe.  

- Chi vậy?  Có gì hấp dẫn mà đòi nghe?

- Để Thi làm chứng.  Năm mười năm sau, khi ông chết đi, biết đâu thơ của ông này nổi tiếng, người ta muốn tìm kiếm những giai thoại về nhà thơ Vĩnh Thường thì Thi kể cho báo chí nghe, bật mí cho báo chí biết về “nàng thơ”, “nàng Xuân”  của nhà thơ Vĩnh Thường.  Chà, kiếm bộn tiền đây.

- Con quỷ!

- Mà không được, như vậy làm buồn lòng vợ con của nhà thơ Vĩnh Thường.

- Ờ… thôi… để đức lại cho con.  

Võ Thị Điềm Đạm


Bùi Tín - Biết đủ là khôn



Bùi Tín

Ở đồng bằng Nam Bộ, trên bàn thờ Tổ tiên ông bà của bà con ta trong ba ngày tết thường có mâm hoa quả với bốn loại trái cây: mảng cầu, dừa, đu đủ và xoài – hay nói tắt theo giọng Nam Bộ là “cầu vừa đủ xài “.


Bà con ta không thích giàu sang ư? Ở một vùng vựa lúa phì nhiêu, cá tôm phong phú, hoa trái xum xuê, làm giàu làm gì cho phải bận tâm suy nghĩ, rồi còn phải lo giữ của. Cứ sống vừa đủ, cầu cho không thiếu thốn nghèo đói là được. Đây là suy nghĩ của đa số nông dân thuộc tầng lớp trung gian đông đảo. Họ thấy nhiều đại điền chủ ruộng đồng thẳng cánh cò bay đâu có sung sướng. Con cái họ giàu sang đâm ra ham mê hưởng lạc, ăn chơi cờ bạc, trai gái bất lương, có khi sa vào tệ nạn nghiện hút, kiện cáo dây dưa, án mạng và tù đầy, gia đình đổ vỡ. Rồi nhà giàu hay đèo bòng thê thiếp, gia đình lộn xộn, lắm bi kịch éo le và ly tán, đâu có hạnh phúc bền lâu.

Triết lý minh triết xưa của cha ông ta cũng dạy rằng người quân tử tự mình biết bao nhiêu là vừa đủ, không ham mê gì cho nhiều, biết hạn chế lòng tham, vì tham dễ phạm vào lợi ích của người khác, dễ thả lỏng mình lấy của phi nghĩa làm của mình. “Tri túc tri chỉ”. Biết đủ là biết dừng lại. “Tri chỉ tri phúc”. Biết dừng đúng lúc là biết hưởng phúc vậy. Các cụ nhà nho còn nói “tri túc túc trí”, biết bao nhiêu là đủ chứng tỏ là người có trí khôn, giàu bản lĩnh, hiểu biết làm người giữa thiên hạ.

Trong nước đang nổi lên 2 vấn đề cực lớn, một là sửa đổi, viết Hiến pháp mới và chống nạn nội xâm tham nhũng dai dẳng bất trị. Ở đây nổi lên vấn đề loại bỏ Điều 4 quy định việc xác lập quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Trên thế giới không có hiến pháp nước nào có điều khoản áp đặt như thế. Đây là món nhập cảng từ Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô cũ – toàn bộ Hiến pháp này đã bị hủy cuối năm 1990. Uy tín và sự tín nhiệm của một chính đảng được chứng tỏ trong từng thời gian bởi là phiếu, không thể quy định một lần trong Hiến pháp là xong. Chính vì thế đã có 4.843 trí thức hàng đầu yêu cầu loại bỏ Điều 4, thảo Hiến pháp mới, một việc làm chưa từng có, chính đáng, hợp lẽ phải, hợp lòng dân. Vậy mà một cán bộ lãnh đạo, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Văn Thông dám nói bừa rằng những trí thức nói trên đang đi theo các thế lực phản động.

Một học giả Hoa Kỳ gốc Trung Quốc Pei Minxin vừa nhận định trên báo The Diplomat  (Nhà ngoại giao) rằng trong thế kỷ XX, chế độ độc đảng ở Liên Xô kéo dài nhất là được 73 năm (1917 – 1990), khó có nước độc đảng nào có thể thọ lâu hơn. Chế độ độc đảng ở Việt Nam đã được 68 năm (1945 – 2013), ở Trung Quốc được 64 năm (1949 – 2013), nghĩa là đều gần tới giới hạn cuối cùng.

Tốt nhất là tại các nước ấy, các đảng Cộng sản nên biết thời gian độc quyền cai trị của họ thế là quá đủ, để tự mình quyết định trả lại tự do chính trị đầy đủ cho toàn dân, cùng toàn dân thành tâm xây dựng nền dân chủ đa đảng lành mạnh, tiến bộ, cùng toàn dân xây dựng Kỷ nguyên Dân chủ và phồn vinh cho toàn dân cùng chung hưởng. Làm được như thế mới thực là “tri túc tri chỉ ”, biết là đủ, biết dừng lại là “tri túc túc trí“, chứng tỏ hiểu biết, có bản lĩnh và khôn ngoan, tránh cho đất nước những xáo trộn đáng tiếc, thậm chí những đổ vỡ tai hại.

Đối với quốc nạn tham nhũng cũng vậy. Cả hai nhiệm kỳ Quốc hội gần 10 năm bất lực rõ rệt trong cuộc chiến đấu sinh tử, không những không đẩy lùi được tên giặc này như đã hứa, mà còn để nó lớn lên gấp bội, làm thất thoát thêm gần 1 triệu tỷ đồng mồ hôi nước mắt của nhân dân. Thế là quá đủ để các vị hiện còn tại vị tự nguyện mạnh dạn cùng nhau rời vị trí lãnh đạo như đã hứa, để bầu ra một Quốc hội đa đảng, một chính phủ mới thực sự của dân,do dân, vì dân. Còn phải đợi đến bao giờ nữa?

Đây cũng là vấn đề “tri túc tri chỉ “, biết là đủ, quá đủ, biết dừng lại, biết liêm sỷ, xin lỗi dân, cũng là “tri chỉ, túc trí “, biết dừng lại, nhường ghế lãnh đạo và cầm quyền cho người khác, cũng là khôn ngoan, có hiểu biết vậy.

Còn đối với những bầy sâu tham nhũng lúc nhúc loại loại cỡ bự ở những bậc thang quyền lực cao chót vót, hay ở trong đám sâu phàm ăn, phàm múc, phàm nuốt trong ngành hải quan, thuế má, giao thông, nhà đất, tòa án… lại càng phải hiểu ra cái lẽ của sự “quá đủ“. Tham quá có khi mất mạng đấy; ăn căng bụng có khi bội thực. Đất nước bỗng nảy sinh ra hàng ngàn tỷ phú mới, hàng ngàn triệu phú đôla mới, phất lên do mánh mung quyền lực, buôn quan bán tước, đầu cơ đất đai nhà cửa, buôn lậu ngọai tệ. Chúng ăn chơi phè phỡn, con cái hư đốn, làm ô nhiễm toàn xã hội. Chuyện kê khai tài sản cán bộ đảng viên và gia đình cứ như trò đùa dai, trò phủi bụi của trẻ con, khiêu khích người dân lương thiện. Đối với những bầy sâu đội lốt người này, hãy hiểu cho sâu sắc thế nào là “quá đủ”, nếu không sẽ là quá muộn. Căm thù giặc tham nhũng của nhân dân không kém gì căm thù kẻ thù xâm lược và bành trướng đâu.

Xã hội ta đang xuống cấp, chia rẽ, phân hóa, người ăn không hết kẻ lần chẳng ra, bọn gian manh ngồi trên đầu người lương thiện. Toàn dân cần phải công khai nói lên nhận xét của chính mình đối với đảng và chính quyền, rằng để cho tình hình suy thoái tận cùng như hiện nay là quá đủ rồi đấy. Sức chịu đựng của người dân là có hạn.

Chỉ có một phương án duy nhất có hiệu quả là thay hẳn hệ thống quản lý, cai trị từ độc quyền đảng trị sang hệ thống dân chủ hiến trị và pháp trị như tuyệt đại đa số nước dân chủ pháp trị trên thế giới hiện nay, không thể để lỡ thời cơ đang xuất hiện là toàn dân tham gia khởi thảo một Hiến pháp hoàn toàn mới, từ bỏ con đường cải lương của Bộ Chính trị, chỉ có những thay đổi mini, lặt vặt, vô bổ .

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đảng, và gần năm trăm đại biểu Quốc hội không thể làm ngơ là hiện có 2 bản dự thảo trình làng, 1 do Quốc hội đưa ra và 1 do 74 trí thức nòng cốt đề xuất. Mới qua thăm dò sơ bộ, bản dự thảo của trí thức đã được hơn 80 % người xem tán đồng, trong khi bản dự thảo do Quốc hội đưa ra chỉ đạt 3 % đồng thuận, theo thông báo có trách nhiệm của mạng Bauxite. com.

Thế là đủ, là quá đủ để so sánh, để lựa chọn phương án tối ưu nào cho đất nước. Xin nhớ 4.843 trí thức ký tên về bản Hiến pháp mới trong có hơn 3 tuần lễ, đã gấp 10 lần số đại biểu Quốc hội hiện nay.

Tất cả những thủ thuật lừa dối, vu cáo trí thức yêu nước nói trên là thế lực thù địch cũng đã quá đủ rồi.


Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

Mặc Lâm - Miếng xương Kê Gà



Mặc Lâm,
biên tập viên RFA, Bangkok

Báo chí lên tiếng về Cảng Kê Gà - RFA file 

Cảng Kê Gà đã chính thức được Thủ tướng chỉ đạo ngưng xây dựng tuy nhiên vẫn còn đó nhiều câu hỏi về hiệu quả kinh tế của việc khai thác bauxite sẽ ra sao khi giá cả Alumin bán ra không đủ trang trải chi phí sản xuất? Và quan trọng hơn hết ai sẽ là người chịu trách nhiệm về thất bại của toàn bộ dự án? 

Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu ngưng dự án xây dựng cảng Kê Gà ngay lập tức báo chí cùng lên tiếng ủng hộ và cho rằng đây là một quyết định sang suốt.

Thực ra quyết định này chỉ nhằm hợp thức hóa báo cáo xin ngưng xây dựng từ Tập đoàn Than Khoáng sản sau khi tập đoàn này nhận thấy xây dựng cảng Kê Gà sẽ khiến sa lầy thêm trong dự án bauxite mà chính nó đã hết lòng hết sức vận động để thực hiện cho bằng được, trong đó Cảng Kê Gà được xây dựng nhằm vận chuyển Alumin.

1000 tỷ đồng cho bài học coi thường ý dân

Đúng như những gì mà giới chuyên gia đã cảnh báo, giá Alumin hiện nay trên thế giới không thể có lãi và thậm chí sẽ lỗ nặng nếu tiếp tục đầu tư khai thác nó với kinh phí như hiện nay. Những cảnh báo đó đã bị tập đoàn Than Khoáng sản gọi tắt là Vinacomin bỏ ngoài tai. Hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ đi vào xây dựng và trước khi mẻ Alumin đầu tiên ra lò thì dấu hiệu sụt giá thê thảm đã làm cho Vinacomin chùn lại ý chí khai thác bauxite như đã từng chứng tỏ trước đây.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ là người cầm con dao do Vinacomin đưa để chặt sợi giây đang trói tập đoàn nầy bởi sự duy ý chí của nó trong dự án bauxite hoang tưởng và liều lĩnh.

Những phản biện về bauxite Tây nguyên đã được hàng trăm trí thức đưa ra vào những năm đầu của thế kỷ. Nhà văn Nguyên Ngọc là một trong những vị đầu tiên lên tiếng sự tác hại đối với đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số Tây nguyên cùng với hàng trăm trí thức khác phân tích 

Nhà máy alumin Tân Rai cuối năm 2012

các tác hại môi trường, an ninh quốc phòng cũng như giá trị kinh tế. Nhà văn Nguyên Ngọc cho biết:
Những người phản biện có trường hợp của TS Cù Huy Hà Vũ. Ông Vũ đã công khai chỉ trích những người trách nhiệm đối với dự án khai thác bauxite ...TS Cù Huy Hà Vũ đã lên tiếng đòi tòa án truy tố ông Thủ tướng vì đã không nghe phản biện của nhân sĩ trí thức. Hậu quả của đòi hỏi này là bản án 7 năm tù dành cho ông

Trong phong trào phản biện thì có lẽ Bauxite là cái đầu tiên. Phản biện bauxite đã bắt đầu từ rất sớm ngay khi có ý đồ về dự án bauxite từ những năm 2000. Đến năm 2006 thì bọn tôi đã tổ chức một hội thảo đầu tiên trên Tây Nguyên. Đến năm 2009 thì xuất hiện trang Bauxite của anh Huệ Chi. Sau đó anh Nguyễn Thành Sơn có viết một bài tổng hợp lại ý kiến phản biện là 10 lý do nên dừng dự án bauxite. Theo tôi phản biện trong bauxite là tinh thần phản biện đầu tiên trong phong trào phản biện tại Việt Nam.

Một khía cạnh khác đáng chú ý trong những người phản biện có trường hợp của TS Cù Huy Hà Vũ. Ông Vũ đã công khai chỉ trích những người trách nhiệm đối với dự án khai thác bauxite trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. TS Cù Huy Hà Vũ đã lên tiếng đòi tòa án truy tố ông Thủ tướng vì đã không nghe phản biện của nhân sĩ trí thức. Hậu quả của đòi hỏi này là bản án 7 năm tù dành cho ông.

Luật sư Trần Đình Triển, người bảo vệ quyền lợi cho TS Cù Huy Hà Vũ cho biết về những phản biện của trí thức:
Có lẽ ban đầu mục đích đưa ra thì tốt, nhằm mục đích phát triển nước nhà. Tuy nhiên do không nghiên cứu không đánh giá một cách đầy đủ về phương diện an ninh quốc phòng, tài nguyên môi trường, bảo vệ con người…không hiểu gì vê động cơ nguy hại về sau nhưng họ cứ quyết làm, như húc đầu vào đá không ai ngăn được cả.

Rất nhiều đồng chí lão thành cách mạng giữ vai trò trọng trách của Đảng và nhà nước ví dụ như Thủ tướng Võ Văn Kiệt và rất nhiều nhà trí thức khác đã đưa ra những phản đối về an ninh quốc phòng, về môi trường, kinh tế hay cuộc sống của người dân…nhưng không hiểu sao họ cứ lờ đi. Có người còn gắt gao thậm chí đưa ra khởi kiện như Cù Huy Hà Vũ. Những ý kiến này không được nghe nên cần phải ra tòa án nhằm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ môi trường, nhân dân. Người đòi khởi kiện đó phải vào vòng lao lý.


Địa điểm Vinacomin dự kiến xây dựng cảng Kê Gà (Ảnh: Báo NLVN) 

TS Phùng Liên Đoàn, một nhà khoa học đã có nhiều đóng góp cho Việt Nam trong các chương trình nhân đạo, ông cũng là người ký tên trong các phản biện về bauxite Tây nguyên. Đưa nhận xét về sự cứng cỏi của chính quyền và những người trực tiếp bảo vệ dự án, ông nói:
Họ là những người hoàn toàn không có kinh nghiệm gì về kinh tế, khoa học. Họ cầm quyền và nghe lời những người vâng vâng dạ dạ đối với họ trong khi đó thì định kiến họ đã có sẵn rồi. Trong trường hợp bauxite thì lại có ảnh hưởng rất nặng của Trung Quốc thành ra họ chỉ làm bừa đi thôi, như một con ếch ngồi đáy giếng cho rằng mình biết hết cả rồi không cần phải nghe ai cả. Thành ra dây là một hệ lụy rất nguy hiểm của một chế độ độc tài họ không biết nghe lẽ phải. 

Lẽ phải thứ nhất là sự hiểu biết của trí thức và kinh nghiệm của thế giới thì họ không biết. Cái thứ hai là ý dân cũng quan trọng nữa. Trong khi dân rất cần những chuyện rất thông thường như cái ăn cái mặc, nhà thương, trường học thì họ lại không để ý tới điều quan trọng của dân mà chỉ thích làm những chuyện rất to, rất vĩ đại. Đó là tâm trạng của những người cộng sản trong những nước nhỏ bé nhưng muốn làm to thành ra tôi nghĩ đây là thực tế mình biết trước rồi nhưng họ không biết.

Các phản biện của trí thức tuy không dừng được hoàn toàn dự án bauxite nhưng ít ra theo nhà văn Nguyên Ngọc nó cũng đã chặn đứng được một kế hoạch trị giá 15 tỷ đô la trong khi đất nước còn phải giải quyết hàng trăm vấn đề bức xúc khác, ông nói:
Tất nhiên những phản biện không thể làm dừng ngay được nhưng nó là những đề xuất ban đầu. Nhưng bây giờ mình nhìn trở lại thì người ta tuy không thực hiện những phản biện đặt ra trên bề rộng nhưng mà phản biện bauxite đã huy động được xã hội một cách rộng lớn và nó đã có kết quả. Chính từ những phản biện từ năm 2007-2008 và 2009 đã đi đến một hội nghị của Bộ chính trị đã có quyết định làm thí điểm hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ chứ còn trước kia lúc đầu tiên thì phải bỏ ra 15 tỷ đô, kế hoạch lớn hơn nhiều bao gồm toàn bộ Tây nguyên và kể cả một số tỉnh ngoài Tây nguyên như Bình Phước…như vậy nó rộng hơn rất nhiều. Theo tôi đây là một bước lùi rất quan trọng.

Cảng Kê Gà: “Trật một ly đi một ngàn tỉ”

Quay trở lại việc ngừng thi công cảng Kê Gà, chuyên gia kinh tế đã từng nhiều lần cảnh báo về hiệu quả kinh tế của việc khai thác bauxite Tây nguyên nhưng tập đoàn Vinacomin vẫn khăng khăng cho rằng sẽ có lợi về nhiều mặt, trong đó có vấn đề công ăn việc làm cho người dân. Tuy nhiên, chờ tới khi mặt trái của toàn bộ dự án lộ ra trước ánh sang thì cơ nguy cả một núi tiền thuế của người dân tàn rụi trước sự vô cảm của những viên chức Vinacomin.

Báo Lao động đi một cái tựa ấn tượng sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng ngưng xây dựng cảng Kê Gà: “Trật một ly đi một ngàn tỉ”. Tuy nhiên nếu quay trở lại từ đầu thì liệu có phải tập đoàn Than khoáng sản, gọi tắt là Vinacomin trật một ly hay không.

Cảng Kê Gà là một bài toán đơn giản cho những nhà làm kế hoạch tỉnh táo tuy nhiên kéo dài cho tới nay mới dừng nó thì không thể nói là sai một ly

Thực tế cho thấy các nhà khoa học đã lên tiếng phân tích rất nhiều lần về tác dụng ngược khi phải vận chuyển Alumin từ Tây nguyên về Bình Thuận. Qua các phân tích, nhược điểm việc xây dựng một con lộ để vận chuyển trên một lộ trình xa và bất tiện sẽ làm giá thành sản phẩm tăng cao trong khi giá cả của Alumin 


Các xe tải đang vận chuyển Alumni ở khu bauxit Tây Nguyên (Ảnh: Báo Pháp luật Việt Nam)

trên thế giới mỗi ngày một tuột dốc do nhu cầu tiêu thụ ít đi. Cảng Kê Gà là một bài toán đơn giản cho những nhà làm kế hoạch tỉnh táo tuy nhiên kéo dài cho tới nay mới dừng nó thì không thể nói là sai một ly. Cái sai của Kê Gà và Tân Rai cũng như Nhân Cơ lớn và hiển nhiên đối với bất cứ một chuyên gia kinh tế nào.

Nhà máy Tân Rai đã chạy nhưng công suất của nó chỉ được 20 tới 40% thì chắc chắn không phải là điều để cho tập đoàn Vinacomin yên tâm tính toán tới chuyện lời to như khi nó bắt đầu khởi công xây dựng. Đóng cửa cảng Kê Gà của Bình Thuận để chuyển hướng về Phú Mỹ của Đồng Nai cũng chỉ là biện pháp vá víu khi cái lõi của vấn đề vẫn còn, đó là đầu ra cho sản phẩm. Bài toán căn bản của một nhà máy là sản phẩm phải bán được và tất nhiên là có lãi đã không được tập đoàn Vinacomin đặt lên hàng đầu khi bắt tay xây dựng hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ. Những thất bại biết trước về vận chuyển đã được các nhà kế hoạch duy ý chí vẽ ra những con đường như trong thời kỳ chiến tranh để chở Alumin từ Tây nguyên xuống đồng bằng rồi ra biển lớn đã làm nhiều nhà kinh tế cho là lãng mạn và cực kỳ vô lý nhưng vẫn được chính phủ thông qua.

Khi Kê Gà sụp đổ thì cũng là lúc dư luận trông chờ tập đoàn Vinacomin nhìn lại toàn bộ những điều họ đã làm từ trước tới nay để điều chỉnh những gì có thể điều chỉnh được thay vì vẫn đưa ra những lập luận mang màu sắc chính trị hơn là hiệu quả về kinh tế.

Ông Phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam Trần Văn Chiều khi trả lời báo chí về việc chấm dứt dự án cảng Kê Gà tại Bình Thuận cũng như hiệu quả của các dự án bô xít Tây Nguyên đã khẳng định rằng tập đoàn này vẫn giữ lập trường tiếp tục khai thác. Ông Chiều cho rằng dư luận lên án và yêu cầu ngưng hai nhà máy Nhân Cơ và Tân Rai là không công bằng vì nó đã giúp cho hơn 1.500 lao động có công ăn việc làm. Hai nhà máy này cũng sẽ góp phần lan tỏa hiệu quả kinh tế-xã hội, cũng như ý nghĩa chính trị, an ninh quốc phòng đối với địa phương và khu vực Tây Nguyên.

Ông Trần Văn Chiều quên rằng với 1.500 lao động thì một nhà máy cỡ nhỏ nào cũng có thể thuê được. Tuy nhiên số tiền hàng trăm ngàn tỉ đồng phung phí cho lợi ích của 1.500 lao động này thì có phải là phí phạm hay không? Về ý nghĩa chính trị, không ai thấy được sự lợi ích khi hai nhà máy này hoạt động mà ngược lại, hàng ngàn bộ óc của nhân sĩ trí thức đang suy nghĩ làm cách nào để mà dừng nó chính là sự thoái bộ về chính trị nếu sòng phẳng nhìn nhận.

Nhiều trí thức cho rằng vì tự ái, vì tính độc tôn trong vị trí quyền lực đã khiến tập đoàn Vinacomin dùng sức mạnh được Đảng giao phó để vượt qua tất cả những phản biện của nhân dân để đạt chỉ tiêu ảo tưởng mà chính họ đưa ra bất kể quyền lợi quốc gia dân tộc.

Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng sự dừng lại của cảng Kê Gà là một dấu hiệu biết lắng nghe của chính phủ cho dù đã rất chậm đối với sự nóng lòng của dư luận, ông nói:
Nếu dừng được cảng Kê Gà thì cũng là dấu hiệu chính phủ đã nghe phản biện. Tuy nhiên mấy hôm nay cũng có dư luận do chính phủ thấy cảng Kê Gà không ổn lắm rồi nhưng tới bây giờ mới nói thì đã muộn lắm và tổn hại rất nhiều. Khi chúng tôi đến khảo sát thì thấy rất rõ có hơn mười khu nghỉ dưỡng rất lớn phải dừng lại hết để làm cảng và trong 5 năm nay họ đã chịu thiệt hại rất lớn và bây giờ đền bù lại cho họ thì cũng là một vấn đề. Có dư luận cho là những người trách nhiệm sợ lại xảy ra những vụ Vinashin hay Vinalines khác nữa.

Tôi thấy dù sao thì nó cũng là một động thái tích cực không riêng về cảng Kê Gà mà nó còn cho thấy đã lộ ra hết những gì đã được phản biện và không thề nhắm mắt làm lơ như trước nữa.

Nêu ý kiến về sự kiên quyết tiếp tục khai thác Alumin của tập đoàn Than Khoáng sản, bà Phạm Chi Lan chuyên gia tư vấn kinh tế cho biết:
Tôi nghĩ việc này nên đưa ra bàn tới nơi tới chốn trong công luận cũng như trong chính giới. Một vị đại biểu Quốc hội là ông Cao Sĩ Khiêm đã có nói là ông ấy sẽ đưa ra thảo luận trong kỳ họp tới để chất vấn chính phủ về vấn đề này. Bây giờ thực tế là công luận nói rất nhiều trên báo chí ý kiến của các chuyên gia thế nhưng chính phủ và tập đoàn Than Khoáng sản vẫn muốn làm tiếp vậy thì phải mang ra bàn ở các cấp cao hơn là Quốc hội để có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với chính phủ về việc này.

Rõ ràng nếu làm tiếp thì sự mất mát cho nền kinh tế tiếp tục lớn hơn chưa kể những hậu quả khác như môi trường hay cuộc sống người dân ở vùng Tây nguyên hay các vấn đề an ninh quốc phòng tiếp tục là mối đe dọa cho Việt Nam.

Đối với nhà khoa học Phùng Liên Đoàn thì ông nghi ngờ cả khi ngừng lại việc xây dựng cảng Kê Gà cũng không cứu vãn được gì vì tính minh bạch tại Việt Nam vẫn chưa được tôn trọng, ông nói:
Những chuyện này rất là quan trọng. Bây giờ không hiểu khi họ ngừng lại thì có cứu vãn được phần nào hay không chứ tôi nghĩ rằng thiệt hại sẽ rất nhiều và mình không biết hết mức độ thiệt hại là bao nhiêu bởi vì họ không nói thật.

Báo chí phân tích rằng sản suất một tấn cà phê có hiệu quả ngang với 6 tấn Alumin. Tập đoàn Vinacomin dù có bào chữa cách nào đi nữa cũng khó thuyết phục người dân trong khu vực có hai nhà máy hoạt động. Đó là chưa kể di hại nếu sự cố bùn đỏ xảy ra.

Bà Phạm Chi Lan nhận xét về những mất mát mà người dân phải chịu:
Chắc chắn là bị mất rất lớn rồi. Đối với nền kinh tế hay đối với cuộc sống của người dân thì cũng đã có rất nhiều mất mát, đảo lộn. Như vừa rồi báo chí cũng cho thấy những người nông dân vốn dĩ đang trồng cà phê và bây giờ họ thấy xuất khẩu sáu tấn bauxite mới bằng một tấn cà phê thì họ xót ruột vô cùng. Mất mát thì đã có rất lớn nhưng nếu làm tiếp thì mất mát lại lớn hơn cho nên tôi nghĩ là phải dừng thôi dù là tổn thất lớn. Và tất nhiên khi dừng thì sau đó phải xem xét truy cứu trách nhiệm của tất cả những người cố tình gây ra những mất mát như vậy.

Những mất mát này ai là người chịu trách nhiệm mới là câu hỏi nóng bỏng hiện nay. Nếu những người cổ vũ và ký tên cho khai thác bauxite chứng minh được lý thuyết của họ là đúng thì bất trắc xảy ra gây thiệt hại cho kinh tế là có thể tha thứ. Tuy nhiên, với cách làm duy ý chí, thiếu tính khoa học, không lắng nghe phản biện của giới chuyên gia và nhất là khi đã thấy dấu hiệu thất bại nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi một cách mù quáng thì phải bị chế tài bởi pháp luật. Luật sư Trần Đình Triển cho biết ý kiến của ông:
Đến nay sự việc nó diễn ra đúng như các ý kiến tâm huyết của các vị lão thành cách mạng, của các nhà trí thức của nhân dân, dự án bauxite đã diễn ra đúng như hậu quả mà người ta đưa ra. Vậy thì về phương diện Đảng, nhà nước và các cơ quan cần phải xem xét lại xử lý nghiêm khắc những cán bộ hay bất cứ ai đã đưa ra dự án đó mà không lắng nghe ý kiến phản đối đến bây giờ gây thiệt hại cho Đảng cho nhà nước về phương diện uy tín. Gây thiệt hại cho tổ quốc Việt Nam về phương diện kinh tế. Gây thiệt hại cho nhân dân Việt Nam về phương diện môi trường thì những ai làm sai phải lôi ra dù đó là ai.

Pháp luật công minh hay không người dân đã từng biết. Pháp luật không thể xét xử những người đứng cao hơn nó đang là mối quan tâm hiện nay thông qua việc sửa đổi Hiến pháp năm 92. Người dân chờ đợi nhiều điều trong lần sửa đổi này và dự án bauxite cũng nằm trong sự chờ đợi ấy.


Nguyễn Hưng Quốc - Nghiên cứu văn học Việt Nam tại Úc



Nguyễn Hưng Quốc

Cuối năm 2012, tôi và một số đồng nghiệp tại Đại học Wollongong được Hội đồng Nghiên cứu Úc (Australian Research Council, thường được gọi tắt là ARC) đồng ý tài trợ để tiến hành một dự án nghiên cứu về văn học của một số cộng đồng di dân tại Úc, chủ yếu tập trung vào bốn ngôn ngữ chính: Ả Rập, Trung Hoa, Tây Ban Nha và Việt Nam. Trong vòng ba năm, với mỗi ngôn ngữ, chúng tôi sẽ cố gắng làm ba việc: một, xuất bản một số công trình nghiên cứu; hai, tổ chức một số cuộc hội nghị quốc gia và quốc tế; và ba, cấp học bổng và hướng dẫn sinh viên làm luận án Tiến sĩ về một trong bốn nền văn học nêu trên. Tham gia vào dự án có bốn người thuộc ba đại học tại Úc: Đại học Wollongong, Đại học Sydney và Đại học Victoria. Phần tôi, thuộc Đại học Victoria, sẽ phụ trách phần liên quan đến Việt Nam.


Được thành lập từ năm 2001, Hội đồng Nghiên cứu Úc (ARC) là cơ quan trực thuộc chính phủ Úc, chuyên trách về việc xét duyệt và tài trợ cho các dự án nghiên cứu quan trọng trong các lãnh vực khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Để nhận được tài trợ của ARC (với ngân sách, ví dụ, trong năm tài chính 2011-2012 là 833.3 triệu Úc kim), giới nghiên cứu phải trải qua một cuộc cạnh tranh rất gay gắt: Trung bình trong khoảng mười hồ sơ, chỉ có một được chọn. Việc được ARC chọn cấp tài trợ được xem là một thắng lợi không phải cho cá nhân người nghiên cứu mà còn là một thành tích cho cả trường đại học nơi người ấy đang làm việc. Trong các đề tài được ARC chọn, đề tài liên quan đến Việt Nam rất hiếm xuất hiện; nếu xuất hiện, hầu như tất cả đều tập trung vào các khía cạnh chính trị, xã hội và văn hóa nói chung. Riêng về đề tài văn học Việt Nam tại Úc thì đây là lần đầu tiên.

Dự án chỉ mới bắt đầu. Còn ba năm nữa mới kết thúc. Lúc ấy, nhìn lại, chúng ta mới biết công việc nghiên cứu đã đi đến đâu. Ở thời điểm này, điều duy nhất tôi có thể nói được: về phương hướng nghiên cứu, văn học Việt Nam tại Úc sẽ được tiếp cận từ góc độ Lưu vong học (Diaspora Studies). Đây là một hướng nghiên cứu khá mới, chỉ xuất hiện ở Tây phương từ khoảng thập niên 1990. Một số chuyên gia trong ngành Việt Nam học ở Tây phương đã sử dụng cách tiếp cận này để nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Phần lớn tập trung vào các khía cạnh chính trị, xã hội hoặc văn hóa nói chung. Chỉ có vài người quan tâm đến văn học, nhưng hầu hết lại chỉ nhắm đến dòng văn học viết bằng tiếng Anh của người Việt (1). Chỉ có một ngoại lệ: John C. Schafer với cuốn, Võ Phiến and the Sadness of Exile (2006). Tuy nhiên, Schafer, dù nhắc đến khái niệm “diaspora” khá nhiều lần, vẫn không có ý định chọn Lưu vong học làm điểm xuất phát chính, có lẽ lý do chính là ông muốn bao quát toàn bộ sự nghiệp của Võ Phiến, từ trong nước ra đến hải ngoại, trước cũng như sau năm 1975.

Trong khi đó, hầu như tất cả các nhà phê bình Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, đều viết về văn học Việt Nam ở hải ngoại như là một bộ phận của văn học Việt Nam nói chung. Người này thì nhấn mạnh về khía cạnh mỹ học, người khác thì nhấn mạnh hơn về khía cạnh chính trị, nhưng về phương diện phương pháp luận, cách nghiên cứu của họ không khác lúc người ta nghiên cứu về văn học trong nước. Về nội dung, cũng phân tích một số tư tưởng, chủ đề và tâm trạng chung, đặc biệt lòng hoài niệm, cảm giác bơ vơ và lạc lõng ở xứ người, đặc biệt những năm đầu tiên sau 1975, và những sự căm ghét đối với chế độ Cộng sản. Về thi pháp, cũng phân tích một số đặc điểm về cấu trúc, cách xây dựng nhân vật và cách sử dụng ngôn ngữ. Không có gì khác.

Cách nghiên cứu như thế rõ ràng là bất cập. Văn học Việt Nam trong và ngoài nước không phải chỉ khác nhau về phương diện địa lý. Đó chỉ là một trong vô số các khác biệt khác. Ngay cả khi chỉ đừng lại ở góc độ địa lý, sự khác biệt giữa văn học Việt Nam trong và ngoài nước không phải chỉ nằm ở chuyện trong và ngoài.

Trong, thì đã đành. Ở một quốc gia tương đối khép kín như Việt Nam, cái gọi là “trong” ấy thực sự là trong, intra-national, ở đó, văn học chủ yếu chỉ chịu sự tác động của tình hình chính trị, xã hội và văn hóa nội địa, đặc biệt, dưới các chế độ toàn trị như ở Việt Nam, các chính sách của đảng cầm quyền. Ví dụ, chúng ta không thể hiểu được sự xuất hiện cũng như tư tưởng chủ đạo của những cây bút tiêu biểu và xuất sắc nhất trong nửa sau thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 tại Việt Nam, từ Nguyễn Huy Thiệp đến Phạm Thị Hoài, từ Dương Thu Hương đến Bảo Ninh, nếu không chú ý đến phong trào đổi mới do đảng Cộng sản tung ra vào năm 1986, đặc biệt, chính sách cởi trói văn nghệ do Nguyễn Văn Linh khởi xướng vào cuối năm 1987. Nhưng trong phong trào đổi mới, mỗi cây bút nêu trên lại quan tâm chủ yếu đến một khía cạnh khác nhau: Với Nguyễn Huy Thiệp, quá trình thương mại hóa; với Phạm Thị Hoài, quá trình đô thị hóa; với Dương Thu Hương, quá trình dân chủ hóa; và với Bảo Ninh, quá trình tái cấu trúc quá khứ, đặc biệt quá khứ liên quan đến chiến tranh. Tất cả các sự kiện ấy đều được thu gọn trong biên giới của Việt Nam.

Cái gọi là “ngoài” ở khái niệm “ngoài nước” mới thực sự phức tạp.

Thứ nhất, và cũng đơn giản nhất, ngoài nước là ở ngoài Việt Nam, ở đó, giới cầm bút ở hải ngoại chịu sự tác động của ít nhất là ba nguồn: Một, từ Việt Nam; hai, từ quốc gia họ đang sống; ba, từ các cộng đồng lưu vong khác, từ cộng đồng lưu vong người Việt ở các quốc gia khác (global diaspora) đến các cộng lưu vong thuộc các sắc tộc khác hiện đang sống cùng quốc gia với họ. Trừ ngôn ngữ, ở phần lớn các phương diện khác, từ ý thức về bản sắc đến những trăn trở về việc viết lách cũng như các điều kiện sinh hoạt, văn học Việt Nam ở hải ngoại, thật ra, lại giống với các nền văn học lưu vong khác, ví dụ, của người Hoa, người Ấn Độ, hoặc người Nga và những người Đông Âu trước đây hơn là với nền văn học Việt Nam ở trong nước.

Thứ hai, ngoài Việt Nam là ở đâu? Câu trả lời thường nghe nhất: Ở cái quốc gia thứ hai nơi họ đang định cư. Ừ, thì cũng đúng. Nhưng đó chỉ là cái đúng trên mặt nổi. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Người Việt Nam, cũng như bất cứ người lưu vong nào, bao giờ cũng sống trên hai quốc gia cùng lúc: Họ vừa sống trên đất nước mới nơi họ định cư lại vừa sống với cái quê gốc họ đã từ bỏ. Có điều, ở đây, lại có một nghịch lý: cái nơi họ đang sống thì họ lại không thể hội nhập hoàn toàn, ít nhất là về phương diện văn hóa, để lúc nào cũng có cảm giác lạc lõng như những người ở ngoài; còn đối với cái nơi họ nghĩ là gốc rễ của mình, nơi lúc nào cũng day dứt trong tâm thức của họ, thì lại quá xa xôi, thậm chí, xa lạ. Bởi vậy, đặc điểm đầu tiên của không gian lưu vong chính là tính chất phi lãnh thổ (nonterritorial). Trong cái không gian phi lãnh thổ ấy, người lưu vong, kể cả người lưu vong Việt Nam, thường xuyên đong đưa giữa các ngôn ngữ, giữa các văn hóa, giữa các biên giới: Số phận của những người vượt biên là phải vượt biên (crossing borders) suốt đời, là luôn luôn sống trên những biên giới. Giới nghiên cứu Lưu vong học gọi đó là những người sống ở giữa (in-betweenness) hoặc sống trên những dấu gạch nối (hyphenatedness). Ở những khoảng giữa và trên những dấu gạch nối ấy, bản sắc của họ thực chất là một thứ lai ghép (hybridity).

Văn học lưu vong, do đó, cũng là một thứ văn học lai ghép.

Một nền văn học như thế chắc chắn là phải có những đặc điểm khác với những nền văn học nội địa, nơi chỉ có một ngôn ngữ, một văn hóa và nơi mọi người, từ tác giả đến độc giả, biết mình thuộc về đâu.

Nhưng khác như thế nào?

Ngành Lưu vong học có khả năng cung cấp cho chúng ta những khung lý thuyết và những khái niệm mới mẻ và hữu ích để từ đó, chúng ta có thể phát hiện một số đặc trưng riêng của nền văn học lưu vong bằng tiếng Việt mà nếu nhìn theo cách truyền thống, chúng ta sẽ không thể nào thấy được.


***
Chú thích:
1. Ví dụ, các cuốn: East Eats West, Writing in Two Hemispheres của Andrew Lâm (2010), và This Is All I Choose to Tell: History and Hydridity in Vietnamese American Literature của Isabelle Thuy Pelaud (2011). 


Người Việt - Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 chính thức thoái vị



 Người Việt

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 chính thức thoái vị hôm Thứ Năm, sau khi đảm nhiệm chức vụ giáo hoàng thứ 265 của Vatican từ năm 2005. Ngài trở thành vị giáo hoàng đầu tiên từ gần 600 năm qua quyết định ngưng vai trò dẫn dắt Giáo Hội Công Giáo và trị vì Vatican. 
    

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 rời khỏi cửa sổ của Castel Gandolfo, sau khi vẫy tay chào hàng ngàn người bên dưới. Ðây là nơi ngài trú ngụ tạm thời trước khi về sống ở tu viện Mater Ecclesiae, sau khi thoái vị hôm 28 Tháng Hai. (Hình: Christopher Furlong/Getty Images)  

Trong không khí rộn rã tiếng chuông ở Công Trường Thánh Peter cùng các giáo đường trên khắp thủ đô Rome của Ý, một chiếc trực thăng cất cánh, đưa vị chủ chăn Vatican về cung điện mùa hè dành riêng cho giáo hoàng ở Castel Gandolfo, một vùng đồi núi cách Rome chừng 15 dặm về hướng Ðông Nam. Tại đây, ngài sẽ tạm sống trong hai tháng đầu tiên của thời kỳ nghỉ hưu, trong khi chờ xây cất xong một tư thất mới.
Toán ngự lâm quân người Thụy Sĩ trong đồng phục sọc xanh vàng bàn giao nhiệm vụ bảo vệ Ðức Thánh Cha Benedict 16, 85 tuổi cho cảnh sát Vatican.

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 thoái vị, để lại sau lưng một giáo hội trong cơn khủng hoảng, như tiếp tục thích ứng với vụ tai tiếng sách nhiễu tình dục, một hệ thống hành chánh trung ương của Vatican đầy phân hóa, kể cả điều mà ngài gọi là một cuộc khủng hoảng đức tin.

Trước đó, bên trong điện Clementine Hall, gần Công Trường Thánh Peter, ngài cố làm dịu bớt dư luận quan tâm đến vai trò mai sau của mình, kể cả những mâu thuẫn có thể có do tình trạng đặc biệt sắp tới đây, khi giáo hội vừa có một giáo hoàng đang trị vì và một giáo hoàng đã về hưu, sống gần bên nhau ngay tại Vatican.

Vài nét về Ðức Giáo Hoàng Benedict 16

Ra đời ngày 16 Tháng Tư, 1927, tại Bavaria, Ðức, với tên Joseph Aloisius Ratzinger, ngài được thụ phong linh mục vào năm 1951. Ðến cuối thập niên, ngài trở thành một nhà thần học tiếng tăm và được bổ nhiệm làm giáo sư thực thụ trong năm 1958. Ngài làm giáo sư thần học tại nhiều trường đại học ở Ðức, mà University of Regensburg là trường cuối cùng, nơi ngài làm phó viện trưởng trong hai năm 1976 và 1977.

Cũng trong năm 1977, ngài được Ðức Giáo Hoàng Paul 6 (1963-1978) chỉ định làm tổng giám mục Tổng Giáo Phận Munich và Freising. Không lâu sau đó, ngài được phong chức hồng y vào ngày 27 Tháng Sáu, 1977, một sự đề bạt được xem là khá bất thường đối với người có ít kinh nghiệm về mục vụ.

Năm 1981, ngài định cư ở Rome khi được Ðức Giáo Hoàng John Paul 2 bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trước đây được gọi là Văn Phòng Tòa Thánh. Ngày 5 Tháng Tư, 1993, ngài được phong chức hồng y, giám mục hiệu tòa Velletri-Segni.

Năm 1998, ngài được cử làm phó chủ tịch, và đến năm 2002 được làm làm chủ tịch Hồng Y Ðoàn, và được xem là nhân vật sáng chói nhất trong số các hồng y.

Ngay trước khi trở thành giáo hoàng, Hồng Y Joseph Aloisius Ratzinger là một trong những người có nhiều ảnh hưởng nhất trong Giáo Triều Roma, một guồng máy hành chánh của Tòa Thánh và cơ quan quản lý trung ương của toàn Giáo Hội Công Giáo, và là một phụ tá thân cận của Ðức Giáo Hoàng John Paul 2. Trong vai trò chủ tịch Hồng Y Ðoàn, ngài là người chủ tọa tang lễ vị giáo hoàng tiền nhiệm của mình, kể cả buổi thánh lễ trước khi Cơ Mật Viện họp vào năm 2005 để chọn một giáo hoàng tương lai, mà ngài là người được bầu.
Sau khi lên ngôi, Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 bắt đầu thu nhỏ lại bộ máy hành chánh Giáo Triều Roma, cho nhập bốn hội đồng thành hai hồi Tháng Ba, 2006.

Về ngôn ngữ, ngoài tiếng Ðức là tiếng mẹ đẻ, ngài nói lưu loát tiếng Pháp và tiếng Ý. Ngài cũng giỏi tiếng Latin, và nói được vừa đủ tiếng Anh lẫn tiếng Tây Ban Nha. Ngoài ra, ngài có thêm kiến thức về tiếng Bồ Ðào Nha. Ngài có thể đọc được tiếng Hy Lạp cổ và tiếng Hebrew trong Kinh Thánh. Ngài là thành viên của nhiều học viện khoa học. Ngài thường chơi dương cầm và yêu thích nhạc của Mozart và Bach.

Thoạt đầu là một nhà thần học cấp tiến, nhưng sau năm 1968, ngài trở nên bảo thủ hơn. Phần nhiều các bài viết của ngài bênh vực cho học thuyết truyền thống và giá trị của Công Giáo.

Ngài được chọn làm Giáo Hoàng ngày 19 Tháng Tư 2005, qua một cuộc bầu phiếu của Cơ Mật Viện, bao gồm những hồng y dưới 80 tuổi.

Hoạt động của Ðức Giáo Hoàng Benedict 16

Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ chủ chăn Giáo Hội Công Giáo toàn cầu, Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 vận động cho sự trở lại với các giá trị nền tảng của tôn giáo, chống lại khuynh hướng thế tục đang ngày càng mạnh của nhiều nước Phương Tây. Ngài xem sự phủ nhận chân lý khách quan (objective truth) của tương đối chủ nghĩa (relativism), và sự phủ nhận chân lý đạo đức nói riêng, là vấn đề trọng tâm của thế kỷ thứ 21. Ngài dạy về tầm quan trọng của cả Giáo Hội Công Giáo lẫn sự hiểu biết về tình yêu cứu rỗi của Thiên Chúa. Ngài tái khẳng định đến “tầm quan trọng của sự cầu nguyện trong bối cảnh ngày càng có thêm nhiều khuynh hướng thế tục trong nhiều tín đồ Công Giáo dấn thân vào các công tác từ thiện.”

Vị giáo hoàng này cũng làm sống lại một số truyền thống, bao gồm việc nâng cao thánh lễ Latin Cổ Truyền (Tridentine Mass) lên một vị thế cao hơn. Ngài nói, dựa theo “đòi hỏi của đức tin,” việc cử hành thánh lễ này nay được cho phép dễ dàng hơn. Trước đây, thay vì phải có sự chấp thuận của giám mục, nay chỉ cần xin phép vị linh mục địa phương.

Ngài cũng làm mới lại quan hệ giữa Giáo Hội Công Giáo với nghệ thuật, xem việc ứng dụng mỹ thuật là con đường dẫn đến thánh linh. Ngài cổ xúy việc sử dụng tiếng Latin, và du nhập trở lại y phục truyền thống của giáo hoàng, và đây lý do mà ngài được gọi thêm với biệt danh là “giáo hoàng của thẩm mỹ học.”

Bàn về chủ nghĩa thế tục và duy lý, một trong những ý tưởng căn bản của Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 có thể được tìm thấy trong bài nói chuyện có tên “Cuộc Khủng Hoảng Văn Hóa” của Tây Phương, một ngày trước khi Ðức Giáo Hoàng John Paul 2 qua đời, khi ngài nhắc đến đạo Công Giáo như là Tôn Giáo của Luận Lý (Religion of the Logos).

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 từng viết ba bản thông tri (encyclical).

Trong thông tri thứ nhất, tên “Deus Caritas Est” (Thượng Ðế là Tình Yêu Thương), viết năm 2005, ngài nói nhân loại được tạo dựng theo hình ảnh yêu thương của Thiên Chúa, rằng họ cũng có thể thực hiện sự yêu thương, qua sự dâng hiến cho Thượng Ðế và kẻ khác, bằng sự cảm nhận tình yêu của Chúa qua sự suy niệm. Bản thông tri dài 16,000 chữ, gồm 42 đoạn, mà nửa phần đầu do ngài viết bằng tiếng Ðức và nửa phần sau trích từ bài viết dở dang của vị giáo hoàng tiền nhiệm.

Thông tri thứ hai tên “Spe Salvi” (Cứu Rỗi bằng Hy Vọng), nói về ưu tính của sự hy vọng vào năm 2007.

Và ở thông tri thứ ba (2009), nhan đề “Caritas in Veritale” (Tình Yêu trong Chân Lý), Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 tiếp tục lời giáo huấn của Giáo Hội về công bằng xã hội. Ngài lên án hệ thống kinh tế đang chiếm ưu thế mà chứng cớ là “đã gây nên những hiệu ứng độc hại của tội lỗi,” đồng thời kêu gọi người ta hãy tìm lại đạo đức trong kinh doanh và quan hệ kinh tế.

Về chủ nghĩa tiêu dùng, Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 lên án khuynh hướng tiêu dùng thái quá, đặc biệt trong giới trẻ. Phát biểu hồi Tháng Mười Hai, 2007, ngài nói: “Thanh thiếu niên và ngay cả trẻ em, dễ dàng trở thành nạn nhân của sự yêu thương nuông chiều của những người trưởng thành vô tâm, là người đã tự đánh lừa mình lẫn con cái họ, đưa chúng vào ngõ cụt của chủ nghĩa tiêu dùng.”

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 mở rộng việc đối thoại với các nhóm tôn giáo khác và tìm cách cải thiện mối quan hệ với họ. Tuy nhiên, trong suốt thời gian làm việc, ngài cũng tạo nên một số vấn đề gây nhiều tranh luận. Nhiều chỉ trích cho rằng ngài thiếu nhạy cảm đối với Do Thái Giáo (Judaism). Ví dụ điển hình là việc ngài nâng cao thánh lễ Latin Truyền Thống và việc ngài bãi bỏ việc rút phép thông công của bốn giám mục thuộc “Society of St. Pius X.”

Ðối với đạo Hồi, có nhiều lần mối quan hệ giữa đôi bên trở nên căng thẳng. Năm 2006, trong bài phát biểu tại University of Regensburg ở Ðức, nội dung có lời phía Hồi Giáo cho là cảm thấy bị xúc phạm, dù rằng ngài chỉ nhắm đến tính hữu lý của sự bạo động trong tôn giáo, và hậu quả của nó đối với tôn giáo. Ví dụ trong câu nói: “Cho tôi xem điều gì Muhammad mang lại, được coi là mới mẻ. Quý vị sẽ thấy ở đó chỉ có những gì xấu xa và vô nhân, như khi ông ra lệnh hãy dùng gươm kiếm để phổ biến niềm tin của mình.”

Về Phật Giáo Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ngỏ lời chúc mừng khi Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 vừa được chọn, và ghé thăm ngài ở Vatican hồi Tháng Mười, 2006.

Trong chuyến viếng thăm Brazil vào Tháng Năm, 2007, Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 gây sóng gió khi nói rằng, thổ dân Nam Mỹ từng “âm thầm mơ ước” đến niềm tin Cơ Ðốc do những người đi chiếm thuộc địa mang đến cho họ. Tổng thống Venezuela, ông Hugo Chavez, đòi hỏi giáo hoàng phải có lời xin lỗi.

Trong cương vị giáo hoàng, ngài thực hiện vô số chuyến du hành trên khắp thế giới, mà nhiều nhất là trong ba năm đầu tiên. Năm 2008, ngài ghé thăm Hoa Kỳ và được Tổng Thống George W. Bush tiếp đón tại Tòa Bạch Ốc.

Vào ngày 11 Tháng Hai, 2013, Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 loan báo ý định thoái vị trước sự hiện diện của các hồng y, trong một bài diễn văn đọc bằng tiếng Latin. Qua đó, ngài nêu lý do “thiếu sức mạnh của ý chí lẫn sức khỏe.” Ngài trở thành vị giáo hoàng đầu tiên thoái vị kể từ khi Ðức Giáo Hoàng Gregory 12 thoái vị hồi năm 1415, và cũng là người đầu tiên có quyết định như vậy một cách tự nguyện, tính từ Ðức Giáo Hoàng Celestine 5 vào năm 1294.

Ðức Giáo Hoàng Benedict 16 dự trù sẽ dọn đến sống ở tu viện Mater Ecclesiae đang được tân trang, trong suốt thời gian hưu trí. Với tư cách là Giáo Hoàng Danh Dự (Pope Emeritus), ngài vẫn được giữ tước hiệu Ðức Giáo Hoàng, cũng như được xem là Ðức Thánh Cha, đồng thời cũng tiếp tục mặc sắc phục màu trắng của một giáo hoàng. (TP)  


Nguyễn Minh Cần - Thậm Cấp Chí Nguy



Nguyễn Minh Cần

Chưa bao giờ Bộ chính trị ĐCSVN lâm vào thế kẹt như lần này! Họ giăng bẫy “đám dân đen”, bịp bợm bày trò lấy ý kiến dân để sửa đổi “hiến pháp” hòng độc tôn thống trị dân ta dài dài... Nhưng bây giờ thì họ lại đang rơi vào cái bẫy do chính họ giăng ra!


Trước khi giăng bẫy, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các ông đầu nậu trong BCT đã cẩn thận chặn họng “dân đen” là “bỏ Điều 4 là tự sát”, “chỉ có quyền sở hữu toàn dân, chứ không thể có quyền sở hữu tư nhân về đất đai”, “không thể có báo chí tư nhân”, “không thể có đảng phái đối lập”, “không thể có đa nguyên, đa đảng”, “quân đội và công an là của Đảng, không thể khác được”, “kinh tế quốc doanh là chủ đạo”, “nhà nước ta không tam quyền phân lập”... Sau đó, các ông mới cho kẻ bề tôi Phan Trung Lý, trưởng ban dự thảo sửa đổi “hiến pháp”, ra sân khấu giở giọng đường mật rằng “Ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nên nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và sửa đổi hiến pháp”. Ông Lý dụ dỗ người dân mạnh dạn góp ý, “không có điều gì cấm kỵ hết”, kể cả Điều 4! Tổng bí thư lúc này đắc chí nghĩ rằng diệu kế này của BCT chắc chắn sẽ thành công mỹ mãn...

Nào ngờ , “đám dân đen” bất trị của thời đại bùng nổ thông tin bảo nhau ào ào góp ý kiến, mà... khốn nạn thay, những ý kiến đó hầu hết lại ngược với những điều răn đe, cấm kỵ của “Đảng ta”. Tệ hơn nữa, ngày 04.02.2013, một phái đoàn thay mặt cho 72 vị nhân sĩ, trí thức, kể cả một số vị vốn là cựu đại thần của “triều đình” CS, đã đến “quốc hội” trang trọng trao kiến nghị và kèm theo cả một bản dự thảo hiến pháp, dường như để làm vật “đối chứng” cho toàn dân dễ bề đối chiếu với dự thảo hiến pháp sắp đưa ra của “Đảng ta”. Khách quan mà nói, dự thảo hiến pháp của các vị nhân sĩ, trí thức khá dân chủ và tiến bộ, nên gần như hầu hết các điều quan trọng trong đó đều chống lại tất cả những điều mà Tổng bí thư và các ông lớn “Đảng ta” đã răn đe! Chẳng hạn, nó khẳng định quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân, toàn dân phải phúc quyết hiến pháp; nó xác quyết quyền con người đã ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948)... được tôn trọng và bảo vệ; nó công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, quyền lập hội, lập nghiệp đoàn... Nó khẳng định các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. Tệ hơn nữa, nó vứt bỏ hoàn toàn cái Điều 4 thiêng liêng của “Đảng ta” mà ghi rõ là các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động, quyền đối lập chính trị được tôn trọng, pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị!

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đâm ra bối rối... Lẽ ra, ông phải bình tĩnh để cho “đám dân đen” góp cho hết ý cho đến cuối tháng ba này để “Đảng ta” “phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp” (đúng nguyên văn), nhưng... chưa hết ba tháng góp ý thì ông Trọng đã đùng đùng phản ứng mạnh mẽ, tung ra những lời răn đe đối với những ai góp ý không đúng với đường lối “Đảng ta”. Cái “lú” của ông Trọng lộ ra ở đây! Ông là một nhà lý luận kiệt xuất của “Đảng ta”, mà lời lẽ buộc tội của ông thì hàm hồ, cửa quyền, trịch thượng, thiếu hẳn chất lý luận, hoàn toàn không có sức thuyết phục nào. Ông lớn tiếng hô: “phải lãnh đạo cái việc góp ý kiến sửa đổi dự thảo hiến pháp”, nhưng lãnh đạo thế nào thì không thấy ông chỉ đạo. Chẳng lẽ ông ra lệnh cho các đồng chí của ông bịt miệng “đám dân đen”, bằng cách công khai tuyên bố rõ những vấn đề a, b, c... này thì “Đảng ta” cấm không ai được nói đến. Nếu thế thì trắng trợn quá và “hơi bị” trái với lời tuyên bố của kẻ bề tôi Phan Trung Lý! Mà không làm độc đoán thì làm sao ngăn được “đám dân đen” lắm mồm nói đến những vấn đề thiết thân của họ, tức là chạm đến những điều “Đảng ta” cấm kỵ? Tự do ngôn luận kia mà!

Để thấy rõ tính chất nghèo nàn về mặt lý luận của nhà lý luận kiệt xuất của “Đảng ta” trong những lời rao giảng của ông tại Phú Thọ được phát đi trên Chương trình VTV1 hôm 25.02.2013, chúng tôi xin ghi lại nguyên văn ở đây:

"Các đồng chí phải lãnh đạo cái việc góp ý kiến sửa đổi dự thảo hiến pháp. Cái này quan trọng lắm đấy.

Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa. 

Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy!

Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng nữa. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa, chỉ ở đâu nữa nào? 

Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể... thì nó là cái gì?! Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này".

Cái chữ “xử lý” này làm mọi người nhớ lại, trước đó, vào ngày 28.12.2012, cũng chính Tổng bí thư đã giao nhiệm vụ cho lực lượng công an và quân đội phải “ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước”.

Xem ra những lời đe dọa đó ngày nay không còn “thiêng” nữa, không làm “đám dân đen” bất trị khiếp sợ như xưa. Sau khi Chương trình VTV1 tung ra bài phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hôm 25.02, thì ngay trong tối hôm đó, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên của báo Gia Đình & Xã Hội liền tung lên một bài phê phán thẳng thừng ông Nguyễn Phú Trọng với những lý lẽ đanh thép, lập luận vững chắc. Đây là cú đấm thôi sơn vào mặt Tổng bí thư. Đáp lại, như mọi khi, “Đảng ta” liền hèn hạ đánh nhà báo một “cú dưới thắt lưng”: đuổi việc! Chắc rồi đây sẽ còn “bồi” thêm vài quả đấm nào nữa đây. Nhưng hành vi trả thù này của “Đảng ta” chỉ làm Tổng bí thư rơi mặt nạ, lộ rõ bộ mặt thật đốn mạt, dối trá, bịp bợm của một kẻ độc tài đuối lý. Còn nhà báo Nguyễn Đắc Kiên là một nhà báo cương trực, can đảm, khẳng khái thì được rất nhiều người ở khắp nơi hoan hô khâm phục. Nhưng anh đã khiêm tốn nói: “bài viết của tôi là rất bình thường, nó thật sự bình thường, không có gì to tát cả”, “bài này cũng như những bài khác trên blog hoàn toàn do mệnh lệnh đạo đức” mà viết thôi. Cuối năm ngoái, anh có bài thơ, kết thúc bằng mấy câu rất giản dị: nếu một ngày tôi phải vào tù,/ thì chắc chắn là nhà tù cộng sản,/ bởi vì tôi khao khát tự do.

Tấm gương cương trực của Nguyễn Đắc Kiên nhanh chóng lan tỏa mạnh trong nhiều người cũng “khao khát tự do” như anh, nhất là thế hệ @ hăng say trong và ngoài nước. Mới đây, đã có “Lời Tuyên bố của các Công dân Tự do”, sát cánh bên nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, đã “kêu gọi các công dân khác cùng với chúng tôi đồng tuyên bố”:

1/ không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong hiến pháp hiện hành mà còn muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, làm một hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân, không phải là ý chí của ĐCS như Hiến pháp hiện hành;

2/ ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình và tiến bộ của dân tộc VN, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước;

3/ không chỉ ủng hộ chính thể tam quyền phận lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia;

4/ ủng hộ phi chính trị hóa quân đội, vì quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ, không phải để bảo vệ bất cứ một đảng phái nào;

5/ khẳng định mình, cũng như tất cả những người VN khác, có quyền như trên, vì đó là quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng là quyền tự nhiên vốn có của con người từ khi sinh ra, chứ không phải quyền ĐCS ban cho, nên ĐCS không thể tước đoạt nó.

Đây là một sáng kiến rất đáng hoan nghênh và hưởng ứng. (Tiếc rằng, các bạn không đề cập đến yêu sách công nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, một vấn đề sinh tử của dân ta). Chúng ta hy vọng rằng việc lấy chữ ký vào “Lời Tuyên bố” này sẽ lan rất rộng, “Đảng ta” khó lòng ngăn cản được! Nhất là trong thời đại internet bùng nổ thông tin ngày nay, dù có muốn, chắc “Đảng ta” cũng phải bó tay.

Tổng bí thư cùng phe cánh đang điên đầu, lúng túng... Ông ra lệnh cho lực lượng công an và quân đội, cho các cấp đảng ủy phải “ngăn chặn”, phải “xử lý”... nhưng thử hỏi, Tổng bí thư có dám bỏ tù 72 nhân sĩ, trí thức, trong số đó có những “cựu thần” của đảng không? Có dám bỏ tù cả mấy chục nghìn người đã và đang tiếp tục đưa kiến nghị sửa đôi hiến pháp theo lời kêu gọi “thiết tha” của “Đảng ta” hay không? Nếu không thì làm ngăn sao nổi ngọn triều dâng ngày càng cao này? Ngay cái việc ông quy kết cho những người đưa kiến nghị “là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” chắc chắn sẽ gây phản ứng mạnh trong nhiều người có tinh thần tự trọng!

Cho rằng những kiến nghị “vớ vẩn” này là biểu hiện của sự “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, nên Tổng bí thư rất coi trọng mặt trận tư tưởng. Ông tăng cường đội quân truyền thông hùng hậu trên mặt trận đó, gồm đủ loại báo giấy, báo mạng, đài truyền hình, đài phát thanh, lại thêm hàng trăm “bồi bút” chuyên nghiệp và trên 62 000 báo cáo viên, tuyên truyền viên, dư luận viên các cỡ, các cấp từ trung ương cho đến xã (số liệu đưa ra tại Hội nghị Tổng kết công tác Tuyên truyền miệng năm 2012) thế mà “Đảng ta” vẫn cứ thua hoài trên măt trận truyền thông trước hệ thống mạng xã hội trong và ngoài nước phát triển mạnh hơn nhiều, với nhiều “cây bút” có trình độ viết lách, diễn đạt sắc bén, với đề tài nóng hổi rất hợp lòng người.

Giờ đây, Tổng bí thư cảm thấy mối nguy đang đến gần. Ông không thể không thấy lòng dân đã bộc lộ rõ ràng trong cuộc góp ý sửa đổi hiến pháp, là đại chúng đòi phải có một bản hiến pháp mới, một “khế ước xã hội” được sự đồng thuận của toàn dân, một hiến pháp thật sự dân chủ, ổn định, trường tồn, chứ không phải là một văn bản pháp lý giả tạo để hợp thức hóa đường lối của ĐCS trong từng giai đoạn. Ý dân là đòi phải xóa bỏ những điều mà “Đảng ta” cố sống cố chết bám cho kỳ được thì người dân mới thỏa mãn. Nếu Tổng bí thư và phe cánh ông cứ khăng khăng bịt tai, nhắm mắt trước tiếng dân, trước ý dân mà cứ dùng lối cai trị đàn áp, khủng bố để cố bịt miệng dân rồi ngoan cố đưa ra một bản hiến pháp “mới như cũ” thì lòng uất hận của toàn dân sẽ là ngọn triều dâng cao rất dễ biến thành trận sóng thần quét sạch “Đảng ta”. Vì sao có thể nói như vậy? Vì dưới gậm giường chế độ độc tài toàn trị của “Đảng ta” có sẵn những thùng thuốc súng đang tích lũy chỉ chờ một tia lửa là bùng nổ. Nói cụ thể, những thùng thuốc súng đó là “nạn tham nhũng tràn lan”, là “kinh tế trì trệ, giá cả gia tăng, hàng nghìn doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp năng nề”, là “số dân oan ngày mỗi tăng do bọn cường hào đỏ cướp đoạt ruộng đất của dân”, là “các quan lại CS chà đạp nhân quyền, áp bức, bóc lột người dân”, là “kẻ cầm quyền luồn cúi, khuất phục ngoại bang, để mất đất, mất biển, mất đảo, lại đàn áp hung bạo người dân yêu nước chống bọn xâm lấn bờ cõi nước ta”, v.v... Lúc này là thời điểm vô cùng tế nhị, nếu Tổng bí thư và các ông đầu nậu ĐCS cứ u mê, ngoan cố, không chiều theo ý dân thì không khéo nỗi bất bình của người dân sẽ là một tia lửa nhỏ làm nổ bùng cả một loạt thùng thuốc súng kia.

Đấy, như chúng tôi đã nói trên, các ông trong BCT giăng bẫy “đám dân đen”, bày trò lấy ý kiến dân sửa đổi hiến pháp thì hóa ra chính các ông lại rơi vào bẫy. Các ông bị kẹt trong một gọng kìm khó thoát, một bên là lòng dân, ý dân muốn thay đổi hiến pháp vì lợi ích của Dân tộc và Tổ quốc, một bên là ý “Đảng ta” muốn giữ cái hiến pháp “như cũ” để bảo vệ quyền lực và quyền lợi của các ông. Tình thế này của “Đảng ta” thật là “thậm cấp chí nguy”!

Chỉ có một con đường duy nhất giúp “Đảng ta” thoát khỏi tình trạng “thậm cấp chí nguy” này – như chúng tôi đã viết trong bài “Lan man chuyện hiến pháp” – là ĐCS cần tổ chức một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do và trung thực, có sự kiểm soát của quốc tế, cho nhân dân được tự do bầu cử, ứng cử để bầu lên một quốc hội lập hiến, và quốc hội này sẽ dự thảo và thông qua hiến pháp mới; hiến pháp mới sẽ được đưa ra trưng cầu dân ý một cách thật tự do và đàng hoàng để toàn dân phúc quyết thì chắc chắn hiến pháp đó sẽ là hiến pháp tốt nhất có thể tồn tại lâu dài với thời gian. Để làm được việc này những người CS phải có một tấm lòng thật sự vì Dân, vì Nước và một ý chí sắt đá muốn chuyển biến một cách nhẹ nhàng, không gây chấn động chế độ độc tài toàn trị thành chế độ dân chủ đa nguyên. Nếu những người CS không làm được việc đó thì nhất định nhân dân ta sẽ làm được!

Điều vừa nói trên không có gì mới cả, nhiều tổ chức và một vài chiến sĩ dân chủ trước đây cũng đã nêu ra rồi. Chẳng hạn như Khối 8406 hồi tháng 04 năm 2006 cũng đã đề ra “Tiến trình dân chủ hóa” trong đó cũng đã đề cập đến việc lập Hội đồng soạn thảo hiến pháp mới, tổ chức bầu cử quốc hội mới và quốc hội này sẽ thông qua hiến pháp mới, hiến pháp thật sự dân chủ.

Mong sao Tổng bí thư và “Đảng ta” đủ sáng suốt chọn con đường vì Dân, vì Nước, chứ không phải vì quyền lực và quyền lợi của mình! Nếu ĐCS không chọn thì nhân dân ta sẽ chọn, lúc đó thì ĐCS chắc chắn sẽ bị gạt ra ngoài lề lịch sử!

28.02.2013

Nguyễn Minh Cần 



Nguyễn Hoài Vân - Trên phương diện biểu tượng: Đức Giáo Hoàng có thể từ chức được hay không ?



Nguyễn Hoài Vân


Ảnh Getty Image

Không, nếu quan niệm Giáo Hoàng là một thực trạng, được chính Thiên Chúa quyết định qua phiếu bầu của các Hồng Y như giáo luật quy định. "Là" Giáo Hoàng, mang ý nghĩa là sự nối dài của Thiên Chúa nơi trần thế. Tín điều "Giáo Hoàng không thể sai lầm" đến từ đó (có thể nào "từ nhiệm" thực trạng "không thể sai lầm" hay không ?). Trong điều kiện ấy, hoặc sự từ chức của một Giáo Hoàng là một điều vô nghĩa, hoặc chính cái "thực trạng Giáo Hoàng" là một sự lừa dối. Điều ấy không khác gì sự từ chức của chính Thiên Chúa ... Thêm vào đó, có thể nào gián đoạn thực trạng của một người, chấm dứt cái người ấy "LÀ", chỉ bằng một lời tuyên bố ? Nhất là khi thực trạng này được quyết định bởi chính Thiên Chúa ? Nếu có thể làm được việc ấy, thì thực trạng kia trở thành giả dối : nó không phải là cái mà người ta luôn tuyên dương. Phải chăng chính lập luận này đã khiến cho Gioan Phaolồ đệ nhị, cũng như nhiều Giáo Hoàng khác, đã cương quyết không thoái vị, dù cho sức khoẻ của họ có suy yếu đến đâu đi chăng nữa ?

Ngược lại, nếu quan niệm rằng "làm" Giáo Hoàng cũng tương tự như làm bất cứ công việc nào khác, thì đương nhiên là một vị Giáo Hoàng có thể từ chức, về hưu, nghỉ ốm, nghỉ tai nạn nghề nghiệp v.v... Điều ấy rất dễ được thông cảm, rất "người", thậm chí "quá người" như lời Nietzsche.

Vấn đề, nếu có, là việc này cắt đứt mối dây nối liền nhân loại với Thiên Chúa, được biểu tượng bởi Giáo Hoàng. Thật vậy, Thiên Chúa nhập thế, khi tạm thời trở lên Trời, đã để lại nơi trần gian Giáo Hội của Ngài, một Giáo Hội mà, trên nguyên tắc, phải quy tụ toàn thể loài người. Giáo Hội "Hoàn Vũ" ấy (Catholique nghĩa là "hoàn vũ"), được coi như thân thể của Đức Ky Tô, sống qua một con người, là Đức Giáo Hoàng, đại diện cho nhân loại để kết hợp với Thiên Chúa bằng bí tích "Hợp Nhất" (communio).

Phá hủy sự nối kết ấy chính là thừa nhận chỉ có con người nơi trần thế, tuyệt vọng trước viễn tương hư hoại và chết chóc, trượt trên cuộc đời xuống một vực thẳm hư vô, như một tương lai không thể tránh.

Camus sẽ vỗ tay !

NGUYỄN Hoài Vân
28 tháng 2 - 2013

Phạm Thị Hoài - Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió



Phạm Thị Hoài


Trước đây tôi hầu như không bước vào trang Gia đình & Xã hội điện tử, nơi nhà báo Nguyễn Đắc Kiên vài ngày trước còn là phó phòng. Bây giờ nghe danh lại ghé qua, gặp những thông tin đăng kín từ trên xuống dưới như sau:
Hậu scandal tình và tiền với Adam Nguyễn: Cao Thái Sơn lên tiếng làm hòa
Kết cục buồn của thú uống rượu trong giới trẻ
Chồng đổ đốn còn giở trò “Chí Phèo”
Chồng có con với người yêu cũ
10 thói quen tốt giúp vòng 1 luôn căng tròn
12 “cục cưng” của các sao Việt
Bé gái sinh ra với một nửa trái tim
Phi vụ cảm cúm của cậu chàng 22 tháng

Toàn những thứ như thế. Nó lá cải, điều đó thì đã rõ, nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy, mà ở chỗ:
Thứ nhất, nó lá cải ở hạng làng nhàng [i], không được đùng đoàng như Dân trí (“Đêm giật mình thức giấc, tưởng vợ là… tử thi“, không được bất trị như Phụ nữ Today (“Tôi đã phá trinh em gái vợ“); không được mặt dày như Dân Việt (“Oái oăm trai 15 hiếp gái 18“), không được tạp nham đặc sệt như Ngôi sao (“Chó chết khi đang phẫu thuật nâng cơ mặt“), không được thô bỉ tầm phào như Giáo dục (“Những bức ảnh tố cáo sự thật về vòng một lép xẹp của mỹ nhân Việt“) và không được thản nhiên một cục như VnEx (“Tôi chán chồng“).

Thứ hai, trong khi các tờ lá cải khác còn có một vài tham vọng thầm kín và ít nhiều chưa bị tận diệt nào đó về vai trò (tất nhiên là nghiêm túc) của báo chí với xã hội [ii], thì Gia đình & Xã hội, tờ báo của Bộ Y tế, thuần túy lá cải. Việc sa thải nhà báo Nguyễn Đắc Kiên mang tính chính trị, song một tờ báo như thế rõ ràng không có một xác tín chính trị nào hết. Nó chỉ không muốn gặp rắc rối về chính trị để bảo vệ thị phần nhỏ nhoi của nó giữa các đại gia trong ngành. Không được quảng cáo cho các nhà băng, shop thời trang, hàng mĩ phẩm cao cấp, điện thoại thông minh đời mới nhất nhưng dù sao cũng còn được hợp đồng với thuốc ho. Ai bảo ho ở Việt Nam là phi chính trị?

Tinh thần tuân lệnh trước kẻng của lãnh đạo tờ Gia đình & Xã hội là hoàn toàn bình thường, không hơn không kém ở phần lớn các nơi khác, vì thế không có gì đáng nói thêm. Nhưng hành động theo “mệnh lệnh đạo đức” sáng rõ của Nguyễn Đắc Kiên thì hiếm hoi và đáng được ghi vào lịch sử báo chí Việt Nam. Tuy nhiên, điều làm tôi bối rối là: một nhà báo với bản lĩnh, ý thức xã hội, nhận thức và năng lực như anh thì làm gì tại một tờ báo như Gia đình & Xã hội, thậm chí ở một cương vị không phải là vô can với những nội dung thảm hại vừa nêu trên? Bất chấp tiến trình lá cải hóa cao độ không thể đẩy lùi của báo chí Việt Nam, những nhà báo nghiêm túc từng gặp tai nạn nghề nghiệp, từng bị cách li hay đã tự thoát li khỏi nền báo chí chính thống, như Huy Đức, Đoan Trang, Trương Duy Nhất, Hoàng Khương, Nguyễn Việt Chiến… chắc chắn chưa bao giờ gắn tên tuổi và sự nghiệp của mình với những tờ báo thuần túy lá cải.

Trong họa có phúc. Nếu có một mệnh lệnh nghề nghiệp thì nhìn từ khía cạnh đó, tôi thấy việc Nguyễn Đắc Kiên phải chia tay với tờ Gia đình & Xã hội là điều đáng mừng. Sự nghiệp và cuộc sống của anh trong tương lai dĩ nhiên là đầy khó khăn, song tôi tin rằng những thử thách đó xứng đáng với con người anh hơn việc yên vị ở chức phó phòng phụ trách một trang điện tử sống bằng tin nhặt nhạnh xoàng xĩnh và quảng cáo thuốc ho.

Khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện và gây bão táp trong văn học hai mươi lăm năm trước, nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến đã không chúc ông thuận buồm xuôi gió. Lời không chúc ấy cũng thật phù hợp với Nguyễn Đắc Kiên.

© 2013 pro&contra