Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Hạ Long Bụt sĩ - MỘT CHU KỲ 60 NĂM



Hạ Long Bụt sĩ

 xb 1954
1953-2013

Sáu mươi năm trước, chiến tranh Việt-Pháp sắp đến hồi kết, ở Hà Nội không khí vẫn thanh bình, Tết năm Tỵ chợ phiên quanh Hồ Gươm, quán sạp chạy từ Trường Thi tới Hàng Đào Hàng Ngang, khăn quàng xanh đỏ trên áo nhung thiếu nữ Hà thành bay bay trong làn mưa phùn mỏng…Sáng Mùng Một đài phát thanh phát lời chúc Tết của Quốc Trưởng Bảo Đại, lời ngọt ngào thân mật gửi toàn dân từ Bắc tới Nam, một quốc gia VN thống nhất tưởng như sáng sủa đẹp đẽ nếu không có làn sóng đỏ Nga-Tầu !

Thế hệ lên mười, vừa thi xong Tiểu học, lên năm thứ nhất Trung Học, sân khấu Côn Sơn trong trường Nguyễn Trãi nhộn nhịp tập dượt Trấn Thủ Lưu Đồn, giáo sư kịch sĩ Vũ Khắc Khoan, còn rất trẻ, mặt đỏ gay, sắn tay áođạo diễn…Tôi được cử đi dự giải Bóng bàn thiếu nhi …sang đánh ở trường Đạo Puginier, vòng đầu thua đậm 3-0 ! 

Đã 60 mươi năm rồi, hình ảnh xưa chỉ còn loáng thoáng, quên dần, những cậu bé lên mười tuy chỉ là những cái dấu phảy trong dòng Việt sử, nhưng lại là gạch nối từ thế hệ cổ nhà Nho sang Tân học, còn ghi nhớ một chút đất Bắc tử tế thời xưa, trong khung cảnh nên thơ một Hà Thành của Khái Hưng, Thạch Lam, nhỏ bé ấm cúng quanh khu phố Cổ từ Bờ Sông ra Hồ Gươm, lên chợ Đồng Xuân, vườn Bách Thảo, ra Trường Thi, Lý Thường Kiệt…dấu ấn ấy ẩn trong tàng thức, chẳng ma lực nào đánh cắp nổi. Có một Hà Nội của riêng tôi, có một đất Bắc của riêng tôi, chẳng phe phái nào lấy đi được, từ thời Kiêu binh Thanh Nghệ thế kỷ 18 ra phá phách, từ thời Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra Hà Nội 1831, từ sau 1954 nhóm khu Tư, nhóm nặc nô Sơn Nam nói ngọng, kéo bầu đoàn thê tử ra chiếm đóng…dân Hà Thành cũ chỉ còn lại 4-5 % theo thống kế gần đây, trên 90% đã chết chóc hay lưu lạc tứ xứ, vào Nam 1954, sang Pháp, sang Mỹ, sang Úc... và bây giờ con cháu 3-4 thế hệ sinh sôi bốn biển năm châu, Lạc Việt có mất đâu, DNA vẫn còn đấy, giọng nói vẫn còn đấy, chim cú bắt chước hoạ mi chứ hoạ mi không bắt chước chim cú…và rồi thời gian là thước đo khách quan nhất, nó sẽ nghiệm lượng cái nào là rác, cái nào là bùn, cái nào là tinh chất…lịch sử ắt phải như thế, Mãn Thanh vào Trung nguyên 300 năm rút cục bị Hán hoá nhuần nhuyễn mất dần đi tính hung hãn du mục…

NỖI NIỀM XA XỨ
Rồi từ Bắc vào Nam, từ Nam sang Âu Mỹ, giống Việt mang bộ tẩu, mấy đời chạy loạn chăng? Theo cụ Lý Đông A thì mới đầu Viêm Việt chiếm Thái sơn bên Tầu, sau thua giống Hán từ Thiên sơn tràn xuống phải di về vùng Động Đình Hồ, Ngũ Lĩnh, mất Hà Đồ Lạc Thư, rồi sau nữa xuống Phong châu Bạch hạc, lấy châu thổ sông Hồng Tản viên sơn làm sinh địa mới. Lãng mạn một chút, có thể nước Việt của Việt Câu Tiễn, vì nội bộ bất hoà, phải tan nát mất nước, Phạm Lãi Tây Thi lên thuyền, chạy từ Thượng Hải, suôi ven biển Đông, táp vào vịnh Hạ Long, trôi lên bờ vào bãi cát Chử Đồng Tử…bây giờ ở Hưng Yên-Phố Hiến xưa- có cả đền thờ Dương Quý Phi, do đoàn tuỳ tùng của bà Phi lập nên khi họ táp vào bờ biển Việt lánh nạn cả mấy trăm năm trước.

Bộ tộc Lạc Việt có di hết xuống Phong châu không? Chắc vẫn còn sót ở lại trong Hợp Chúng Quốc Trung Hoa, và bấy giờ, khoảng 3000 năm trước bộ tộc nào sinh sống ở Phong Châu, ở Hoà Bình, ở Sapa, ở bắc Sông Mã trước khi dân Lạc tới? Đồ chừng người Mường, người Tày…hợp giống với Lạc mà thành Việt sau này, vài trăm năm sau, khoảng 2300 năm nay, lại có nhóm Âu về họp sức, thành Âu Lạc, và Thục Phán diệt Hùng Vương, vậy Thục có phải là xâm lăng không?

Việt sử quả là phức tạp, Triệu Đà, người Hán, vua Nam Việt, vẫn được tôn vinh như lãnh tụ Việt cổ, Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Đại Cáo của Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đều ghi nhận như thế, nhưng cuộc Nam tiến lại thay đổi toàn diện Việt sử. Và chuyện này dài dòng, chỉ biết dòng Lạc trụ trên đất tổ đã chịu cảnh vỡ tổ tan tác lưu lạc bốn phương, nhưng Tạo hoá đã sinh thì không tận diệt; di truyền, DNA, hệ thần kinh... tôi luyện cả vạn năm, không dễ gì vài cơn biến động nhân tạo đổi thay được thiên tạo thiên lý thiên cơ.

LẠI MỘT NĂM QUÝ TỴ 2013
Quý thuộc thuỷ, trường lưu Thuỷ, Tỵ là Hoả, năm nay nước trên lửa dưới, chẳng phải là năm suông sẻ cho thế gian, thuỷ hoả khắc nhau- Những năm Tỵ : 1941 tháng 12 Nhật đánh Trân Châu cảng và quân Nhật nhập Việt Nam, cuối năm Tỵ 1989 biến động Nga-Đông Âu, năm Tỵ tháng 9-2001 tai hoạ khủng bố tháp đôi Nữu Ước.

Thế giới qua cầu 21-12-2012, thời điểm trên lịch Maya, không phải là tận thế mà là chuyển đổi chu kỳ, đấy là cực điểm của Kali Yuga, đại chu kỳ thứ IV, iron age, thời đen tối của nhân loại, từ sau 12-2012, sang chu kỳ mới, tươi sáng hơn, nghiêng về hướng Thiện, giầu Tâm linh hơn chu kỳ trước. Lịch Maya và lịch Vedic xứ Ấn rất giống nhau, có thể cùng xuất phát điểm thời cổ xưa 5000 năm.

Việt phương Nam, thuộc quẻ Ly, Hoả, gặp năm Thuỷ, sẽ biến động mạnh, sắc hoả đỏ, chẳng chống lại được sắc xanh thuỷ, cho nên thời xưa nhà Minh (hoả) bị nhà Mãn Thanh (xanh) giải thể là vì lẽ Dịch ngũ hành đó.
Cụ Ba La, lão bốc sư thọ 103 tuổi (mất năm 1973), từng dặn dò người cầu học : “Đời các ông sẽ thấy Thánh xuất…năm Ất Mão (1975) không biết ai là người gánh vác vũ trụ cho…các ông đi xa được cứ đi, Tạo hoá dành người, ma quỷ thời mạt pháp nhiều lắm… mình diệt Chiêm thì Chiêm sẽ báo oán theo luật nhân quả, loài cáo chín đuôi mà Lạc Long Quân dùng đinh ba đánh chết ở Đầm Xác Cáo (Tây Hồ), luôn luôn ẩn hiện tác hại dân mình…sẽ có ngày ta lấy lại được đất cũ, lên mãi Động Đình Hồ, câu Sấm Thần châu thu lại mọi nơi vẹn toàn nghĩa là thế, châu Kinh châu Dương xưa…(thuật nhi bất tác - Bụt Sĩ).

Năm 2013 mới chỉ là khởi đầu, từ mùa Thu, sang 2014 -chu kỳ 60 năm 1954-2014- mới nghiệm rõ lời Sấm Trạng :
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh…
Bốn Bụt xuất thế đã chày
Chưa chọn được ngày cứu độ dân gian…
Tại sơn vô hổ lang
Thất thập nhị hiền tướng
Phụ tá Thánh quân vương
Tỵ nhân vi tướng
Thìn Tuất vi quân sư
Quần gian đạo danh tự 
bách tính khổ tai ương
Ma vương sát đại quỷ
Hoàng thiên tru ma vương.
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Bảo giang thiên định ai hay…

Khi ấy cảnh tan đàn sẻ nghé kẻ Úc người Âu, kẻ Mỹ người Pháp, sẽ chấm dứt:
Bõ khi kẻ Việt người Hồ
Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường.

Quả là siêu phàm, bất khả tư nghị. Vả lại, có ai nắm tay được từ sáng đến tối, có nguỵ triều nào dài quá được lục tuần hoa giáp 60 năm !


Trần Từ Mai giới thiệu - BÀI THƠ "TRỪ TỊCH" CỦA ĐẶNG ĐỨC SIÊU



Trần Từ Mai giới thiệu

TRỪ TỊCH


Tháng lụn, năm cùng, sự chẳng cùng
Nửa đêm xuân, lại nửa đêm đông.
Chi lan tiệc cũ hương man mác
Đào lý vườn xưa tuyết lạnh lùng.
*Đất có bâng khuâng chờ hội ngộ ?
*Trời như thao thức đợi tao phùng.
Gà kêu, pháo nổ, năm canh trót
Mừng cội mai già gặp chúa Đông.

Đặng Đức Siêu
Đông Hồ

Đặng Đức Siêu sinh năm 1751, mất năm 1810, là một nhân vật lịch sử của thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Ông góp công rất đáng kể trong việc thống nhất đất nước của nhà Nguyễn, và cũng để lại một số tác phẩm có giá trị văn chương rất cao như bài Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu. Đông Hồ Lâm Tấn Phác sinh năm 1906, mất năm 1969, là một nhà thơ của thế kỷ 20. Ông cũng là giảng sư tại Đại học Văn khoa Sàigòn, chỉ qua đời trước khi miền Nam sụp đổ có sáu năm. Hai ông sống cách nhau một thế kỷ rưỡi (155 năm). Ghi danh hiệu cả hai vị dưới một bài thơ là một hành động cực bất thường. Tuy nhiên, việc làm thoạt trông có vẻ vô lý này lại là một việc đúng và cần thiết.

Bài “Trừ tịch” của Đặng Đức Siêu là một bài thơ thật hàm súc. Không hiểu sao tới thế kỷ 20, hai câu 5 và 6 bị thất truyền. Trong Văn Đàn Bảo Giám do Trần Trung Viên sưu tập, được Á Nam Trần Tuấn Khải duyệt lại, Tuyết Huy Dương Bá Trạc và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cùng đề tựa, do nhà Nam Ký xuất bản lần đầu tại Hà nội năm 1926, bài này chỉ gồm bốn câu đầu và hai câu 7-8. Tới khi được Hư Chu hiệu đính và Mặc Lâm Thư Xã tái bản tại Sàigòn năm 1968-69, hai câu thiếu vẫn chưa được tìm ra. Yêu thích bài thơ và không hài lòng với tình trạng bất toàn, nhà thơ Đông Hồ đề nghị hai câu tạm thay trong thập niên 1960. Hơn 40 năm trôi qua, hai câu thiếu vẫn chưa được tìm thấy. Mặt khác, hai câu 5-6 do Đông Hồ tạm thay thế thích nghi một cách thật khéo và thật đẹp trong bài thơ. Nhân dịp cuối năm, qua việc hai câu chính vẫn còn bị thất tung, chúng tôi thuật lại tình trạng bất thường này và phổ biến sáu câu nguyên tác cùng hai câu tạm thay (mang dấu hoa thị *) để chúng ta cùng chia sẻ, sống lại với những cảm xúc của người trước.

Phần chữ Nôm do Từ Mai trình bày qua “Bàn gõ Hán-Nôm” (do một sinh viên Viện Việt Học là Hoài Hương thực hiện với sự tiếp tay của Gs. Lê Văn Đặng.) Đây là một việc làm chưa ở mức hoàn hảo vì cách viết chữ Nôm thời trước không thống nhất (một âm Nôm có thể viết ra theo nhiều cách khác nhau). Chưa chắc những chữ Nôm chúng tôi đưa ra ở đây là những chữ Nôm Đặng Đức Siêu đã dùng. Trình bày bài thơ dưới dạng chữ Nôm, chúng tôi chỉ nhằm mục đích giới thiệu một cách khái quát chữ viết của tiền nhân tới các bạn trẻ. Trong khi chưa tìm được nguyên tác của Đặng Đức Siêu, chúng tôi tạm dùng bản chữ quốc ngữ trong Văn Đàn Bảo Giám cùng bài viết của thi sĩ Đông Hồ, rồi vận dụng những chữ Nôm tìm thấy trong các bản Truyện Kiều được phổ biến cuối thế kỷ 19, sau Đặng Đức Siêu ít lâu. Với những chữ Nôm không xuất hiện trong Truyện Kiều, chúng tôi tạm dùng chữ trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản tại Sàigòn năm 1895.

Bên cạnh những nhược điểm vẫn thường được nhắc tới (khó nhớ, cần biết một số chữ Hán trước, cách viết chưa thống nhất...), chữ Nôm không phải không có ưu điểm. So với chữ quốc ngữ, chữ Nôm hơn hẳn trong việc phân biệt những tiếng khác nghĩa nhưng cùng âm. Chỉ riêng với sáu câu thơ của Đặng Đức Siêu, chúng ta đã thấy:

  1. Chữ thứ 3 câu 1 và chữ thứ 5 câu 7 cùng có âm là “năm.” Trong chữ quốc ngữ,
hai chữ “năm” viết hệt nhau . Trong thập niên 1960, ở Sàigòn đã có một tranh luận trên báo về ý nghĩa đích thực của câu Kiều:
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.

Một số vị tham gia cuộc thảo luận cho rằng “năm năm” ở đây là “năm này qua
năm khác” chứ không chỉ một khoảng thời gian nhất định (5 năm = 60 tháng). Cuộc tranh luận khó có thể kết thúc nếu chỉ căn cứ vào các bản chữ quốc ngữ. Khi đọc qua bản chữ Nôm, chúng ta sẽ thấy:
— Chữ “năm” trước (tương tự chữ “năm” trong câu 7 của Đặng Đức Siêu)
gồm hai chữ “nam” (để chỉ âm) và “ngũ” (là “số 5,” để chỉ ý). Vậy có ý nghĩa là số 5.
— Chữ “năm” sau (tương tự trong câu 1 của Đặng Đức Siêu) gồm hai chữ “nam” (để chỉ âm) và “niên” (là “năm tháng”, để chỉ ý). Vậy có nghĩa là năm tháng.
Cuộc tranh luận được kết thúc mau chóng sau khi một bản Kiều bằng chữ Nôm được trưng ra.
  1. Chữ cuối câu 2 và chữ cuối câu 8 bài thơ của Đặng Đức Siêu cùng có âm
là “Đông.” Nếu chỉ căn cứ vào bản chữ quốc ngữ, nhiều độc giả có thể sẽ không nhận đúng ý nghĩa của câu 8: Tại sao cây mai gặp “chúa Đông” lại là điều đáng mừng?

Nhìn qua bản chữ Nôm, chúng ta sẽ thấy chữ “Đông” trong câu cuối có nghĩa là “phương Đông.” “Chúa Đông” là một thành ngữ dịch từ “Đông quân,” vị chúa tể của phương Đông. Theo triết lý Á Đông cổ, phương Đông tượng trưng cho mùa xuân (cũng như phương Nam tượng trưng cho mùa hạ, phương Tây cho mùa thu, và phương Bắc cho muà đông). Mừng cho cây mai (nhất là mai vàng của miền Nam Việt Nam) được gặp vị chúa của mùa Xuân, là một vui mừng rất hợp lý. Ý nghĩa này khó được nhận rõ nếu chúng ta chỉ đọc bản chữ quốc ngữ.

Người giới thiệu bài thơ thành thật cám ơn Giáo sư Lê Văn Đặng, chị Hoài Hương, cùng các anh các chị trong lớp Hán Việt và lớp chữ Nôm của Viện Việt Học đã hoàn tất một phương tiện cực hữu ích để có thể chép lại thơ qua chữ Nôm một cách thật dễ dàng .


NGUYỄN ĐỨC TƯỜNG - Cỗi rễ bậc hai

Nguyễn Ðức Tường

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua…

Mỗi lần Tết đến, tôi thường có dịp đọc lại bài thơ Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên in trong một tạp chí nào đó. Mùa xuân và hoa đào. Tác giả đã mượn hình ảnh hoa đào trong một bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ, nhưng, oái oăm thay, đáng lẽ thiếu nữ, ông lại cho hoa cặp kè với một ông đồ già. Người thiếu nữ trong mấy câu thơ đài các của Thôi Hộ đến rồi đi, như con thoi; ta không biết cô đẹp xấu bao nhiêu nhưng qua nét chấm phá của nhà thơ đời Đường, ta tưởng tượng là cô phải đẹp… ghê lắm. Còn Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên? Qua năm khổ thơ bình dị, mộc mạc, ta hình dung một nhà nho cũ kỹ, khăn đóng, áo the, thoáng thấy lại một thời thanh bình với mẫu người mẫu mực, một đời sống vật chất eo sèo, đạm bạc nhưng an nhàn, lương thiện. Đem so sánh với thiếu nữ của Thôi Hộ, tất nhiên ông đồ bị lỗ vốn quá rồi tuy không đến nỗi là một “kẻ thân tàn ma dại” đang “đi về cõi chết” như Hoài Thanh đã viết. Riêng đối với tôi, Ông Đồ Già bao giờ cũng mới, luôn luôn cho tôi một cảm giác bùi ngùi, man mác khó tả. Nó cũng khiến tôi nghĩ đến thày giáo Công.


Thày giáo Công là bạn sơ giao của ông nội tôi. Khi tôi biết ông vào mùa hè năm 1943, ông đã về hưu dù tuổi chưa lớn lắm. Khác với ông đồ già của Vũ Đình Liên, một hình thái trừu tượng, tượng trưng một cái gì đã qua, thày giáo Công là một người rất thực, có đầy đủ phong cách chắt lọc của một nhà Nho, bao gồm chữ nghĩa, nhân cách cùng nếp sống. Sung túc hơn, ông không phải viết chữ kiếm ăn. Ông là một trong những người cuối cùng còn sót lại từ trường thi Nam Định; ở trường thi này, tôi nghe nói, ngoài thi phú, thí sinh còn phải thi cả toán pháp. Có lẽ vì vậy, trong trí hiểu biết bé nhỏ của tôi, ông là một người rất giỏi toán, đã chỉ bảo tôi nhiều điều mới lạ. Tất nhiên ông là một ông đồ vì ông cũng dạy chữ Nho, nhưng là một ông đồ “tân thời” vì ngoài chữ Nho, thượng vàng hạ cám, ông còn dạy nhiều thứ khác, kể cả tiếng Anh, cho vài đứa nhỏ nữa.

Thị xã Hải Dương, khoảng đầu thập niên 1940, những ai sống ở quanh khu phố Hàng Lọng có lẽ đều biết hay đã theo học thày giáo Công. Mở trường dạy học, đúng hơn, một thứ nhà giữ trẻ không công (hay rất ít công), lớp học của ông không tiêu điều, “nhà trống ba gian… học trò dăm đứa…” như lớp học của ông Tú Vị Xuyên. Ông có chừng năm chục học trò vào mùa hè, ít hơn trong năm học. Hàng năm, vào dịp Tết, học trò mâm lớn, mâm nhỏ, lũ lượt đến biếu thày vài ba gói trà, hoa quả, bánh mứt. Theo tôi biết, đó là tất cả học phí phải trả thày. Thế thôi!

Nhà trông ra mặt phố ở thị xã thường là nhà hai tầng, gian lớn nhất, ngoài cùng là phòng khách bên trong là phòng ngủ. Một lối đi nhỏ riêng biệt cạnh buồng ngủ dẫn đến cái sân bên trong, tiếp đó là nhà ngang rồi bếp. Thày giáo Công sở hữu một trong những căn nhà này. Lớp học của ông là căn nhà ngang, kê được mươi bộ bàn ghế học trò dài, ngoài hàng hiên là cái bàn vuông lớn bằng gỗ gụ, thày ngồi giữa, học trò ngồi xung quanh. Những ngày không mưa, học trò còn ngồi kín cả bậc thang, cạnh sân, bên cạnh núi non bộ và bể cá vàng.

Mỗi buổi sáng mùa hè, khi còi tầm của nhà máy rượu réo lên, là học trò đã đến đầy lớp học. Ông thong thả đi từ trên gác xuống, tay cầm chiếc roi mây. Ông ngồi xuống ghế, dáng vẻ phong lưu; búi tóc nhỏ sau gáy, kính trễ trên sống mũi, điếu thuốc lá sâu kèn lơ đãng bên mép, cánh tay áo lụa rung rung khẽ đập roi xuống mặt bàn, ông đếm “một, hai, ba” cho học trò cùng hát trước khi bắt đầu học,
Bóng trăng trắng ngà,
Có cây đa to,
Có thằng cuội già,
Ôm một mối mơ…

Chiếc roi mây của ông, một đầu nát bươm, vì đập xuống mặt bàn để ra oai chứ không phải vì nó thường tìm đúng đích. Trừ hai lần. Lần thứ nhất, “thằng” Thiện, cũng con nhà lành thôi nhưng nghịch ngợm hơn những đứa trẻ khác, thay vì “một ông trăng béo thật to,” Thiện hát tiếng hơi vang quá “một ông trăng béo, c... to.” Học trò bấm bụng nhịn cười, nhưng ông đã nghe thấy, ông nghiêm nghị, điềm đạm đưa mắt nhìn quanh lớp. Sau khi hát xong, ông gọi Thiện lên, bảo xòe tay ra. Rất nhanh, ông đét cho nó một roi. “Ối, con lạy thày,” nó kêu.

Lần thứ nhì cũng vẫn là Thiện. Ở chân cầu thang là bể cá vàng và núi non bộ. Học trò thường ngồi khom dưới đất, chép bài trên thành bể, ném bỏng cho cá ăn, xem cá bơi lòng vòng quanh mấy cây si, dưới mấy chân cầu hay trước mặt ông Lã Vọng ngồi câu nhưng không bao giờ được cá. Một hôm, Thiện dụ cá đến cho ăn, rồi cầm bút đâm đâm khi cá đớp. Trong khi nó mải mê săn mồi thì ông trông thấy. Cầm roi, dón dén đi như con cò ruồi, ông đến sau lưng nó, học trò nín thở, “Vút!” – “Ối, con lạy thày,” Thiện giật mình kêu; đồng thời khi lưng áo và chiếc roi mây gặp nhau, cột nắng nhỏ trên lưng nó biến thành cột bụi.

Tôi không biết lý do nào đã khiến ông dạy tiếng Anh cho “con” Loan. Ngày ấy, tiếng Anh là một ngoại ngữ đến từ hành tinh khác, nhất là ở một tỉnh lỵ như Hải Dương, kiếm thày dạy tiếng Anh không khác gì đi kiếm gà sống có răng. Chính Loan đã bảo cho tôi biết “oẳn tù tì” là tiếng Anh. Mặc dù được bắt đầu học sớm như vậy, tôi không biết cô giữ được bao nhiêu và không dám bảo đảm về sự chính xác cùng khả năng Anh ngữ của cô. Tôi mon men đến ngồi cạnh Loan (việc Loan là con bé xinh đẹp dễ thương nhất lớp là chuyện khác,) hy vọng xin được ông cho học tiếng Anh. Fat chance! Ông nội tôi đã gửi gấm, xin ông cho tôi ít chữ nghĩa thánh hiền.

Trước hết, thay vì vẽ, ông dạy tôi viết chữ Nho (“Viết trái cựa người ta cười cho!”). Một hôm, tôi phải chép câu chữ Nho mà tôi không còn nhớ câu dịch âm cùng xuất xứ của nó tự sách nào, câu này được dịch nghĩa là “Người ta sinh ra tính vốn lành như nước chảy xuống chỗ trũng…” Nước chảy xuống chỗ trũng thì đúng rồi, nhưng sự việc đó cũng như, thí dụ, “chim hay hót buổi sáng,” không ám chỉ người ta sinh ra tính vốn lành hay dữ. Tôi không nhớ đã đặt câu như thế nào để hỏi ông, nhưng như tôi hiểu ngày nay, ý chính của câu hỏi đó là “nước chảy xuống chỗ trũng” không chứng minh được gì cả, chắc chắn là không chứng minh được “người ta sinh ra tính vốn lành.” Ông nhìn tôi hồi lâu, chưa kịp trả lời thì đã phải bỏ ngang, cắt nghĩa bài cho học trò khác.

Thày giáo Công không có dịp trả lời câu hỏi của tôi, nhưng tôi nhận thấy, từ đó, ngoài chữ Nho, ông thường giảng cho tôi khoa học thường thức, dạy tôi toán pháp. Chính ông là người đã tập cho tôi cái thú (hay thói quen) đọc sách, nhất là sách thuộc loại không hư cấu, đời sống các danh nhân, những con người khác thường nhưng rất thực; đó là một cái thú còn tồn tại mãi mãi trong tôi. Một trong những cuốn sách đầu tiên ông bảo tôi đọc là tiểu sử của Marie Curie, ở bà tôi nhìn thấy bột phát sáng chói của thiên tài thường là kết quả của một tình yêu tha thiết trong việc đi tìm cái mới, là những ngày dài bất tận, làm việc lương thiện, cần cù, tỉ mỉ, không bỏ qua một chi tiết dù nhỏ.

Trông một lớp chừng năm chục học trò, đủ hạng, đủ kiểu, tất nhiên ông không có thì giờ nhiều cho riêng học trò nào. Ông dạy tôi toán như một trò chơi, giầu về thí dụ cụ thể, không bao giờ nặng về hình thức. Chẳng hạn như ông dạy tôi cách chia phân số,

“Một nửa cái bánh đem chia làm hai thì được bao nhiêu?”

“Dạ, thưa thày, một phần tư cái bánh.”

“Vậy ta suy ra một phần hai chia cho hai được một phần tư.”

Đại khái như vậy, cứ “làm như thế, như thế…”, một lúc thuận tiện nào đó, cái bánh hay vật dụng đi liền với phân số đột nhiên biến đi, còn lại là phân số. Ông dạy cách viết cho phải phép, rồi cho mấy bài tập để làm một mình. Trong trường hợp tôi, khi thấy đã thực hiểu, ông thường bảo tôi đi giúp những học trò khác.

Ông không dạy theo một chương trình hay thứ tự nào nhất định, nhiều khi có lẽ hoàn toàn tùy hứng. Một dịp nào đó, ông dạy tôi tính căn số của một con số mà ông gọi là cỗi rễ bậc hai (2 nhân 2 là 4; ta nói bình phương của 2 là 4 và căn số của 4 là 2). Theo tôi biết, tính căn số không chính thức thuộc chương trình nào, tiểu học hay trung học. Sau này dạy học, hết khóa học, sau khi sửa soạn sinh viên về chuyện thi cử, đôi khi còn chút thì giờ tôi hỏi họ có biết tính cỗi rễ bậc hai bằng tay hay không? Thỉnh thoảng có người hỏi lại, học để làm gì khi chỉ cần ấn một cái nút ở máy tính là đủ. Tôi trả lời: “Rất đúng, với máy tính cầm tay có khi biếu không, ta dễ dàng có được kết quả với 12 số lẻ, trong khi có lẽ chỉ cần sáu số lẻ là đã đủ tốt để gửi người lên mặt trăng. Nhìn cách này, đó là một việc làm hoàn toàn vô ích; có điều, ta biết ta có thể tính được số lẻ thứ 13. Vì vậy, cũng nên biết, rồi đem dấu nó vào một khe kẽ của hành trang tinh thần ta phải mang theo trong đời sống.” Nhiều sinh viên tỏ vẻ hài lòng, ngồi học thêm cách tính cỗi rễ bậc hai.

Một dịp khác, ông dạy một món gọi là lấy đấu đong quân, cũng có tên khác là “Hàn Tín điểm binh” nhưng tôi thích cái tên lấy đấu đong quân vì nghe vui tai, thi vị hơn – tạp chí Khoa Học của GS Hoàng Xuân Hãn xuất bản khoảng đầu thập niên 1940 cũng có một bài nói về Hàn Tín điểm binh. Đây là một bài toán rất xưa mà theo các sách toán Tây phương, người đầu tiên khảo cứu là Tôn Tử. Bài toán như sau: Có một số quân không biết bao nhiêu mà ta muốn đếm. Có nhiều cách đếm, một trong những cách đếm là lấy... đấu để đong. Ta đong số quân đó theo ba cách khác nhau, như thế này: lấy cái đấu đong 3 anh quân một lần, không cần biết được bao nhiêu đấu nhưng biết là, cuối cùng, thừa ra 2 anh; lấy cái đấu đong 5 anh quân một lần, thấy thừa ra 3 anh và, sau cùng, lấy cái đấu đong 7 anh quân một lần, cũng thấy thừa ra 2 anh. Nếu thấy dùng đấu để đong cồng kềnh quá, ta có thể cho quân xếp hàng 3, hàng 5, hàng 7, mỗi lần ghi nhớ số quân lẻ cuối cùng. Hai cách này tuyệt đối tương đương với nhau. Giả dụ được cho bài toán trên, tôi sẽ ngồi “làm như thế, như thế…” chừng vài phút, “có 128 quân.” Đúng boong! Thật ra, bài toán này có nhiều đáp số khác, đáp số nhỏ nhất là 23; nhưng thôi, đó là chuyện khác.

Thêm một bài toán dân gian rất quen thuộc: “Vừa gà vừa chó 36 con, trói lại cho tròn, đếm đủ 100 chân. Hỏi có bao nhiêu gà, bao nhiêu chó?” Ông rất cẩn thận dạy giải bài toán bằng số học, dùng phép mà ông gọi là phép giả thử. Phép này bắt đầu lý luận bằng cách giả thử tất cả 36 con đều là gà (hoặc chó), nhưng lý luận này không thật dễ hiểu. Sau đó ông dạy cách giải bằng algèbre (ông không dịch là đại số), tôi nghe phát âm là ăn-giép. Muốn dùng ăn-giép hay đại số, ta chỉ việc thay số chưa biết bằng một chữ, thí dụ x, rồi làm tính như thể chữ đó là một con số đã biết rồi. Để bớt dài dòng lôi thôi, trong bài toán này, thí dụ ta có x con gà thì ta sẽ có 36 trừ x con chó hay (36 - x) và tổng cộng số chân gà là 2 nhân với x hay 2x. Cứ theo cách đó mà tiếp tục, “tất nhiên,” trong khi làm tính, ta có những phép tính, thí dụ, 4x mà trừ đi 2x thì còn lại 2x hay đem 4x chia cho 4, ta được x vân vân, đến một lúc ta sẽ được x = 22 con gà và, do đấy, 14 con chó. Ông dạy phép giả thử trước vì ăn-giép dễ dùng quá, một khi đã biết dùng ăn-giép thì sẽ không bao giờ trở lại làm số học nữa.

Niên học 1945, sau 80 năm làm sứ mệnh khai hóa và chỉ sau khi nước Pháp, trong thực tế, đã chấm dứt nhiệm vụ này vì bị Nhật đảo chính ngày 09-03-1945, thị xã Hải Dương, lần đầu tiên, có được một trường trung học, trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, công trình cụ thể của Bộ Giáo Dục của GS Hoàng Xuân Hãn. Nhà tôi có hai anh họ xa đến ở nhờ, trọ học. Một hôm, tôi nghe hai anh tranh luận rất hăng say về toán. Tôi lắng tai nghe, các anh đang cãi nhau về một bài tính ăn-giép.

“Tưởng gì, tính ăn-giép thì em làm được!”

Hai anh là học trò cô-le, không phải chuyện đùa, tròn mắt nhìn thằng ranh con ăn nói xấc xược, bậy bạ nhưng bằng lòng cho thử. Thằng ranh con ngồi “làm như thế, như thế…” trong vài phút, giải được bài tính ăn-giép!

Đó là một số thành tích tôi thu lượm được từ thày giáo Công. Trong hai vụ hè, kiểm điểm lại, ông dạy tôi có lẽ đủ toán để có thể qua được trung học phổ thông một cách khá thoải mái. Toán học phương Đông có lẽ không có một hệ thống giống như phương Tây, nhưng cũng khá phát triển, Hàn Tín điểm binh là bài toán cổ đã 2000 năm; tôi chưa được đọc về cách các cụ ta học toán ngày xưa. Riêng thày giáo Công, tiếng Anh ông học ở đâu đó, tiếng Pháp ông phải biết đôi chút vì đi thi có bài dịch. Một vài khái niệm khác, như ăn-giép, có thể ông đọc trong sách của anh Ngọc, con trai trưởng của ông. Hè năm 1944, anh Ngọc thi đỗ đíp-lôm về, mặt ông rạng rỡ, kiêu hãnh như chỉ một ông bố có con thi đỗ đíp-lôm ngày ấy mới có thể rạng rỡ, kiêu hãnh đến thế. Ông cho cả lớp ăn bánh kẹo. Chính trong dịp này ông dạy tôi ăn-giép.

Nhưng còn một số vấn đề tôi nghĩ không thể đến từ sách vở của anh Ngọc. Với vài thí dụ giản dị, ông chỉ cho tôi biết không có con số nguyên tố lớn nhất (số nguyên tố là số không thể chia cho bất cứ số nào ngoài số 1 và chính nó, thí dụ: 2, 3, 5, 7,…) Mãi mãi về sau, tôi mới biết phát biểu trên là một định lý của Euclid, nhà bác học Hy Lạp đã đặt nền móng cho toán học từ hơn 2000 năm nay và chứng minh định lý về số nguyên tố của ông, theo người sành điệu, thuộc loại đẹp và thanh lịch nhất trong toán học. Anh Ngọc mới đỗ đíp-lôm, trong chương trình trung học của Pháp, chỉ đến Tú Tài II, định lý Euclid mới xuất hiện. Các cụ ta không thiếu gì người bác học, không rõ sức hiểu biết về toán của các cụ sâu đến đâu? Đó là một đề tài khảo cứu hấp dẫn.

*

Rồi chiến tranh chống Pháp. Mỗi người một nơi, tôi không gặp lại thày giáo Công, nhưng tôi không bao giờ quên ông, luôn luôn hy vọng có được dịp bù lại mấy món quà Tết eo sèo đã biếu ông.

Ở gần nhà tôi có một gia đình dân nhập cư Hy Lạp. Một hôm, người bạn nha sĩ hàng xóm nói ông người Hy Lạp dạm hỏi tôi có thể dạy kèm đứa con gái nhỏ của ông được không, ông ta sẽ xin trả tiền thù lao sòng phẳng? Tôi trả lời tôi không dạy tư, rồi đùa hỏi liệu ông ta có sẵn lòng trả công bằng công thợ sửa ống nước không, thế nào chăng nữa, cứ cho con gái ông ta sang xem sao? Nói chuyện với đứa nhỏ, chẳng mấy chốc tôi nhận thấy nếu nhất định trả tiền thù lao, ông ta sẽ tốn nhiều hệ thống dẫn nước trong nhà. Tôi nói tôi sẵn sàng kèm đứa nhỏ hai giờ một tuần và ông không cần phải bận tâm về vấn đề thù lao. Không rõ vì ông quá kiêu hãnh hay vì không cảm thấy thoái mái về chuyện không phải trả tiền thù lao, con ông đến học với tôi vài lần rồi xin thôi.

Chính biến ở Việt Nam cho tôi mấy dịp khác. Gia đình bạn tôi dọn đến ở cùng thành phố. Ông bà hỏi bác có sẵn lòng kèm cháu học không? Tất nhiên là bác sẵn lòng kèm cháu học. Tôi dạy cháu như thày giáo Công đã dạy tôi: cẩn thận nhưng tùy hứng. Thí dụ, có bao nhiêu cách xếp bàn ăn có sáu chỗ ngồi với sáu người khách? Hai bác cháu rất hợp ý nhau, nhưng không hiểu sao ít lâu sau bạn tôi xin cho cháu nghỉ học. Cho đến bây giờ tôi vẫn không rõ vì tôi không thành công hay đã quá thành công. Cháu đã ra trường từ lâu, hành nghề bác sĩ hơn mười năm nay.

Dịp may cuối cùng. Ti, em của một bà bạn, tâm sự với tôi các cô chỉ để ý đến bác sĩ, kỹ sư thôi, còn phó thường dân như Ti thì các cô hếch mũi nhìn qua suốt. Vì vậy, Ti quyết chí học cho thành tài và muốn xin tôi giúp. Ý định tốt, lý do xấu. Nhưng ta là ai mà luôn luôn muốn mọi điều kiện phải thập phần hoàn hảo? Ta phải biết bằng lòng với những gì ta có. Tôi nghiến răng dạy, Ti nghiến răng học. Tôi sửa soạn cho Ti học hết toán cơ bản. Sau này, Ti kể, “có lần anh mắng em, anh bảo óc mày không chịu làm việc, ngộ nó teo lại bằng cái hạt đậu rồi biến mất thì sao?” Tôi cười hỏi lại, “thật hả?” nhưng trong thâm tâm hơi ngượng, thày giáo Công không bao giờ mắng tôi thô tục như thế. Quyết chí học như Ti thì thi bằng gì cũng đậu và ai dạy cũng được. Ti ra trường, ông kỹ sư nọ kia. Hàng năm, Tết đến, biết tôi hay uống cà-phê, Ti mang cho tôi máy pha cà-phê. Đến Tết thứ ba, tôi có tới ba máy pha cà-phê, tất cả đều tốt. Tôi bảo Ti đến chơi với anh là quý lắm rồi, đừng quà cáp làm gì; vả lại, nếu muốn cảm ơn thì Ti nên cảm ơn thày giáo Công. Ba máy pha cà-phê tôi dùng được khá lâu; tôi nghĩ đến những chùm nhãn, những quả soài thày giáo Công chất đống trong nhà trong mấy ngày Tết, chắc ông có vấn đề.

*

Năm 1945 là năm có nhiều biến động lớn trong lịch sử Việt Nam. Tết Ất Dậu năm ấy, tôi đem quà Tết đến biếu thày giáo Công như thường lệ. Khi ấy tôi đang học lớp Nhì. Ông xoa đầu tôi, nói hè tôi sẽ phải học nhiều chữ Nho hơn, cho ông nội tôi vui lòng. Nhưng tôi không có dịp trở lại học với ông nữa. Ngay trong dịp Tết này đã có nhiều điềm xấu báo hiệu những tai ương sắp đến. Anh Nhan, người làm cũ cho gia đình tôi, đã xin thôi từ mấy năm trước để về quê làm ăn, đột nhiên xuất hiện, đi ăn xin. Rồi nạn đói khủng khiếp hoành hành, chừng hai triệu người chết đói. Nhà tôi hàng ngày để dành cho anh một bát cơm, đôi khi chính tay tôi đưa cho anh, nhưng cũng không cứu nổi vì hình như anh còn phải chia cho vợ con. Rồi không thấy anh đến nữa, có người nói anh đã chết đói.

Trên đường đi học đến trường tỉnh, chừng hơn hai cây số, người chết nằm ngổn ngang, bụng ỏng, rốn lồi, từ hai lỗ mũi chảy ra hai dòng mũi, một chất lỏng xanh lơ sền sệt, ruồi nhặng bâu đầy, xác xông lên mùi hăng hăng, lợm giọng. Những chiếc xe bò lọc cọc đi lượm xác chết. Phải chứng kiến những cảnh ấy, ngày này qua ngày khác, tuy đã cả tháng trời, nhưng cũng chẳng bao giờ quen mắt được. Không cần phải đọc những áp-phích, truyền đơn tuyên truyền đã bắt đầu xuất hiện, người ta cũng thừa biết nguyên do: đáng lẽ trồng lúa, mùa màng phải phá đi để trồng đay, trồng bông, còn lúa gạo dự trữ dùng để nấu rượu làm nhiên liệu. Những đứa trẻ nhạy cảm đi học mỗi buổi sáng, trước khi được học chữ nghĩa ở nhà trường, đã phải tự học một bài học đời sống nằm lòng, không bao giờ phai nhạt. Bé dại, thơ ngây quá để có thể đọc bài học nên lời, chúng cảm nhận bài học trong xương tủy. Đói quá, mất cả nhân phẩm lẫn mạng sống; phải đánh đuổi cho kỳ hết tất cả những bọn ngoại lai thối tha này, cao hay lùn, da nhợt hay da vàng. Đó là việc làm độc nhất và tất cả, không thể thỏa hiệp. Những chuyện khác, tính sau!

Đài truyền hình quốc gia Canada CBC, trước bản tin, có một dạo hay cho chiếu cảnh một đứa bé Palestine ngồi cô độc trên một bực thang, giữa đống gạch vụn; nhà nó vừa bị xe ủi đất của Israel san bằng, có lẽ vì anh hay chị hay một người họ hàng nhà nó là kẻ đánh bom. Người ta có thể đưa ra một nghìn lý luận hay lý thuyết, bác học hay vụ lợi, để giải thích một hành động, nhưng riêng đứa nhỏ, nó chỉ có một chân lý: lòng căm thù – một gánh nặng vô nhân đạo, không thể chịu đựng nổi đã được đem chụp trên hai vai đứa trẻ 7, 8 tuổi. Nếu nó có được một thày giáo Công, không chút vị kỷ, dạy nó tính cỗi rễ bậc hai, có khi nó nhìn thấy được le lói một lối thoát, dù khó khăn. Nhưng nó không có cái cơ duyên ấy. Những ông đồ già, những thày giáo Công, những con người xưa cũ của những thời xưa cũ, có đời sống lương thiện, thanh tao đã qua đi từ lâu. Nhìn đôi mắt nó, tôi nhìn thấy được cái định mệnh của nó; thêm vài năm nữa, có thể sớm hơn, nó sẽ trở thành một kẻ đánh bom nguy hiểm.

11/04


Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

Nhất Linh - Bản chúc thư văn học vừa tròn một hoa giáp của Nhất Linh


Nhất Linh

LTS. Cách đây đúng 60 năm, vào đêm giao thừa năm Quý Tị 1953 nhà văn Nhất Linh đã viết bản chúc thư văn học, mà chúng tôi đăng nguyên văn dưới đây cùng phóng ảnh bản viết tay của tác giả. Sau một thập niên lao đao lận đận trong hoạt động cách mạng nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, đầu thập niên 1950 ông về nước và bắt đầu nghĩ đến hoạt động văn học trở lại, như ông đã ghi trong bản chúc thư này.

*

Giao thừa năm Quý Tỵ 1953

Trong hương trầm của đêm 30 Tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, lại nghĩ tới những nhân tài mới khả dĩ đem lại một nguồn sinh lực rồi rào hơn làm nhà Tự Lực thay đổi luôn và mới trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm xúc này – và cũng là chúc thư luôn thể - với một bài thơ để gửi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của Tự Lực Văn Đoàn. Trong bẩy tám nhà văn mới chọn lọc được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn xứng đáng là nhân viên của Tự Lực Văn Đoàn và tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về, cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam.


Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm công việc mình đã làm tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp, lâu bền và có ích nhấ của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác. Nhưng Tự Lực Văn Đoàn không thể để ngưng lại ở số người cũ và đứng yên: người qua, nhưng đoàn phải mới và tiến mãi. Ngoài sự cố gắng của anh em cũ còn lại, tôi mong những nhà văn tươnglai, trước và sa ukhi gia nhập, cùng đem hết tâm hồn và tài năng để làm rạng rỡ tên tuổi của đoàn mình, coi mình với đoà nlà một, giữ được tinh thần cố hữu trước kia đã sáng tỏ giữa mấy anh em quá cố: giúp đỡ nhau, đùm bọc lấy nhau, cùng nhau sát cánh để phụng sự văn nghiệp và đoàn mình, nghiệp văn đã chung một kiếp người, đoàn văn cùng chung tiếng để đời mãi kiếp sau.

Đã 7 năm tôi mới lại có dịp làm thơ và thơ tôi vốn không hay nhưng lòngvà ý thành thực là đủ rồi:
TỰ LỰC, vườn văn mới trội lên.
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
Mạch cũ, nhựa non rồn rập chẩy
Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm

NGƯỜI QUA, SÁCH MỌT, ĐỜI THAY ĐỔI
TỰ LỰC, DANH CHUNG, TIẾNG VẪN TRUYỀN

Nhất Linh,
2 giờ sáng, mồng Một Tết năm Quý Tỵ, 14-2-53

(NhấtLinh tự chép tay 5 bản:  2 bản do Đỗ Đức Thu và Nhất Linh giữ, 3 bản gửi 3 nhân viên tương lai – Bản số 1 Nhất Linh)




Từ Trì - GIAI THOẠI NGOẠI GIAO, 2012



Từ Trì

Trong năm 2012 vừa qua các nhà ngoại giao thế giới không hề thất nghiệp. Họ vẫn tiếp tục vò đầu vò tai tìm cách giải quyết các vấn đề sôi bỏng như cấm phổ biến võ khí hạch tâm, chiến tranh A Phú hãn (Afghanistan), tình trạng căng thẳng ở Trung Đông, dân chúng nổi loạn tại Syrie và Phi châu v… v… Nhưng dù đã vận động hết tài năng và nỗ lực các nhà ngoạn giao vẫn không giải quyết thỏa đáng một vấn đề nào chỉ vì các siêu và đại cường quốc trên thế giới có trách nhiệm bảo vệ trật tự quốc tế lại chưa chịu gạt bỏ bớt quyền lợi riêng tư để phục vụ quyền lợi chung. Cảnh « ông nói gà bà nói vịt » luôn diễn ra trên chính trường quốc tế.


Siêu cường hục hặc: Hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc tuy hục hặc với nhau nhưng vẫn phải nương nhẹ nhau. Hai bên tố cáo nhau là theo đuổi chính sách bành trướng nhưng cả hai đều lệ thuộc nhau trên phương diện kinh tài. Tổng Thống Mỹ Obama quyết định « quay trục » các hoạt động của nước ông sang Á châu nhưng vẫn không dám công khai đương đầu với Trung Quốc.

Vào tháng 5, khi nhà đối kháng mù Trần Quang Thành chạy vào sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chính trị vào đúng lúc bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tới họp hội nghị đối thoại kinh tế Mỹ-Hoa. Trung Quốc tố cáo là Mỹ can thiệp vào nội bộ Tàu trong khi bà Clinton lên án Tàu vi phạm nhân quyền. Rốt cuộc người ta « ếm nhẹm » vụ này cho yên chuyện bằng cách chở ông Thành vào bệnh viện Triều Dương « dưỡng bệnh » để cho Trung cộng đỡ bị mất mặt.

Trong năm 2012, Trung cộng còn bị mất mặt một lần nữa khi viên giám đốc công an Trùng Khánh tên là Vương Lập Quân chạy trốn vào lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô xin tỵ nạn. Trong dịp này họ Vương tiết lộ vụ vợ của Bí Thư Thành Ủy Trùng Khánh Bạch Hy Lai có nhân tình người Anh tên là Neal Heywood và người này bị chết một cách mờ ám vì hình như có hoạt động gián điệp và chuyển tiền lậu ra ngoại quốc giùm cho gia đình họ Bạch. Vụ tai tiếng này làm cả ba nước Mỹ, Anh, Trung bối rối. Thủ Tướng Anh David Camerone đòi làm sáng tỏ trong khi bộ Ngoại Giao Anh đưa ra một thái độ mập mờ.

Đại cường thiếu đồng thuận : Trước các cuộc khủng hoảng trầm trọng trên thế giới các nước lớn không làm sao đạt được đồng thuận. Điển hình nhất là thái độ của họ trước cuộc nội chiến ở Syrie. Từ đầu năm 2011, làn sóng « Mùa Xuân Ả rập » tràn sang Syrie. Dân chúng nổi dậy chống ông Tổng Thống độc tài Bachar-el-Assad. Cả Phó Tổng Thống lẫn Thủ Tướng cũng chạy theo phe nổi loạn. Nhưng ông Assad không những không chịu ra đi mà còn đem máy bay và xe thiết giáp bắn giết đàn áp dân chúng. Các quốc gia Tây phương, Mỹ, Pháp, Anh xin Liên Hiệp Quốc (LHQ) lên án và can thiệp để đẩy Assad ra khỏi chính quyền nhưng mỗi lần vấn đề được đưa ra trước Hội Đồng Bảo An thì Nga và Trung Quốc dùng quyền phủ quyết bác bỏ mọi dự án quyết nghị. Nga bênh vực Syrie vì nước này là khách hàng mua võ khí của Nga tới cả 5 tỷ đô la. Ngoài ra căn cứ hải quân duy nhất của Nga ở ngoại quốc là quân cảng Tartous nằm trên đất Syrie.Trung Quốc thì e rằng nếu can thiệp vào Syrie thì có thể Ba Tư (Iran) nhẩy vào tham chiến bênh vực Syrie gây ra tình trạng bất ổn tại Trung Đông gây trở ngại cho việc cung cấp dầu hỏa cho Trung Quốc.

Trong chính sách phòng thủ hạt nhân cũng vậy, các đại cường không tìm được thỏa thuận cần thiết nên thường tỏ ra lúng túng. Mỹ muốn thiết lập một lá chắn nguyên tử chống hỏa tiễn trên vòm trời các quốc gia Âu châu thành viên của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (OTAN hay NATO) nhưng Nga lại chống đối lấy cớ là dựng lên môt giàn hỏa tiễn chống hỏa tiễn sẽ đe dọa an ninh của Ba Tư. Hai bên lằng nhằng thương thuyết mãi không xong. Để trấn an Nga, ông Obama khi đi họp hôi nghị thượng đỉnh về võ khí hạt nhân tại Séoul vào tháng 3 đã nói nhỏ với Tổng Thống Nga Medvedev là nếu tái đắc cử vào tháng 11 ông sẽ mềm dẻo hơn trong vấn đề lá chắn nguyên tử. Hai ông không ngờ là đang tâm sự với nhau trước máy vi âm còn mở. Các nhà báo hiện diện nghe được loan báo rầm rĩ khiến ông Obama lại phải một phen « thanh minh thanh nga » để các đối thủ của ông thuộc đảng cộng hòa khỏi « nhào dzô » chê ông là yếu ớt trước nước Nga.

Giữa các đại cường với nhau dù là đồng minh người ta cũng không bỏ lỡ dịp « chơi xấu » nhau. Vào tháng 1, Pháp thuyết phục được Ấn Độ mua chiến đấu cơ Rafale của Pháp. Pháp rất mừng vì loại máy bay này tuy cực kỳ tối tân nhưng vì giá quá đắt nên từ nhiều năm nay ế dài không ai mua. Thay vì mừng cho nước bạn, ông David Camerone, Thủ Tướng Anh, lại dèm pha, xúi Ấn Độ đừng mua.

Vào tháng 5, khi ông François Hollande đắc cử Tổng Thống Pháp, ông ban hành những biện pháp tài chánh sưu cao thuế nặng bắt những người nào kiếm được từ một triệu euro mỗi năm trở lên phải đóng thuế tớí 75%. Các tài phiệt Pháp và các cầu thủ bóng tròn la ó om xòm tính ra nước ngoài định cư để trốn thuế. Ông Camerone lại được dịp phá nước bạn. Ông tuyên bố trước hội nghi G20 ở Los Cabos, vào tháng 6, là ông sẵn sàng trải thảm đỏ để đón những người Pháp sang lập nghiệp ở nước ông. Đến tháng 10 thì lại đến phiên ông đô trưởng Luân Đôn Boris Johnson lên tiếng mời doanh nhân Pháp sang đầu tư tại thành phố của ông.

Đến khi tài tử nổi danh Pháp Gérard Depardieu, vào tháng 12, quyết định di cư sang Bỉ và trả lại hộ chiếu cho ông Ayrault, Thủ Tướng Pháp, thì lại đến ông Wladimir Poutine, Tổng Thống Nga vội vã không những cấp hộ chiếu Nga mà còn cho Depardieu quốc tịch Nga để cho ông này lên tiếng khen ông Poutine là « dân chủ nhất thế giới » !  

Đại cường hợp tác : Nhưng cũng có lúc các đại cường bắt tay hợp tác chặt chẽ với nhau. Từ hai năm nay khu vực tiền tệ Euro lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Hết Hy lạp lại đến Tây Ban Nha và Ý bị đe dọa phá sản. Hai nước lớn nhất trong vùng là Đức và Pháp phải gồng mình ra giúp. Vì Đức phải gánh nặng nhất nên bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel bắt các nước thành viên của khu vực Euro phải ký một hiệp ước cam kết thắt chặt ngân sách quốc gia. Vì cả bà Merkel lẫn ông Sarkozy đều thuộc  hữu phái nên cả hai cộng tác chặt chẽ với nhau để đẩy mạnh việc chấp thuận hiệp ước. Người ta gọi đây là cặp bài trùng « Merkozy ». Nhưng ông Sarkozy lại sắp hết nhiệm kỳ. Sợ ông bị thất cử và đối thủ của ông là ông Hollande có chính sách ngân sách lỏng lẻo, bà Merkel không ngần ngại « xía dzô » nội bộ Pháp bằng cách tuyên bố là bà ủng hộ ứng cử viên Sarkozy và sẵn sàng sang Pháp cổ động bầu cử cho ông ta. Không những thế, bà còn từ chối không tiếp ông Hollande và yêu cầu ba vị Thủ Tướng Anh, Ý và Tây Ban Nha là Camerone, Monti và Rajoy đừng thèm tiếp ông Hollande. Vì cả ba ông này cùng thuộc hữu phái như bà nên đều đã ngoan ngoãn tuân theo.

Đến tháng 5, ông Hollande đánh bại ông Sarkozy, lên làm Tổng Thống Pháp, thành ra cả bốn ông bà cực chẳng đã phải « xuống nước » tiếp xúc vớí ông ta vậy. Về phần ông Hollande, tuy nói mạnh là sẽ không chuẩn y hiệp ước ngân sách của bà Merkel nhưng sau khi giằng co đôi chút cũng đành chấp thuận hiệp ước này không thay một chữ. Sau lễ nhậm chức vài giờ đồng hồ và ngay trước khi lập chính phủ Pháp mới, ông Hollande đã vội vã sang Bá Linh gặp bà Merkel như là đi « thần phục ». Vì sự hợp tác giữa ông Hollande và bà Merkel không được thắm thiết nên cái mà người ta gọi đùa là cặp « Merkhollande » không được đẹp đôi cho lắm. Nhưng ông Hollande có một lợi điểm là ông Jean-Marc Ayrault, người được ông cử làm Thủ Tướng Pháp, xuất thân giáo sư Đức ngữ, nói thông thạo tiếng Đức, nên ông hy vọng giữa hai bên Pháp-Đức sẽ có thông cảm hơn. Vậy mà khi sang Đức lần đầu tiên gặp bà Merkel, vào tháng 11, ông Ayrault lại nói tiếng Đức sai mất một chữ. Khi ông nói tới cuộc đối thoại Pháp-Đức ông dùng chữ FRUCHTBAREN (có nghĩa là dễ sợ) thay vì chữ FURCHTBAREN (có nghĩa là nhiều thành quả).

Chỉ vì Đức phải gánh vác nhiều nhất trong việc yểm trợ các nước gặp khó khăn trong khu vực Euro nên bà Merkel tỏ ra hết sức cứng rắn khi đòi hỏi các nước này phải áp dụng chính sách kinh tế khắc khổ. Dân Hy Lạp phải đóng thêm thuế, giảm mức sống nên tỏ ra căm tức. Khi bà Merkel tới viếng thủ đô Athènes mấy giờ đồng hồ mà chính phủ Hy đã phải huy động tới 7000 cảnh sát để bảo vệ bà trong khi dân chúng biểu tình phản đối, đem cờ Đức quốc xã của Hitler ra đốt, đồng hóa bà với tên độc tài khát máu này.

Sau khi viếng Đức ông Hollande sang Mỹ họp  hội nghị thượng đỉnh NATO. Ông mang theo « cô bồ » tên là Valérie Trierweiler đi theo. Cô này là vợ cũ của một ông tên là Trierweiler. Cô bỏ chồng đi theo ông Hollande nhưng chưa chính thức ly dị nên hãy còn mang tên chồng cũ. Ông Hollande thì có một nguyên tắc là sống với đàn bà dù có con với nhau nhưng không cưới. Trước kia ông sống với bà Ségolène Royal, nguyên ứng cử viên Tổng Thống Pháp năm 2007, trong 30 năm và có với nhau 4 mụn con nhưng nhất định không cưới, mặc dù bà Ségolène thúc dục. Sự hiện diện của một vị quốc trưởng nước ngoài bên cạnh một người vợ không chính thức đặt ra vấn đề nghi lễ cho chính phủ Mỹ. Báo chí Mỹ gọi bà Valérie Trierweiler là « Đệ nhất tình nhân » (First Girl Friend) của nước Pháp.Vậy mà cặp trai gái không giống ai này lại được Tổng Thống Obama và Đệ nhất phu nhân thứ thiệt của Mỹ Michelle đón tiếp niềm nở. Chỉ vì ông Obama chuẩn bị ra tái ứng cử vào tháng 11 nên muốn lấy lòng cử tri « gay » và các người sống ngoại hôn.

Một vấn đề sinh tử của nhân loại là sự gia tăng nhiệt độ trái đất. Vậy mà trên 20 năm nay người ta không đạt được một tiến bộ nào đáng kể. Vào tháng 6, khi Hội nghị thượng đỉnh về trái đất nhóm họp tại Rio de Janeiro các vị nguyên thủ đại cường Obama, Poutine, Merkel, Camerone …đều vắng mặt. Chỉ có ông Hollande tới tham dự nhưng cùng một lúc ông lợi dụng cơ hội đến gặp nữ Tổng Thống Ba Tây Dima Roussef để « gạ » bán lò nguyên tử và máy bay Rafale. Vì không đạt được đồng thuận trong vấn đề làm giảm khí thải hiệu ứng nhà kính và các tai họa môi trường nên người ta đã phải thảo văn bản đúc kết hội nghi ngay trước khi hội nghị nhóm họp !

Trung Quốc hung hăng : Trong năm 2012, Trung cộng tiếp tục chính sách đối ngoại hung hăng. Ỷ vào sức mạnh kinh tế càng ngày càng tăng trưởng, nước này tìm đủ mọi cách để thống trị đời sống chính trị quốc tế, nhất là trong vùng Đông và Nam Á. Bắc Kinh khẳng định chủ quyền trên các đảo ở biển Đông Hải và Nam Hải, gây tranh chấp với các nước lân cận qua các hành động khiêu khích.

Trước hành động bành trướng bá quyền của Trung Quốc hai chính phủ Hà Nội và Nam Vang rụt rè sợ hãi. Vào tháng 7, Tại Hội nghị cấp bộ trưởng ngoại giao nhóm tại Nam Vang dưới quyền chủ tọa của Cao Miên, Trung cộng gây áp lực không cho thảo luận về vấn đề tranh chấp giữa họ và các nước lân cận nên lần đầu tiên có một hội nghị bế mạc mà không có bản tuyên ngôn chung. Thủ Tướng Miên Hun Sen, người mà Quốc vương Sihanouk gọi là « thằng đầy tớ một mắt của Việt Nam », đã phải chiều lòng Trung cộng để được hưởng thêm viện trợ.

Chính quyền cộng sản Hà Nội cũng sợ Trung cộng không kém. Mỗi lần dân chúng biểu tình phản đối Trung quốc chiếm đoạt các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều bị công an thẳng tay đàn áp.

Ngày 30 tháng 11, tầu đánh cá của Trung cộng cắt cáp tầu Bình Minh 02 khảo sát địa chấn vào đúng lúc « đồng chí Lý Kiến Quốc », ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản Tàu, sang viếng Việt Nam để thông báo kết quả của đại hội kỳ 18 của đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc đầu tập đoàn dầu khí Việt Nam xác nhận là Trung cộng gây hấn, nhưng sau chính quyền Hà Nội lại hạ tầm quan trọng của vấn đề cho đó chỉ là một « sự cố kỹ thuật » để « tránh ảnh hưởng tới không khí các cuộc tiếp xúc với phái đoàn của đảng cộng sản nước bạn ».

Ngoài ra, từ tháng 5, Trung Quốc còn dùng một sảo thuật ngoại giaolà in đường lưỡi bò trên hộ chiếu Tàu để khi nhân viên hải quan nước nào đóng dấu cho người Tàu nhập cảnh tức là thừa nhận chủ quyền của Trung cộng trên toàn bộ Biển Đông.              

Riêng có Nhật là có thái độ cứng rắn nhất đối với Trung cộng. Vào tháng 2, vẫn trong khuôn khổ chính sách bành trướng, Trung Quốc đòi đảo Senkaku của Nhật mà họ gọi là Điếu Ngư. Nhật không nhượng bộ. Thế là dân Tàu được huy động biểu tình rầm rộ chống Nhật, tẩy chay hàng Nhật khiến mức nhập cảng của Nhật vào Trung Quốc giảm xuống 30%. Các đài truyền thanh và truyền hình Tàu lên tiếng đòi cho bọn « Nhật lùn » một bài học. Cũng trong tháng  2, đại sứ chỉ định của Nhật ở Bắc Kinh đột ngột từ trần, 2 ngày trước khi lên đường nhận chức vụ mới.

Trước sự lộng hành của Trung Quốc, dân Nhật đã phản ứng mạnh mẽ bằng cách dồn phiếu cho đảng Dân chủ Tự do trong cuộc bầu cử quốc hội. Lãnh tụ đảng này là ông Shinzo Abe lên làm Thủ Tướng. Ông Abe có tiếng là cương quyết. Ông muốn tạo cho nước ông một địa vị xứng đáng trên chính trường quốc tế. Ông đang tìm cách tu chính hiến pháp Nhật để được tái võ trang. Khi làm Thủ Tướng lần trước (2006 – 2007) ông đã có lần vụng về tuyên bố là trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến Nhật không hề bắt các phụ nữ Trung Hoa và Cao Ly đi hộ lý cho quân đội Nhật. Sợ Nhật trở lại chính sách quân phiệt ngày trước, bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng đe Nhật « đừng có chơi với lửa ».

Chiến tranh Afghanistan : Chiến cuộc ở A Phú Hãn (Afghanistan) cũng là một điểm nóng trong vấn đề quốc tế. Khi Tổng Thống Mỹ Goerge Bush con đem quân can thiệp vào nước này, năm 2001, ông nhằm mục đích chính là chống quân khủng bố Al Qaeda và đánh đuổi chính sách ngu dân (obscurantisme) của bọn người Taliban khỏi chính quyền ở Kaboul và tạo lập một nền dân chủ. Nhưng dần dần người Mỹ có thái độ trịch thượng đến nỗi, vào tháng 3, một số lính Mỹ đốt kinh Hồi giáo Coran, tiểu tiện trên xác chết người bản xứ khiến dân chúng địa phương vô cùng căm phẫn. Đến tháng 9, ông hoàng Harry, cháu nội Nữ Hoàng Anh Elizabeth, quyết định sang tham chiến ở Pakistan để  « giải sầu ». Ông đánh nhau thì ít mà lính Mỹ phải bảo vệ cho ông thì nhiều. Chỉ vài ngày sau quân khủng bố Taliban tấn công căn cứ của ông tính bắt sống hay sát hại ông. Rút cục ông thoát nạn nhưng 2 quân nhân Mỹ đã tử nạn thay ông trong cuộc tấn công này.

Chính phủ Mỹ lại nhức đầu thêm khi chính các lính của chính phủ A Phú Hãn được lính Mỹ hay lính Pháp nuôi dưỡng, huấn luyện lại quay súng bắn huấn luyện viên ! Đến giữa năm 2012, số tử vong của Mỹ lên tới 4475 người, và Pháp mất 88 người. Xót xa trước số thương vong càng ngày càng nhiều trong một cuộc chiến không có ngày mai, tân Tổng Thống Pháp François Hollande quyết định rút quân về ngay trong năm. Nhưng rút quân là cả một công trình vĩ đại, nhiều phiền toái. Người ta ước tính là rút lui quân Pháp sẽ tốn kém từ 300 tới 500 triện euros. Chở vật liệu bằng đường bộ thì phải có thỏa hiệp của các nước lân cận như Kazakhstan, Ouzbékistan và Pakistan. Riêng Pakistan đòi phải trả thuế 5500 đô la cho mỗi thùng đồ (container) đi qua lãnh thổ của họ. Còn Mỹ thì còn đang ở trong tình trạng « dùng dằng nửa ở nửa về », Ông Obama cho biết đến tận cuối năm 2014 mới rút hết quân khi quân đội và cảnh sát A Phú Hãn được huấn luyện xong.

Chính tình Trung Đông : Trong năm 2012, có lẽ các biến chuyển tại Trung Đông với cuộc tranh chấp triền miên giữa Do Thái và Palestine cùng với các cuộc náo loạn của người Ả rập làm cho các đại cường đau đầu nhất.

Vào tháng 9, cuốn phim « Sự Ngây Thơ Của Người Hồi Giáo » (The Innocence of Muslim) do  một người Mỹ gốc Do Thái tên là Sam Bacile đạo diễn đã xúc phạm tới nhà tiên tri Mahomet. Dân Ả Rập giận dữ, biểu tình rầm rộ trước các sứ quán Mỹ trên thế giới. Riêng tại Benghazi, một thành phố của xứ Libye, dân hồi giáo đốt tòa tổng lãnh sự Mỹ và giết chết đại sứ Mỹ Christopher Stevens. Ngay sau đó, tại Pháp, tuần báo Charlie Hebdo đổ dầu vào lửa đăng tải một số đặc biệt với các hý họa về cuộc đời Mahomet. Đã giận lại giận thêm, dân chúng Ả rập biểu tình trước các sứ quán Pháp tại trên 20 quốc gia khiến các chính phủ sở tại phải vất vả huy động lực lượng an ninh để bảo vệ các sứ quán này.

Cả chính phủ Mỹ lẫn Pháp đều bất lực không ngăn cản nổi các hành động khiêu khích hồi giáo của người dân nước họ vì là nước dân chủ cả hai đều phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận.

Hai tháng sau, vào tháng 11, ông tướng Mỹ 4 sao David Petraus, giám đốc cơ quan mật vụ CIA phải từ chức vì có liên hệ tình dục với bà Paula Broadwell, 40 tuổi, là người viết tiểu sử đời ông. Tuy ông được vợ tha thứ nhưng các đối thủ của ông Obama, thuộc đảng cộng hòa được dịp nói lên là họ nghi ngờ ông Petraus từ chức để giấu sự thật về cái chết của ông Stevens ở Benghazi. Theo họ ông Stevens bị Al Quaeda giết chứ không phải là bị các người hồi giáo chống bộ phim nói trên giết.

Mối tình vụng trộm của tướng Petraus và nàng Paula lại gây ra một vụ rắc rối ngoại giao khác là vì ghen nên Paula liên tiếp gửi điện thư trên internet cho một cô khác tên là Jill Kelly, một nữ chiêu đãi viên 37 tuổi cư ngụ tại tiểu bang Florida, để cấm cô này không được liên lạc với ông tướng của cô. Hoảng hồn, cô Jill đi trình cảnh sát FBI và khi cơ quan này điều tra thì lại khám phá ra là một ông tướng 4 sao khác tên là John Allen, tư lệnh quân đội đồng minh ở A Phú Hãn, đã trao đổi hàng ngàn trang điện thư với cô Jill. Do đó người ta e rằng trong khi thủ thỉ với nhau tướng Allen có thể « chót dại » tiết lộ bí mật quân sự chăng. Tổng Thống Obama bèn cẩn thận ngưng việc cử ông Allen làm tư lệnh lực lượng của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cho chắc ăn.

Các cuộc xung đột thường xuyên giữa Do Thái và Palestine luôn gây khó khăn cho chính phủ Mỹ. Trước việc Ba Tư (Iran) đẩy mạnh việc khảo cứu hạch tâm Do Thái tỏ ra lo lắng. Nước này chỉ sợ Ba Tư chế bom nguyên tử nên Thủ Tướng Do Benjamin Netanyahou định tâm đưa không quân sang oanh tạc các cơ sở hạch tâm của Ba Tư. Ngoài ra ông Netanyahou còn tỏ ra hết sức cứng rắn với chính quyền Palestine. Ông cho xây dựng hàng ngàn căn nhà định cư trên bờ phía Tây của Palestine.

Cả Mỹ lẫn Âu châu đều ngăn chặn ông Netanyahou không cho ông có những hành động gây hấn này. Nhưng dựa vào sự ủng hộ của các nhóm áp lực gốc Do Thái ở Mỹ ông Netanyahou làm tàng. Mỗi lần qua Mỹ gặp ông Obama ông đều « to tiếng » đòi tự do hành động. Ngay cả ông Shimon Peres, Tổng Thống Do Thái cũng chỉ trích thái độ cuồng tín của ông Netanyhaou.

Tháng 11, ông Abou Abbas, Chủ Tịch chính quyền Palestine, quyết định nộp đơn xin Liên Hiệp Quốc (LHQ) nâng cấp của nước ông lên bậc « Nhà Nước Quan Sát Viên » của LHQ để có thêm uy tín trên trường quốc tế. Đến tháng 11, ông Netanyhaou sang Pháp gặp ông Hollande. Hai ông vui vẻ « bồ bịch » rủ nhau cùng xuống Toulouse thăm một trường học Do Thái vừa bị một tên khủng bố Ả Rập tấn công giết chết 3 trẻ con và một giáo viên Do Thái mấy tháng trước. Khi về ông Netanyhaou khoe là giữa ông và ông Hollande có « tiếng xét tình bạn » (coup de foudre) và yên trí Pháp sẽ bỏ phiếu chống đơn xin của ông Abbas tại LHQ. Nhưng ông Hollande thì lại chê ông Netanyhaou là « không đàng hoàng » vì đã lợi dụng cuộc viếng thăm Toulouse để cổ động bầu cử cho ông trong cuộc bầu quốc hội Do Thái dự trù vào tháng 1 năm 2013. Sau cùng Đại Hội Đồng LHQ, bằng 138 phiếu thuận, trong đó có phiếu của Pháp, nâng cấp Palestine lên bậc « Nhà Nuớc Quan Sát Viên » và 9 phiếu chống trong đó có Mỹ, và 41 phiếu trắng.  

Tình hình Phi châu : Tình hình chính trị Phi châu cũng là mối ưu tư không nhỏ của các đại cường. Trong khi Mỹ và Trung Quốc hoạt động mạnh mẽ để mở rộng ảnh hưởng của họ thì Pháp, nước thực dân cũ, cũng cố gắng gồng mình lên để duy trì địa vị của mình trên lục địa này. Nhưng vì Pháp chưa bỏ được cái phong cách thực dân cố hữu nên nhiều vụ tranh chấp đã xẩy ra trong năm 2012.

Nhiều nước Phi châu chưa bước vào tiến trình dân chủ nên nhân quyền luôn bị vi phạm và Pháp không mấy hài lòng. Vào tháng 10, Hội nghị thượng đỉnh Pháp thoại thường niên được tổ chức tại Kinshasa, thủ đô nước Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Ông Hollande ngần ngại không muốn tham dự vì Tổng Thống nước chủ nhà Joseph Kabila là một tay độc tài tàn ác. Nhưng không tới thì Tổ Chức Pháp Thoại Quốc Tế sẽ bị thương tổn. Chẳng đặng đừng, ông Hollande phải sang phó hội. Nhưng ngay khi đặt chân tới phi trường Kinshasa ông đã lớn tiếng tố cáo chính phủ sở tại vi phạm nhân quyền.Trong phiên họp ông Hollande còn tỏ ra hết sức bất lịch sự để dằn mặt ông Kabila. Khi ông này đọc diễn văn khai mạc thì ông Hollande giả bộ không nghe. Khi hội nghị bế mạc thì ông không lên cám ơn nước chủ nhà như các trưởng phái đoàn khác.

Thái độ trịch thượng của ông Tây Hollande làm nhiều vị nguyên thủ Phi châu phẫn nộ. Tổng Thống Idriss Débry xứ Tchad công khai tẩy chay hội nghị Pháp thoại bằng cách đi sang Nam Phi thay vì đi phó hội, nhưng khi trở về lại ghé Kinshasa và được ông Kabila đón tiếp long trọng. CònTổng Thống Blaise Compaoré xứ Burkina thì lại lớn tiếng tuyên bố rằng «  nước Pháp mù quáng không biết thực tại Phi châu » và ông Hollande đi đâu cũng lên tiếng dạy đời nhưng quên rằng không có sự ủng hộ của hai vị Tổng Thống các xứ Tchad và Burkina thì ông khó mà giải quyết được cuộc khủng hoảng hiện tại ở Mali.

Thật vậy, từ tháng 3, một cuộc đảo chính quân sự đã lật đổ Tổng Thống Amadou Toumani Touré xứ Mali. Cuộc tranh chấp quyền hành tiếp theo đó làm quân đội Mali tan rã. Những người thuộc bộ lạc Touareg cấu kết với các người hồi giáo quá khích salafi và những phần tử Al Qaeda thừa cơ nổi dậy chiếm miền Bắc, thành lập một xứ Azawad độc lập ly khai. Pháp rất quan ngại về tình trạng này. Vì trước hết Mali nằm trong vùng Sahel chứa chất rất nhiều tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho kỹ nghệ các nước phát triển Âu Mỹ : như uranium và quặng sắt ở Mali và Niger, dầu lửa và khí tự nhiên ở Algérie v…v…Ngoài ra, quân khủng bố ở đây còn bắt 8 người Pháp làm con tin. Khi ông Hollande vận động xin LHQ cho phép các quốc gia Phi châu lân cận can thiệp quân sự để tái lập thống nhất Mali thì quân khủng bố gửi thư dọa giết con tin và đe đích thân ông Hollande nữa.

Tình hình đang nhì nhằng thì vào đầu năm 2013 quân khủng bố hồi giáo quá khích từ miền bắc ùa xuống  miền Nam, lăm le chiếm luôn thủ đô Bamako. Chính phủ và dân Mali hoảng sợ  cầu cứu Pháp vì những nơi nào mà quân hồi giáo quá khích tới thì họ áp dụng luật Charia bắt đàn bà che mặt, cấm đàn ông hút thuốc lá, để tóc dài, nghe nhạc v…v…Sẵn được phép của Hội Đồng Bảo An, ông Hollande ra lệnh xuất quân. Không quân Pháp đồn trú từ các quốc gia Phi châu lân cận ào ạt đổ xuống oanh tạc các căn cứ của quân khủng bố hồi giáo và chỉ trong 3 tuần lễ đã giải tỏa vòng vây, đẩy lui địch quân vào tháng 1 năm 2013. Đây là một quyết định liều lĩnh của ông Hollande vì ông đơn thương độc mã hành động trong khi các nước khác kể cả Mỹ và các nước thành viên Liên Hiệp Âu châu chỉ lên tiếng ủng hộ miệng. Anh quốc cho hai chiếc phi cơ đến giúp trong khi Pháp huy động các chiến đấu cơ hiện đại, tối tân nhất như máy bay Mirage và Rafale và hiện thời có tới 4000 quân Pháp tới tham chiến. Ông Hollande sang Mali thăm chiến trường  được dân chúng Mali đón tiếp nồng nhiệt coi ông là người giải phóng họ. Để cám ơn ông người ta biếu ông một con lạc đà làm quà.

Do một sự trớ trêu của chính trường quốc tế, cùng một lúc, Trung Phi bị quân phản loạn Séléka tấn công, dân nước này biểu tình bao vây Tòa Đại Sứ Pháp ở thủ đô Bangui để đòi Pháp phải bảo vệ chính phủ của họ. Ông François Boizizé, Tổng Thống xứ này, phải cầu cứu Pháp và ông Hollande đã phái 560 lính Pháp đồn trú tại chỗ và tại xứ Gabon bên cạnh tới bảo vệ chính thể hiện hữu ở Trung Phi.

Rút cục, nhiều nước cựu thuộc địa tuy đã thu hồi được độc lập mà rồi đôi khi vẫn phải cầu cứu cựu thực dân. Nhưng can thiệp vào nội bộ các nưóc Phi châu chưa chắc đã là một điều hay. Pháp và các nước Âu Mỹ đã tích cực yểm trợ phong trào « Mùa Xuân Ả Râp » lật đổ độc tài tại Ai Cập, Libye, Tunisie. Nhưng rồi khi cách mạng thành công thì các chính thể mới của các nước này lại trở thành độc tài thần quyền. Trước kia cựu Tổng Thống Pháp Sarkozy giúp phe cách mạng Libye lật đổ nhà độc tài Kadhafi bằng cách cung cấp súng ống đạn dược cho họ. Bây giờ các võ khí này lại được buôn lậu chuyển sang cung cấp cho quân khủng bố ở Mali. Đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.

*
* *

Trong năm 2012, người ta thấy không có một vấn đề quốc tế quan trọng nào được giải quyết ổn thỏa chỉ vì thiếu sự đồng thuận giữa các đại cường quốc. Trong khi các chính phủ « cãi vã » và « chơi xấu » lẫn nhau thì các nhà ngoại giao phải ra tay để san bằng những khó khăn, trấn an các nước bị đe dọa, làm dịu các nước hung hăng. Các nhà ngoại giao luôn luôn hoạt động, nỗ lực và kiên nhẫn không ngừng. Trong 4 năm trời bà Hillary Clinton, cựu Ngoại Trưởng Mỹ đã cưỡi máy bay đi trên 1 triệu rưỡi cây số, viếng 112 nước. Ông John Kerry, tân Ngoại Trưởng Mỹ đã phải uống tới 300 chén trà mới thuyết phục được Tổng Thống Á Phú Hãn Hamid Karzai dân chủ hóa chế độ và bài trừ tham nhũng. Hy vọng rằng các hoạt động này không phải là thừa.

Từ Trì 
 

 

Trần Mộng Tú - NGƯỜI THÂN CUỐI


Trần Mộng Tú

Mona Ramouniở Michigan có một con pony, cùng đồng chủng với ngựa, nhưng nhỏ hơn ngựa .Con pony chỉ cao lớn bằng hai con chó nhưng chân dài nên nó đứng ngang hông cô. Mỗi ngày nó và cô cùng đi đến lớp học của người khiếm thị, khi cô ngồi học thì nó cũng luôn luôn đứng hoặc nằm sát chân ghế của cô. Cô không thể di chuyển mà không có nó, nó là một con ponyđã được huấn luyện để làm chức vụ giúp đỡ. Pony là một “Trợ Tá” của cô. Cô mù từ hồi mới được mấy tháng tuổi. Sinh ra trong một gia đình Muslim, nên cô không được dùng chó giúp đỡ, vì tôn giáo của cô cho con chó là một giống vật không được sạch sẽ.


Con pony bé nhỏ, trước khi gửi đến cho cô đã được huấn luyện bởi những chuyên gia về vật lý trị liệu. Không phải chỉ khi ra ngoài cô mới cần tới nó, nó chính là người bạn đường tốt của cô. Đời sống hàng ngày với bao nhiêu phức tạp, có chuyện buồn, vui, nào cô cũng rù rì kể cho nó nghe, nó lắng nghe chăm chú và cô cảm nhận được nó đã nhìn cô với cặp mắt chia sẻ. Nó như một vị bác sĩ tâm thần giúp cô biết thở ra khỏi lồng ngực những muộn phiền. Khi cô có một vết thương thể xác nhỏ, chỉ cần đến nói cho nó biết, nó cũng biết dụi đầu vào cô, xoa dịu cơn đau. Nó luôn luôn ở cạnh cô, cùng ăn, cùng làm việc, học hành, giải trí. Cả hai cùng săn sóc lẫn nhau bằng tất cả khả năng của mình.

Cô Mona không phải là người duy nhất được súc vật giúp đỡ. Và pony cũng không phải là súc vật duy nhất trở thành một therapist. Những con chim két, khỉ, heo, lừa và vịt, chó, mèo, sau khi được huấn luyện, chúng cũng trở thành những người bạn thiết cho những người bắt đầu bị lú lẫn (dementia) và những em nhỏ bị bệnh tự kỷ (autism),chúng còn là những người bạn giúp vui cho những người già cô đơn. Ở những nhà già người ta hay mang những con vịt, con lừa tới vui chơi, thăm viếng người già. Các cụ háo hức chờ chúng đến mang nguồn vui cho mình, giống như khi các cụ còn là những cha mẹ trẻ, háo hức mang con nhỏ của mình tới mấy cái trang trại cho các con xem súc vật.

Ở khách sạn Los Delfines thuộc Lima, Peru. Người ta xây một chiếc hồ có nuôi cá dolphin. Phụ nữ có mang, tới đó cho em bé trong bào thai được gặp mấy chú cá này. Hình ảnh một người phụ nữ trẻ, ngồi sát thành hồ, lật áo, đưa chiếc bụng bầu ra cho một chú Dolphin  bơi với lên, dúi cái mỏm dài hôn tới hôn lui vào bụng cô là một hình ảnh vừa lạ mắt vừa đẹp. Những chuyên gia về vật lý trị liệu cho biết, để cá voi mơn trớn bụng bầu của người mẹ sẽ giúp cho óc của thai nhi trong bụng tăng trưởng tốt hơn. Khi dolphin vừa hôn bụng vừa phát ra những tiếng kêu ý… ý…ý… như reo lên nho nhỏ giúp cho nhịp đập của thai nhi tăng lên, thai nhi có thể sẽ máy động cùng một lúc hay mút các ngón tay mình, trong khi đó người mẹ sẽ thư giãn hơn, bớt lo sợ về sinh đẻ. (Nên nhớ, dùng CD phát ra tiếng kêu của cá Dolphin không giúp gì được trong những công việc phát triển này).

Voi là một con vật to lớn kềnh càng, người ta chỉ dùng nó vào những việc lao động và kém mỹ thuật. Một con vật chỉ có hai cái ngà được quý trọng, ngoài ra “trăm voi không được bát nước sáo.” Nhưng ở Thái Lan, một nước nổi tiếng về huấn luyện voi để phục vụ loài người, voi được dạy thành họa sĩ, vũ công, cầu thủ để hấp dẫn du khách. Voi cũng được dùng làm phương tiện chuyên chở cho những ông hoàng bà chúa của hoàng gia Thái Lan. Đặc biệt, trong một trại nuôi voi, những chuyên gia vật lý trị liệu đã huấn luyện cho một đàn voi thuần hóa, thân thiện để các em bị bệnh tự kỷ đến chơi với chúng. Các em được hướng dẫn tắm voi, chơi với voi và săn sóc voi. Các em bớt sợ hãi, tự tin hơn khi mình chơi được, săn sóc được với những con vật to lớn gắp mấy mươi lần mình.

 Súc vật thay cho con cháu

Bà Ann được chuyển từ bệnh viện về Hospice of St. John ở Lakewood, Colo., nơi bà nằm lại chờ những giờ sau cùng. Bà ngoài 70 tuổi, bà bị bệnh về thận, ra vào bệnh viện mấy năm liền, bác sĩ cũng chán bà và bà cũng chán các bác sĩ. Bà không chết nhưng bà càng ngày càng yếu đi. Các con cháu của bà, người nào cũng đi làm, đi học. Chúng đón đưa bà mãi cũng oải người ra rồi, bà nằm trong nhà già thì cần người trông cả ngày cả đêm, ai cũng nản. Lần cuối xuất viện, bác sĩ quyết định đã đến lúc bà nên vào Hospice. Bà vào đây mười ngày, rồi hai mươi ngày bà chưa đi. Thể xác bà yếu đuối, nhưng hình như đầu óc bà lại sáng ra. Bà nghĩ đến tất cả những điều gì bà có thể nghĩ được: từ cha mẹ, người yêu thời đi học, người chồng (đã qua đời) đến con, cháu, bạn thân, bạn sơ. Họ bỗng biến đâu hết trong cuối đời bà. Hay là họ vẫn còn đấy mà bà nhìn không ra. Bà thấy mình rơi vào một khoảng trống mênh mông, chỉ có cô đơn làm bạn. Bà chợt hiểu ra con người đến một mình thì ra đi cũng một mình dù nhìn theo hướng nào. Bà cũng có ba người con, hai dâu, một rể, bốn đứa cháu, tất cả là mười người, nhưng bây giờ bà chỉ có hai bàn tay giơ ra trước mặt với mười ngón khô gầy.

Người ta mang đến cho bà một con llama tên là Pisco, được 13 tuổi. Llama là loại lạc đà không bướu, một động vật thông minh, chúng có thể học được một số việc sau vài lần bắt chước. Pisco được huấn luyện để làm bạn, giúp đỡ những người cô đơn, làm giảm cơn đau cuối cùng mà người đó phải gánh chịu.

Không biết người ta huấn luyện thế nào, không biết nó cư xử giúp đỡ bà bằng cách nào mà bà Ann thấy những ngày cuối của mình trong cái hospice lạnh lẽo này trở nên ấm áp, bà giơ tay ra vuốt được vào cái thân thể đầy sức sống dưới gan bàn tay khô khốc của mình, những cơn đau của bà dịu xuống. Mỗi ngày bà nằm chờ Pisco, khi Pisco tới bà được đỡ ra ngồi trên wheelchair, lăn về phía bạn, hay bạn tiến tới phía bà. Pisco đứng thật sát vào bà, nhìn bà bằng đôi mắt ấm áp, chia sẻ, thế thôi.
Pisco không đến mỗi ngày được, nên bà phải chờ và biết là Pisco thế nào cũng đến.

Khi bà Ann mất, thân nhân của bà không có mặt, chỉ có y tá và người bạn mới, Pisco.

 Các con, cháu, dâu rể của bà được thông báo. Họ tới nơi, bà đã nằm im, nhắm mắt. Một bàn tay của bà nắm chặt lại, người con gái mở tay mẹ ra, một chiếc lông hình như của súc vật trong lòng bàn tay mẹ. Cô y tá cắt nghĩa, đó là lông của con llama, tên là Pisco, người thân cuối cùng của bà.

Trần Mộng Tú
2/2013



Nguyễn Ðức Tường - Cỗi rễ bậc hai

Nguyễn Ðức Tường


Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua…

Mỗi lần Tết đến, tôi thường có dịp đọc lại bài thơ Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên in trong một tạp chí nào đó. Mùa xuân và hoa đào. Tác giả đã mượn hình ảnh hoa đào trong một bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ, nhưng, oái oăm thay, đáng lẽ thiếu nữ, ông lại cho hoa cặp kè với một ông đồ già. Người thiếu nữ trong mấy câu thơ đài các của Thôi Hộ đến rồi đi, như con thoi; ta không biết cô đẹp xấu bao nhiêu nhưng qua nét chấm phá của nhà thơ đời Đường, ta tưởng tượng là cô phải đẹp… ghê lắm. Còn Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên? Qua năm khổ thơ bình dị, mộc mạc, ta hình dung một nhà nho cũ kỹ, khăn đóng, áo the, thoáng thấy lại một thời thanh bình với mẫu người mẫu mực, một đời sống vật chất eo sèo, đạm bạc nhưng an nhàn, lương thiện. Đem so sánh với thiếu nữ của Thôi Hộ, tất nhiên ông đồ bị lỗ vốn quá rồi tuy không đến nỗi là một “kẻ thân tàn ma dại” đang “đi về cõi chết” như Hoài Thanh đã viết. Riêng đối với tôi, Ông Đồ Già bao giờ cũng mới, luôn luôn cho tôi một cảm giác bùi ngùi, man mác khó tả. Nó cũng khiến tôi nghĩ đến thày giáo Công.


Thày giáo Công là bạn sơ giao của ông nội tôi. Khi tôi biết ông vào mùa hè năm 1943, ông đã về hưu dù tuổi chưa lớn lắm. Khác với ông đồ già của Vũ Đình Liên, một hình thái trừu tượng, tượng trưng một cái gì đã qua, thày giáo Công là một người rất thực, có đầy đủ phong cách chắt lọc của một nhà Nho, bao gồm chữ nghĩa, nhân cách cùng nếp sống. Sung túc hơn, ông không phải viết chữ kiếm ăn. Ông là một trong những người cuối cùng còn sót lại từ trường thi Nam Định; ở trường thi này, tôi nghe nói, ngoài thi phú, thí sinh còn phải thi cả toán pháp. Có lẽ vì vậy, trong trí hiểu biết bé nhỏ của tôi, ông là một người rất giỏi toán, đã chỉ bảo tôi nhiều điều mới lạ. Tất nhiên ông là một ông đồ vì ông cũng dạy chữ Nho, nhưng là một ông đồ “tân thời” vì ngoài chữ Nho, thượng vàng hạ cám, ông còn dạy nhiều thứ khác, kể cả tiếng Anh, cho vài đứa nhỏ nữa.

Thị xã Hải Dương, khoảng đầu thập niên 1940, những ai sống ở quanh khu phố Hàng Lọng có lẽ đều biết hay đã theo học thày giáo Công. Mở trường dạy học, đúng hơn, một thứ nhà giữ trẻ không công (hay rất ít công), lớp học của ông không tiêu điều, “nhà trống ba gian… học trò dăm đứa…” như lớp học của ông Tú Vị Xuyên. Ông có chừng năm chục học trò vào mùa hè, ít hơn trong năm học. Hàng năm, vào dịp Tết, học trò mâm lớn, mâm nhỏ, lũ lượt đến biếu thày vài ba gói trà, hoa quả, bánh mứt. Theo tôi biết, đó là tất cả học phí phải trả thày. Thế thôi!

Nhà trông ra mặt phố ở thị xã thường là nhà hai tầng, gian lớn nhất, ngoài cùng là phòng khách bên trong là phòng ngủ. Một lối đi nhỏ riêng biệt cạnh buồng ngủ dẫn đến cái sân bên trong, tiếp đó là nhà ngang rồi bếp. Thày giáo Công sở hữu một trong những căn nhà này. Lớp học của ông là căn nhà ngang, kê được mươi bộ bàn ghế học trò dài, ngoài hàng hiên là cái bàn vuông lớn bằng gỗ gụ, thày ngồi giữa, học trò ngồi xung quanh. Những ngày không mưa, học trò còn ngồi kín cả bậc thang, cạnh sân, bên cạnh núi non bộ và bể cá vàng.

Mỗi buổi sáng mùa hè, khi còi tầm của nhà máy rượu réo lên, là học trò đã đến đầy lớp học. Ông thong thả đi từ trên gác xuống, tay cầm chiếc roi mây. Ông ngồi xuống ghế, dáng vẻ phong lưu; búi tóc nhỏ sau gáy, kính trễ trên sống mũi, điếu thuốc lá sâu kèn lơ đãng bên mép, cánh tay áo lụa rung rung khẽ đập roi xuống mặt bàn, ông đếm “một, hai, ba” cho học trò cùng hát trước khi bắt đầu học,
Bóng trăng trắng ngà,
Có cây đa to,
Có thằng cuội già,
Ôm một mối mơ…

Chiếc roi mây của ông, một đầu nát bươm, vì đập xuống mặt bàn để ra oai chứ không phải vì nó thường tìm đúng đích. Trừ hai lần. Lần thứ nhất, “thằng” Thiện, cũng con nhà lành thôi nhưng nghịch ngợm hơn những đứa trẻ khác, thay vì “một ông trăng béo thật to,” Thiện hát tiếng hơi vang quá “một ông trăng béo, c... to.” Học trò bấm bụng nhịn cười, nhưng ông đã nghe thấy, ông nghiêm nghị, điềm đạm đưa mắt nhìn quanh lớp. Sau khi hát xong, ông gọi Thiện lên, bảo xòe tay ra. Rất nhanh, ông đét cho nó một roi. “Ối, con lạy thày,” nó kêu.

Lần thứ nhì cũng vẫn là Thiện. Ở chân cầu thang là bể cá vàng và núi non bộ. Học trò thường ngồi khom dưới đất, chép bài trên thành bể, ném bỏng cho cá ăn, xem cá bơi lòng vòng quanh mấy cây si, dưới mấy chân cầu hay trước mặt ông Lã Vọng ngồi câu nhưng không bao giờ được cá. Một hôm, Thiện dụ cá đến cho ăn, rồi cầm bút đâm đâm khi cá đớp. Trong khi nó mải mê săn mồi thì ông trông thấy. Cầm roi, dón dén đi như con cò ruồi, ông đến sau lưng nó, học trò nín thở, “Vút!” – “Ối, con lạy thày,” Thiện giật mình kêu; đồng thời khi lưng áo và chiếc roi mây gặp nhau, cột nắng nhỏ trên lưng nó biến thành cột bụi.

Tôi không biết lý do nào đã khiến ông dạy tiếng Anh cho “con” Loan. Ngày ấy, tiếng Anh là một ngoại ngữ đến từ hành tinh khác, nhất là ở một tỉnh lỵ như Hải Dương, kiếm thày dạy tiếng Anh không khác gì đi kiếm gà sống có răng. Chính Loan đã bảo cho tôi biết “oẳn tù tì” là tiếng Anh. Mặc dù được bắt đầu học sớm như vậy, tôi không biết cô giữ được bao nhiêu và không dám bảo đảm về sự chính xác cùng khả năng Anh ngữ của cô. Tôi mon men đến ngồi cạnh Loan (việc Loan là con bé xinh đẹp dễ thương nhất lớp là chuyện khác,) hy vọng xin được ông cho học tiếng Anh. Fat chance! Ông nội tôi đã gửi gấm, xin ông cho tôi ít chữ nghĩa thánh hiền.

Trước hết, thay vì vẽ, ông dạy tôi viết chữ Nho (“Viết trái cựa người ta cười cho!”). Một hôm, tôi phải chép câu chữ Nho mà tôi không còn nhớ câu dịch âm cùng xuất xứ của nó tự sách nào, câu này được dịch nghĩa là “Người ta sinh ra tính vốn lành như nước chảy xuống chỗ trũng…” Nước chảy xuống chỗ trũng thì đúng rồi, nhưng sự việc đó cũng như, thí dụ, “chim hay hót buổi sáng,” không ám chỉ người ta sinh ra tính vốn lành hay dữ. Tôi không nhớ đã đặt câu như thế nào để hỏi ông, nhưng như tôi hiểu ngày nay, ý chính của câu hỏi đó là “nước chảy xuống chỗ trũng” không chứng minh được gì cả, chắc chắn là không chứng minh được “người ta sinh ra tính vốn lành.” Ông nhìn tôi hồi lâu, chưa kịp trả lời thì đã phải bỏ ngang, cắt nghĩa bài cho học trò khác.

Thày giáo Công không có dịp trả lời câu hỏi của tôi, nhưng tôi nhận thấy, từ đó, ngoài chữ Nho, ông thường giảng cho tôi khoa học thường thức, dạy tôi toán pháp. Chính ông là người đã tập cho tôi cái thú (hay thói quen) đọc sách, nhất là sách thuộc loại không hư cấu, đời sống các danh nhân, những con người khác thường nhưng rất thực; đó là một cái thú còn tồn tại mãi mãi trong tôi. Một trong những cuốn sách đầu tiên ông bảo tôi đọc là tiểu sử của Marie Curie, ở bà tôi nhìn thấy bột phát sáng chói của thiên tài thường là kết quả của một tình yêu tha thiết trong việc đi tìm cái mới, là những ngày dài bất tận, làm việc lương thiện, cần cù, tỉ mỉ, không bỏ qua một chi tiết dù nhỏ.

Trông một lớp chừng năm chục học trò, đủ hạng, đủ kiểu, tất nhiên ông không có thì giờ nhiều cho riêng học trò nào. Ông dạy tôi toán như một trò chơi, giầu về thí dụ cụ thể, không bao giờ nặng về hình thức. Chẳng hạn như ông dạy tôi cách chia phân số,

“Một nửa cái bánh đem chia làm hai thì được bao nhiêu?”

“Dạ, thưa thày, một phần tư cái bánh.”

“Vậy ta suy ra một phần hai chia cho hai được một phần tư.”

Đại khái như vậy, cứ “làm như thế, như thế…”, một lúc thuận tiện nào đó, cái bánh hay vật dụng đi liền với phân số đột nhiên biến đi, còn lại là phân số. Ông dạy cách viết cho phải phép, rồi cho mấy bài tập để làm một mình. Trong trường hợp tôi, khi thấy đã thực hiểu, ông thường bảo tôi đi giúp những học trò khác.

Ông không dạy theo một chương trình hay thứ tự nào nhất định, nhiều khi có lẽ hoàn toàn tùy hứng. Một dịp nào đó, ông dạy tôi tính căn số của một con số mà ông gọi là cỗi rễ bậc hai (2 nhân 2 là 4; ta nói bình phương của 2 là 4 và căn số của 4 là 2). Theo tôi biết, tính căn số không chính thức thuộc chương trình nào, tiểu học hay trung học. Sau này dạy học, hết khóa học, sau khi sửa soạn sinh viên về chuyện thi cử, đôi khi còn chút thì giờ tôi hỏi họ có biết tính cỗi rễ bậc hai bằng tay hay không? Thỉnh thoảng có người hỏi lại, học để làm gì khi chỉ cần ấn một cái nút ở máy tính là đủ. Tôi trả lời: “Rất đúng, với máy tính cầm tay có khi biếu không, ta dễ dàng có được kết quả với 12 số lẻ, trong khi có lẽ chỉ cần sáu số lẻ là đã đủ tốt để gửi người lên mặt trăng. Nhìn cách này, đó là một việc làm hoàn toàn vô ích; có điều, ta biết ta có thể tính được số lẻ thứ 13. Vì vậy, cũng nên biết, rồi đem dấu nó vào một khe kẽ của hành trang tinh thần ta phải mang theo trong đời sống.” Nhiều sinh viên tỏ vẻ hài lòng, ngồi học thêm cách tính cỗi rễ bậc hai.

Một dịp khác, ông dạy một món gọi là lấy đấu đong quân, cũng có tên khác là “Hàn Tín điểm binh” nhưng tôi thích cái tên lấy đấu đong quân vì nghe vui tai, thi vị hơn – tạp chí Khoa Học của GS Hoàng Xuân Hãn xuất bản khoảng đầu thập niên 1940 cũng có một bài nói về Hàn Tín điểm binh. Đây là một bài toán rất xưa mà theo các sách toán Tây phương, người đầu tiên khảo cứu là Tôn Tử. Bài toán như sau: Có một số quân không biết bao nhiêu mà ta muốn đếm. Có nhiều cách đếm, một trong những cách đếm là lấy... đấu để đong. Ta đong số quân đó theo ba cách khác nhau, như thế này: lấy cái đấu đong 3 anh quân một lần, không cần biết được bao nhiêu đấu nhưng biết là, cuối cùng, thừa ra 2 anh; lấy cái đấu đong 5 anh quân một lần, thấy thừa ra 3 anh và, sau cùng, lấy cái đấu đong 7 anh quân một lần, cũng thấy thừa ra 2 anh. Nếu thấy dùng đấu để đong cồng kềnh quá, ta có thể cho quân xếp hàng 3, hàng 5, hàng 7, mỗi lần ghi nhớ số quân lẻ cuối cùng. Hai cách này tuyệt đối tương đương với nhau. Giả dụ được cho bài toán trên, tôi sẽ ngồi “làm như thế, như thế…” chừng vài phút, “có 128 quân.” Đúng boong! Thật ra, bài toán này có nhiều đáp số khác, đáp số nhỏ nhất là 23; nhưng thôi, đó là chuyện khác.

Thêm một bài toán dân gian rất quen thuộc: “Vừa gà vừa chó 36 con, trói lại cho tròn, đếm đủ 100 chân. Hỏi có bao nhiêu gà, bao nhiêu chó?” Ông rất cẩn thận dạy giải bài toán bằng số học, dùng phép mà ông gọi là phép giả thử. Phép này bắt đầu lý luận bằng cách giả thử tất cả 36 con đều là gà (hoặc chó), nhưng lý luận này không thật dễ hiểu. Sau đó ông dạy cách giải bằng algèbre (ông không dịch là đại số), tôi nghe phát âm là ăn-giép. Muốn dùng ăn-giép hay đại số, ta chỉ việc thay số chưa biết bằng một chữ, thí dụ x, rồi làm tính như thể chữ đó là một con số đã biết rồi. Để bớt dài dòng lôi thôi, trong bài toán này, thí dụ ta có x con gà thì ta sẽ có 36 trừ x con chó hay (36 - x) và tổng cộng số chân gà là 2 nhân với x hay 2x. Cứ theo cách đó mà tiếp tục, “tất nhiên,” trong khi làm tính, ta có những phép tính, thí dụ, 4x mà trừ đi 2x thì còn lại 2x hay đem 4x chia cho 4, ta được x vân vân, đến một lúc ta sẽ được x = 22 con gà và, do đấy, 14 con chó. Ông dạy phép giả thử trước vì ăn-giép dễ dùng quá, một khi đã biết dùng ăn-giép thì sẽ không bao giờ trở lại làm số học nữa.

Niên học 1945, sau 80 năm làm sứ mệnh khai hóa và chỉ sau khi nước Pháp, trong thực tế, đã chấm dứt nhiệm vụ này vì bị Nhật đảo chính ngày 09-03-1945, thị xã Hải Dương, lần đầu tiên, có được một trường trung học, trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, công trình cụ thể của Bộ Giáo Dục của GS Hoàng Xuân Hãn. Nhà tôi có hai anh họ xa đến ở nhờ, trọ học. Một hôm, tôi nghe hai anh tranh luận rất hăng say về toán. Tôi lắng tai nghe, các anh đang cãi nhau về một bài tính ăn-giép.

“Tưởng gì, tính ăn-giép thì em làm được!”

Hai anh là học trò cô-le, không phải chuyện đùa, tròn mắt nhìn thằng ranh con ăn nói xấc xược, bậy bạ nhưng bằng lòng cho thử. Thằng ranh con ngồi “làm như thế, như thế…” trong vài phút, giải được bài tính ăn-giép!

Đó là một số thành tích tôi thu lượm được từ thày giáo Công. Trong hai vụ hè, kiểm điểm lại, ông dạy tôi có lẽ đủ toán để có thể qua được trung học phổ thông một cách khá thoải mái. Toán học phương Đông có lẽ không có một hệ thống giống như phương Tây, nhưng cũng khá phát triển, Hàn Tín điểm binh là bài toán cổ đã 2000 năm; tôi chưa được đọc về cách các cụ ta học toán ngày xưa. Riêng thày giáo Công, tiếng Anh ông học ở đâu đó, tiếng Pháp ông phải biết đôi chút vì đi thi có bài dịch. Một vài khái niệm khác, như ăn-giép, có thể ông đọc trong sách của anh Ngọc, con trai trưởng của ông. Hè năm 1944, anh Ngọc thi đỗ đíp-lôm về, mặt ông rạng rỡ, kiêu hãnh như chỉ một ông bố có con thi đỗ đíp-lôm ngày ấy mới có thể rạng rỡ, kiêu hãnh đến thế. Ông cho cả lớp ăn bánh kẹo. Chính trong dịp này ông dạy tôi ăn-giép.

Nhưng còn một số vấn đề tôi nghĩ không thể đến từ sách vở của anh Ngọc. Với vài thí dụ giản dị, ông chỉ cho tôi biết không có con số nguyên tố lớn nhất (số nguyên tố là số không thể chia cho bất cứ số nào ngoài số 1 và chính nó, thí dụ: 2, 3, 5, 7,…) Mãi mãi về sau, tôi mới biết phát biểu trên là một định lý của Euclid, nhà bác học Hy Lạp đã đặt nền móng cho toán học từ hơn 2000 năm nay và chứng minh định lý về số nguyên tố của ông, theo người sành điệu, thuộc loại đẹp và thanh lịch nhất trong toán học. Anh Ngọc mới đỗ đíp-lôm, trong chương trình trung học của Pháp, chỉ đến Tú Tài II, định lý Euclid mới xuất hiện. Các cụ ta không thiếu gì người bác học, không rõ sức hiểu biết về toán của các cụ sâu đến đâu? Đó là một đề tài khảo cứu hấp dẫn.

*

Rồi chiến tranh chống Pháp. Mỗi người một nơi, tôi không gặp lại thày giáo Công, nhưng tôi không bao giờ quên ông, luôn luôn hy vọng có được dịp bù lại mấy món quà Tết eo sèo đã biếu ông.

Ở gần nhà tôi có một gia đình dân nhập cư Hy Lạp. Một hôm, người bạn nha sĩ hàng xóm nói ông người Hy Lạp dạm hỏi tôi có thể dạy kèm đứa con gái nhỏ của ông được không, ông ta sẽ xin trả tiền thù lao sòng phẳng? Tôi trả lời tôi không dạy tư, rồi đùa hỏi liệu ông ta có sẵn lòng trả công bằng công thợ sửa ống nước không, thế nào chăng nữa, cứ cho con gái ông ta sang xem sao? Nói chuyện với đứa nhỏ, chẳng mấy chốc tôi nhận thấy nếu nhất định trả tiền thù lao, ông ta sẽ tốn nhiều hệ thống dẫn nước trong nhà. Tôi nói tôi sẵn sàng kèm đứa nhỏ hai giờ một tuần và ông không cần phải bận tâm về vấn đề thù lao. Không rõ vì ông quá kiêu hãnh hay vì không cảm thấy thoái mái về chuyện không phải trả tiền thù lao, con ông đến học với tôi vài lần rồi xin thôi.

Chính biến ở Việt Nam cho tôi mấy dịp khác. Gia đình bạn tôi dọn đến ở cùng thành phố. Ông bà hỏi bác có sẵn lòng kèm cháu học không? Tất nhiên là bác sẵn lòng kèm cháu học. Tôi dạy cháu như thày giáo Công đã dạy tôi: cẩn thận nhưng tùy hứng. Thí dụ, có bao nhiêu cách xếp bàn ăn có sáu chỗ ngồi với sáu người khách? Hai bác cháu rất hợp ý nhau, nhưng không hiểu sao ít lâu sau bạn tôi xin cho cháu nghỉ học. Cho đến bây giờ tôi vẫn không rõ vì tôi không thành công hay đã quá thành công. Cháu đã ra trường từ lâu, hành nghề bác sĩ hơn mười năm nay.

Dịp may cuối cùng. Ti, em của một bà bạn, tâm sự với tôi các cô chỉ để ý đến bác sĩ, kỹ sư thôi, còn phó thường dân như Ti thì các cô hếch mũi nhìn qua suốt. Vì vậy, Ti quyết chí học cho thành tài và muốn xin tôi giúp. Ý định tốt, lý do xấu. Nhưng ta là ai mà luôn luôn muốn mọi điều kiện phải thập phần hoàn hảo? Ta phải biết bằng lòng với những gì ta có. Tôi nghiến răng dạy, Ti nghiến răng học. Tôi sửa soạn cho Ti học hết toán cơ bản. Sau này, Ti kể, “có lần anh mắng em, anh bảo óc mày không chịu làm việc, ngộ nó teo lại bằng cái hạt đậu rồi biến mất thì sao?” Tôi cười hỏi lại, “thật hả?” nhưng trong thâm tâm hơi ngượng, thày giáo Công không bao giờ mắng tôi thô tục như thế. Quyết chí học như Ti thì thi bằng gì cũng đậu và ai dạy cũng được. Ti ra trường, ông kỹ sư nọ kia. Hàng năm, Tết đến, biết tôi hay uống cà-phê, Ti mang cho tôi máy pha cà-phê. Đến Tết thứ ba, tôi có tới ba máy pha cà-phê, tất cả đều tốt. Tôi bảo Ti đến chơi với anh là quý lắm rồi, đừng quà cáp làm gì; vả lại, nếu muốn cảm ơn thì Ti nên cảm ơn thày giáo Công. Ba máy pha cà-phê tôi dùng được khá lâu; tôi nghĩ đến những chùm nhãn, những quả soài thày giáo Công chất đống trong nhà trong mấy ngày Tết, chắc ông có vấn đề.

*

Năm 1945 là năm có nhiều biến động lớn trong lịch sử Việt Nam. Tết Ất Dậu năm ấy, tôi đem quà Tết đến biếu thày giáo Công như thường lệ. Khi ấy tôi đang học lớp Nhì. Ông xoa đầu tôi, nói hè tôi sẽ phải học nhiều chữ Nho hơn, cho ông nội tôi vui lòng. Nhưng tôi không có dịp trở lại học với ông nữa. Ngay trong dịp Tết này đã có nhiều điềm xấu báo hiệu những tai ương sắp đến. Anh Nhan, người làm cũ cho gia đình tôi, đã xin thôi từ mấy năm trước để về quê làm ăn, đột nhiên xuất hiện, đi ăn xin. Rồi nạn đói khủng khiếp hoành hành, chừng hai triệu người chết đói. Nhà tôi hàng ngày để dành cho anh một bát cơm, đôi khi chính tay tôi đưa cho anh, nhưng cũng không cứu nổi vì hình như anh còn phải chia cho vợ con. Rồi không thấy anh đến nữa, có người nói anh đã chết đói.

Trên đường đi học đến trường tỉnh, chừng hơn hai cây số, người chết nằm ngổn ngang, bụng ỏng, rốn lồi, từ hai lỗ mũi chảy ra hai dòng mũi, một chất lỏng xanh lơ sền sệt, ruồi nhặng bâu đầy, xác xông lên mùi hăng hăng, lợm giọng. Những chiếc xe bò lọc cọc đi lượm xác chết. Phải chứng kiến những cảnh ấy, ngày này qua ngày khác, tuy đã cả tháng trời, nhưng cũng chẳng bao giờ quen mắt được. Không cần phải đọc những áp-phích, truyền đơn tuyên truyền đã bắt đầu xuất hiện, người ta cũng thừa biết nguyên do: đáng lẽ trồng lúa, mùa màng phải phá đi để trồng đay, trồng bông, còn lúa gạo dự trữ dùng để nấu rượu làm nhiên liệu. Những đứa trẻ nhạy cảm đi học mỗi buổi sáng, trước khi được học chữ nghĩa ở nhà trường, đã phải tự học một bài học đời sống nằm lòng, không bao giờ phai nhạt. Bé dại, thơ ngây quá để có thể đọc bài học nên lời, chúng cảm nhận bài học trong xương tủy. Đói quá, mất cả nhân phẩm lẫn mạng sống; phải đánh đuổi cho kỳ hết tất cả những bọn ngoại lai thối tha này, cao hay lùn, da nhợt hay da vàng. Đó là việc làm độc nhất và tất cả, không thể thỏa hiệp. Những chuyện khác, tính sau!

Đài truyền hình quốc gia Canada CBC, trước bản tin, có một dạo hay cho chiếu cảnh một đứa bé Palestine ngồi cô độc trên một bực thang, giữa đống gạch vụn; nhà nó vừa bị xe ủi đất của Israel san bằng, có lẽ vì anh hay chị hay một người họ hàng nhà nó là kẻ đánh bom. Người ta có thể đưa ra một nghìn lý luận hay lý thuyết, bác học hay vụ lợi, để giải thích một hành động, nhưng riêng đứa nhỏ, nó chỉ có một chân lý: lòng căm thù – một gánh nặng vô nhân đạo, không thể chịu đựng nổi đã được đem chụp trên hai vai đứa trẻ 7, 8 tuổi. Nếu nó có được một thày giáo Công, không chút vị kỷ, dạy nó tính cỗi rễ bậc hai, có khi nó nhìn thấy được le lói một lối thoát, dù khó khăn. Nhưng nó không có cái cơ duyên ấy. Những ông đồ già, những thày giáo Công, những con người xưa cũ của những thời xưa cũ, có đời sống lương thiện, thanh tao đã qua đi từ lâu. Nhìn đôi mắt nó, tôi nhìn thấy được cái định mệnh của nó; thêm vài năm nữa, có thể sớm hơn, nó sẽ trở thành một kẻ đánh bom nguy hiểm.

11/04