Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Nguyễn Hưng Quốc - Viết về chính trị


 Nguyễn Hưng Quốc

Viết để đánh động vào cảm xúc của người đọc, hoặc đa số người đọc, không khó. Trong lãnh vực văn chương, không khó. Trong lãnh vực chính trị, lại càng không khó.


Chính trị, nơi thường có những tranh chấp quyết liệt, thậm chí, đẫm máu nhất, oái oăm thay, lại thường là nơi người ta dễ đồng cảm với nhau nhất. Lý do dễ hiểu: chính trị tác động đến con người không phải chỉ với tư cách cá nhân mà còn với tư cách tập thể.

Thứ nhất, tất cả các chính phủ đều chỉ đại diện cho một khối người nhất định nào đó. Không bao giờ có chính phủ của toàn dân. Những cách nói “chính phủ của toàn dân” bao giờ cũng là những lối mạo nhận, đầy giả dối. Những số phiếu bầu 100% hay ngay cả trên 90% cho một người hay một đảng phái nào đó chắc chắn là những số phiếu gian lận. Chính phủ, may lắm, chỉ là chính phủ của đa số. Chứ không phải là của toàn bộ. Của tất cả. Đã có đa số thì sẽ có thiểu số.  Hai bên sẽ tranh chấp với nhau, nhưng ít nhất trong từng bên, sẽ rất dễ có sự đồng cảm.

Thứ hai, bất cứ chính sách lớn nào của chính phủ, về các phương diện kinh tế và xã hội, cũng đều ít nhiều có tác dụng tích cực đối với nhóm người này và tác dụng tiêu cực đến một nhóm người khác. Hai nhóm này có thể tranh chấp với nhau; nhưng trong nội bộ từng nhóm thì lại thường dễ đồng cảm với nhau.

Một ví dụ đơn giản: Khi quyết định tăng thuế, rất hiếm khi chính phủ dám tăng thuế đồng loạt. Thường chỉ tăng thuế ở một mức thu nhập nào đó, nghĩa là, nhắm vào một tầng lớp xã hội nào đó. Ví dụ, có đảng chủ trương tăng thuế của giới tư bản, thật giàu và giảm bớt thuế cho giới trung lưu hoặc dưới trung lưu; ngược lại, cũng có đảng chủ trương tăng thuế giới trung lưu, cắt giảm trợ cấp xã hội của thành phần có thu nhập thấp và giảm hoặc không tăng thuế giới giàu có với lập luận: thành phần đại tư bản giàu có ấy đã đóng góp lớn lao trong lãnh vực nhân dụng, tạo công ăn việc làm cho cả hàng ngàn hay chục ngàn người khác.

Bất cứ chính sách thuế khoá nào, như vậy, cũng làm lợi cho một số người và ngược lại, làm thiệt một số người khác. Trong từng nhóm, những người có lợi và những người bị thiệt ấy, rất dễ có sự đồng cảm với nhau.

Ở các chế độ độc tài, nhất là độc tài ở giai đoạn cuối, sự đồng cảm càng dễ nảy nở: trừ một thiểu số được hưởng lợi từ độc tài, những nạn nhân của độc tài thường rất gần nhau ở hoàn cảnh cũng như ở tâm trạng.

Khi một tâm trạng được cả đám đông chia sẻ, viết để đánh động cảm xúc của họ là điều dễ dàng. Ví dụ, ở Việt Nam hiện nay, không mấy người không bất mãn trước sự độc tài, tham lam và tàn bạo của giới cầm quyền. Nắm bắt sự bất mãn ấy: không khó. Khích động được sự bất mãn ấy: cũng không khó. Xoáy sâu vào những bất mãn ấy, người cầm bút rất dễ nhận được đồng cảm hay ngay cả sự hoan nghênh.

Việc làm ấy, dĩ nhiên, không phải không có ích. Nó khiến mọi người tự giác hơn về tội ác của giới cầm quyền. Nó làm mọi người thấy gần gũi hơn với tư cách nạn nhân hay chứng nhân. Nó lột mặt nạ, toàn bộ mặt nạ, của những tên bạo chúa giả dối để không còn ai có thể bị ảo tưởng hay bị lừa bịp nữa.

Nhưng việc làm ấy không phải không có hại. Dân chúng đang quằn quại đau đớn và phẫn uất, gặp những bài viết đánh động vào cảm xúc của mình, rất dễ đồng cảm. Thấy sung sướng. Thấy hả hê. Thấy như được trả thù. Bao nhiêu u uất, u uẩn và phẫn nộ dường như được giải toả. Người ta bỗng thấy nhẹ nhõm hẳn. Và vì sự nhẹ nhõm ấy, người ta không thấy có nhu cầu hành động hay làm gì thêm để thay đổi tình thế.

Nói hại là vì vậy.

Tôi nghĩ, trong thời điểm hiện nay, cần hơn là những bài viết nhằm khai mở nhận thức. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay tham nhũng? Điều đó hầu như ai cũng biết. Nhưng tham nhũng đến độ nào? Quan hệ giữa tham nhũng và thể chế chính trị như thế nào? Tại sao hành động chống tham nhũng, để có hiệu quả, phải gắn liền với hành động chính trị? Trả lời các câu hỏi ấy, người ta không phải chỉ vuốt ve cảm xúc mà còn làm thay đổi nhận thức của người đọc.

Chỉ nhận thức không, không đủ tạo thành cách mạng. Chỉ cảm xúc không, cũng không đủ tạo thành cách mạng. Không phải chỉ nhờ việc nhận thức được bản chất của độc tài, người ta có thể sẵn sàng đổ xô xuống đường chống lại độc tài. Cũng không phải chỉ do bất mãn độc tài, người ta đã có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để đánh đổ độc tài.

Cách mạng bao giờ cũng là kết quả của cả hai, nhận thức và cảm xúc: khi cảm xúc được soi sáng thành nhận thức và khi nhận thức sâu sắc đến độ biến thành cảm xúc.


Ghé thăm các blogs: 28/01/2013



BLOG ĐÀO TUẤN

Bảo tàng siêu khủng sẽ là nơi triển lãm những bức ảnh cơ cực với chủ đề “Chợ cóc bệnh viện”. Nhà hát hoành tráng sẽ là nơi những diễn viên mặc pijama hát lên khúc “bệnh viện bi ca”?

Hôm qua, ở Thủ đô, một triển lãm “bá đạo” được tổ chức dưới cái tên “Chợ sức khỏe”. Ôi giời, tràn lan là ảnh ngủ gậm giường hoặc màn trời chiếu đất bên hành lang, vỉa hè bệnh viện. Những cảnh cá hộp “xưa như trái đất, thật như hiện tại, đúng như tương lai”. Muốn có sức khỏe phải ra chợ. Đã ra chợ, phải mất tiền mua. Và đã mua bán, thế nào cũng gặp phường gian dối. Gặp thực phẩm ôi thiu. Cái chữ “Chợ” càng nghĩ càng thấy “bá đạo”. Nhưng triển lãm này cũng sai đúng ở chữ “chợ”. Bởi chưng “luật chợ” là người ta có quyền mặc cả. Có quyền chê đắt. Có quyền làm thượng đế. Và có quyền lắc đầu. Trong khi đến “chợ” mua sức khỏe thì kể cả có tiền, xin mời xếp hàng, cứ hẵng “nu pa ga zi” đã.

Hôm qua cũng là ngày nữ Bộ trưởng xinh như búp bê, chắc là cay đắng thừa nhận “tình trạng cá hộp”, ngôn ngữ ngành y là “quá tải” ở hầu hết những cái “chợ lớn”. Chắc bà cũng chẳng vui vẻ gì với thường niên hình ảnh “Bệnh nhân bò từ gậm giường ra chào Bộ trưởng”. Đây là câu chuyện cần sự cảm thông của bà con, bởi giảm hay không giảm phụ thuộc vào vấn đề đầu tiên. Chuyện những “cái chợ” không đơn giản là việc vẽ trên giấy là được. Huống chi, ngân sách đang hụt thu. Huống chi, tiền còn phải để xây dựng bảo tàng 11 ngàn tỷ, để lập kế hoạch nhà hát nửa triệu đô, để xây “sân vận động massage”.

Hôm qua, trên VietNamNet, người phát ngôn của Bộ VH-TT-DL một mặt thừa nhận tình trạng “vừa thừa – vừa thiếu” đang xảy ra đối với nhiều công trình văn hóa, mặt khác lại chê “Nửa tỉ đô chưa chắc đã đủ” để xây một nhà hát lớn và “nổi tiếng trên thế giới”.

Giời ạ. Cơ bản là nhà hát đó trình diễn cái gì. Cơ bản ai sẽ đến nhà hát đó chứ không phải cứ cầu chữ to là được.

Chuyện nhà hát và những cái bệnh viện giờ giống y sì như chuyện “no con mắt và đói cái bụng” khi huyện nghèo miền núi Krông Nô vốn “chỉ có” 34,16% hộ nghèo, học đòi định tổ chức bắn pháo hoa.

Ừ thì “Không có một đất nước nào lại dừng lại và không hoạt động gì trong lúc khó khăn cả”. Cũng đúng khi “Bên cạnh đời sống vật chất thì còn nhu cầu đến hưởng thụ đời sống tinh thần”. Nhưng những người bụng sôi ùng ục, đang phải nằm chen như cá hộp trong gầm giường những cái “chợ bệnh viện” xin đặt một câu hỏi nhỏ: Những cái nhà hát hoành tráng, những Viện bảo tàng siêu khủng sẽ trình diễn những gì về cuộc sống đương đại? Bảo tàng lịch sử sẽ là nơi triển lãm những bức ảnh cơ cực với chủ đề “Chợ cóc bệnh viện”. Nhà hát sẽ là nơi những diễn viên mặc áo pijama hát lên khúc “bệnh viện bi ca”?

Hẳn nhiên việc no cái bụng chính đáng hơn sướng con mắt. Hẳn nhiên nỗi cơ cực ngoài da nhiêu khê, khốn khổ hơn nhiều so với thú vui tao nhã là “quần là áo lượt tai không trâu” đến nhà hát nghe nhạc giao hưởng.
Tin mừng là Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án giảm quá tải bệnh viện. Theo đó, đến 2020, mỗi bác sĩ chỉ còn phải khám 35 bệnh nhân/ngày và tại các bệnh viện sẽ không còn tình trạng quá tải. Cụ thể hơn, đến 2015 phải “cơ bản khắc phục tình trạng nằm ghép”.

Tin không mừng là một quan chức ngành thể thao khẳng định kinh phí tổ chức Asiad 2019 “chỉ 150 triệu USD” là “vừa sức”.

Nếu được một điều ước, giản dị thì đó là 34,16% hộ nghèo Krông Nô bỗng nhiên thoát nghèo để được hưởng một đêm pháo hoa thỏa thích. Hay thực tiễn hơn, Sân vận động Mỹ Đình trị giá 53 triệu USD sẽ trở thành Viện Châm cứu, thay vì massage đá nóng.

Nhưng ước mơ lãng mạn nhất của dân chúng thì dứt khoát phải là việc Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn sang tận Giảng Võ “ngỏ lời” với nữ Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến với món tặng phẩm là 10.800 tỷ giải cứu cho những con cá hộp đang rúc gậm giường trong những cái chợ vẫn được gọi là bệnh viện!



BLOG ĐÀO TUẤN

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư Pháp của QH, bà Lê Thị Nga đã nhắc đến trường hợp bị can Phạm Đình Tiến, nguyên thiếu tá thuộc Công an TP Hà Nội đã bị tạm giam đến năm thứ 7 về tội nhận hối lộ.

Và sau 7 năm, bị can này vẫn ở vào tình trạng “Không tuyên rõ là có hay không có tội”.

Phát biểu trong Hội nghị triển khai Nghị quyết 37 của QH về phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm do Thường vụ QH tổ chức sáng nay 23.1, bà Nga đề nghị các cơ quan tư pháp “Phải giải thích rõ vụ này”. Bởi theo bà, đây là vụ việc khó chấp nhận trong cải cách tư pháp. Về tình trạng án quá hạn, Phó chủ nhiệm Ủy ban TƯ pháp đề nghị “không chỉ riêng ngành TA, các cơ quan khác cũng phải rà soát lại những vụ quá hạn.” Ví dụ khác được bà Nga cho là “dư luận rất bức xúc” và bản thân bà cũng đã có ý kiến. Đó là vụ án Trần Minh Anh, ở Ngọc Hà, HN bị truy tố về tội Lừa đảo. Trần Minh Anh đã bị giam giữ từ tháng 4/2009 đến nay, thời gian “kéo dài qua 2 khóa QH”, trong khi vẫn “Chưa mở được phiên tòa sơ thẩm”.

“Mà đây là 2 vụ do các cơ quan tư pháp ở trung ương tiến hành”- Phó Chủ nhiệm Ủy ban TƯ pháp lưu ý.

Một vấn đề khác cũng đã được đề cập tại nghị trường, liên quan đến giám định mà dư luận rất quan tâm bức xúc. Đó là “Khi gây án, đối tượng tỉnh táo, bình thường, thậm chí còn vạch kế hoạch phi tang xác. Tuy nhiên, khi xử lý bỗng dưng bị tâm thần”. Nhắc lại một điều tra trên báo Tiền Phong về “Đường dây mua bán bệnh án tâm thần”, bà Nga đề nghị ngành y tế cũng như các cơ quan tư pháp phải làm rõ, bởi “Người bị hại và cử tri bức xúc”. Theo số liệu của Ủy ban tư pháp, cả nước hiện có tới 10 triệu người có liên quan đến tâm thần và các chứng bệnh liên quan đến tâm thần. Trong khi đó, đối tượng được quản lý rất ít. Nhắc lại vụ Cao Quốc Huy, đối tượng tâm thần vào nhà trẻ, bắt cóc cháu bé- Phó Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp lưu ý không thể buông lỏng việc quản lý số đối tượng này.



BLOG HIỆU MINH

Mình chẳng biết “Bên thắng cuộc” viết gì vì vẫn đợi sách in đọc thích hơn. Chỉ nhớ bìa có ảnh minh họa là hai loa phường mắc trên cột điện, biểu tượng của miền Bắc những năm chiến tranh.

Chả hiểu Osin có ý gì. Có thể loa tuyên truyền là một trong những yếu tố làm nên “Bên thắng cuộc”.

Nghe thiên hạ đồn thổi ghê quá, đâm ra mình càng tò mò, do truyền thông cả trái lẫn phải nhét vào tai mình.
Mới ra được hơn tháng mà có hàng trăm entries trên blog, facebook, báo Việt Nam, bên Mỹ, cả xứ sương mù London cũng bàn tới bàn lui, mong người đọc sáng mắt thêm. Web hải ngoại tràn ngập, khen có, chê có, chả nói gì cũng nhiều.

Phe mê Osin còn phải nói. Họ chuyền tay nhau đọc, rỉ tai về nhậy cảm chính trị, bí mật cung đình của xứ Việt mà xưa nay luôn là thứ cấm kỵ. Hiện Facebook của Osin có tới gần 15.000 followers (theo đọc).

Tờ Pháp luật Tp HCM làm hai bài,  (thêm bài tại đây nữa) nghiêng về chê cuốn sách có “cái nhìn thiên kiến về lịch sử”. Báo CAND cũng làm một loạt bài khá công phu, gọi đó là “chém gió”. Mấy ngày nay, báo chí bắt đầu giàn đồng ca.

Phía California có cả biểu tình lên án cuốn sách dù người tham dự nói chẳng thèm đọc sách, cứ phản đối cái đã.

Tự nhiên biểu tình và báo chí lên án lại quảng cáo không công cho cuốn sách chưa được phép phát hành tại Việt Nam.

Chê bai trên báo chính thống, trong lúc người đọc xứ Việt chả biết mặt mũi BTC ra sao, ngang bằng nói oang oang “Có cuốn sách bí mật về chính quyền VN đó đó, bà con nên đọc đi”.

Nếu định dìm cuốn sách bằng cách này thì họ đang mắc thêm phao cho nổi hơn. Bởi ý kiến cuối cùng thuộc về độc giả, đâu cần ai định hướng. Bạn đọc thời nay tinh lắm, đủ trình độ cross check and balance (kiểm chứng).

Càng phê bình nặng nề độc giả càng tò mò. Họ sẽ lẩm bẩm, để xem tay Osin viết “bậy bạ” như thế nào.
Tập một “Giải phóng” có ảnh bìa minh họa là hai cái loa chĩa ra hai hướng. Hình như sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh, người Việt ở hai bờ đại dương vẫn đang làm việc đó.

Nếu cho rằng “Bên thắng cuộc” lại đang thắng nhờ “loa phường” với hiệu ứng tuyên truyền ngược như hiện nay cũng chẳng sai.



BLOG LƯƠNG KHÁU LÃO

Tháng 4 năm 2012, khi Trung ương Đảng họp và quyết định không để Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm Trưởng ban Chống  tham nhũng nữa và chuyển sang để ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư trực tiếp phụ trách, đồng thời lập lại Ban Nội chính và Ban Kinh tế Trung ương thì nhiều người nghĩ rằng thời của ông Dũng đã hết.

Lúc đó tôi đã viết bài “Tôi bỏ một phiếu cho Nguyễn Bá Thanh”. Bằng những gì tôi đã biết về một Nguyễn Bá Thanh và Đà Nẵng nơi ông “nắm quyền sinh quyết sát” nhưng cũng đã làm được rất nhiều việc để đưa Đà Nẵng lên thành một trọng điểm phát triển kinh tế Miền Trung và ngang tầm các thành phố hiện đại trên thế giới. Tôi thấy ở ông có cái gì đó giống Chu Dung Cơ khi còn làm bí thư Thượng Hải và kiến nghị ông là người thay Nguyễn Tấn Dũng nếu ông này bị thay thế nhưng trước mắt hãy về làm Trưởng ban Nội chính TW giúp Ông Trọng chống tham nhũng đã.

Dự đoán của tôi nay đã đúng một nửa, ông đã có quyết định “ra Ba Đình” như BBC đưa tin. Và mấy hôm nay, báo chí lề phải, lề trái  ồ ạt đưa tin về ông. Khen có, chê có, tin tưởng có và cho rằng rồi ông cũng chả làm được gì khi các nhóm lợi  ích đang thi nhau xâu sé đất nước này.

Thấy ông phát biểu chia tay Đà Nẵng rằng “Hốt luôn, không nói nhiều“ với đám Ngân hàng thông đồng với Nhà đầu tư nâng khống giá đất để chiếm dụng hàng trăm ngàn tỉ đồng đưa cục nợ xấu quốc gia lên hàng chục tỉ đô la thì một lần nữa người ta lại thấy cá tính Nguyễn Bá Thanh và hy vọng ông sẽ là một Bao Công thời nay.

Nhưng tôi còn rất băn khoăn.

Băn khoăn thứ nhất là liệu nếu ông làm mạnh tay, đụng chạm đến các nhân vật chóp bu đầy quyền lực và quyền lợi thì “vua” Nguyễn Phú Trọng, người luôn có “tấm lòng nhân ái thương người” và “sợ  ân oán” sợ bị trả thù có để cho ông làm không. Hay lại lấy quyền to nhất để phủ quyết.

Băn khoăn thứ hai là ông lấy đâu ra lực lượng giúp việc nếu chỉ có mấy cái Vụ viện chuyên “ngồi chơi xơi tiền phong bì” bên Trung ương Đảng chuyển sang. Ông có quyền thành lập một lực lượng đặc nhiệm chuyên phát hiện, điều tra và cho “hốt luôn, không nói nhiều”như bên Trung Quốc người ta làm hay không,  còn nếu ông lại dựa vào điều tra xét hỏi bên Công an thì thôi rồi ông Thanh ơi.

Băn khoắn thứ ba là tại sao Trưởng ban Nội chính lại chỉ chống tham nhũng. Muốn chống tham nhũng trước hết phải làm trong sạch đội ngũ chống tham nhũng trước. Đó chính là làm trong sạch bộ máy Công an khổng lồ và cường quyền tuyệt đối, đến Tổng cục II cũng chào thua.

Bộ Công an có nhiều ngành như cảnh sát kinh tế, cảnh sát điều tra, cảnh sát trật tự, cảnh sát giao thông… Ông không thể cùng một lúc làm tất cả cái mớ bòng bong này được. Trước mắt theo tôi, ông nên “hỏi thăm” cái đám áo vàng trước. Ông có biết họ hàng ngày hành dân như thế nào và người dân đã chịu đựng và căm thù họ đến mức nào không? Đối với cái đám ra đường giơ gậy chặn xe mà ăn mãi lộ thì ông quá rõ, ông có biết một lái xe đã chụp ảnh một CSGT ngồi thu lu trên ghế nhựa ở đường cao tốc trên cao để canh chừng người lái xe máy vi phạm và anh ta nói  “Kìa xem có khác gì con chó vàng không”.

Nhưng còn hai địa chỉ nữa mà ông có lẽ chưa “mục sở thị”. Tại các cơ sở đăng kí xe của Phòng cảnh sát Giao thông Hà Nội, người ta ăn tiền công khai trắng trợn  như thế nào. Nguyên tắc khi đi đăng kí xe mới, sau khi khai báo hồ sơ, viết tờ khai, CSGT phải khám xe cho khớp số khung số máy sau đó làm thủ tục chọn biển số.  Nhưng ở Đơn vị số 3 trên đường Láng chẳng có khám xét gì cả. Cứ vào Phòng một ông mặc thường phục đưa hồ sơ có kẹp 200K là ông này kí nháy ngay vào tờ khai. Có chữ kí của ông này ra nộp cho ông áo vàng ngồi nhận hồ sơ bên ngoài kẹp thêm 300K nữa thì ông này cho bấm máy chọn biển số.
Nếu không có cái khoản này thì ông “còn bận” không thèm trả lời. Tất cả chỉ cần 5 phút là xong nhưng ai cũng mất ít nhất hai tiếng đồng hồ chạy đi chạy lại không biết hỏi ai, không biết xin ai, không biết nộp tiền cho ai, nộp bao nhiêu cho vừa lòng các “người công bộc của nhân dân”, cuối cùng phải nhờ cò chỉ dẫn. Ông hãy đóng vai hoặc cử cán bộ giả người đi đăng kí xe vi hành thử xem tôi nói có đúng không.

Nhưng chiều 9-1 khi tôi cùng người nhà đi đăng kí xe mới đã chứng kiến một cảnh “không thể tưởng tượng nổi”. Có hai người đàn ông đi vào phòng ông kí nháy khám xe lôi ông này ra khỏi phòng và đứng giữa sân, trước mắt tất cả mọi người đến đăng kí xe, chửi ông này như “hát hay”. Trong 5 phút tôi đếm ông này đã tung ra khoảng 20 lần các từ vô cùng thô tục và bẩn thỉu “Đ.mẹ mày” Bú C.” “Bú L.” Ông kí nháy im lặng chịu trận, các nhân viên khác cũng ngó lơ. Cho đến khi một tốp công an áo vàng do một viên Trung tá đi cùng tiến vào tay cầm một bó hoa và một giấy khen ép plastic gì đó thì cái thằng lưu manh kia mới dừng lại nói nhỏ với viên Trung tá ”em chào anh ạ” và lủi mất. Không biết giữa họ có thù hằn gì hay ăn chia không sòng phẳng mà chửi nhau công khai chốn công đường như vậy. Trung tá Vũ Văn Hiến nổi tiếng với câu nói “Tự do cái con C. “ chưa là cái đinh rỉ gì.

Rồi cái đám điều tra xét hỏi và xử lí vi phạm mới ăn ngon chứ. Biên bản hiện trường có thể hôm sau khác hôm trước. Cả bên gây ra tai nạn và bên bị tai nạn nếu không hòa giải được với nhau mà phải nhờ đến công an thì thôi rồi. Cả hai bên đều phải ”nôn“ ra kể cả khi đưa nhau ra tòa án.

Thế đó. Nếu ông có cách gì phối hợp với Đại tướng Trần Đại Quang làm trong sạch Bộ máy Công an thì lòng dân may ra mới yên được. Chứ cứ bênh nhau như thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục CSGT rằng “mãi lộ trong ngành CSGT chỉ là tiêu cực” lặt vặt thì chả còn gì để nói nữa.

Băn khoăn thứ tư là liệu với cái đám tham những làm thất thoát của Nhà nước hàng trăm hàng chục ngàn  tỉ đồng như Phạm Thanh Bình Vinashin, Dương Chí Dũng Vinalines hay cái thằng “Lã Bất Vi” Việt Nam Nguyễn Đức Kiên buôn bán cơ chế và mua quan bán chức chiếm đoạt của nhà nước hàng chục ngàn tỉ  đồng có bị Nguyễn Bá Thanh cho “dựa cột“. Hay lại hai chục năm hay chung thân trong tù mà sướng như tại ngoại rồi ba bảy hai mốt ngày cải tạo tốt và được về đoàn tụ với gia đình lôi số tiền ăn cắp và dấu diếm được ra tiều xài từ đời bố đến đời con cháu cũng không hết.

Ngày xưa ông Hồ nổi tiếng là nghiêm khắc khi xử tử hình viên đại tá Trần Dụ Châu chỉ vì mấy bộ quân nhu. Hơn hai chục năm trước, Tăng Minh Phụng- kẻ đi tiên phong trong chủ trương “Đổi đất lấy cơ sở hạ tầng” đã mất mạng vì chưa đến ngàn tỉ nợ ngân hàng. Còn hôm nay, ông Bao Chửng mới có dám chém đầu một số tên cộm cán đã bị điểm mặt chỉ tên để làm gương cho cả bầy sâu tham nhũng hay không. Luật pháp và khung hình phạt đã có, nếu ông không làm thì ông cứ ở Đà Nẵng, đừng ra Ba Đình làm gì cho nhọc thân.



BLOG NGUYỄN VĂN THIỆN

Thông tin về việc blogger Lê Anh Hùng bị bắt đưa vào trại Tâm thần một cách mờ ám đang được nhiều bạn đọc quan tâm. Lê Anh Hùng là người mà mấy năm nay theo đuổi vụ việc tố cáo Hoàng Trung Hải, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đồng thời là tác giả của nhiều bài viết sắc sảo về tình hình chính trị - xã hội. Địa chỉ blog ở đây: http://leanhhungblog.blogspot.com/

Việc ai có quyền đưa người vào trại tầm thần và dựa vào đâu mà có thể quy kết người khác bị tâm thần cần phải được làm sáng tỏ. Đằng sau vụ việc này, có nhiều mờ ám khiến người ta nghĩ ngay đến những ngón đòn vẫn thường gặp lâu nay đối với những người đi kiện tụng nhiều: ném phân vào nhà, cho quần chúng tự phát đến đập phá, quy kết bị tâm thần, thần kinh…

Đó chính là những ngón nghề bẩn thỉu mà một số kẻ vẫn thích thực hiện để trả thù những người tố cáo.
Chúng không từ một thủ đoạn nào dù là đê hèn nhất để dập tắt tiếng nói phản kháng từ trong nhân dân. Đặc biệt, những người viết blog hàng ngày đang cập nhật/chỉ ra/làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà báo chí chính thống không được nói. Việc này chắc chắn làm cho các nhà quản lý đau đầu và tìm cách triệt phá. Sau khi dựng tường lửa ngăn chặn bất thành, họ lại tổ chức lập ra các trang “blog mồi”, “blog đỏ” để cạnh tranh nhằm định hướng dư luận, mới đây lại thêm cái trò “dư luận viên” tung lên mạng để đánh loãng dư luận và vẫn không ăn thua.

Vậy nên, việc quy kết cho người khác là tâm thần xem ra nhanh hơn cả và đỡ tốn kém. Vì vậy, trong tình hình hiện nay mỗi blogger hãy sẵn sàng cho mình hành trang cần thiết để nhập trại bất cứ lúc nào.

Mỗi chúng ta là một bệnh nhân tâm thần dự khuyết, vấn đề còn lại là khi nào vào trại mà thôi!



BLOG PHẠM VIẾT ĐÀO       

Lời góp của Hai Xe Ôm: Trong ngành công an có một "yem" lên tướng bằng "tên lửa vượt đại châu", đó là "yem" Lê Hồng Anh, từ binh bét phắt một phát lên Đại tướng..."Yem " này lên nhanh nghe nói do là con riêng của ông Nguyễn Văn Linh, cư dân mạng đồn thế ???

 
Thấy năm nào Báo chí cũng công bố quyết định phong hàng chục Tướng. Thợ cạo tò mò Việt Nam mình hiện nay có bao nhiêu Tướng lãnh nhỉ?

Bên Quân đội:

Thợ cạo cộng dồn theo số liệu Vi.wikipedia đang tại chức (có danh sách kèm theo):
Cấp Thiếu tướng =    272
Cấp Trung tướng =      86
Cấp Thượng tướng =    7
Cấp Đại tướng =           2
Tổng cộng =             366

Quân đội mấy năm qua không thấy công bố số liệu cho báo chí, theo trang Bienphong hé lộ thì năm 2012, thăng quân hàm cấp tướng là 70 người.

Bên Công an:

Năm 2012, thăng hàm cấp tướng 48 người (Cadn)
Năm 2011, thăng hàm cấp tướng 58 người
Cũng năm này, trao quân hàm Thượng tướng, Đô đốc cho 2 người của Công an và 7 của Quân đội.
(Vietnamplus)
Nhanh nhất là Trần Đại Quang được phong hàm Thượng tướng (2011), Đại tướng (2012)

Trung bình ở Việt Nam, mỗi năm phong 100 em lên Tướng.
Áng chừng tổng số tướng lãnh Quân đội và Công an, gộp chung chia đều thì mỗi tỉnh thành hiện nay có khoảng 8 sao. Nếu dồn về Bộ thì đi đụng đầu nhau.

Tính từ hàm Đại tá trở lên, cả Quân đội và Công an thì ở Việt Nam, có thể đến hàng vạn Sĩ quan cao cấp.

Ngẫm lại thời đánh Mỹ và VNCH, Phe ta đâu chừng có vài chục Tướng chỉ huy cả thảy hơn triệu quân.
Nay thời bình, quân số ít hơn nhưng Tướng tăng chóng mặt. Với đời sống no đủ hơn, Tướng nhiều hơn, vũ khí phương tiện hiện đại hơn xưa nhiều, ấy vậy mà nhiều người lo nếu xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, Việt Nam oánh không lại bọn Tung Chảo là sao nhỉ?
_________
Tranhung09









Trương Nhân Tuấn - Phi kiện Trung Quốc: Lợi ích và kinh nghiệm nào cho phía Việt Nam ?



Trương Nhân Tuấn

1/ Phi kiện Trung Quốc về các điều gì ?

Ngày 23 tháng giêng năm 2013, trên trang web của của Bộ Ngoại giao Phi (DFA), có đăng văn bản giải thích, qua hình thức câu hỏi và trả lời, các thủ tục và nguyên nhân vì sao Phi kiện Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp tại biển Tây Phi. Theo văn bản này, bộ Ngoại giao Phi đã chuyển công hàm đến tòa Đại sứ Trung quốc tại Manille vào chiều ngày 22-1-2013, cho biết Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Ngoại trưởng Albert del Rosario sau đó họp báo và giải thích, sở dĩ Phi đã phải dùng tới giải pháp này vì đã cạn kiệt mọi giải pháp chính trị và ngoại giao nhằm giải quyết tranh chấp hòa bình với Trung quốc tại Biển Tây Phi (WPS).


Theo công hàm gởi Tòa và Đại sứ TQ tại Manille, hồ sơ kiện của Phi được thành lập gồm 7 phần và 43 điều. Phần I, giới thiệu bối cảnh, từ điều 1 đến điều 8. Phần II “Bối cảnh”, từ điều 9 đến điều 30, được phân ra làm 4 tiểu đoạn A, B, C, D. Phần III “Nội dung kiện”, điều 31. Phần IV “Thẩm quyền của Tòa trọng tài”, từ điều 32 đến điều 40. Phần V “Yêu cầu chế tài”, điều 41. Phần VI “Chỉ định trọng tài”, điều 42. Phần VII “quyền bảo lưu”, điều 43.

Ngay từ dòng đầu tiên, điều 1 Phần mở đầu, ta có thể thấy tức khắc Phi muốn kiện Trung Quốc ở các điều gì.  

Phần mở đầu, “Lời giới thiệu”:

Điều 1, Phi cho biết việc kiện của Phi là nhằm : “phản đối yêu sách của Trung Quốc đối với các khu vực trên biển Đông và vùng đáy biển cách bờ biển gần nhứt của Trung Quốc là 870 hải lý”, bởi vì các khu vực biển này “Trung Quốc không có quyền theo Công ước về Luật biển 1982 (UNCLOS), mà các vùng biển này tạo nên vùng Kinh tế độc quyền (EEZ) và thềm lục dịa của Phi”.

Điều 2, tố cáo Trung Quốc không thực thi UNCLOS một cách có thiện chí, như việc vạch tự tiện đường 9 đoạn chữ U, ngược với tinh thần điều 300 của UNCLOS.

Điều 5, Phi phản đối việc TQ thành lập đơn vị hành chính trực thuộc đảo Hải Nam và chính quyền tỉnh áp dụng luật một cách tự tiện.

Điều 6, Phi mong muốn có một phán quyết, bao gồm 3 ý nghĩa chính: 1) yêu sách của TQ dựa trên đường 9 đoạn là không phù hợp với UNCLOS và vô giá trị; 2) xác định tình trạng pháp lý một số cấu tạo địa chất mà Phi và Trung Quốc cùng có yêu sách chủ quyền, theo điều 121, chúng có phải là “đảo”, bãi cạn, bãi chìm hay không? Các cấu tạo này có quyền được hưởng vùng biển rộng hơn 12 hải lý hay không? và 3) tạo điều kiện cho Phi được hưởng các quyền của mình.

Điều 7, Phi xác định không yêu cầu Tòa trọng tài phán quyết việc bên nào có chủ quyền ở các đảo, cũng không yêu cầu Tòa phân định ranh giới trên biển nhằm để tránh những ràng buộc của tuyên bố bảo lưu của TQ ngày 25-8-2006 về điều 298 UNCLOS (không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa trọng tài).

Từ mong muốn được Tòa phán quyết trên 3 thỉnh nguyện ở điều 6, phần III “Nội dung kiện” 3 thỉnh nguyện này được chi tiết hóa, trở thành 10 điểm yêu cầu Tòa, tóm lược như sau:
1.    Các quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).
2.    Yêu sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.
3.    Các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI UNCLOS.
4.    Các bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xi Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?
5.    Bãi Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.
6.    Bãi Hoàng Nham và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.
7.    TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma.
8.    Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.
9.    TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
10. TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS.

2/ Thử giải thích ý nghĩ pháp lý các yêu cầu:

Từ 10 điểm trong nội dung kiện, Phi yêu cầu Tòa phán quyết ở 13 điểm, theo như điều 41 phần V “Yêu cầu chế tài”. Các điểm quan trọng ghi lại như sau:

Điểm 1, Phi yêu cầu Tòa phán rằng các quyền của các bên ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. Ở đây nên phân biệt quyền chủ quyền về kinh tế tại vùng độc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa 200 hải lý và các quyền chủ quyền khác (như trên đất liền) tại vùng lãnh hải (12 hải lý) và tiếp cận lãnh hải (12 hải lý), phù hợp với nội dung các phần V, VI và II của UNCLOS. Điểm này Tòa có thể tuyên bố chấp thuận dễ dàng, vì nó thuộc thẩm quyền của tòa và vì nó phản ảnh nội dung của UNCLOS. Lợi ích ở điều này là đặt các yêu sách về quyền của Trung Quốc vào trong khuôn khổ của Luật quốc tế. Trường hợp các tàu vũ trang của TQ đột lốt “hải giám” (mà hành sử như “hải tặc”) ở vùng biển của VN trong vài năm nay, từ nay phải hành sử trong khuôn khổ của Luật quốc tế cho phép.

Điểm hai, Phi yêu cầu tòa tuyên bố yêu sách của TQ qua bản đồ đường 9 đoạn là vô giá trị. Điểm này Tòa có thể tuyên bố thuận, vì vẫn nằm trong thẩm quyền của tòa, do hai lý do : 1/ bản đồ 9 đoạn không có giá trị ràng buộc vì không phải là bản đồ phân định ranh giới, chưa hề được nhìn nhận bởi các bên liên quan như kết quả của một (hay nhiều) kết ước phân định ranh giới biển. 2/ TQ không chứng minh được “quyền lịch sử” hay “vùng nước lịch sử”  của họ tại vùng biển giới hạn trong đường 9 đoạn. (TQ chưa bao giờ thể hiện thẩm quyền chủ tể của họ tại vùng biển này. Giả sử có, thì thẩm quyền này đã không thể hiện một cách liên tục. Trong khi các nước trong khu vực chưa bao giờ, ám thị hay minh thị, chấp nhận thẩm quyền của TQ trong vùng biển).

Nếu Tòa tuyên bố thuận, việc này sẽ buộc phía TQ làm sáng tỏ các luận cứ của mình, nếu muốn duy trì đòi hỏi các quyền chủ quyền ở biển Đông. Phía TQ, có lẽ đã ý thức sự phi lý của bản đồ chữ U, do đó trong thời gian gần đây có khuynh hướng tuyên bố « TQ có chủ quyền không thể chối cãi các đảo HS và HS và vùng biển chung quanh » chứ không nhắc tới “quyền lịch sử” hay vùng “nước lịch sử” tại vùng biển này nữa. Phía TQ phải đưa các chứng cớ cụ thể để chứng minh « chủ quyền không thể chối cãi tại các đảo » và giải thích « vùng biển chung quanh » là vùng biển được xác định theo tiêu chuẩn nào ?

Điểm 3, yêu cầu Trung Quốc sửa luật quốc gia cho phù hợp với UNCLOS. Điều này có thể dễ dàng được Tòa chấp thuận, nếu hai điểm yêu cầu 1 và 2 ở trên được chấp thuận. Tuy nhiên, điều khó khăn là Trung Quốc đòi chủ quyền toàn bộ các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, Luật Biển của nước này áp dụng trên các đảo này từ năm 1958.

Ta thấy, điều 6 (điểm 2), phần I “Lời giói thiệu”, ta thấy Phi yêu cầu: xác định tình trạng pháp lý một số cấu tạo địa chất mà Phi và Trung Quốc cùng có yêu sách chủ quyền, theo điều 121, chúng có phải là “đảo”, bãi cạn, bãi chìm hay không? Các cấu tạo này có quyền được hưởng vùng biển rộng hơn 12 hải lý hay không?

Dầu vậy, toàn bộ 10 điểm trong nội dung kiện (điều 31), cũng như ở 13 điểm khiếu nại (điều 41), Phi hoàn toàn không nhắc lại yêu cầu đã nói ở điều 6 (điểm 2). Đây là do cố ý hay do sơ sót ? Nếu Phi không nhanh chóng sửa đổi hồ sơ, như đã bảo lưu ở điều 43, các điểm mờ về pháp lý của các đảo thuộc Trường Sa vẫn còn nguyên. Việc này dẫn đến các nước có các tuyên bố tự tiện, đối chọi nhau về cách diễn giải điều 121, về hiệu lực của các đảo.

Mặt khác, các cấu tạo địa chất mà Phi và Trung Quốc cùng dành chủ quyền ở Trường Sa có rất nhiều, là toàn bộ các đảo của Phi hiện đang chiếm, như đảo Thị Tứ. Một điểm khác mà Phi đã quên Việt Nam, một bên đòi hỏi chủ quyền các đảo. Phía Trung Quốc chỉ “đòi miệng” chứ chưa bao giờ, trên phương diện pháp lý và trên thực tế, đã từng đặt chân trên các đảo mà họ đòi chủ quyền. Trong khi các đảo mà Phi hiện chiếm tại TS là do chiếm hữu một cách trái phép của VN, trong các thập niên 60, 70, trong lúc tình trạng chiến tranh hai miền Nam Bắc đã khiến chính quyền Sài Gòn không có đủ phương tiện để bảo vệ các đảo này. Phía VN có đầy đủ tư cách từ pháp lý, đến việc chiếm hữu trên thực tế trong một thời gian dài và liên tục, để chứng minh chủ quyền của VN trên các đảo đó.    

Các điểm 4 và 5, Phi yêu cầu Tòa tuyên bố bãi Vành Khăn và McKennan, vốn là các cấu tạo địa lý chìm thường trực dưới mặt biển,  thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS và yêu cầu Trung Quốc ngưng chiếm đóng và ngưng các sinh hoạt tại hai bãi này.

Các điểm 6 và 7, Phi yêu cầu Tòa tuyên bố các cấu tạo Xu Bi và Gaven, là các cấu tạo  dưới mặt nước, không thuộc qui chế đảo theo qui định của điều 121 UCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ vì vậy việc Trung Quốc chiếm đó và xây dựng trên các bãi này là trái phép.

Các yêu cầu 4, 5, 6 và 7 là chính đáng, có thể được Tòa chấp thuận, vì thuộc thẩm quyền của tòa. Lý do, các cấu tạo địa lý chìm dưới mặt nước dĩ nhiên không phải là « một lãnh thổ ». Nếu không phải là lãnh thổ thì làm sao có thể chiếm hữu, sau đó xây dựng thành các đảo nhân tạo, từ đó đòi hỏi các quyền chủ quyền ?

Điểm 8, bãi Hoàng Nham và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.

Tuy vậy, phần “Nội dung kiện”, điều 31 điểm 6, yêu cầu của Phi, về các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI của UNCLOS. Điểm này không nói lại rõ rệt trong điểm 8 của phần V “Yêu cầu chế tài”.

Yêu cầu của Phi ở điểm này rất chính đáng và hữu ích, vì nó có thể làm sáng tỏ một điểm mờ từ nhiều năm nay trong Luật quốc tế về Biển. Nó sẽ loại bỏ được các đòi hỏi phi lý của các nước về các quyền chủ quyền tại các cấu trúc địa lý lúc nổi lúc chìm, như trường hợp các bãi cạn mà TQ đã cưỡng chiếm bằng vũ lực trong vùng Biển của VN năm 1988.

Phi vịn vào phần VI của UNCLOS để yêu cầu nhưng không có điều nào trong bộ Luật Quốc tế về Biển xác định về tình trạng pháp lý của các cấu tạo lúc chìm lúc nổi.

Trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn (Qatar đơn phương kiện Bahreïn lên CIJ), Tòa có nói về việc này như sau:

“luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.

Tức UNCLOS không nói gì về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi.

Vấn đề đặt ra, do kẽ hở pháp lý này, phía TQ có thể chiếm hữu các cấu tạo địa lý này đồng thời tuyên bố các quyền thuộc chủ quyền của họ (về lãnh hải, EEZ, thềm lục địa...), như trường hợp đá Hoàng Nham.

Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán quyết của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008, ta thấy trường hợp tương tự. South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ thấy khi thủy triều thấp. Trường hợp này, tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án dẫn trên, nhưng Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.

Nếu phán quyết này trở thành một “án lệ”, (và các bãi lúc nổi lúc chìm không được chiếm hữu), yêu cầu của Phi có thể được Tòa chấp thuận.

Một ghi nhận khác, cũng ở điểm 8, dường như Phi, một cách ám thị, đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại các cấu tạo địa lý này. Mà điều này không đúng. Bởi vì các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập… là các cấu trúc địa lý của VN, vì chúng là một thành phần không thể tách rời của  các đảo cận bên mà các đảo này thuộc về VN.

Có lẽ mục tiêu của Phi là nhằm “khoanh vùng tranh chấp” với Trung Quốc. Vì Tòa không có thẩm quyền phân xử tranh chấp chủ quyền, do đó ý kiến (ám thị) của Phi có thể “vô hại”. Vùng tranh chấp giữa Phi và TQ như vậy được xác định không quá 12 hải lý chung quanh các bãi đá Hoàng Nham, Châu Viên, Gạc Ma và Chữ Thập.

Ngoài việc bảo lưu các đá trên thuộc VN, yêu cầu của Phi là chính đáng. Vì, các đá này nếu thuộc về VN hay của nước nào khác, thì cũng chỉ là “đá” đúng như định nghĩa ở điều 121, khoản 3 của UNCLOS, không thể đòi vùng biển quá 12 hải lý. Ở yêu cầu này Tòa có thể thỏa mãn cho  Phi vì nó thuộc thẩm quyền của Tòa và phù hợp với Luật quốc tế.

Điểm 9, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma. Nhưng ở điểm này Tòa sẽ khó tuyên bố chấp thuận cho Phi, vì các đá này có phần nổi thường trực trên mặt nước, do đó TQ có quyền chiếm hữu. Nếu đá đó thuộc chủ quyền của TQ, các tàu bè của các nước khác, kể cả Phi, không được đi vào trong vòng 12 hải lý tính từ các đá đó để khai thác về kinh tế. Thâm ý của Phi ở đây, vì không được đụng đến vấn đề “chủ quyền” (ngoài thẩm quyền của Tòa do bảo lưu của TQ), do đó nếu yêu cầu này được chấp thuận, các bãi đá này sẽ thuộc về chủ quyền của Phi.

Điểm 10, Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi. Tòa có thể tuyên bố chấp thuận cho Phi sau khi xem xét ít nhứt hai điều: a) đường cơ bản quần đảo của Phi phù hợp với UNCLOS đồng thời không bị các nước khác phản đối. b) không bị chồng lấn bởi hiệu lực của các đảo thuộc về một nước khác.

Trên thực tế, các đảo thuộc Trường Sa của VN, là các đảo có thể có người sinh sống và có thể có nền kinh tế tự túc, do đó có thể có một hiệu lực nhứt định về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa, chiếu theo điều 121 của UNCLOS. Việc này có thể tạo vùng chồng lấn với vùng EEZ của Phi.
Yêu cầu của Phi ở điều này cũng có hậu ý. Có thể nhằm mục đích “cắt cỏ dưới chân” các nước có yêu sách đòi quyền chủ quyền ở các đảo Trường Sa, nếu yêu cầu của Phi được Tòa chấp thuận.

Việc Tòa chấp thuận, hàm ý các đảo thuộc Trường Sa quá nhỏ để có thể có xếp vào khoản 3 của điều 121 UNCLOS. Điều này đã đề cập ở phần “Nội dung kiện”  nhưng không đưa vào phần “Yêu cầu chế tài”.

Điểm 11, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này, cũng như đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.

Nếu Tòa đáp ứng yêu cầu của Phi ở điểm 10, tức các cấu trúc địa lý thuộc Trường Sa chỉ là đá, theo khoản 3 điều 121 UNCLOS, thì đương nhiên Tòa sẽ chấp thuận yêu cầu của Phi, ngoại trừ các vùng biển bán kính không quá 12 hải lý (điểm 6), tính từ các cấu trúc địa lý nằm trong vùng EEZ của Phi, nếu các cấu trúc này thuộc chủ quyền của nước khác.

Điểm 12, Phi yêu cầu Tòa lên án TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS. Điểm này Phi cần đưa chứng cớ là TQ đã cản trở quyền tự do hàng hải của nước này khi nào ? ở đâu ? trường hợp nào ? Tùy thuộc địa điểm, tùy thuộc vùng biển (lãnh hải hay vùng EEZ) mà Tòa có thể tuyên bố thuận hay không.

Điểm này Phi cũng có mục tiêu nhắm tới các tàu hải giám của TQ, đã hoạt động một cách ngang ngược trong vùng biển giới hạn bởi tấm bản đồ 9 đoạn.

Điểm 13, Phi yêu cầu tòa tuyên bố Trung Quốc phải chấm dứt các hành vi bất hợp pháp.

3/ VN có lợi ích gì từ vụ kiện này?

Vụ kiện TQ của Phi, dầu VN không can dự, nhưng cũng là một bên liên quan, như Phi, đối với Trung Quốc. Có điều quan hệ giữa VN và TQ phức tạp vì tròng tréo nhiều điều như văn hóa, lịch sử, chính trị, ơn nghĩa, ý thức hệ… trong khi quan hệ Trung-Phi đơn giản hơn nhiều. Tuy vậy, VN có thể hưởng lợi ở một số điều (theo nội dung vụ kiện) như sau:

Điểm 1, lợi ích là đặt tất cả các bên Trung Quốc, Phi và VN vào trong khuôn khổ của Luật quốc tế. Vùng kinh tế độc quyền của TQ (Phi và VN) do đó phải được xác định rõ rệt theo UNCLOS. Việc này sẽ giúp VN tránh được các tàu vũ trang TQ, đột lốt “hải giám” (mà hành sử như “hải tặc”), cắt cáp các tàu nghiên cứu của VN, cho đấu thầu khai thác trên thềm lục địa của VN…. trong vùng biển EEZ của VN, vào các năm qua, ở vùng biển của VN.

Điểm hai, Phi yêu cầu tòa tuyên bố yêu sách của TQ qua bản đồ đường 9 đoạn là vô giá trị. Điểm này có nhiều sác xuất Tòa sẽ tuyên bố theo yêu cầu của Phi. Và đây cũng là điều mà VN mong muốn TQ dẹp bỏ từ bấy lâu nay mà không được.

Các điểm 3, 4, và 6 về tình trạng pháp lý các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, hay các cấu tạo thường xuyên bị chìm, cũng rất có thể Tòa sẽ chấp thuận các yêu cầu của Phi, vì nó phù hợp với UNCLOS và tập quán quốc tế. Nếu vậy, điều này sẽ giúp ích cho VN lý lẽ để đối phó với  những ngang ngược của TQ, khi họ dành quyền chủ quyền (về kinh tế) của VN tại các bãi Tư Chính, Vũng Mây... (mà TQ gọi là Vạn An Bắc) vốn là các bãi chìm dưới nước. Việc này cũng sẽ khiến TQ từ bỏ chủ quyền tại cái gọi là « quần đảo » Trung Sa, vốn là một bãi ngầm dưới 50m mặt nước.

Điểm 7, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma. Điều này cũng có lợi cho VN, vì yêu sách của TQ đối với Phi không khác đối với VN ở một số bãi cạn.

Điểm 8, VN nên cân nhắc, có nên lên tiếng hay không về việc hồng lấn vùng biển thuộc các đảo TS của VN với vùng EEZ của Phi ? Cũng như ở điểm 4, có nên bảo lưu chủ quyền của VN ở các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập…?

Điểm 9, yêu cầu của Phi có mục tiêu nhắm đến các “luật cấm biển” của TQ và các tàu hải giám của TQ. Các tàu này đã lộng hành trong vùng biển TS, bất chấp luật lệ quốc tế đồng thời trắng trợn xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Phi (cũng như VN) tại vùng biển này. Yêu cầu này của Phi rất có thể sẽ được Tòa chấp thuận. Việc này cũng đem lại lợi ích cho VN.

4/ Thái độ của Trung Quốc:

Phản ứng việc này, phát ngôn nhân Hồng Lỗi thuộc bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp rằng : “Phi hiện đang chiếm giữ một số đảo của Trung quốc” và “Trung quốc kiên quyết phản đối việc chiếm giữ trái phép của Phi”. Trung Quốc cũng cảnh cáo rằng Phi “chớ làm phức tạp” thêm vấn đề.

Thái độ của Trung Quốc, xét qua tuyên bố trên, có thể nước này sẽ không màng đến việc kiện cáo này. Theo ý kiến của các chuyên gia quốc tế, vụ kiện dầu vậy cũng có thể tiếp diễn, cho dầu TQ không có mặt. Quyết định của Phi đưa TQ ra Tòa quốc tế, theo nội dung các điểm khiếu kiện, cũng được các chuyên gia này đánh giá là đúng đắn. Thái độ của Trung Quốc đối với vụ kiện sẽ là thuốc thử để thế giới đánh giá về tư cách cường quốc của Trung Quốc : một nước lớn có trách nhiệm với cộng đồng thế giới hay là một nước hành sử ỷ mạnh hiếp yếu, tự cho phép đứng trên mọi luật lệ, mọi giá trị cơ bản của cộng đồng các nước văn minh trên thế giới.

Việc TQ tuyên bố “Phi hiện đang chiếm giữ một số đảo của Trung quốc” và “Trung quốc kiên quyết phản đối việc chiếm giữ trái phép của Phi”, có thể hiểu rằng có thể TQ sẽ sử dụng các phương pháp khác (không hòa bình) để lấy lại các đảo này.


Lê Diễn Đức - Hãy lên tiếng đòi trả tự do ngay lập tức cho Lê Anh Hùng!



Lê Diễn Đức


Lê Anh Hùng (cầm biểu ngữ bên trái) trong cuộc biểu tình tại Hà Nội năm 2009 - Ảnh: Nguyễn Lân Thắng Facebook

Bộ máy đàn áp của nhà cầm quyền CSVN bị côn đồ và lưu manh hoá, đã và đang gây nên nhiều tai ương, nghịch chướng, huỷ hoại mọi chuẩn mực đạo đức và tính nhân bản của xã hội, làm nhức nhối dư luận quần chúng.

Nhận định trên đây không hề thái quá. Tôi đã chứng minh bằng những dữ liệu thực tế trong bài viết "Đảng Cộng sản Việt Nam: Không khác băng đảng tội phạm có tổ chức".

Khó ứng phó trong khuôn khổ pháp lý trước tình trạng công dân phản đối bất công ngày mỗi tăng và trực diện, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) không ngừng sử dụng tuỳ tiện, vô lối những cách thức hèn hạ, bất nhân.

Cách dây không lâu chúng ta đã chứng kiến Uỷ ban Nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội bắt giữ và đưa bà Bùi Thị Minh Hằng vào trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà, trái pháp luật. Quyết định của UBND Hà Nội với những dữ kiện sai trái, cho thấy nhà chức trách Hà Nội thực hiện vội vã việc bắt giữ bà Hằng không những chà đạp lên luân thường, đạo lý, mà còn trái với các quy định của pháp luật hiện hành.

Trước áp lực của dư luận trong, ngoài nước và ý chí tranh đấu không khoan nhượng của bà Hằng, nhà chức trách buộc phải trả tự do cho bà dưới chiêu bài "khoan hồng", nhưng lại thực thi bằng một thái độ ô nhục. Được biết gần đây bà Hằng đã nộp đơn khiếu kiện về việc bắt giữ trái pháp luật này. Tuy nhiên, làm sai không bao giờ nhận, thậm chí tiếp tục dấn sâu vào sai lầm, là bản chất không bao giờ thay đổi của nhà cầm quyền CSVN.

Vào lúc 10 giờ 15 phút sáng nay 24/1, trên mạng xã hội Facebook có thông tin một nhóm công an gồm một người mặc quân phục, 5 người mặc thường phục, đi trên chiếc xe Inova đã đến công ty HVT có trụ sở tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, do ông Hoàng Văn Trung làm giám đốc, yêu cầu giám đốc cho gặp nhân viên Lê Anh Hùng "vì có việc liên quan đến giấy tạm trú, tạm vắng”. Ông giám đốc đã cho gọi Lê Anh Hùng ra và công an đã áp giải đưa Lê Anh Hùng đi. Bạn bè làm chung ở công ty với Lê Anh Hùng cho hay "Lê Anh Hùng bị đưa vào trại tâm thần Hà Nội”.

Suốt trong ngày 24/1, những người quen biết Lê Anh Hùng đã trao đổi thông tin rộng rãi với nhau và đồng kết luận việc làm của nhà chức trách đối với Lê Anh Hùng là trái pháp luật, vô nhân đạo. Bà Bùi thị Minh Hằng, người đã gặp và biết nhân thân của Lê Anh Hùng, cho rằng, đây là hành động trả thù "giết người" bịt miệng vì Lê Anh Hùng trong thời gian qua đã tới 70 lần làm đơn tố cáo các hành vi buôn lậu, tham nhũng của một số vị lãnh đạo cao cấp của nhà nước CSVN.

Sáng ngày 25/1, một số anh chị em trong đội bóng N0 U - FC, là đội thể thao nghiệp dư bao gồm những người đã tham gia hoặc ủng hộ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam, đã đến trại tâm thần, có tên là "Trung tâm bảo trợ xã hội II" tại xã Viên An, Ứng Hòa để thăm hỏi về tình trạng của Lê Anh Hùng. Giám đốc trung tâm, ông Đỗ Tiến Vượng, và Phó giám đốc, ông Lê Công Vinh, đã tiếp và trả lời các câu hỏi của bạn bè Lê Anh Hùng nêu ra.

Ông giám đốc trung tâm, cho biết: Họ tiếp nhận Lê Anh Hùng vào chiều ngày 24/1, có đơn của mẹ Hùng đề nghị và quyết định của Phòng thương binh xã hội Quận Thanh xuân, Hà Nội.

Tôi rất lo ngại cho Hùng, nên tìm hiểu sự việc dưới góc độ pháp lý và logic thực tế của sự việc này.

Điều 2, Thông tư số 06 -TBXH ngày 18/03/1978 của Bộ Thương binh - Xã hội về một số chế độ với người bệnh tâm thần mãn tính nặng được đưa vào khu nuôi dưỡng chăm sóc, quy định như sau:

"Người được xét nhận vào khu để nuôi dưỡng là người bệnh tâm thần không còn khả năng hồi phục, đã ở giai đoạn sa sút, mãn tính, thường gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động của gia đình và xóm làng.

Khi xét, nhận cần theo thứ tự ưu tiên:

a) Người bệnh đi lang thang làm mất trật tự xã hội, không có thân nhân nhận về.

b) Người bệnh điều trị quá lâu tại các bệnh viện tâm thần, không có thân thích chăm nom, không nơi nương tựa, không còn khả năng hồi phục nhưng cũng không chuyển được đi nơi khác.

c) Người bệnh làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt, lao động của gia đình và xóm làng. Gia đình người bệnh đã vì vậy mà khó khăn không đủ khả năng tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; thân nhân người bệnh tha thiết và tự nguyện xin gửi vào khu nuôi dưỡng người tâm thần mãn tính".

Lê Anh Hùng không có bệnh án tâm thần, chưa từng phải điều trị ở bất cứ bệnh viện nào, không đi lang thang làm mất trật tự xã hội, mà thực tế Lê Anh Hùng đang làm việc tại công ty như một nhân viên bình thường. Trước đây, Lê Anh Hùng đã từng tham gia một số cuộc biểu tình yêu nước và gần đây sinh hoạt vui vẻ với bạn bè trong đội bóng NO U - FC. Những người trong đội bóng và một số bạn bè khác làm việc cùng công ty của Lê Anh hùng là những nhân chứng cho thấy Lê Anh Hùng là người mạnh khoẻ, có thể lực tốt.

Trạng thái tâm lý và tư duy tốt của Lê Anh Hùng còn được chứng minh rõ ràng hơn nữa qua Blog của Lê Anh Hùng với các bài viết và bài dịch từ tiếng nước ngoài. Những tố cáo của Lê Anh Hùng, theo BLog, còn được gửi tới đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, đề nghị chuyển cho Quốc hội để điều tra, làm rõ trước công luận.


Blogger Lê Anh Hùng - Ảnh từ BLog của Lê Anh Hùng

Một người như thế mà nhà chức trách có thể lấy lý do bị bệnh tâm thần để để đưa vào trại tâm thần sao?

Chỉ một cơ sở duy nhất để lý giải, mà giám đốc Trung tâm bảo trợ xã hội II, đề cập tới, thuộc mục c) của Thông tư số 06-TBXH là: "Gia đình người bệnh đã vì vậy mà khó khăn không đủ khả năng tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; thân nhân người bệnh tha thiết và tự nguyện xin gửi vào khu nuôi dưỡng người tâm thần mãn tính".

Chưa thấy bạn bè của Lê Anh Hùng xác minh thực chất bên trong việc viết đơn của mẹ Lê Anh Hùng ra sao. Nhưng thậm chí trong trường hợp mẹ của Lê Anh Hùng có làm đơn vì bất kỳ lý do nào đi nữa, ví dụ vì bị đe doạ, dụ dỗ, ép buộc, thì bản thân đơn đề nghị này hoàn toàn không đủ cơ sở để đưa một con người vào trại tâm thần theo quy định của pháp luật, như đã nêu, đối chiếu với các quy định của Thông tư số 06-TBXH.

Mặt khác, Lê Anh Hùng ở tuổi 40, là người đã trưởng thành, không thể dựa trên một "đề nghị" khơi khơi của thân nhân, mà nhà chức trách có thể cho phép mình hành động vô trách nhiệm, dẫm đạp lên pháp luật, xâm hại phẩm hạnh con người như thế.

Một bạn trên Facbook giễu cợt rằng, với tình hình này, khi có xích mích trong gia đình, ông chồng nổi giận viết đơn xin đưa vợ vào trại tâm thần, công an CHXHCNVN cũng thực hiện chắc?

Vừa qua báo lề đảng cho hay đang có hiện tượng phổ biến chạy bệnh án tâm thần, "muốn có bệnh án tâm thần... xịn, chi 8 triệu đồng", đến mức huyện Nam Sách, Hải Duơng, có 500 người bị bệnh tâm thần. Đây là hiện tượng nguy hiểm cho an toàn và trật tự xã hội, bởi vì những kẻ chạy bệnh án là những đối tượng muốn lấy tiền trợ cấp xã hội, được miễn trừ các nghĩa vụ công dân, hoặc khi phạm tội được giảm nhẹ hình phạt.

Một hiện tượng khác nữa! Vừa qua hàng loạt nghị định, quy định hài hước, chướng tai, gai mắt, không thể nào áp dụng trong thực tế, được nhà cầm quyền cho ra lò, như "cấm không được nhìn mặt người đã khuất", "lễ tang công chức có không quá 7 vòng hoa";"cấm cán bộ cưới quá 50 mâm"; "cấm mọi hình thức tặng quà tết cho cấp trên”; "cấm để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài"...

Thiết nghĩ, đúng đắn và hợp lý thì, những kẻ chạy bệnh án tâm thần, những tay chấp bút cho ra các Nghị định dở hơi, ngớ ngẩn, mới đích thực là những kẻ "gây mất trật tự xã hội" cần phải đưa đi chữa trị bệnh rối loạn tư duy, đạo đức, nhân cách, chứ không phải một con người bình thường, tử tế, dám công khai tranh đấu với các tệ nạn xã hội như Lê Anh Hùng.

Hãy trả tự do cho Lê Anh Hùng ngay lập tức! Hãy cùng lên tiếng mạnh mẽ, bảo vệ người lương thiện trước hành động vô nhân đạo, gian ác của nhà chức trách CSVN và tố cáo trước dư luận quốc tế.

© 2012 Lê Diễn Đức - RFA Blog


Nguyễn Văn Tuấn - Âm nhạc của Phạm Duy làm cho người Việt gần nhau hơn



Nguyễn Văn Tuấn

Mới nhận được tin từ anh ĐH, phóng viên báo Thanh Niên, cho biết Nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời vào lúc 14:30 tại phòng cấp cứu Bệnh viện 115. Ông thọ 93 tuổi. Thế là người nhạc sĩ thiên tài đã ra đi về cõi vĩnh hằng, tiếp theo những người bạn của ông như Văn Cao, Hữu Loan, Trịnh Công Sơn, Hoàng Cầm, v.v. Mới hôm nào mình chúc ông thọ 100 tuổi, thế mà bây giờ thì, nói theo chính lời nhạc của ông, nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Dù Phạm Duy đã tắt thở, nhưng âm nhạc của ông thì chưa tắt và sẽ không tắt, và do đó, ông chưa chết. Qua âm nhạc, Phạm Duy đã đóng góp một phần tích cực trong việc làm cho người Việt xích lại gần nhau hơn.


Tên người nhạc sĩ đại tài và những lời ca của ông đã đi vào tâm trí tôi từ hồi nào chẳng hay. Nhớ cách đây trên dưới 10 năm, phóng viên Trần Nguyên (lúc đó còn làm cho tạp chí Khám Phá) trong một lần phỏng vấn, hỏi tôi thích bài nhạc hay câu nhạc nào nhất, tôi nói ngay đó là bài Tình ca của Nhạc sĩ Phạm Duy, trong đó có câu Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu, và Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh. Viết ra một cách tự nhiên, không cần suy nghĩ gì cả. Thế mới biết có những câu hát đã đi vào máu xương mình hồi nào mà không hay.

Viết về Phạm Duy và nhạc của ông thì chắc phải cần đến nhiều luận án và nhiều sách. Trong 40 năm qua đã có nhiều tác giả, Việt Nam và nước ngoài, viết về sự nghiệp và những dòng nhạc của ông. Trung tâm nhạc Thuý Nga đã thực hiện hẳn hai chương trình nhạc chủ đề Phạm Duy, cũng là một cách vinh danh người nhạc sĩ số 1 của Việt Nam. Ở trong nước cũng đã có hàng loạt chương trình văn nghệ giới thiệu những tác phẩm của ông. Trong tương lai, chắc chắn sẽ có nhiều chuyên gia tiếp tục khai thác kho tàng nhạc của ông và cuộc đời đầy theo vận nước nổi trôi của ông.


NVO - Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, thọ 93 tuổi


NVO 

Nhạc sĩ Phạm Duy, cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam, vừa qua đời tại Sài Gòn hôm 27 Tháng Giêng, thọ 93 tuổi, theo nhiều nguồn tin trong nước.


Nhạc sĩ Phạm Duy (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Trước đây, ông bị bệnh tim và từng được giải phẫu hai lần.

Ông sinh ngày 5 Tháng Mười, 1921, tên thật là Phạm Duy Cẩn.

Nhạc sĩ Phạm Duy là tác giả của hàng ngàn bản nhạc, trong đó có nhiều bài rất nổi tiếng trước năm 1975 và sau này ở hải ngoại, như “Tình Ca,” “Tình Hoài Hương,” “Con Ðường Cái Quan,” “Mẹ Việt Nam,” “Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà,” “Minh họa Kiều"... Ông cũng phổ nhạc rất thành công nhiều bài thơ, cũng như đặt lời Việt một cách xuất sắc cho nhiều bản nhạc ngoại quốc.

Nhạc của ông rất đa dạng, từ dân ca, tình ca, đạo ca, hòa bình ca, chiến ca, trường ca, du ca...

Ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng sau đó về thành và vào Nam năm 1951.

Năm 1975, ông định cư tại Midway City, California, và tiếp tục sáng tác.

Tại Việt Nam, tất cả các tác phẩm của ông đều bị cấm hát một thời gian rất lâu.

Năm 2005, ông trở về Việt Nam sinh sống, và một số ít bản nhạc của ông được phép phổ biến trong nước một cách “nhỏ giọt”.

Hồi tháng trước, ca sĩ Duy Quang, con trai trưởng của ông, qua đời tại Orange County, California.
Vợ ông là danh ca Thái Hằng, qua đời năm 1999.

Một số con cái ông cũng là những ca sĩ thành danh, như Thái Hiền, Thái Thảo và Duy Cường.


Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Trần Mộng Tú - MIẾNG ĐÊM


Trần Mộng Tú


Gửi người hay mất ngủ

Em cho anh thuê giấc ngủ của em
giấc ngủ yên bình từ đêm đến sáng
giấc ngủ có những giấc mơ không mầu
mơ đến rồi đi như mây lãng đãng


Em ngủ hộ anh bằng hai mắt em
mi mắt khép ngoan như những dòng thơ
kẻ một vạch dài vào đêm lặng lẽ
đêm như trang giấy mở ra tình cờ

Em thở hộ anh bằng lồng ngực em
hơi thở bình yên đêm không bối rối
anh sẽ thức giấc cùng với mặt trời
nhặt niềm an nhiên ngay trên mặt gối

Em chia cho anh giấc ngủ của em
em chia cho cả những giấc mơ hoa
đêm như bài thơ chia ra từng miếng
một miếng rất hiền chia giữa hai ta.



Đạm Thạch - NHỚ VÀ QUÊN


Đạm Thạch

Thấy tôi có vẻ lừng khừng, chị nhìn tôi, đôi mắt có chút gì như năn nỉ. Rồi chị vừa giải thích mà cũng như vừa khuyến khích tôi thêm:
- Kệ nó em! Chuyện đã qua cho qua. Đừng để tâm làm gì em. Chịu khó bước vài bước qua nhà thắp cho nó vài nén nhang. Hôm nay, ngày giỗ đầu của nó. Chẳng mấy thuở em về. Chị thấy, mấy năm sau này nó thất sủng, bị hất cẳng ra khỏi Ủy ban, cởi bỏ áo công an, hình như chỉ còn lo ban Thể dục thể thao cho xã mà thôi!


Mẹ tôi mất hồi tôi mới năm tuổi. Chị ở vậy nuôi tôi. Tôi xem chị như mẹ. Ba năm trước tôi về tổ chức lễ thượng thọ cho chị. Chị nói:
- Thôi em! Đừng làm gì rình rang. Chỉ cần sắm một mâm trái cây rồi chị em mình qua chùa cúng Phật và gởi tiền cho Thầy trụ trì để chùa mua gạo phát chẩn.

Chị bảo gì tôi cũng thuận nghe. Tôi hiểu tấm lòng của chị. Rồi chị cười cười nhắc lại.

Năm nọ em về mang chai rượu Mỹ - rượu gì chị không rành. Cúng giỗ cha xong, em khui rượu đãi mọi người, ai cũng khen ngon. Thằng Long nhún môi khà lên một tiếng buộc miệng khen rượu Mỹ ngon quá chừng chừng, ngon đáo để, ngon hết sẩy, ngon hết chỗ chê; làm ai trong bàn tiệc cũng móc nhẹ nó:
- Giờ mới biết khen Đế quốc là trễ rồi!

Thằng Long chỉ bẽn lẽn mà không tỏ dấu hiệu gì tự ái, cáu giận. Giá như trước đây nó đã sừng sộ lên lớp mọi người. Rượu hết. Chỉ thoáng chuyền tay qua một tua là trút chai không còn một giọt dính đầu ngón tay. Tiệc tan. Ai cũng dáo dác tìm cái vỏ chai. Người nào cũng muốn tìm để cò-léc xông, cò-léc-xiếc gì đó. Người này nghi người kia mà không ai nghi thằng Long cất giấu. Té ra, khi nó chết, thấy con Ẩn - em nó - chưng
trên bàn thờ nó.

Vậy là tôi quyết định qua thắp cho nó mấy cọng nhang. Dầu gì nó cũng là...

Chị tôi vui ra mặt, đệm thêm:
- Có con Bé Ba, con của hai Phường, cũng ở Mỹ về như em. Không biết em còn nhớ, nó gọi năm Long bằng cậu ruột.

Như có thêm đồng minh, tôi xăn xái thay áo qua dự đám giỗ và cũng để biết thêm về con Bé Ba, con của hai Phường, mà hồi chiến tranh, mẹ nó cũng đã chết chùm cùng gia đình.

Đầu tiên là ba Tiệm, em kế hai Phường. Ba Tiệm theo du kích xã. Hôm ấy, có cuộc phối hợp hành quân giữa lực lượng địa phương và toán biệt kích quận. Ba Tiệm có nhiệm vụ gác cầu Lái Thển. Khi phát hiện toán lính mở đường xuất hiện bất ngờ vội chạy báo động. Ba Tiệm chạy không khỏi, chết ngay tại chỗ bởi loạt đạt đầu tiên. Toán lính địa phương tiếp tục mở rộng cuộc hành quân. Toán biệt kích quận nằm ém lại. Vài người kéo xác ba Tiệm lại gần dốc cầu, lấy lá dừa đậy lại, sau khi sửa xác chết nằm ngay ngắn.

Cho đến chiều tối hôm đó, khi cuộc hành quân hoàn toàn chấm dứt, nghe ngóng và cầm chắc lính đi ruồng đã rút về hết, bà con trong vùng mới thông báo cho gia đình tin ba Tiệm nằm chết ở cầu Lái Thển, nơi mà ba Tiệm thường được phân công canh gác. Ba Hoài, mẹ ba Tiệm, cùng thằng con út, bỏ dở cữ sấy dừa, tức tốc chạy qua nhận diện. Hai Phường, từ dưới lộ đá Ba Lai, cũng được tin, bỏ gánh rau bán nửa chừng, vội bao đò qua sông cầu Kinh theo ngã lộ chú Kiếu, hốt hoảng chạy lên cho kịp. Khi ba mẹ con cùng lúc giở xác ba Tiệm thì một tiếng nổ kinh hoàng, chát chúa của quả lựu đạn được gài lại. Cả ba mẹ con chết banh xác ngay tại chỗ. Mẹ, ba Hoài chết tuổi bốn ba. Con, hai Phường hai mươi bốn để lại ba con nhỏ. Lớn nhứt mới năm tuổi, nhỏ nhứt lên hai. Ba Tiệm chết tuổi hai mươi hai, để lại ba con, một trai hai gái. Thằng Rắc lớn nhứt mới vô mẫu giáo. Con Cụt chị nói còn ngọng nghịu, con Cụt em mới biết đi lững đững.

Riêng thằng Núp, mới vừa bể tiếng, giọng nói khao khao, kháp kháp như vịt xiêm lai.

Nó chết xác văng nằm vắt vẻo sát bờ kinh.

Tôi đã bỏ lửng giữa chừng. Tôi nói: dầu gì... dầu gì thằng Long cũng là bạn thân với tôi hoặc còn hơn thế nữa. Nếu có dịp tôi sẽ mở dấu ngoặc để lần mò về sự thân cận giữa nó và tôi.

Thằng Long nó chỉ hơn tôi một hai tuổi là cùng. Tôi tuổi Mùi. Nó tuổi Ngọ hoặc tuổi Tỵ. Những năm năm mươi, một thời thới bình ở làng tôi. Những ngày nghỉ học, nhà thằng Long là nơi chúng tôi thường xuyên tựu tập để tổ chức rượt sóc, bắn chim.

Thằng Núp, em út thằng Long, lúc đó chừng ba bốn tuổi, môi chì, nước da bủng, mốc cời, tướng mập và lùn. Hễ ngày chủ nhựt, ngay sáng sớm, nhằm lúc nước ròng, nó tình nguyện xuống mương tìm đất sét. Riết rồi nó quen và biết nơi nào là ổ đất sét loại đất có màu vàng nửa nghệ nửa tròng đỏ trứng gà. Loại đất dính dẻo nhẹo chứ không phải đất bùn gặp nước chưa kịp nắm đã rã ra. Đất sét vò đạn bắn chim là lý tưởng. Ngoài hai anh em thằng Long và tôi. Còn có thằng Ức con bộ Hào. Chú bộ Hào có hai người vợ ở chung một nhà. Thiếm năm lớn, ở với chú không con, thiếm đứng ra cưới thiếm năm nhỏ cho chú. Chú có tiền, ở không đi đánh bài. Thằng Ức là con thiếm năm nhỏ. Con Triệu chị nó sau này ưng thằng tư Xê, em kế ba Tiệm. Rồi còn có thằng Út con bộ Tánh.

Chú bộ Tánh ho kinh niên, đụng đâu cũng khạc nhổ, đờm xanh thấy mà gớm. Người ta đồn chú bị lao phổi ít ai dám lại gần sợ lây. Sau cùng còn có thằng Tam con Ghỉ A, cháu ngoại Tám Kinh. Tám Kinh ở xóm ai cũng biết, nhà chuyên môn chứa bài tứ sắc để lấy xâu. Những lúc tám Kinh thiếu tụ thường hú cha tôi qua trám chỗ. Những lúc đó, cha tôi nhìn chị em tôi với đôi mắt thật dịu dàng như dò hỏi ngầm tìm một sự khuyến khích. Biết ý, chị tôi cười cười nói: Cha qua chơi cho khuây khỏa, lúa chỉ chờ gặt mà thôi, ở nhà ở không làm gì! Cha đi, cho thằng chín đèo-út của cha níu áo cha qua ngồi sau lượm rác. Chơi bài tứ sắc có thua bao nhiêu. Miễn là đừng có nóng mũi chơi bài cào hay xì dách rủi thua là cháy túi!

Để chuẩn bị cuộc chơi, tụi tôi xúm nhau nhào, ngắt đất vò đạn. Gặp bữa trời nắng ráo, đem phơi nắng. Chờ đạn ráo mồ hôi, cầm lên lòng bàn tay, thấy cưng cứng, nặng nặng là biết dùng được thì nhét đầy túi quần xà lỏn, túi quay phía trước bụng, kè kè, xề xệ cho dễ móc nạp vào miếng da nạng giàn thun. Gặp khi trời ui ui, hoặc thấy chuyển mưa đạn vò được đem sấy trên lò trấu. Đạn phơi nắng bắn đằm, đường đi chính xác. Đạn sấy khô nhanh, viên đạn bốc hơi bởi lửa nóng áp nên nhẹ hơn đạn phơi khô, thường bị bạt gió. Tôi và thằng Tam có nhiệm vụ bắn nà tứ phía để cướp tinh thần con vật buộc nó phải nhảy từ tàu lá dừa cây dừa nầy qua cây dừa khác cốt yếu cho nó chạy mệt đành thúc thủ bó đọt trên ngọn dừa. Vì vậy hai đứa tôi cần có nhiều đạn, nên mang một túi vải đeo ở cổ. Còn tụi kia không thích mang nặng nên chỉ bỏ đủ hai túi quần xề xệ trước rún. Tụi nó tự hào mỗi viên đạn phải hạ ít nhứt một con chim. 

Thật ra, rượt sóc mới là chính, là mục tiêu hàng đầu. Còn chim chóc thì chỉ trau trảu mới đáng phí đạn. Sóc thường chuyền trên cao . Nó phóng nhanh từ cây dừa nầy sang cây dừa khác. Đôi lúc bị rượt nà, té xuống đất nó cũng kịp bò lên chạy vòng vòng theo thân dừa leo tuốt lên ngọn. Khi biết chắc nó mệt rồi, ngồi bó đọt trên ngọn dừa, hai thằng, hoặc thằng Ức hoặc thằng Út có nhiệm vụ leo lên ngồi trên buồng dừa rất nhẹ nhàng, khéo léo để không động tịnh và giương nạn giàn thun cách con sóc chừng hai sải tay. Bọn dưới đất đứng giăng hàng ngang, từ bờ dừa nầy đến bờ dừa khác. Khi phát hiện thấy có sóc, chúng tôi vừa la vừa bắn nột áp đảo tinh thần con vật. Đạn bắn tua tủa tứ phía. Nó đành tháo chạy thoát thân trối chết khi bị rượt nà. Còn chúng tôi cuộc rượt bắt sôi nổi, hào hứng nhứt là khi con vật bị thương rơi từ trên cao xuống đất và thằng nào cũng nhào tới bắt sống. Điều thú vị hơn nữa, con sóc được mang đến trình diện ông chủ vườn để được thưởng mười đồng. Hồi đó mười đồng tiền Bảo Đại lớn lắm. Chúng tôi biết tính ông trưởng Mười keo kiệt. Vườn rộng minh mông nhưng một trái dừa khô rụng cũng không qua mắt ông. Đứa nào lén phén lượm trái dừa hay bẻ bất cứ trái cây nào mà ông bắt gặp, ông bắt quì gối tại chỗ rồi còn kêu cha mẹ tới mắng vốn. Cũng vì tính như vậy mà ông thù lũ sóc lũ chuột phá hoại dừa ông. Chuột thì ông có thể hài bằng bẫy tre gác trên mỗi cây dừa nào mà ông thấy có chuột khoét. Còn sóc thì tinh khôn hễ nghe động tịnh một chút thì đã kịp phóng mình chuyền đi nơi khác. Để chơi khăm ông chúng tôi cố tình lùa sóc từ vườn khác sang vườn ông rồi mới tìm kế hoạch bắt sống. Nghe tiếng chúng tôi hô vang ông thường ra xem và cổ võ. Chính ông ra giá mỗi con sóc bắt được trong phạm vi vườn ông sẽ được thưởng mười đồng bất luận lớn hay nhỏ. Cuộc hành quân chấm dứt khi tiền trao cháo múc. Chúng tôi hăm hở quay về nhà thằng Long phân công nhau, đứa nhúm lửa, đứa rửa nồi vo gạo, đứa nấu nước sôi cạo lông hoặc thui rồi bầm, rồi nấu. Chỉ một con sóc bầm nhuyễn có thể nấu nồi cháo một lít gạo cũng dư sức ngọt. Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò rôm rả, mồ hôi chảy ướt áo. Đứa nào cũng giành góp công cho chiến tích của nồi cháo sóc. Trong khi ngồi đợi cháo nhừ nêm nếm muối nước mắm hành lá thì lần nào thằng Ức cũng tái diễn cái mửng cũ. bằng cách đem chim của thằng Long ra làm trò cười. Nó chê của thằng Long chỉ bằng trái ớt hiểm, chắc là muôn đời không cưới được vợ. Mà quả thật, thằng Long rất mặc cảm về điều này vì hễ ai nhắc đến đàn bà con gái là nó tìm cách nói lảng ra. Những lúc ấy thằng Ức thường phô trương của nó ra để chứng tỏ mình vô địch. Như hãnh diện thằng Ức cười híp mắt trong khi thằng Long bỏ đi một nước. Thằng Tam cũng thú nhận với tôi là nó chịu lép vế khi của nó chưa mở mắt! Còn thằng Bàn con sáu Bắp thỉnh thoảng mới tham gia cuộc chơi có lần rủ tôi hai đứa cùng trật quần nằm giữa bờ đê chờ con Lượng con bà mụ Huấn Tuồng đi ngang qua thấy chơi. Tôi nghe lời nó làm theo. Nhưng nửa chừng khi thấy bóng con Lượng đi gần tới tôi vội kéo quần lên khỏi rún và nằm úp mặt xuống ruộng giả đò ngủ say. Còn một mình thằng Bàn nó lảnh đủ tiếng chửi của con Lượng: Đồ tồi bại, đồ mất dạy, khi nó kịp nhìn thấy cái con trùn hổ của thằng Bàn vội kéo cái nón lá bước né qua. 

Không biết nó về nhà có mách với bà huấn Tuồng không mà sau đó nghe êm re trong khi thằng Bàn chơi dại đang còn sợ xanh máu mặt.

Trong khi húp cháo sì sụp chúng tôi trò chuyện với nhau bằng tiếng lái mà người ngoài không chú ý nghe được sẽ không thể hiểu chúng tôi đang nói gì. Thằng Ức có biệt tài nói lái chầu ba chầu tư. Nói nói : Tay ra ngoào [tao ra ngoài] hoặc nói hỏi: Mừa ăn cơm chây? [mầy ăn cơm chưa?]. Tôi dở hơn nghe nó không kịp và chỉ nói lái đôi. Để gỡ gạc tôi xổ một tràng tiếng Tây cho tụi nó lé mắt. Thằng nào quýt sơ măng đờ mống se? Thằng nào đờ lộng sôi? Còn thằng nào ót măng? Tôi cố tình chêm chữ đờ [de tiếng Pháp] lần đầu mới nghe tụi nó có vẻ phục tôi sát đất. Ăn uống no nê chúng tôi hè nhau rinh nồi chén ra kinh rửa. Rồi chia phe tạt nước hoặc chơi trò giấu cây lặn kiếm. Ngụp lặn đã đời cho tới mặt trời đứng bóng mới chịu trồi lên bờ. Thằng thì môi thâm tím,thằng thì nước bùn đóng bợn quanh miệng giống như để râu. Để bớt rung lập cập tụi tôi lấy yếm mo cau làm giấy, rứt mầu dừa khô giả thuốc rê quấn thành điếu hút phà khói ra lổ mũi, sặc chảy máu cam. Chỉ có râu bắp hút thơm, nhẹ nhàng như người lớn hút Rubie, Ách chuồng. Rồi đâu đã chịu ngưng. Thằng Ức đề nghị tất cả leo lên đứng hàng ngang trên cây dừa trốc gốc ngã xiên cách mặt đất hơn hai thước thi nhau đái coi thằng nào đái xa.

Mục nầy thì thằng Long không bao giờ tham dự. Chuẩn bị chơi thằng Ức nín đái, hai tay bịn chặt đứng hẩy ra đằng trước cho nước xịt thật xa. Còn tôi trịt quần kéo ra trậm trầy trậm trật, đến chừng xả bọng được thì cũng chỉ đến mức hai thước là cùng! Thằng Út đếm một hai ba, cả bọn đồng ca bài: Trời lập đông, con cu teo, kéo ra hoài mà còn dài nhằng.

Những ngày nghỉ học vui chơi đã đời cũng đã qua. Đám tụi tôi cũng phải ôm cặp đệm
đến trường suốt những năm tiểu học.

Năm lớp nhứt, học với cô giáo Hà tôi thi rớt đệ thất. Phải đợi năm sau thi đậu lớp tiếp liên, học với thầy Xương để chuẩn bị thi lại đệ thất. Có lần cô giáo Hà tâm sự với cả lớp chúng tôi: cô nói cô sẽ không bao giờ lấy chồng!

Trong trái tim non nớt tôi tin lời cô Hà nói và như có một điều thiêng liêng nào khiến tôi vừa cảm động vừa hạnh phúc. Học lớp tiếp liên với thầy Xương mà tâm hồn tôi vẫn hướng về cô giáo Hà ở ngôi trường Phú Khương với tất cả chân tình. Thầy Xương dữ dằn, thường đứng chồm xuống bàn thứ hai nhiếc tụi học trò chậm hiểu bài toán mà thầy vừa giảng là đồ ăn rục quần chó! Những lúc ấy hình ảnh cô Hà hiền dịu như một nguồn an ủi. Rồi một chiều, khi đạp xe đi ngang qua trường cũ tôi bỗng bắt gặp cô Hà ngồi sau xe Lambretta và một tay vòng ôm eo thầy Quân! Tự nhiên tôi choáng váng và nước mắt tủi thân chảy dài xuống má. Câu nói ngày nào của cô đã làm cô như thần tượng bỗng nhiên sụp đổ. Tôi không còn hứng thú đạp xe mỗi ngày từ nhà đến trường hơn sáu cây số như trước đây với chiếc xe đạp đòn dông nhỏ xiếu mà anh tôi mua tặng như món quà quí giá đầu tiên trong đời của tôi để khuyến khích tôi cố thi đậu vào lớp đệ thất trường công tại thị xã Trúc Giang. Và năm đó một lần nữa tôi thi rớt. Nỗi thất vọng của tôi không phải vì thi rớt đệ thất mà là tôi thật sự buồn bã khi biết mình từ đây đã thật sự mất cô Hà.

Chị tôi tưởng tôi không đậu nên buồn bỏ ăn mấy ngày. Chị an ủi:
- Rớt keo này bày keo khác em lo chi. Học tài thi phận mà! Mấy tháng hè cứ vui chơi với bạn bè để rồi tựu trường ghi tên học lớp đệ thất trường tư rồi cố ôn bài thi lại cứ nhồi riết thế nào cũng đậu lo gì ? 

Thế là tôi xa quê từ đó. Xa những thằng bạn với những buổi rượt sóc hào hứng.

Tôi tiếp tục học trường bán công Hoài An ở Phú Nhuận và ở trọ nhà anh tôi. Thay vì
trở về quê thi lại đệ thất tôi tiếp tục học tiếp lớp đệ lục. Và sau khi được ban giám hiệu khuyến khích nhảy lớp, tôi bỏ lớp đệ ngũ và nhảy lên học lớp đệ tứ mà không phải đóng học phí. Đang khi ráo riết để chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học đệ nhứt cấp được tin chị tôi đau nặng tôi tức tốc trở về quê cũ. Xuống xe bên kia cầu Ba Lai, tôi lột giày lội bùn từ ngả tư Từng Đậu nhắm hướng ấp Phước Hậu đi như một kẻ mất hồn.

Theo lời cha tôi kể lại, vào một đêm khuya, thằng Long sau nhiều năm vắng mặt bỗng nhiên xuất hiện, súng ống kè kè. Nó đề quyết chị tôi lấy cắp số vàng mà gia đình nó chôn giấu. Bằng chứng là tôi có tiền lên thành phố học mà không cần thi đệ thất ở tỉnh nhà. Chị tôi thề bán mạng. Chị thách nó dám lên đình Phước Hậu bẻ cổ gà thề trước mặt thánh thần? Nó không đi. Nó nói nó không tin thần thánh. Thần thánh là cái con mẹ gì mà phải thề? Nó bắt ép chị tôi phải nhận. Ức quá chị tôi phát điên. Cha tôi phải đi thỉnh bác chín Du làm nghề thầy pháp lâu năm để giải tà. Phải mất hai ngày để bác chín chuẩn bị lập đàn tràng ngay trước sân nhà cha tôi. Cái sân vuông rộng chung quanh dựng hàng rào ngang ngực kết tua bằng lá đủng đỉnh như người ta thường dùng trang trí rạp đám cưới. Ngoài bác chín Du, người ốm yếu, giọng nói sang sảng, cột cái khăn nhiễu điều trên đầu bỏ thỏng một bên để một tay bác cầm, tay kia bác cầm cây nhang bắt ấn, còn có ba người đàn ông lực lưỡng hóa trang thành ba nhân vật Quan Công, Quan Bình và Châu Xương. Người nào cũng đi đứng múa may, hươi thương , kích, đoản đao giống như trong tuồng hát bộ. Cuộc lễ bắt đầu lúc chạng vạng tối. Bà con trong xóm kéo nhau đứng vây quanh hàng rào vừa tò mò theo dõi một cách thành kính vừa có cảm giác sờ sợ. Cha tôi mặc áo dài khăn đóng màu đen như những ngày đình Phước Hậu cúng lễ kỳ yên.

Một người thanh niên lạ mặt đệ tử của bác Chín dẫn chị tôi từ trong nhà bước ra ấn chị ngồi trên chiếc ghế đai. Trông chị ốm yếu, gương mặt thất thần. Chị dáo dác nhìn những người đang chen chúc đứng xem. Chị không nói tiếng nào. Thỉnh thoảng chị kéo vạt áo bà ba lên lau mặt. Quang cảnh bỗng im lặng đến ngột ngạt khi chiêng trống trổi lên gióng giả. Sau khi xá bốn phương tám hướng bác chín Du bắt đầu hành lễ. Một tay nâng khăn điều tay cầm nhang dạng chân đi qua lại trước mặt chị tôi với sự hỗ trợ hầm hì của ông quan Châu Xương râu cụt cầm thương dài múa may loạn xạ. Lúc đầu chị tôi chỉ cúi nhìn xuống đất, đôi mắt như sợ sệt. Nhưng khi bác chín càng la hét hâm dọa thì chị tôi bỗng đứng vụt dây chỉ vào mặt bác chín nói như thách thức:
- Ai có giỏi thì đè cổ thằng nào vu oan giá họa. Đừng tưởng làm ồn ào như vầy mà dọa được con nhỏ nầy. Nào. Giải tán. Nhà ai nấy về. Về hết. Để tôi còn nghỉ ngơi!

Con heo sữa quay từ hồi sáng giờ đã nguội lạnh. Bác chín lắc đầu than con tà nầy dữ quá cần phải triệu thêm người cao tay ấn để trừng trị.

Phải mất cả năm sau chị tôi mới lần lần hồi phục. Khi được biết chị tôi đã tỉnh nhiều, sinh hoạt bình thường thì tôi không còn dám trở lại quê tôi nữa. Bởi, đây là giai đoạn mà Mặt trận Giải phóng Miền Nam thật sự nổi lên. Dấu hiệu đầu tiên là những thân cây dừa đã bắt đầu xuất hiện cờ Mặt trận với ba màu xanh đỏ vàng. Lính nghĩa quân xã cũng chỉ dám lên một đổi đường lấy bùn non trét lấp lá cờ rồi rút về. Tin từ quê nhà cho hay thằng Long đã gia nhập lực lượng chính quy được huấn luyện trong bưng. Thằng Ức đi nghĩa quân. Thằng Út đi Sư đoàn Bảy căn cứ đóng ở phía Sơn Đông. Thằng Tam ghi danh vào lực lượng cảnh sát chiến đấu ở tận Long An. Cha và chị tôi không thể rời bỏ ruộng vườn, đành trụ lại giữa hai lằn đạn. Nhiều lúc tình hình căng thẳng bắt buộc phải tản cư thì cũng chỉ né qua phía Sơn Đông khi thấy tình hình êm lại thì quay trở về.

Từ lộ đá Ba Lai nơi có nhà việc Xã, có ngôi chợ, có trường tiểu học Thạnh Hựu mà thuở thơ ấu tôi đã học lớp ba với thầy Đơ rồi lên lớp nhì với thầy Bình. Chính năm học này thằng Nam tuy học cùng một lớp nhưng nó lớn con bự xộn đã đầu độc tôi bằng cách nhét cuốn tập chép tay trong gầm bàn tôi với hình ảnh ba mưới sáu kiểu tục tĩu. Và cũng chính năm học này tụi tôi chuyền tay nhau chép thơ bằng giấy pơ-luya mỏng nhiều màu với những bài thơ như Hổ nhớ rừng, hai sắc hoa ti-gôn...

Đó, từ đây có thề tẻ theo ba ngả lên các ấp Phước hậu, phước Thịnh, và Phước hựu của làng Tam Phước nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Riêng ngả chú Kiếu nằm dọc theo bờ sông Ba lai lên hướng Tường đa phải qua cây cầu đúc duy nhứt là cầu Kinh cũng đã bị giựt sập để cản trở những cuộc hành quận lớn nhỏ của chánh quyền. Dọc đường các biểu ngữ viết nguyệch ngoạc với nội dung chống chế độ Ngô Dình Diệm thối nát, gia đình trị hoặc đả đảo tay sai đế quốc Mỹ được căng ngang các lối đi. Và rất nhiều chướng ngại vật mô mìn giả. Trong bối cảnh nguy hiểm đó định mệnh nào khiến hai Phường kịp bao chuyến đò định mệnh cho đời mình...

Dĩ nhiên, những tàn tích chiến tranh những năm ác liệt ấy giờ không còn sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Cây cầu Kinh đã được bắc lại ngang qua con kinh rộng chỉ trên năm mươi thước cũng chỉ là cây cầu xi măng tạm bợ rộng chỉ vừa đủ bộ hành và xe ba gác qua lại chở dừa. Ba con lộ tẻ đã cũng chỉ từng chặng trải đá tráng nhựa để tiến lên xã hội chủ nghĩa ưu việt thay thế những con lộ đất từ thuở cha sanh mẹ đẻ ra tôi.

Tôi đã về thăm lại mộ mẹ tôi. Ngôi mộ mà anh chị tôi bàn tính sẽ có ngày di dời về nằm gần cha tôi bên phần đất bên nội, cách con rạch Lái Thển, bên này là miếng vườn của bà Bái Ba mà hình như hồi nhỏ tôi quen miệng kêu bằng ngoại. Mẹ tôi mất năm bốn tám mà chị tôi hay nói là năm Mậu Tý hưởng dương bốn mươi lăm. Chị tôi kể lại ngày đám ma, tôi không khóc và còn hãnh diện với lũ bạn rằng nhà tôi có làm bò đãi tiệc, tôi cũng giả bộ kéo cái đầu tàu dừa gắn hai trái quao làm sừng dắt đi như sáng nay người ta dắt còn bò tội nghiệp đi đập đầu. Riêng mẹ tôi hồi sanh tiền không có chụp ảnh lưu lại nên trong ký ức mù mờ tôi cũng chỉ còn nhớ mang máng là mẹ tôi có khuôn mặt xương xương, người mảnh dẻ. Bà có thói quen ngồi bên bàn nước nhai trầu bỏm bẻm với con dao tách cau không tra cán, phần sắt đuôi dao được bẻ quặp lại. Tôi còn nhớ như in, chính lúc mẹ tôi dùng con dao ấy lạng trái bắp nấu ra dĩa cho tôi bốc ăn thì tôi cũng vừa làm một việc tàn ác là cầm cây chỉa soi nhái có ngạnh nhắm con gà con chui nằm dưới ngạch cửa mà đâm. Con gà mắc lưỡi chỉa dẫy dụa rồi chết ngay. Cha tôi đang nằm đọc truyện phong thần bỗng ngồi vụt dậy, đôi mắt quắc lên giận dữ quát to:
- Đồ chết bầm! Sao mầy ác vậy?!

Tôi ôm mặt khóc òa. Tay chân rung lẩy bẩy. Mẹ tôi một tay tém miệng trầu một tay ôm tôi vào lòng dỗ ngọt:
- Thôi con đừng khóc. Cha giận cha rầy thêm. Lỡ rồi, chắc con đâu muốn vậy. Thôi để mẹ bảo chị hai con làm thịt quay chảo cho con ăn. Trước sau gì mình cũng ăn.

Gà nuôi để ăn thịt mà!

Theo lời chị tôi kể lại, chính thằng Long hồi còn sống, nó khuyên đừng di dời mộ dì Tư [nó nói gia đình nó đâu có bắt buộc phải dời, ai cũng sẵn lòng dành một khoảnh đất đâu có thiệt thòi gì?] và bởi chị em chúng tôi ai cũng có công ăn việc làm đàng hoàng, cuộc sống đang an bình, sau chiến tranh ai cũng còn nguyên vẹn thì không nên làm điều gì xáo trộn.

Và đây cũng là lúc tôi cần mở dấu ngoặc để nói về sự thân cận giữa tôi với thằng Long. Cũng theo lời chị tôi kể, hồi đó,gia đình ông bà ngoại tôi nghèo, sanh đông con, ở đâu miệt Thủ Thừa thuộc Long An, bằng lòng cho bà Bái ba nuôi thời con gái, bà ngoại của thằng Long. Bà Bái là bạn hàng xóm láng giềng với ông bà nội tôi. Hai miếng đất giáp ranh bởi con rạch Lái thển chảy ra sông Ba lai. Con rạch mà tuổi thơ của tôi trầm mình tập bơi lội dưới dòng những chiều nước lớn và khi nước giựt ròng tôi theo chị tôi xúc tép đãi hến và sau này lớn lên một chút tôi thường cắm câu dọc theo kinh lúc đêm về với cả chục cần câu chuốt bằng tre gai. Con rạch mà hồi nhỏ tôi bơi muốn hụt hơi mới tới bên kìa bờ thật ra nó chỉ rộng vừa đủ chiếc ghe chài lui tới chở dừa đem cân. Thấy được tuổi, nội tôi bằng lòng cưới vợ cho cha tôi còn bà Bái ba đứng ra gã, hai bên kết thông gia từ khi mẹ tôi mới vừa mười bảy tuổi còn cha tôi cũng hai mươi. Lập gia đình xong cha tôi quyết định ra riêng. Bà Bái ba chỉ miếng đất trong vườn bà cho cha tôi cất nhà nói là để tiện cho mẹ tôi lui tới sớm hôm với bà. Có lẽ mẹ tôi về sống với bà được bà thương yêu đùm bọc coi như con nên đặt chị ba Hoài thứ ba mặc dầu chị là con đầu lòng và cũng tiện cho vai vế khi xưng hô vì phía cha tôi - thứ hai.

Thật tôi không ngờ, đứng trước ngôi mộ của mẹ tôi lại là chòm mộ của gia đình chị ba Hoài. Mộ của chị, và nằm sắp lớp xung quanh là mộ hai Phường, ba Tiệm, mộ thằng Núp và sau cùng ngôi mộ mới tinh vừa quét vôi ràng ràng mộ thằng Long.

Mới tết vừa rồi, chị tôi cũng sửa sang chỗ nằm của mẹ tôi tươm tất. Con Ẩn, không chồng, sau ngày ba mưới tháng tư cũng chỉ giữ vai trò khiêm nhượng là chủ tịch hội phụ nữ giải phóng Xã mỗi tháng chỉ họp lấy lệ một lần với công lao kháng chiến hưởng tiền hưu, chủ yếu hoa lợi nhờ vào miếng vườn để giữ ngôi nhà thừa tự. Sáu Ẩn cũng đã chỉnh trang chòm mộ đặc biệt sau khi anh nó thằng Long mãn phần. Hai anh em sống hủ hỉ suốt năm tháng sau chiến tranh. Thằng Long chết vì bịnh ung thư gan khi nó chưa kịp hưởng căn nhà thừa tự mà hai anh em nó dành dụm mới vừa xây xong.

Tôi thắp nhang vái mẹ tôi xong, rồi đi vòng vòng cắm ba nén nhang cho từng ngôi mộ.

Khi tôi bước qua nhà đi dự đám giỗ thì gặp tư Xê và sáu Ẩn đon đả mời chào. Những người đi dự đa số tôi đều biết mặt. Người lớn có, nhỏ có, ngang hàng có, chỉ trừ các em cháu nhỏ sau này là tôi không biết gốc gác con ai. Thấy tôi ở xa về ai cũng xúm xít hỏi thăm cuộc sống của tôi ở Mỹ ra sao, nghe nói có vợ về sao không thấy? Hồi trước giải phóng làm chức vụ gì. Tôi trả lời vắn tắt. Tôi là sĩ quan trước phục vụ ở bộ tư lệnh vùng bốn Cần Thơ, làm việc ở văn phòng không có đi tác chiến cấp bực trung úy tuy có quyết định thăng cấp đại úy chưa kịp nhận thì bị vụ ba mươi tháng tư. Sau khi đi tù về rồi sang Mỹ diện H.O. Sau mấy tuần rượu đẩy đưa, mời ép thì tôi chỉ cầm đũa cầm chừng mà không buồn gắp thức ăn, Tư Xê sợ tôi ngại ăn gà vịt sợ bịnh cúm gia cầm nên nói bảo đảm gà vịt ở nhà nuôi không lây nhiễm. Tôi làm sao nuốt cho vô trong khi ngồi ở bàn tiệc nghe những điều mà mình muốn quên đi:
- Thời chiến tranh ác liệt mầy không ở dưới quê là may. Giờ hòa bình lại được ở Mỹ là đại phước!

- Bồ mà còn ở lại chắc cũng phải không theo bên nầy cũng theo bên kia. Chắc bồ còn nhớ thằng Ức con bộ Hào theo nghĩa quân cũng bị anh em mình giết chết. Thằng Út con bộ Tánh bỏ làng theo sư đoàn bảy. Đi hành quân bị thương về ở làng thương phế binh. Sau bảy lăm cách mạng vào giải tán trại, bị đuổi về vườn sống bữa đói bữa no, vợ nó là con Á con tám Kinh. Hiện nay thì bị tai biến mạch máu não đi cà xịt cà đụi quanh quẩn trong nhà chỉ nhờ vào con vợ đi bán bánh bò bữa được bữa không. Còn thằng Tam con Ghỉ A, đi theo cảnh sát hòa bình không thấy trở về chẳng biết còn hay mất.

- Không nói đâu xa.Hôm nay giỗ năm Long cũng nên nhắc lại tội ác của Mỹ ngụy.

Ai đời, tụi nó bắn chết ba Tiệm ở chân cầu Lái Thển, trước khi rút đi còn thâm độc gài trái lựu đạn lại. Nó cố tình giết thêm nhiều mạng người. Bữa đó, vì nóng lòng con, nóng lòng em, mà cô ba Hoài, hai Phường, thằng Núp cả nhà chết chùm. May mà tư Xê, không có mặt, vã đi lính ở miệt nào xa không biết. Còn sáu Ẩn thì theo bên nầy công tác xa nên thoát nạn, chứ không thôi...

Sợ buổi Tiệc không được vui tư Xê đánh trống lảng bằng cách châm rượu thêm cho tôi bắt qua chuyện khác:
- Anh chín, người ngồi kế anh là ai anh có biết không? Chồng sau của vợ ba Tiệm đó. Còn thằng hồi nãy bưng thức ăn nó chào anh. Nó là thằng Rắc con ba Tiệm. Ba nó mất hồi nó mới học mẫu giáo. Con Cụt chị, con Cụt em hai đứa đều lớn đại có chồng có con hết trơn.

Tôi à lên một tiếng. Thằng Rắc để râu ria lởm chởm trông muốn già bằng tôi.

Bỗng như nhớ ra điều gì, tư Xê giới thiệu với mọi người là tôi có trí nhớ dai. Ảnh còn nhớ vanh vách câu thiệu hay câu vè mà hồi đó mọi người đều biết. Những nhân vật trong làng mình, nhớ từng đặc điểm. Đâu anh Chín thử nhắc lại xem ai trong bàn tiệc nầy còn nhớ không?

Tôi bưng ly nước lạnh nhấp mội xong rồi thưa, sau khi đọc xong cho phép tôi kiếu trước, vì còn bận xuống nhà dưới để chào hỏi bà con một chút kẻo bị quở là ở xa về vô tình. Tôi đọc:
- Lội mương mắc cạn là chỉ ba Ơn [Có tiếng nói lao xao: ba Ơn ở ngõ ba lộ thầy Cai mập ú na ú nần...]
Ai có cơn là chị tư Lược [Tư Lược chết lâu rồi, bả có cơn thiệt]

Ai nói cũng được là con năm Kiểm Dầu [Con nhỏ lẳng lơ phải biết!]

Tánh hay câu mâu là cô mười Cứng [A, a cái này đụng chạm à nghen. Bả đang
còn sống. Bả mà nghe được chắc bả nổi sùng chửi cho một mách!]

Cặp nào xứng bằng cặp thằng Liêm [Không biết hai đứa nó giờ ở đâu? Có còn khắng khít như hồi mới cưới không hay đã rã bè?]

Con mắt lim dim là con ba bà Lếch [Con ba con tư. Nhớ ra rồi. Bà Lếch vợ quản Đặng. Cả hai đều chết. Hai chị em nó có chồng ở đâu xa ít khi về đây. Nhắc chị ba bà Lếch tôi thù thằng cha tư Tương hết chỗ nói. Số là... Chị ba mới mua được chiếc xe máy đầm. Chị mới tập chạy chưa rành. Thế mà chị dám rủ tôi xuống chợ Bến Tre xem cải lương gánh Đồng Thinh có kép mùi Văn Thường đóng. Tôi ngồi sau yên xe vịn chặt dưới yên xe. Con lộ đất ngoằn ngoèo khiến xe lượn qua lượn lại, còn thân mình chị cũng uốn theo. Thế mà thằng cha tư Tương dám đặt điều bảo tôi bóp l. con ba bà Lếch! Chú sáu Xã đang đứng hớt tóc cho tôi, chú vừa húi cái đầu ca-rê thì tôi vụt đứng dậy xấn tới như muốn ăn thua đủ với tư Tương. Chả chỉ cười hề hề gạt nhẹ tay tôi ra. Chú sáu nói như an ủi. Ảnh nói giỡn chơi vậy mà. Đừng tức giận kỳ lắm!]

Tướng đi chấm phết là chị ba Dương [Mọi người cười cười. Chị ba Dương dâu ông mười Quản có tật chân]

Ăn nói lương khương là ông mười Quản [Tới ông già chồng đây. Ông nầy nói chuyện chậm rãi, rị mọ nghe bắt ghét]

Ông nào xài đản bằng ông bồi Minh [Ông bồi Minh giàu có, ăn xài thả cửa. Không biết ông chết đi nhà có còn bộ sắc thần mà ông nội của tôi bàn giao cho ông?]

Rốt cuộc ở một mình là ông bảy Chữ. [Nói bảy chữ chứ ông dốt đặc cán mai. Cho đến khi ông qua đời ông vẫn còn độc thân!]

Ai dữ bằng thợ Hai. [Chú thợ Hai làm nghề thợ mộc, có người vợ là cô ba Ký mắt bị mù vì bịnh đậu mùa. Vậy mà công việc trong nhà một tay cô sắp đặt rành rẽ như người sáng mắt. Nhớ có lần thằng On con dượng lội hớt cá thia thia ở vườn ông Huyện. Nó đạp nhằm cây chông cây. Về nhà nó mượn cây khoan của dượng ba ngồi khoan lấy khúc giầm ra. Nghe nói sau này nó theo du kích thủ cây tiểu liên nằm chết tử thủ
trong hầm.]

Ai dai bằng thần Tài. [Chú thần Tài chuyên môn mua rượu chịu, chủ quán đòi trật vuột, chú hẹn lần hẹn lựa, riết rồi hễ thấy chú xách chai đi đong ai cũng bắt cười].

Tôi vừa định đứng lên kiếu từ thì thằng Khai chồng em Nhỏ đã giới thiệu Chủ tịch xã đi cùng với mấy người khác cũng trạc tuổi với nhau làm việc ở Ủy ban xã, vừa bước vô nhà đi thẳng đến chiếc bàn đã được dành sẵn. Thằng Khai lên tiếng:
- Giới thiệu với bạn. Đây là Xã trưởng, con trai của tư Xê. Nghe nói kỳ đại hội tới sẽ được đề bạt vào chức vụ cao hơn, bí thư xã. Nhờ có ít chữ nghĩa học bồi dưỡng các lớp bổ túc văn hóa mà gia đình toàn cách mạng và liệt sĩ.

Tôi nghe mà để ngoài tai. Cái thằng bạn học thuở nhỏ, sau bao nhiêu năm chiến tranh xa cách, gặp nhau chỉ chào hỏi qua loa, tuyệt nhiên không đá động gì việc tôi ở Mỹ về.

Nó cũng là lính ngụy chứ có theo cách mạng cách miếc gì mà như không ưa tôi lại còn nói vùa theo họ? Nó là thương phế binh được giải ngũ trước bảy lăm. Con mắt trái lúc nào cũng đeo cái kính màu vàng ố nhét cục bông gòn. Ngồi vào bàn tiệc mà thấy nó tháo kính ra lau rồi thay cục bông gòn mới ai cũng muốn bỏ ăn. Nó có biết đâu, em Nhỏ vợ nó hồi nhỏ từng ở truồng tắm mưa với tôi. Em Nhỏ là con chị tư nhỏ. Chị ba Hoài có người em kế là anh Kiểm tư. Cưới vợ chị tư lớn ở không con, nên đèo bồng thêm chị tư nhỏ sanh một mụn con duy nhất rồi anh chết. Sau nầy chị tư nhỏ lại làm bé chú mười Thê. Chị tư lớn ở vậy sống cuộc sống tu hành.

Trở xuống nhà sau bé Ba gặp tôi vội vã nói:
- Cậu ngồi bàn trên chắc là không hợp. Con nhắc ghế ngồi với phe ta. Đây con giới thiệu: Chị Ba, bạn học thời Trung học. Trước bảy lăm nhà có tiệm vàng tổ chức đóng tàu vượt biên năm lần bảy lượt không xong, bị bắt lên bị bắt xuống, xài không biết bao nhiêu cây vàng, giờ cũng đành thúc thủ ngồi đây. Hai anh ngồi kế bên là bạn dây chuyền với nhau. Cùng phe ta nên dễ quen nhau. Cũng là sĩ quan. Nhưng không ra trình diện học tập, cũng bao phen đi mà không thoát, ở tù, lo tiền thả ra. Vợ con đi được gởi tiền về ở không xài chờ ngày bảo lãnh. Ngồi đây cậu có thể nói chuyện thoải mái. Con thông cảm với cậu mà!

Thấy tôi chịu ngồi xuống, các vị chĩa mũi dùi vào tôi hỏi tới tấp. Nghe nói bên Mỹ cũng có ăn xin đứng ở ngả tư? Ở bển có nghe rục rịch gì không? Không lẽ dân chịu đựng mút mùa lệ thủy sao! Báo chí bên này tụi nó bàn điệu nầy anh Mẽo lại sa lầy ở I-Rắc như ở Việt Nam? Liệu đảng Cộng Hòa kỳ nầy có tiếp tục hay nhả ra cho đảng Dân chủ. Bà vợ ông Clinton có thể trở thành nữ Tổng Thổng đầu tiên của nước Mỹ không? Toàn những câu hỏi mà tôi không dám trả lời chỉ lắc đầu cười trừ. Thật tình cuộc sống của tôi đâu có rảnh mà tò mò những chuyện đó. Tôi chỉ muốn nói không cốt để an ủi họ.Thế giới ngày nay đã đổi khác rồi. Cái gì trái quy luật cũng sẽ bị đào thải. Hãy sống để chờ. Chứ không chờ mới sống! Thôi quí vị cứ ăn uống tự nhiên. Tôi xin phép kiếu về sớm vì có nhiều việc cần làm.

Bé Ba tiễn tôi một đoạn đường và không quên trao đổi số điện thoại với tôi, hứa về Mỹ gọi cậu cháu tâm sự nhiều hơn.

“Alô! Xin lỗi ai ở đầu dây, có phải cậu Chín không? Con là bé Ba con hai Phường. Cậu về khỏe không? Còn con lần đầu từ ngày vượt biên năm tám hai, gặp lại gia đình bên ngoại cũng vui mà buồn. Chiến tranh mà, trời kêu ai nấy dạ. Con tin con người có số mạng. Nếu như hồi đó má con bao đò không kịp chắc là đâu có chết chùm tức tưởi cả nhà như vậy! Thật sự giờ con chỉ muốn quên đi. Chỉ nghĩ đến tương lai mà thôi. Cậu năm Long con, giá như cậu chịu nghe lời lúc con lén đem cậu lên Saigon chửa trị cái lỗ mũi nó hành cậu dữ dội, cậu một hai đòi về nói là để trả thù cho cái chết của gia đình ngoại con. Thế mà chính cậu sau nầy lại là người xúi con tìm cách đưa mấy đứa nhỏ đi để sau nầy tụi nó có tương lai. Mà thật vậy. Hai đứa lớn, đứa kỹ sư, đứa dược sĩ, cả hai ra trường có công ăn việc làm vững chắc. Còn gái Út cũng đã năm thứ hai đại học. Bây giò cậu năm đã yên phận. Tội là tội cho dì sáu Ẩn. Giờ ở một mình không chồng không con. Lương hưu đâu có bao nhiêu. Con nói dì cần gì con giúp. Dỉ nói sao cậu biết không? Dỉ nói huê lợi miếng vườn cũng đủ để dì lo ngôi nhà thừa tự. Bây mà cho tiền nhiều người ta tưởng tao tham nhũng! Cái đó nó thành quen lệ rồi. Hễ lớn ăn theo lớn. Nhỏ ăn theo nhỏ.

Một mai lại đổi đời cũng móc họng ra ói! A! Nãy giờ con nói nhiều quá. Nói hước không cho cậu chen vô tiếng nào. Con xin lỗi cậu. Lần sau tới phiên cậu nói con nghe.”