Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Hoàng Hưng - Đảng phải tự lột xác nếu không muốn bị lột xác



Hoàng Hưng

Xin nói ngay rằng, đầu đề trên tôi lấy từ một ý kiến “góp ý với Đảng” trên báo Lao Động Chủ Nhật cách đây 20 năm, lúc làn gió “Đổi mới” đang ào ào trên khắp đất nước (chưa bị Đảng chặn lại và cố thổi ngược sau đó). Lúc ấy, nhiều đảng viên cũng như trí thức các cỡ vẫn còn tin/hy vọng Đảng “đổi mới” thực sự và toàn diện.


Nhưng sau một lúc hoang mang trước khủng hoảng chính trị của cả phe XHCN và tạm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế nhờ đường lối tự do hóa, lại bấu chặt được vào kẻ thù chưa xa bỗng thành ra “bạn vàng” rất gần, Đảng trấn tĩnh lại và hạ quyết tâm chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị. Cho nên câu dự đoán táo bạo trên của một đảng viên tâm huyết tạm thời chưa đúng. Sau 20 năm, Đảng vẫn chưa bị lột xác, mà còn hăm hở lột xác ngày càng nhiều người bất đồng chính kiến.

Đến hôm nay, tình hình ra sao?

Đổi mới kinh tế sau 20 năm thu được một số thành tựu, nhưng đã nhanh chóng thụt lùi và lại đang ở đêm trước của cuộc khủng hoảng mới. Nguyên nhân chủ yếu: Đổi mới nửa vời, có tự do hóa (cho tư nhân kinh doanh) nhưng vẫn kiên trì “thành phần chủ đạo” kinh tế nhà nước. Kết quả đã biết trước: quả đấm “chủ đạo” này đấm thẳng như trời giáng vào nền kinh tế quốc dân.

Giờ Đảng lại phải sửa soạn cuộc “đổi mới” lần hai. Cũng vẫn tư duy cũ: chỉ đổi mới kinh tế (tiến thêm một bước: có thể không còn khẳng định “kinh tế nhà nước” là chủ đạo), còn chính trị thì đổi mới một cách rụt rè e thẹn (nhấn mạnh “trên giấy” quyền con người kèm theo đủ thứ ràng buộc để sẵn sàng tước bỏ trên thực tế,… nhưng vẫn khăng khăng “điều 4” hiến định sự độc quyền của Đảng).

Với tư duy ấy, kết quả những năm tới của đất nước cũng có thể biết trước: Nếu kinh tế nhà nước – tức sự độc quyền kinh tế - đã đấm nát nền kinh tế quốc dân, thì tới đây, độc quyền của Đảng trên lĩnh vực chính trị chắc chắn sẽ làm tan hoang toàn bộ đời sống xã hội vốn đang lao nhanh trên con đường băng hoại chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc.

Nếu 20 năm trước, Đảng quyết định biến kẻ thù cũ thành “bạn vàng” để bấu vào mà tồn tại, thì tình thế hôm nay không cho phép nữa! Thực tế đã chứng tỏ chính sự bấu víu này là nguyên nhân đẩy nhanh đất nước đến nguy cơ mất mát lãnh thổ, mất quyền tự chủ và nhiều hiểm họa khôn lường khác. Lòng dân đang hết sức bức xúc! Trước nguy cơ đánh mất tính chính danh của một đảng từng tự hào có công giành độc lập dân tộc, Đảng đang rất lúng túng tìm cách thoát ra nghịch cảnh “còn Đảng mất nước, còn nước mất Đảng”.

Là một người cầm bút từng chịu sự lãnh đạo của Đảng gần hết đời (không tự nguyện nhưng biết là chưa thể khác, chỉ cố gắng giữ gìn “chút lòng trinh bạch” bằng cách không vào Đảng và không nhận bất cứ bổng lộc nào của Đảng), tôi vẫn băn khoăn “nghĩ hộ” Đảng (vô duyên?) cách thoát ra an toàn (vì nó cũng sẽ an toàn cho toàn dân tộc). Nhiều Đảng viên ưu tú đã chân thành vạch lối ra cho Đảng, nhưng Đảng chưa chịu nghe mà còn sách nhiễu họ đủ điều. Đảng còn quá tự tin vào “chính quyền trên mũi súng” của mình, còn quá khinh thường lòng dân?

Nhưng với bản Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 2013 vừa đây, mới mấy ngày đã thu được hàng ngàn chữ ký, trong đó lần đầu tiên có các cựu quan chức cao cấp và rất nhiều Đảng viên cỡ bự tham gia bất chấp mười mấy điều cấm mà Đảng ban hành, hồi chuông cấp báo đã rung lên! Triệt để và mạnh mẽ hơn hẳn Hiến chương 77 mở đầu cao trào dân chủ dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp 2013 là dấu son lịch sử của cách mạng Việt Nam. Rất có thể nó sẽ dẫn đến một cuộc thanh trừng khủng bố khốc liệt, rất có thể hàng trăm người bị bắt, bị truy bức, bị đưa vào trại “phục hồi nhân phẩm” hoặc “nhà thương điên”, bị đụng xe, bị côn đồ hành hung… nhưng sẽ không gì cưỡng nổi ngọn triều dân chủ cuồn cuộn mà Kiến nghị đã phát động.

Vào lúc này, tôi bỗng nhớ đến câu góp ý với Đảng trên báo Lao Động Chủ Nhật cách đây 20 năm. Tôi muốn lấy lại câu ấy để nói với Đảng nhân ngày kỷ niệm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930 – 3/2/2013). Với tất cả sự chân thành. Vì nhớ đến những ngày tháng đẹp đẽ trong quá khứ của Đảng, với bao người con ưu tú đã hy sinh thân mình vì nền độc lập, vì nhớ đến lòng tin của bao nhiêu trí thức đã lựa chọn đi theo Hồ Chí Minh trong đó có cụ thân sinh ra tôi, vì nhớ đến những ngày tháng thanh xuân đẹp nhất của mình đã nghe lời kêu gọi của Đảng nguyện lên đường phục vụ công nông binh, vì lòng yêu mến nhiều người thầy, người anh, người bạn đã và đang là những đảng viên trung thực của Đảng. Vì tấm gương Myanmar trước mắt khi nhà độc tài và người đối lập bắt tay nhau xóa bỏ quá khứ hận thù để xây dựng một đất nước của tương lai.

ĐẢNG PHẢI TỰ LỘT XÁC NẾU KHÔNG MUỐN BỊ LỘT XÁC!

Mà trước mắt, hãy bước đi một bước nhỏ nhưng sẽ là bước nhảy vĩ đại: tự xóa bỏ “Điều 4” phi lý nực cười trong Hiến pháp. Nhân đây xin sửa câu nói thiếu thông minh của một người đồng tuế: “Bỏ điều 4 là tự sát” thành “Bỏ điều 4 là tự cứu”!

SG cuối tháng 1/2013

H. H.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Trần Văn Thọ - Khi lãnh đạo và trí thức cùng nhìn một hướng



Trần Văn Thọ

Trí thức có thể đối lập với chủ trương của lãnh đạo nếu thấy chủ trương đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước, hoặc thấy không khoa học, không hợp với quy luật khách quan.

Thông thường trí thức là người hiểu biết, có trình độ văn hóa cao, có kiến thức chuyên môn, và không bị ràng buộc vào (hoặc có ý thức tránh xa) những lợi ích phát sinh từ quan hệ với lãnh đạo chính trị. Trí thức có thể đối lập với chủ trương của lãnh đạo nếu thấy chủ trương đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước, hoặc thấy không khoa học, không hợp với quy luật khách quan. Nhưng cũng không hiếm những trường hợp lãnh đạo và trí thức tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và trí thức giúp lãnh đạo làm nên sự nghiệp cao cả, đưa đất nước vào thời đại xán lạn. Ngày xưa không thiếu những trường hợp minh quân gặp hiền tài và cùng làm nên nghiệp lớn. Lưu Bang gặp Trương Lương, Lê Lợi gặp Nguyễn Trãi là những ví dụ.

Trong thời đại ngày nay, xã hội phức tạp hơn, vai trò của trí thức và sự thể hiện vai trò đó cũng đa dạng hơn. Lãnh đạo tìm đến trí thức có thể trực tiếp "tam cố thảo lư" nhưng cũng có thể qua nhiều kênh gián tiếp. Chẳng hạn lãnh đạo thường quan tâm đến trí thức, thường đọc sách, đọc báo thì có thể tìm thấy những ý tưởng hay, những đề khởi về con đường phát triển để tham khảo cho các quyết sách chiến lược. Tiền đềở đây dĩ nhiên là phải có tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để trí thức có cơ hội phát biểu ý kiến của mình. Mặt khác, nếu xuất hiện nhà chính trị có văn hóa, có đạo đức và tỏ ra có bản lãnh, có lý tưởng vì đất nước thì qua các quan hệ xã hội hoặc qua các kênh nghiên cứu, thảo luận rộng rãi, họ có thể quy tụ được bên mình nhiều trí thức tài năng, tâm huyết.

Vào cuối thập niên 1950 ở Nhật Bản, xuất hiện mẫu người lãnh đạo lý tưởng đó và trí thức, trí tuệ của xã hội đã cùng với người đó làm nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử thế giới: Chỉ trong 10 năm đã biến một nước có thu nhập trung bình và mới vừa phục hồi sau chiến tranh trở thành một nước có thu nhập cao, thay đổi hẳn đời sống của đại đa số dân chúng và sánh vai với các cường quốc kinh tế trên thế giới.

Tình hình chính trị, xã hội ở Nhật vào nửa sau thập niên 1950 rất phức tạp vì bất đồng trong dư luận và giữa các chính đảng liên quan đến chính sách ngoại giao với Mỹ.


 Ikeda Hayato và John Kennedy (trái)    

Về kinh tế, năm 1956 đánh dấu sự thành công của nỗ lực phục hưng hậu chiến. Mức sản xuất đã khôi phục lại mức cao nhất thời tiền chiến. Nhưng cũng trong bối cảnh đó xảy ra tranh luận sôi nổi về hướng phát triển sắp tới. Chưa có ai vẽ ra được viễn ảnh và đưa ra chiến lược có sức thuyết phục.

Trong tình hình dân chúng đang mệt mỏi vì không khí chính trị, xã hội căng thẳng, và không có viễn ảnh về tương lai kinh tế, một chính trị gia kiệt xuất đã xuất hiện. Đó là Ikeda Hayato (1899-1965). Ikeda nguyên là quan chức Bộ Tài chính, làm đến chức thứ trưởng thì ứng cử vào hạ viện. Trong lúc tham gia nội các, giữ các chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Công thương, ông đã quyết chí ứng cử vào chức đảng trưởng đảng cầm quyền LDP (đồng thời là thủ tướng) để thực hiện giấc mơ đưa nước Nhật lên ngang hàng với các nước tiên tiến Âu Mỹ.

Ikeda nguyên là một quan chức mẫu mực, một lãnh đạo chính trị đức độ, thanh liêm. Lúc làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đầu thập niên 1950, ông dẫn đầu một phái đoàn công du sang Mỹ. Trong tình trạng ngân sách nhà nước hạn hẹp, ông đã tiết kiệm kinh phí đến mức chỉ thuê khách sạn ba sao và hai ba người (kể cả Bộ trưởng) ở chung một phòng. Ban ngày đoàn của ông đi làm việc với chính phủ Mỹ, buổi tối mọi người tập trung tại phòng ông để kiểm điểm công việc trong ngày và bàn nội dung làm việc cho ngày hôm sau. Khách sạn nhỏ nên phòng không có bàn, mọi người phải ngồi bệt trên sàn bàn công việc.

Cùng với đức độ và tinh thần trách nhiệm mà nhiều người đã biết, Ikeda đã được dư luận nhất là giới trí thức đánh giá cao qua những phát biểu về nhiệm vụ của người làm chính trị, về phương châm phát triển đất nước mà ông sẽ thực thi nếu được làm thủ tướng. Có mấy điểm đáng chú ý. Thứ nhất, ông cho rằng giai đoạn sắp tới phải là thời đại kinh tế, Nhật phải tận dụng tiềm năng về nguồn nhân lực của mình và hoàn cảnh thuận lợi của thế giới để vươn lên hàng các nước tiên tiến. Thứ hai, triết lý chính trị là vì dân, vì cuộc sống của dân chúng nên mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là phải tăng thu nhập của toàn dân và mở rộng mạng an sinh xã hội để giúp người không theo kịp đà phát triển chung.

Nhưng nguyện vọng, quyết tâm của nhà chính trị phải được cụ thể hóa bằng chiến lược, chính sách, trước mắt là được đồng tình của dân chúng, tiếp theo là phải được thực hiện có hiệu quả. Lúc này Ikeda cần đến trí thức.

Đang suy nghĩ tìm kiếm một ý tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển đất nước, Ikeda đọc được bài viết "Luận về khả năng bội tăng tiền lương" của giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro đăng trên báo Yomiuri. Trong bài viết đó, Nakayama bàn về khả năng cũng như điều kiện để tăng gấp đôi tiền lương thực chất, cải thiện hẳn mức sống của dân chúng.

Theo gợi ý của giáo sư Nakayama, Ikeda thai nghén một chiến lược phát triển gọi là "Bội tăng thu nhập quốc dân" và lập ra một nhóm bảy người gồm các trí thức tên tuổi và các quan chức, các cộng sự tài giỏi để triển khai cụ thể chiến lược này. Đặc biệt trong số này có Shimomura Osamu (1910-1989), nhà kinh tế vừa giỏi lý luận vừa hiểu thực tiễn và có năng lực hình thành các chính sách cụ thể.

Lúc đó ở Nhật đang có tranh luận sôi nổi về hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Ý kiến chủ đạo lúc đó là trong giai đoạn phục hưng hậu chiến vừa qua, kinh tế Nhật phát triển khá cao (trung bình độ 8%/năm) vì khởi điểm quá thấp, trong giai đoạn tới tốc độ phát triển chỉ có thể bằng mức cao nhất thời tiền chiến (độ 4%) hoặc hơn một chút (5%).

Chủ trương của Shimomura thì khác. Ông cho rằng Nhật đã qua thời hỗn loạn hậu chiến, hiện nay tiết kiệm trong dân đang tăng, đất nước đang mở cửa hội nhập với thế giới nên công nghệ nước ngoài sẽ được du nhập dễ dàng; đó là hai tiền đề để đầu tư tích lũy tư bản. Đầu tư có hai hiệu quả là vừa tăng tổng cầu vừa tăng khả năng cung cấp (sản xuất) của nền kinh tế. Do đó có thể nói kinh tế Nhật đang bước vào thời đại bột phát mạnh mẽ. Thời phục hưng hậu chiến phát triển 8% nên thời đại mới ít nhất phải là 10%. Ngoài giải thích về mặt lý luận, Shimomura còn dẫn chứng bằng các kết quả tính toán chi tiết nên rất có sức thuyết phục. Trợ lý cho Shimomura là hai chuyên viên trẻ, hồi đó chưa có máy tính nên việc tính toán rất mất thì giờ. Trong nhóm bảy người còn có các nhà kinh tế nổi tiếng khác như Inaba Shuzo, Takahashi Kamekichi, và một quan chức tài giỏi là Miyazawa Kiichi (sau này cũng làm thủ tướng). Ikeda trực tiếp tham dự nhiều buổi họp thâu đêm của nhóm này.


Tượng của Ikeda Hayato tại Hiroshima    

Được nhóm chuyên viên, trí thức triển khai về mặt lý luận và các chính sách cụ thể, Ikeda tự tin và đã quyết định lấy Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân làm cam kết chính trị trong cuộc tranh cử vào vị trí chủ tịch đảng. Ikeda thắng cử và trở thành thủ tướng vào tháng 7 năm 1960.

Cốt lõi của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân là toàn dụng lao động, làm cho dân chúng thấy cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Phương châm cơ bản là tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tích cực đầu tư. Công việc của chính phủ chỉ là cố gắng tiết kiệm công quỹ để có thể giảm thuế nhằm kích thích đầu tư, đầu tư xây dựng hạ tầng, và bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển là công nghiệp hóa, là phát triển ngành dịch vụ nên lao động phải chuyển dần từ nông nghiệp sang các khu vực phi nông. Do đó Ikeda đã nhấn mạnh phải ra sức giáo dục bậc cao đẳng và hướng nghiệp để quá trình chuyển dịch lao động không bị gián đoạn.
Mặc dù Shimomura chủ trương phát triển mỗi năm 10% (thu nhập quốc dân sẽ gấp đôi trong bảy năm), nhưng để dung hòa với nhiều ý kiến khác, trong kế hoạch được công bố, kinh tế sẽ tăng trưởng độ 7,2% và thu nhập quốc dân tăng gấp đôi trong 10 năm (1960-1970).

Khi nhậm chức thủ tướng, ngoài bài phát biểu về kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, Ikeda còn tuyên bố nhiều ý tưởng được sự đồng tình của dân chúng. Chẳng hạn, "Làm chính trị là nâng cao mức sống của dân chúng. Phát triển kinh tế phải trên tiêu chuẩn tăng thu nhập toàn dân, làm cho mọi người dân cảm nhận thực sự là kinh tế đang phát triển", hoặc "Chính trị mà để người nghèo không được đi học là chính trị tồi".

Ikeda đã thổi vào xã hội một không khí phấn chấn, tin tưởng vào tương lai. Doanh nghiệp tích cực đầu tư, mọi người hăng hái làm việc. Trong bối cảnh đó, đúng như dự đoán của Shimomura, kinh tế phát triển trên 10%, chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đạt được mục tiêu chỉ trong bảy năm, thay vì 10 năm như kế hoạch ban đầu. Theo giá thực tế năm 2000, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Nhật vào năm 1960 là 7.700 USD, đến năm 1970 tăng lên 16.600 USD. Mức chi tiêu của một gia đình giới lao động vào năm 1960 trung bình mỗi tháng là 32.000 yen, đến năm 1970 đã tăng lên 83.000 yen. Lương tháng của công nhân trong ngành công nghiệp đã tăng từ 23.000 yen năm 1960 lên 72.000 yen năm 1970. Trừ đi độ trượt giá mỗi năm vài phần trăm, trên thực chất thu nhập của giới lao động đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Ngoài ra, số lao động có việc làm tăng nhiều hơn so với kế hoạch và số giờ làm việc mỗi tháng của giới lao động giảm từ 203 giờ còn 187 giờ. Thập niên 1960 cũng là giai đoạn người Nhật chứng kiến nhà nhà có tủ lạnh, quạt máy, máy giặt, TV,...

Ikeda bị bệnh và mất sớm (năm 1965), lúc đương tại chức thủ tướng. Ông không sống đến hết giai đoạn của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, nhưng đã chứng kiến những thành tựu bước đầu, cụ thể là ba sự kiện xảy ra trong năm 1964: Tổ chức Olympic Tokyo thành công, khai trương đường sắt cao tốc (Shinkansen) Tokyo-Osaka và Nhật trở thành thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), một tổ chức của các nước tiên tiến.

Nhà chính trị Ikeda Hayato và nhóm trí thức cộng tác với ông đã biến giấc mơ của mình thành giấc mơ của toàn xã hội. Họ là những người hiểu được nguyện vọng của người dân và quyết chí đáp ứng bằng trí tuệ và tâm huyết của mình.

Tokyo, Xuân Quý Tỵ 2013

T. V. T.
Nguồn: vietnamnet.vn


Bùi Tín - Xây dựng Hiến pháp mới



Bùi Tín

Việc nhân dân góp ý để xây dựng Hiến pháp 2013 đang được thực hiện. Ý định của lãnh đạo đảng và nhà nước là lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng (từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 3) dựa vào bản dự thảo đã được công bố. Bản tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được trình bày tại phiên họp Quốc hội vào giữa năm nay, sau đó bản dự thảo được sửa đổi bổ sung cuối cùng sẽ được Quốc hội xem xét và biểu quyết tại phiên họp trong tháng 10.


Nhưng công việc không đơn giản như thế.

Ngay sau khi bản dự thảo đầu tiên được công bố, đã có ý kiến khá gay go về quá trình xây dựng bản dự thảo cũng như nội dung của bản dự thảo này.

Trước hết đã có ý kiến của hàng ngàn trí thức tiêu biểu yêu cầu kéo dài thêm thời gian lấy ý kiến của nhân dân, vì 3 tháng xem ra không thể đủ. Lý lẽ của ý kiến này là Hiến pháp cực kỳ hệ trọng, nhất là khi toàn dân mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự, việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trở nên nền tảng của cuộc sống toàn dân. Do đó, không thể làm hình thức, qua loa được.

Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân không hài lòng với bản dự thảo vừa công bố, vì tuy đề ra hàng trăm điều sửa đổi, nhưng lại hoàn toàn bỏ qua những thay đổi cơ bản cần thiết và cấp bách nhất. Trong những ý kiến này, có 2 đề nghị cực kỳ quan trọng rất khó lòng bác bỏ, đó là đổi tên gọi từ Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) thành Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) như trước đây; đồng thời có ý kiến yêu cầu đảng Cộng sản Việt Nam nên chọn cho mình một tên gọi khác thích hợp với thực tế và khoa học hơn.

Hiện nay VN gần như là nước duy nhất còn mang danh xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trung Quốc vẫn là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cuba nay là nước Cộng hòa Cuba. Libya đã từ bỏ danh xưng XHCN. Miến Điện cũng không còn tự gọi là một nước XHCN nữa.

Hơn nữa hiện nay chưa ai chỉ ra được hình thù chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa Cộng sản (CNCS) ở nước ta nó ra sao, mang những đặc điểm cụ thể gì, bao lâu nữa sẽ hình thành, qua mấy kế hoạch 5 năm, qua mấy chiến lược 10 năm. Trong Hiến pháp không thể ghi những khái niệm chung chung, mơ hồ, xa vời. Hơn nữa CNCS kiểu Mác-Lênin trong thực tế đã bị phá sản triệt để ở Liên Xô cũ và Đông Âu; vài nước còn theo chủ nghĩa này đang lâm vào tình trạng khủng hoảng cả trên lý luận lẫn thực tiễn. CNCS đã bị lên án là một sai lầm khủng khiếp của lịch sử, là tội ác chống nhân loại, với hơn một trăm triệu nạn nhân được ghi rõ trên một tượng đài kỷ niệm ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ. Trên khắp châu Âu, CNCS kiểu Mác-Lênin cũng bị cấm truyền bá và bị coi là tội ác lớn hơn cả tội ác của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Vậy thì đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)có nên giữ tên gọi như cũ, vẫn khẳng định trung thành với học thuyết Mác-Lênin, vẫn kiên định CNXH kiểu Mác-Lênin hay không? Lẽ phải, khoa học, uy tín của đảng, danh dự dân tộc, thể diện quốc gia đều yêu cầu phải sửa đổi.

Có ý kiến nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý gọn, nhanh về vấn đề trên vì đã chín trong lý lẽ, trong dư luận rồi.

Nếu đổi tên nước thành Nước VNDCCH thì sẽ có sự thay đổi tận gốc rễ từ chế độ độc đảng sang chế độ đa đảng, sẽ cần một đạo luật để sự chuyển đổi diễn ra trong luật pháp, trật tự, từ đó sẽ phải sửa rất nhiều điều khoản cho đồng bộ. Hiến pháp hiện hành, nếu được sửa đổi một cách cơ bản, hoặc tốt hơn nữa là được thay đổi bằng một văn kiện hoàn toàn mới theo đúng mệnh lệnh của đất nước, ý nguyện của toàn dân, và yêu cầu của thời đại, sẽ mang lại một diện mạo mới mẻ cho đất nước. Sự chuyển đổi này có giá trị như một cuộc cách mạng dân chủ sâu sắc.

Ngoài ra có mấy vấn đề hệ trọng khác cần được trao đổi, đối thoại rộng rãi trong dư luận. Đó là vấn đề sở hữu nhiều thành phần về ruộng đất như tại hầu hết các nước khác, từ đó khôi phục quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ xưa; vấn đề tách rời ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để có kiểm soát và cân bằng quyền lực; vấn đề không coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế chung…

Mới có vài tuần lễ bản dự thảo được đưa ra công luận, đã có phản ứng và hồi âm ngay. Đã có yêu cầu mạnh mẽ, dứt khoát chuyển thật sự sang một chế độ dân chủ đa nguyên. Trong số người đông đảo đã ghi tên đóng góp ý kiến, người ta thấy có những nhân vật rất nổi tiếng, mới cũng như cũ, thuộc cả hai giới nam nữ, từ mọi miền Bắc, Trung, Nam, thuộc mọi lứa tuổi, có cả người ngoài đảng CS và trong đảng. Lý lẽ của họ rất rõ ràng, lập luận công phu, Ban Lý luận Trung ương, và 900 “lý lẽ viên” của Thành ủy Hà Nội khó lòng bác bỏ nổi.

Lúc này chính là lúc Bộ Chính trị cần lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân hơn lúc nào hết. Bộ Chính trị đã bỏ qua quá nhiều thời cơ và lãng phí quá nhiều thời gian của đất nước. Hãy lắng nghe tiếng nói của nông dân bị mất ruộng đất, của các nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị chèn ép, của tuổi trẻ nhiều ước mơ bị vùi dập. Trong khi đó, nạn tham nhũng đang ngang nhiên hoành hành, xã hội băng hoại vì kỷ cương buông lỏng từ trên cao, y tế xuống cấp, giáo dục lạc hậu, đều liên quan đến tệ quan liêu, độc đoán, thiếu vắng dân chủ.

Trong công cuộc sửa đổi Hiến pháp, tạo ra Hiến Pháp Dân chủ năm 2013, có thể nói trên thực tế đã hình thành 2 nhóm lãnh đạo đối lập nhau. Một bên là lãnh đạo của đảng CS mà đại diện chính là Bộ Chính trị hiện nay, có vẻ như không mặn mà với việc sửa đổi Hiến pháp, hài lòng với bản dự thảo hiện tại, gồm có hàng trăm thay đổi vụn vặt, thứ yếu, tránh né những thay đổi cơ bản cần thiết đã hoàn toàn chín muồi.
Một bên là một số trí thức khá đông đảo, chất lượng cao, không ít người là cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước, một số từng là cán bộ lãnh đạo, cùng thanh niên, phụ nữ, lao động, nông dân, nhà kinh doanh… có trình độ và tâm huyết, mong muốn một cuộc thay đổi đúng mức, theo hướng dân chủ đa nguyên, hòa nhập với thế giới dân chủ hiện đại, có lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.

Đây là một cuộc đấu tranh ôn hòa, bằng lý lẽ, qua lập luận, tranh luận, thuyết phục nhau, qua hội họp, bài nói và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng mở rộng, lấy nhân dân cử tri cả nước làm trọng tài. Đây là dịp để nhân dân ta tập dượt thực thi quyền dân chủ của cử tri trong xã hội, với thái độ ôn hòa, xây dựng, bình đẳng tương kính trong một xã hội văn minh, có hàng ngàn năm văn hiến.

Do có thể có những bất đồng gay gắt, cần đề phòng trước những thái độ nóng nảy, thành kiến, chụp mũ nhau, không lắng nghe rõ ý kiến của nhau, và nên luôn luôn lấy quyền lợi tối cao của nhân dân của đất nước làm trọng.

Đất nước quê hương ta đã qua một thời kỳ chến tranh bi thảm, nay là một dịp quý hiếm để chung sức chung lòng tạo nên một đạo Luật Cơ bản làm nền tảng vững vàng cho một chế độ dân chủ đa nguyên mà nhiều nước đã thực hiện từ thế kỷ XVIII như Hoa Kỳ và Pháp, những gương sáng từng được ghi đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước VNDCCH.

Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước có đóng góp nhưng cũng có nhiều sai lầm trong trách nhiệm của mình, nay có phần trách nhiệm chủ yếu trong việc điều hành xây dựng bản hiến pháp mới năm nay. Quần chúng nhân dân đang thức tỉnh về nền dân chủ đa nguyên ưu việt đặt niềm tin trên vai tập thể trí thức dân tộc đã có sáng kiến đề ra những tuyên bố, kiến nghị, lời kêu gọi vừa qua.

Lịch sử sẽ ghi nhận thái độ đúng đắn, trọng lẽ phải, vì nhân dân, thức thời tự nguyện rời bỏ vai trò độc quyền độc tôn lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, chủ động sát cánh cùng toàn dân xây dựng nền dân chủ đa nguyên ưu việt, một bước tiến mạnh mẽ lên phía trước của nền văn minh nhân loại.


Trọng Nghĩa - Trục quân sự Bắc Kinh-Phnom Penh: Thêm một mối lo cho Thái Lan và Việt Nam



Trọng Nghĩa

Trong một buổi lễ kín đáo tại Phnom Penh ngày 23/01/2013, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cam Bốt Moeung Samphan và Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Thích Kiến Quốc (Qi Jianguo), đã ký kết một thỏa thuân về hợp tác quân sự song phương. Bắc Kinh sẽ tài trợ cả trăm triệu đô la cho Phnom Penh để mua vũ khí của Trung Quốc, đồng thời tiếp tục công tác huấn luyện cho quân đội Cam Bốt. Theo giới phân tích, sự tăng cường đáng kể hợp tác quân sự Bắc Kinh-Phnom Penh chắc chắn sẽ làm cho hai láng giềng lớn của Cam Bốt là Thái Lan và Việt Nam lo ngại.



Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cam Bốt Moeung Samphan (phải) và Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Thích Kiến Quốc (trái) tại trụ sở Bộ Quốc phòng Cam Bốt, 23/01/2013. - REUTERS/Samrang Pring


Trong khuôn khổ thỏa thuận vừa ký, như vậy là Cam Bốt sẽ có tiền để mua ngay 12 chiếc phi cơ trực thăng loại Zhi-9 do Trung Quốc chế tạo, một hỗ trợ đáng kể cho Quân đội Hoàng gia Cam Bốt. Đây không phải là lần đầu tiên mà Bắc Kinh đóng vai người cung cấp trang thiết bị quân sự cho chính quyền Hun Sen. Vào năm 2010 chẳng hạn, Trung Quốc đã cung cấp cho quân đội Cam Bốt 250 chiếc xe jeep và xe vận tải.
Lẽ dĩ nhiên, Bắc Kinh không phải là nước duy nhất có hợp tác quân sự với Phnom Penh, nhưng trong bối cảnh Cam Bốt càng lúc càng biểu lộ thái độ thần phục Trung Quốc, việc hai nước này tăng cường hợp tác quân sự không khỏi gây quan ngại nơi hai láng giềng là Thái Lan và Việt Nam - từng có vấn đề với Cam Bốt trong thời gian qua.

Quốc gia trước mắt lo ngại nhất có lẽ là Thái Lan. Nhật báo Bangkok Post, trong số ra ngày hôm qua, 28/01/2013, đã không ngần ngại thẩm định : Buổi lễ ký kết thỏa thuận hợp tác quân sự Trung Quốc-Cam Bốt hồi tuần trước, tuy được tổ chức đơn giản, nhưng chắc chắn sẽ gây xáo trộn trong khu vực.

Sở dĩ Bangkok lo ngại, đó là vì trong những năm gần đây, tranh chấp với Phnom Penh về đền Preah Vihear ở vùng biên giới giữa hai nước đã nổ bùng thành xung đột võ trang, gây tổn thất nhân mạng nơi cả hai phía. Trong bối cảnh tranh chấp này chưa được giải quyết, mọi yếu tố có thể giúp quân đội Cam Bốt tăng cường thực lực đều trở thành một mối hiểm nguy cho Thái Lan.

Mối lo của Thái Lan lại càng lớn hơn khi cũng vào tuần trước, các quan chức của ngành đường sắt Trung Quốc cũng đã ký một thỏa thuận thiết kế, tài trợ và xây dựng một tuyến đường sắt dài 404 km, chạy từ đền Preah Vihear đến Koh Kong, một tỉnh đảo Cam Bốt không xa bờ biển Thái Lan.

Tuyến đường sắt này chạy song song với gần như với toàn bộ đường biên giới Thái Lan – Cam Bốt, do đó sẽ là một lợi thế chiến lược rất lớn, cho phép Phnom Penh dễ dàng chuyển quân nếu chẳng may xung đột bùng nổ giữa hai nước.

Còn đối với Việt Nam, thái độ thân Trung Quốc của Cam Bốt, phá hoại lập trường thống nhất của ASEAN trên hồ sơ tranh chấp Biển Đông, thể hiện trong suốt năm 2012 vừa qua, đã cho thấy là Phnom Penh sẵn sàng vì lợi ích riêng của mình mà quên đi quyền lợi chung của toàn khối, kể cả của nước bạn đã từng giúp Cam Bốt thoát khỏi chế độ diệt chủng Khmer đỏ.

Mặt khác, trong lãnh vực quân sự, chắc chắn Việt Nam chưa quên thời kỳ Trung Quốc chi viện ồ ạt cho lực lượng Khmer Đỏ để tấn công vào sườn phía Nam của Việt Nam. Vào thời đó, rõ ràng là hợp tác quân sự Trung Quốc-Cam Bốt rất chặt chẽ. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có tái diễn hay không ?


Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

PHẠM XUÂN ÐÀI - CÁI CHẾT TRONG CA KHÚC PHẠM DUY





PHẠM XUÂN ÐÀI

Trong buổi lễ tưởng niệm Ðỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:

1.
Hồn xuân vừa tàn hơi
Hay nắng ấm lung linh qua đời
Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời
Người yêu dù xa xôi 
Xin nhớ tới quê hương u hoài
Trong giá rét đêm đông đang trông vời

Một lần người đưa tiễn nhau
Như vẫn cầu lời hứa năm nào
Ðằm thắm cho vui lòng nhau
Một lần người xa cách nhau
Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu
Vì đó... không ai quên đâu...

2.
Người đi về mai sau
Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu
Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu
Người đi vào không gian
Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn
Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn

Người về dần trong cõi mồ
Như lúc nào vừa mới ra đời
Chào đón xuân tươi ngày mới
Cuộc đời từ trong chiếc nôi
Ðã quay về cùng với gió bụi
Về chốn không tên, xa xôi...

Bài hát nói về cái chết, Phạm Duy dựa vào điệu nhạc Chanson de Solvejg viết lời lâu rồi, đã trên nửa thế kỷ, ít người biết, nhưng chạm sâu xa đến một vùng mà không mấy  người có khả năng nói tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ hiếm hoi nhiều lần nói về cái chết, và Khúc Ca Ly Biệt trên đây là bài hát hoàn toàn về sự biệt ly của chết chóc, một cách toàn diện, trong không gian, trong thời gian, trong thân phận kẻ lìa trần cũng như trong lòng người ở lại.


Phạm Duy là một nhạc sĩ sáng tác mãnh liệt về khắp các mặt của cuộc đời, nhưng lại luôn luôn nhắc đến cái chết, tuồng như ông thấy chết cũng là một hình thái biểu hiện sự sống. Ngay từ khi còn rất trẻ, trong khi say sưa viết lên cái khí thế bừng bừng đánh quân ngoại xâm giữa thời điểm 1945, ông cũng đã mường tượng đến sự chết rồi. Ông vừa viết xong bài Xuất Quân lẫm liệt Ngày bao hùng binh tiến lên thì đã nghĩ ngay đến hình ảnh ma quái của những Chiến Sĩ Vô Danh

Mờ trong bóng chiều 
Một đoàn quân thấp thoáng

Quân này là quân ma, họ đã ra đi chiến đấu và đã ra người thiên cổ, ông dùng ngay hình ảnh ấy để lay động lòng người đang đứng trước cuộc chiến giữ nước
Ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù.

Một thanh niên đang ở độ tuổi ngoài hai mươi, mang bầu máu nóng phụng sự cho đất nước mà đã sớm nhìn ra những hình ảnh của “cõi bên kia” như thế thì cũng là chuyện lạ. Bài Nợ Máu Xương lại càng lạ hơn nữa, vừa hiện thực vừa siêu thực, tả toàn cảnh chết chóc vì chém giết

Ai nghe không sa trường lên tiếng hú?
Tiếng lầm than, những tiếng người đời quên.
Ði lang thang tiếng cười vang tiếng hú
Xác không đầu nào kia?

Nghe phảng phất như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du! Phải chăng linh cảm mẫn nhuệ của một nghệ sĩ lớn đã khiến Phạm Duy nhìn thấy trước cảnh chiến tranh tàn phá kinh hoàng trên đất đước Việt Nam suốt ba mươi năm sắp tới, dù thời điểm viết Nợ Xương Máu là vào năm 1946, trước khi toàn quốc kháng chiến với Pháp. Ông đã dùng những hình ảnh cổ điển của thi ca thời đó để vẽ nên sự chết chóc, nhưng bản chất của tấn thảm kịch chiến tranh thì thời nào cũng thế

Lá rụng tơi bời
Ðoàn quân tiến qua làng.
Từng thanh kiếm đứt ngang, 
Từng lớp áo rách mướp,
Từng cánh tay rụng rời!
Qua làn mây trắng
Ðoàn quân tiến về trời
Ầm rung tiếng sa trường...

Tiếng ầm rung chết chóc đó còn vang mãi trong lòng người không biết bao nhiêu thế hệ nữa khi họ có dịp ôn lại những trang sử xưa, không phải những trang chính sử ghi lại một cách vô cảm các biến cố, mà là những trang sử như của Phạm Duy viết khi “đoàn quân tiến qua làng” với những chiếc áo rách mướp, những thanh kiếm gãy ngang, những cánh tay không còn nguyên vẹn... và nói rõ họ đang “tiến về trời.” Lịch sử một dân tộc không thể không ghi những trang như thế, cũng như mấy năm về sau khi sáng tác ông đã đóng vai một ký giả chiến tranh tả thực cái cảnh dã man rùng rợn “quân thù đã bắt được con đem ra giữa chợ cắt đầu” từ một thảm cảnh của làng Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Hoặc một cách gián tiếp, chỉ dùng một số hình ảnh ước lệ, nhưng hiệu quả gợi cảm thương về sự chết chóc vẫn lớn:

Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong.
(Ðường Ra Biên Ải)

Một số năm về sau ông rời khỏi các ám ảnh chiến tranh, đề tài sáng tác càng phong phú, nhưng cái chết vẫn không rời ông. Ông đã viết về việc sáng tác của ông vào khoảng đầu thập niên 1960: “Ðối với tôi chỉ có ba điều quan trọng: Tình Yêu, Sự Ðau Khổ và Cái Chết.” Nhưng cái chết vào thời điểm này đã được trừu tượng hóa thành một loại tư tưởng, không còn cụ thể có khi đầy ghê rợn như trong thời kháng chiến Pháp. Như về bài Ðường Chiều Lá Rụng, tác giả đã tâm sự như thế này: “Lúc này tôi đang yêu đời lắm, nhưng tôi vẫn nói tới cái chết, chẳng hạn, qua những kiếp lá trong đường chiều. Lá đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về, lá rơi xuống đất để trở thành những ngôi mộ úa trên con đường chiều, nơi đó có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.”

Lá vàng bay! Lá vàng bay!
Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai
Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!
Như chút hơi người giã ơn đời trên nẻo đường hấp hối!

Khi một người lên tiếng Tạ Ơn Ðời thì tâm hồn hẳn đầy sung sướng vì những gì đời đã cho mình. Quả thế, tác giả ca ngợi “bao nhiêu là thương mến, bao nhiêu là quyến luyến,” rồi “tay hái biết bao niềm yêu,” và “đời vẫn cho ta ngọt bùi”... nhưng cuối cùng vẫn không quên cái chết đang chờ ở cuối đường

Mang ơn đời nâng đỡ
Dâng nấm mồ thô sơ
Với dâng hương hồn thương nhớ
Còn vấn vương trong chiều tà.

Bài Một Bàn Tay là một bài hát triết lý, qua hình ảnh bàn tay mà thấy ra toàn diện cuộc đời, từ bàn tay bà mụ “đưa anh ra khỏi lòng người” đến bàn tay làm lụng, bàn tay  yêu đương..., nhưng cuối cùng, cũng sẽ bàn tay ấy làm động tác giúp kết thúc một đời người

Một mai đưa anh thăm thẳm lìa đời
Mùa đông khăn tang mây bỏ đường dài
Bàn tay thương nhớ, ôi gặp anh băng giá
Lạ lùng, tay khép làn mi.

Suốt cuộc đời sáng tác của mình, kể cả khi còn rất trẻ, Phạm Duy không bao giờ quên cái chết, và ông diễn tả nó một cách tài tình, khiến ta khi hát lên cảm thấy như vừa chạm vào cái cõi bi thương đáng sợ ấy. Thật ra ông không đi sâu vào chính cái chết như Tolstoi tả phút hấp hối của André trong Chiến Tranh và Hòa Bình, ông chỉ nói về tình huống bề ngoài, nhưng cách nói nghệ thuật của ông khơi dậy gần như đầy đủ “kinh nghiệm chết” hình như vẫn luôn luôn có sẵn trong mỗi chúng ta. Ðó có thể là kinh nghiệm tử biệt sinh ly về cái chết của bao người khác ta hằng chứng kiến, nhưng cũng rất có thể là của chính ta, lưu trữ bằng một cách nào đó sâu trong tâm thức sau hàng vô số kiếp luẩn quẩn trong vòng tử sinh. Ðôi khi ta vẫn có cảm tưởng “nhớ” lại một cái gì đó không hề được kinh nghiệm trong đời này.

Tương truyền bản nhạc Sombre Dimanche (Chủ nhật buồn) là một bản nhạc gây chết chóc, vì không hiểu sao nhiều người nghe nó đã tự tử. Quả là thỉnh thoảng vẫn có những tác phẩm mang cái ma lực kỳ dị như vậy. Bản nhạc ấy vào tay Phạm Duy đã mang lời Việt Nam như sau:

Chủ nhật nào tôi im hơi
Vì đợi chờ không nguôi ngoai
Bước chân người nhớ thương tôi
Ðến với tôi thì muộn rồi
Trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn nghìn lời
Dẫu qua đời mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người
Hồn lìa rồi nhưng em ơi tình còn nồng đôi con ngươi
Nhắc cho ai biết cuối đời có một người yêu không thôi
Ơi hỡi... ơi... người!...
(Chủ Nhật Buồn)

Ðó là luyến tiếc, vướng víu, là không siêu thoát, phải không?

Khi chúng ta còn nhỏ, sự chết đối với chúng ta là chuyện... của người lớn. Khi vào đời ở tuổi thanh niên thì đó là chuyện của... người già. Chính mình thì chối hết. Nhưng khi bắt đầu vào tuổi già thì như một khả năng tự nhiên, càng ngày ta càng cảm nhận được trong thân tâm mình cái “khả năng chết” một rõ hơn, mãi đến một lúc, hết chối nữa, đành nhận nó là của mình. Nó dần dà, tự nhiên biến thành một phần của sự sống. Phạm Duy là một người hiếm hoi “biết” cái chết, “sống” với cái chết ngay từ tuổi thanh niên. Tại sao? Ðể làm gì? Trong nhân loại, thỉnh thoảng nẩy ra một người có khả năng trình bày hộ cho mọi người khác ý nghĩa toàn bộ cuộc nhân sinh mà thông thường người phàm mắt thịt chỉ thấy rất ngắn, toàn là chuyện eo sèo trước mắt. Chứ sao, phải nói về cái chết chứ, làm sao có sự sống nếu không có sự chết? Cái chết chờ bên đầu kia cuộc đời mỗi người, nào có xa xôi gì, trong chớp mắt của thời gian đã tới nơi, để bắt đầu một chuyển hóa mới, một cuộc du hành mới

Người là ai? Từ đâu tới?
và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao?
Người vì sao mà chớm nở?
rồi sớm tối cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa?
Người là chi? là cơn gió? là giọt mưa?
là cát trắng hay bụi xanh lơ? 
Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ?
Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô?
(Xuân Hành)

Một loạt câu hỏi từ muôn đời của loài người nhưng không bao giờ cũ, vì ngày nào con người không còn biết đặt ra những câu hỏi như thế về thân phận mình thì cũng có nghĩa là đã dừng lại trên con đường hoàn thiện chính mình.

*

Chết là cái mà không ai có kinh nghiệm, nhưng không phải vì thế mà người ta hoàn toàn không thể viết gì về cái chết. Ðang sống mà “chuyển sang từ trần” là một sự bí nhiệm, từ ngàn xưa con người vẫn suy nghiệm, vẫn cảm xúc đau đớn và vẫn... thờ phượng cái chết. Ðặc biệt các tôn giáo và các tín ngưỡng lo săn sóc đến cái chết một cách kỹ lưỡng nhất, vì biết rõ đó không phải là một cái gì  có thể đối xử một cách bình thường theo cung cách cuộc sống trần thế. Trước sự chết, con người bàng hoàng và sợ hãi, phải tìm mọi cách trấn an nỗi sợ. Ðông hay Tây đều đặt ra sự tự kỷ cho mình về một cõi sau khi chết: sinh ký tử quy, sống gửi thác về, về với ông bà, về ngôi nhà Cha, về miền Cực lạc... cố dẫn dụ mình rằng cuộc sống trần thế này tuy ai cũng tưởng là quan trọng cần hết sức bám víu lấy, nhưng thực chất chỉ là cái rất phụ, chỉ là một sân khấu tạm bợ để múa may trong một thời gian thoáng qua, rồi sau đó thì “về” với cái đích thực. Lời hứa hẹn và giải thích thì rất nhiều, người ta nghe theo lời này hay lời kia, hoặc chẳng nghe lời nào cả, là tùy khuynh hướng và căn cơ của mỗi người, nhưng nhìn chung mọi tín ngưỡng đều nhằm khuyên làm tốt khi sống để được an ổn khi chết, làm như cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài chuẩn bị cho cái giây phút không còn cuộc đời nữa. Thế mới biết cái chết nó ám ảnh con người đến thế nào. Ám ảnh đến gần như biến thành một mục tiêu của sự sống.

Riêng Phạm Duy chấp nhận hết trong sáng tác của mình: Tình Yêu, Khổ Ðau và Cái Chết. Ðó là thái độ của một nghệ sĩ lớn, sống tận cùng từng phút giây của cuộc nhân sinh. Và, nghe như có vẻ mâu thuẫn, cũng “sống” tận cùng với phút giây không còn sự sống nữa, là lúc Cõi Chết bắt đầu.

(2006)


Hạ Long Bụt sĩ - CUNG BẬC PHẠM DUY




Hạ Long Bụt sĩ

Cổ nhân trân trọng với nghệ thuật, người nghe và người diễn không ồn ào, không đại chúng như thời mới. Có khi hai người, như Kim-Kiều, lẳng lặng nhìn nhau, tâm sự qua tiếng đàn, chau mày đau xót, xốn xang cõi lòng. Các cụ có đi hát ả đào thì cũng chỉ dăm người, cầm chầu, điểm xuyết, không gian thân mật, trong căn phòng nhỏ, mái nhà ấm cúng, đèn leo lét, lơ lửng khói thuốc lào…


Thời ấy qua đi, xênh phách xếp xó, tân nhạc bắt đầu trong những quán rượu Tây, khiêu vũ, nhạc Pháp, Tây Ban Nha, Tango, Valse... lịch sự lãng mạn, đam mê chất ngất nhưng thời đầu chỉ dành cho giới trí thức thành thị, thập niên 1930, 1940 mở màn cho giai điệu mới, Đặng Thế Phong, Lê Thương, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Phạm Duy… làn nhạc trữ tình tiếp tục khuynh hướng Thơ trữ tình từ trăm năm trước và Phạm Duy là người đã nối cầu nhạc dân dã với âm nhạc Tây phương, dân ca trở thành âm nhạc mang hồn Việt dù khoác áo solfège Âu, cả lớp bình dân cũng ngâm nga hát theo được, đấy là công và tài của Phạm Duy. Mấy chục năm sau, trong không khí bom đạn, làn nhạc than van, triết lý bình dân của Trịnh Công Sơn nắm bắt được quần chúng thành thị, đang đau giữa cuộc chiến, đang khóc giữa mấy lằn đạn, nhập vào với luồng phản chiến quốc tế đúng lúc, lời nhạc rất Tây, âm điệu nhẹ nhàng, rủ rỉ Nam ai, trở thành một loại dân ca mới, dân ca cho dân trí thức thị thành, cao hơn dân ca bình dân nông thôn thập kỷ 1940-50 của thế hệ cha chú.

Nhưng nhạc Việt thật ra phải gọi là ca Việt mới đúng, không phải musics mà là songs, musics cần khả năng hoà âm, nên người soạn nhạc phải có tài Hoà và Hợp, biết compose-tổng hợp âm thanh âm sắc, còn bài hát lời ca, ngắn hơn, giản dị hơn, thích hợp với ngôn ngữ đơn âm năm dấu trầm bổng của cổ họng dân Việt.

*

Đêm qua, tôi đi nghe nhạc Phạm Duy, đi để tìm vang vọng trong lòng mình, một Nương Chiều, một Nhạc Tuổi Xanh từ thời cắp cặp từ Hàng Tre tới học trường Hàng Vôi, Hà Nội thời 1950… cũng như cụ Phạm, từ Hàng Dầu tới mái trường thân yêu ấy, đàn chim đất Bắc chuân chuyên lưu đầy biệt xứ, Phạm Duy, Mai Thảo... và ai ai nữa, cũng từng mài đũng quần ở ngôi trường này, may thay ngôi trường nằm trên con đường Lý Thái Tổ nên chẳng hồ ly ma quái nào dám đổi tên... Năm ngoái lần đầu tiên vào lại nhà Hát Lớn Hà Nội, sau nửa thế kỷ, tai nghe Mỹ Linh, Hồng Nhung….nhưng mắt tôi nhìn lên sân khấu chỉ mong tìm lại một thoáng Thái Thanh 1953 và ban Thăng Long Hoài Trung Hoài Bắc nhộn nhịp thánh thót, rào dạt âm điệu một thời. Tuy chẳng bám vào dĩ vãng mà sống nhưng hiện tại nào có đẹp đẽ gì hơn để che xoá đi quá khứ, nhà Hát Lớn có ghi năm hoàn thành 1911 ngay mặt tiền, sao nay lại vứt đi dấu ấn ấy, rồi thay thế bằng những mầu sắc cờ quạt từ Nga Tầu sang, chẳng tốt đẹp gì hơn văn hoá nhân bản khai phóng Pháp! Nhìn Phạm Duy mái tóc bạc phơ, tôi thấy cả một pho sử Việt viết bằng mây trắng, trắng xoá lướt trên đầu đám dân Lạc Việt Thăng Long kinh kỳ, từ Bà Huyện Thanh Quan than thở:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

tới Ngày Trở Về, Tình Hoài Hương… thì cũng là những dấu than, Một Giấc Mộng Dài, ngậm ngùi, chẳng bộc lộ hết ra được… tính xa ra từ thời Kiêu binh, từ thời Tây Sơn đóng cửa Thăng Long mang kinh đô vào Phú Xuân, từ Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra Hà Nội 1831…thì đám dân kinh kỳ, bộ tộc Lạc Việt đã vào thời mạt vận, lang thang năm châu tứ xứ, mặc cho đất tổ, với nhóm kiêu binh mới tha hồ múa may.Văn nghệ sĩ Bắc Việt rút lại, co lại, trong văn hoá nghệ thuật, thành họ Sợ như lời Nguyễn Tuân, hay quay ra nịnh hót hèn hạ như một thằng Hèn. Nguyên do là Nho biến ra Nhu, nhu quá hoá Nhược, dân trung nguyên là như vậy, trí thức chơi với thi phú, hưởng lạc tất phải thua côn đồ khuyển ưng, thời Nguyễn Trãi đã xẩy ra như thế. Phạm Duy hẳn đã thấy giấc mộng đời quá dài, ông sống lạc quan, yêu đời, nhưng có yêu đời đến đâu thì cũng tới lúc nhàm chán, cuộc chơi đã tàn, canh bạc về sáng, bao nhiêu sợi tơ tằm đã nhả ra hết, bao nhiêu ngọn đèn dầu lạc đã cháy và đã cạn, bạn bè cùng thế hệ đã đi chơi sang cõi khác gần hết…còn đây, một mình một bóng đèo bòng thế gian hệ luỵ, cõi lá đa này, không úa vàng thì cũng mực tầu bôi đen bao mảng đêm nhơ nhớp.

Đêm qua (2010) tôi thấy thời gian quả là nặng chĩu trên vai một người nghệ sĩ tiêu biểu cho đại chúng, nhạc của ông mang dân ca đồng lúa sông Hồng vào cung bậc, giầu tình cảm, dạt dào như lúa chín chĩu nắng vàng, âm vang xôn xao đam mê ngây ngất…cho đến Phố Buồn, Mùa Thu Chết, Ngậm Ngùi… tôi muốn ông dừng lại ở đấy thì đẹp quá, từ tuổi 20 đến ngoài 40, hơn 20 năm dòng suối tuôn trào, thế là quá đủ… tiếp tục làm nữa ở tuổi 50-60…cho đến bây giờ…cảm hứng nghệ thuật cao điểm Trời cho chẳng bao giờ dài quá 20-25 năm, mà nghệ thuật tuyệt vời, thơ-nhạc, đòi hỏi toàn cao điểm chứ không thể hạ thấp, nghệ sĩ nào thành thật với lòng mình cũng tự nhận ra biên độ ấy, những bản nhạc của Phạm Duy làm sau cao điểm, cảm hứng rời rạc hơn xưa, ý ngắn, hơi tàn, gài lời miễn cưỡng triết lý làm dáng “ đừng cho không gian đụng thời gian”. Cao điểm lúc này nhường lại cho ma âm Trịnh Côn Sơn-tuổi 20- và họ Trịnh cũng chỉ có mươi năm cao điểm 20-35 tuổi, từ 1960-75 bom đạn, như Phạm Duy đã có hai mươi năm trước, vào giai đoạn sôi nổi khác.

Mươi mấy năm trước trên báo Thế Kỷ 21 ở Cali, người ta đọc lời ngậm ngùi của Phạm Duy “ngồi đâu cũng là ngồi một mình” và ông đã khóc… Buồn thay, ở cuối đời, một nhân tài lấy đâu ra tri âm tri kỷ ở quận Cam nhỏ bé, và lấy đâu ra cảm hứng dù là cảm hứng thuần nghệ thuật ? và bây giờ, ông có trở về, về hay đi, ở tuổi gần đất xa trời này, chẳng ai định nghĩa được, vậy hãy chúc ông yên bình, thế hệ sau cám ơn một thiện căn Việt đã múc nước tinh tuyền Động Đình Hồ tưới lên ngô khoai xóm làng, đã trồng bao đoá hoa đẹp cho mắt, đã chế tác bao làn điệu ngọt dịu cho tai, âm ỷ trong tiềm thức dân gian, đã nuôi dưỡng bao trái tim trong sáng. Phạm Duy và thế hệ ông, đã đi vào lửa, đã bay trong bão, đã ngã trên chông gai, đã gào đã hét cho quê hương... Giống nòi tồn tại nhờ những con người ấy, những trái tim thiện căn ấy, chứ không phải bọn mang ma âm quỷ quái, triết lý nửa mùa, quấy nhiễu lương dân.



Phạm Phú Minh - Tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Duy




Phạm Phú Minh

Thế là nhạc sĩ Phạm Duy đã đi hết con đường trần thế. Trong 93 năm.

Nhớ lại buổi họp mặt tại Quận Cam, California năm 2005 để tiễn ông về Việt Nam, ca sĩ lão thành Minh Trang, với phong cách dí dỏm cố hữu của bà, đã nói: "Anh Phạm Duy à, anh với tôi đều là những người đã nhận boarding pass, chờ giờ bay là lên tàu thôi." Tất cả mọi người có mặt hôm đó đều cười vì cách ví von rất hình ảnh, dù rằng biết đó là lời vĩnh biệt của hai người nghệ sĩ cao niên, trước một chuyến đi mà ai cũng hiểu là... đi luôn.


Nhạc sĩ Phạm Duy, tranh Thái Tuấn

Quả vậy, trước đây mấy năm chuyến bay của bà Minh Trang khởi động, và bà đã cầm boarding pass ung dung bước lên tàu. Bây giờ tới phiên ông Phạm Duy. Lời của bà Minh Trang giống như một lời hẹn, bây giờ thì hai người bạn già có lẽ đã gặp nhau, cùng với biết bao nhiêu là người thân và bạn bè khác: Thái Hằng, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Văn Phụng, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn...

Nhạc sĩ Phạm Duy là một tài năng lớn, đó là điều mà người Việt Nam và cả người ngoại quốc đã nhận thấy từ lâu, và nói đến từ lâu. Một tài năng như thế mỗi dân tộc lâu lâu, có thể vài ba thế kỷ, mới có một người. Chỉ riêng về tài năng sử dụng tiếng Việt thôi thì từ Nguyễn Du với Truyện Kiều là một thành tựu vĩ đại về ngôn ngữ, mãi đến Phạm Duy mới là một trường hợp lạ lùng thứ hai với các ca khúc của ông. Sự thu góp tinh hoa ngôn ngữ của một dân tộc rồi đơm bông kết trái vào một người là một quá trình bí ẩn, dân tộc ấy chỉ có thể biết ơn tổ tiên đã dày công cày cấy trên cánh đồng văn hóa để một ngày có được một bông hoa thiên tài bừng nở.

Nhưng cũng cần phải có may mắn nữa. Phạm Duy là một người may mắn, mà dân tộc Việt Nam cũng may mắn. Thử nghĩ lại, nếu đầu thập niên 1950 Phạm Duy không về thành trót lọt, thì ngày nay làm sao chúng ta có thể có một gia tài âm nhạc nguy nga Phạm Duy để lại? Làm sao có được Tình Ca, Tình Hoài Hương, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam và biết bao thành tựu rực rỡ khác nữa của nhạc sĩ? Hãy nhìn Văn Cao, một tài năng xuất chúng nữa của Việt Nam, nay còn lại gì ngoài một gia tài sáng tác dở dang, rồi phải câm lặng cho đến chết. Và hãy tưởng tượng, Trịnh Công Sơn, thay vì sống ở miền Nam thì lại ở miền Bắc, cái gì sẽ xảy ra? Cũng khó đoán hết những gì xảy ra, nhưng có một điều có thể thấy rất rõ, là Sơn chẳng bao giờ có một sự nghiệp âm nhạc như đã có. Đó là một điều chắc chắn. Chủ nghĩa cộng sản đã nghiền nát đến tận cùng tinh hoa của dân tộc. Họ cần một thứ gì khác, không phải dân tộc. Ngay trong thời kỳ gọi là cởi mở như hiện nay, cái động tác gọi là "cho phép" nhỏ giọt các tác phẩm của Phạm Duy không gì khác hơn là một sự xúc phạm ghê gớm những thành tựu của văn hóa Việt Nam.

Vì Phạm Duy là tâm hồn của dân tộc. Suốt cuộc đời sáng tác của ông, ông không yêu gì hơn là dân tộc và đất nước Việt Nam. Sáng tác của ông từ lúc ra đời cho đến nay đã nuôi dưỡng tâm hồn cho ba, bốn thế hệ Việt Nam, và sẽ nuôi vô số thế hệ nữa trong tương lai. Yêu dân tộc và đất nước như thế, khi chết lại được chôn vào lòng đất mẹ, đó là kết thúc đáng mơ ước nhất cho Phạm Duy. Một lần chót, ông lại được may mắn.

Cách đây mấy năm, một phóng viên của đài truyền hình Hà Nội đã tìm đến phỏng vấn một bà cụ 100 tuổi ở tại một làng quê hẻo lánh miền Bắc, bà đã hồn nhiên hát mấy câu thời còn trẻ:
Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương bà mẹ già
Chờ con lúc đêm khuya
Người con đã ra đi vì nước...

Bà hát mấy câu ấy lên như một khúc dân ca lưu truyền trong dân chúng không biết tác giả là ai, ngay người phóng viên thu âm lời hát của bà cũng không biết đó là bài hát gì, khi mang về đài mở ra thì có người lớn tuổi mới nhớ đó là bài Người Ra Đi của Phạm Duy sáng  tác trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp.

Họa sĩ Thái Tuấn có một bức tranh vẽ một người nghệ sĩ mang cây đàn ghi-ta sau lưng, đi chân không, đứng trên một mặt đất hoang tàn. Có lần ông giải thích đó là Phạm Duy, ông vẽ Phạm Duy như thế là do rung động và cảm thức ông bắt được từ câu hát trong bài Về Miền Trung:
Người đi trên đống tro tàn
Thương em, nhớ mẹ, hương vàng về đâu?

Câu, chữ, âm điệu của Phạm Duy tác động vào lòng người bàng bạc, sâu xa, dù là một người đàn bà nhà quê, hay một họa sĩ trí thức thành phố.

Gia tài âm nhạc của Phạm Duy để lại cho Việt Nam sẽ tác động mãi mãi như thế, với khắp mọi người, thế hệ nọ sang thế hệ kia. Giống như Truyện Kiều trường tồn trong ngôn ngữ và nghệ thuật Việt Nam, từ quá khứ đến hiện tại và mãi mãi trong tương lai.

California 28.01.2013



Trần Mộng Tú - Lời Cám Ơn Nhạc sĩ Phạm Duy


Trần Mộng Tú

Trên mười ngón tay anh chẩy xuống ngàn ngàn dòng lệ long lanh ngũ sắc, bật lên những tiếng cười hoan ca cho dân tộc Việt.

Anh viết những dòng sử Việt bằng âm nhạc, anh bắn những nốt nhạc thay đạn vào suốt chiều dài của cuộc chiến ngoại xâm.


Anh nhắc nhở công ơn tổ tiên, anh hùng dân tộc mỗi ngày trên môi người Việt.

Anh khóc cười bằng nốt nhạc lời ca cho tình yêu, con người, quê hương, dân tộc,

Anh băng bó vết thương trong chiến tranh, anh đốt lửa tìm kiếm hòa bình.

Anh vung tay, mây trôi như lụa giũ, nước như thủy tinh vỡ, anh khắc hình cha Lạc Long Quân vào núi, núi không còn là đá, anh thả tình mẹ Âu Cơ xuống biển, biển không còn là đại dương.

Ngôn ngữ trong những ca khúc của anh trong suốt, lãng mạn, bát ngát tình tự dân tộc, đẹp như những viên ngọc trắng, trong như những giọt nước mưa.

Anh lên rừng, rừng thay lá, anh xuống suối, suối khóc òa. Bằng âm nhạc, bằng tình tự dân tộc anh đi từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu suốt cuộc đời mình không ngơi nghỉ.

Tình yêu quê hương trong ca từ của anh làm cho cả người hát và người nghe ứa lệ.

Ở những vết thương anh cho máu chẩy thành mật ong, đám khói là hơi thở của mái nhà, em bé là con trâu, cái áo rách, cái bếp lửa là mẹ, củ khoai, bát nước chè là những người con.

Ngôn ngữ Việt dưới ngón tay anh trở thành Tiếng Nước Tôi thiêng liêng của dân tộc. Anh mang những tinh hoa của ngôn ngữ Việt tặng cho người Việt.

Âm nhạc lời ca của anh ngập tràn tình yêu thương người Việt, nước Việt.


Trong tình yêu đôi lứa của nhân gian anh cho cô tiên hiện xuống giữa đời, cỏ hồng mọc trên những sườn non không bao giờ úa, anh rùng mình hạnh phúc bằng âm giai.

Anh thanh, anh tục, anh thiền, anh đập phá bằng âm nhạc.

Anh uống, anh ăn, anh thở, giữa âm điệu và lời ca.

Anh sống đời mình trong mỗi phân vuông của cuộc đời bằng âm nhạc, anh chưa để lãng phí một giây phút nào của cuộc sống.

Anh để lại cho đồng chủng anh, cho kho tàng âm nhạc của dân tộc Việt một khối gia tài không một ngoại bang nào chiếm đoạt được.

Anh là một món quà quý giá mà cuộc tiến hóa của bao đời tổ tiên Việt Nam đã đúc kết nên và trao cho dân tộc vào thế kỷ 20.

Anh sinh ra và nằm xuống trên quê hương mình, nước Việt Nam.

Xin gửi anh một lời Cám Ơn Trân Quý.

Trần Mộng Tú

1/27/2013



Thiện Giao - Vài giờ trước khi về Việt Nam, Nhạc sĩ Phạm Duy: “Adieu Midway City...”



Thiện Giao

Chuyến máy bay lúc một giờ khuya ngày 16 Tháng Năm năm 2005 của hãng hàng không Eva đã đưa nhạc sĩ Phạm Duy lên đường về lại Việt Nam trong một chuyến đi, theo lời ông: “Ðã được chuẩn bị như một cuộc chạy nước rút mà hôm nay là ngày kết thúc.” Người nhạc sĩ già lên đường “qui cố hương” trong một tâm trạng “bình thản.”


“Bình thản, vì đây đâu phải là lần đầu tiên tôi bỏ hết mà ra đi.” Nhạc sĩ Phạm Duy tâm sự. “Tôi đã ra đi nhiều lần. Từ Hà Nội vào kháng chiến. Từ kháng chiến vào thành phố, rồi vào Sài Gòn. Từ Sài Gòn, tôi lại bỏ hết đi sang Mỹ.”

Sau một thời gian dài chuẩn bị, rồi sau nhiều lần phải thay đổi ngày về do tình trạng sức khỏe, nhạc sĩ Phạm Duy cuối cùng cũng đã lên đường cùng người con trai Phạm Duy Minh, về lại Sài Gòn. Tại Sài Gòn, ba người con của ông, Duy Cường, Duy Quang và Duy Ðức, sẽ ra đón ông tại phi trường Tân Sơn Nhất.

“Tôi sẽ ở tại Sài Gòn, vì đó là nơi tôi đã ra đi.” Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết. “Và tôi cũng sẽ đi chơi đây đó, sẽ ra thăm Hà Nội.”

Ở tuổi 85, cái tuổi mà người nhạc sĩ cho rằng “đã sống quá lâu,” Phạm Duy dường như không tha thiết hoạch định “tương lai” của cuộc sống ông. “Cả việc sáng tác và nơi sẽ sinh sống, tôi không biết trước được. Về lại Hoa Kỳ một ngày nào đó? Tôi cũng không biết trước. Chỉ ngại đường sá xa xôi.”

Vài giờ trước khi lên đường, ông gởi cho các bạn hữu một email với dòng chữ lớn: “Adieu Midway City...” (Vĩnh Biệt Midway City) kèm theo bản nhạc “Tỳ Bà Hành” do ông vừa sáng tác. Người nhạc sĩ ngậm ngùi: “Cái thành phố này tôi đã sống gần 30 năm nay. Thị Trấn Giữa Ðàng. Ừ nhỉ, cái thị trấn này nằm giữa đàng chứ còn gì nữa!”

Những chuyến đi xa về, ông nói: “Thấy thành phố và những con đường thân thiết quá.” Nhưng ông nhớ căn nhà với gần 30 năm kỷ niệm, ông đã mua trước ngày các con ông sang Mỹ, “đã trả hết,” và nay ông phải lìa xa. “Tôi đã đặt từng viên gạch, lắp từng cái khóa... 27 năm, biết bao nhiêu tình. Một ngày còn nên tình nghĩa nữa là!”

Ngồi nơi chiếc sofa quen thuộc, nơi ông đã từng ngồi trong gần 30 năm qua, người nhạc sĩ già nhìn quanh lại căn nhà lần cuối trước khi lên đường về lại Việt Nam. Một hành trình vừa mang ý nghĩa “ra đi,” vừa mang ý nghĩa “trở về.”

Rồi ông hỏi các bạn hữu: “Người Á Ðông sao nặng tình quy cố hương! Không biết người Tây Phương có thế không nhỉ?” Và cũng để tự trả lời: “Cây Cam Bố Hạ thì phải trồng ở Bố Hạ thôi...”

“Ở tuổi này, chẳng còn gì để nói trước. Ðời cho mình vui thì mình vui, cho mình buồn thì mình buồn.” Về cuộc hành trình “di chuyển cả một gia sản 30 năm,” nhạc sĩ Phạm Duy nói cùng bằng hữu: “Sống lâu, tiếng gọi đất nước nó kinh lắm. Sống giữa quê hương cũng đã Hoài Hương còn gì...”

Và ông làm cuộc hành trình “trở về” sau khi đã ra đi hết bốn lần trong cuộc đời mình!



Ngô Nhân Dụng - Ai là tác giả hiệp định Paris



Ngô Nhân Dụng

Khi hiệp định Paris được ký kết, trước đây 40 năm, nhiều người vui mừng, vì ít nhất dân Việt Nam sẽ không chết vì chiến tranh nữa. Nhiều người còn hy vọng đó là một bước rẽ, mở con đường mới cho miền Nam Việt Nam. Sau cùng, ai cũng biết, đó chỉ là một thủ thuật, dùng trong một giai đoạn, của đảng Cộng sản Việt Nam trong chương trình chiếm quyền cai trị trên cả nước Việt Nam, với mục đích “đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.”


Nhưng ngay cả nỗi vui mừng vì cảnh chết chóc chấm dứt cũng tan biến nhanh chóng. Người Việt Nam trong vài năm tiếp theo không chết vì chiến tranh thường xuyên nữa, nhưng nhiều người vẫn chết vì sau đó cuộc chiến lại tiếp tục. Số quân nhân hai bên bị tử thương trong cuộc tổng tấn công của cộng sản năm 1975 lớn gấp nhiều lần so với những năm trước hiệp định. Số người chết trên đường vượt biển còn lớn hơn số thường dân chết trong những năm chiến tranh. Chưa kể nỗi đau thương của bao nhiêu gia đình bị đẩy đi vùng kinh tế mới hoặc có người bị đi tù cải tạo. Và chiến tranh lại tiếp diễn ở Campuchia với 50 ngàn thanh niên Việt Nam bỏ xác, và ở biên giới Hoa Việt, mà con số thương vong không bao giờ được công bố.

Số phận của miền Nam Việt Nam đã được quyết định trước đó nhiều năm. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống Mỹ, ông Richard Nixon đã cho cố vấn là Henri Kissinger đến gặp đại sứ Nga ở Washington đề nghị giới lãnh đạo Nga Xô đừng làm trò gì ảnh hưởng đến cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Kissinger trình bầy trước lập trường của ông chủ mình về bang giao Nga Mỹ; trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: Nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam; sau đó chế độ chính trị ở miền Nam ra sao không quan trọng, dù có  một chính quyền cộng sản. Điều này, ông Kissinger còn lập lại khi đến thăm Đại sứ Anatoly Dobrynin sau khi ông Nixon thắng và chưa tuyên thệ nhậm chức. Dobrynin đã kể những chuyện này trong tập hồi ký của ông.

Năm 1972 nước Mỹ lại bầu tổng thống, và ông Richard Nixon cần tái đắc cử, nhờ thành tích chấm dứt cuộc chiến tranh quá dài mà dân Mỹ bắt đầu thấy chán. Nixon sai Kissinger thu xếp để tiến tới hiệp định Paris trước khi dân Mỹ bỏ phiếu. Hiệp định Paris chỉ là một văn kiện để giúp Tổng thống Richard Nixon rút quân ra khỏi Việt Nam một cách chính thức, nghĩa là vẫn giữ được thể diện.

Trong cuộc thu xếp này, Nixon được Mao Trạch Đông hỗ trợ. Trước năm 1970, Mao rất căm hận Nixon vì ông tổng thống Mỹ chỉ chú ý nói chuyện với Moskva mà không quan tâm đến Bắc Kinh; coi Mao chỉ là một lãnh tụ cộng sản hạng nhì. Trong một cuộc chuyện trò với Phạm Văn Đồng, Mao hỏi: “Tại sao bọn Mỹ không làm rùm beng lên về chuyện có 100,000 quân đội Trung Quốc đang xây dựng đường xe lửa, đường bộ, và phi trường ở Việt Nam, mặc dù chúng biết sự kiện này?” Phạm Văn Đồng nói vuốt đuôi: “Vì chúng nó sợ!” Nhưng chúng ta cũng biết rằng ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, các chính quyền Mỹ đã cam kết với Trung Quốc là họ sẽ không bao giờ gửi quân đội Mỹ và cũng không để cho quân đội miền Nam tiến ra Bắc Việt. Chính quyền Mỹ lờ đi như không biết có quân đội Trung Cộng ở ngoài Bắc, vì nói ra sẽ làm cho bài toán rắc rối hơn, ngay trong khung cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Mao Trạch Đông còn tỏ ý bất bình, nói với Phạm Văn Đồng rằng “Tại sao bọn Mỹ chúng nó lại ước tính số binh sĩ Trung Quốc ở Việt Nam ít hơn sự thật như vậy?”

Tháng 11 năm 1970 Chu Ân Lai được lệnh bắn tin qua các nhà ngoại giao Rumania là nếu Nixon muốn thăm Trung Quốc thì sẽ được mời. Nixon bảo Kissinger đừng tỏ ý muốn đi vội vàng quá, cuối tháng Hai Kissinger mới bắn tiếng lại, tỏ ý thân thiện nhưng không nói gì đến việc Nixon có thể sang Tàu. Tháng Ba năm 1971, các cầu thủ bóng bàn Trung Quốc gặp các cầu thủ Mỹ ở Nhật Bản, và khi đi chung một chuyến xe buýt, tay vợt Mỹ Glenn Cowan đã gặp nhà vô địch Trung Quốc Trang Tắc Đống (Zhuāng Zédòng, 则栋), bắt tay và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc. Hình ảnh hai cầu thủ bắt tay đăng trên các tờ báo lớn ở Nhật, và khắp thế giới. Mao Trạch Đông đã bắt lấy ý đó, ra lệnh mời các cầu thủ Mỹ qua Tàu! Còn Nixon thấy đây là một cơ hội thay đổi thái độ với Trung Quốc, một cơ hội sang Bắc Kinh để vận động tranh cử tổng thống tại Mỹ. Sau đó, Kissinger đi đêm để chuẩn bị chuyến Nixon sang Tàu năm đầu 1972.

Trong chuyến thăm bí mật đầu tiên, tháng Bẩy năm 1971, Kissinger đã đặt ba món quà trên mâm để tặng Mao Trạch Đông. Thứ nhất, Kissinger đã hứa hẹn với Chu Ân Lai rằng Mỹ sẽ báo cho Trung Quốc biết tất cả những điều họ sẽ thỏa thuận với Nga xô, mà sẽ không cho biết Mỹ nói chuyện gì với Trung Quốc. Ông ta còn hứa sẽ cung cấp cho Trung Quốc các tin tức tình báo về hoạt động của quân Nga ở vùng biên giới Nga, Hoa. Món quà thứ hai là Mỹ sẽ bỏ rơi bạn đồng minh Đài Loan, hứa hẹn Mỹ sẽ chính thức công nhận chế độ Bắc Kinh trước năm 1975, nếu Nixon tái đắc cử năm 1972. Nên nhớ, lúc đó Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) vẫn có một hiệp định an ninh hỗ tương với Mỹ, có vị thế ngoại giao vững chắc hơn miền Nam Việt Nam rất nhiều.

Món quà thứ ba Kissinger đem cống tiến là Nixon cam kết sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, trong vòng 12 tháng, dù có một hiệp định ngưng chiến hay không. Lúc đó là tháng Bẩy năm 1971, sáu tháng trước khi Mỹ ký hiệp định Paris, mà chính Kissinger cũng không biết chắc là sẽ có một hiệp định vì lập trường hai bên miền Nam và Bắc Việt Nam hoàn toàn trái nghịch về vấn đề miền Bắc rút quân và vai trò của Mặt trận Giải Phóng. Vì vậy, Kissinger đã nói thẳng với Chu Ân Lai là dù không có thỏa hiệp nào thì chính phủ Nixon cũng đơn phương rút quân, bỏ rơi luôn chính quyền miền Nam Việt Nam, và không bao giờ quân Mỹ trở lại Việt Nam nữa. Kissinger nói: “Sau khi hòa bình rồi, người Mỹ chúng tôi sẽ ở xa Việt Nam cả vạn dậm, còn Hà Nội thì vẫn ở đó.” Những chi tiết này được kể lại trong một sách của William Burr, năm 2002 (The Bejing – Washington Back Channel; kể chuyện các chuyến đi bí mật của Kissinger năm 1970, 71; sách này nằm trong tài liệu điện tử của cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; được thuật lại trong sách MAO, của Jung Chang và Jon Halliday, 2005).

Ba tháng sau chuyến đi bí mật trên, Kissinger chính thức trở lại Bắc Kinh, sau khi Trung Quốc lên tiếng mời Nixon qua Tàu, và lời mời được chấp nhận. Cả thế giới, và cả nước Mỹ được coi một màn trình diễn ngoạn mục. Nixon đã toại nguyện, vì Mao sẵn sàng giúp ông tái đắc cử. Trung Cộng được nhận vào Liên Hiệp Quốc thay chỗ Trung Hoa dân Quốc ngay trong năm 1971. Dưới sức ép của Mao, Bắc Việt chịu ký tên vào bản hiệp định Paris. Quân Mỹ rút về “trong danh dự.” Nhưng số phận Nixon lại bị quyết định do một xì căng đan chính ông ta gây ra; khiến ông phải từ chức khi quốc hội Mỹ chuẩn bị đàn hạch và truất phế, vào năm 1974. Người thương tiếc Nixon nhất lại là Mao Trạch Đông; ông ta không hiểu nổi tại sao một vị tổng thống lại bị dọa truất phế. Mao có lần nhắn tin qua bà Imelda Marcos, phu nhân tổng thống Phi Luật Tân, ngỏ ý mời Nixon qua chơi lần nữa. Năm 1975, Mao cho mời cô con gái Nixon là Julie và chồng qua Tàu. Mao lại nhắn Julie bảo cô nói với bố rằng “Tôi nhớ ông ấy lắm.” Tháng Hai năm 1976, Mao đưa một chiếc máy bay Boeing 707 sang tận Los Angeles đón Nixon qua uống trà; bẩy tháng sau thì Mao chết.

Bản hiệp định Paris cuối cùng là kết quả của cuộc gặp gỡ Nixon và Mao. Trước hết, vì nhu cầu tranh cử năm 1972 của ông Nixon. Kissinger đã viết bản hiệp định đó, với sự giúp đỡ của Chu Ân Lai. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể làm gì được, mà cũng không biết nước đồng minh lớn nhất đã quyết định bỏ rơi mình. Cộng sản miền Bắc  đã được Moskva và Bắc Kinh báo cho biết trước Mỹ sẽ rút quân, trong khi vũ khí của Nga vẫn đổ sang ngày càng nhiều, họ nắm chắc phần thắng. Nhưng họ vẫn phải đặt bút ký vì Mao Trạch Đông muốn tặng lại cho Nixon một món quà tranh cử. Cộng sản miền Bắc cũng muốn có thêm một thời gian chuẩn bị để nhận thêm vũ khí đánh một trận chót, chấp nhận hiệp định Paris như một bước nghỉ chân.

Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chắc không ai biết gì về những lời Kissinger đã hứa với Dobrynin hay với Chu Ân Lai. Người dân miền Nam lại càng không biết gì cả. Bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu đồng bào tử nạn trên đường vượt biển. Nhắc lại 40 năm hiệp định Paris, chúng ta hãy thắp nhang tưởng nhớ họ, đó là cách kỷ niệm có ý nghĩa nhất. Họ sẽ không chết uổng, nếu chúng ta học được một kinh nghiệm rút từ cuộc chiến. Bài học của một dân tộc nhược tiểu là đừng bao giờ vì các lý thuyết, tư tưởng trừu tượng, đừng bao giờ dựa vào các thế lực ngoại lai để đồng bào tàn sát lẫn nhau. Trong cuộc chiến tranh nào, người dân cũng bị hy sinh.