Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

J.B. Nguyễn Hữu Vinh - Nhân chuyện Bôxit Tây Nguyên: “Trí tuệ” của đất nước ta chỉ có vậy thôi sao?



J.B. Nguyễn Hữu Vinh - 

Thông thường, mỗi báo cáo hoặc bài viết trên báo Đảng, hoặc trong các cuộc mít tinh, hoặc trên bất cứ một cuộc đại hội nào câu cửa miệng thường có là: “Sự lựa chọn con đường cách mạng đó là sự lựa chọn của chính lịch sử, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân Việt Nam. Nhờ vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Thế rồi sau đó là hàng ha sa số những thành tựu, thắng lợi, thành quả… được nêu ra. Còn khi nói đến những sai lầm, những thất bại, những hậu quả, thì tất cả đều là những sai lầm và thất bại, khuyết điểm tạm thời, do khách quan, do một số không nhỏ cá nhân mà thôi. Còn “đảng ta” vẫn vĩ đại thật(!).


“Đáng ta” là đạo đức, là văn minh?

Bởi “đảng ta” là tất cả những điều gì tốt đẹp nhất và trên cả tốt đẹp nhất có thể dùng để xưng tặng cho “đảng ta” nào là đạo đức, là văn minh, là vầng thái dương, là trí tuệ nhân loại. Thậm chí, tờ QĐND còn viết: “Đảng ta là con nòi…”.  “Con nòi” có thể được hiểu Đảng ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. “Con nòi” cũng có thể được hiểu là kế thừa, kết tinh những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất của nhân dân”.

Vâng, chúng ta đã nghe đi, nghe lại, nghe mãi nghe hoài mấy chục năm nay những câu, những từ đó với cách nhét vào tai, đập vào mắt ở mọi nơi mọi lúc và không thiếu nhiều lớp người quá quen thuộc đến mức cứ tưởng rằng đó là chân lý.

Từ một “Chủ trương lớn của Đảng” hơn hai năm trước

Khi  dự án Boxit Tây Nguyên đưa ra, dư luận bàn tán ồn ào và thậm chí nhiều người phản đối dữ dội vì nhiều lẽ. Trước hết vì đó là mái nhà Tây Nguyên, nơi có vị trí cực kỳ quan trọng đối với an ninh đất nước, đối với sự tồn vong của dân tộc lại để Trung Cộng dẫn quân vào đó khác gì giao Nỏ thần cho Triệu Đà. Thứ đến là phá nát Tây Nguyên có nền văn hóa mang bản sắc lâu đời, và cuối cùng là hiệu quả kinh tế của dự án sẽ là con số âm…


Giáo xứ Thái Hà thắp nến cầu nguyện cho Tây Nguyên và dừng dự án Bauxite

Nhiều phản ứng xã hội đã tạo nên một làm sóng phản đối đối với dự án này. Hàng ngàn chữ ký đã được thu thập vào một bản Kiến nghị đưa lên các cơ quan cao nhất của đất nước. Thậm chí, một Tiến sĩ đã từng đưa cả đơn kiện Thủ tướng (Nay đã vào tù vì bị bắt bởi… hai bao cao su đã qua sử dụng).

Nhiều bài viết, nhiều tiếng kêu, tiếng phản biện trong nhiều diễn đàn, trong xã hội “Dự án bô-xít Tây Nguyên vừa lỗ nặng, vừa ô nhiễm” đối với dự án này. Nhiều công dân từng giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy đến các kiều bào ở nước ngoài đến các công dân Việt Nam nặng lòng với tiền đồ dân tộc đã bày tỏ ý kiến lo ngại và phản đối dự án. Nhưng, tất cả những sự cảnh báo, những kiến nghị, những ý kiến phản biện đều được cho vào sọt rác. Có chăng chỉ có thêm vài cuộc họp, hội thảo lấy lệ cho qua quýt mà thôi.

Chỉ đơn giản là vì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Đây là chủ trương lớn của Đảng”. Còn báo chí thì cho biết “Giải trình trước Quốc hội sáng nay, Thủ tướng cho biết, việc thăm dò khai thác, chế biến bô xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội Đảng 9 đến Đại hội Đảng 10”.

Nhiều người ký vào bản kiến nghị còn được lực lượng an ninh, công an đưa vào vòng ngắm và gọi đến “làm việc” vì dám có ý kiến ngược lại với “Chủ trương lớn của Đảng” – một tội tầy trời trong chế độ độc đảng hiện nay.

Thậm chí nhiều nhà khoa học, nhiều trí thức cổ thụ hàng đầu đất nước có tâm huyết với non sông còn bị đám báo chí, đám phóng viên, ở lứa trẻ con (cả về tuổi đời, trí tuệ khả năng và lòng yêu nước) đưa lên bêu xấu và chế giễu trên hệ thống báo chí nhà nước, coi họ như những người bị chứng tâm thần. Điều này đã góp phần to lớn vào sự nghiệp làm suy đồi nền đạo đức và văn hóa ngàn năm qua đất nước này đã xây dựng.

Có thể đám người ngộ độc thông tin đó nghĩ rằng, khi mà mọi tốt đẹp nhất đã dồn kết tinh vào “đảng ta”, thì đám quần chúng nhân dân bên ngoài có chi là đáng kể, có gì đáng phải quan tâm, phải chú ý? Đã là chủ trương của Đảng, thì cứ thế mà thực hiện, miễn ý kiến. Nếu có ý kiến thì khác chi lội ngược dòng nước lũ. Thậm chí, một số cái gọi là “nhà khoa học” cũng đã được trưng dụng, để lên tiếng, để giải thích, để trấn an nhân dân hãy “tuyệt đối tin tưởng” vào chủ trương của đảng và nhà nước.

Và cứ thế, mặc mọi ý kiến, mặc mọi kêu gào, dự án Bôxit Tây Nguyên vẫn cứ tuần tự như tiến.
Đến hậu quả nhãn tiền hôm nay của các “chủ trương lớn”

Khai thác Bôxit, Tây Nguyên sẽ ra sao?

Mấy hôm nay, báo chí loan tin ngưng xây dựng cảng Kê Gà sau mấy năm đầu tư để vận chuyển Boxit xuất khẩu. Thủ tướng giao cho UBND Tỉnh Bình Thuận giải quyết đền bù thiệt hại cho 12 nhà đầu tư bị thu hồi đất đai làm cảng Kê Gà. Như vậy, một đống tiền của dân đã bỏ ra nay chìm xuống biển như không. Hậu quả tiếp theo là những công trình ăn theo dự án này, cũng là tiền của của xã hội, của nhân dân bổng dưng thành cát bụi. Điều lạ là thoát được dự án Cảng Kê Gà nằm trong “Chủ trương lớn của Đảng” này, Tỉnh Bình Thuận thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nợ dù cả ngàn tỉ đồng đã bay đi.

Rồi đến hôm nay, báo chí tiếp tục đưa tin về Dự án Bôxit Tây Nguyên thuộc “Chủ trương lớn của Đảng” với những thông tin màu xám.

Dù mới cách đây 29 tháng: “Tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, một số ĐBQH đã có ý kiến về các dự án bô xít Tây Nguyên – Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện việc kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả kinh tế và tác động môi trường đối với các dự án, đặc biệt chú ý thẩm định thiết kế kỹ thuật hồ bùn đỏ, bảo đảm an toàn lâu dài đối với môi trường. Việc thẩm định được tiến hành nghiêm túc, thận trọng và đã khẳng định: các dự án có hiệu quả KTXH, bảo đảm an toàn về môi trường và an ninh, quốc phòng” – Thủ tướng nói.

Lời hứa của Thủ tướng trước Quốc Hội đến đâu? Thì đây đã có câu trả lời:   “Cảng Kê Gà gây nhiều hệ lụy!” “Dự án bauxite: Không hiệu quả thì nên dừng”. “Trật một li, đi ngàn tỉ”.

Bởi những con số đưa ra đã là con số thật, không còn là “chủ trương” không còn là những lời hứa đẹp đẽ, lẻo mép. Rằng: “Giá xuất khẩu thấp hơn giá thành, chi phí vận tải tốn kém, nhất là khi phương án xây dựng cảng Kê Gà bị loại bỏ, lại thêm những hệ lụy lớn về môi trường…”. Rằng: “Chấp nhận loại bỏ dự án bauxite ra khỏi Tây Nguyên là việc cần làm, càng sớm càng tốt”.

Và đây là con số cụ thể: “nếu tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu theo quy định là 20% thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD nên tính ra, Vinacomin sẽ lỗ 74,4 triệu USD/năm”.

Những bài viết này đặt bên câu trả lời của Thủ  tướng trước Quốc Hội nói trên, khác chi dội những thùng nước lên đốm lửa?

Cũng tương tự, một dự án chủ trương lớn” là Dung Quất đã có kết quả là “Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm”. Chỉ riêng hai dự án “chủ trương lớn” này, mỗi năm dân ta tha hồ nộp thuế để bù vào đó 200 triệu đôla. Đọc những con số hiệu quả của các Dự án này, người ta có cảm giác rằng Chính phủ Việt Nam ăn chơi còn gấp vạn lần câu chuyện Công tử Bạc Liêu, đốt tiền dân còn hơn đốt vàng mã ở đền Bà Chúa Kho những ngày đầu năm.

Như vậy, chỉ nhìn vào vài dự án là “Chủ trương lớn của Đảng” như Dung Quất, Bôxit Tây Nguyên, chúng ta có quyền nghi ngờ cái gọi là “Trí tuệ của nhân dân” Việt Nam đã “kết tinh” trong Đảng Cộng sản và sản phẩm của sự kết tinh đó là các “Chủ trương lớn”.

Mỗi năm, với quyền lực của mình, “đảng ta” phát minh ra hàng hà sa số các chủ trương. Với các chủ trương đó, người dân cứ im lặng mà thực hiện, nếu thất bại, thì lại có “chủ trương lớn” khác để bù vào đó. Tiền thuế của nhân dân sẽ được huy động tối đa,các loại phí tha hồ được các chuyên gia nghĩ cách để tận thu. Còn các loại khoáng sản, các nguồn lợi thiên nhiên được khai thác cạn kiệt để bán lỗ.

Đó là hậu quả tất yếu của sự kiêu ngạo và bỏ ngoài tai mọi lời góp ý, mọi sự đóng góp của nhân dân, mọi quyền lợi của người dân trên đất nước này. Khi giành được quyền lực vào tay mình, những người cộng sản đã nghiễm nhiên coi chỉ có mình là người chủ đất nước và mọi tiếng nói phản biện của người dân đều bị coi khinh, thậm chí được xếp vào “thế lực thù địch”. Vậy họ đang phục vụ điều gì?

Thật hài hước khi đọc những dòng này: “Chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, một đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, trung thành với giai cấp và lợi ích dân tộc, vững vàng trước mọi thách thức, sáng suốt trong vai trò lãnh đạo của mình”. Thì nay đã phải đọc những thông tin về các “chủ trương lớn” của đảng với những câu trả lời thật thảm hại. Cái gọi là “cách mạng và khoa học” ở đâu? Cái gọi là “sáng suốt” ở đâu khi chủ trương và lãnh đạo? Dù chỉ mới vài dự án được nêu tên ở đây?

Và nếu những câu tán tụng, tự sướng rằng “đảng ta” là kết tinh mọi tinh hoa dân tộc, là trí tuệ nhân loại, là văn minh nhất, sáng suốt nhất, thiên tài nhất… là sự thật, thì lẽ nào trí tuệ của đất nước này chỉ có vậy thôi sao?

Tạm kết
Để an toàn cho bản thân, người dân ở trong đất nước Trung Cộng thường trích ngữ lục của Mao Trạch Đông để biện dẫn cho các ý kiến của mình. Trong chế độ Cộng sản Việt Nam, thay vì lời Mao Trạch Đông, người dân dùng “ngữ lục” của Hồ Chí Minh như một cẩm nang, như Kinh Thánh. Chúng ta thử xem những lời đó có gì? Ở đó có câu rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi; nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Ở đây, câu nói trên của Hồ Chí Minh có đúng?

Hà Nội, Ngày 21/2/2013
J.B Nguyễn Hữu Vinh


Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Trần Trung Đạo - Hãy nói trước ngày chết



Trần Trung Đạo 

Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản. Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.


Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cãi nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?

Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng. Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.

Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pikeđến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.

Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.

Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.

Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”

Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ. Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.

Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân: “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng“Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương“Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.

Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra...” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v... và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”

Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.

Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, ngoại trừ trẻ em quá nhỏ, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.

Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết Nhân đọc bài "Trịnh Công Sơn - Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”

Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa...”

Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.

Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.

Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông các không? Chắc chắn là có, không thể có lời giải thích thứ ba.

Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v... mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.

Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác. Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẽ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục. Tại sao các ông các bà không viết? Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ? Sự im lặng của các ông các bà không phải là một công án thiền mà là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.

Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Trần Trung Đạo
danlambaovn.blogspot.com


Hà Sĩ Phu - Góp phần “giải mã” một thế hệ dấn thân



Hà Sĩ Phu

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sáng 19-2-2013 đọc báo mạng thấy trang Anhbasam có điểm hai bài tương phản: “Tiêu Dao Bảo Cự: Từ Ngô Kha, soi rọi và giải mã một thế hệ dấn thân (Diễn Đàn); Blogger Caubay Thiem có bài phản biện lại bài này bên Facebook”.


Hà Sĩ Phu

Mặc dù tôi mới ở bệnh viện về, tình trạng mắt được bác sĩ yêu cầu hết sức hạn chế đọc và viết, tôi vẫn phải “đánh liều” viết đôi điều ngắn gọn về chuyện “xung đột” âm ỉ từ lâu này (nếu có thể gọi như thế), giữa những người đáng kính, vì mấy lẽ sau đây:
- Thế hệ dấn thân theo con đường cộng sản như nhà văn TDBC bao hàm nhiều người (ở miền Bắc còn nhiều hơn miền Nam), trong đó số đã thức tỉnh ở những mức độ khác nhau, đang cố gắng làm những điều nhằm sửa lại hay chống lại thực tại sai lầm của ĐCS cũng ngày càng nhiều thêm, nhưng việc tự đánh giá giai đoạn quá khứ của mình xem chừng chưa có gì nhất trí, ổn thỏa, thanh thoát, như có những tâm trạng uẩn khúc bên trong nên phải đặt vấn đề “giải mã”.

- Việc “giải mã” cũng liên quan đến cả những người CS hiện nay đang được dư luận ca ngợi, tán thưởng (kể cả dư luận khó tính ở hải ngoại), như nghệ sĩ Kim Chi khước từ sự có mặt trong nhà ở của mình chữ ký của một kẻ cao cấp “hại nước hại dân” - vì chị tự hào mình là một người “Cộng sản chân chính”! Những đảng viên trong 72 vị khởi xướng đợt góp ý Hiến pháp hiện nay cũng vậy, chắc phần đông cũng là những người muốn hành xử như những người “Cộng sản chân chính” để phân biệt mình với loại “CS thoái hóa”. Vậy có thể tồn tại khái niệm “người CS chân chính” hay không, cũng là điều cần xác định cho rõ. 

- Trong hàng ngũ những bạn bè thân hữu đang nỗ lực góp phần mình vào công cuộc dân chủ hóa xã hội hiện nay cũng có hai “phe” với hai cách nhìn ngược nhau trong việc đánh giá quá khứ tham gia Cộng sản. 

Tóm lại, tình hình khác nhau trong việc nhìn nhận giai đoạn quá khứ tham gia hoặc ủng hộ CS là điều tốt hay không tốt, là công hay tội, nên nhớ đến để tôn vinh hay nhắc đến chỉ thêm ân hận… là một thực tế rộng lớn, tuy không phải mâu thuẫn đến mức nặng nề nhưng vẫn âm ỉ như một chút gợn, một cái gai, hay một cái nhọt trong đội ngũ những người từng có nợ với quá khứ và đang phải băn khoăn về trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước (còn những kẻ vô trách nhiệm, thờ ơ hay cố bám sự hủ bại thì không đáng bàn đến ở đây).

Khoảng một hai năm gần đây, khả năng lãnh đạo của đảng cầm quyền ngày càng sút kém, bất lực, những mâu thuẫn đối nội và đối ngoại thúc đẩy phải có những thay đổi, kéo theo đó là sự phân hóa phức tạp trong xã hội về nhân sự, tổ chức, phong trào, phe nhóm… Bên cạnh chủ trương đối xử cứng rắn với giới dân chủ tiên phong là sự nới rộng có kiểm soát với giới trí thức cận thần, có cái mới vừa sáng tạo ra, có cái vốn cũ đang được dùng lại. Trong bối cảnh phân hóa đó, sự khác nhau tiềm ẩn trong quá khứ của giới “pro-Đảng” nay cần phải tách bạch. Việc điểm tin hai bài ngược chiều nói trên của “nhật báo Basam”, mà tránh không bình luận, có lẽ cũng là một biểu hiện nhạy cảm và tế nhị. Những người nhạy cảm thấy đã đến lúc nên có sự trao đổi thẳng thắn với tư cách giữa những người được giả thiết là “chung một chiến hào”. Vướng một cái gai, anh chiến sĩ vẫn có thể chiến đấu, nhưng “giải quyết” được cái gai tất nhiên sức chiến đấu sẽ tốt hơn nhiều.

Suốt trong quá khứ tôi không dính dáng trực tiếp gì đến chính trị, nhưng bạn bè thuộc cả hai “phe” cũng có nhiều thân hữu. Trong điều kiện sức khỏe không thuận lợi, tôi không dám hy vọng có thể đề cập vấn đề một cách thấu đáo, chỉ xin đưa ra một vài ý chung, tản mạn, để góp phần gọi là “giải mã” một thực tiễn khá nhiều tế nhị.

II. MẤY ĐIỀU CƠ BẢN GỢI Ý CÓ THỂ DÙNG TRONG LÝ GIẢI

1/ Phải chăng sự hiểu biết lúc ấy chưa đủ tầm để sàng lọc?

Hiện tượng một chủ nghĩa ảo tưởng, phi lý và phản tiến hóa như chủ nghĩa CS lại rộ lên một thời rộng lớn, thu hút đám đông, trong đó có cả những trí thức lớn, nghịch lý quá lớn ấy khiến thiên hạ phải chiêm nghiệm mà đúc kết thành một quy luật, quy luật liên kết và hoán vị loại trừ lẫn nhau trong 3 thành tố, tạm gọi là luật“Loại trừ một trong ba” hay luật “Hai khử một”. 

Ba thành tố ấy là Tâm hồn Lương thiện, Trí tuệ Thông thái và Lập trường Cộng sản, liên kết và loại trừ nhau như sau:
- Đã Thông thái và Cộng sản thì không Lương thiện ( phải mưu mẹo, gian hùng).
- Đã Lương thiện và Cộng sản thì không Thông thái ( phải nhẹ dạ, nông cạn).
- Đã Lương thiện và đủ Thông thái thì không theo Cộng sản [1].

Những ai tự nhận mình luôn lương thiện trong sáng và đã theo CS thì ứng với trường hợp thứ hai, tức là trí tuệ nông cạn, không đủ tầm để sàng lọc trước một vấn đề ở tầm thời đại. Trước mắt mới nhìn bề ngoài tưởng là tốt thì theo thôi. 

Xem ra nhiều đảng viên lương thiện không chịu nhận là lúc ấy mình ngu, cứ khẳng định khi ấy chỉ có theo đảng là thông minh nhất. Có vị còn khăng khăng rằng: Nếu bây giờ lịch sử lặp lại thì ông ta cũng lại chọn đúng con đường cũ chứ không thể khác. Sở dĩ có sự tự ái như vậy do chưa hiểu sự “ngu đần” có thể là tầm của cả một dân tộc trong một thời kỳ chứ chẳng riêng ai, người viết những dòng này cũng đâu thoát khỏi mê cung ấy? Phê phán bạn cũng là phê phán mình. Chỉ cần so sánh với một dân tộc văn minh và khôn ngoan hơn sẽ thấy ngay sự kém cỏi, dân trí lạc hậu của cả dân tộc mình thì sẽ tránh được tâm lý tự ái cá nhân. 

Hiện tượng có mấy nhà bác học nổi tiếng vẫn say mê CS cũng chẳng biện bạch được gì hơn vì có thể vị bác học ấy giàu lý tưởng, lý thuyết, hiểu biết chuyên môn nhưng rất ngây thơ, ảo tưởng, cũng dốt về chính trị-xã hội. Chấp làm gì những vị trí thức nọ trí thức kia mù quáng thân Cộng, khi “ông trùm CS” của nước mình là Chủ tịch Hồ Chí Minh khi quyết định theo con đường Cộng sản cũng chưa hiểu Cộng sản là gì kia mà?

Cú “nhích chân” của Nguyễn Ái Quốc từ Đảng Xã hội Pháp sang Quốc tế III của Lenin “chỉ vì Đệ Tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa”, “Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản là gì, thì tôi (tức Nguyễn Ái Quốc) chưa hiểu”. Thậm chí Sơ thảo luận cương về các dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L’humanité ngày 16-6-1920 thì “ngay cả chữ nghĩa trong văn bản” ấy Nguyễn Ái Quốc”cũng chỉ hiểu loáng thoáng thôi” [2].

Nhưng cũng không chấp ông HCM làm gì, khi chính ông Mác ông Lê cũng “khái quát vội, khái quát nhầm” ít nhất là 9 điều căn bản [3] tức là cũng hụt hẫng về Trí tuệ khi cả gan nghĩ ra một chủ nghĩa mới toanh hòng cứu rỗi nhân loại nhưng vượt quá tầm Trí tuệ của mình (chủ nghĩa Xã hội khoa học ít nhất cũng có một khuyết điểm cơ bản là phi khoa học!), thì một đảng viên CS nhỏ bé có tự nhận là “Trí tuệ không đủ để sàng lọc” cũng chẳng có gì đáng phải băn khoăn!

Vậy thì thôi, ta cứ yên trí nhận là trước đây ta theo CS vì chưa đủ thông thái để sàng lọc là ổn. 

Nhưng mâu thuẫn vẫn chưa hết. Các bạn lại bảo: tôi theo CS không phải là yêu CS gì hết, chỉ vì yêu nước, yêu hòa bình-thống nhất, ghét Mỹ xâm lược. Nếu bạn chỉ mượn CS làm phương tiện như thế thì khi mục đích đã xong, Mỹ đã rút, đã có “hòa bình-thống nhất” thì bạn còn ôm cái “phương tiện” ấy làm gì, bạn phải chủ động rời bỏ nó ngay mới phải, như qua sông rồi thì bỏ con thuyền ở lại chứ?

Nếu bạn lại bảo: tôi chưa hiểu gì về chủ nghĩa CS nên hãy cứ theo xem sao? Vậy đến hôm nay bạn đã hiểu chưa? Với tư cách một đảng viên bạn có tìm hiểu mọi thông tin trên mạng và trên thực tế không, có biết nghị quyết 1481 của Nghị viện châu Âu, biết nhân loại đã vứt một Chủ nghĩa ảo tưởng vào sọt rác lịch sử? Nếu có đủ thông tin thì chắc bạn không còn đủ dũng khí để tự hào là một đảng viên CS, vì tôi tin bạn là người có trí óc bình thường và còn dây “thần kinh xấu hổ”. Theo lô-gich của môn “liêm-sỉ-học” (liemsiology!) thì bạn phải hành xử như Trần Độ, như Phạm Đình Trọng, như Nguyễn Chí Đức… mới phải.

Nhưng chưa, bạn chưa đến chân tường, vì bạn còn một câu trả lời khả dĩ hữu lý: Tôi phải ở lại trong Đảng để “chiến đấu”, với tư cách “người CS chân chính” chống bè lũ “CS thoái hóa”. Vâng, vậy xin chuyển tiếp sang phần sau.

2/ Có hay không khái niệm gọi là “người Cộng sản chân chính”?

Những người tự hào là “CS chân chính” vì nghĩ rằng cái đảng mà mình gia nhập là một đảng chân chính, nay “một số không nhỏ” (tất nhiên nằm trong lãnh đạo tối cao) đã THOÁI HÓA và PHẢN BỘI, nên mình phải đấu tranh chống lại sự tha hóa để phục hồi một ĐCS chân chính, nghĩa là mình đấu tranh (chống những cán bộ lãnh đạo xấu) với tư thế của người “đòi nợ”, đòi cái món nợ mà đảng đã hứa (trong lời tuyên bố) trước nhân dân nhưng bây giờ họ “quỵt nợ, vỗ nợ”!

Phải công nhận, nếu như vậy thì trong 3 yếu tố Lương tâm, Trí tuệ và Cộng sản bạn đáp ứng đầy đủ hai yếu tố Lương tâm và Cộng sản nhưng quá yếu về Trí tuệ (theo đúng quy luật Hai khử một đã nói ở đoạn trên), nên trở thành duy cảm, thiếu duy lý. Sự THOÁI HÓA và PHẢN BỘI đã nằm sẵn trong mớ tín điều của chủ nghĩa, đã được “chương trình hóa” ngay từ khi khởi lập. Những biểu hiện thoái hóa và phản bội mà bạn nhìn thấy bây giờ thực ra đã được tiền định từ đầu (trước khi bạn gia nhập đảng rất lâu): không một ĐCS cầm quyền nào có thể thoát khỏi tình trạng thoái hóa và phản bội!

Về lý thuyết chính Mác đã tự chống lại mình, khi triết học Mác thì duy vật, chống duy tâm-duy ý chí nhưng chính trị Mác thì rất duy tâm, chủ quan, duy ý chí. Một lý thuyết ảo tưởng phi khoa học thì sẽ bị thực tế chống lại nên dần dần phải làm ngược lại hết, CS phải tự làm ngược lại những tín điều của mình mới mong tồn tại. Cuối cùng, ngày nay mỗi đảng viên đều phải chọn cho mình một sự giã từ, một sự “phản bội”: hoặc là trung thành với chủ nghĩa thì phản bội nhân dân, muốn trung thành với nước với dân thì phải phản lại chủ nghĩa [4]!

Khi bạn trung thành với nước với dân, với nhân tâm, với chân lý phổ quát thì bạn là “con người chân chính”, rất chân chính, tôi yêu quý bạn, nhưng bạn không còn là “người CS chân chính” nữa đâu, âu cũng là lối tự hào do cảm tính, xin đừng nhầm lẫn!

Bạn lại bảo: Tôi trung thành với chủ nghĩa CS là trung thành với lý tưởng cao đẹp của nó. Bạn lại nhầm rồi. Nhân tố chủ yếu làm nên một chủ nghĩa, phân biệt chủ nghĩa này với chủ nghĩa khác không phải ở mục đích mà nó tuyên bố, mà ở con đường mà nó vạch ra, vì mục đích sau cùng thì bao giờ chẳng tốt đẹp, căn bản đều phải hướng đến tự do-hạnh phúc cho con người. Nhưng khi con đường sai hoặc ảo tưởng thì không đến đích mong muốn hoặc chỉ đem đến kết quả ngược lại như trường hợp chủ nghĩa Mác-Lênin [5].

Ngoài ra, có cách đi đến đáp án đơn giản hơn nhiều: 
Khi một chủ nghĩa ảo tưởng chỉ đem lại kết quả ngược với mong muốn thì chủ nghĩa ấy không thể coi là CHÂN CHÍNH được. Chủ nghĩa đã không CHÂN CHÍNH thì làm sao tín đồ của nó lại CHÂN CHÍNH được? Bạn chỉ có thể là một CON NGƯỜI CHÂN CHÍNH vì thực ra bạn đã làm ngược tín điều của Chủ nghĩa rồi, chắc bạn là người nặng về duy cảm nên không nỡ hay không dám để cho bộ óc Duy lý được đứng trước gương mà phán xét đó thôi! Xin nói với nhau một lời thông cảm thực lòng như vậy.

III. LẤY ĐÍCH DÂN CHỦ-ĐỘC LẬP-PHÚ CƯỜNG LÀM SỢI DÂY LIÊN KẾT 

Chỉ cần nhìn các nước quanh ta với một xuất phát “same-same” như nhau đủ thấy trong cuộc chạy đua thế kỷ, Việt Nam chúng ta là kẻ thua cuộc, là đoàn khách nhỡ tàu.

Chỉ nhìn kinh tế - kỹ thuật đã thấy thua các nước bạn trong khu vực vài chục năm nhưng sự thua kém về độc lập - tự do, về văn hóa - nhân phẩm còn đáng lo hơn nhiều. 

Nay muốn đoàn kết để thực hiện dân chủ ắt phải chấp nhận đa dạng đã đành, nhưng ở một nước vừa trải qua mấy cuộc phân ly kinh khủng, lại đang bị ngự trị bởi một Ý thức hệ đoàn kết giả để phân ly thật thì lòng người ly tán là một trở ngại khổng lồ, nếu không biết chấp nhận sự khác biệt thì lấy đâu sức mạnh cho một sứ mệnh cũng khổng lồ tương xứng? (Sứ mệnh lập lại một xã hội đã bị phá nát từ gốc, quay lại một con đường đã đi ngược trên nửa thế kỷ, chống lại một anh hàng xóm khổng lồ chỉ muốn kìm giữ Việt Nam yên vị như một con cừu Ý thức hệ vừa ngoan vừa chậm vừa ngu để hắn có thể ngoạm dần hết cơ thể con mồi trong cái áo choàng hữu nghị đểu). 

- Muốn có khối đoàn kết toàn dân tộc, trước hết hãy tìm khả năng đoàn kết giữa các khối người tích cực mà họ đang rất khác nhau như trên đã nói. Hãy quý sự khác nhau ấy vì đó chẳng những là thực tiễn buộc phải chấp nhận, là tất yếu trong tinh thần dân chủ, mà còn là thuận lợi để diễn tiến xã hội đi lên một cách hòa bình. Nếu không có những “trí thức cận thần”, còn rất khác những người có tư duy triệt để (biết phải thay đổi cái cũ tận gốc), đồng thời lại có những người trung gian giữa hai thái cực ấy thì sao có thể nối với nhau thành những nhịp cầu chuyển hóa dần dần? Nối tiếp với nhau được nếu tất cả đều hướng về phía trước, dẫu kẻ trước người sau nhưng phải chống những kẻ ngược chiều hoặc mưu toan cơ hội trụ lại nửa chừng để chia hoa lợi!

Một ví dụ: trong những người đã có thời hăng hái theo đảng làm một cuộc gọi là “chống Mỹ cứu nước” có người không muốn nhắc lại “thành tích đáng buồn” cũ (như anh em Huỳnh Nhật Hải-Huỳnh Nhật Tấn) trong khi rất nhiều người vẫn muốn nhắc lại những kỷ niệm một thời tranh đấu “hào hùng”. Không sao, miễn là khi nhắc lại chuyện cũ phải nhìn dưới lăng kính mới, vượt trên cái cũ với óc phê phán để phục vụ cho cái mới. Chẳng hạn phải hiểu vì sao trong chế độ cũ (mà ta quyết đánh đổ) ta có thể ngang nhiên tranh đấu, tuyên bố hùng dũng, thậm chí lãng mạn bay bổng, thỏa chí tang bồng chống lại giới cầm quyền, còn trong chế độ mới (mà ta mơ ước) ta chỉ dám làm bằng 1 phần trăm thời xưa thôi mà đã phải rụt rè? Chẳng hạn ngày trước dưới cái nhìn bồng bột ta chỉ thấy cái gọi là “Mỹ Ngụy” là thấp hèn, tàn ác, đáng khinh ghét, nay dưới cái nhìn dân chủ và toàn cầu ta lại mong sao bây giờ được bằng cái mà ta đã quyết diệt [6], mong trở lại cơ hội cũ mà ta đánh mất, để rồi từ đó tiếp tục đi lên thì dễ dàng hơn. 

Chẳng hạn ta nhận ra sự “hào hùng” cũ thật là “bi tráng” (như nhà văn TDBC nhận thấy), nhưng “bi” không ở chỗ bị kẻ thù tàn sát, thất bại đau đớn như cái bi hùng của phong trào Nguyễn Thái Học, mà ngược đời, “bi” lại ở chỗ muốn thắng cuộc thì nhất thời đã thắng, nhưng nghĩ lại, thà đừng thắng thì hơn! “Bi” ở chỗ cái “tinh hoa phẩm chất” của tuổi thanh niên (nhưng còn bồng bột, cảm tính, bị tuyên truyền), tương tự như cái vốn quý giá mà Dương Thu Hương gọi là “một khối vàng ròng”, nhưng đã bị lợi dụng, bị dùng nhầm, dùng phí phạm, đáng tiếc. Song cái “bi” ở đây cũng không hề “bi lụy” nếu ta quyết hồi sinh cái “tinh hoa phẩm chất” của tuổi trẻ ấy, với sự bổ khuyết rất cần thiết bằng các tri thức hiện đại, trưởng thành, để dùng vào công cuộc hôm nay, như để bù đắp cho điều đáng tiếc cũ, thì sự hồi tưởng như thế thật là hồi tưởng vô cùng tích cực. 

Nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng vậy, nghĩ lại thời đã qua để thấy trách nhiệm của mình. “Cả tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt, để đúc nên chính cỗ máy này”, cái cỗ máy của sự “đểu cáng lên ngôi”. Hồi ức chuyện cũ để mà hối tiếc cho nhiệt huyết của mình không đem lại kết quả mong muốn, và thấy trách nhiệm của mình trong hiện tại! Một khi cùng hướng về phía trước và hành động cụ thể là nhất định gặp nhau. (Không biết trong hàng ngũ của các anh có ai muốn ôn chuyện cũ để kể công, để che dấu cái hèn hiện tại, để lập một cái gì đó chung chiêng hay không thì tôi không rõ, tất nhiên không bàn).

- Hãy biết ơn những người tiên phong.

Nếu như trên mặt phẳng nằm ngang ta hình dung đoàn người nối tiếp nhau như cây cầu bắc từ chế độ độc tài toàn trị đến cuối cầu là chân trời Dân chủ-Độc lập-Phú cường, trong đó những tư tưởng tiên phong luôn dẫn đầu đi trước, thì đừng quên một đường dây thẳng đứng, người nọ đứng lên vai người kia, để đưa nhau từ đáy giếng lên bờ. Trên cái “chồng người” thẳng đứng ấy những người tiên phong đứng ở dưới cùng cho đồng đội được đứng lên vai. Những người tiên phong ấy sẽ lên bờ sau cùng hoặc lúc khải hoàn có thể không còn họ nữa.

Về Độc lập dân tộc nếu không có những anh hùng liệt nữ đã hy sinh liệu ngày nay ta có còn quốc gia không để mà tranh đấu? Chúng ta đã đứng trên vai họ để có hôm nay. Về Dân chủ-Tự do cũng vậy. Nếu không có những người dân chủ tiên phong như Nguyễn Mạnh Tường, như Hữu Loan, như Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Lê Hồng Hà, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, Hòa thượng Thích Quảng Độ, cha Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức… vân vân và vân vân… mà hầu hết họ đều bị tù đày, và biết bao tiếng nói dân chủ từ bên ngoài hỗ trợ thì làm sao có chút nền dân chủ cỏn con để có thể tồn tại những trang web dân chủ trong nước như trang Bô-xít, trang Basam và các blogger? Rồi đến lượt, nếu không có những trang web và blogger ấy làm chỗ tựa làm sao đoàn trí thức 16 vị có thể được đón tiếp để trao những kiến nghị và dự thảo Hiến pháp quá mạnh dạn kia, cũng như cá nhân tôi lúc này có thể công khai công bố những lời đóng góp thẳng thắn nhường này? Chúng ta đã được đứng trên vai họ, những người dân chủ tiên phong chịu nạn tù đày để giành lấy từng tý chút dân chủ cho ta tiếp tục. Hãy nhớ ơn họ!

Nói đến chuyện đứng trên vai nhau, tôi lại thầm hỏi mình: nếu không có đồng đội lấy vai cho mình đứng, lại không có một điểm tựa nào đó từ môi trường, dù là điểm tựa vô tình hay vô tri thì một cá nhân đơn độc làm sao có thể vượt qua cái vai của mình? Tự mình vượt qua chính mình mới thật là điều khó lắm thay! Làm sao có thể tự thắng cái khối lượng ì ạch của bản thân với tất cả những sức cản nặng nề đã ràng buộc mình vào cuộc đời này?

Đà Lạt ngày 24-2-2013
H.S.P. 
----------------------------------------------------------------------------------
[1] “Quy luật” tương tự này tôi đọc thấy đã lâu, gần đây thấy nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh và nhà báo Lê Diễn Đức nhắc tới. Tôi diễn đạt lại cho rõ hơn (HSP)
[2] Xưa nhích chân đi giờ nhích lại: HCM quyết định theo Quốc tế 3 khi chưa hiểu CS là gì ! Tư liệu trích từ:
-Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Nhà xuất bản Văn học, Hànội (in lần thứ tám), 1975, trang 44.
- Hồ Chí Minh:Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000, trang 126.
- Lữ Phương:Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh, THƯ NHÀ xuất bản, Australia, 2002, trang 40.
[3] Xem bài Từ Nguyễn Phú Trọng đến Lê Hiền Đức (HSP)
[4] Từ vụ Bauxite nghĩ về vận nước (www.hasiphu.com/baivietmoi_40.html) 
[5] Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ 
[6] Nguyên Ngọc (S: Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn …). Huy Đức: “bên (cần)được giải phóng hóa ra lại là Miền Bắc”.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc - Tiến tới một định nghĩa khác về xã hội dân sự



Nguyễn Hưng Quốc



Lời tác giả: 
Đây là bài cuối cùng trong loạt bài về “Xã hội dân sự”. Mỗi bài bàn về một khía cạnh khác nhau, khá độc lập, có thể tồn tại như một bài riêng. Tuy nhiên, để theo dõi trọn vẹn vấn đề cũng như mạch lý luận của tác giả, xin quý bạn đọc đọc lại các các bài đã đăng:
  1. Xã hội dân sự hay xã hội công dân?
  2. Xã hội dân sự như một phạm trù nhận thức 
  3. Xã hội dân sự như một khu vực thứ ba
  4. Xã hội dân sự và tiến trình dân chủ hoá
  5. Xã hội dân sự tại Việt Nam: một bức tranh lệch lạc và dang dở 
  6. Xã hội dân sự ở Việt Nam: Theo quan điểm của Gramsci 
  7. Xã hội dân sự từ bên trong
  8. Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông


***

Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm xã hội dân sự. Nguyên nhân của những sự khác biệt ấy chủ yếu xuất phát từ ba điểm chính: Thứ nhất, từ những truyền thống và những khung lý thuyết mà người ta chấp nhận và ứng dụng: Những người theo quan điểm của Alexis de Tocqueville sẽ có những định nghĩa khác với những người theo quan điểm của Antonio Gramsci, chẳng hạn. Thứ hai, từ các khu vực được nghiên cứu: Đi từ những nơi đã có truyền thống dân chủ từ lâu đến những nơi dân chủ mới được thiết lập và cuối cùng, đến những nơi còn mờ mịt dưới các chế độ toàn trị, rất nhiều yếu tố vốn được xem là yếu tính của xã hội dân sự đã bị biến đổi, có khi không phải chỉ ở mức độ mà ngay từ bản chất. Thứ ba, từ phương pháp luận: Một số người hài lòng với phương pháp mô tả, dựa trên những gì họ quan sát được trong khi một số người khác lại đi theo hướng quy phạm (normative definition), định nghĩa xã hội dân sự theo những gì họ nghĩ là nó sẽ làm và nên làm.

Các định nghĩa khác nhau ấy không phải là một phủ định của ý niệm xã hội dân sự mà là một bằng chứng cho thấy tính chất đa dạng và phức tạp của vấn đề. Trước tính chất đa dạng và phức tạp ấy, giới nghiên cứu, một mặt, phải duy trì một số điểm chung nào đó để bảo đảm không lạc sang một vấn đề và một khái niệm khác; mặt khác, phải tôn trọng cái đối tượng đặc thù mà mình đang khảo sát.

Từ việc đối chiếu các xã hội dân sự từ Bắc Mỹ - Tây Âu đến Đông Âu - Nam Mỹ và Á châu, trong đó có Việt Nam, tôi đề nghị một định nghĩa khác về khái niệm xã hội dân sự:

Xã hội dân sự là một nơi chốn (arena), thực hoặc ảo, ở ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi các công dân tự nguyện tham gia để có một tiếng nói chung hoặc một hành động chung về những điều mọi người cùng quan tâm, trong đó, điều quan tâm lớn nhất là vấn đề dân chủ.

Xin giải thích một chút về định nghĩa trên.

Trước hết, tôi xem xã hội dân sự là một nơi chốn (arena) thay vì một tổ chức (organisation) như quan niệm quen thuộc ở Tây phương, một quan niệm vốn xuất phát và chỉ thích hợp với các xã hội đã có nền dân chủ vững chắc, ở đó, việc lập hội vừa hợp pháp vừa dễ dàng. Quan niệm xem xã hội dân sự như một nơi chốn này cũng đã được Carmen Melena và Volkhart Finn Heinrich nêu lên (1), và, trước đó, đã được tổ chức CIVICUS sử dụng (2). Có thể truy gốc gác của quan niệm này từ lý thuyết về không gian công cộng (public sphere) của Jurgen Habermas khi ông xem không gian công cộng như một nơi chốn mọi người có thể thảo luận về các vấn đề xã hội một cách tự do và bình đẳng (3). Tôi chỉ thêm một kích thước mới: nơi chốn ấy không nhất thiết phải ở ngoài đời thực. Nó có thể thuộc một không gian ảo. Với các trang mạng.

Quan niệm này có điểm lợi là nó có thể dung hợp quan điểm xem xã hội như một tiến trình của Joseph Hannah và quan điểm xem xã hội dân sự như một hành động của Jorg Wishermann: hành động hay tiến trình nào cũng diễn ra trong một nơi chốn cụ thể. Nhưng không nhất thiết phải gắn liền với một tổ chức. Cứ khăng khăng bám vào “tổ chức”, nhất là “tổ chức chính thức”, nghĩa là được đăng ký và có giấy phép hoạt động đàng hoàng, trong trường hợp của Việt Nam cũng như các chế độ toàn trị khác, chúng ta sẽ hoàn toàn tuyệt vọng: Nó sẽ không có, và không thể có, vì đó là một điều cấm kỵ. Nếu không tuyệt vọng thì chúng ta cũng sẽ bị lừa dối bởi những tổ chức xã hội dân sự giả vốn được nhà nước thành lập, lãnh đạo, điều khiển và kiểm soát chặt chẽ, như một tổ chức ngoại vi của đảng cầm quyền.

Cũng giống như Melena và Heinrich, thay cho khái niệm “tổ chức”, tôi nhấn mạnh vào tư cách “công dân”. Xã hội dân sự, dù hiểu theo nghĩa nào, cũng là xã hội của các công dân, nơi người ta hành xử, trước hết, với tư cách công dân. Tôi cho đó là nội dung quan trọng nhất của xã hội dân sự. Đã đành, bình thường mỗi người chúng ta ai cũng đồng thời là một công dân. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng sống và hành xử như một công dân. Trong gia đình, chúng ta chỉ là ông/bà/bố/mẹ/chồng/vợ/anh/chị/con/cháu… Ở chỗ làm, chúng ta chỉ là chủ hoặc nhân viên. Ở chợ hay các cửa hàng, chúng ta là người bán hoặc người mua. Ngay cả khi là công chức, chúng ta cũng chỉ có thể là hoặc lãnh đạo hoặc thuộc hạ. Ở Việt Nam, cơ hội để chúng ta làm công dân rất hiếm hoi: Thường, đó là những lúc chúng ta được cầm lá phiếu đi bầu cử. Hiếm hoi nhưng lại giả tạo: những lá phiếu ấy rất giới hạn (qua sự giới hạn số người ứng cử), bị kiểm soát chặt chẽ và luôn luôn có nguy cơ bị gian lận. Xã hội dân sự là cơ hội để các công dân sống với tư cách công dân của mình nhiều hơn và tích cực hơn: Họ đến với các công dân khác một cách tự nguyện và bình đẳng, ở đó, họ được tự do phát biểu ý kiến về những gì mình quan tâm để tranh đấu cho những điều quan tâm ấy biến thành hiện thực.

Trong câu vừa viết ở trên, với tôi, chữ quan trọng nhất là chữ “quan tâm”. Tôi cho cốt lõi của tư cách công dân nằm ở chỗ biết quan tâm đến những vấn đề chung của xã hội và đất nước. Những kẻ, nói theo chữ của Chế Lan Viên, chỉ biết “ngủ yên trong giường chiếu hẹp” với những “giấc mơ con đè nát cuộc đời con” chắc chắn không phải là những công dân đúng nghĩa. Ở mặt nổi, công dân nào cũng phải có quyền, bổn phận và trách nhiệm đối với đất nước; nhưng ở chiều sâu, công dân nào cũng phải gắn bó mật thiết với cả cộng đồng: tất cả đều có một ký ức tập thể, một tưởng tượng tập thể, và đặc biệt, một sự quan tâm có tính tập thể. Các nhà nước toàn trị, một mặt, tìm mọi cách, chủ yếu là tuyên truyền, thậm chí, nhồi sọ, để tăng cường các ký ức và tưởng tượng tập thể nhưng lại tìm mọi cách, kể cả bằng bạo lực, để ngăn chận sự quan tâm chung. Với họ, ký ức tập thể và tưởng tượng tập thể chỉ có lợi: Chúng biến mọi người lại thành một khối, một cộng đồng. Nhưng sự quan tâm chung lại có hại: Với nó, người dân sẽ đòi hỏi quyền được biết, được bàn và được làm. Đó là lý do tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lúc nào cũng gạt dân chúng đi: “Để Đảng và nhà nước lo!” Một cộng đồng chỉ có ký ức tập thể, tưởng tượng tập thể nhưng lại không có mối quan tâm có tính tập thể chỉ là một bầy đàn.

Một tập thể có thể có nhiều mối quan tâm khác nhau, nhưng với tư cách một xã hội dân sự, mối quan tâm lớn nhất (dĩ nhiên không phải là duy nhất) là vấn đề dân chủ. Điều này, thật ra, rất dễ hiểu. Nó gắn liền với lý do hình thành và phát triển của xã hội dân sự. Cho đến nay, hầu như mọi lý thuyết gia đều cho bản chất của xã hội dân sự đều nằm trong quan hệ giữa nó và nhà nước: Với De Tocqueville, xã hội dân sự hạn chế nhà nước; với Hegel, nó là một giai đoạn cần thiết để hình thành nhà nước; với Marx, đó là nguồn quyền lực của nhà nước; với Gramsci, đó là nơi nhà nước xây dựng quyền lãnh đạo trong liên minh với giai cấp thống trị của mình (4); với các lý thuyết gia hiện nay, nó là điều kiện để cân bằng quyền lực giữa nhà nước và xã hội. Cân bằng, trong trường hợp này, đồng nghĩa với dân chủ: xã hội, ít nhất, cũng có thể tham dự hoặc giám sát các quyết định và cách thức thi hành các quyết định ấy của nhà nước. Bởi vậy, Bernhard mới khẳng định: “Dân chủ hiện đại chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ với xã hội dân sự” (5); Dorota I. Pietrzyk xem hai khái niệm xã hội và dân chủ, tuy có ý nghĩa khác nhau, vẫn trùng lấp lên nhau (6).

Với khái niệm “tiếng nói chung” hay “hành động chung”, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến tính chất tập thể. Xã hội dân sự bao giờ cũng phải là một việc làm có tính tập thể. Không có tính tập thể vẫn có xã hội, nhưng không thể có xã hội dân sự.

***

Chú thích:
Trong bài “Can We Measure Civil Society? A Proposed Methodology for International Comparative Research” in trên Development in Practice số 17, tháng 6 năm 2007, tr. 338-352.
CIVICUS (2005), Civil Society Index – Shortened Assessment Tool (CSI-SAT), A Guide for CSI-SAT Implementation Agencies, Washington D.C.: CIVICUS.
Jurgen Habermas (1989), The Structural Transformation of the Public Sphere: An Inquiry into a Category of Bourgeois Society, Thomas Burger và Frederick Lawrence dịch, Cambridge: Polity.
Neera Chandhoke (2007) bài đã dẫn, tr. 609.
Dẫn theo Gideon Baker, trong bài “The Taming of the Idea of Civil Society”, in trong Peter Burnell & Peter Calvert (biên tập) (2004), Civil Society in Democratization, London: Frank Cass, tr. 46.
Dorota I. Pietrzyk, “Democracy or Civil Society?”, Politics số 23 (2003), tr. 41.


VietTuSaiGon - Bút chiến? Ai đánh? Đánh ai?



VietTuSaiGon


Công an ngăn chặn các nhà báo quay phim, chụp hình tại khu vực Nhà hát lớn Hà Nội trong ngày người dân biểu tình chống Trung Quốc, 22/7/20212. - Photo courtesy of cpj.org 

Ngày 9 tháng 1 năm 2013, Hồ Quang Lợi, Trưởng ban tuyên giáo trung ương đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ thành lập một đội “phản ứng nhanh” để “bút chiến” với các blogger và các cây bút dân chủ. Nghe ra có vẻ rất fair-play và đầy khẩu khí.

Chính lời tuyên bố của ông Lợi vô hình trung tạo ra một đợt sóng ngầm trong giới cầm bút bởi phía các blogger và các cây bút dân chủ nóng lòng chờ đợi xem chân dung đối thủ và so cựa thử tầm mức của họ ra sao, phía các đảng viên Cộng sản bảo thủ cũng nóng lòng muốn được một phen rửa hận bởi lâu nay ngậm miệng ăn xôi và bị đập quá nhiều nhưng nói chẳng ai thèm nghe hoặc không đủ lý luận để tranh cãi. Nhưng, bẵng đi gần hai tháng, mọi việc rơi vào im lặng.

Đùng một cái, Hoàng Hữu Phước, đại biểu quốc hội Sài Gòn kiêm nhà doanh nghiệp lên tiếng, đăng trên blog của ông ta một bài đầy tính mạ lị và trù dập đại biểu Dương Trung Quốc. Bài viết gây sốc này có ba nội dung chính: Chửi bới ông Dương Trung Quốc là kẻ tuy đã cao tuổi nhưng vẫn giữ bốn cái ngu căn bản như trẻ con; Phản đối luật biểu tình vì biểu tình chỉ tổ gây bạo loạn, không mang lại lợi ích nào cho đất nước xã hội chủ nghĩa tiến bộ; Bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng và cho rằng ông Dương Trung Quốc đã vô lễ khi đặt vấn đề về văn hóa từ chức.

Xét trên góc độ dân chủ và tiến bộ xã hội, thiết nghĩ không cần bàn thêm về nội dung cũng như thông điệp gói gém trong bài viết của Hoàng Hữu Phước. Vấn đề muốn đặt ra là vì sao ông Phước viết bài này và nhắm đánh vào ông Dương Trung Quốc – một trí thức có tâm huyết và một người hùng trong quốc hội bởi tính cách khẳng khái cũng như đầu óc mẫn tiệp của ông? Động cơ và mục đích đánh ông Dương Trung Quốc?

Cũng nên nhắc đến thái độ của nhà sử học Dương Trung Quốc khi ông này trả lời phóng vấn các báo trong nước, ông vẫn điềm đạm, ôn tồn, không nổi nóng và chỉ lắc đầu tiếc nuối về một đại biểu cao nhất của nhân dân lại nỡ buột miệng thoái mạ người khác trên bài viết như vậy vô tình làm mất đi hình ảnh và uy tín của quốc hội.

Chung qui là một thái độ ôn tồn và kiệm ngôn, đúng mực của một trí thức. Và, chính thái độ cũng như những phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc đã khéo léo vạch ra một trò chơi khác mà đảng Cộng sản đang ngấm ngầm vào cuộc: Bút Chiến.

Khái niệm bút chiến khi Hồ Quang Lợi tuyên bố đầu năm 2013 đã làm nhiều người chú ý và chờ đợi một cuộc bút chiến giữa các cây bút, blogger dân chủ với các cây bút Cộng sản.

Và, nó cũng ít nhiều mang đến một sự mệt mỏi khi nghĩ sâu xa một chút rằng đất nước này sẽ đến bao giờ mới tiến bộ được khi còn cả một đội ngũ cầm bút (đương nhiên là đủ công lực và học thuật để đánh các cây bút dân chủ, tiến bộ, mà làm được điều này, đòi hỏi công năng phải ghê gớm lắm, phải ở vào tầm lực sĩ kéo tàu…), tại sao cho đến bây giờ vẫn còn có người bán rẻ tri thức, bán rẻ nhân phẩm của mình để làm bồi bút, đánh vào lực lượng tiến bộ xã hội….?

Rất may là không (hoặc chưa) phải như thế! Mà dường như, cuộc bút chiến lần này bắt đầu lộ diện với đầy đủ chân dung và bản chất của nó: Đánh vào thành phần tiến bộ trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam. Vì, hơn ai hết, trung ương Cộng sản Việt Nam biết rất rõ nguy cơ tan rã của mình không chỉ đến từ phía nhân dân mà nó manh nha, âm ỉ ngay trong nội bộ đảng.

Đặc biệt, cuộc chất vấn thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về văn hóa từ chức cũng như nhiều phát biểu có tính cấp tiến của đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc đã nâng tầm đại biểu này lên vị trí người hùng trong quốc hội, không sợ trù dập, dám nói dám chịu trách nhiệm…

Hình ảnh và hành động của trí thức Dương Trung Quốc dù muốn hay không, vẫn trở thành một kiểu biểu trưng, biểu tượng mới trong chính trị Việt Nam, đi xa hơn một chút, hành động của ông như một thứ ngòi nổ đã được kích hoạt, nó sẽ cháy chậm rãi để một lúc nào đó kích nổ toàn bộ những tư duy cấp tiến trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam. Mà chắc chắn một điều là con số này không phải ít, nó chưa công khai vì một phần do những vết chàm tham nhũng phía trước và một phần nữa vì nhu cầu an ninh tâm lý, an ninh tính mạng. Nếu như tất cả mọi bộ óc cấp tiến đồng loạt bị kích hoạt, không chừng một ngày trời đẹp và trong xanh nào đó, ngườ

Chính vì nhìn thấy mối nguy manh nha và âm ỉ cháy trong nội bộ đảng, nên việc tận diệt, đánh tận nhà, diệt tận gốc những người có đầu óc cấp tiến như ông Dương Trung Quốc là chuyện sống còn của nhà nước Cộng sản.

Việc ông Phước đánh ông Quốc trên bài viết, đúng sai chưa cần biết, nhưng chắc chắn đó sẽ là công trạng đầu tiên trong chiến dịch bút chiến mà Hồ Quang Lợi đã nói trước đó. Và loại người như Hoàng Hữu Phước cũng không phải là ít trong nội bộ Cộng sản Việt Nam, một loại người vừa mê tín vào chủ nghĩa Cộng sản lại vừa tư lợi, cơ hội để được việc, không cần biết phải trái, chỉ cần nịnh được Nguyễn Tấn Dũng (vì làm kinh tế, có cách nào mau giàu và thuận lợi hơn là được lòng Thủ tướng?!) và đảm bảo cơ ngơi được an toàn (vì khi diễn ra cách mạng Dân chủ, chắc chắn một điều là những cơ ngơi chứa đầy mồ hôi và xương máu của nhân dân, được xây dựng từ nguồn tham nhũng, móc ruột ngân sách nhà nước sẽ bị hỏi thăm đầu tiên), loại người này sẽ bất chấp, sẵn sàng đạp lên lẽ phải và chính nghĩa để đi!

Cuộc “bút chiến” này, có lẽ thiên về nội bộ đánh nội bộ, bảo thủ đánh cấp tiến nhiều hơn là Cộng sản đánh Dân chủ.

Vì muốn lấy lực lượng Cộng sản đánh lực lượng Dân chủ trên diễn đàn, e rằng làm thế chẳng khác mấy so với chuyện phơi lưng cho người khác xem ghẻ, và cũng chẳng có cây bút nào trong nhà nước Cộng sản đủ dại dột để tự làm mất điểm của mình khi xông ra nghênh chiến với các cây bút dân chủ, làm thế là tự hủy hoại thang điểm của mình trong nội bộ có ăn học của đảng.

Chỉ có một cách duy nhất là đánh những người như trí thức Dương Trung Quốc để một phần đe nẹt tất cả những bộ óc cấp tiến đang manh nha hoạt động, một phần chặn đứng mối nguy cấp tiến bùng nổ trong nhà nước.

Nhưng, kết cục đi đến đâu, chưa thể nói được, chuyện chống lại tiến bộ nhân loại là một chuyện khá “dũng cảm” và đầy liều lĩnh mà chỉ có người Cộng sản mới đủ “can trường” xả thân cho nó!

Mọi việc vẫn còn, hãy đợi đấy!


Perry Link - Liệu nhà văn này có xứng đáng với giải thưởng chăng?



Perry Link
Bùi Xuân Bách dịch

pro&contra – Trường hợp Mạc Ngôn phân hóa giới phê bình quốc tế. Trên tờ Guardian, Pankaj Mishra yêu cầu Salman Rushdie thôi lên án Mạc Ngôn về vấn đề kiểm duyệt. Salman Rushdie đập lại. Trên Kenyon Review Anna Sun phân tích ngôn ngữ bệnh hoạn của Mạc Ngôn và trên New York Review of Books Perry Link đặt câu hỏi liệu Mạc Ngôn có xứng đáng với giải thưởng này không. Trên ChinaFile, Charles Laughlin vạch ra những người phê bình Mạc Ngôn hiểu sai điều gì, và Perry Link chỉ ra những điều mà những người bênh vực Mạc Ngôn hiểu sai…


Nhà văn Mạc Ngôn

Sau đây là bản dịch bài của Perry Link, nguyên là Giáo sư Khoa Nghiên cứu Đông Á của Viện Đại học Princeton, chuyên ngành ngôn ngữ Hán và văn học Trung Quốc hiện đại.

*

Ngày 11 tháng 10 (2012), Peter Englund, Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển ở Stockholm, thông báo, Giải Nobel Văn học năm 2012 sẽ được trao tặng cho nhà văn Trung Quốc Quản Mô Nghiệp (管謨業), 57 tuổi, thường được biết với bút danh Mạc Ngôn (莫言), nghĩa là “không nói”. (Bút danh này được cho là bắt nguồn từ lời khuyên của cha mẹ, khi ông còn là học trò dưới thời Mao.)

Tin này được Bắc Kinh hãnh diện đón mừng. Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị (cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, gồm chín người) Lý Trường Xuân (李長春) lập tức gửi thư tới Hội nhà văn Trung Quốc, một hội do nhà nước đỡ đầu và Mạc Ngôn là Phó Chủ tịch. Trong thư, Lý Trường Xuân đã gọi giải thưởng này “không chỉ là hiện thân của sự tiến bộ ngày càng gia tăng của văn học Trung Quốc, mà còn là biểu hiện của sự tăng trưởng không ngừng về sức mạnh nói chung của nhà nước ta cùng ảnh hưởng quốc tế của nó”. Các cơ quan truyền thông chính thức thì hân hoan rằng, cuối cùng, một nhà văn Trung Quốc thuộc “dòng chính” cũng đoạt Nobel, giải thưởng mà nhân dân Trung Quốc đã chờ đợi quá lâu. Một tuần sau đó, nhà nước công bố kế hoạch đầu tư 110 triệu đô la, để biến ngôi làng quê của nhà văn thành “Vùng thí điểm văn hóa Mạc Ngôn”.

Đồng thời, một trận bão tranh luận đã nổ ra trên mạng Internet tiếng Hán, cả bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc. Liệu nhà văn này, so với những người khác cũng có khả năng đoạt giải, có xứng đáng với giải thưởng không? Và liệu một giải thưởng tầm cỡ như vậy có nên trao cho một nhà văn, vốn là người “bên trong hệ thống” của một chính phủ độc đoán? Chính phủ này từng bỏ tù các nhà văn khác – trong số đó có Lưu Hiểu Ba (劉曉波), khôi nguyên Giải Nobel Hòa bình năm 2010 (một “tội phạm hình sự đã bị kết án”, theo quan điểm của chính phủ Trung Quốc) và đây chỉ là thí dụ nổi tiếng nhất. Trên mạng Twitter, một người có tên Uông Tiểu Hồng[1] châm biếm bằng cách bày tỏ nỗi lo lắng thay cho ông Nobel quá cố, người mà bà hình dung đang vật vã dưới mồ:
Hai năm trước người Thụy Điển chúng tôi trao giải cho một người Trung Quốc và việc này đã xúc phạm chính phủ Trung Quốc. Giờ đây chúng tôi lại tặng giải cho một người Trung Quốc khác, và việc này xúc phạm nhân dân Trung Quốc. Ối giời ơi. Cả Trung Quốc bị xúc phạm chỉ trong vòng hai năm.

Gạt sang một bên vụ châm biếm, Uông Tiểu Hồng đã nói đúng rằng, Giải Nobel được quan tâm sát sao và thèm thuồng ở Trung Quốc – thậm chí, nói chung, còn hơn ở bất kỳ nơi nào khác. Giống như huy chương vàng Olympic, họ coi đó là biểu hiện sự tôn trọng của thế giới, mà trong những thế kỷ gần đây, nhiều người Trung Quốc nghĩ rằng họ đã nhận được ít hơn là họ đáng có. Cảm giác bất an ngầm ẩn trong cái yêu cầu được tôn trọng đã giảm đi rất nhiều trong trường hợp Giải Nobel Văn chương này, khi Trung Quốc, về cơ bản đã trao sự đánh giá những thành tựu văn hóa của họ cho một ủy ban Thụy Điển (chỉ có một thành viên của Ủy ban, Gölan Malmqvist, đọc được chữ Hán, còn những người khác phải dựa vào bản dịch). Trung Quốc cũng có giải thưởng văn học riêng của họ, Giải Mao Thuẫn (茅盾), mà Mạc Ngôn nhận được năm 2010. Song kể cả Mạc Ngôn lẫn bất kỳ người nào khác ở Trung Quốc, chẳng ai lại đi so sánh nó với Giải Nobel. (Mao Thuẫn là nhà văn viết tiểu thuyết chính trị trong những thập kỷ 1920 và 1930; ông làm Bộ trưởng Văn hóa dưới thời Mao, từ 1949 đến 1965, và nổi tiếng – cũng xứng đáng thôi – với những trang viết nhạt nhẽo. Tuy nhiên, lý do chính của việc giải Mao Thuẫn chỉ có được tiếng tăm hạng nhì vì nó chỉ là giải thưởng quốc nội, do nhà nước đặt ra.)

Trong những năm gần đây, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm với uy tín của Giải Nobel và đã phải đối phó với một hồ sơ lịch sử đáng thất vọng. Có tám người Hoa đã được Giải Nobel về khoa học tự nhiên, nhưng sáu trong số đó là công dân các nước Tây phương (Mỹ, Anh và Pháp) khi họ đoạt giải, và hai người còn lại là công dân Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan.[2] Ngoài ra còn có hai khôi nguyên Giải Nobel Hòa bình, nhưng một là Lưu Hiểu Ba, người làm mất mặt cái chế độ đã bỏ tù ông, và người kia, Đức Đạt-lai Lạt-ma (Nobel Hòa bình 1989), đã phải lưu vong suốt từ 1959. (Nhà cầm quyền Trung Quốc gọi Đức Đạt-lai Lạt-ma là “kẻ chia rẽ”, là “con sói đội lốt cừu”, nhưng thật bất tiện nếu bảo rằng ông không phải người Trung Quốc, bởi nói vậy khác nào thừa nhận rằng, Tây Tạng không phải một phần của nước Trung Hoa). Cao Hành Kiện (高行健), một nhà văn Trung Hoa, với những tác phẩm tố cáo chế độ cộng sản Trung Quốc, nhập quốc tịch Pháp năm 1997. Sau khi ông đoạt Giải Nobel Văn học năm 2000, các phương tiện truyền thông nhà nước ở Trung Quốc nhất loạt lên tiếng rằng, Ủy ban Nobel đã “đánh mất uy tín của mình”, và “chỉ là một nhúm những kẻ được gọi là chuyên viên văn học, những người có quan điểm cực kỳ bệnh hoạn đối với nhân dân Trung Quốc”.

Giải thưởng trao cho Mạc Ngôn đã khiến những nhận định tương tự cần phải xoay ngược hẳn lại 180 độ, và cũng không có dấu hiệu nào cho thấy, có ai đó trong hệ thống truyền thông nhà nước đã gặp khó khăn khi phải trở mặt như thế. Công việc của họ là đề cao nhà nước, chứ không cần phải phát ngôn trước sau như một. Giờ thì tới lượt phía bên kia, những người bất đồng chính kiến và những người suy nghĩ độc lập vô danh trên mạng internet, tấn công. Một số người phê bình Ủy ban Nobel, nhưng chủ yếu sự phê phán của họ nhằm vào chính Mạc Ngôn, căn bản vì những lựa chọn chính trị gần đây của ông ta. Tại lễ khai mạc Hội chợ Sách ở Frankfurt, tháng 10-2009, ông đọc một bài diễn văn được sửa sang kỹ lưỡng, trong đó ông có nói rằng, cần đặt văn học trên chính trị; nhưng lúc chính quyền Trung Quốc ra lệnh tẩy chay một cuộc thảo luận, khi trong số người tham dự có nhà văn chính kiến độc lập Đái Tình (戴晴) và Bối Linh (貝嶺), thì Mạc Ngôn đã bỏ về, rồi sau đó giải thích rằng ông ta “không có sự lựa chọn nào khác”.

Tháng 12-2009, sau khi Lưu Hiểu Ba bị kết án nặng nề bất ngờ, mười một năm tù giam, Thôi Vệ Bình (崔衛平), nhà nghiên cứu điện ảnh, đã tiến hành một cuộc thăm dò dư luận bằng điện thoại với hơn một trăm trí thức nổi tiếng ở Trung Quốc để xem phản ứng của họ. Nhiều người, bất chấp những nguy hiểm cho bản thân, đã biểu lộ sự kinh tởm và nói với Thôi rằng, bà có thể công bố những gì họ phát biểu. Mạc Ngôn, cũng cho phép công bố, nhưng chỉ nói: “Tôi không được biết rõ về chi tiết, nên tốt hơn hết là không nhận xét. Hiện giờ tôi đang có khách trong nhà và tôi rất bận.”

Tuy nhiên, đối với những người phê phán Mạc Ngôn, điều khó chịu nhất là hồi tháng 6-2012, ông đã đồng ý tham gia một đề án do nhà nước đỡ đầu. Người ta mời những tác gia nổi tiếng chép tay lại cuốn Những bài nói chuyện về văn học nghệ thuật ở Diên An của Mao Trạch Đông thời 1942, để kỷ niệm bảy mươi năm sự kiện này. Những bài nói chuyện đó – chính là cái vòng kim cô đối với văn nhân Trung Quốc suốt thời Mao, và hầu hết các nhà văn đồng loạt lên án nó trong nhiều năm, từ khi Mao chết năm 1976 đến cuộc tàn sát ở Thiên An Môn 1989 – giờ đây lại được đưa ra để tung hô. Một số nhà văn được mời tham gia đã từ chối làm chuyện đó. Mạc Ngôn không những đồng ý làm mà còn đi xa hơn những người khác, giải thích rằng, “Những bài nói chuyện”, vào thời của nó, là “một sự cần thiết của lịch sử” và “đóng một vai trò tích cực”.

Tại cuộc họp báo sau khi Giải Nobel trao cho ông được công bố, Mạc Ngôn yêu cầu rằng, lập trường chính trị của ông cần được tách bạch với những tác phẩm ông viết. Giải Nobel “là một giải thưởng văn học, không phải chính trị”, ông nói. Một số người phê bình ông trên mạng internet đã thẳng thừng bác bỏ sự phân cách này. (Có người viết trên mạng Twitter rằng “nếu có đầu bếp mang thức ăn đến cho tôi mà người dính đầy phân, thì dù món ăn có ngon lành đến đâu, tôi cũng khó mà nuốt nổi”). Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn là, việc một nhà văn đã chìm ngập trong một chế độ cực quyền và tự điều chỉnh để thích ứng với nó sẽ ảnh hưởng tới những gì ông ta/bà ta viết như thế nào và tới chừng mực nào. Chuyện này vừa tinh tế lại vừa hệ trọng, và Mạc Ngôn đã cung cấp một thí dụ hữu ích.

Mạc Ngôn bắt đầu nổi tiếng vào cuối những năm 1980, khi đạo diễn Trương Nghệ Mưu (張藝謀) chuyển thể cuốn tiểu thuyết Cao lương đỏ (紅高粱家族 – Hồng cao lương gia tộc) của ông sang điện ảnh, thành một bộ phim được giải thưởng. Cao lương đỏ là trường thiên tiểu thuyết về cuộc sống ở vùng nông thôn Sơn Đông thời Nhật Bản xâm lược, trong những năm 1930 và 1940. Lưu Hiểu Ba biết Mạc Ngôn từ đó và sau này đã viết rằng, một lý do khiến bộ phim đạt được thành công rực rỡ chính vì nó đã dựng lại hết sức thông thoáng đề tài tình dục nguyên sơ và thông dâm. Bài hát chủ đề của bộ phim, “Em gái ơi, hãy mạnh dạn lên nào”, là một sự tán thành không giới hạn sức sống bản năng của nhục dục. Trên nền đỏ rực như lửa của những cánh đồng cao lương ở vùng Đông Bắc Trung Quốc tiêu điều, dưới bầu trời xanh bao la và ánh mặt trời rực rỡ, bọn thổ phỉ đã bắt cóc phụ nữ trong làng một cách tàn bạo, sự thông dâm cuồng dại đã diễn ra trong những cánh đồng cao lương, tụi thổ phỉ giết lẫn nhau để giành giật phụ nữ, những lực điền làm thuê đã chế ra một cách kỳ diệu loại rượu nổi tiếng “Lục Lý Hồng” (“六里紅”), bằng cách đái vào những nồi rượu đang cất của nữ nhân vật chính, và v.v…

Tất cả những chuyện đó… không chỉ dựng lên một bối cảnh cho sự hoàn thiện tuyệt vời khát khao tình dục của nam lẫn nữ; nó tạo ra một viễn cảnh trong mơ rộng lớn hơn, mang sinh khí diệu kỳ. Việc phim “Cao lương đỏ” được giải thưởng đã tượng trưng cho sự thay đổi trong thái độ chung của cả nước đối với dục tính: việc đưa ra “những biểu tượng gợi dục” cũng phải được xem như “những biểu hiện của sức sống tràn trề”.

Mạc Ngôn chỉ ra rằng, đúng vậy, Cao lương đỏ đã bị phê bình kịch liệt trong những năm 1980 từ phía chính quyền. Sau đó, ít nhất, ông cũng không phải là kẻ bợ đỡ. Tác phẩm không chỉ thách thức những cấm kỵ về tình dục; nó diễn tả một khía cạnh của cuộc sống người dân Trung Quốc dưới thời Nhật Bản chiếm đóng, mà về cơ bản khác hẳn với quan điểm cộng sản chính thống xưa nay, chỉ nói về cuộc kháng chiến anh hùng của nông dân. Mạc Ngôn, Trương Nghệ Mưu và một số khác bị coi như là những thanh niên nổi loạn.

Oe Kenzaburo, một nhà văn Nhật Bản chuyên viết tiểu thuyết và tản văn, khôi nguyên Nobel Văn học 1994, đã phát biểu trong diễn văn nhận giải thưởng:
Bằng cách chia sẻ những ẩn dụ cũ kỹ, quen thuộc nhưng sinh động, tôi đã xếp mình đứng chung cùng các nhà văn như Kim Chi Hà (金芝河) của Nam Hàn và Trịnh Nghĩa (鄭義) cùng Mạc Ngôn, cả hai của Trung Quốc. Đối với tôi, tình anh em trong văn học thế giới chính là nằm trong những tương quan như vậy, với những giao thiệp cụ thể… Giờ đây tôi hết sức lo lắng cho số phận của những nhà văn Trung Quốc tài năng đó, những người đã bị tước đoạt tự do của họ kể từ sự kiện Thiên An Môn [cuộc đàn áp ngày mồng 4 tháng 6-1989].

Vào thời điểm đó [1994], Oe không thể biết được “số phận” của hai nhà văn Trung Quốc trẻ mà ông ngưỡng mộ, Trịnh Nghĩa và Mạc Ngôn, sẽ xoay vần hết sức khác biệt ra sao. Trịnh Nghĩa đã khiến Oe chú ý tới mình qua tác phẩm Giếng cổ [老井- Lão tỉnh] (1984), một tiểu thuyết trữ tình dựa trên bối cảnh nhu cầu về nước, kéo dài nhiều thế kỷ, ở một vùng nông thôn khô hạn thuộc tỉnh Sơn Tây. Cũng như Cao lương đỏ, câu chuyện đã được chuyển thể qua điện ảnh và cuốn phim cũng được giải thưởng. Năm 1997, Oe nói với tôi rằng, ông thích “sự định hướng theo chiều thẳng đứng” của Trịnh – những cái giếng cổ đã ăn sâu vào lòng đất và những “cây thần” [thần thụ - 神樹] đã vươn cao theo chiều ngược lại, chĩa lên trời. (Trịnh sau đó đã bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết dài, có tên là Thần thụ, trong đó ông mô tả cuộc sống ở nông thôn Trung Quốc hết sức tài hoa). Năm 1989, Trịnh Nghĩa ủng hộ cuộc phản kháng của sinh viên ở Thiên An Môn, sau đó bị chính phủ đưa vào danh sách truy nã. Ông sống lẩn lút ở Trung Quốc trong ba năm, rồi trốn thoát sang Hong Kong trên một con thuyền nhỏ vào năm 1993, và từ đó sống lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông tiếp tục viết rất khỏe, luôn luôn mạnh mẽ phê phán chính phủ Trung Quốc.

Mạc Ngôn, trong cả chính trị lẫn văn chương, đã chọn một con đường khác. Tất cả văn nghệ sĩ Trung Quốc nghiêm túc, trong thời kỳ hậu 1989 đều phải đối mặt với sự lựa chọn liệu có nên ở lại “bên trong hệ thống” và tới chừng mực nào. Nhiều người, cũng giống như Mạc Ngôn, đã lựa chọn dứt khoát ở lại, rồi điều chỉnh ít hay nhiều cho phù hợp với đường lối chỉ đạo chính thức, thậm chí họ còn công khai giữ ảo tưởng dường như họ không hề làm chuyện đó. (Tại một cuộc họp báo gần đây, Mạc Ngôn nhận xét với bộ mặt tỉnh khô rằng, “chúng ta đang sống trong một thời đại tự do thể hiện”). Trong hai thập kỷ vừa qua, với sự bùng phát của nền kinh tế, tiền bạc đã trở thành một lý do quan trọng xui khiến người ta ở lại trong hệ thống. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn phim Cao lương đỏ, đã chuyển dịch ngày càng sâu và sâu hơn vào “bên trong” cho đến khi, năm 2008, ông ta được mời làm Tổng đạo diễn cho lễ khai mạc Thế vận hội ở Bắc Kinh và nhận xét (rõ ràng không có ý mỉa mai) rằng, chỉ có những nhà nước như Trung Quốc hoặc Bắc Hàn mới có thể dàn dựng những tác phẩm hoành tráng đến thế.

Phần lớn những nhà văn đã lựa chọn “rời bỏ” hệ thống – Lưu Tân Nhạn (劉賓雁), Tô Hiểu Khang (蘇晓康), Trịnh Nghĩa, Liêu Diệc Vũ (廖亦武) và những người khác –chấp nhận lưu vong như một cái giá phải trả để có thể nói điều họ nghĩ mà không cần phải uốn nắn lại. Cáp Kim (哈金 Ha Jin) đã đi một bước khác thường, không chỉ rời bỏ Trung Quốc mà cả tiếng Hán nữa; ông chỉ viết bằng tiếng Anh, một phần để chắc chắn rằng, thậm chí vô thức cũng không ảnh hưởng đến cách diễn đạt của ông. Một số người chọn sống lưu vong sau sự kiện 1989 về sau đổi ý, quay về Trung Quốc. Từ Băng (徐冰), một nghệ sĩ sắp đặt, đã sống ở New York từ 1990 đến 2008, rồi lại trở về Trung Quốc, làm Phó Viện trưởng Học viện Mỹ thuật Trung ương. Nhà thơ xuất sắc Bắc Đảo (北島) cũng quay về và hiện nay, phần lớn thời gian ông sống ở Hong Kong. Chế độ đã hoan nghênh sự trở về của những nhân vật nổi tiếng, bởi vì việc này giúp đánh bóng hình ảnh của nó. Chính quyền đã ưu đãi họ bằng tiền bạc, địa vị và nhiều tự do hơn những người khác – nhưng không bao giờ là tự do hoàn toàn.

Thách thức chủ yếu đối với Mạc Ngôn, bắt đầu vào những năm 1990, là tìm cho được một giọng nói riêng mà ông có thể dùng về lâu về dài. Cao lương đỏ quả thật là một bước đột phá, nhưng chỉ nhờ vào hoàn cảnh chính trị trong những năm 1980, khi các nhà văn Trung Quốc có thể tạo dựng tên tuổi bằng cách “đi vào những vùng cấm”. Cao lương đỏ đột phá vào hai lĩnh vực: sự phóng đãng tình dục và việc kể sự thật về cuộc chiến với Nhật Bản. Song đến năm 1990 chỉ còn rất ít vùng cấm chờ đột phá, và với những vùng cấm còn lại (vụ tàn sát 1989, tham nhũng trong hàng ngũ chóp bu chính trị, và những đề tài như Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương) thì việc nghiêm cấm cực kỳ chặt chẽ, tuyệt đối không được đụng chạm tới. Mạc Ngôn cần một cái gì đó khác hơn.

Giọng nói mà ông chọn lựa từng được gọi là giọng Rabelais, nhưng thậm chí nó còn trần tục hơn cả Rabelais. Cái bản tính động vật trong con người – ăn uống, bài tiết, đấm đá, gào thét, đổ máu, sợ hãi, gian dâm – thì đầy ra, cũng như một số đặc tính khác mà động vật tránh làm như bắt nạt, đồng lõa và phản bội. Thỉnh thoảng, chứ không phải luôn luôn, cách thể hiện của Mạc Ngôn có chút mỉa mai, và nó bao hàm cả sự tưởng tượng được thăng hoa mà những nhà phê bình đã so sánh với “chủ nghĩa hiện thực có ma lực” của Gabriel García Márquez. (Chưa chắc Mạc Ngôn đã đọc Rabelais hoặc García Márquez, đó là những sự tương tự chứ không phải ảnh hưởng.)

Mạc Ngôn viết về những con người ở dưới đáy xã hội và trong truyện Cây tỏi nổi giận [“天堂蒜薹之歌” – “Thiên đường toán đài chi ca”] (1988), rõ ràng ông đứng về phía những người nông dân nghèo bị lũ cường hào quan chức địa phương bắt nạt, khiến cho họ phá sản. Cảm tình với những người bị áp bức có một thị trường đáng kể trong thế giới văn học Trung Quốc thời gian gần đây, chủ yếu bởi vì chính xã hội bao gồm rất nhiều người bị chà đạp và họ đã thu hút được cảm tình. Song điều cốt yếu là phải nhận ra được sự khác biệt giữa cung cách Mạc Ngôn viết về số phận của những người bị giày xéo và cách viết, mà những nhà văn như Lưu Hiểu Ba, Trịnh Nghĩa và những người bất đồng chính kiến khác đã sử dụng. Lưu và Trịnh đã lên án toàn bộ hệ thống chuyên chế này, kể cả những người ở cấp cao nhất. Mạc Ngôn và những nhà văn bên-trong-hệ-thống chỉ đổ lỗi cho lũ cường hào địa phương, mà không đả động đến tầng lớp lãnh đạo cao cấp.

Dẫu sao, đó cũng là chiến thuật kinh điển của giới lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc. Họ thường đổ lỗi cho những quan chức cấp thấp đã hành xử sai trái và việc đó chính là nguyên nhân gây ra những khó khăn của nhân dân. Họ muốn đưa ra một thông điệp rằng, “ở đây, tại Trung ương, chúng tôi đã nghe tiếng quý vị và rất thông cảm; đừng lo ngại là có chuyện gì sai trái với cả hệ thống của chúng ta”. Hai mươi năm trước, khi người dân Trung Quốc chỉ tiếp cận được những nguồn tin tức do nhà nước đưa ra, phần lớn tin vào những lời đảm bảo như vậy; hiện giờ, với mạng internet, số người cả tin như vậy ít hơn, nhưng thông điệp đó vẫn rất hiệu quả. Những nhà văn như Mạc Ngôn hiểu rõ chiến lược này của chế độ, và có thể họ cũng chả thích đâu, nhưng họ chấp nhận thỏa hiệp trong cách diễn đạt. Đó là cái giá của việc viết lách bên trong hệ thống.

Mạc Ngôn đã viết những tiểu thuyết hoành tráng, miêu tả phần lớn lịch sử Trung Quốc trong thế kỷ XX. “Viết lại lịch sử” đã từng là thời trang trong tiểu thuyết Trung Hoa từ những năm 1990; nó đã hấp dẫn những độc giả đang phải vật lộn khi đối mặt với câu hỏi “chuyện gì đã diễn ra?” trên đất nước trong và sau thời kỳ chủ nghĩa Mao hành hạ đất nước. Những nhà văn bên trong hệ thống đã rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, khi phải đụng chạm đến những thời kỳ như Đại nhảy vọt (1959-1962), trong thời gian đó ba mươi triệu người hoặc hơn bị chết đói, hoặc Đại Cách mạng Văn hóa vô sản (1966-1970), nó đã cướp đi mạng sống của hai hoặc ba triệu người nữa, và đầu độc tinh thần dân tộc với sự yếm thế và hoài nghi sâu sắc đến nỗi thậm chí hôm nay, cái tinh thần đó vẫn chưa hoàn toàn hồi phục. Những người lãnh đạo cộng sản hiện nay lo ngại quyền lực của họ có thể bị suy giảm nếu gắn liền với những đại họa thời Mao, nên tuyên bố rằng, những đề tài đó là “nhạy cảm” và nói chung là vùng cấm đối với những nhà văn “quốc doanh”. Song một nhà văn, khi dựng lại toàn cảnh, không thể bỏ qua những giai đoạn đó được. Vậy phải làm thế nào?

Giải pháp của Mạc Ngôn (và ở đây không chỉ mình ông) là sử dụng một sự hoạt kê ngớ ngẩn khi phải đụng chạm tới những sự kiện “nhạy cảm”. Tiểu thuyết Báu vật của đời [豐乳肥臀 - Phong nhũ phì đồn] (1996), đã xuyên qua toàn bộ thế kỷ XX, với câu chuyện về cuộc đời của một anh chàng [Kim Đồng] cứ mê mẩn với những bộ phận trên cơ thể phụ nữ. Trong chương VI, cuốn truyện đã phải đụng chạm tới Đại nhảy vọt, khi nền kinh tế nông thôn Trung Quốc đã sụp đổ vì sự can thiệp cưỡng bức do các chính sách nông nghiệp của Mao, kể cả việc Mao khăng khăng bắt cấy dày (nông dân biết là sẽ thất bại nhưng họ không dám phản đối vì có thể nguy hiểm đến tính mạng) và gợi ý tạo giống cây trồng và gia súc mới bằng cách lai giống từ những loài khác nhau – chẳng hạn như cà chua với bí ngô để được giống cà chua khổng lồ.

Mạc Ngôn đã miêu tả hết sức khôi hài những chuyện điên rồ như vậy, nhưng không hề đụng chạm đến thảm họa. Phối giống thỏ với cừu? Tại sao không? Trong Báu vật của đời có nhân viên đã xung phong: “Nói gì bơm tinh dịch cừu vào tử cung thỏ, ngay cả bơm tinh dịch của Giám đốc Lý Đỗ vào tử cung lợn nái, tôi cũng không mảy may băn khoăn!” Những người có mặt phá lên cười. Trong khi đó hoàn toàn không có dấu hiệu gì của nạn đói. Khi nhân vật chính, chú bé mê bầu vú, cần một ít sữa dê, có người đã chạy đi mua. Trong Sống thác đọa đày [生死疲勞 - Sinh tử bì lao] (2006), một tác phẩm toàn cảnh khác của Mạc Ngôn, trải dài từ 1950 đến năm 2000, một nạn nhân bị đưa ra đấu tố công khai thời Cách mạng văn hóa, đã bị buộc tội làm một con lừa có chửa. Nạn nhân đã bị chế nhạo, thậm chí bị chửi mắng suốt bốn trang sách, sau đó thì “đám đông cười rầm trời” khi anh ta bị bắt phải ăn một củ cải, tượng trưng cho “dương vật giả của con lừa”.

Những người bênh vực Mạc Ngôn, cả bên trong và ngoài Ủy ban trao Giải Nobel, công nhận ông có tài hài hước với khả năng gây cười từ những chuyện không đáng cười. Có thể. Song với những người khác, kể cả con cháu những nạn nhân của việc lăng nhục đó, ta lại cũng có thể thông cảm nếu họ ngạc nhiên rằng, có gì đáng cười kia chứ. Từ quan điểm của chế độ, lối viết này là hữu ích không chỉ vì nó đánh lạc hướng cái nhìn thẳng thắn vào lịch sử, mà còn vì nó có tác dụng như một cái van an toàn. Những đề tài này vốn “nhạy cảm”, và chúng có nguy cơ bùng nổ, thậm chí ngày hôm nay. Đối với chế độ, việc đưa chúng ra làm trò cười có thể có lợi hơn là cấm thẳng thừng không cho nói đến. Năm 2004, trong một bài báo có tên “Cuộc diễu hành gợi tình trong lịch sử Trung Quốc gần đây”, Lưu Hiểu Ba đã nhận thấy rằng, “Sự giễu cợt… biến thành một hình thức xoa bóp tinh thần làm cho lương tâm của nhân dân trở nên vô cảm và làm tê liệt ký ức của họ”.

Liệu Mạc Ngôn có suy tư gì hơn nữa ngoài những truyện ông đã in? Đối với ông, cũng như với tất cả nhà văn Trung Quốc bên-trong-hệ-thống, ít nhất chúng ta cần để ngỏ câu hỏi này. Tại cuộc họp báo hôm 12 tháng 10 (2012), ông đã trả lời câu hỏi của một nhà báo về người bạn cũng được Giải Nobel, Lưu Hiểu Ba, như sau:
Tôi đã đọc một số bài ông (Lưu Hiểu Ba) viết về văn học trong những năm 1980… sau này, khi ông rời bỏ văn học và quay sang chính trị, tôi không tiếp xúc với ông, và tôi cũng không biết rõ phần lớn những gì ông đã làm từ bấy đến giờ. Tuy nhiên, giờ đây tôi hy vọng rằng, ông sẽ được tự do càng sớm càng tốt – có được tự do với sức khỏe dồi dào càng sớm càng tốt – và sau đó có thể tiếp tục nghiên cứu đường hướng chính trị của ông, cùng việc nghiên cứu những hệ thống xã hội, theo ý thích của ông.

Lời phát biểu nhanh chóng được một số người ủng hộ Lưu Hiểu Ba hoan nghênh. Đây là một người vừa mới đoạt giải Nobel đã lên tiếng cho một người khác, mà tên tuổi bị cấm trên các phương tiện truyền thông của nhà nước Trung Quốc. Hơn nữa, chính lời phát biểu của Mạc Ngôn cũng bị xóa bỏ trên mạng internet trong nội địa Trung Quốc, vậy là chính quyền cũng bực bội vì những lời nói này. Hiển nhiên, Mạc Ngôn đã có một lời tuyên bố của lương tâm.

Lời phát biểu chắc chắn là có giá trị, nhưng theo tôi, có một lời giải thích khác hợp lý hơn, chứ không chỉ vì lòng dũng cảm của lương tâm. An ninh và các quan chức tuyên truyền ở Trung Quốc theo rất sát những người có ảnh hưởng, kể cả những nhân vật có danh vọng lẫn những người bất đồng chính kiến. Có những “cuộc đàm đạo” [tức là làm việc với cơ quan an ninh, N.D.], đôi khi được gọi bóng bảy là “uống trà” [喝茶], về việc người ta nên hoặc không nên nói hay làm những gì công khai. Khi có một chuyện ngoạn mục như được trao Giải Nobel chẳng hạn, không thế tưởng tượng được rằng người đoạt giải lại không được mời tới nói chuyện [với an ninh] một hoặc nhiều lần, và câu hỏi ‘Mạc Ngôn sẽ nói gì về Lưu Hiểu Ba’ nhất định sẽ bật ra. Đó là một câu hỏi hiển nhiên. Các phóng viên của báo chí thế giới đã hỏi câu đó gần như ngay lập tức sau khi giải thưởng trao cho Mạc Ngôn được công bố, và câu hỏi đó thậm chí lại càng không thể tránh được hơn, khi ông đến Stockholm nhận giải. (Cư dân mạng Trung Hoa cũng đặt vấn đề ra. Có người đã viết trên Twitter rằng, “nếu Mạc Ngôn có can đảm, ông ta sẽ đứng ngay cạnh chiếc ghế trống khi đọc diễn văn ở Stockholm”.)[3]

Bằng cách này hay cách khác, Mạc Ngôn cũng đành phải “thuyết pháp” vậy – một “cách diễn đạt”. Từ quan điểm của chế độ, cách nào có thể gây ra ít tổn thất nhất? Nếu Mạc Ngôn nói với thế giới rằng, Lưu Hiểu Ba là tội phạm cần phải bỏ tù, hình ảnh của chính Mạc Ngôn sẽ xấu đi rất nhiều, và niềm vinh quang của việc thắng giải – niềm vinh quang mà chế độ muốn khuyếch trương và bay lên cùng nó – sẽ đâm đầu xuống đất. Mặt khác, nếu quả thật Mạc Ngôn lại đứng về phía Lưu Hiểu Ba, người đã nhiều lần viết rằng, “việc bỏ tù vì những lời phát biểu” luôn luôn và trên nguyên tắc là sai, thì chế độ cũng chẳng lợi lộc gì. Tốt nhất, có lẽ là một lời phát biểu “trung dung”, nhẹ nhàng về hy vọng là Lưu sẽ sớm được thả.

Một cụm từ trong lời phát biểu trên đã khiến cho cách lý giải này càng đặc biệt hợp lý. Ông đã lặp lại từ “tự do” để nhấn mạnh rằng nó phải là sự tự do với sức khỏe dồi dào. Liệu Mạc Ngôn có biết về tình hình sức khỏe hiện nay của Lưu Hiểu Ba hay không? Chưa chắc. Chỉ có Lưu Hà (劉霞), vợ Hiểu Ba, mới được gặp ông trong những tháng gần đây, nhưng bà bị buộc phải im lặng tuyệt đối, nếu không, quyền thăm viếng sẽ bị cắt. Mạc Ngôn có thể chỉ đơn thuần lưu tâm tới một sự thật là trong khi bị giam giữ, sức khỏe của những nhà bất đồng chính kiến khác thường bị suy yếu, đôi khi còn trầm trọng nữa kia. Song chúng ta được biết chắc rằng, vợ chồng Lưu có thể đang bị chế độ gây áp lực ép họ chấp nhận rời Trung Quốc sống lưu vong. 
Những người bất đồng chính kiến trong khi lưu vong thường ít gây khó khăn cho chính quyền hơn là lúc họ còn ở trong nước. Luật sư nhân quyền khiếm thị Trần Quang Thành (陳光誠) người trong tháng tư vừa qua (2012) đã trốn khỏi cảnh quản thúc tại gia ở Sơn Đông và lánh nạn tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh, hiện nay đang ở New York, khiến chế độ đỡ đau đầu hơn rất nhiều, so với khi ông còn ở Sơn Đông hoặc Bắc Kinh.

Và chuyện này liên quan gì đến “sức khỏe dồi dào”? Uyển ngữ ưa thích của chế độ khi muốn đẩy những người bất đồng chính kiến ra khỏi nước là nói “họ đi chữa bệnh”. Tháng 6 – 1990, chẳng hạn, khi nhà vật lý thiên văn Phương Lệ Chi (方勵之), một người bất đồng chính kiến, được thả cho đi sang Anh, (chính quyền Trung Quốc khăng khăng yêu cầu ông phải sống ít nhất sáu tháng ở “một nước thứ ba” trước khi đi Mỹ), “đi chữa bệnh” là cái cớ mà chế độ viện ra khi họ đàm phán với những nhà ngoại giao Anh. Phương Lệ Chi đã chấp nhận trò chơi chữ này, thậm chí sức khỏe của ông chẳng có vấn đề gì. Cụm từ “sức khỏe dồi dào” của Mạc Ngôn liệu có phải là do chính quyền Trung Quốc mớm cho ông không, có thể là cách họ chuẩn bị dư luận quốc tế cho Lưu Hiểu Ba “đi chữa bệnh ở nước ngoài”? Tôi không rõ, nhưng dường như nó là một lời giải thích khả hữu cho việc tại sao cụm từ này lại bật ra trong phát biểu của Mạc Ngôn.

Một sự thật là hệ thống kiểm duyệt Trung Quốc đã xóa phát biểu của Mạc Ngôn trên mạng internet nội địa. Việc này hoàn toàn phù hợp với cách lý giải trên. Đối tượng của trò chơi chữ “được trả lại tự do với sức khỏe tốt” (nếu nó là như vậy) có thể không phải là nhân dân Trung Quốc, mà là cộng đồng quốc tế, những người sẽ tiếp nhận Lưu Hiểu Ba, nếu ông chịu lưu vong, và những người đang có ấn tượng tốt với khôi nguyên Nobel mới, cái ấn tượng mà chế độ thiết tha muốn gìn giữ.

Những nhà văn Trung Quốc hôm nay, dù ở “bên trong hệ thống” hay không, tất cả đều phải có sự lựa chọn nên hành xử thế nào với chính quyền toàn trị của đất nước họ. Việc này không thể nào tránh khỏi những toan tính, trao đổi, và bưng bài theo nhiều kiểu. Những chọn lựa của Lưu Hiểu Ba đã là hết sức khác thường. Những phản ứng của Mạc Ngôn “bình thường” hơn, gần với trung tâm của đường cong hình chuông.[4] Sẽ là sai đối với những khán giả như tôi và bạn, những người có một khoảng cách thoải mái, lại yêu cầu Mạc Ngôn phải hy sinh tất cả và trở thành một Lưu Hiểu Ba nữa. Tuy nhiên, sẽ sai nhiều hơn nếu không thấy rõ sự khác biệt giữa hai người.

___________
Nguồn: Perry Link, “Does this writer deserve the prize?” The New York Review of Books, 6.12.2012
Bản tiếng Việt © 2013 Bùi Xuân Bách & pro&contra



[1] Nguyên văn trong bản tiếng Anh dùng bính âm Bắc Kinh (pinyin), vì không có chữ Hán để chuyển chính xác sang âm Hán Việt, chúng tôi phỏng dịch Wang Xiaohong là Uông Tiểu Hồng. Thành thực xin lỗi bạn đọc về sự bất tiện này.
[2] Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo được Giải Nobel Vật lý năm 1957, khi đó còn là công dân Đài Loan, sau này xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Họ có quan hệ gần gũi với Trung Hoa đại lục.
Yang Zhenning – Dương Chấn Ninh (楊振寧), cũng còn viết Chen Ning Yang.
Li Zhengdao – Lý Chính Đạo (李政道), cũng còn viết Tsung-Dao Lee.
[3] Bằng chứng nhận Giải Nobel Hòa bình của Lưu Hiểu Ba được đặt lên một chiếc ghế trống trong buổi lễ trao giải tại Oslo, tháng 12-2010. Sau đó, chính quyền Trung Quốc đã cấm cụm từ “chiếc ghế trống” trên mạng internet trong nước. Theo thông tin từ Oslo, tại lễ trao giải trong ngày thứ Sáu ngày 10/12, 19 quốc gia không tham dự, trên tổng số 194 các quốc gia toàn thế giới, là: Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Colombia, Tunisia, Ả Rập Saudi, Pakistan, Serbia, Iraq, Iran, Kazakhstan, Afghanistan, Venezuela, Ai Cập, Sudan, Ukraine, Cuba, Morocco và Philippines. Trong buổi lễ trao giải sáng 10/12/2010 tại Oslo, do ông Lưu Hiểu Ba vẫn bị giam và thân nhân của ông bị quản thúc hoặc công an giám sát nên ban tổ chức đã chọn một động thái biểu tượng. Trước chiếc ghế trống, chủ tịch Ủy ban Nobel Thorbjoern Jagland nhắc lại rằng: “Ông Lưu Hiểu Ba không làm điều gì sai trái. Ông chỉ hành xử quyền công dân của mình mà thôi”.
[4] Đường cong hình chuông: Biểu đồ của một hàm Gauss là một đường cong đối xứng đặc trưng “hình quả chuông”. Hàm số này được sử dụng rộng rãi, nhất là trong thống kê.