Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Ghé thăm các Blogs: 13/12/2012



BLOG NGUYỄN THÔNG

Ối giờitiềm năng thế mạnh

Vào dịp cuối năm, các vị lãnh đạo cấp cao, nhất là tứ trụ triều đình thường đi thăm thú tỉnh này tỉnh khác, vừa để nắm tình hình địa phương sau 1 năm, vừa chỉ đạo ban bố những đòi hỏi mới, vừa... Nói chung là rất nhộn nhịp.

Hiện tổng bí thư đảng đang có chuyến thăm mấy tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Chủ tịch nước lên Tây Bắc. Các vị đứng đầu khác chắc cũng sắp trẩy hội lên đường kinh lý. Tôi để ý thấy từ trước đến nay, tuốt tuồn tuột những vị đầu đảng, nhà nước, chính phủ, quốc hội đi đến tỉnh thành nào cũng chỉ trả bài mỗi bài văn mẫu là khuyên địa phương ráng hết sức phát huy tiềm năng, thế mạnh để phát triển. Nếu chi tiết hơn một chút thì vẫn kiểu khuyên nơi có rừng hãy phát huy tiềm năng thế mạnh của gỗ, biển thì tiềm năng thế mạnh của cá, lúa thì tiềm năng thế mạnh gạo, nơi có mỏ thì khai mỏ, nhiều chất xám thì phát huy chất xám, có khả năng xuất khẩu thì tăng xuất khẩu, đông dân thì tận dụng sức người, đồng cỏ thì ráng chăn nuôi, thắng cảnh thì mở du lịch... Đại loại chỉ có thế, chỉ khuyên được như vậy. Nếu kinh lý chín châu mười mường mà nhõn chỉ khuyên được thế, thì chả cần phải ông to bà nhớn, ai cũng nói được, thậm chí hay hơn là khác.

Chợt nhớ tôi đọc được ở đâu đó một lời than buồn, rằng sau khi nghe một vị cấp cao đến Quảng Trị cũng khuyên cán bộ và nhân dân tỉnh cực nghèo này phải phát huy tiềm năng thế mạnh, một cán bộ lãnh đạo địa phương đã chua chát thốt lên sao không chỉ cho tỉnh cái gì cụ thể để phấn đấu mà lại chung chung thế, chứ Quảng Trị chỉ có thế mạnh là nghĩa trang (2 nghĩa trang Đường 9 và Trường Sơn lớn nhất nước), tiềm năng là mộ liệt sĩ. Nghe thật đau lòng. Liệu các vị có biết không?

Rừng đã phá gần xong rồi. Biển đảo thì kẻ thù nhăm nhe nhòm ngó từng giờ. Bờ xôi ruộng mật ngày càng teo tóp lại. Tài nguyên khoáng sản bị đào bới tan hoang sắp cạn kiệt. Chất xám mỗi ngày thêm xám xịt. Du lịch mời khách thì ít đuổi khách thì nhiều... Thế thì còn gì nữa mà phát huy, mà thế mạnh. Chỉ trông chờ vào thứ có sẵn, ăn mãi cũng hết, thế hệ con cháu lấy gì nuôi nhau.

Em xin các thủ trưởng, từ giờ trở đi, nếu có đến chỗ này chỗ khác, hãy khuyên bảo cho nó thực tế một chút, các bác nhé.


FACEBOOK LOP CHAN
3 Cái mặt nạ ngụy biện lấp liếm của các "Tân Ngụy" .

Mặt nạ số 1: Biểu tình xuống đường là cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng gây bạo loạn lật đổ!!!

- Ngụy biện và ngu xuẩn vô cùng. Nếu muốn lợi dụng cơ hội này thì khi Đ & NN huy động 1 vạn người xuống đường biểu tình phản đối Mỹ đánh Iraq thì sao? Không chỉ 1 mà đến 10 "tổ chức phản động" cũng có thể trà trộn trong biển người khổng lồ đó. Ngoài ra, những lần tuyển Việt Nam chiến thắng, người hâm mộ đổ ra đường ăn mừng khắp mọi nơi với số lượng đông gấp nhiều lần số người đi biểu tình chống Trung Quốc, thế sao không ngăn cấm? Sao không có ai lợi dụng trà trộn để gây bạo loạn lật đổ?
Chúng ta đã từng chống Mỹ rất là sung và nghị quyết cũng đưa ra rất nhanh chóng, báo chí chỉ đích danh "Mỹ" chứ không dùng đến chữ "Lạ". Chúng ta đã thành công tốt đẹp dưới sự cho phép của nhà nước trong việc biểu tình Mỹ.

Nên nhớ Mỹ thời điểm 2003 rất mạnh, hoàn toàn có khả năng gây chiến tranh với VN, sao lúc đó nhà nước không ngăn cản cuộc biểu tình có thể gây hấn với Mỹ này? Mỹ đánh Iraq lật đổ Saddam Hussein không liên hệ trực tiếp đến VN, sao vẫn có biểu tình?

Biểu tình chống TQ thì lại bị gọi là nhạy cảm và manh động? trong khi sự việc này có quan hệ mật thiết với vận mạng quốc gia?

17/3/2003. Tổng thống Mỹ tuyên bố sẽ đánh Iraq trong vòng 48h để lật đổ Saddam Hussein.

18/3/2003. Ban Dân vận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ GD-ĐT, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Trung ương Đoàn TNCS HCM, Đài Truyền hình VN, TƯ Hội Cựu chiến binh VN, UBND TP Hà Nội, một số trường ĐH họp hội nghị khẩn cấp về “vấn đề Iraq”.

Sáng 19/3/2003. Bộ GD-ĐT và Đoàn TNCS ký văn bản liên tịch ban hành kế hoạch tổ chức biểu tình chống Mỹ tại Hà Nội cho khối các trường trung học, cao đẳng và đại học. Công văn này được gửi theo chế độ “hỏa tốc “ cho một số trường điểm.

Chiều 19/3/2003. Hàng nghìn học sinh, sinh viên từ một số trường trung học và đại học tại Hà Nội đã có mặt trước cửa đại sứ quán Mỹ ở số 7 Láng Hạ hò hét, giương cao các khẩu hiệu chống Mỹ, phản đối Mỹ xâm lược Iraq.


Mặt nạ số 2: Chuyện chủ quyền đã có Đảng & Nhà Nnước lo. Chủ trương giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình.

- Ai cho phép Đ & NN tiếm quyền Nhân Dân lo chuyện này? Tổ quốc giang sơn này của 90 triệu người Việt hay do Đ & NN đứng tên chính chủ? Nên nhớ ngay cả thời phong kiến, Vua Trần còn không dám thay mặt bá tánh để định đoạt mà phải triệu tập Hội Nghị Diên Hồng để xin ý kiến muôn dân.

Biểu tình ôn hòa ngay trên lãnh thổ của mình mà là hành vi hiếu chiến hay sao? Đường lối ngoại giao hòa bình phải được thực hiện từ hai phía. Nếu một bên đã đổ quân xâm chiếm, đã bắt bớ cướp của giết người; mà bên kia vẫn còn gọi là "đường lối ngoại giao hòa bình, mềm dẻo" thì ai có thể nghe lọt tai?

Mặt nạ số 3: Biểu tình làm gì chỉ được cái mồm la to. Giỏi sao không đăng ký nghĩa vụ ra Trường Sa cầm súng bảo vệ Tổ quốc?

Ngu dốt và mất dạy toàn diện!

Nên nhớ, xã hội bao gồm nhiều thành phần, nhiều thế hệ gắn kết với nhau theo những ràng buộc đa chiều.

* Nếu một người lính đã từng tham gia cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, đi trong đoàn biểu tình mà nghe câu này, họ sẽ chỉ thẳng mặt kẻ vừa nói: - Mày dám lặp lại câu ấy một lần nữa không?

* Một doanh nhân sẽ cười khẩy: - Thế hả, tao đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự 10 năm nay rồi. Muốn có súng đạn, quân trang, lương thực... để chiến đấu thì lấy tiền đâu? Là tiền của thuế của chúng tao đóng vào để mua đấy. Tao đang muốn hỏi xem nó đã được sử dụng như thế nào, thất thoát bao nhiêu phần trăm đây nhé!

* Một giáo sư sẽ ôn tồn: - Cậu đăng ký vào giảng dạy thế cho tớ một năm nhé. Nhìn cái lũ khốn nạn này tớ cũng muốn ra chiến trường mà dần cho chúng một trận!

* Một cựu chiến binh sẽ nghiêm nét mặt: - Quân đội phải có kỷ cương chặt chẽ, phải được rèn luyện thật tinh nhuệ. Tất cả ùa ra chiến trường cầm súng để thành 1 đám ô hợp à. Đừng tưởng cứ muốn cầm súng là được, hạng hèn nhát đến một câu khẳng định chủ quyền cũng không dám hô thì chiến đấu bằng cái gì?

Đó là 3 cái mặt nạ đang thịnh hành nhất hiện nay. Rất mong mọi người phổ biến để bài trừ những tên mãi quốc thời đại số này.

Nguồn: thấy hay là lượm lặt, làm nhột một vài kẻ là lượm tất.



BLOG HIỆU MINH

Cựu binh Nguyễn Hồng Quân mưu sinh.

Nhớ thời làm ở Hà Nội, mỗi lần về quê ăn Tết với bu, thế nào cũng có màn đóng góp cho xóm làng. Thông thường là bác trưởng xóm, bên phụ nữ, người chi bộ, từ 3 đến 5 người. Họ đợi tối mồng 2 Tết thì đi thăm bọn con cháu thành đạt ở thành phố về quê vì hội này hay đi vào sáng hôm sau.

Đầu tiên là màn chào hỏi, thăm sức khỏe và tình hình công tác, con cái và gia đình. Sau đó đề nghị đóng góp cho địa phương. Chú biết đó, con đường ra bãi tha ma hiện đang lầy lội. Anh Q đã đóng cả chục triệu rồi, còn thiếu vài bao xi măng, chú xem có giúp xóm được vài trăm ngàn không.

Bà mẹ ngồi bên đá vào, thôi con ạ, của ít lòng nhiều, con đi xa, ở nhà trăm sự nhờ đảng và chính quyền địa phương, các anh của con đóng hết rồi, bây giờ đến lượt con. Mẹ nói chả lẽ không nghe.

Thế là thằng cu đành rút ra vài tờ VNĐ, chẳng nhiều như các đại gia, gọi là chút tình quê hương nghe văn vẻ, nhưng thật ra bằng một lần uống bia của vài thằng bạn.

Sau này, thấy bà mẹ kêu quyên góp gì đó nhưng chi tiêu không rõ ràng, cãi nhau ỏm tỏi, lần sau con cứ đóng cho hội cựu chiến binh ấy. Cánh đi bộ đội về rất sòng phẳng.

Quả thật, tôi chả có nhiều, mỗi lần chút thôi, nhưng các anh ấy chi tiêu rất minh bạch. Nào là mua cái xe chở quan tài hết bao nhiêu, cờ phướn thế nào, bưng cái trống cái hết mấy trăm, kể cả chai rượu trắng chục ngàn các anh liên hoan cũng ghi vào hóa đơn.

Tôi luôn tin cựu chiến binh là những người đàng hoàng. Chả gì họ vào sinh ra tử, thân còn chẳng tiếc, tham gì mấy đồng tiền mà thành người ti tiện.

Thời ở Ba Lan, Bulgaria, hay sang Nga chơi cả nửa năm, gặp cựu chiến binh thế chiến 2, tôi có cảm giác họ như những anh hùng.

Sang Mỹ cũng vậy. Vào ngày Veteran Day 11-11 (Cựu chiến binh) thấy cả chục ngàn xe máy Harley Davidson chạy nườm nượp trên đường DC. Đó là cánh lính già râu ria xồm xoàm, người xăm không còn chỗ nào trống, đang biểu diễn xe máy ầm ầm, để nhớ lại thời trai trẻ lính chiến bụi xa trường.

Có lần tôi còn ngồi trên xe máy đi thử một đoạn. Cánh này vẻ đáng tin cậy, hiền từ, cho dù họ cũng bắn kha khá đạn về phía quân ta. Biết đâu có lão đòm anh trai mình cũng nên.

Lâu lâu về quê, tôi lại nghe làng xóm than, thời chống Mỹ, thằng trốn bộ đội lại vào hội cựu chiến binh. Thằng đào ngũ bỗng thành thương binh có thẻ đàng hoàng. Lúc đó tôi mới biết có cả nguyên bộ đội rỏm.
Đường phố Hà Nội náo loạn vì xe giả danh thương binh dù có người là thương binh thật, làm ăn chân chính vì mưu sinh.

Gần đây trên mạng có video clip mà các cựu binh đến tận cơ quan một blogger đến hoạnh họe tại sao lại chống dự án nhà máy điện nguyên tử, phản đối bauxite Tây Nguyên, đòi thu cả laptop của anh ấy. Lấy danh nghĩa thương binh để dẹp bất đồng là làm hại những người một đời vì dân vì nước.

Tôi lờ mờ hiểu rằng có nhiều loại cựu binh, có thật, có rỏm, có người trung thành, có người chẳng hiểu sao mình được phong làm cựu chiến binh vì một nhiệm vụ đặc biệt.

Mới đây có tin TBT của tờ báo Cựu Chiến binh bị phốt gì đó nên mới ngó vào xem. Hóa ra hội này rất mạnh, có cả một tờ báo. Theo tôi hiểu, tờ báo này dành cho bộ đội xuất ngũ là chính.

Rất tiếc, phần liên quan đến binh đao ngày xưa rất ít. Có phần thông tin về Hội CCB, điều lệ, vài tin nhỏ về hoạt động. Còn lại nó như một tờ báo trong 700 tờ báo khác. Đọc ở đâu đó rồi thì chẳng cần vào đây.
Chỉ có điều, muốn xem đại gia Đặng Thành Tâm làm ăn mánh mung thế nào, chị Hoàng Yến khai man lý lịch ra sao, hãy vào đây mà xem. Đủ hết thông tin. Nghe nói chính tờ báo này hạ bệ chị Hoàng Yến, phải ra khỏi Quốc hội.

Những cái tít giật gân như “Không thể để ông ĐTT lừa dối cử tri, qua mặt Quốc hội” hay “Vi phạm pháp luật của ông Đặng Thành Tâm vì sao chưa có chỉ đạo xử lý” vv. đủ thấy, các vị trong tòa soạn chỉ “chơi” mỗi gia đình nhà này. Không tin bạn đọc vào đây mà xem.

Có vài tờ khác như Người Cao tuổi và Petrotimes cũng xông vào “choảng” hai chị em Yến – Tâm.
Trong khi ấy, những vụ tày trời như Vinashin, Vinalines, PCI, PMU18 hay EcoPark, Tiên Lãng … thì thấy quí báo “thưa thớt, dựa cột”.

Đọc báo một thời gian thì tôi lờ mờ hiểu, một số tờ báo có định hướng của anh X, một số khác của anh Y, vài tờ của anh Z.

Thật ra chuyện này không lạ. Bên Mỹ cũng rứa. Washington Post ủng hộ đảng Dân chủ, có lần lật cả Tổng thống Nixon vì vụ Watergate. Nhưng cách đưa tin hay bình luận khá khách quan vì họ muốn dân của cả hai đảng mua báo.

Fox News luôn thuộc về đảng Cộng hòa, nhưng chỉ nghe họ đưa tin, chẳng ai có thể đoán là họ đang đánh đảng nào.

Các cựu chiến binh cần có không gian riêng.

Một tờ báo như Cựu Chiến binh cũng nên định hướng phục vụ bộ đội phục viên, thương binh, công tác liệt sỹ, tìm hài cốt đồng đội, nhắn giúp bạn bè gặp mặt thời xưa.

Tin tức bình luận nên liên quan đến chất lính của chiến trường hơn là chính trường để cho hàng triệu người rời quân ngũ có một không gian riêng khác biệt với 700 tờ báo khác.

Mấy hôm nay nghe tin TBT của báo Cựu Chiến binh bị cáo buộc sai phạm ngay trước thềm đại hội Cựu chiến binh. Xem ảnh, thấy anh cũng khô khổ thế nào ấy, chắc cũng đi lính về hẳn hoi. Cũng mong tòa soạn xốc lại tinh thần cho tờ báo và đi đúng hướng cho những người lính cũ đọc và thấy mình trong đó.

Viết báo phải công minh và không được thiên kiến. Trách nhiệm là đưa tin trung thực và cấm tuyệt đối phe phái thì mới mong tờ báo sống với thời gian.

Nếu chỉ phục vụ anh Y, anh X, anh Z, thì khi các ảnh về vườn, hay bị kỷ luật, chủ tờ báo cũng về đuổi gà cho vợ chưa chắc đã xong.

Nghĩ chuyện cựu binh rỏm thật, sao mà rầu lòng. Nó rỏm ở ngoài đời đã đành vì miếng cơm manh áo, chả lẽ lại bước cả vào một tờ báo mà khẩu hiệu đầu trang là “Phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” Trung thành – Đoàn kết – Gương mẫu – Đổi mới”.



DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM

VRNs (11.12.2012) - Sài Gòn - Xin Có Đôi Lời Với Các Bạn Hôm Nay Hát Bài: một con vịt xòe ra hai cái cánh, ba thương con vì con giống mẹ,…

Không phủ nhận sáng hôm nay 9.12.2012 lực lượng an ninh Sài Gòn làm nhiệm vụ phá hoại, phá đám, đàn áp thành công tuyệt vời.

Với 1 lượng người đi biểu tình khoảng hơn 100 thì số an ninh thường phục, sắc phục, anh em áo xanh, các em thành đoàn phải gấp 3 lần. Khi đi diễu hành từ nhà hát thì ước chừng 500 người .

Tuy vậy khoảng 100 người nhưng rất khí thế, đả đảo TQ vang một góc phố. Khi đi đến chỗ hàng rào kẽm gai thì có 1 anh mặc áo xanh lao vào giật biểu ngữ như 1 thằng ăn trộm, được tiếp tay bởi các em mặc thường phục mà tuổi đời trên dưới 20.

Khốn nạn hơn các em thành đoàn (tôi đoán vậy) cầm micro không dây hát "1 con vịt xòe ra hai cái cánh, nó kêu rằng cáp cáp cáp, cạp càm càm cạp", rồi "ba thương con vì con giống mẹ",……… Tôi lặng người, thầm kêu lên: Lạy Chúa tôi, những đứa này có phải là con người nữa không?

Và đỉnh điểm là cảnh các em áo xanh xô các đấng bậc cha chú đang đứng trên thềm nhà hát xuống dưới 1 cách thô bạo.

Anh hỏi thật các em, các em có biết là những người đi biểu tình hôm nay không ai được tiền thù lao, không ai được khen thưởng như các em không?

Thậm chí viễn cảnh đuổi học, đuổi việc, sách nhiễu cả gia đình là hiển hiện không ?

Các em có biết vì sao mà họ vẫn dám xuống đường biểu tình không? Họ yêu nước đấy, họ yêu gia đình, bạn bè và cả các em nữa đấy. Có thể các em bị dạy rằng đó là bọn phản động, nên các em cứ vô tư làm những gì họ bảo.

Các em có biết không? Nếu chúng tôi là gây rối, chúng tôi là phản động thì chính lực lượng Công An sẽ bắt chúng tôi, chứ không xui các em gây rối, phá đám chúng tôi như vậy đâu.

Các em nghĩ sao khi hát bài con vịt trước mặt bác Huỳnh Tấn Mẫm, bác Phạm Đình Trọng, bác Chu Hảo, bác Bùi Văn Nam Sơn, bác Hoàng Dũng…… Nói thật với các em tuy là hơi nặng lời nhưng đích thị các em là 1 thứ công cụ cho 1 loại người vô liêm sỉ. Chúng biết các bác ấy là ai, chúng biết mục đích cuộc biểu tình nhắm đến là TQ xâm lược, chúng không dám ra tay đàn áp nên mới cậy đến các em, cậy đến 1 đội quân áo xanh hùng hậu xô đẩy.

Tỉnh ngộ đi các em, chẳng có thế lực thù địch nào, chẳng có bọn phản động nào, chẳng có bọn khủng bố nào hi sinh vì đất nước Việt Nam đâu. Những người đi biểu tình hôm nay là những con người yêu nước chân thành nhất, họ chẳng nhận được đồng nào từ “thế lực thù địch đâu”, có người phải đi cả trăm cây số đến nhà hát chỉ mong được hô: Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, có người đến muộn đứng ngoài rào sắt nhìn vào nhà hát đó. Họ không có thù lao như các em đâu.

Hôm nay khi mọi người hô đả đảo trung quốc xâm lược, các em hát bài con vịt, các em hô móc túi, các em giật biểu ngữ. Có bao giờ trong 1 phút yên lặng các em nhìn lại, chúng tôi đang làm gì và các em đang làm gì?
Nói dài dòng nhưng xin các em ghi nhớ cho: Tổ Quốc Việt Nam là của nhân dân Việt Nam, Tổ Quốc Việt Nam không phải của sếp các em, không phải của bất kỳ đảng phái nào.

Lần sau nếu có biểu tình các em không nên ca bài ca con vịt nữa, hãy ca cùng chúng tôi: Đất Nước Dậy Mà Đi nhé.

Biểu tình viên, độc giả VRNs



BLOG ĐÀO TUẤN

Chúng ta đang chi ngoại tệ để nhập lậu đồ thải từ Trung Quốc. Mà đồ thải, nói gì thì nói, là thứ người ta bĩnh vào toa lét để xối nước.

9 tháng đầu 2012 Việt Nam đã nhập khẩu 52.586 tấn thịt gà. Trong số này,  6.147 tấn là “gà thải nguyên con” từ Hàn Quốc. Ở phương diện nhập lậu “tiểu ngạch”, 70.000 đến 100.000 tấn gà thải được thải qua biên giới vào Việt Nam. Không thể có cách lý giải thứ hai. Những con số, khẳng định, đang sỉ nhục một đất nước nông nghiệp. Những chỉ số đo lường sự khốn khổ của nông dân. Và câu chuyện con gà, nhấn mạnh chữ thải, còn là một cái lẽ cay đắng cho thấy Việt Nam vẫn chưa thoát địa thế cái toa lét có khi chỉ của riêng người láng giềng Trung Quốc.

Đồ thải phải chăng là thứ người ta cho vào toa lét để xả nước!?

Không ngẫu nhiên, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chọn Quảng Ninh là địa điểm thị sát. Báo cáo của Cục Chăn nuôi đánh một cái dấu đỏ vào tỉnh biên giới này với con số 100-200 tấn/ngày gà thải được nhập qua các đường biên của Quảng Ninh vào những lúc cao điểm.

Siêu lợi nhuận giữa giá bán, khoảng 18-20 ngàn đồng/kg ở biên giới và giá tiêu thụ trong nội địa, chỉ cách điểm tập kết 2h xe chạy 65-70.000 đồng có lẽ là động lực đủ mạnh, một tiềm lực đủ mạnh để dân buôn lậu dễ dàng vượt qua hàng rào trùng điệp đủ thức sắc phục: Biên phòng, hải quan, thú y, quản lý thị trường, thuế vụ, công an…

Ừ thì việc quản lý 26 km đường biên với 16 cột mốc của một đồn biên phòng như Bắc Sơn là quá rộng. Ừ thì lực lượng kiểm soát còn mỏng, chế tài còn quá nhẹ, khiến những trạm kiểm soát liên ngành như “Trạm 15” gặp khó, nhưng, như Phó Thủ tướng từng nói trước Quốc hội những con gà lậu đi trên những “chiếc xe chuyên dụng” chạy ầm ầm trên quốc lộ mà bằng mắt thường một đứa bé lên 5 cũng có thể nhận biết.
Vấn đề không phải là có chống được hay không, mà là nhân viên chức năng có muốn chống thực sự hay không.

Tuần trước, báo Thái Nguyên kể lại câu chuyện thê thảm của người nông dân nuôi gà Nguyễn Đình Cứ: “Nuôi 5 lứa gà (mỗi lứa 8.000 con), tính ra lỗ mất 4 lứa, lứa lỗ nặng nhất tới gần 300 triệu đồng. Bao năm tích cóp, đầu tư vào trang trại như đánh một canh bạc đen đủi…”. Một trong những lý do sau đó được Phó Giám đốc Sở NN và PTNT Hoàng Văn Dũng xác nhận: “Gà nhập lậu chưa được kiểm soát tốt”.

Ôi chao, những người nông dân chỉ muốn làm ăn lương thiện. Chỉ vì những con gà lậu, việc chăn nuôi bỗng trở thành một canh bạc, mà sự thắng thua phụ thuộc vào lương tâm, vào trách nhiệm của…người khác.

Nhưng chắc chắn, người nông dân Nguyễn Đình Cứ không phải là nạn nhân duy nhất. Chắc chắn Thái Nguyên không phải địa phương duy nhất nông dân gạt nước mắt treo chuồng, giãn lứa dù đang ôm nợ chồng nợ chất.

Phó Thủ tướng một lần nữa, đã xuất tướng, để thực hiện điều mà ông long trọng cam kết trước Quốc hội, với hàng chục triệu cử tri là nông dân, và nhân dân cả nước.

Một bức ảnh trên báo điện tử Chính phủ cho thấy ông trực tiếp thị sát một cung đường biên giới ở U Bò, Bắc Sơn, nơi thường xuyên diễn ra tình trạng buôn lậu. Tháp tùng ông là Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh Phạm Minh Chính, thật tình cờ, là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá”.
Không biết trong cuốn sách nổi tiếng vị Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bí thư tỉnh ủy, xuất thân là một vị tướng công an có phân tích về sự ảnh hưởng của buôn lậu tới nền kinh tế!?

Phó Thủ tướng phải “xuất tướng” âu cũng là một sự bất đắc dĩ. Nhưng sự bất đắc dĩ đó có khi lại là cần thiết để các vị tướng khác ở địa phương không chỉ giỏi trong nghiên cứu giấy tờ.



BLOG BÙI VĂN BỒNG

Không ở đâu quá trình phát hiện, thanh tra, điều tra và đưa ra xét xử một vụ tham nhũng lại lâu như ở ta. Những vụ dính đến cán bộ đảng viên càng lâu, cán bộ lãnh  đạo càng lâu hơn, cấp càng cao càng kéo dài.
Vụ Lương Cao Khải tham nhũng ở Tổng công xây dựng dầu khí mất gần ba năm. Vụ Lâm Anh Thái trong ngành Bưu điện, hơn 2 năm. Vụ Nguyễn Đức Chi gần 5 năm...

                Đặc biệt vụ án nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn, người ta quen gọi là “vụ án Gò Môn” của Trịnh Kim Long, nguyên Chủ tịch quận Gò Vấp và vụ án nhận hố lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn, và lợi dụng ảnh hưởng của người khác, của Nguyễn Văn Khỏe, nguyên Chủ tịch huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thanh tra, điều tra, xét xử giữ kỷ lục: Vụ Trịnh Kim Long, kéo dài  5 năm, từ 2006 đến 2011, vụ  Nguyễn Văn Khỏe từ 2003 đến 2012, kéo dài gần 9 năm.

               Chiến đấu với một quan tham cấp quận, huyện mà khó khăn gian khổ,  tốn thời gian gần bằng cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp,  bằng  nửa  thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ! Thế là đủ thấy kinh rồi!

                Tôi nhớ có lần, trên diễn đàn Quốc hội, đại biểu Trần Huy Hạnh đã dóng lên tiếng chuông báo động: “Các vụ án tham nhũng kéo dài, có biểu hiện thiếu kiên quyết!”.

                Nhưng tiếng chuông đơn lẻ ấy không lọt tai nhiều người, bởi hình  như, việc kéo dài như vậy lại nhất quán với quan điểm  thận trọng, gọi là “xem xét “khách quan, biện chứng” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói, bảo vệ uy tín và giữ gìn sự đoàn kết nội bộ đảng của các vị lãnh đạo, chủ yếu là “cảnh báo, cảnh tỉnh, giáo dục, răn đe” !?

                Khi đương chức Phó Thủ tướng, phụ trách Trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương, ông Trương Vĩnh Trọng nói: “Các vụ án tham nhũng có thể làm chậm, nhưng chắc, phải có chứng cứ xác đáng, cho đối tượng tâm phục khẩu phuc!”. Ai “tâm-khẩu phục” chưa biết, nhưng họ vẫn thường xuyên mai phục để trù úm, đe nẹt, hại những ai có chứng cứ, những ai tố cáo! Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói: “Phải hết sức thận trọng, vì nó liên quan đến uy tín của Dảng, đến sinh mạng chính trị  của đồng chí mình”. Vậy, tham nhũng mà không bị đưa ra pháp luật là tăng thêm uy tín cho Đảng, quan điểm rất mới, có sáng tạo!

                Và mới đây, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đi nhắc lại: “Trên tình đồng chi thương yêu giúp nhau cùng tiến bộ, nếu kỷ luật mà không tính kỹ, thành ân oán, phe phái, rồi nội bộ rối lên thì có nên không?”. Điều lệ Đảng quy định với những đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, nhất là các trường hợp mất phẩm chất, phạm pháp luật, mất đoàn kết nội bộ sẽ phải xử lý kỷ luật, bị khai trừ Đảng. Vậy, sao lại sợ đến vậy?

            Tội phạm kinh tế gia tăng đến chóng mặt, tham nhũng phát triển như căn bệnh ung thư đang di căn, có những lĩnh vực tưởng như tham nhũng “tha cho”, không len vào, như quỹ từ thiện, như chương trình 135, như chính sách thương binh liệt sỹ mà con sâu ấy vẫn đục khoét! Tham nhũng  trở thành quốc nạn, như giặc nội xâm,  mà lấy phương châm chậm mà chắc, giữ  uy tín của đảng, lấy đồng chí mình làm trọng, sợ ân oán, phe phái, thì liệu chống tham nhũng có hiệu quả không?

               Thực tế, càng thận trọng, càng tính quá kỹ, thời gian càng kéo dài, thời gian càng kéo dài, bọn tội phạm có thêm cơ hội đối phó, chạy chọt, các vụ án tham nhũng càng teo tóp lại, như ‘đầu voi đuôi chuột’?
                Vụ Nguyễn Văn Khỏe, lúc đầu giá trị thiệt hại hơn trăm tỷ, sau chín năm điều tra, xử đi, xét lại, teo lại còn hơn mười tỷ. Vụ Lâm Anh Thái, liên quan đến  38 cơ quan bưu điện  cả nước, hơn sáu chục cán bộ đảng viên vi phạm,  tham ô  làm thất thoát 47 tỷ đồng, kéo lê thời gian thanh tra, điều tra, lật qua lật lại mãi, cuối cùng chỉ còn 6 người phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Tương tự vụ án Nguyễn Đức Chi, lúc đầu 45 người liên quan,  rơi rụng dần còn 5 người, toàn thứ vô danh tiểu tốt…

              Như một quy luật, các vụ án kinh tế khi mới phát hiện to tát, nghiêm trọng bao nhiêu,  sau thời gian điều tra dài dặc, nhỏ lại, ít nghiêm trọng bấy nhiêu. Có lần đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, Nguyễn Ngọc Trân,  nói mỉa mai: “Lúc đầu như trái núi, sau bằng cục đất”.

              Ai chả biết tội phạm kinh tế, tham nhũng vừa khó phát hiện vừa khó điều tra,  bởi đối tượng phạm tội là người có trình độ nhất định, có nhiều thủ đoạn tinh vi! Nhưng, phải nói thẳng, đó chưa phải là nguyên nhân dẫn đến việc kéo dài thời gian thanh tra, điều tra, xét xử. Nguyên nhân  chính là những chiếc barie vô hình, hữu hình chặn đường bít lối.

               Đối tượng tham nhũng càng to Barie càng nhiều. Những mối quan hệ nhằng nhịt, mật thiết,  phe nhóm, bao che nhau, có cả những thứ “luật” bất thành văn ràng buộc,  không loại trừ cả các cơ quan thanh tra, điều tra, tòa án. Có những trường hợp những kẻ liên quan  phải lăn sả vào mà cứu nhau, vì không cứu thì: “Trạng chết trẫm cũng băng hà!”.

            Thượng tá  Nguyễn Minh H,  làm việc trong cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an, tâm sự với tôi: “Tụi em mỗi khi nhận quyết định điều tra một vụ án,  phài nhìn trước ngó sau, không thận trọng là ăn đạn!”
                 Khi người cảnh sát điều tra đối diện với một bị can như Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn,  anh ta phải  hiểu rằng mình không chỉ đối diện  Huỳnh Ngọc Sỹ,  mà phía sau kia, có cái bóng to hơn Huỳnh Ngọc Sỹ! Nếu chỉ một mình Nguyễn Văn Khỏe, thì dù  y có khỏe như voi cũng không cương  nổi với cơ quan điều tra chín tháng chứ đừng nói gì chín năm? Phía sau ông ta là ai, đừng nói dân Hóc Môn không biết!

                 Một bài học nằm lòng các vị quan tham là, thận trọng tối đa tránh để ý, quan hệ thật sâu  tránh lãng phí, chia chác kín đáo  khỏi gen tị, đừng lưu chứng từ đừng khoe chữ ký, bị phát hiện kéo dài xử lý! Phương châm để lâu sâu hóa bướm được vận dụng rất hiệu quả!

                Năm 1996, Thanh tra chính phủ có kết luận, Huỳnh Phi Dũng, dùng công  ty Phi Long của gia đình mình, kết hợp  với công ty Thành Lễ, là doanh nghiệp nhà nước, do Dũng làm giám đốc, bán mấy trăm hec-ta đất khu Sóng Thần  cho 57 doanh nghiệp và tư nhân, chia 50/50,  tham ô hàng trăm tỷ đồng. Bộ công an cũng có văn bản báo cáo việc đó.

                Nhưng, vì Dũng có mối quan hệ  thân thiết với  Út Phương, Chủ tịch Bình Dương và những người có chức quyền khác, nên sự việc ngâm tôm ngày này tháng nọ, nhạt dần. Huỳnh Phi Dũng ném bớt 42 tỷ vào cái quỹ giáo dục của Bộ giáo dục đào tạo, đứng đầu danh sách 295 nhà tài trợ, trở thành người có tấm lòng vàng, xóa sạch hình ảnh  quan tham ăn đất.  Rồi Huỳnh Phí Dũng được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Dương giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội, và trở thành người đại biểu của nhân dân,  quyền bất khả xâm phạm từ năm 1997 đến 2002. Sau đó Huỳnh Phi Dũng đổi tên thành Huỳnh Uy Dũng, làm cú lột xác ngoạn mục từ sâu sang bướm!

Anh nói: "giáo dục, răn đe là chính",
đừng làm mạnh đấy nhé!

       Cách đây không lâu, ở  Mỹ, sảy ra vụ bê bối tại  cơ quan quản lý khoáng sản (Minerals Managegment Servic) khi nhân viên cơ quan này không tuân thủ quy định của chính phủ, nhận những món quà  trị giá hơn 20 đô la, nhậu nhẹt, chơi gái. Cơ quan thanh tra vào cuộc, và chỉ trong một thời gian ngắn đã xử lý nghiêm minh, 19/55 nhân viên bị đuổi việc, tên tuổi công khai trên báo chí, thông tin đến từng người dân, không dấu diếm một chi tiết nào.

           Tổng thống Mỹ không bao giờ nói đến chống tham nhũng, mà việc đó do cơ quan độc lập làm!

                 Vụ chủ tịch tập đoàn Huyndai, Hàn Quốc, Chung mong Koo tham ô, chỉ trong  ba tháng cơ quan chống tham những độc lập đã kết luận điều tra, bắt giam và đưa ra tòa xét xử, dù ông Chung mong Koo đã 68 tuồi và là một nhân vật lừng lẫy Hàn Quốc.

                 Ở ta kỳ họp thứ 4 của Quốc hội vừa qua , cùng với việc thông qua Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) một số đại biểu đề nghị thành lập cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập, nhưng Bộ chính trị chưa chấp nhận.

                 Không có một cơ quan độc lập, mà phụ thuộc vào sự  lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chồng chéo, với  những mối quan hệ chủ quan và khách quan,  khiến   những vụ án tham nhũng phát hiện chậm, điều tra chậm, xét xử cũng chậm. Từ năm 2007 đến 2012 toàn ngành thanh tra triển khai 62.994 cuộc thanh tra lớn nhỏ, đến nay mới xét xử được khoảng 1455 vụ.

Sâu của cụ Sang lang thang cánh bướm,
giấu trái mù u ngao du hoa lạ

        Nói như Chủ tịch  nước Trương Tấn Sang, tham những như bầy sâu đang ăn hết phần của dân, mà không hành động quyết liệt, lại theo kiểu rung cây nhát khỉ, làm rề rà thì sâu hóa thành bướm hết.  Một con bướm đẻ ra vạn con sâu!

              “...Phải hành động ngay, hành động quyết liệt, để chặn đứng và đẩy lùi tham những!” Ông Ủy viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa hô to như thế ngày 6-12-2012, tại cuộc đối thoại về phòng chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ tổ chức ở Hà Nội. Lâu nay, thấy các vị trên "thượng đỉnh" đều hô to, hô mạnh, hô quyết liệt như vậy cả, nhưng, hô xong thì thấy chẳng thấy lôi ra được con sâu nào cả, chẳng qua mấy con nhện đỏ, rệp, rầy nâu, bọ xít mà thôi!

              Hy vọng ông chỉ đạo cơ quan thanh tra làm quyết liệt như ông nói, có thể  nên bắt đầu ở cái Công ty Cienco 5, do Thân Đức Nam, biệt danh “đồ banh”, vừa thôi chức Tổng giám đốc, nhưng vẫn còn làm Chủ tịch Hội đồng quản trị.

     M D




Nguyễn Hưng Quốc - Như xem kịch



Nguyễn Hưng Quốc


Từ trái: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang.

 Trước và trong Hội nghị lần 6 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (diễn ra tại Hà Nội trong suốt hai tuần đầu của tháng 9/2012), dư luận, từ trong đến ngoài nước, từ người Việt Nam đến giới quan sát quốc tế, đều xôn xao bàn tán về một trong các nội dung chính của hội nghị: kiểm điểm, phê phán, thậm chí, kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng, đương kim Thủ tướng, về tội tham nhũng, dung dưỡng tham nhũng và bất lực trong việc điều hành đất nước.

Sau đó, người ta được biết, Ban Chấp hành Trung ương đảng đã dành một phần ba thời gian của hội nghị chỉ để làm cái công việc ấy. Thế nhưng, kết quả thế nào? Trong diễn văn bế mạc hội nghị, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng không giấu được vẻ thất vọng và buồn bã, có lúc nghẹn ngào, báo tin Ban Chấp hành Trung ương đã bác bỏ đề nghị của Bộ Chính trị, quyết định “không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị”.

Mọi người đều biết rõ “một đồng chí trong Bộ Chính trị” ấy chính là ông Nguyễn Tấn Dũng.

Sau hội nghị, khi tiếp xúc với cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng nhắc đến “đồng chí” ấy dưới mật danh là “đồng chí X”.

“Đồng chí X” không bị kỷ luật không phải vì không có lỗi, nhưng nói theo Trương Tấn Sang là “do hoàn cảnh”.

Còn Nguyễn Phú Trọng thì lại giải thích là không muốn gây “ân oán, thù oán, đối phó thành phe nhóm, làm rối nội bộ”.

Lỗi của “đồng chí X”, hầu như ai cũng biết. Chúng rành rành qua các chức tước, chức vụ và tài sản khổng lồ của con cái và gia đình của ông. Chúng nằm chình ình ở ngôi nhà thờ họ đồ sộ của Nguyễn Tấn Dũng ở Kiên Giang. Chúng thể hiện ở các vụ án kinh tế gây thất thoát và lỗ lã đến cả tỉ đô la của các tập đoàn kinh tế cho Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp lãnh đạo. Đã có vô số bài viết và thư tố cáo về việc tham nhũng, dung dưỡng tham nhũng và lạm dụng chức quyền để thu lợi cho bản thân và gia đình của Nguyễn Tấn Dũng. Đã có hẳn một trang web được thiết lập và hoạt động hầu như chỉ để làm cái công việc tố cáo ấy: Quan Làm Báo.

Nhiều người trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản thấy rõ những điều đó. Dân chúng Việt Nam thấy rõ những điều đó. Ai cũng thấy rõ những điều đó.

Bởi vậy, lúc Hội nghị 6 diễn ra, mọi người chờ đợi là Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị kỷ luật. Sẽ bị mất chức. Nhưng, không. Sau đó, người ta lại tưởng, dù không bị kỷ luật, Nguyễn Tấn Dũng cũng sẽ bị một cú sốc lớn lao. Sẽ im lặng. Sẽ dè dặt hơn. Trong trường hợp của ông, sự dè dặt và im lặng được xem là dấu hiệu của lòng tự trọng.
Nhưng, cũng không.

Bức ảnh chụp chung với giới lãnh đạo đảng Cộng sản ngay sau Hội nghị 6 cho thấy một hình ảnh khác hẳn:
Trong lúc Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang mặt mũi dàu dàu, tiu nghỉu, buồn rầu như đang có tang thì mặt mày của Nguyễn Tấn Dũng lại tươi hơn hởn, ra vẻ đắc ý, như một người chiến thắng.

Chưa hết. Hơn một tháng sau, nói chuyện tại Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/10, Nguyễn Tấn Dũng lại lớn tiếng nói đến nỗ lực chống tham nhũng. Theo ông, “phòng chống tham nhũng không phải chỉ bằng pháp luật mà còn ở vấn đề con người”. Ở con người, quan trọng nhất là giáo dục. Trong giáo dục, quan trọng nhất là nhân cách. Ở nhân cách, quan trọng nhất là “lòng tự trọng”.

Trời đất! Nghe, cứ có cảm giác như nghe Tú Bà rao giảng về giá trị của trinh tiết và sự chung thủy.
Nhưng cũng chưa hết.

Trong dịp tiếp xúc với cử tri tại Hải Phòng vào ngày 4/12, Nguyễn Tấn Dũng lại nói về quyết tâm chống tham nhũng, đặc biệt, ngăn chận các nhóm lợi ích, những kẻ có tiền và có quyền cấu kết với nhau để lũng đoạn kinh tế đất nước, vơ vét của cải của dân chúng, làm giàu một cách bất chính. Ông hô hào: “Các cấp, các ngành phải kiên trì, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng.”

Đọc những bản tin kiểu như thế, tôi có cảm giác mình đang xem một vở kịch.

Hài kịch.

Lại là hài kịch dở.

Không những vô duyên mà còn có một cái gì như trơ trẽn.


Người Buôn Gió - Vạch rõ bộ mặt của bọn tay sai bán nước và các thế lực thù địch bên ngoài



Blog Người Buôn Gió

Hiện nay các thế lực thù địch bên ngoài đang nỗ lực chống phá đất nước ta, chúng tiếp sức cho bọn phản động trong nước hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân do Đảng và bác Hồ đã khai dựng nên. Các thế lực thù địch bên ngoài chính là những đế quốc lớn từ lâu có dã tâm nhòm ngó tài nguyên, chủ quyền của đất nước ta. Chúng chưa bao giờ từ bỏ dã tâm ấy mặc dù đã nhiều lần thất bại.


Trong giai đoạn ngày nay, âm mưu thôn tính đất nước bằng vũ lực là điều khó khăn bởi e ngại tiếng nói của dư luận quốc tế. Cường quốc thù địch này, nhất là đế quốc Mỹ và Phương Tây (ví dụ là thế thôi nhé) muốn dựng lên một chính quyền mới, là tay sai, bù nhìn của chúng. Thay việc phải huy động chiến tranh quân sự để xâm lược, thôn tính, cướp đoạt tài nguyên như ngày xưa. Thì hiện nay chúng chỉ cần dựng lên một chính thể mới gồm những tên tay sai được chúng trả công hậu hĩ. Số tiền mà chúng phải trả cho những tên tay sai này còn thua xa kinh phí một cuộc chiến tranh có quân đội, máy bay, tàu ngầm, tên lửa tham chiến. Và những tài nguyên, chủ quyền mà chúng thu về âm thầm và hiệu quả gấp bội lần dưới cái mác hợp tác chiến lược toàn diện trên mọi mặt. Hơn nữa thủ đoạn dùng người Việt trị người Việt vẫn là phương án tối ưu mà các cường quốc dã tâm vẫn ưa thích.

Ví dụ chúng có thể viện trợ 10 tỷ đô la, những với đầu óc con buôn có bề dày lịch sự, cộng thêm sự thao túng bộ máy chính quyền. Chúng có thể thu lại gấp vài lần trong thời gian ngắn bằng những hợp đồng khai thác tài nguyên, thuê đất với giá bỏ ra rất rẻ mạt. Sở dĩ chúng có những hợp đồng béo bở với giá rẻ mạt này vì những tên tay sai của chúng trong chính quyền đã bị chúng điều khiển như những con rối.

Chúng dựng lên những công ty do chúng kiểm soát để sản xuất hàng hoá tràn ngập khiến doanh nghiệp trong nước lụi bại. Hàng hoá của chúng bởi không tuân theo quy định môi trường, lao động, sức khoẻ người tiêu dùng nên tránh được rất nhiều chi phí, bởi vậy hàng hoá kém chất lượng, giá rẻ, độc hại của chúng tung đầy thị trường nước ta. Một lần nữa những tên quan chức tay sai trong chính quyền bù nhìn do chúng dựng lên lại làm ngơ cho các công ty của bọn đế quốc sài lang này tha hồ hoạt động.

Những tên tay sai này chỉ biết lo cho bản thân chúng, bởi thế luận điệu của chúng khi trấn áp những người dân thường có giọng điệu mà chúng cho là lý tưởng như

- Muốn tốt thì hãy lo cho gia đình mình đã, cho bản thân mình đã rồi hay tính chuyện khác.
Luận điệu thâm độc này làm tiêu tan chí khí của dân tộc, khiến cả dân tộc u mê trong những miếng lợi nhỏ nhất thời. Đến khi tài nguyên cạn kiệt, nợ nần quốc gia chồng chất, chủ quyền bị chiếm đoạt... mà người dân vẫn còn u mê xoay sở kiếm miếng bánh cho bản thân mình, rõ ràng khi đất nước như thế thì miếng bánh ngày càng bé đi. Những đầu óc bị tiêm nhiễm lo cho bản thân mình khiến cho người dân chỉ toan tính được những cái trước mắt không thể nào nghĩ đến nguyên nhân vì đâu khó khăn ngày một khó khăn hơn.

Nhưng Đảng và Chính Phủ ta đã nhận thức được sự nguy hiểm này từ rất lâu, những phương án vô hiệu hoá âm mưu thâm độc này đã được Đảng quan tâm và chỉ đạo sát sao, là trọng tâm lớn, mục tiêu lớn trong các kỳ đại hội. Lực lượng công an nhân dân và quân đội nhân dân luôn đề cao cảnh giác và chủ động đối phó với những phần tử cơ hội, muốn thay đổi nắm giữ chế độ, làm tay sai bán nước cho các cường quốc thù địch tham lam đầy dã tâm.

Đảng ta thật vĩ đại, Đảng đã thấy âm mưu của bọn đế quốc khi tiếp tay cho bọn phản động trong nước nhằm lật đổ chính quyền hiện nay, là để thay thế một chính quyền tay sai, qua đó thao túng chính quyền này để chiếm đoạt tài nguyên, chủ quyền, sức lao động, chất xám... biến nước ta thành con nợ khổng lồ luôn phải lệ thuộc vào đó. Đảng đã liên tục tuyên truyền cho nhân dân rất kịp thời về bản chất của bọn phản động, âm mưu của các cường quốc thù địch, đồng thời chỉ rõ đâu là địch, đâu là bạn bè tốt luôn sát cánh chia sẻ, giúp đỡ vô tư cho nước ta điển hình nước Trung Quốc anh em, láng giềng.

Đồng thời Đảng và Nhà Nước cũng luôn quan tâm chăm lo đời sống cho các chiến sĩ lực lượng vũ trang, nâng cao những trang thiết bị hiện đại, bổ sung thêm quân số, bổ túc thêm kiến thức để các lực lượng này luôn là lưỡi gươm và lá chắn của Đảng. Một lòng gìn giữ chế độ XHCN tươi đẹp, giàu mạnh mà bác Hồ và toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã chọn.

Hiện nay vị thế đất nước chúng ta đang rất cao, uy tín trong cộng đồng quốc tế. Theo trắc nghiệm của thế giới thì nhân dân ta hạnh phúc thứ nhì thế giới, chính trị ổn định, lãnh đạo được báo chí quốc tế đánh giá là gương mặt xuất sắc nhất châu Á... những thành công đó là sự thật khách quan mà quốc tế đã nhìn nhận. Việt Nam là đất nước tiềm năng, có nhiều gái đẹp, cảnh đẹp, nguồn lao động dồi dào... tất cả những thứ đó khiến Việt Nam xứng đáng là điểm đến đầu tư của các nhà đầu tư quốc tế.

Song song với những thành tựu mà chúng ta đã đạt được, nhưng chúng ta luôn phải đề cao cảnh giác trước những diễn biến thâm độc của bọn đế quốc tham tàn đang ngày đêm hà hơi tiếp sức cho những kẻ vì tham lam quyền lực, muốn nước ta rối loạn để cơ hội chính trị, chiếm lấy quyền lực làm tay sai cho đế quốc.
Những kẻ can tâm nhận đồng tiền bẩn thỉu của bọn ngoại bang, cần phải cảnh tỉnh, ước mơ muốn thay đổi thể chế chính trị tốt đẹp này để dựng lên một chính quyền tay sai, để bán rẻ tài nguyên, chủ quyền đất nước, sinh mạng dân tộc sớm hay muộn cũng bị vạch rõ trước lịch sử.

(đcm đời, mình viết bài này có 20 phút, kém đéo gì tiến sĩ, phó giáo sư viết ở báo ND, QQDND)


Lê Diễn Đức - Ước mơ Miến Điện cho Việt Nam là quá lãng mạn và siêu thực



Lê Diễn Đức

Thủ đô Warsaw, Ba Lan, ngày 13/12/1981 - Ảnh Tư liệu
Lịch sử của dân tộc nào cũng có những khúc quanh bi thảm, thậm chí ánh sáng hy vọng của tự do không có chỗ ngay cả ở đoạn cuối của đường hầm tối tăm, nhân dân tưởng chừng đã bị đánh gục, không còn sức đứng lên.

Trong cuộc tranh đấu xoá bỏ chế độ cộng sản (CS), giành tự do, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ, dân tộc Ba Lan cũng đã có những khúc quanh như thế.

Một trong những khúc quanh ấy là thời gian cả nước Ba Lan bị chìm đắm trong khủng bố bạo lực của chế độ CS trong giai đoạn thiết quân luật từ ngày 13/12/1981 tới ngày 22/7/1983.

Tôi viết bài này nhân dịp kỷ niệm 31 năm ngày 13/12 và muốn co sự tham chiếu với thực tế Việt Nam.

Đừng sợ hãi!

Phong trào "Đoàn Kết"chống lại chế độ CS ở Ba Lan có thể tính từ mốc quan trọng nhất: cuộc hành trình  về cố hương của Cố Giáo Hoàng Joan Paolo II vào ngày 1/6/1979.

Mặc dù tìm nhiều lý do trì hoãn và gây khó khăn, nhà cầm quyền CS Ba Lan lúc bây giờ đã không thể từ chối chuyến thăm quê nhà của Đức Giáo Hoàng.

Trước hàng triệu người Ba Lan, lời kêu gọi "Đừng sợ hãi" của Ngài đã thức tỉnh ý chí của người Ba Lan, giúp họ chiến thắng bản thân, vượt qua sợ hãi, gia nhập phong trào "Đoàn Kết" (Solidarność) được thành lập bởi Uỷ ban Đình Công do người thợ điện Lech Walesa đứng dầu, cùng với sự tham gia quan trọng của trí thức trong Uỷ Ban Bảo Vệ Công Nhân, Liên Hiệp Thanh Niên Ba Lan và Hội Đồng Chính Trị Nhà Thờ Ba Lan...

Trước áp lực tranh đấu liên tục của quần chúng bằng hàng loạt các cuộc biểu tình, đình công, bãi công, ngày 31/8/1980, chính phủ CS Ba Lan đã phải ký kết với phong trào đối kháng một thỏa thuận được mang tên lịch sử là "Thoả thuận Tháng Tám", trong đó Uỷ ban Đình Công cho rằng, hoạt động của công đoàn quốc doanh không đáp ứng hy vọng và mong đợi của người lao động, do đó họ được quyền thành lập công đoàn tự quản, đại diện đích thực cho giai cấp công nhân. Trong bản thoả thuận, đòi hỏi hạn chế kiểm duyệt cũng được đưa ra. Từ thoả thuận này, công đoàn độc lập ra đời và lấy tên là "Công đoàn Đoàn Kết" (CĐĐK).

Ngày 24/9/1980 CĐĐK đe doạ sẽ tổng đình công khi bị từ chối đăng ký hoạt động tại tòa án thành phố Warsaw vì nhà cầm quyên cho rằng điều lệ của CĐĐK vi hiến. Cuối cùng Tòa án Tối Cao đã phải phán quyết thừa nhận CĐĐK là tổ chức hợp pháp, CĐĐK chấp nhận điều chỉnh điều lệ, nhìn nhận hiến pháp hiện hành và vai trò của đảng CS đối với nhà nước Ba Lan.

Từ thời điểm này, CĐĐK phát triển rất mạnh mẽ, có 9 đến 10 triệu thành viên với 80% là công nhân viên chức đang làm việc cho chế độ.

Quá lo ngại trước sức mạnh to lớn này, nhà cầm quyền CS Ba Lan đã quyết định dập tắt phong trào"Đoàn Kết" và giải thể CĐĐK bằng bạo lực.

Quy mô đàn áp khủng khiếp


Thiết quân luật hay còn gọi là tình trạng chiến tranh được đại tướng Jaruzielski, người đứng đầu đảng và nhà nước CS Ba Lan, chủ tịch Hội Đồng Quân Sự Cứu Nguy Dân Tộc, công bố vào đêm 13/12/1981 (đêm thứ Bảy qua Chủ nhật).

70 ngàn binh sĩ quân đội, hàng chục ngàn lính dự bị đặt trong thế sẵn sàng, 30 ngàn viên chức thuộc Bộ Nội vụ, 1.750 xe tăng và 1.400 xe bọc thép, 500 chiến xa, 9.000 xe ô tô, một số phi đội máy bay trực thăng và máy bay vận tải, đã được huy động cho đợt đàn áp. Liên lạc điện thoại bị vô hiệu hóa, giới nghiêm từ 19 giờ đến 6 giờ sáng, cấm công dân thay đổi nơi cư trú, ngưng phát hành báo chí (trừ báo của đảng và quân đội), phá sóng radio nước ngoài phát vào Ba Lan, đình chỉ công dân xuất cảnh, tạm thời đóng cửa các trường học... 25% binh lực được tập trung trong và xung quanh thủ đô Warsaw.

Một chiến dịch bắt giữ các nhà hoạt động đối lập trên toàn quốc được tiến hành. 10 ngàn an ninh, mật vụ tham gia chiến dịch "Cây thông" bắt giữ những người được cho là nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, đưa họ tới các nhà tù và những trung tâm giam giữ đã được chuẩn bị trước.

An ninh Ba Lan còn được hỗ trợ tích cực bởi an ninh của Đông Đức thông qua nhóm tác chiến của Stasi tại Warsaw và KGB của Liên Xô.

Chỉ riêng trong tuần đầu tiên của thiết quân luật, trong các nhà tù và trại giam đã có khoảng 5 ngàn người. Trong thời kỳ thiết quân luật, có khoảng 10 ngàn gười bị bắt giữ trong 49 trại giam trên cả nước, đa số gồm các nhà lãnh đạo của CĐĐK, trí thức liên kết với họ và nhà các hoạt động đối lập dân chủ. Bốn ngàn người trong số này đã bị buộc tội và có án tù, hàng ngàn công nhân bị sa thải,  gần 2.900 người tự tử trong năm 1981, hàng trăm ngàn người dưới 35 tuổi đã bỏ chạy khỏi Ba Lan sang các nước phương Tây, không khác gì cuộc vượt biên tị nạn CS của người miền Nam Việt Nam sau 1975.

Trong năm 2006, theo Viện Tưởng nhớ Quốc gia, một cơ quan được thành lập sau khi chế độ CS bị sụp đổ, chuyên điều tra tội ác chống lại Ba Lan, số người chết do bị bắn hoặc bị đánh đập trong giai đoạn 1981-1989 khoảng 100 người.

Ngày 16/3/2011 Toà án Hiến pháp của Ba Lan đã phán quyết việc ban hành tình trạng chiến tranh đã vi phạm các nguyên tắc về tính hợp pháp của chính hiến pháp của nhà nước CS lúc bây giờ.

Ý chí đẩy lùi bạo lực

Quy mô đàn áp của nhà cầm quyền Ba Lan lớn và tàn bạo như vậy nhưng không dập tắt được phong trào đấu tranh. Ngay trong thời gian thiết quân luật, các cuộc biểu tình vẫn nổ ra.

Trong ngày quốc tế Lao động 1/5/1982 hàng chục ngàn người đã xuống đường phản đối tình trạng thiết quân luật với biểu ngữ "Thiết quân luật là bất hợp pháp".


Thiết quân luật vẫn xuống đường, ngày 1/5/1982

Ngày 31/8/1982, người Ba Lan đồng loạt xuống đường biểu tình tại 34 tỉnh thành, kỷ niệm 2 năm này ngày ký "Thoả thuận Tháng Tám". Hơn 5.000 người đã bị bắt giữ, 3.000 người bị tòa án buộc các tội khác nhau, một số tờ báo bị đóng cửa ("Kultura", "Czas") và 800 nhà báo bị sa thải.

Thế giới lên án mạnh mẽ và cô lập Ba Lan. Mỹ và nhiều nước phương Tây tuyên bố bao vây kinh tế Ba Lan và viện trợ tiền bạc, vật chất cho CĐĐK. Ngày 22/07/1983 nhà cầm quyền CS buộc phải chấm dứt tình trạng chiến tranh và giải thể Hội Đồng Quân Sự Cứu Nguy Dân Tộc.

Tranh đấu tới cùng

Công Đoàn Đoàn Kết trở lại hoạt động công khai. Các cuộc đình công, biểu tình lại bùng nổ trên toàn quốc.

Tháng 10/1983 Lech Wałęsa được trao Giải Nobel Hòa bình. Tháng 11/1986 CĐĐK trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Lao động Và Công đoàn Thế giới. Tháng 11/1988 Lech Valesa thắng lớn trước chủ tịch công đoàn quốc doanh trong cuộc tranh luận về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội, được truyền hình trực tiếp. Ngày 14/6/1987 Đức Giáo Hoàng Joan Paolo II lại về thăm quê hương và bày tỏ sự ủng hộ với CĐĐK.

Bị áp lực dồn ép quá mạnh từ cuộc tranh đấu và khủng hoảng kinh tế, nhà cầm quyền CS Ba Lan vào tháng 2/1989 đã đồng ý ngồi vào bàn tròn thương lượng với phe đối lập và chấp nhận cuộc bầu cử tự do, một cuộc bầu cử tự do đầu tiên trong hệ thống cộng sản, vào ngày 4/6/1989. Cuộc bầu cử này cũng được xem là bước chuyển hoá dân chủ đầu tiên bằng phương pháp hoà bình, tương tự như cuộc bầu cử bổ sung 45 nghế của quốc hội Miến Điện trong ngày 1/4/2012.

Giữ lại 65% số ghế quốc hội, đảng CS Ba Lan đồng ý bầu 35% số ghế còn lại và 100 ghế của Thượng viện. Sau cuộc bầu cử, tất cả số ghế được bầu đều rơi hết vào phe đối lập, mở đường cho việc thành lập quốc hội chuyển tiếp, tiến tới bầu tổng thống dân chủ vào năm 1990 với chiến thắng của Lech Walesa và bầu quốc hội toàn phần vào năm 1991, cáo chung hoàn toàn chế độ CS tại Ba Lan.

Cái giá của tự do

Suốt 22 năm nay, từ khi có dân chủ, tự do, năm nào tới ngày 13 tháng 12 người Ba Lan cũng tổ chức kỷ niệm ngày ban hành thiết quân luật, tưởng nhớ lại giai đoạn lịch sử bi thảm của dân tộc mình. Tại thủ đô Warsaw vào ngày này người ta tái dựng cảnh đàn áp trên đường phố với sự tham gia của quân đội, cảnh sát trong trang phục thời CS.

Qua trao đổi trên một số diễn đàn, tôi thấy nhiều người Việt không nắm được sự hy sinh và tổn thất to lớn của dân tộc Ba Lan trong cuộc tranh đấu xoá bỏ chế độ CS, thậm chí không ít người nghĩ đơn giản về một sự chuyển hoá chế độ ở Ba Lan trong hoà bình, mềm mại như nhung.

Chỉ cần so sánh quy mô đàn áp và hàng ngàn người bị đồng loạt bắt giam trong một thời gian rất ngắn (như đã trình bày ở trên), ta sẽ thấy ngay rằng, từ hơn hai thập niên này, sự hy sinh cho dân chủ, tự do của người Việt chưa thấm vào đâu so với người Ba Lan. Sự bắt bớ, giam cầm và đán áp của nhà cầm quyền CSVN đối với những người bất đồng chính kiến cũng chưa nhằm nhò gì so với nhà cầm quyền CS Ba Lan trong giai đoạn thiết quân luật, về quy mô cũng như số lượng.

Nhiều người mơ ước về một lộ trình dân chủ cho Việt Nam như Miến Điện. Điều này quá lãng mạn và siêu thực. Nếu hàng ngàn nhà sư, trẻ em, sinh viên đại học không bị dìm trong biển máu trong các cuộc biểu tình năm 1988 thì đã không có sự xuất hiện của bà Aung San Suu Kyi và đảng Dân Chủ của bà. Không có sự kiên cường bền bỉ của cá nhân bà Aung San Suu Kyi và áp lực tranh đấu không ngừng của cả phong trào đối lập, thì đã không có sự nhượng bộ của chính phủ quân phiệt Miến Điện và sự thay đổi sáng suốt vì lợi ích dân tộc của tướng Thein Sein, một hình ảnh tương đồng với tướng CS Ba Lan Wojciech Jaruzielski.

Trong khi bộ máy bạo lực của chế độ còn rất mạnh, lại chưa có một phong trào quần chúng đông đảo, mọi mong muốn đối thoại với nhà cầm quyền CSVN với hy vọng sẽ mang đến thay đổi chính sách là hết sức ấu trĩ.

Chưa có phong trào xã hội thì chưa thể có thay đổi

Mọi cuộc thương lượng chỉ mang lại kết quả nào đó khi có những con bài trong tay để trao đổi, nhân nhượng. Điều này chúng ta có thể dễ dàng kiểm định qua thái độ ngạo mạn, coi thường phản ứng của dư luận từ những cuộc vận động ký tên vào các bản kiến nghị phản đối khai thác bauxite Tây Nguyên, trả tự do cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ hay Tuyên bố Văn Giang...

Hàng ngàn chữ ký, bao gồm của nhiều nhà trí thức khoa học và xã hội hàng đầu, có uy tín trong nước, đã không có chút trọng lượng nào ngoài thiện chí của một phía yếu hơn. Những nhà cách mạng lãng mạn đã bị gạt ra lề trong cuộc đối thoại bất xứng.

Ai cũng biết chìa khoá giải quyết mọi nan đề của Việt Nam là cần phải thay đổi cấu trúc chính trị hiện thời và các cơ chế điều hành xã hội của nó. Sẽ không ai trong guồng máy cai trị muốn thay đổi khi bản thân đang gắn chặt với lợi ích quyền-tiền máu thịt, trừ khi có áp lực đủ mạnh của quần chúng.

Nếu một số vị trí thức có tên tuổi và uy tín về chuyên môn cũng như đạo đức ở trong nuớc kết hợp với các nhân tố tích cực từ các tầng lớp xã hội khác như công nhân, nông dân, sinh viên đại học, tiểu thương, giáo dân, v.v... mạnh dạn tuyên bố phát động một phong trào, đúng nghĩa, không phải là thành lập tổ chức chính trị-xã hội, với mục tiêu tranh đấu cho dân chủ, tự do và bảo vệ chủ quyền dân tộc, tựa như mô hình phong trào "Đoàn Kết" ở Ba Lan, "Hiến chương 77" tại Tiệp Khắc (cũ) hay "Otpor" của Nam Tư (cũ)... tôi tin chắc sẽ có đông đảo người Việt trong, ngoài nước, cũng như cộng đồng quốc tế ủng hộ.

Rất nên tránh yếu tố nước ngoài trong nhóm những người khởi xướng để ngăn ngừa sự quy chụp từ phía nhà cầm quyền và nghi kị từ phía dân chúng muốn tham gia. Chỉ khi phong trào đủ lớn, đủ mạnh, thì những đại diện mới có con bài để ngồi đối diện với nhà cầm quyền đưa ra yêu sách.

Đáng tiếc, trong nhiều thập niên quá người trong nước, đặc biệt là giới trí thức, những người gánh trách nhiệm tiên phong trong thay đổi xã hội, đã không tạo ra được nền tảng chủ chốt. Tất cả chỉ mới bắt đầu bằng tiếng nói tranh đấu của những người bất đồng chính kiến đơn lẻ, thiếu vắng nối kết có tổ chức, để rồi từng người kết thúc sự dấn thân của mình trong nhà tù với những bản án nặng nề. Vì thế, tương lai khởi động xã hội mãi mù mịt.

Bài học tranh đấu bất bạo động của các nước, đặc biệt của Ba Lan, một quốc gia có gần nửa thế kỷ nằm trong hệ thống CS với Việt Nam, có thể mang lại cho chúng ta những kinh nghiệm hữu ích, áp dụng vào thực tế Việt Nam.

Nhắc lại kỷ niệm 31 năm ngày cả nước Ba Lan ngộp thở vì khủng bố trong giai đoạn thiết quân luật và ít năm sau sau đó họ đã giành được tự do dân chủ, chính là để những người Việt trong nước nhìn nhận lại phương pháp hành động của mình.

Ngày 10-11/12/2012

© 2012 Lê Diễn Đức - RFA Blog

-----------------------------------------------
* Tư liệu trong bài được lấy từ tư liệu lịch sử của Ba Lan về "Tình trạng chiến tranh 1981-1983", đặc biệt từ trang:http://en.wikipedia.org/wiki/Martial_law_in_Poland


Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Hồ Phú Bông - Chết bởi Trung Cộng


Hồ Phú Bông

Cách đây khoảng hai năm chúng tôi ghé lại tiệm thực phẩm chó mèo để mua cho cô nàng chó cưng của chúng tôi mấy bọc thực phẩm nhỏ, loại chó ưa thích, để dễ dạy chúng (treat foods). Lúc chọn lựa chỉ so sánh giá cả, rẻ thì mua, không quan tâm đến nơi sản xuất vì nghĩ đấy ‘chỉ là chuyện chó mèo’!  Hơn một tuần sau cô chó bỗng rụng vài mảng lông và da ở khu vực đó có vẻ sần sùi như bị lác!  Lại ‘rất vô tư’ đi mua thuốc chống ngứa đem về.  Cũng nghĩ là cô nàng bị bịnh ngoài da chi đó rồi sẽ khỏi thôi, vì chúng tôi chăm sóc rất chu đáo!  Thế nhưng những ngày kế tiếp tình trạng đã không khá hơn mà da chỗ khác cũng có triệu chứng không tốt!  Đến lúc đó chúng tôi mới đem gói treat food ra xem lại. Made in China!  


Từ chuyện nhỏ đó của con chó, chúng tôi bắt đầu tự cảnh giác 3 chữ Made in China

Ấy thế mà trước khi ngồi gõ những dòng nầy, tôi thử nhìn quanh trong nhà, liệu chúng tôi đã lặng lẽ khuân về bao nhiêu thứ Made in China?  Thật ngạc nhiên, có ‘vô số’.  Từ đồ dùng đến thực phẩm, kể cả tủ quần áo cũng không thoát khỏi, mà nếu kể ra đây chắc cũng tốn nhiều dòng!

Điều ngạc nhiên nhất là cái hộc đựng muỗng đũa!  Có ít nhất cũng hơn 10 đôi muỗng plastic và đũa tre chưa đụng tới, còn nguyên trong bọc giấy Made in China.  Như vậy thì số muỗng đũa đã dùng rồi quăng đi, hiển nhiên không phải là ít!   Mà số muỗng đũa đó lại từ nhà hàng Việt Nam(!) cung cấp, do chúng tôi mua ‘food to go’!

Ai dám bảo số đũa tre là không bị ngâm trong hóa chất độc hại để chống ẩm, mốc hay cong vẹo?

Như vậy thì dù đã ‘tự cảnh giác’ nhưng chúng tôi vẫn ‘tự sát’ một cách vô tình!

Đọc quyển Death by China của đồng tác giả Tiến sĩ Peter Navarro và Giáo sư Greg Autry, bản dịch của Tiến sĩ Trần Diệu Chân vừa mới phát hành, để thấy rằng những cái chết đã xảy vô cùng êm ái, không một tiếng động!  Những cái chết đó phải chăng chỉ xảy ra cho một số người?  Không, thưa không đơn giản như thế!  Đấy là cái chết tiệm tiến đang diễn ra cho cả nhân loại, trên toàn thế giới mà chế độ Trung Cộng đem đến!

Nội dung sách như một cuốn cẩm nang được dẫn chứng bằng luận cứ khoa học mà có thể tra cứu để tìm hiểu căn nguyên bệnh trạng cho cả nhân loại, do sản phẩm độc hại của một chế độ bất chấp sinh mạng con người!  Và, đặc biệt là sự tàn phá môi trường sống của địa cầu!  Với 326 trang viết, 12 trang hình ảnh dẫn chứng, cộng thêm 90 trang phần tiểu luận đặc biệt Những vấn đề Trung Quốc của dân tộc Việt Nam của dịch giả Trần Diệu Chân, Tiến sĩ Kinh tế University of California at Santa Cruz.

Tựa đề bản dịch tiếng Việt là Chết bởi Trung Quốc là chính xác nhưng mang tính hàn lâm.  Còn tôi, đơn giản hơn, cụ thể hơn, thay vì dùng Trung Quốc để chỉ một đất nước, một dân tộc, tôi dùng Trung Cộng, như tựa đề bên trên, để nói về bản chất của chế độ cộng sản, một chế độ đã và đang còn gây tai ương cho toàn thế giới!
  
Sách gồm 16 chương, mỗi chương cô đọng một vấn đề. 

Thí dụ Chương II:  Chết vì thuốc độc Trung Quốc.  Hóa chất Melamine, Heparin.  Chương III:  Chết vì hàng tồi Trung Quốc.  Những hồ sơ kinh hãi về an toàn sản phẩm.  Công ty cao su Zhongce ở Hàng Châu qua mặt pháp lý Hoa Kỳ về chất lượng vỏ xe gây tai nạn giết người.  Chương V: Chết vì bị thao túng tiền tệ.  Công nhân Hoa Kỳ khó thể cạnh tranh hiệu quả với công nhân Trung Quốc.  Vì không thể cạnh tranh khi tỷ giá đồng Mỹ Kim với đồng Nhân dân tệ (Yuan) bị thao túng!  Chương VII: Chết bởi Rồng thực dân.  Thực dân Trung Quốc tại Phi Châu, Châu Mỹ La tinh, cung cấp sản phẩm giết người và đổ rác độc hại.  Chương IX: Chết vì gián điệp Trung Quốc tràn ngập trong mọi lãnh vực.  Chương XIII:  Trung Quốc nói dối ngay trong Hiến pháp của họ “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do diễn hành và biểu tình” (Điều 35)…

Tác phẩm là một tài liệu sống động, cụ thể.  Là kết quả công sức của hai tác giả sau hai năm nghiên cứu, viếng thăm, phỏng vấn tại nhiều thành phố, nhiều công xưởng ở Trung Cộng.  Sách được phát hành đúng 22 năm ngày xảy ra biến cố Thiên An môn (1989-2011) và bộ phim Death by China cũng đã được trình chiếu ra mắt tại Pasadena, Nam California ngày 17/8/2012. 

Hai tác giả cũng như sách đều đang bị cấm tuyệt tại Trung Cộng. 

Là tác phẩm chính trị nhưng không khô khan như thường nghĩ!  Trái lại, có thể nói đây là một tác phẩm vô cùng lôi cuốn đối với người không liên quan đến bất cứ sinh hoạt chính trị nào, như tôi! 

Bây giờ, thử đi vào chi tiết một chương.  Chương nói về những việc rất đỗi bình thường trong đời sống hàng ngày mà hiếm khi chúng ta để ý. 

Xin trích vài đoạn trong Chương II, từ trang 39 - 54:

“Chết vì thuốc độc Trung Cộng*
 “Trong tủ lạnh chúng ta, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất về Thủy sản cho Hoa Kỳ, cung cấp then chốt về thịt gà và xuất khẩu trà đứng thứ 3 trên thế giới.  Những nông gia Trung Quốc cũng cung cấp 60% nước táo đặc, 50% tỏi và những số lượng đáng kể về mọi thứ từ lê và nấm đóng hộp đến mật ong thường và mật ong chúa.
Về dược phẩm, Trung Quốc là nơi sản xuất 70% penicillin của htế giới, 50% aspirin và 33% Tylenol.  Các công ty dược phẩm Trung Quốc cũng chiếm lĩnh nhiều thị trường thế giới về kháng sainh, enzyme, amino acid, thuốc bổ.  Thậm chí, Trung Quốc còn chiếm lĩnh đến 90% thị trường thế giới về vitamin C, đóng vai tròhàng đầu trong việc sản xuất vitamin A, B12 và E, bên cạnh những thành tố gốc trong các thuốc multivitamins” (trg 39-40)

“Một ví dụ như 10% các nhà hàng Trung Quốc đã sống nhờ cái gọi là “dầu phế thải” (Gutter Oil) dùng làm dầu nấu ăn.  “Gutter Oil” là loại dầu cặn bã đã sử dụng được vớt lên từ những ống cống hôi thối của các nhà hàng, có chứa rất nhiều độc tố gây ung thư gan có tên là “aflatoxinmold”.  Những bọn vớt dầu cặm bã Trung Quốc bán nó ngay tại cửa sau của nhiều nhà hàng với giá bằng 1/5 giá của dầu đậu nành hay đậu phọng mới.  Bên cạnh chứng ung thư gan, chất dầu cặn bã nầy và đủ loại thức ăn vụn trong đó có thể gây chết bất đắc kỳ tử cho những ai bị dị ứng” (trg 40-41)

“Melamine - kẻ sát nhân hàng loạt của Trung Cộng*
“Mặc dù loại dầu cặn bã tuy thấy tởm, nhưng không ăn thua gì so với cách giết người hàng loạt của những kẻ sát nhân Trung Quốc bằng chất độc melamine… Melamine thực sự là một hóa chất có giá trị - khi nó không được lén lút bỏ vào thức ăn.  Tổng hợp nó với Formaldehyde để chế ra nhựa melamine..  có thể sử dụng melamine như chất làm chậm cháy, phân bón, hay chất siêu plastic để làm bê tông có sức đề kháng cao.  Nhưng nếu cho melamine vào thức ăn để cho gà, chó mèo, sữa, hay sữa bột trẻ em thì nó phá hủy hai trái thận nhanh hơn bất kỳ thứ gì khác.  Nhưng tại sao bọn gian thương “tim đen” của Trung Quốc lại cho melamine vào trong thực phẩm?  Đó là vì số lượng nitrogen cao trong melamine sẽ làm tăng chỉ số chất đạm (protein).  “Sự giả mạo protein của Trung Quốc” như thế nhằm đánh lừa những nhân viên kiểm tra thực phẩm về mức độ protein trong thức ăn.  Vì melamine rẻ hơn protein rất nhiều…” 

“Trung Cộng* giết người bằng chất Heparin”
“Heparin là một hoạt chất chống đông máu rất phổ thông trong những vụ giải phẫu và chuyền máu cũng như lọc thận, được tinh chế từ màng nhờn ruột heo. Trên thực tế, đó là lý do tại sao Trung Quốc đã đi vào tiến trình sản xuất heparin: Vốn là thủ đô lợn của thế giới..” “Để tăng lời, các nhà sản xuất Trung Quốc đã bỏ thêm vào heparin một chất có hoạt tính tương tự như heparin nhưng nguy hiểm chết người, đó là chất chondroitin sulfate với nồng độ sulfate quá tải, đưa đến phản ứng trầm trọng có thể giết người như hạ huyết áp, thở rút, nôn mửa và tiêu chảy… Điều đáng ghê sợ là chất này rất giống heparin khiến việc điều tra chất heparin rất khó khăn; tà chất này lại rẻ gấp 100 lần so với giá trung bình: chỉ có $9 một pound so với heparin $900 một pound. (trg 44-45) 
(Hết trích)

Sự hiểu biết của chúng ta về hàng hóa Trung Cộng thường chỉ qua dư luận.  Sự hiểu biết đó là cần thiết nhưng không cụ thể.  Đọc Chết bởi Trung Quốc chúng ta như trải nghiệm được là chết như thế nào.  Mà khi đã trải nghiệm thì sẽ khó quên!  Chính sự khó quên đó giúp ta tự giải quyết vấn đề cho riêng mình, cho gia đình và sau đó mới có thể làm nhân chứng cho người khác!  

Người chưa đọc Chết bởi Trung Quốc có thể bâng khuâng với câu hỏi:  Có phải đấy là sự thật hay tuyên truyền vì kỳ thị người Trung Hoa? 

“Tác giả đã chia xẻ với tôi (dịch giả - nv) điều mà ông đã từng phát biểu nhiều nơi khi ra mắt tập sách rằng Tác giả đã không viết trong tinh thần bài Hoa, mà ngược lại, để bài trừ một chế độ đã giết hại quá nhiều người dân Trung Hoa - kể cả người dân các sắc tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Nội Mông; đó chính là chế độ cộng sản Trung Quốc.” (Trích, trg 10)

Trung Cộng với dân số khổng lồ, 1 tỉ 350 triệu người, nên chính họ cũng đã coi sinh mạng người dân như cỏ rác.  Tiêu biểu như câu chuyện vô cùng thương tâm mới xảy ra cách đây không lâu.  Tai nạn của một bé gái 5, 6 tuổi đã bị 4, 5 xe cán qua mà tài xế vẫn thản nhiên bỏ chạy (nhờ camera ghi hình mới biết được) để cuối cùng một người đàn bà quét đường lao ra cứu và em bé đã chết sau đó tại bệnh viện! 

Chính Mao Trạch Đông trong cuộc “Cách mạng Văn hóa” đã dùng Hồng Vệ binh giết hàng triệu người mà cho đến bây giờ chân dung ông vẫn chễm chệ ngay giữa quảng trường Thiên An môn!

‘Cách mạng đã ăn thịt chính con đẻ của nó’!  Câu nói đó hoàn toàn chính xác với chế độ cộng sản!  Không cần nhìn những diễn biến chính trị phức tạp tại Trung Cộng, người Việt Nam cũng đã và đang chứng kiến tận mắt!  Sau khi chiếm được miền Bắc, cộng sản đã ‘ăn thịt con đẻ’ của họ qua chương trình Cải cách Ruộng đất (1956-1958) với hàng trăm ngàn nông dân bỗng chốc bị quy kết là địa chủ và bị xử tử hình!  Câu chuyện Bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm, một người đã từng nuôi dưỡng và che giấu cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp nhất của đảng cộng sản Việt Nam, đã bị ông Hồ Chí Minh làm ngơ để mở đầu cho phát súng “đào tận gốc, trốc tận rễ bọn trí, phú, địa, hào!”  Và hôm nay, các bà “mẹ liệt sĩ”, “thương binh” “anh hùng..”… bị cướp đất, cướp nhà đang lê lết ngoài đường phố, khiếu kiện từ địa phương đến trung ương, năm nầy qua năm khác..

Vì thế căn bản của vấn đề là chủ nghĩa cộng sản.  Chính chủ nghĩa nầy là quái thai của con người!  Cộng sản sẵn sàng vứt bỏ mọi giá trị căn bản của con người chỉ với tham vọng không tưởng.  Tham vọng mà Trung Cộng đang ấp ủ là đến năm 2050 họ sẽ trở thành cường quốc số một thế giới!


Người Trung Hoa đang chiếm gần một phần tư dân số thế giới và trái đất ngày nay như nhỏ bé hẳn lại, nhờ tin học.  Do đó bất cứ diễn biến gì trên thế giới cũng đều có liên hệ ràng buộc xã hội.  Vì thế cả tỉ người Trung Cộng đang là nạn nhân trực tiếp “Chết bởi Trung Quốc” của chế độ cộng sản mà chính cá nhân họ đôi khi cũng không hề hay biết.  Thì sự báo động đỏ về nguyên nhân “Chết bởi Trung Quốc” không hẳn chỉ cho người bên ngoài mà cũng chính là cho người Trung Hoa lục địa.  Vì nếu không có ý thức trong sinh hoạt hàng ngày thì cả tỉ người đó cũng là tác nhân gây ô nhiễm thêm cho toàn cầu!

Tập sách như một cánh cửa vừa được mở ra cho thế giới nhìn vào thực trạng ở Trung Cộng mà cũng chính cho người lục địa nhìn ngược ra thế giới bên ngoài!  Vì thế, nếu có nghi ngờ về mục đích của cuốn sách là kỳ thị người Tàu thì một câu hỏi đơn giản phải có, đó là:  Liệu chúng ta có thể chống gần một phần tư nhân loại? 

Dù muốn hay không nhân loại cũng phải sống chung trên trái đất, hít thở chung một bầu khí quyển!  Cho nên đánh thức lương tri của giới cầm quyền là trách nhiệm chung.  Và chế độ chính trị nào gây di hại cho nhân loại, chế độ đó nhất định sẽ bị đào thãi! 

Đã hẳn là không dân tộc nào không có tham vọng!  Nhưng tham vọng đó là phải tôn trọng luật chơi chung của thế giới:  Phải bảo vệ sinh mạng con người!  Chế độ cộng sản Trung Quốc đang bất chấp quy luật đó thì mỗi người chúng ta đều phải cảnh giác và hành động! 

Là người Việt Nam, hơn ai hết, chúng ta càng không thể làm ngơ với tên láng giềng có cả lịch sử bốn ngàn năm xâm lược!

(Dec 10th, 2012)
__________________________________________________________________

(*) Danh xưng trong sách là Trung Quốc.

Ngô Nhân Dụng - Văn hóa đi trước kinh tế

Ngô Nhân Dụng


Chế độ cộng sản cuối cùng sẽ chấm dứt. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc.

Khí thế của người dân qua các cuộc biểu tình đòi chấm dứt tham nhũng, lạm quyền ở Trung Quốc mỗi năm xẩy ra hàng trăm ngàn vụ; và các cuộc biểu tình đòi chấm dứt thái độ nhu nhược trước ngoại xâm hoặc hệ thống tham nhũng lạm quyền cướp đất ngày càng gia tăng ở Việt Nam; cho thấy quá trình suy sụp của chế độ cộng sản đã bắt đầu rồi. Cuối cùng đảng cộng sản ở cả hai nước sẽ phải chịu thua dân. Việc lật đổ một chính quyền thối nát là điều cần thiết. Nhưng sau đó, công việc quan trọng và khó khăn hơn nhiều, là đưa quốc gia tiến tới trên con đường phát triển.

Năm 1986 dân chúng Manila đã thành công, lật đổ Tổng Thống Ferdinand Marcos. Người dân Philippines đã đòi lại quyền quyết định vận mạng của mình. Cuộc cách mạng tạo được một khí thế mới trong lòng người dân; hơn mười năm sau dân Manila còn biểu tình nhiều lần nữa. Họ đã thúc đẩy, bắt buộc guồng máy chính quyền phải công khai minh bạch hơn, các cuộc bầu cử cấp địa phương và toàn quốc cũng sạch sẽ hơn.

Dân chúng biểu tình cũng có thể lật đổ cả chế độ; không những thay thế nhóm người cai trị mà còn tạo nên một cơ cấu mới và cung cách mới khi sử dụng quyền hành.

Như trong các cuộc Cách Mạng Nhung năm 1989; hoặc Mùa Xuân Á Rập vào năm ngoái.

Người dân Philippines, dân Ba Lan, dân Tiệp đã tiến xa hơn việc thay đổi chế độ hoặc thay đổi chính quyền. Thành công quan trọng nhất là sau đó các nước này đã bắt đầu phát triển kinh tế. Quá trình này từng diễn ra ở Á Ðông trong những thập niên 1970-1980. Trong những năm đó, sinh viên và công nhân đình công, bãi khóa ở Nam Hàn; và các nhóm chính trị đối lập vận động xuống đường ở Ðài Loan đòi chấm chấm dứt các độc quyền kinh tế. Những chế độ độc tài ở hai nước này phải nhượng bộ, bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, và sau đó nền kinh tế cất cánh, tiếp tục phát triển từ đó tới nay.

Liệu người dân các nước Ai Cập, Tunisie, Lybia, sau khi được giải phóng có thể thực hiện được những bước tiến như Nam Hàn và Ðài Loan hay không? Phải chờ khoảng mười năm, hai mươi năm nữa mới biết được kết quả. Thay đổi thể chế chính trị, thay đổi chính sách kinh tế; đó là những điều kiện cần thiết đặt nền móng cho công cuộc phát triển. Nhưng các phép lạ kinh tế ở Á Ðông còn có thêm một yếu tố khác thúc đẩy. Vì trong thời gian đó, tại các nước này văn hóa cũng hồi sinh. Những phong trào phục hưng văn hóa bắt đầu khi người dân một nước phát khởi một niềm tự hào vào quá khứ, một niềm tin tưởng vào tương lai, tạo nên khí thế tinh thần mạnh mẽ. Phát triển không phải chỉ là một hiện tượng kinh tế.

Từ đầu thế kỷ 20, ở nước ta Phan Châu Trinh đã thúc giục đồng bào phải nâng cao dân trí và phấn chấn dân khí. Tới nay, chúng ta vẫn chưa thực hiện được những mục tiêu đó. Trong khung cảnh hiện nay, hai công việc đó còn khẩn thiết nhiều hơn nữa. Nước ta đang chạy đuổi sau chân các nước đã phát triển ở vùng Á Ðông, đang cố gắng làm sao có thể phát triển lên ít nhất ngang với họ?

Phân tích quá trình phát triển ở thế giới thứ ba (Third-World Development, 1989), Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị đã thấy việc phát triển thành công hay thất bại tùy thuộc mối tương quan chính trị giữa người dân và chính quyền. Nếu giới lãnh đạo được dân tin cậy và chấp nhận, thì quốc gia sẽ phát triển nhanh hơn. Nhưng mối tương quan đó lại tùy thuộc những giá trị tinh thần, thuộc phạm vi văn hóa. Nguyễn Quốc Trị, nguyên viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhấn mạnh việc “phục hưng văn hóa” là một “nhu cầu tuyệt đối” để các nước nghèo có thể xây dựng những định chế chính trị được dân chúng tin cậy, dựa vào đó kinh tế có thể phát triển. Ông khẳng định, “Không một xã hội nào có thể tồn tại nếu thiếu một nền tảng tinh thần.” Ông đã minh chứng với các trường hợp Nam Hàn và Singapore; cả hai thành công trong quá trình phát triển nhờ họ biết phục hoạt các giá trị truyền thống, điều hợp với những giá trị mới tiếp thụ từ Tây phương.
Theo Nguyễn Quốc Trị điều đáng lo nhất đã làm các quốc gia nghèo thất bại trong việc phát triển là tình trạng suy sụp về tinh thần. Mọi người hết tin tưởng vào nhau vì các giá trị nền tảng đã tan rã. Nền tảng xã hội suy đồi vì hệ thống các giá trị, định chế cổ truyền bị gạt bỏ, mà chưa có những giá trị mới để lấp vào khoảng trống đó. Chất keo văn hóa trong quá khứ từng gắn bó mọi người trong một mạng lưới gồm quyền lợi và nghĩa vụ, đã biến mất. Trong khi đó, người ta chưa tập được để sống với những giá trị và định chế phù hợp với cơ cấu kinh tế mới. Những điều tệ hại từng bị đè nén trong nếp sống cũ nay được thả lỏng, có cơ hội nẩy sinh. Người ta lại du nhập những biến chứng xấu nhất vẫn đi kèm theo hệ thống kinh tế tư bản thời sơ khai. Lớp người cai trị chỉ lo củng cố quyền hành và tạo thêm cơ hội trục lợi; còn người dân bị trị thì trở thành thụ động, sợ sệt, hoặc thờ ơ, chỉ biết lo cho cá nhân và gia đình mình.

Trong nền văn hóa các nước Á Ðông ngày xưa, truyền thống tôn trọng quyền hành vẫn đi kèm với tinh thần trách nhiệm của người nắm quyền; xã hội thấm nhuần một niềm tin tưởng hỗ tương, tạo nên một thế cân bằng, bình trị trong nhiều thế kỷ. Xã hội suy đồi khi người ta chỉ giữ lại và đề cao thói quen kính trọng quyền hành mà bỏ qua những trách nhiệm tương ứng, quyền hành không bị giới bạn bằng luật pháp và các định chế lập cân bằng. Khi đó quyền bính được biến thành một khí cụ để trục lợi; rồi lợi lộc lại được sử dụng để mua chuộc người khác nhằm củng cố quyền bính. Bản hợp đồng xã hội truyền thống bị xóa đi, đưa tới một xã hội phi luân lý (anomie), thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ.

Các nước nghèo thất bại trên đường phát triển vì thiếu những nền tảng văn hóa. Ðời sống kinh tế có thể thay đổi rất nhanh, còn văn hóa thì chuyển biến rất chậm. Khi du nhập lối làm kinh tế tư bản thì người ta sử dụng lợi lộc và lòng tham như động cơ thúc đẩy. Dần dần, việc kiếm tiền được đề cao như một giá trị, người có tiền được kính trọng, tư lợi trở thành mục tiêu chính trong đời. Những giá trị cổ truyền trước kia vẫn dùng để kiềm chế lòng tham và óc vị kỷ đã tan loãng trong khung cảnh kinh tế mới chỉ biết trục lợi.

Trong khi đó, xã hội chưa đủ thời giờ tạo được những thói quen tôn trọng luật pháp và tôn trọng các ý kiến bất đồng. Chưa đủ thời giờ tập luyện cung cách sống dân chủ. Mà đó là những nền tảng văn hóa ra đời và phát triển cùng với kinh tế tư bản ở Âu Châu. Hậu quả của tình trạng trống rỗng văn hóa này là óc duy lợi, duy vật, vị kỷ và các thủ đoạn gian trá được thả lỏng sinh sôi nẩy nở. Người ta không còn bị ràng buộc bởi các quy tắc đạo lý, dù cũ hay mới; mà các ràng buộc bằng pháp luật lại chưa được thiết định hoặc chưa trở thành thói quen. Như Mạnh Tử mô tả, khi người trên không có đạo lý nào để theo, người dưới không có luật lệ nào ràng buộc (thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ), thì một quốc gia khó tồn tại được. Niềm tín nhiệm chung giữa người với người, là chất keo sơn gắn liền xã hội, dần dần bị xoi mòn. Người cầm quyền không hy vọng được dân tin theo mà khuất phục, cho nên phải dùng bạo lực đe dọa, hoặc dùng lợi lộc để mua chuộc, vì họ không có cách nào khác. Niềm tín nhiệm chung mất, xã hội tan rã nhanh hơn. Tình trạng trống rỗng văn hóa là lý do khiến nhiều nước nghèo trong thế giới thứ ba thất bại trên con đường phát triển. Nguyễn Quốc Trị đã nêu ra các nhận xét trên trước năm 1989, hơn 20 năm sau chúng ta vẫn còn chứng kiến nhiều nước đang sống trong tình trạng khủng hoảng văn hóa; trong đó có nước Việt Nam.

Muốn phát triển trong thế kỷ này, cần xây dựng một niềm tin tưởng chung, một niềm tin được mọi người Việt Nam cùng nhau chia sẻ. Tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc thì mới sẵn sàng dấn bước tới tương lai. Năm 1945 đã nổi lên một phong trào phục hoạt văn hóa khi toàn dân nức lòng cùng theo đuổi một mục tiêu giành độc lập, ai ai cũng tin tưởng vào khả năng xây dựng tương lai độc lập, tự do, hạnh phúc. Cơ hội đó đã bỏ mất khi lầm lẫn chỉ đề cao những chia rẽ, đối nghịch, người Việt coi người Việt là kẻ thù. Muốn xây dựng tương lai, phải bắt đầu với một phong trào văn hóa hồi sinh; để mọi người Việt Nam có thể chia sẻ một niềm tin tưởng và một mối hy vọng. Tin vào khả năng dũng mãnh của dân tộc có thể vượt qua mọi chướng ngại. Tin vào khả năng tiếp thụ và chuyển hóa các giá trị của văn minh nhân loại. Chúng ta tin là dân tộc Việt không bao giờ chịu thua.



Nguyễn Hưng Quốc - Chiến tranh và hòa bình: Một vấn đề giả



Nguyễn Hưng Quốc


Người biểu tình chống Trung Quốc cầm quốc kỳ Việt Nam và các biểu ngữ chống Trung Quốc tuần hành trên đường phố trung tâm Hà Nội, ngày 9/12/2012. 

Trước những thái độ gây hấn ngang ngược và hung bạo của Trung Quốc ở Biển Đông, nhà cầm quyền Việt Nam, cho đến nay, vẫn giữ hai chủ trương chính:

Một, với Trung Quốc, tiếp tục hòa nhã, không những tránh né những hành động trực diện phê phán, tố cáo hay phản đối mà còn, thậm chí, xum xoe đề cao quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa hai nước xã hội chủ nghĩa với nhau.

Hai, với dân chúng Việt Nam thì cương quyết cấm đoán tất cả mọi động thái bày tỏ sự bất mãn hay phản đối đối với Trung Quốc, thẳng tay đàn áp bất cứ người nào muốn bày tỏ điều đó dưới hình thức bài viết cũng như biểu tình.

Biện hộ cho hai chủ trương ấy, nhà cầm quyền Việt Nam nêu lên hai lý do chính: Một, công việc đối phó với Trung Quốc là công việc của đảng và nhà nước. Hai, chính sách của nhà cầm quyền là tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, êm thắm. Biện minh cho chính sách này, bộ máy tuyên truyền của Việt Nam thường nói: Việt Nam cần hòa bình để phát triển. Để hòa bình, họ sẵn sàng nhẫn nhục để khỏi tạo ra một cuộc chiến tranh mới ở Việt Nam. Giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Nói tóm lại, lập luận của nhà cầm quyền Việt Nam là thế này: Nếu chính quyền lên án Trung Quốc gay gắt quá, Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam. Nếu dân chúng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam. Nếu mọi người, trên các trang mạng của mình, xúm vào vạch bộ mặt thật của Trung Quốc quá, Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam.

Bởi vậy, để tránh các cuộc tấn công ấy, mọi người hãy nhẫn nhục. Không được phê phán Trung Quốc. Không được biểu tình chống Trung Quốc.

Ở đây, có ba điều đáng bàn.

Thứ nhất, liệu Trung Quốc có tấn công Việt Nam hay không? Câu trả lời: Có thể. Trung Quốc đang muốn làm bá chủ trên mặt biển, ít nhất trong khu vực châu Á, để bảo vệ các tuyến đường hàng hải liên quan đến nền kinh tế đang phát triển của họ. Hơn nữa, họ cũng muốn phô trương thanh thế và quyền lực với thế giới.

Để đạt được hai mục tiêu ấy, Trung Quốc có ba đối tượng chính: Nhật, Philippines và Việt Nam. Lâu nay, dư luận thế giới tập trung nhiều nhất vào các tranh chấp giữa Trung Quốc với hai nước Nhật và Philippines. Có lúc ngỡ như chiến tranh giữa họ sẽ bùng nổ.

Nhưng thật ra, đó chỉ là những mặt trận giả. Rất ít có khả năng Trung Quốc tấn công Nhật hay Philippines. Có ba lý do chính: Một, các vùng tranh chấp giữa họ với nhau không có ý nghĩa chiến lược lớn. Đó là những hòn đảo nhỏ không có vai trò lớn trên bàn cờ địa-chính trị. Hai, cả hai đều là những đồng minh thân cận của Mỹ; riêng Nhật, tự bản thân nó, đã là một cường quốc, không dễ gì Trung Quốc chế ngự được. Và ba, vì hai lý do ấy, tấn công Nhật hay Philippines, với Trung Quốc, là một quyết định đầy rủi ro.

Để đạt hai mục tiêu chiến lược nêu trên, Việt Nam là một đối tượng dễ dàng nhất đối với Trung Quốc. Vùng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược lớn: không những chỉ là các hòn đảo mà còn cả một vùng biển mênh mông đồng thời cũng là một con đường hàng hải mang tính chiến lược không những trong khu vực mà còn cả trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam lại là một nước yếu, và, quan trọng nhất, hầu như hoàn toàn bị cô lập. Việt Nam không có đồng minh thực sự. Sẽ không có nước nào nhảy ra giúp Việt Nam trong cuộc đối đầu quân sự với Trung Quốc cả. Chấp nhận đánh nhau với Nhật hay Philippines là chấp nhận đánh nhau với Mỹ. Đánh Việt Nam thì chỉ đánh một nước. Không những vậy, với sự trở cờ của Campuchia, đó là một nước bị Trung Quốc bao vây, từ đất liền cũng như từ biển cả.

Tuy nhiên, từ những tính toán như vậy đến một quyết định tấn công thực sự không phải là điều dễ dàng. Có vô số khó khăn và bất trắc cho Trung Quốc. Một là, chính quyền Việt Nam có thể hèn nhưng dân chúng Việt Nam lại không hèn. Đánh Việt Nam, Trung Quốc phải chấp nhận một cuộc chiến tranh lâu dài, không biết bao giờ mới kết thúc. Hai là, đánh Việt Nam, Trung Quốc không phải trực tiếp đương đầu với Mỹ nhưng lại đương đầu với cả thế giới: Trung Quốc hiện ra như một hung thần, một sự đe dọa. Mà Trung Quốc thì lại chưa thể, và có lẽ, cũng chưa muốn xuất hiện với tư cách ấy. Họ chưa đủ mạnh để làm điều đó. Họ đang cần mua chuộc tình cảm của thế giới. Để cạnh tranh với Mỹ, họ ở trong thế lưỡng nan: một mặt, họ phải chứng tỏ sức mạnh; mặt khác, họ phải chứng tỏ có một bảng giá trị nhân văn và nhân đạo để được mọi người chấp nhận. Chứ không phải như một thế lực man rợ.

Thứ hai, khả năng Trung Quốc tấn công Việt Nam chỉ là 50-50. Nhưng có điều chắc chắn: Trung Quốc không thể sử dụng sự phê phán hay phản đối của dân chúng như một cái cớ để gây chiến được. Chưa có nước nào dám sử dụng điều đó như cái cớ để gây ra chiến tranh cả. Làm như vậy là mất chính nghĩa ngay từ đầu: Một trong những dấu chỉ của văn minh thời hiện đại là người ta chỉ gây chiến với một bộ máy lãnh đạo chứ không phải với nhân dân các nước khác. Gây chiến với nhân dân một nước khác, dù muốn hay không, cũng phải được hiểu là âm mưu diệt chủng.

Bởi vậy, cho các sự phê phán hay biểu tình chống Trung Quốc có khả năng dẫn đến chiến tranh là điều vô nghĩa. Một cách hù dọa. Cho một tính toán gì khác.

Thứ ba, dù không ai muốn xảy ra chiến tranh, nhưng có thể vì thế mà chấp nhận nhục nhã hay không? Hơn nữa, chấp nhận nhục nhã như vậy liệu có tránh được nguy cơ mất chủ quyền, trước hết, trên đảo và vùng biển, và sau đó, trên toàn bộ lãnh thổ của mình hay không? Cuối cùng, khi chấp nhận mất dần dần như vậy mà không có sự kháng cự nào thì liệu người ta có thể tìm một sự bào chữa nào trước lịch sử được không?

Đối với một nước, nỗ lực tránh chiến tranh và nỗ lực bảo vệ danh dự quốc gia phải được đặt ngang hàng với nhau.


Hoo Nam Seelmann - Sám hối muộn

Phạm Thị Hoài dịch
Giữa lúc cuộc Chiến tranh Bảy năm ở châu Âu thế kỉ 18 gào lên đòi nhiều tinh thần ái quốc hơn nữa, nhiều chủ nghĩa dân tộc hơn nữa, để xương chồng cao hơn, máu chảy tràn hơn và quốc gia này xiết cổ quốc gia kia chặt hơn, tác gia Khai sáng lớn của văn học Đức Gotthold Ephraim Lessing viết trong thư gửi một người bạn năm 1759, rằng ông “chẳng có khái niệm gì về tình yêu Tổ quốc” và ông coi tình yêu đó là một sự “ngớ ngẩn anh hùng” (heroische Schwachheit) mà ông sẵn lòng không có nhu cầu. Đoạn thư này nay đã trở thành kiến thức phổ thông tại Đức, quốc gia từng gieo thảm họa xuống đầu nhân loại vì tinh thần “Nước Đức đứng trên tất cả” (Deutschland über alles) của mình. Với sự trỗi dậy của Trung Quốc, chủ nghĩa Đại Hán cũng bắt đầu mang bóng dáng của tinh thần ấy. Lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc luôn là một trong những tình cảm dễ bị lợi dụng, dễ công cụ hóa và dễ tha hóa nhất của con người.Bài báo dưới đây kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về sự tha hóa lòng yêu nước khi nó đi đôi với chủ nghĩa đế quốc, ở một khu vực ít ngờ đến nhất: trong giới Phật giáo Nhật Bản, bắt đầu từ chính giai đoạn huy hoàng được bao người khâm phục: giai đoạn Minh trị Duy tân.
Người dịch
____________________
Những lời của thiền sư Nhật Harada Daiun Sogaku nói với đồng bào mình năm 1944 thật đáng giật mình: “Mọi thần dân đều phải sẵn sàng chết trong danh dự. (…) Đối mặt kẻ thù, phải hạ sát; phải tiêu diệt cái Ngụy và mở đường cho cái Chân – đó chính là những giáo lí căn bản của Thiền.” Vị thiền sư ấy gọi giáo lí của mình là “Thiền thời chiến”. Nhật Bản đang đứng giữa cuộc Chiến tranh Thái Bình dương và đã có dấu hiệu thua trận. Việc một nhà sư kêu gọi giết quân thù cho thấy điều gì đã xảy ra với Phật giáo Nhật Bản trong những thập niên của chủ nghĩa đế quốc. Trong Phật giáo, không sát sinh là một điều răn có trọng lượng đặc biệt, vì thế mà các nhà sư đều ăn chay. “Con đường hoàng đạo” của Phật giáo Nhật Bản không những cho thấy một sự đứt đoạn với truyền thống này, mà còn chỉ ra tình trạng tôn giáo bị lôi kéo hoàn toàn vào chính trị. Chính nước Nhật là ví dụ cho thấy quan hệ giữa tôn giáo và quyền lực chính trị có thể phức tạp tới mức nào.



Thời Gia tộc Tokugawa (1600-1868) thống trị, Phật giáo gần như là quốc giáo tại Nhật. Mỗi hộ dân đều phải thuộc về một ngôi chùa gần nhà, vì thế chùa chiền tăng vọt lên đến con số 469.934. Phật giáo đến Nhật Bản vào thế kỉ thứ 6, qua ngả Triều Tiên. Như thường thấy ở khắp các nước Đông Á, nó cộng sinh với tôn giáo bản địa là Thần đạo. Tín ngưỡng vật linh cổ xưa này chung sống với Phật giáo mà không xảy ra một xung đột nào đáng kể và từ đó nảy sinh những hình thức lai tạo mới. Trước thời Minh trị Duy tân, Nhật hoàng không nắm thực quyền chính trị và rất gắn bó với Phật giáo. Nhiều người trong hoàng tộc sống cuộc đời nhà sư trong chùa.
Cuộc Minh trị Duy tân đã biến đổi nước Nhật tận gốc rễ và mô hình để Nhật Bản noi theo là phương Tây đầy sức mạnh. Chính qua đó, Nhật Bản tìm cách thoát khỏi số phận bị phương Tây chinh phục làm thuộc địa. Địa vị của Nhật hoàng được nâng lên, ở tâm điểm của quyền lực chính trị và các tướng quân (shogun) bị tước quyền. Thần đạo được nâng thành quốc đạo, để Nhật hoàng có được một hào quang tín ngưỡng. Thế là bỗng nhiên Phật giáo có nguy cơ bị đẩy ra bên lề. Các nhà dân tộc chủ nghĩa mới xuất hiện khước từ Phật giáo như một sản phẩm ngoại lai, vì nó xuất xứ từ Trung Quốc. Nhật Bản tìm cho mình những hệ tư tưởng mới và quay lưng lại với toàn bộ phần châu Á còn lại bị coi là lạc hậu. Người Nhật bỗng mang danh một “dân tộc được tuyển chọn”.
Thần Phật phân li chính thức bắt đầu từ năm 1868. Tên Phật không được phép đem đặt cho thần nữa. 40.000 ngôi chùa phải đóng cửa và các nhà sư phải lấy vợ. Ở nhiều vùng, Phật giáo chết hẳn. Trong tình thế hiểm nguy cấp bách ấy, cơ hội duy nhất để sống còn của Phật tử là xiển dương tinh thần yêu nước. Để gột bỏ cái tai tiếng ngoại lai, họ nhấn mạnh lòng trung thành với Nhật hoàng. Chỉ có một số ít các Phật tử Nhật cưỡng lại trào lưu mới đầy định mệnh này và phải trả giá cho sự phản kháng của mình bằng những phiên tòa xử kẻ phản đạo và bằng cái chết. Những học giả Phật giáo danh tiếng, được trọng vọng, đưa ra các học thuyết nhằm biện minh chiến tranh, thực dân hóa và hành động giết người. Vị thiền sư Nhật nổi tiếng ở phương Tây là D. T. Suzuki đã viết như sau: “Binh sĩ của chúng ta coi mạng sống của họ nhẹ tựa lông hồng, còn lòng hiến dâng cho bổn phận lại nặng như núi Thái Sơn. Ngã xuống nơi chiến trường, họ chẳng phải ân hận điều gì. (…) Nếu ta hoàn thành bổn phận đúng với vị trí của mình thì làm gì có hành động nào tự trong bản chất là phi tôn giáo…”
Bước ngoặt của Phật giáo tại Nhật Bản theo chủ nghĩa yêu nước mở đường cho công cuộc truyền đạo ở nước ngoài, điều mà trước đây người Nhật mới chỉ thấy ở các tín đồ Thiên Chúa giáo. Bây giờ, theo chân quân đội tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược các nước châu Á lân bang, các nhà truyền đạo Phật giáo Nhật Bản tràn sang Triều Tiên và Trung Quốc. Chùa chiền và cơ sở truyền đạo mọc lên khắp nơi. Năm 1910, Triều Tiên trở thành thuộc địa của Nhật. Tại đây chính quyền thực dân Nhật thâu tóm quyền cai quản và tài sản của chùa chiền. Trụ trì là người Nhật, và Phật giáo Triều Tiên bị Nhật hóa cao độ. Năm 1945, khi Triều Tiên được giải phóng, người ta thống kê được 487 chùa Nhật từ nhỏ đến lớn. Một sự chia rẽ đau xót trong Phật giáo Triều Tiên tồn lại, hậu quả đến nay còn nhận ra.
68 năm sau ngày Nhật Bản thua trận, ngày 16-9-2012 tại Dongkuksa, ngôi chùa Nhật duy nhất còn sót lại ở Triều Tiên, một tấm bia tưởng niệm được khánh thành. Nhà sư Nhật Shoko Ichinohe đã đến dự. Ông nói: “Cho đến tận bây giờ các Phật tử Nhật Bản vẫn chưa có can đảm thể hiện lòng sám hối về sự dính líu của mình vào cuộc chiến. Nay tôi đến đây để làm việc đó.” Bia tưởng niệm đề hàng chữ: “Nhân danh truyền đạo, Phật tử Nhật Bản đã cùng tham dự vào những hành động tàn bạo của nhà nước Nhật Bản tại châu Á. Đã hủy diệt những nền văn hóa khác, đã xâm phạm quyền con người của kẻ khác và áp đặt cho họ văn hóa Nhật. Điều đó trái với giáo lí của Phật.” Vậy là các Phật tử Nhật đã bày tỏ lòng can đảm của mình khi tranh cãi Nhật – Hàn còn kéo dài.
________________
Nhà báo Hoo Nam Seelmann sinh năm 1950 tại Hàn Quốc, hiện sống tại Thụy Sĩ.Chú thích ảnh: Hai nhà sư đeo mặt nạ chống hơi cay tại một ngôi chùa ở Tokyo năm 1942. Ảnh: Popperfotos/GettyNguồn: Dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Späte Reue“, NZZ 12-11-2012Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra