Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Võ Phiến - Chúng Ta Qua Tiếng Nói



Võ Phiến

(Tiếp theo và hết)

Lối nói của cảm quan

Nghiên cứu về cú pháp Việt Nam, ông Lê Văn Lý có đưa ra hai tỉ dụ để chứng minh một qui tắc.

Các tỉ dụ là: “Cậu Hai đi dạo ngoài bờ sông câu cá trượt chân ngã xuống nước chết đuối” và “Khi nói xong, ông đứng dậy, từ giã mọi người rồi ra về”. Qui tắc được gọi là “qui tắc liên tục”, định nghĩa như sau: “Các tự ngữ trong câu nói được diễn ra theo thứ tự các sự kiện đã xảy ra trong thời gian: cái gì xảy ra trước được nói ra trước, cái gì xảy ra sau được diễn ra sau” (10).


Cùng một nhận xét ấy, hình như một nhà ngữ học khác đã so sánh câu Việt ngữ “Nó đi săn về” với câu Pháp ngữ “Il revient de la chasse”. Sự so sánh khiến một tỉ dụ rất ngắn làm nổi bật ngay cái đặc điểm của cú pháp Việt.

Trong câu, ý “về” mới là cái ý quan trọng, chủ yếu; còn ý “săn” chỉ là phụ. Người Pháp diễn ý “về” trước ý “săn” sau; câu nói của họ được kết cấu để bày tỏ rõ ràng cái tương quan chính phụ.

Chúng ta không quan tâm đến điều ấy. Đối với chúng ta, cái gì trông thấy trước, nghe thấy trước, được giác quan ghi nhận trước thì diễn tả trước, cái gì ghi nhận sau thì diễn tả sau.

Lại thử nhặt một câu nói thông thường của Anh Mỹ: “Where is the tailor who came from Los Angeles this morning?” Diễn ý ấy, người Việt Nam sẽ bảo: “Cái ông thợ may từ Los Angeles tới đây hồi sáng bây giờ ở đâu rồi?” Trong câu hỏi tiếng Anh ý chính là ở đâu được nêu ra trước tiên. Trong câu tiếng Việt thì mọi việc xếp theo thứ tự: ở Los Angeles (trước), rồi tới đây (sau), đâu rồi (sau chót).

Một bên các yếu tố trong câu nói được sắp xếp theo quan hệ luận lý, một bên liệt kê sự việc theo thứ tự thời gian cảm nhận. Một bên sắp xếp theo lý trí, một bên theo cảm thức.

Chúng ta không lý luận; chúng ta căn cứ trên các giác quan. Và điều đó là một điều rất quan trọng, bởi vì nhận xét chung về cú pháp Việt Nam trong một cố gắng hệ thống hóa, ông Lê Văn Lý chỉ rút ra có bốn qui tắc: liên tục là một.

Qui tắc quan trọng ấy lại xác nhận điểm sở trường của chúng ta đối với cái cụ thể, tức cảm quan. Chúng ta tránh cái trừu tượng, tức luận lý.

Người Pháp nói năng hợp lý, ta thấy đâu nói đó: cái sở trường của ta có phải là một cái yếu, cái kém chăng? Phải có một trình độ trí thức nào đó mới kết cấu câu nói theo luận lý được; e ta chưa đạt tới trình độ ấy chăng?

Người Pháp với địa vị kẻ cả của họ trong một thời vẫn còn làm chúng ta khó chịu, bứt rứt. Sự thực, lối nói của mỗi dân tộc không ăn thua gì đến chuyện trình độ. Trong trường hợp này, người Pháp nói giống hệt một số sắc dân thiểu số ở ta.

Thật vậy, đồng bào Bahnar nói “Nó về từ săn” (Hi uih đỡng loa); đồng bào Hré nói “Nó về từ chăn trâu” (Hãq hlài ĩnh ngen capè); đồng bào Chru nói “Nó về từ kiếm củi” (Nhũ wõ mơng duah iuh) v.v.

Như thế sự thiết tha với cảm quan không hề là một vấn đề trình độ. Và nhân dịp này chúng ta nhận thấy ngay trên địa bàn của nước Việt Nam này cũng không có được mấy sắc dân thiết tha với cảm quan như chúng ta đâu, xét về tiếng nói.

Qui tắc liên tục là một qui tắc quá quan trọng, có lẽ rồi ảnh hưởng của Pháp ngữ, Anh ngữ v.v. khó lòng truất bỏ nổi nó. Nhưng một số đặc điểm khác của Việt ngữ đang bị ảnh hưởng ngoại lai đe dọa. Chẳng hạn các thể từ theo lối Tây đang đe dọa các trạng từ của ta.

Các ông Phan Khôi (trong Việt ngữ nghiên cứu), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam) đều nhận thấy người Pháp thích dùng thể từ (nom, susbtantif) trong những trường hợp mà ta vẫn dùng trạng từ (verbe, adjectif).

Hai ông Trương và Nguyễn đưa ra mấy tỉ dụ:
Pháp                         Việt
Le sifflement du vent. Tiếng gió thổi.
Le chant des oiseaux. Tiếng chim hót.
Sa sensation exclusive fut         Nó chỉ cảm thấy
une terreur épouvantable.         sợ kinh hồn.      
 
Sau này những người Việt theo Tây học dần dần chịu ảnh hưởng của lối nói người Pháp. Thay vì nói: “Đề nghị ấy còn đợi chính phủ duyệt y”, họ nói “Đề nghị ấy còn đợi sự duyệt y của chính phủ” (11). Thay vì dùng trạng từ, họ dùng thể từ.

Ông Phan Khôi khoái lối nói mới ấy. Nhưng một nhà ngữ học Pháp, ông G. Galichet, thì lại không hài lòng chút nào về tiếng nói của dân tộc mình: “Ưa dùng thể từ nên Pháp ngữ càng ngày càng có tính cách ‘tĩnh’, trái với nhiều ngôn ngữ khác ưa dùng trạng từ nên có tính cách ‘động’ (...) Tính cách tĩnh của ngôn ngữ phù hợp đến mực nào với vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Pháp hiện nay. Có người đã trách dân Pháp là kẻ bàng quan trên thế giới: đáng lẽ phải hoạt động thì họ chỉ nhìn, chỉ lý luận, chỉ phê bình” (12).

Vậy trước đây chúng ta vốn là một dân tộc ham hoạt động, ham dấn thân chăng? Được thế thì thật quí hóa, nhưng chỉ e ông G. Galichet đưa chúng ta phiêu lưu quá xa.

Thiết tưởng chúng ta có thể nhìn vấn đề dưới một khía cạnh khác.
Về cách dùng thể từ và trạng từ, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã đưa hai tỉ dụ:
Phong cảnh nơi này đẹp lắm.
Cái nết đánh chết cái đẹp.

và hai ông nhận xét: “Tiếng đẹp ở câu trên là trạng từ, ở câu dưới là thể từ. Đẹp, trạng từ, trỏ một sự trạng thực tại, mắt ta nhìn thấy phong cảnh, cảm xúc mà biết là cảnh đẹp. Vậy, đẹp, trạng từ, là một khái niệm cụ thể. Nhưng, đẹp, thể từ, là một khái niệm trừu tượng.” (13)

Như vậy dùng thể từ phải vận dụng khả năng trừu tượng hóa, khiến đẹp thành ra cái đẹp; dùng trạng từ lại là một cách mô tả, một cách quan niệm sự vật rất cụ thể. Và chúng ta thì bao giờ cũng “chịu” lối mô tả, cũng thích cái cụ thể. Cho nên chúng ta khoái trạng từ.

“Cái đẹp” là gì? đó là một sáng tác của lý trí; nó trừu tượng, nó rắc rối, chúng ta không muốn biết đến. Chúng ta chỉ muốn phô diễn cái cảm xúc do giác quan ghi nhận.

Có lần ông Nguyễn Văn Trung đề cập đến vấn đề này và cũng đi đến một kết luận tương tự (14). Sự công bằng, sự vâng lời v.v. là những lối nói mới, những lối nói xa lạ với tinh thần Việt ngữ, xa lạ “kinh khủng”. Những cái “sự” ấy không dính líu gì đến cảm quan. Cho nên cổ lai trong xã hội của chúng ta không lúc nào thiếu những con người ngoan ngoãn, trong phép tắc luân lý của chúng ta không thiếu những đòi hỏi tùng phục, nhưng trong ngôn ngữ thì thiếu hẳn cái “sự” vâng lời. Lối nói Tây phương đưa vào Việt ngữ gần đây vô số những “sự” như thế: trong cái thế giới ngôn ngữ của một dân tộc thiên về cuộc sống cảm quan, đám “sự” vô tội ấy bỗng nhiên hóa ra vô duyên. Mở những cuốn Kiều, cuốn Lục Vân Tiên, cuốn Chinh phụ ngâm v.v. chẳng hề thấy một “sự” nào tương tự.

Nó thổi sinh khí vào danh từ

Cái tiếng thường đứng trước mỗi danh từ Việt Nam, tiếng ấy là cả một sự rắc rối. Có người gọi nó là tiền danh từ (Phan Khôi), có người gọi nó là loại từ (Trần Trọng Kim, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê), các sách giáo khoa ngoài Bắc hiện nay gọi nó là phó từ, cũng có người coi nó là một bộ phận đặc biệt của danh từ kép (Nguyễn Hồng Phong). Thảo luận qua thảo luận lại, thương xác lui thương xác tới, mãi vẫn chưa có sự đồng ý với nhau về nó. Chỉ nguyên hai tiếng con và cái đã làm chảy bao nhiêu là mực, đã bôi đen bao nhiêu trang sách báo nghiên cứu về ngữ pháp.

Mà tiền danh từ (hay loại từ? phó từ?) Việt Nam thì đâu phải chỉ có hai, ba tiếng hay mười tiếng, trăm tiếng? Trời ơi, ai mà biết được nó đông đảo đến bao nhiêu! Con sông, chiếc lá, hòn đất, nắm xương, mảnh áo, nấm mồ, sợi râu, nỗi lòng, cơn ghen, trận mưa v.v., biết sao mà kể cho hết. Ông Nguyễn Hồng Phong bảo: “Có thể nói có bao nhiêu danh từ, thì gần bằng chừng ấy tiền danh từ.” Ông Nguyễn cho rằng thế thì tiếng nọ không còn phải là tiền danh từ nữa, rằng chuyện tiền danh từ bất thành vấn đề.

Theo cách nói của đồng bào Bahnar, hai người đàn ông là “par nu drânglo”, hai đứa con là “par nu con”, còn hai cái nhà là “par to hnam”, hai con chim là “par to xem”... Trước danh từ chỉ người thì dùng nu, trước mọi thứ khác thì dùng to.

 Ở đồng bào Bahnar có sự chia biệt một bên là người một bên không phải là người, ở dân tộc Pháp có sự chia biệt phía đực phía cái. Nhảm nhí thực, nhưng dù sao thật đơn giản. Và chắc chắn trên đời còn có những dân tộc xài tiền danh từ một cách đơn giản hơn nữa.

Còn như chúng ta, có lẽ sự rắc rối phong phú đã đạt tới chỗ tột cùng, ít ai bì kịp.

Sở dĩ như thế, trước hết là vì trong khi thiên hạ dùng danh từ để gọi tên sự vật, chúng ta không chỉ gọi tên mà thôi: chúng ta còn mô tả sự vật luôn. Loại từ Việt ngữ giúp vào cái việc khó khăn mà đầy hứng thú ấy.

Thỏi sắt, hòn sỏi, viên phấn, tảng đá, đống rơm v.v. hình dạng nào, loại từ nấy.

Gọi phó từ đã đành là một cách gọi thô sơ: sự phân biệt tiếng chính với tiếng phó không nói lên được cái đặc điểm của Việt ngữ. Gọi nó là tiền danh từ cũng chẳng qua là chỉ định được vị trí của nó . Còn gọi là loại từ thì mong nói đến chức vụ của nó: tuy nhiên nói mà thiếu sót biết bao!

Thật vậy, trong cây táo, cây mận, cây chuối, rắn lục, rắn hổ, rắn nước, cá mè, cá chép, cá rô..., những tiếng cây, rắn, cá quả có dùng chỉ từng loại. Nhưng trong trường hợp: mảnh đá, tảng đá, hòn đá, cục đá, khối đá, viên đá v.v. thì loại từ đâu có nhằm phân biệt các loại đá? Vượt quá sự phân biệt chủng loại, nó mô tả đến cả dạng thái của từng vật thể được gọi tên. Tham vọng của nó thật khiếp.

Như ở đồng bào Bahnar chẳng hạn thì đúng là có loại từ: nu chỉ nhân loại, to chỉ phi-nhân-loại. Chứ nói năng như chúng ta thì đâu có đơn giản như vậy?

Các nhà ngữ học quen với những tiếng le, tiếng la, tiếng the..., những tiếng vô vị ở Âu Mỹ, khi trở về gặp lại cái đám đông nghìn nghịt, thiên hình vạn trạng đứng trước các danh từ Việt ngữ, bèn đâm ra bối rối, không biết phải gọi nó bằng tên gì, xếp nó vào đâu, chia nó ra làm bao nhiêu thứ hạng v.v.

Khó lắm thay: làm sao có sự so sánh giữa những tiếng le, la đứng ngẩn ngơ vô tích sự, với những mảnh, khối, nỗi, niềm... của chúng ta, những tiếng đứng bên cạnh để trao một dạng thái cho danh từ, đem lại cho danh từ một thần sắc riêng. Làm sao có sự so sánh ấy mà không gây lúng túng?

Loài người và không phải loài người, chuyện ấy đối với chúng ta không mấy quan trọng; giống đực với giống cái, vấn đề ấy chúng ta cũng không quan tâm bao nhiêu. Tiền danh từ của chúng ta không đặt ra để phân biệt những cái ấy.

Chúng ta chỉ lấy làm quan trọng những ghi nhận của giác quan bằng những hình dạng màu sắc v.v. Mũi thì gọi là cái mũi, nhưng mắt lại là con mắt; trâu thì lúc nào cũng là con trâu, nhưng kiến thì có thể là cái kiến. Một bên linh động, một bên không linh động; một bên là giọng bình thường, một bên bị khinh thị: những ghi nhận như thế chúng ta không bỏ qua.

Và không phải chính vì được gọi là con tàu, con thuyền, con sóng, con bún v.v. mà những vật vô tri nọ đã trở thành sống động, đã “sống” được đó sao? Không phải cái tiếng nói của chúng ta đã thổi sinh khí vào những vật vô tri đó sao?

Thì xưa nay vẫn thế. Những biện luận trừu tượng, những công việc phân loại tinh vi nhất không bao giờ làm sống động sự vật được đề cập tới. Có làm sống động được chăng một cành cây trong bức tranh, một cánh bướm trong câu thơ, ấy là nhờ ở những ghi nhận của cảm quan người nghệ sĩ.

Cái thứ tiếng đứng trước các danh từ Việt ngữ là một thứ tiếng của nghệ thuật.

Chúng ta nói tiếng nói của giác quan, mà cũng là tiếng nói của tình cảm nữa.

Lão thợ rèn, gã thợ rèn, ông thợ rèn, bác thợ rèn..., tất cả đều là người thợ rèn. Nhưng mỗi người đặt trong một quan hệ tình cảm khác nhau đối với kẻ nói.

Trong đời sống, quanh ta có kẻ gần người xa, kẻ dưới người trên, kẻ thân người sơ, kẻ khinh người trọng...; khi nói “một người thợ rèn” là đã có sự tách lìa nhân vật trừu tượng nọ ra khỏi mọi quan hệ gần xa, trên dưới, thân sơ, khinh trọng v.v. Chúng ta không hay làm cái công việc tách lìa ấy. Chúng ta không nói một cách “khách quan”. Chúng ta nói đến một người nào là đồng thời nói luôn cả cái tình cảm của mình đối với người ấy.

Thái độ ấy không khỏi làm ngỡ ngàng người ngoại cuộc. Hãy tưởng tượng cái tình cảnh khốn đốn của một người Pháp, người Anh học tiếng Việt, mỗi lần ậm è cân nhắc giữa những gã, lão, ông, bác v.v. để chọn lựa một tiếng thích hợp. Hễ động nói đến ai cũng phải khai trình minh bạch liên hệ tình cảm, sao mà khổ sở quá vậy? Đó là điều bắt buộc không thể trốn thoát đối với những ai muốn nói tiếng Việt: điều bắt buộc do cha ông chúng ta kín đáo gửi vào qui luật vận dụng tiếng nói dân tộc. Điều bắt buộc đối với kẻ khác, nhưng đối với chúng ta thì không, nó đáp ứng một nhu cầu tình cảm khiến chúng ta chẳng những xoay xở hết sức dễ dàng thoải mái giữa bao nhiêu rắc rối mà thỉnh thoảng lại còn đặt thêm ra những tiếng mới để “bổ túc” cái rắc rối ấy.

Đã từ hai nghìn năm nay, chúng ta được biết một đức Khổng Tử. Hồi đầu năm 1974 này, có 48 chiến sĩ Việt Nam bị quân đội Trung Cộng bắt từ quần đảo Hoàng Sa đem về Quảng Châu giam giữ. Tại đây, lần đầu tiên họ nghe nói đến một tên Lâm Bưu với một thằng Khổng Tử! Họ sững sờ.

Trong tiếng nói của Âu Mỹ, Confucius bao giờ cũng là Confucius. Ở ta cái tiếng đứng trước danh từ đưa các danh từ nọ vào một thế giới tình cảm đầy những chuyện phức tạp, tinh vi, tế nhị, phiền toái.

Vì là tiếng mô tả, cho nên thứ tiếng ấy đã làm cho nhiều danh từ trừu tượng mất vẻ trừu tượng.

Lẽ ra, theo các ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, loại từ phổ thông sự (hay việc) đi với các tiếng trừu tượng: sự thật, việc đấu tranh, sự vâng lời, việc học hành... Nhưng thường khi chúng ta không dùng các tiếng sự hay việc; chúng ta nói: nền văn hóa, mối tình, cơn ghen, trận lôi đình... Do đó, những giận, ghen, tình... thành ra được nhuốm ít nhiều tính cách cụ thể.
Lại vì là tiếng tình cảm, cho nên cách dùng nó thật rắc rối. Nói “người ấy”, được; nói “con người ấy”, cũng được; mà nói “cái con người ấy” lại cũng được nữa. Được cả, đại khái cũng giống nhau cả, mà thật ra lại không giống hẳn nhau. Chỉ vì tiền danh từ: khi thì không dùng, khi thì có dùng, khi lại dùng trùng điệp. Mỗi sự thêm bớt đem vào câu nói một không khí tình cảm khác nhau.
Cái thứ tiếng cho là phụ (phó từ), để chỉ loài (loại từ), đặt trước các danh từ (tiền danh từ), trong các ngôn ngữ khác ở đâu mà được vậy chăng?

Thân xác trong mỹ từ pháp

Chúng ta có tiếng “yêu đương”, nhưng ít khi chúng ta dùng đến tiếng ấy. Nghe nó nghiêm chỉnh, vô vị thế nào.

Khi văn hoa bóng bẩy, khi nghịch ngợm sỗ sàng, chúng ta đều thích xài những tiếng khác kia: trai gái, chim chuột, giăng dện, gió trăng, mèo mỡ, ong bướm, trăng hoa v.v. Có khi lại còn nói: “Hai đứa nó tò tí với nhau, tằng tịu với nhau...” Tất cả đều chỉ thị cái ý yêu đương theo nghĩa tình cảm.

Còn đối với cái động tác yêu đương mà người Tây gọi là làm ái tình, mà người Tàu bảo là ân ái, chúng ta không chịu những lối nói ấy. Để diễn tả một động tác mà dùng làm chi các tiếng quá đỗi trừu tượng là ái tình, ân ái? Chúng ta nói: Hoặc ngủ với nhau, hoặc ăn ở, ăn nằm, chung chạ, hoặc chăn gối, v.v.

Chúng ta tìm ra thật dễ dàng nhiều lối nói cụ thể, thay vì dùng một tiếng trừu tượng.

Ông Nguyễn Hồng Phong (trong bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam) đã nói nhiều về cái đặc điểm này của chúng ta, là dùng những tiếng cụ thể, liên quan đến các trạng thái vật chất, để chỉ những điều trừu tượng, thuộc về tinh thần.

Vặn, trượt, xỏ, quay... chỉ những động tác cụ thể, nhưng chúng ta đã nói: hỏi vặn, thi trượt, nói xỏ, thầy quay học trò một hồi v.v. làm cho những ý tưởng trừu tượng nọ mất tính cách trừu tượng.

Ngậm, nuốt, gỡ v.v. là những động tác cụ thể; chúng ta dùng để chỉ những chuyện trừu tượng: ngậm hờn, nuốt giận, gỡ tội...

Sắc bén là tiếng mô tả một trạng thái cụ thể; nhưng khi chúng ta nói: “con người sắc bén” thì tiếng ấy lại chỉ một tính cách của tâm lý, tức một cái gì lẽ ra phải trừu tượng. Bao nhiêu là tiếng như: chua chát, đắng cay, ngọt bùi, mặn mà v.v. đều thường dùng như thế cả.

Trước một người con gái đẹp, nhiều dân tộc khác cũng có những ham muốn táo bạo, “ăn tươi nuốt sống”, có thể dùng tiếng ngon lành lắm. Nhưng có lẽ ít dân tộc dùng tiếng thơm thay cho tiếng đẹp (Con bé thơm lắm). Tiếng thơm còn có khi thay thế cho những tiếng khác, ngộ nghĩnh hơn: “Oeo-phe ở tiểu bang này thơm hơn ở tiểu bang kia!” Có lẽ cũng có ít dân tộc thấy sắc đẹp này mặn mà, sắc đẹp nọ lạt lẽo. Khó có ai đi xa như chúng ta trong việc đưa các giác quan vào chuyện thưởng thức sắc đẹp đến thế.

Chúng ta nói: con người phổi bò, cái thằng đầu bò, anh chàng to gan. Đó là mô tả hình dạng đó chăng? là mô tả các bộ phận phổi, đầu, gan của những nhân vật kỳ dị chăng? Không! là tâm lý đấy, không phải là hình dạng đâu. Cũng như lời ong bướm, nghĩa đá vàng, lời đường mật v.v. những tiếng cụ thể ấy đều diễn những ý trừu tượng cả.

Ông Nguyễn Văn Trung cũng dùng những lối nói đặc biệt ấy để chứng minh rằng ngôn ngữ của dân tộc chúng ta có nhiều liên quan với kinh nghiệm thân xác. Một tình thế có thể khó khăn, một hoàn cảnh có thể éo le, nhưng sao đối với chúng ta nó lại là đắng cay, chua chát? Chúng ta đem những kinh nghiệm của vị giác, của cái lưỡi, của thân xác, để diễn tả những ý tưởng trừu tượng. Như thể là dân tộc chúng ta không tách biệt hồn với xác, tinh thần với vật chất, như thể chúng ta suy tưởng bằng cả thân xác của mình.

— Chỉ có chúng ta làm như vậy sao? Đâu phải. Ở đâu mà chẳng có những cách nói ấy? Đó chẳng qua là những mỹ từ pháp thông dụng, phổ biến.

— Việc dùng mỹ từ pháp để cụ thể hóa cái trừu tượng ở đâu cũng có. Dân tộc nào cũng có thân xác, và cũng biết vận dụng kinh nghiệm của thân xác vào ngôn ngữ. Tuy vậy, các ông Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Hồng Phong không phải không có lý: Có dân tộc gắn bó nhiều hơn, có dân tộc gắn bó ít hơn với thân xác. Đâu phải ai cũng như nhau? Có thể chúng ta hơn người ở mức độ...

— Biết làm sao chứng minh so sánh?

— Quả thật việc ấy khó khăn. Hãy thử một vài cố gắng. Ta có câu thơ: “Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”. Những dân tộc khác quanh ta, từng tới lui tiếp xúc với ta, có chăng một lối “nghe” như thế? Có ai đưa lỗ tai đến những trường hợp ấy chăng? Ít lắm!

Một lập luận không đúng, chúng ta chê: “Nghe bất thông! Nghe không vô!” Có ai “nghe” vậy chăng? Có lẽ cũng ít lắm. Đúng với không đúng là chuyện của luận lý, của trí phán đoán; chúng ta biến nó thành một chuyện của giác quan.

Một hành vi, một thái độ bất lịch sự, bất nhã, chúng ta “thấy không ổn”, thấy “khó coi”. Đối với nhiều dân tộc khác, đây đâu phải là vấn đề “coi” với “thấy”? Là vấn đề phán xét đấy chứ. Chúng ta không phán xét bằng trí óc, mà như chừng muốn phán xét bằng giác quan.

— “Một vài cố gắng”, sự cố gắng thật vất vả, mà e không đi tới đâu. Làm sao có thể viện dẫn từng trường hợp một để so sánh? Công việc vô cùng vô tận, không làm xiết nổi. Vả lại trong thơ văn các nước, có thể tìm ra những thí dụ mỹ từ pháp thật tài tình.

— Cái tài tình của cá nhân. Cái đó thiết tưởng không nên nói đến: chúng ta không tìm kiếm những kỹ thuật cá nhân. Chúng ta tìm hiểu ngôn ngữ là chỗ phản ảnh thiên năng của cả một dân tộc.

“Lòng chưa tìm hiểu, mắt trao hôn”

Dùng chữ “trao hôn” để diễn tả ánh mắt tha thiết là cách cụ thể hóa tài tình một tư tưởng, nhưng là cái tài tình của một cá nhân thi sĩ. Thi sĩ ấy có thể đua tranh với những thi sĩ khác của nước ngoài, có thể hơn, có thể thua. Việc ấy không liên quan gì đến đặc điểm của Việt ngữ.

“Mắt trao hôn” có thể là lối nói tài tình hơn “gỡ tội”, “ngậm hờn”; nhưng “gỡ tội”, “ngậm hờn” là công trình của cả dân tộc, là một kết quả tìm tòi chung. Nó không nêu cao cái tài riêng của một ai, mà là cái khuynh hướng chung của dân tộc.

Vì vậy không nên lục soát sưu tầm làm gì những mỹ từ pháp dùng trong thơ văn, mà chỉ nên lưu ý đến những cách nói phổ biến trong ngôn ngữ .

— Những cách nói ấy, chúng ta có chắc nhiều hơn thiên hạ?

— Người ta có cảm tưởng thế. Ít ra là các nhân vật đã nói trên đây: các ông Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Văn Trung.

Các hư tự

  “Hỡi cô tát nước bên đàng
  Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao ấy có nơi được hát là:
(...) “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?”

Ý nghĩa chẳng có gì thay đổi, nhưng chữ “lại” của câu dưới thêm vào một vẻ ngạc nhiên có ngụ chút trách móc trong giọng nói. Dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hoa v.v. chữ “lại” ấy phải dịch ra làm sao? liệu có tìm được tiếng tương đương chăng?

E khó lắm. Mà dẫu có tìm được tiếng ngoại ngữ tương đương với một chữ “lại” ấy thì cũng chẳng thấm vào đâu: trong Việt ngữ có quá nhiều tiếng hư tự ỡm ờ. Nguyên một tiếng “đâu”, có người đã đếm được trong cuốn Kiều chín chục trường hợp dùng khác nhau, với những dị biệt cực kỳ tinh tế; một tiếng “đâu” ấy cũng đủ làm điêu đứng khốn khổ các dịch giả thận trọng rồi, nói gì đến bao nhiêu hư tự khác!

Nhân nói đến Kiều, chúng ta nhớ tới câu:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu”

Chữ “là” ấy có nghĩa gì đâu? Nhưng nó làm cho cái cảnh hoa trôi kia càng thêm man mác. Liệu có hi vọng tìm ra một tiếng tương đương trong ngoại ngữ?

“Bao giờ đến giữa tháng mười
Con gái làm cỏ con trai be bờ.”

Nói thế thì không biểu lộ một tình cảm gì. Nhưng nếu nói:
“Bao giờ cho đến tháng mười.”

hay
“Bao giờ mới đến tháng mười”
giọng nói lộ ý mong mỏi, ao ước rõ ràng.

Nói: “Còn quả mận này cũng sắp rụng” là nêu ra một nhận xét khách quan; nhưng nói: “Còn quả mận này cũng sắp rụng mất” thì có giọng lo lắng, luyến tiếc.

“Hãy để nó tự làm bài của nó”. Nói thế cũng được, nhưng khi cần nhấn mạnh hơn thì ta nói: “Hãy để nó tự làm lấy bài của nó.”

Theo ông Lê Văn Lý (15), hư tự là những tự ngữ được sử dụng như những dụng cụ ngữ pháp.

Cái dụng cụ ngữ pháp ấy hoặc để thay thế các phụ gia ngữ và ngữ vĩ vốn không có trong tiếng Việt, hoặc để biểu lộ tình cảm, để mô tả, nhấn mạnh trong câu nói.

Về cái công dụng thứ nhất, tưởng không có gì đáng nói thêm. Ở các ngôn ngữ tiếp thể (affixant) như tiếng Anh, tiếng Pháp, có những tiếp đầu ngữ, tiếp vĩ ngữ; ở ngôn ngữ Việt Nam chúng ta không có loại phụ gia ngữ ấy, cho nên chúng ta phải dùng hư tự thế thôi, không có gì lạ.

Nhưng về cái công dụng sau, thì không phải chỉ là một vấn đề ngữ pháp, nó liên quan đến một đặc điểm tâm lý của dân tộc: cái tâm lý thích biểu lộ, mô tả, nhấn mạnh.

Ông Lê Văn Lý nói: “Tính tình người Việt Nam ưa thích hình ảnh, màu sắc, những kiểu nói bông hoa (16) bóng bẩy, hiện nay đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ của người Việt, và vì thế tiếng Việt Nam có nhiều hư tự là những tự ngữ (...) thêm vào những từ ngữ mà chúng chỉ định một màu sắc mới, hay những chi tiết làm nổi bật ý nghĩa của tự ngữ chính lên.”

Vì cái “tính tình người Việt Nam” nó có sự ưa thích kỳ lạ như thế, cho nên vẫn ông Lê Văn Lý cho biết rằng người Việt Nam chúng ta xài nhiều hư tự hơn thiên hạ; “Hầu hết các ngôn ngữ đều có những hư tự, như kiểu các hư tự Việt Nam (...) Nhưng có lẽ ít ngôn ngữ có nhiều hư tự như tiếng Việt Nam.”

Trong cái công dụng thứ hai của hư tự Việt Nam như ông Lê đã nêu ra (biểu lộ, mô tả, nhấn mạnh), chúng tôi nghĩ có thể tách ra làm hai phần; một bên là mô tả, một bên nữa là biểu lộ, nhấn mạnh.

Những thí dụ mà chúng tôi đã viện dẫn vừa rồi đều chứng minh công dụng biểu lộ các tình cảm; hoặc ngạc nhiên trách móc, hoặc mong mỏi ao ước, hoặc lo lắng luyến tiếc v.v. Không có những tiếng lại, là, cho, mới, mất, lấy, thì câu nói vẫn rõ nghĩa; nhưng không có những tiếng ấy thì thái độ tình cảm của người nói không được biểu lộ rõ ràng.

Chúng ta nói không chỉ mong diễn đủ rõ nghĩa; chúng ta còn nói để phô bày tình cảm. Cho nên ngoài những tiếng có thực nghĩa, chúng ta cần nhiều tiếng rỗng nghĩa (hư tự); ngoài ngữ ý, chúng ta cần nhấn mạnh đến ngữ khí, ngữ điệu.

Tiếng thực là tiếng của ý nghĩa, lý trí; tiếng hư là tiếng của tình cảm. Ngôn ngữ của chúng ta phong phú về loại tiếng hư.

“Biểu lộ” một tình cảm hay “nhấn mạnh” vào một tình cảm: đây là tình cảm của người nói. Trong trường hợp này các hư tự giúp cho kẻ nghe hiểu biết thêm rõ về người nói.

Còn trong trường hợp “mô tả”, các hư tự giúp người ta hiểu biết thêm rõ về sự vật được nói đến.
Người Pháp nói s’asseoir; chúng ta nói rõ hơn; khi thì ngồi xuống, khi lại ngồi lên, khi khác lại còn là ngồi dậy. Động tác “ngồi” trong tiếng Việt được mô tả kỹ; đang đứng mà ngồi thì là ngồi xuống, đang nằm mà ngồi thì lại ngồi lên, ngồi dậy.

Dĩ nhiên không phải chỉ có chuyện ngồi mới rắc rối. Đối với chúng ta, bất cứ ngồi, nằm, đứng, đi, quăng, ném v.v., chuyện gì hễ nói đến là cũng cần mô tả cho rõ ràng. Có những điều chẳng cần mô tả chút nào, chúng ta cũng cứ mô tả. Chẳng hạn: rơi, rụng, thì bao giờ cũng rơi xuống, rụng xuống chứ có đời nào lại rơi lên, rụng lên? Thế nhưng chúng ta vẫn thêm vào hai động từ ấy một tiếng hư tự mô tả.

Thiết tưởng người Việt Nam ưa thích hình ảnh, màu sắc như thế không phải là vì ưa thích “những kiểu nói bông hoa bóng bẩy” đâu. Đó có lẽ là vì chúng ta ưa thích cái cụ thể.

Thật vậy, nếu không vì cái cụ thể thì không phải nguời Việt Nam lúc nào cũng ham chuộng rõ ràng. Hai ông Nguyễn Hiến Lê và Trương Văn Chình (17) có lần dẫn một câu của ông Trương Vĩnh Tống: “Thuật đã thi hành, mười ngón tay nhà vua đụng vô vật gì thì trở nên vàng hết. Rờ tới bút nghiên đĩa chén, đều hóa ra vàng.” Hai ông cho rằng đối với một người chịu ảnh hưởng Pháp ngữ thì câu ấy không được rõ ràng. Muốn cho được rõ ràng theo tinh thần Pháp ngữ thì phải viết: “Thuật đã thi hành, mười ngón tay nhà vua đụng vô vật gì thì vật ấy trở nên vàng hết! Tay nhà vua rờ tới bút nghiên đĩa chén, những vật này đều hóa ra vàng”.
Như vậy đâu có phải ta luôn luôn nói năng rõ ràng hơn thiên hạ? Pháp ngữ vẫn có tiếng là sáng sủa, minh bạch, rõ ràng hơn Việt ngữ của chúng ta nhiều. Thế nhưng khi lý luận, khi cần kết cấu một tương quan luận lý cho chặt chẽ trong câu nói, thì người Pháp rõ ràng. Mà khi mô tả sự vật cho cụ thể, thì ta lại rõ ràng hơn người Pháp bội phần.

CÁI CỤ THỂ VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC

Trong tiếng nói của một dân tộc thấp thoáng cái cách họ cảm xúc, cách họ nhìn đời, cái tâm lý của họ; trong tiếng nói có phản ảnh tâm hồn của dân tộc.

Việt ngữ — như chúng ta đã thử tìm hiểu — ở cấu trúc của câu nói, ý nghĩa của từng lời nói, ở một số tự loại riêng biệt, cho đến ngay cả ở cách phát âm ra mỗi tiếng nữa, Việt ngữ trên nhiều phương diện luôn luôn chứng tỏ một khuynh hướng thiên về cái cụ thể hơn là trừu tượng, về cảm quan hơn là lý trí.

Mặt khác chúng ta cũng biết rằng trải qua lịch sử dài hơn bốn nghìn năm, ở Việt Nam không có triết gia, nước Việt Nam không có một nền triết học thành văn, và vấn đề quốc học đã từng là thắc mắc một thời của giới trí thức Việt Nam. Có phải cái vắng thiếu triết học ấy là một hậu quả của sự yếu kém về khả năng trừu tượng? Người Việt Nam đã để cho trực giác và lương tri hướng dẫn trong cuộc sống, lúc bình thường cũng như khi nguy biến, qua mọi bất trắc gian nan. Tất nhiên họ có quan niệm riêng về thiên nhiên và về đời sống, nhưng quan niệm ấy không được trình bày dưới hình thức những hệ thống lý luận trừu tượng. Quan niệm ấy bàng bạc trong nếp sinh hoạt và trong thơ văn.

Thơ văn, nhất là thơ, đó là cái sở trường của dân tộc Việt Nam. Tôi không hề có ý so sánh để tranh giành một ngôi vị cho Việt Nam; chắc chắn trên đời còn có nhiều dân tộc khác cũng yêu mến thi ca, có thể yêu hơn dân Việt Nam. Washington Irving sang Tây-ban-nha viếng cung đền Alhambra và đã có dịp tìm hiểu suy nghĩ về người Maure; ông bảo rằng người Maure rất thích làm thơ, đến nỗi có những kẻ hành khất cũng ham làm thơ. Ở Việt Nam hiếm thấy một hành khất như thế, nhưng ở Việt Nam có những tử tội đứng trước máy chém còn ngâm thơ. Ở Việt Nam không cần biết chữ mới làm thơ, dù dốt nát đến đâu người ta vẫn làm thơ được. Thơ tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm. Và dĩ nhiên tràn lan khắp sách báo: Không có tờ báo nào, kể cả những nhật báo tám trang, sáu trang, bốn trang, mà không có chỗ dành cho thơ. Một ngày không có thơ là một ngày không chịu được. Một trang chữ, một mảnh giấy không có thơ liền bị xem là khô khan.

Phải chăng đó là thể hiện của khuynh hướng thiên về cái cụ thể? Bởi vì — trái với triết lý — ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ đầy hình ảnh, đầy âm điệu gợi tả, thứ ngôn ngữ đầy những “bức họa bằng lời” sống động v.v.
Là một dân tộc như thế, sau tháng 4-1975, người Việt Nam ra đi hàng triệu người, di dân Việt Nam tản mác khắp nơi, chung sống với nhiều dân tộc mới, sử dụng những ngôn ngữ mới mẻ. Ở đây ta không nói đến ảnh hưởng của xã hội, của hoàn cảnh v.v., chỉ riêng cái ngôn ngữ mới mà hàng ngày người di dân dùng để diễn đạt cảm xúc và suy tưởng của mình chắc chắn cũng dần dần ảnh hưởng đến cách cảm nghĩ, đến tâm hồn họ.
Phần lớn trong tổng số di dân Việt Nam sống ở những xứ nói tiếng Anh và Pháp, sống với những dân tộc từng có thành quả cực kỳ rực rỡ về các ngành triết học, toán học, những ngành đòi hỏi một khả năng trừu tượng cao độ. Hàng ngày các di dân đọc những tờ báo dày hàng trăm trang mà quanh năm không hề gặp một bài thơ nào cả. Không có thơ trên nhật báo, trên tạp chí hàng tuần, hàng tháng nào cả.

Cái mà di dân Việt Nam đem đến các xứ này là tinh thần cụ thể, là sự nhận thức thiên về cảm quan, không biết có gây được ít nhiều ảnh hưởng đến văn hóa địa phương chăng. Nhưng cái mà di dân Việt Nam tiếp nhận từ địa phương chắc chắn là cải biến nếp cảm suy của họ nhiều lắm và sâu xa lắm.

Di dân Việt Nam sống khắp chân trời góc bể, nếu còn truyền nhau giữ được Việt ngữ là còn giữ được một trong những phương tiện để duy trì một cách cảm nghĩ chung, một lối “đi về” với nhau về mặt tinh thần. Nếu họ chỉ nói được tiếng địa phương mà thôi thì năm ba thế hệ sau người gốc Việt xứ này gặp người gốc Việt xứ nọ, kẻ từ Do Thái, Nhật Bản, người từ Đan-mạch, Na-uy, từ Mỹ, từ Pháp... gặp nhau, chắc chắn họ không chỉ bỡ ngỡ vì khác tiếng nói, mà còn bỡ ngỡ hơn trước những xa cách trong tâm hồn.

Sài Gòn 1973
California 1988

10.  Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm Học liệu xb, 1968, trang 210. 
11. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, trang 678, 680. 
12. Essai de grammaire du francais moderne, do Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trích dịch, sđd, trang 681. 
13. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam , trang 162.  
14. Lược khảo văn học II, trang 83. 
15. Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam. 
16. “văn hoa” chăng? 
17. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam.


Trần Mộng Tú - Đôi Giầy Trước Cửa


Trần Mộng Tú

Tôi đi chơi xa ba tuần về, mùa đông đã vào đến hiên nhà. Những hàng cây đang quơ những cánh tay gầy với lên bầu trời xám. Mưa gió hầu như hôm nào cũng ghé qua thành phố. Tôi chuẩn bị vườn trước vườn sau cho mùa đông. Những cây hoa hồng được cắt xuống thật thấp, những bụi thược dược, cúc trắng, đỗ quyên và hầu hết những hoa trong vườn được cắt sát mặt đất, thu xếp mấy cái chậu bằng sứ cất vào nhà xe để tránh bị nứt vỡ dưới độ lạnh của tuyết. Năm ngoái tôi bị nứt vỡ hai cái lu nhỏ, đồ gốm của Việt Nam, trong mùa đông. Chung quanh tôi nhà nào cũng hình như đang làm những công việc ngoài vườn giống tôi. Hàng xóm của tôi là ba ngôi nhà. Ngôi nhà trên dốc, bên trái là của ông bà Jim, dưới dốc là nhà ông bà Sue. Nhà ông Don ở cùng phía bên phải với tôi và ở bên dưới nhà tôi. Nhà ông lưng quay ra đường, cửa chính quay vào trong, nên đứng ở ban công nhà tôi nhìn xuống là lối vào nhà xe và cửa chính nhà ông Don. Đối với tôi ông Don là người hàng xóm dễ chịu và hiền hòa nhất xóm. Khi tôi dọn đến đây ông mới góa vợ được hai năm. Ông ở một mình, thỉnh thoảng con trai ở xa đến thăm.


Ông Don chăm sóc vườn trước vườn sau nhà ông thật cẩn thận. Chẳng hề có một cọng cỏ dại nào chen được vào những bụi hoa nhà ông, hàng dậu bằng cây lúc nào cũng xanh biếc, xén tỉa vuông vức. Tôi hay ví cây cỏ nhà ông giống như một chàng trai ngày nào cũng cạo râu, chải đầu, quần áo tề chỉnh. Ông cũng vậy, ông là một người giản dị nhưng đâu ra đấy từ mái tóc ngắn bạc phơ cho đến đôi giầy vải trắng dưới chân.

Đôi giầy vải trắng của ông, thỉnh thoảng từ ban công nhà tôi ngó xuống lối vào nhà ông, tôi hay nhìn thấy để trước cửa ra vào, nó lúc nào cũng sạch sẽ, trắng bong, được xếp ngay ngắn, đầu mũi giầy quay ra ngoài, như sẵn sàng bước đi, chủ nhân chỉ việc ngồi xuống, xỏ vào, buộc dây. Khi thấy đôi giầy, biết là ông có nhà, không thấy đôi giầy tức là ông đi ra ngoài.

Thỉnh thoảng ra khỏi nhà sáng sớm tôi đã thấy ông đang chạy bộ trên con dốc, tôi hay dừng xe lại nói dăm ba câu chuyện với ông. Hay trêu, hỏi ông hồi này có mấy bà theo. Ông cười, một thôi, đủ mệt rồi. Hai phiền lắm.

Mùa hè vừa qua ông có khoe đi Hawaii với bà bạn mới một tuần. Khi về trông ông trẻ hẳn ra. Gặp tôi ông nói đùa: đi chơi với đàn bà mệt quá, cô ấy đi bộ khỏe hơn tôi nhiều, sức tôi theo không kịp.

Tôi nói trêu ông: chắc ông nên thay một đôi giầy đẹp hơn và tốt hơn nữa.

Ông ngửa mặt cười; chẳng phải giầy không đâu, tôi còn phải thay cả trái tim nữa chứ, tim tôi đập không kịp theo nhịp tim cô đó.

Tôi đi xa về, không nhìn thấy đôi giầy cả tuần, biết là ông không có nhà, đoán ông đi thăm con hayđi chơi xa với bạn gái.

Tôi hỏi bà Sue: Ông Don đi đâu mất rồi.

Ông ấy đang ở trong bệnh viện, bị nhồi máu cơ tim.

Bao giờ bà đi thăm cho tôi đi theo.

Không được, đang ở trong phòng hồi sinh.

Hai tuần sau, tin xấu: ông Don bị nước vào trong phổi, bác sĩ rút hoài mà không hết nước.

Ông Don không bao giờ thích có buổi tiễn đưa cuối. Nên khi thấy ngôi nhà của ông chìm trong sự yên lặng, buổi tối không có ánh đèn hắt ra, tôi cứ nghĩ là ông đi xa mà thôi.

Mỗi khi đứng ởban công nhà mình ngó xuống cánh cửa im lặng nhà ông, thấy nhớ cái hình ảnh đôi giầy để ngay ngắn trước cửa. Tôi chắc là mình nhớ ông và tôi không nghĩ đến đôi giầy nữa.
Cuối năm dương lịch, một buổi sáng tôi thấy một người đàn ông trẻ lái xe vào sân nhà ông, tôi đoán đó là người con trai ông. Anh đến nhà bố không biết làm gì, loay hoay cả nửa ngày trong đó. Tôi cũng không dám sang hỏi thăm, vì chưa hề gặp anh trước đây bao giờ. Anh đến rồi anh đi lặng lẽ, không thấy thu dọn đồ đạc ra hay làm điều gì đặc biệt.

Vài ngày sau, khi đi bộ xuống dốc tôi bỗng nhìn thấy đôi giầy vải trắng của ông Don được xếp ngay ngắn trước cửa, hai mũi quay ra ngoài, sợi giây giầy nới lỏng như sẵn sàng đợi hai bàn chân xỏ vào, bước đi. Tôi đứng sững, im lặng nhìn đôi giầy, nhìn như vẫn nhìn thấy nó cả mười năm nay. Như thấy nó tuần trước, như thấy nó ngày hôm qua, như nó chưa hề bị cất đi bao giờ. Mỗi ngày nó vẫn được chủ nhân của nó xỏ vào và cả hai bước xuống thềm, ra phố. Nó cho tôi cái cảm giác ông Don vẫn sống trong ngôi nhà đó, buổi sáng vẫn đi bộ, buổi trưa vẫn cắt lá, bắt sâu trong vườn, và buổi tối ánh đèn vẫn hắt ra từ cửa sổ của phòng đọc sách. Ông chưa hề bao giờ bỏ đi.

Tôi thấy mình hồn nhiên nghĩ như thế, không thắc mắc.

Trong buổi sáng mờ mờ sương của ngày mồng một dương lịch, tiếng súng giao thừa từ đêm qua hình như chưa bắn hết, thỉnh thỏang còn nghe một tiếng đạn nổ ngay bên cạnh nhà. Tôi mặc áo ấm, co ro bước ra ngoài ban công, nhìn trời mới, đất mới, hít thở cái không khí trong lành tinh khôi đang từ trời ban xuống, từ đất bốc lên. Bên dưới kia là nhà ông Don, người hàng xóm hòa nhã, tôi lấy tay dụi dụi hai mắt mình, hình như có hai con thỏ trắng nằm phục trước trước hiên nhà ông. Sao thỏ trắng lại ra vào mùa này nhỉ? Thường nơi tôi ở chỉ có những con thỏ rừng (hares) nhỏ mầu nâu ở cánh rừng bên hông nhà, chạy ra vào những ngày hè ấm áp.

Hai con thỏ không nhỏ lắm, nó to bằng đôi giầy của một người đàn ông. Chúng nằm sát vào nhau, bốn cái tai úp xuống chạm mặt đất, cái miệng thuôn thuôn và cái mũi hỉnh lên trong rất giống hai mũi giầy. Thế cả tuần nay, cái tôi nhìn thấy là đôi giầy hay hai con thỏ. Hay đôi giầy thật sự đã bỏ đi để nhường chỗ cho hai con thỏ.

Tôi khẽ nhắm mắt lại, một tiếng súng còn sót đêm qua, bắn lẻ loi vào không gian. Tôi nghĩ đến một chuyến đi không có lời từ biệt, không có đưa tiễn nên không để lại một dấu ấn gì về chia tay cho người ở lại. Tôi nghĩ (lại nghĩ,) nếu ai cũng đến và đi tự nhiên như cây cỏ, nở trọn vẹn, mãn khai rồi từ từ tàn úa, như thời tiết bốn mùa, từ ấm áp đến hực nóng rồi chuyển sang mát mẻ, đông giá, rồi xuân lại về. Hay như ông Don nhập cuộc vào đời, sống hết mình, rồi sống chầm chậm lại, rồi lặng lẽ đi. Không trống kèn, không ca hát, không ai điếu. Không có hình ảnh ném nắm đất cuối cùng.

Nghĩ đến ông là thấy hoa đỏ mọc trong vườn, hàng rào xanh cắt tỉa. Ông đã tặng cho những người thân quen một bài học về tạo hóa và con người. Tạo hóa là cái vòng tròn, con người bước vào đó, đủ một vòng xoay là bước ra, thế thôi. Chỉ là một sự hoán chuyển, nhường chỗ cho nhau, như mùa đông và mùa xuân, như đôi giầy và hai con thỏ.

Đất trời bắt đầu cho một năm mới, một cái vòng tròn mới tung ra, có tiếng trẻ sơ sinh khóc oe oe nhè nhẹ như tiếng mùa xuân nứt ra từ những đọt cây. Trước hiên nhà ai, có một đôi giầy mới sẵn sàng cho hai bàn chân nhỏ.

(cho năm 2013 đang tới)


Khái Hưng- Ðợi chờ



Khái Hưng
Cây im, sông lắng đợi xuân về.

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.


Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.

Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ...

Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
° ° °
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.

Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:

- Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.

Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:

- Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.

Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:

- Thưa cô, xe liệt máy?

Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.

- Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.

- Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?

- Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.

Linh mỉm cười:

- Ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.

Bà cụ sung sướng vội hỏi.

- Thưa ông, nhà ông ở gần đây?

- Thưa cụ, cũng không xạ. Đây là đồn điền của tôi.

Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.

- Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!

- Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.

Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:

- Anh tài!

Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:

- Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây...

- Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.

- Chà, khó gì!

Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:

- Thôi được, để tôi đi lấy cho.

Thiếu nữ vội gạt:

- Chết thế thì phiền ông quá!

Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, giật cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
° ° °
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.

Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:

- Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.

Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.

- Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. Ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.

Bà cụ từ tạ:

- Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về... Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?

Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:

- Thưa cụ, có dầu xăng rồi.

- Ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.

- Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.

Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:

- Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.

Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:

- Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?

Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:

- Xin vâng.

- Vậy vào nhé, me nhé?

Bà mẹ mắng yêu con

- Ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.

Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
° ° °
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.

Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.

Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:

- Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!

Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:

- Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.

- Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.

Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.

- Cô để tôi lấy giùm.

Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.

- Ồ phí quá, ông nhỉ?

Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.

- Ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.

Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:

- Phụng, xin phép ông về thôi!

Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ "về".

- Phụng, đi về!

- Vâng, con đây.

Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:

- Trời ơi! Quít ngọt quá! ông nếm thử mà xem.

Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.

Linh thở dài, lững thững theo sau...
° ° °
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.

Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.

Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
° ° °
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.

Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.

Linh chờ đợi, mong ngóng.

Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.

Đã hai năm chàng chờ đợi...

Và trên bờ sông cao, khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẩn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại...

Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.


Nhất Linh - Nắng Mới Trong Rừng Khuya



Nhất Linh

Ðến chân đồi thông, Phương đứng lại tần ngần như e ngại.

Bên kia đồi là đồn điền của ông Hàn Trí. Chàng chắc rằng ông Hàn bà Hàn hiện còn ở Hà Nội, ở nhà chỉ có một mình cô con gái. Chàng đợi mãi mới có dịp may mắn như thế, lấy cớ vác súng đi săn, lần mò hơn một trăm cây số để được gặp người yêu, nhưng lúc đến nơi, chỉ còn cách có cái đồi thì chàng hết cả can đảm, trong lòng hồi hộp như người đi ăn trộm.


Bỗng tự nhiên trời nắng to, những cây trên đồi gió thổi vào như múa như reo, lá cây nhấp nháy ánh sáng như vui mừng đón chàng, giục chàng dấn bước để được gặp người mà chàng phải xa cách đã hơn sáu tháng nay. Chàng đi vòng hết sườn đồi, thấy sừng sững trước mặt ba tòa nhà gạch quét vôi vàng, chung quanh cây bao bọc. Mấy cây chò trắng mà thẳng lên cao vút như chạm đến trời xanh, xanh biếc và trong.

Chàng vừa đến cổng, tiếng chó cắn ran, trong nhà có người đi ra. Chàng làm như quen thuộc, hỏi một cách thân mật:

- Quan Hàn có nhà không bác?

- Bẩm ông, ông bà con lên Hà Nội vắng.

Chàng làm ra bộ thất vọng. Rồi cứ xăm xăm đi thẳng vào. Trong sân vì trời nắng mới, nên trên các dây thép quần áo phơi la liệt, gió thổi bay phất phơ. Sau một bức màn the, thoáng thấy bóng người con gái, chàng đứng lại. Người con gái cũng vừa nhìn ra, thốt nhiên kêu:

- Anh!

Rồi nàng ngạc nhiên chạy đến gần, giương mắt nhìn Phương, ngạc nhiên khẽ nói như người đương mê:

- Anh lên đấy ư?

Phương thấy nàng hỏi vồn vã mình trước mặt người nhà, ngượng quá không biết nói ra làm sao. Nàng hiểu ý bảo:

- Thầy đẻ em đi vắng. Ðây toàn là người nhà cả, anh đừng ngại.

Rồi nàng vui mừng cuống quít bảo:

- Anh vào đây! Anh vào đây!

Nàng gọi người nhà pha nước uống và lấy thau rửa mặt, rồi ngồi xuống trước mặt Phương, nhìn chàng, tươi cười như người sung sướng quá:

- Sao anh trông buồn thế kia?

Phương nhìn chung quanh mình xem có người nhà không, rồi hỏi nàng một cách nghiêm trọng như có ý trách:

- Anh thật chưa hiểu vì cớ gì tự nhiên em bỏ Hà Nội lên đây, không cho anh biết một lời; có phải là ông Hàn bà Hàn bắt em lên đây, để không cho anh được gặp mặt em nữa không? Dẫu thế nào di nữa, sao em không có một lá thư nào cho anh cả? Vì cớ gì vậy, em Minh?

- Vì cớ gì? Chẳng vì cớ gì cả. Còn gửi thư cho anh thì ở đây không có nhà dây thép, em biết gửi ai. Nhưng thôi... Nhắc lại làm gì. Chỉ biết rằng anh gặp em được có một ngày, ta hãy vui đã, vui đi, mặc chuyện đó ở đấy. Anh vẫn còn cái tính hay nghĩ lôi thôi lắm!

Rồi nửa giờ sau nàng gọi người nhà bảo lấy đôi giày tây trắng, để nàng đi chơi rừng.

- Ta vào rừng nói chuyện thú hơn.

Phương sửng sốt:

- Người ta có cười cho không?

- Cười gì? Ở đây có ai mà cười.

- Người trong đồn điền?

- Toàn người nhà, không bao giờ họ cười em cả.

Phương thấy nàng bảo sao làm vậy, vác súng lên vai. Nàng buộc giày xong, khoác vào mình một chiếc áo lụa trắng, rồi từ trên thềm nhảy xuống sân như người điên.

Một bác người nhà cung kính bước ra nói:

- Cô yếu, con sợ cô đi chơi xa mệt.

Minh cau đôi mày, đợi Phương đi ra đến cổng, rồi khẽ mắng bác người nhà:

- Tôi cấm anh không được đả động đến sự tôi yếu hay tôi khỏe trước mặt ông này! Anh nghe chưa?

Ra đến ngõ Phương quay lại hỏi Minh:

- Em yếu đấy ư?

- Không, em cảm xoàng; đã khỏi hẳn rồi. Ta đi đường này vào rừng, rừng này lắm chim, nhiều chỗ cảnh đẹp lắm.

Rồi nàng nói, nàng nói mãi. Phương không hiểu nàng nói gì nữa, nhưng cứ được nghe tiếng nàng là đủ rồi. Ðang đi, thỉnh thoảng chàng quay lại nhìn, thấy nàng tươi cười, trong lòng chàng hớn hở quên cả những nỗi nhớ thương trước, chỉ nghĩ đến cái vui chan chứa lúc bấy giờ.

Ðường bỗng tối hẳn lại: đã đến rừng.

Hai người thấy lành lạnh, ngửng lên nhìn trên đầu, cây chằng chịt, lá xanh rờn. Dưới chân, trên con đường tối mỗi khi cơn gió thoảng qua là các chấm ánh sáng thi nhau lay động như nhẩy, như múa. Trông ra xa, chỗ nào thoáng cây, ánh nắng xuống trắng xóa, rực rỡ. Phương nói:

- Không biết hôm nay, vì cảnh đẹp mà ta vui hay vì ta vui mà cảnh đẹp thế này! Nhưng đẹp mà làm gì, có được hưởng mãi đâu! Ngày mai...!

- Anh nghĩ làm gì đến ngày mai. Em thì lúc nào cũng vui, dẫu đến chết cũng vui. Tính em thế, không bao giờ nghĩ đến việc trước hay việc sau cả, chỉ biết hôm nay hai ta còn đây, gặp nhau đây, vui mừng... ta hãy biết có thế.

Hai người vừa đi vừa nói chuyện, đi hết chỗ rợp đến chỗ nắng, lên đèo xuống dốc mải câu chuyện không biết rằng đã vào đến rừng sâu. Chung quanh đồi núi bao bọc, trước mặt một cái thung lũng rộng chừng năm mẫu, giữa có lạch nước con đi lượn khúc, lúc ẩn lúc hiện sau mấy chòm cây lấm tấm ánh sáng.

Ðến một bãi cỏ xanh mát và sạch sẽ, Minh bảo bạn:

- Ta ngồi ở đây thôi, đi đã mỏi chân rồi.

Phương cũng nghe lời đặt súng xuống cỏ, rồi hai người ngồi cạnh nhau. Minh ngửng đầu nhìn ra cảnh vật, nét mặt hớn hở, trên má đỏ hồng, mấy sợi tóc mai phất phơ theo chiều gió. Nàng mỉm cười nói:

- Hôm nay nắng mới, trông vui tệ. Kìa anh, trên cây dọc có hai con vàng anh đẹp quá.

Không thấy Phương trả lời, nàng quay lại thấy bạn ngồi thừ ra, có vẻ tư lự, liền nói có ý gắt:

- Sao anh buồn thế? Lúc em đương vui, em không muốn thấy có người buồn bên cạnh.

- Sao lại cứ bắt người ta phải vui? Tính em lạ quá, em đã đổi khác nhiều. Anh thật không thể nhận em là người con gái thùy mị, dịu dàng trước kia nữa. Em như có sự gì rất bí mật giấu anh!... Chuyện gì! Em nói thật, anh mới có thể vui cùng em được.

- Ðấy anh lại sắp hỏi lôi thôi rồi. Ðã bảo không có chuyện gì cả mà. Gặp nhau được có một ngày, vui đi anh Phương ạ. Em bảo anh rằng lần này là lần cuối cùng anh không được nghĩ đến ngày mai... Hãy biết vui hôm nay... Em, bao giờ em cũng vui.

Phương cũng phải cười, bảo đùa bạn:

- Em như người điên ấy.

- Vâng, thưa anh, em điên. Em điên vì anh mà chỉ còn điên một ngày hôm nay nữa mà thôi.

Nàng kéo tay Phương lôi dậy, đặt súng lên vai bạn rồi nhanh nhẹn đi trước, chạy thung thăng để mặc gió đưa các tà áo phất phơ, mái tóc xõa cả xuống vai, xuống cổ, như đứa trẻ thơ. Phương đi sau nhìn theo, thấy nàng thế, mỉm cười, trong lòng vui vui, quên cả những điều lo nghĩ trước.

Mà Minh lúc đó như người điên thật. Ðương đi, hễ gặp một cây dây leo là nàng níu ngay lấy, nhún mình đánh đu, gặp cây nào có quả ăn được như khế, như mơ, là nàng nhẩy lên níu cho kỳ được, sát cả tay mà không biết đau; thấy bên sườn đồi có dẫy sậy hoa phơn phớt bạc, nàng chạy ra bẻ một vài cây rồi đưa cho Phương một cây làm gậy chống. Má nàng đỏ bừng, hai con mắt thêm trong, tóc dán vào hai bên thái dương lấm tấm mồ hôi, trông nàng có vẻ đẹp lạ lùng, khác nào như bao nhiêu tinh hoa lúc đó đều phát ra cả ngoài.

Mải vui quên cả trời đã chiều. Trên đồi cao còn thừa từng mảng ánh vàng, bóng cây in dài lan từ đồi này sang đồi khác. Phương rủ bạn ngồi dựa vào một gốc cây thông. Minh suốt ngày vui đùa quá sức, chiều đến thấy mỏi mệt, ngồi thừ ra, con mắt lờ đờ, nhìn ra xa rồi lẩm bẩm nói một mình:

- Thôi chiều rồi! Hết...

Phương nghe tiếng bạn có vẻ buồn, lấy làm lạ, quay lại, thấy nàng đổi hẳn sắc mặt!

- Em Minh, em làm sao thế?

Nàng cau đôi lông mày, mím môi, như cố nén lòng mình, rồi như không sao giữ nổi, hai hạt lệ long lanh rơi xuống má. Phương ngạc nhiên hỏi:

- Em khóc đấy à?

Nàng gượng cười:

- Em có khóc đâu! Vui quá thành ra như thế đấy. Lúc này thật em sung sướng quá, trời đẹp như thế lại được gần anh, ở giữa chốn rừng sâu. Vũ trụ này là riêng của hai ta, ai mà cướp được...

Nói chưa dứt câu, nàng lại lấy tay ôm mặt nức nở.

Phương kéo tay nàng ra rồi nhìn đăm đăm vào mặt nàng hỏi:

- Em có sự gì giấu anh. Em đừng chối. Từ sáng đến giờ anh thấy em khác lắm.

Nàng cúi nhìn xuống đất thong thả nói:

- Thôi, bây giờ em cũng chẳng giấu anh làm gì nữa, em vẫn muốn cho anh biết đã lâu, nhưng em không nỡ.

Rồi nàng lấy vạt áo lau nước mắt, hai con mắt ráo hoảnh, nhìn Phương:

- Cái chết em không sợ, mà em chắc anh cũng có can đảm như em đây. Sáu tháng trước, hồi em xa anh về đồn điền, thầy thuốc bảo em mắc bệnh ho. Em giấu anh vì em tưởng lên đây khí hậu tốt chắc khỏi dần, nhưng đến bây giờ, em mới biết em không còn sống được bao lâu nữa... cho nên gặp anh hôm nay, một ngày hôm nay nữa mà thôi, em quên đi để vui với anh. Em đã làm được như thế, em đã nén lòng em đi để cho anh vui từ sáng đến giờ, mà em, em cũng đã vui, vui một lần chót, trước khi từ giã cõi đời, trước khi vĩnh biệt anh. Cảnh vật hớn hở tặng đôi ta bao vẻ đẹp, thì em cũng gượng cười để hiến anh một ngày vui cuối cùng, để gọi là tạ lòng anh đã yêu em bấy lâu...


Phương nghe nàng nói xong, tê mê, lặng người đi, nhìn nàng, không nói lên được một tiếng.

Bấy giờ trời đã sâm sẫm tối, cảnh vật dần dần ngả vào trong đám sương mù... Ngày đã tàn...

Ðôi bạn, tay cầm tay, nhìn nhau yên lặng.

Trên đầu, gió rì rào trong cành thông, như tiếng than vãn của buổi chiều.


Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Ngô Nhân Dụng - Quân đội là của ai?


Ngô Nhân Dụng

Một bản tin trên Nhật báo Người Việt cho biết ngày 3 tháng 10, 2012 một bài trên tờ Quân Ðội Nhân Dân ở Hà Nội nhìn nhận “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau. Một bộ phận không nhỏ những đảng viên rất thiếu ý thức khi học tập, nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Ðảng.”


Quân Ðội Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào những người cầm súng. Khi nói đến “bộ phận không nhỏ những đảng viên thiếu ý thức,” chắc tờ báo này nhắm vào đối tượng chính của họ là các đảng viên ở trong quân đội. Lời cảnh cáo trên cho thấy mối lo chung của nhóm cầm đầu đảng Cộng sản Việt Nam. Họ lo không thể tiếp tục coi tất cả các người cầm súng còn nhắm mắt làm tay sai cho các lãnh tụ đảng mãi mãi. Quyền hành của đảng Cộng sản hiện đang được đám công an vũ trang bảo vệ. Nhưng nếu quân đội có thái độ trung lập, hay đứng về phía nhân dân, thì quyền hành đó sẽ tiêu tan.

Vì vậy, đảng Cộng sản phải “động viên” lòng trung thành của quân đội bằng mọi cách. Ngày 23 tháng 12, 2012 cũng trên tờ Quân Ðội Nhân Dân phải đăng một bài khác nói rõ hơn, với tựa đề: “Không thể chấp nhận quan điểm Quốc gia hóa quân đội,” ký tên Nguyễn Tiến Bình, một trung tướng, giám đốc Học Viện Quân Y. Không chấp nhận Quốc gia hóa quân đội, Nguyễn Tiến Bình hô hào: “Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phải bảo vệ các lợi ích của Đảng!” Lời hô hào này lại càng cho thấy các lãnh tụ Ba Đình đang lo lắng thật sự. Người Việt Nam nào bây giờ cũng biết đám cầm đầu đảng Cộng sản, từ cao nhất đến cấp huyện, cấp xã, chỉ là một nhóm người vừa ngu dốt, bất lực vừa tham lam, bầy ra mọi thủ đoạn bòn rút. Chính bọn người này gây ra tình trạng kinh tế yếu kém, giáo dục sa sút, đạo đức suy đồi, trong mấy chục năm qua.

Không một người nào có lương tâm lại chịu đóng vai làm tay sai đi “bảo vệ lợi ích” cho bọn quan chức “cướp ngày” này.

Trong một quốc gia tiến bộ, quân đội không bao giờ phải đóng vai tay sai của bất cứ một đảng chính trị nào cả. Ở các nước chưa tạo được tập quán dân chủ, có những lúc quân đội đảo chính để lật đổ một chính quyền không được lòng dân. Nhưng cuối cùng, các quân nhân cũng trao trả quyền hành cho các người lãnh đạo được dân bỏ phiếu bàu lên. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, vân vân, đã sống qua những thời kỳ quân đội nắm quyền. Nhưng cuối cùng quân đội cũng “rút về doanh trại,” để người dân quyết định chọn người lãnh đạo theo thể thức dân chủ. Gần đây nhất, năm 2006 các tướng lãnh Thái Lan đã đảo chánh lật đổ ông Thaksin, một vị thủ tướng bị tố cáo tham nhũng, lạm quyền. Nhưng chỉ trong một năm sau, người dân Thái Lan lại được cầm lá phiếu quyết định ai là người lãnh đạo quốc gia. Trong cuộc bầu cử năm 2011, đảng Pheu Thai lại thắng và cô em gái của ông Thaksin đã lên làm thủ tướng; mặc dù chính ông ta không dám về nước vì bản án về tội lạm quyền vẫn chưa được xóa bỏ.

Những nhóm quân nhân cầm quyền lâu nhất, sau cùng cũng phải rút về doanh trại, khi người dân ý thức được quyền tự do quyết định vận nước của họ. Tướng Suharto nắm quyền tại Indonesia hơn 30 năm, sau cùng bị dân nổi lên lật đổ. Hơn 10 sau đó nước Indonesia sống trong chế độ dân chủ tự do. Các tướng lãnh ở Miến Điện ý thức được sự bất lực của họ trước cảnh kinh tế suy sụp và lo sợ áp lực của Trung Quốc đè nặng, đang quay đầu về với dân, bước lên con đường dân chủ hóa. Đảng Cộng sản Việt Nam đang lo ngại vì tin tức về tiến trình dân chủ hóa tại Miến Điện có thể khiến nhiều người trong quân đội cũng tự hỏi tại sao nước Việt Nam lại chịu thua người ta, toàn dân phải tiếp tục sống dưới một chế độ độc tài bất lực và thối nát! Trước đây, một quân nhân đã được đảng Cộng sản đưa lên cầm quyền ở Ba Lan là Tướng Wojciech Jaruzelski, chính ông đã góp công dân chủ hóa đất nước khi mời một người thuộc Công đoàn Đoàn Kết lập chính phủ.

Nỗi lo sợ của đảng Cộng sản Việt Nam thúc đẩy tờ báo tuyên truyền nhắm vào quân đội phải lớn tiếng báo động: Không thể chấp nhận “quốc gia hóa quân đội!” Mục đích là bắt quân đội tiếp tục ngoan ngoãn làm tay sai cho nhóm người cầm đầu đảng.

Nhưng ngay ở trong nước đã có nhiều người chế nhạo những luận điệu hàm hồ của bài báo trên.

Ngày12/26/2012 đã xuất hiện một bài trên Facebook Doan Phung Viet phê phán những lý luận và bằng chứng sai lầm của tác giả. Một sai lầm nặng nhất là khi Nguyễn Tiến Bình dẫn chứng các sắc lệnh do Hồ Chí Minh ký từ năm 1946: Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL.

Doan Phung Viet viết: “Tôi chỉ mới tra cứu sơ sơ đã thấy, ba sắc lệnh trưng dẫn, … cả ba không có điều, khoản nào đề cập đến chuyện “quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải bảo vệ lợi ích của Đảng!” Nói rõ hơn: Sắc lệnh số 71/SL ngày 22 tháng 3 năm 1946, quy định chi tiết về biên chế và cấp số của Đại đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sắc lệnh số 47/SL ngày 1 tháng 5 năm 1947, qui định về việc tổ chức Bộ Tổng chỉ huy. Sắc lệnh số 60/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, đổi tên Uỷ ban Kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Uỷ viên hội.

Ai cũng thấy: Tên gọi đầu tiên của quân đội là “Quân đội Quốc gia” chứ không phải là “Quân đội của Đảng Cộng sản!”

Các sắc lệnh trên, Hồ Chí Minh ký khi vẫn còn đeo mặt nạ “quốc gia,” trong thời gian Đảng Cộng sản đã được Hồ chính thức tuyên bố “giải tán” để đóng trò yêu nước! Tất nhiên, trước khi được Trung Cộng viện trợ để tái lập đảng dưới tên Đảng Lao Động, Hồ không dám nói quân đội chỉ là tay sai của một đảng!

Nguyễn Tiến Bình còn viết khen ngợi Hồ Chí Minh là biết “mềm dẻo về sách lược” khi nói một đằng, làm một nẻo. Doan Phung Viet nhận xét: “Khen như thế còn độc địa, nham hiểm hơn là chửi đó! Cứ như bác viết thì chẳng lẽ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng Hiến pháp để bịp mọi người sao?”

Trong hai thế hệ, từ 1945 đến 1990, bao nhiêu thanh niên Việt Nam bị bịp hy sinh xương máu cho tập đoàn tham nhũng lên ngôi, để đất nước tới nỗi này!

Đó là điều mà nhiều người trong quân đội tự đặt ra. Và họ thì thầm hỏi lẫn nhau: Không lẽ đến bây giờ lại để cho bọn Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, bịp bợm tiếp hay sao? Những người biết đặt câu hỏi đó được báo Quân Ðội Nhân Dân mô tả: “suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau …” Những lời hô hào “Không chấp nhận Quốc gia hóa quân đội! Quân đội phải bảo vệ các lợi ích của Đảng!” là những lời hoảng hốt kêu cứu.

Đúng là những lời kêu cứu. Bởi vì Nguyễn Tiến Bình lo sợ quân đội chỉ biết dến quốc gia, không biết đến đảng sẽ “làm cho Ðảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền!” Bình đã đưa tấm gương sụp đổ của đảng Cộng sản Liên Xô ra đe dọa. Khi chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ, “lúc đó quân đội Liên Xô còn 3.9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, …” Chỉ vì đảng không kiểm soát được quân đội nên Liên Xô tan rã.

Nguyễn Tiến Bình đã quên, là vào năm 1991 không phải chỉ có quân đội Nga lọt ra ngoài tầm tay của đảng Cộng sản. Ngay cả tổ chức KGB khổng lồ toàn mật vụ và công an cũng biết chán chế độ rồi. Họ thấy dù họ được hưởng đủ thứ đặc quyền đặc lợi, nhưng cứ tiếp tục sống trong một chế độ bất lực và tham nhũng thì con cháu họ sẽ không có tương lai! Chính các sĩ quan KGB đã từ chối không đưa tay ra cứu những người đảo chính bảo vệ chế độ cộng sản, cho nên cuộc cách mạng ở Nga mới thành công.

Bài báo của Nguyễn Tiến Bình chứng tỏ đảng cộng sản Việt Nam đang lo sợ là quân đội sẽ thức dậy. Không ai có thể cúi đầu làm tay sai mãi mãi. Đầu năm 2012 có mấy quân nhân trong huyện đội Tiên Lãng đã được đưa tới tham dự vụ cướp đất ở khu đầm cá do anh em ông Ðoàn Văn Vươn khai phá. Ngay sau đó, một số tướng lãnh cảm thấy cả tập thể quân đội phải chịu nỗi nhục đi cướp đất của dân, đã lên tiếng phản kháng.

Quân đội còn cảm thấy nhục nhã hơn nữa, trước cảnh đảng Cộng sản Việt Nam nhu nhược chịu khuất phục và bám lấy Trung Cộng. Khi các ngư dân Việt Nam bị bắn, giết, bắt cóc; khi các con tàu Việt Nam bị cắt dây cáp, người dân đều hỏi: “Thế quân đội mình đang ở đâu?”Hàng triệu quân nhân nhìn nhau không biết trả lời sao! Dân Việt Nam còn tiếp tục biểu tình chống Trung Cộng, sẽ tới ngày lực lượng công an cũng không đủ để đàn áp. Nếu tập thể quân đội ý thức được rằng họ không phải là tay sai của một nhóm người nào, mà chỉ có bổn phận bảo vệ lợi ích của toàn dân, thì họ sẽ không bao giờ quay họng súng bắn dân để “bảo vệ các lợi ích của Đảng” như lời kêu gọi của Nguyễn Tiến Bình.

Các chế độ độc tài chuyên chế chắc chắn sẽ sụp đổ, dù cộng sản hay không cộng sản. Loài người đang cùng nhau tiến trên con đường tự do dân chủ, không có đường nào khác. Trong mọi quốc gia văn minh, quân đội là của nhân dân, của đất nước. Những người quân nhân tự trọng không bao giờ cúi đầu làm tay sai cho một đảng phái nào cả! Dân Việt Nam không ngu đến nỗi không biết điều đó. Dân Việt Nam không hèn đến nỗi cứ cúi đầu chịu nhục mãi.

Nguyễn Hưng Quốc - Năm 2012: Năm của ý thức địa - chính trị


Nguyễn Hưng Quốc

Nếu năm 2012 là năm của châu Á, đó cũng đồng thời là năm ý thức địa-chính trị (geopolitics) trở thành ý thức chủ đạo trong các suy nghĩ về chính trị của người Việt.


Cho đến gần đây – và cả hiện nay nữa, với rất đông người, kể cả giới lãnh đạo trong nước – yếu tố chủ đạo trong cách tư duy về chính trị vẫn là ý thức hệ. Người ta phân vùng thế giới theo những khác biệt về ý thức hệ. Người ta phân biệt bạn thù cũng theo ý thức hệ. Trong cái gọi là ý thức hệ ấy, hai luồng chính là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Nga và Đông Âu, giới cầm quyền Việt Nam cố níu kéo nó, dù không còn tự tin như trước nữa. Có điều, cách suy nghĩ cũ vẫn còn rất đậm nét trong đầu óc họ. Bất chấp Trung Quốc đối xử với họ thế nào, họ vẫn thấy gần gũi với Trung Quốc hơn hẳn các nước khác. Lý do: cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội.

Nhưng đó chỉ là một quan niệm đã lỗi thời. Mở đầu cuốn Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1983, Benedict Anderson đã chỉ ra điều đó: Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia vào năm 1978 và giữa Việt Nam và Trung Quốc vào đầu năm 1979 là hai cuộc chiến tranh lớn đầu tiên giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa trên thế giới (không kể các cuộc chiến tranh can thiệp vào nội bộ của nhau ở Đông Âu trước đó). Hai cuộc chiến tranh này cho thấy, trong quan hệ quốc tế, ý thức hệ, ngay cả những ý thức hệ được huyền thoại hóa, thậm chí, tôn giáo hóa, như chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, không quan trọng bằng ý thức dân tộc và quyền lợi quốc gia.

Bài học năm 1978 và 1979, một lần nữa, lại lặp lại trong những năm gần đây. Là hai trong năm quốc gia cuối cùng còn theo chủ nghĩa xã hội, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bất chấp những lời lẽ ngụy biện vụng về của Việt Nam, vẫn là một thứ quan hệ tranh chấp gay gắt. Trung Quốc không ngừng gây hấn và uy hiếp, thậm chí, đã thực sự xâm lược vùng biển của Việt Nam. Campuchia cũng vậy. Trên nguyên tắc, Campuchia không còn là quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng đảng do Hun Sen lãnh đạo và cũng là đảng đang cầm quyền hiện nay, Đảng Nhân Dân Campuchia, vốn là hậu thân của đảng cộng sản. Bản thân Hun Sen cũng là một người cộng sản, hơn nữa, lại là người được Việt Nam đưa lên nắm quyền. Năm 1984, khi còn là bộ trưởng ngoại giao, Hun Sen đã cho xuất bản cuốn sách lên án Trung Quốc thậm tệ: Tội ác chống Campuchia của giới lãnh đạo Trung Quốc (The Chinese Rulers’ Crimes against Kampuchea). Vậy mà, gần đây, trước sự ve vãn và mua chuộc của Trung Quốc, Hun Sen đã thay đổi hẳn thái độ: Ông và chính phủ của ông sẵn sàng bỏ rơi Việt Nam để ngả theo Trung Quốc, đóng vai một con cờ chính của Trung Quốc trong âm mưu phân hóa khối ASEAN và vô hiệu hóa nỗ lực của Việt Nam dùng khối ASEAN để giảm thiểu áp lực từ Trung Quốc. Tất cả những sự thay đổi ấy đều không liên quan gì đến ý thức hệ cả. Mà chỉ xuất phát từ quyền lợi.

Những chuyện như vậy, hầu như bất cứ người nào tỉnh táo và có suy nghĩ độc lập đều nhận ra.

Nhưng cái gì sẽ thay thế yếu tố ý thức hệ trong các quan hệ chính trị thế giới? Dĩ nhiên vẫn là kinh tế. Lý do liên kết cũng như phân hóa trong quan hệ giữa nước này và nước khác, nghĩ cho cùng, vẫn là do các quyền lợi kinh tế. Bàn cờ chính trị thế giới đang thay đổi và sẽ càng ngày càng thay đổi chủ yếu xuất phát từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc âm mưu xâm chiến các vùng biển ở phía nam cũng như phía đông nước họ chủ yếu cũng là để bảo đảm các con đường hàng hải phục vụ cho nền kinh tế nước họ. Các nước khác trong khu vực cương quyết chống lại âm mưu xâm lấn ấy cũng là để bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ (bên cạnh vấn đề ý thức dân tộc).

Nhưng kinh tế lại gắn liền với địa lý, do đó, chính trị cũng càng ngày càng gắn liền với địa lý, từ đó, hình thành khái niệm địa-chính trị (geopolitics) để chỉ mối quan hệ tương tác giữa các quyền lợi và chính sách quốc gia, giữa từng quốc gia và khu vực cũng như giữa khu vực và toàn cầu.

Từ góc nhìn địa-chính trị, không có quốc gia nào thực sự cô lập và có khả năng phát triển một cách cô lập. Mỗi quốc gia đều chịu sự tương tác với các quốc gia khác. Colin S. Gray, giáo sư về quan hệ quốc tế và nghiên cứu chiến lược của Mỹ, cho mọi sinh hoạt chính trị, tự bản chất, đều là địa-chính trị vì chính trị nào cũng đều diễn ra trong một bối cảnh địa lý nhất định.

Lâu nay, chúng ta vẫn có thói quen nhìn và giải thích chiến tranh Việt Nam thời 1954-75 từ góc độ tinh thần dân tộc (thống nhất đất nước) và ý thức hệ (phát triển chủ nghĩa xã hội trong cả nước). Thật ra, nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh ấy, cũng như chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia và Việt Nam và Trung Quốc chính là yếu tố địa-chính trị. Không phải ngẫu nhiên Mỹ chọn miền Nam Việt Nam làm một tiền đồn trong trận tuyến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản (xin nhớ đến thuyết domino phổ biến thời ấy). Cũng không phải ngẫu nhiên mà, trong thời kỳ đầu của chiến tranh, không phải Liên Xô mà chính Trung Quốc mới là nước giúp đỡ miền Bắc nhiều nhất: Họ cần miền Bắc làm tấm đệm che chắn biên giới của họ. Càng không phải ngẫu nhiên, sau đó, đặc biệt sau 1975, Liên Xô lại tích cực giúp đỡ Việt Nam: Họ cần bao vây Trung Quốc, đối thủ chính của họ.

Những gì xảy ra trong quá khứ càng sẽ lặp lại trong hiện tại bởi, do xu hướng toàn cầu hóa, vai trò của địa-chính trị càng nổi bật. Chính trị Việt Nam sẽ không phải và thực chất không thể chỉ được quyết định bởi người Việt Nam. Việt Nam chỉ là một khâu trên bàn cờ chính trị rộng lớn của thế giới, ở đó, nó có hai chức năng chính: một là tồn tại một cách độc lập; và hai là đóng vai làm quân bình cán cân quyền lực trên thế giới. Không phải lúc nào hai chức năng ấy cũng song hành với nhau. Chỉ cần một chút vụng về hay yếu đuối của giới lãnh đạo, chức năng thứ hai có thể sẽ lấn át hoàn toàn chức năng thứ nhất: trong trường hợp ấy, Việt Nam chỉ còn là một con cờ thí của người khác. Tuy nhiên, không thể nhân danh chức năng thứ nhất để hư vô hóa chức năng thứ hai: Khi thế giới đã là một mạng lưới, không ai có thể thoát khỏi ảnh hưởng của sự tương tác, đặc biệt từ các cường quốc. Ở đây, vấn đề là sự quân bình. Để đạt được sự quân bình ấy, cần hết sức khôn ngoan.

Ý niệm địa chính trị khá phức tạp. Một dịp khác, chúng ta sẽ phân tích tiếp. Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh một điểm: Một suy nghĩ mang tính chiến lược cho tương lai Việt Nam không thể không lưu ý đến sự tương tác giữa Việt Nam và các nước trong khu vực cũng như của nền chính trị toàn cầu.


Đinh Xuân Quân - Đọc “Bên Thắng Cuộc” hay Quá Trình Phá Hoại Kinh Tế Miền Nam


Tiến sĩ Đinh Xuân Quân

Quyển sách 'Bên Thắng Cuộc' của Huy Đức đã, đang và sẽ tạo nhiều tranh luận cho người đọc trong và ngoài nước. Hiện nay quyển sách này mới chỉ có thể mua trên Amazon (phiên bản tin học). Cuốn 1, có tên là Giải Phóng, gồm 2 phần và 11 chương:


Phần I: 
Chương 1: Ba Mươi Tháng Tư - Miền Nam - Đi từ bưng biền - Xuân Lộc - Tướng Big Minh - Trại Davis - Nguyễn Hữu Hạnh - Sài Gòn trong vòng vây  - Xe tăng 390 - Đầu hàng - Tuẫn tiết; Chương 2: Cải tạo  Những ngày đầu  “Ngụy Quyền” - “Ngụy Quân”  - “Đoàn tụ”  - “Phản động”  - Tù và cải tạo - “Thăm Nuôi” - “Học Tập”; Chương 3: Đánh tư sản  “Chiến dịch X-2” - Đổi tiền - “Gian thương” - “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh” Hai gia đình tư sản - Kinh tế mới; Chương 4: Nạn Kiều  Đội quân thứ năm  Hiệp định Geneva  “Chổi ngắn không quét xa” - Hoàng Sa - Sợ “con ngựa thành Troy” - “Nạn Kiều”  “Phương án II” - “Ban 69” - Vụ Cát Lái; Chương 5: Chiến tranh - Biên giới Tây Nam - Pol Pot - Đi dây - Khmer Đỏ và Campuchia dân chủ - “Kẻ Thù Lịch Sử” - Thất bại trong tấn công ngăn chặn (Pre-emptive War)  “Nhất Biên Đảo” - “Áo lính lại khoác vào ngay”; Chương 6: Vượt biên - “Vượt biên” - Từ “trí thức yêu nước” - Đến “thường dân” - Trước khi tới biển - Đường tới các trại tị nạn - Chương 7: “Giải Phóng” - Sài Gòn thay đổi - Kinh tế mới  Đốt sách - Cạo râu - “Cách mạng là đảo lộn” - Lòng người - Những người được sinh ra không đúng cửa - “Cánh cửa” Thanh niên Xung phong - “Nổi loạn” - “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở” -

Phần II: Thời Lê Duẩn  
Chương 8: Thống nhất  Nước Việt Nam là một - “Bắc hóa” - Chủ nghĩa xã hội - “Con đường của Bác” - “Mỗi người làm việc bằng hai” - Lê Duẩn và mối tình miền Nam - Chấp chính và chuyên chính - Chương 9: Xé Rào - Bế tắc - Mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng - Tháo gỡ - Nghị quyết Trung ương 6 - Bù giá vào lương - Cắm cờ xé rào - Khoán chui - Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn - “Ai thắng ai” - Chương 10: Đổi mới - Hội nghị Đà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử - Từ chính sách Kinh Tế Mới - Đến chọc thủng thành trì bao cấp  Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev  Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Đức Thọ - Phút 89 - Chương 11: Campuchia - “Pot ở đầu phum ta cuối phum”  “Xuất khẩu cách mạng” - Tư tưởng nước lớn - Bị cô lập - Phương Bắc - Hội nghị Thành Đô  - Campuchia thời hậu Việt Nam.

*

Đã có nhiều nhận xét về cuốn “Bên Thắng Cuộc” về phần chính trị, về những sai lầm trong nội dung, và chúng ta đã nghe một số chỉ trích, chê bai. Riêng đối với người viết này thì ta cần biết lịch sử cận đại VN qua nhiều phía kể cả về phần kinh tế. Muốn tranh đấu ta phải hiểu đối thủ và do đó phải tìm hiểu và phân tích những thành công và thất bại của họ ở chỗ nào?

Người ta nói lịch sử thường được viết theo những người thắng cuộc nhưng từ 1975 đến nay đã bao nhiêu tài liệu được giải mật và nay cuộc chiến tại VN được đánh giá qua nhiều khía cạnh mới. Người ta nói có sách, mách có chứng nhưng với điều kiện là sách viết đúng, không tuyên truyền. “Bên Thắng Cuộc” đã mang một ánh sáng mới cho những trang sử cận đại Việt Nam khi tác giả đã cố gắng có cái nhìn cân bằng – trung thực mặc dù thiếu phân tích.

Dưới khía cạnh kinh tế ta có thể xem cuốn sách như một nguồn tài liệu và có ghi lại nhiều điều hữu ích cho sự nghiên cứu lịch sử hay tài liệu tra cứu.  Nó cho thấy là chính các chính sách kinh tế ngây thơ “của một nền kinh tế tập trung bao cấp” đã phá kinh tế miền Nam. Và sự yếu kém về kinh tế vẫn tiếp tục đến ngày nay vì “tư duy” trên nền tảng kinh tế chỉ huy với não trạng rất hẹp hòi của giới lãnh đạo.

Cuốn sách được viết bằng giọng rất bình thản, khách quan, khác hẳn ký ức của nhiều người đã trải qua những tình huống cay đắng của bên thua trận, trong đó có người đang viết những dòng này. Những chính sách sau ngày 30/4/75 của những “đỉnh cao trí tuệ của Bộ Chính Trị” đã thực thi tại miền Nam, đã lộ rõ trong quyển sách này. Nó cho thấy những suy nghĩ thô sơ, hiểu biết quá lạc hậu về các vấn đề quản trị một đất nước, nhất là về quản lý kinh tế.

Thật vậy quyển sách có trên 3 chương (chương 3, 9 và 10) nói về kinh tế mà ta có thể gọi là “quy trình phá hoại kinh tế miền Nam” qua việc áp đặt một cách máy móc guồng máy “tập trung bao cấp” vào kinh tế. Chương 3 kể lại quy trình phá hoại kinh tế VN bởi tập thể Bộ Chính Trị qua việc cải tạo kinh tế. “Theo nhận thức của những người cộng sản, đánh đổ giai cấp tư sản là bước đi tất yếu, là nhiệm vụ của “cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Chưa đầy ba năm sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở miền Nam, các nhà doanh nghiệp, với tên gọi mới là “tư sản”, đã phải trải qua hai lần bị “đánh”.

Các “Chiến dịch X-2” ngày 10-9-1975, việc “Đổi tiền” ngày 22 và 23-9-75, khi đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới được coi là “chiến dịch” còn gọi là “X-3” trong đó mỗi hộ gia đình được đổi tối đa 100.000 đồng tiền với 500 đồng tiền VNCH ăn một đồng tiền mới Ngân hàng [nói theo kinh tế thì đây là một cuộc đổi tiền bóc lột].  Ngày 3-9-1975, Ngân hàng tuyên bố “Công khố phiếu (miền Nam) không còn giá trị”, [Chính quyền giải thích: “Các loại công khố phiếu dù của các ngân hàng hay của tư nhân là những giấy nợ của Nguyễn Văn Thiệu vay để thêm ngân sách cho guồng máy chiến tranh, nay Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ đã mang tiền của tháo chạy, Chánh quyền Cách mạng hiện đang quản lý tài sản của toàn dân]

Các chiến dịch “Đánh tư sản” - “Chiến dịch X-2”, việc đổi tiền (X-3), việc đánh “Gian thương” hay việc “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh.” Tác giả kể lại một cách bình thản một số sự kiện đã đưa đến sự phá hoại kinh tế miền Nam qua việc áp đặt các chính sách “XHCN” được áp dụng một cách ngây thơ – nếu không nói là mù quáng trong vấn đề cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam.

Chương 9 kể lại quy trình tìm mò các giải pháp kinh tế do những bế tắc của kinh tế tập trung bao cấp của VN qua việc “Xé Rào.” Chỉ mấy năm sau 1975, những người như ông Võ Văn Kiệt nhận ra là các chính sách cơ chế “tập trung quan liêu bao cấp” cho kinh tế thất bại và họ đã phải tìm cách “xé rào” để giải quyết các bế tắc của kinh tế VN. “Bên ngoài thì giặc dã, bên trong thì bức bối, đói kém, không khí càng trở nên ngột ngạt, nhất là từ giữa năm 1978. Lượng người bỏ nước ra đi càng lúc càng tăng, cỗ xe như đang lao xuống dốc mà không ai nhìn thấy chân phanh ở đâu…” Các bế tắc kinh tế do mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng và cách nào VN đã cố tháo gỡ các khó khăn kinh tế do việc áp dụng hệ thống “bao cấp” tại VN. [Ông Kiệt không phải chờ quá lâu để chứng kiến những gì mà chủ nghĩa xã hội mang lại cho Sài Gòn. Đại hội Đảng lần thứ IV đề ra mục tiêu: “Năm 1980 đạt ít nhất hai mươi mốt triệu tấn lương thực quy thóc, một triệu tấn thịt hơi các loại”.] Trên thực tế là, tại vựa lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, sau khi “cưỡng bức tập thể hóa”, sau khi máy cày, máy kéo của tư nhân bị đưa vào hợp tác xã, tập đoàn đã trở nên tàn phế, mặc kệ các chỉ tiêu Đại hội, sản lượng lương thực, thực phẩm giảm mạnh. [Nhưng gạo lại để ẩm mốc ở Long An trong khi dân Sài Gòn vẫn đói.] Quyển sách nói đến “Nghị quyết Trung ương 6” hay việc nhận ra nguyên nhân đất nước khó khăn là vì "những khuyết điểm chủ quan” và chủ trương xóa bỏ ngay những chính sách chế độ bất hợp lý, gây trở ngại cho sản xuất, khuyến khích việc phát triển sản xuất, … Chương này cũng nói về vấn đề xé rào và khoán chui và hai lần đổi tiền năm 1985. Quyển sách cũng nhắc lời của KS Dương Kính Nhưỡng (cựu Bộ trưởng của VNCH) một cách rất chí lý: cần phải có luật lệ mới quản lý được một đất nước.

Hậu quả các chính sách kinh tế “tập trung bao cấp” là “Cuộc sống của những người dân ở hậu phương cũng trăm bề khó khăn: Cây đinh phải đăng ký / Trái bí cũng sắp hàng / Khoai lang cần tem phiếu / Thuốc điếu phải mua bông / Lấy chồng phải cai đẻ / Bán lẻ chạy công an / Lang thang đi cải tạo / Hết gạo ăn bo bo / Học trò không có tập...” Nhờ tình trạng này cho nên chương 10 nói về Đổi mới - Hội nghị Đà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử Từ chính sách Kinh Tế Mới - Đến chọc thủng thành trì bao cấp Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev - Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Đức Thọ - Phút 89. Đây là quy trình tìm cách giải quyết các khó khăn của kinh tế VN.

Tác giả này trong bài (1) được viện ISEAS của đại học Singapore xuất bản đã chứng minh là đến 1972, không ai của “nhóm đỉnh cao trí tuệ” của BCT tại VN có một mảnh bằng bằng Đại Học.  Hậu quả của việc quản lý yếu kém của lãnh đạo có “Mác xít nhưng trình độ quá thấp” [đỏ hơn chuyên] là những tai hại mang đến cho đất nước VN.

Một điểm đáng lưu ý là tác giả Huy Đức đã dùng chữ Tuẫn Tiết để chỉ cái chết của các tướng lãnh miền Nam như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh, những người đã tự kết liễu đời mình vào thời điểm miền Nam sụp đổ. Theo tác giả thì nhiều quân nhân VNCH vô danh đã tìm đến cái chết trong danh dự những ngày sau đó.

Tác giả cũng đã trích dẫn huyền thọai về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hoàng Tùng dàn dựng. Chương Nạn kiều trong sách làm sáng tỏ việc tổ chức cho người Hoa vượt biên để gom vàng của nhà nước.  Phương án II cũng giúp chúng ta thấy bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra, trong sách ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Quyển sách cho thấy Đảng Cộng Sản là một tổ chức vô cùng tàn bạo mà lại rất yếu kém về chuyên môn. Người cộng sản VN mang bộ mặt đạo đức giả, mị dân, nhưng cũng có nhiều người cố gắng tìm giải pháp khi bế tắc.

Quyển sách này giúp hai phe (thắng và thua, nói tóm là dân VN) tái khẳng định sự thật qua những việc gì đã xẩy ra từ 1975 đến nay. Vì mù quáng hay ngây thơ theo một chủ nghĩa mà VN đã phải trải qua bao vấn nạn – bao khó khăn, hoàn toàn phá kinh tế miền Nam chỉ vì … “quá ngu xuẩn vì duy ý chí.”

Cái tên sách "Bên Thắng Cuộc" có lẽ cũng nói lên cái thâm ý của tác giả Huy Đức, là không coi sự thắng trận của miền Bắc là một cái gì quá vĩ đại và tuyệt đối. Hai chữ "thắng cuộc" cho người đọc cái cảm giác đó chỉ là một cái gì ở tầm cỡ nhỏ, tạm thời, trong khi dòng chảy phong  phú và đa dạng của lịch sử ngày càng cho thấy cái chính nghĩa lại thuộc bên thua cuộc là miền Nam. Nhân quyền, tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, ngôn luận, cư trú và về kinh tế v.v... là những đặc điểm vốn đã là nền tảng cho chế độ miền Nam, ngày càng là các đòi hỏi bức thiết của mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam hiện tại, sau gần 40 năm chế độ cộng sản được áp đặt cho cả nước, nhất là hiện tượng phụ thuộc vào Trung Cộng ngày càng rõ rệt, và việc "đảng đàn anh" đương nhiên coi Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Vào thời điểm này ai thắng ai thua không còn là điều quan trọng, mà việc tái khẳng định sự thật lịch sử, để từ đó sửa chữa các sai lầm và đưa đất nước đến độc lập, thịnh vượng và dân chủ mới là điều đáng quan tâm nhất cho tất cả người dân Việt Nam. Quyển sách này chính là bước đầu giúp việc đánh giá lại “giấc mơ XHCN” mà tác giả cho thấy đã mang bao tai họa cho dân VN. Người viết bài này cũng đã sống tại Việt Nam giai đoạn sau 1975, từ tù cải tạo đến việc bị phân biệt đối xử bị coi là loại công dân hạng hai, cho đến khi vượt biển tìm được tự do; và sau đó còn có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) nhằm giúp cải tổ hành chánh và kinh tế. Với các kinh nghiệm đã trải qua, người viết đánh giá là ngoài vài sai lầm nhỏ, quyển sách này đã cố nói lên được nhiều sự thật. Nó cần phải được đọc nhiều lần một cách cẩn thận, để hiểu được những gửi gắm của tác giả, trong khi chờ đọc nốt cuốn thứ hai của Huy Đức.

Ts. Đinh Xuân Quân

1. The Political Economy of the Vietnamese Transformation Process, Contemporary South East Asia, Volume 22, Number 2, Institute of South East Asia Studies, August 2000.

Võ Phiến - Chúng Ta Qua Tiếng Nói (1)


Võ Phiến

CÁI CỤ THỂ

Tiếng nói, một phương tiện

Người họa sĩ dùng màu sắc để diễn tả ý tình; nhà văn dùng ngôn ngữ. Chất liệu của hội họa khắp nơi dần dần thành đồng nhất; xưa kia, có kẻ dùng sơn mài, người dùng mực tàu, có xứ dùng sơn dầu trên bố, có xứ quẹt bút lông trên lụa v.v.; ngày nay các phương tiện riêng đều nhập làm của chung, họa sĩ nước nào cũng có thể mua cùng một loại màu để vẽ trên cùng một chất vải.


Dĩ nhiên, cùng một chất liệu không đưa đến cùng một nét vẽ: ai có cá tính nấy, dân tộc nào có tính cách riêng của dân tộc nấy. Dù sao, cái đặc thù không nằm ngay trong phương tiện diễn đạt.

Phương tiện của văn chương thì khác. Phương tiện ấy gần như không hẳn là một phương tiện.

Ngọn bút lông màu mực tàu có thể là những món thích hợp nhất để dân tộc này, chất sơn dầu để một dân tộc khác sử dụng hầu biểu hiện tâm hồn mình bằng màu sắc; hệ thống ngũ cung thích hợp cho dân tộc này, hệ thống tam cung tứ cung cho những dân tộc khác dùng biểu hiện tình ý bằng âm thanh. Đó là những phương tiện, có ít nhiều liên hệ với cá tính dân tộc. Nhưng tiếng nói thì không phải chỉ có liên hệ: Tự nó, nó đã là một công trình trong đó được biểu hiện nhiều nét đặc thù của dân tộc tính.

Dùng tiếng nói để phô diễn cảm nghĩ? — Tiếng nói của một dân tộc tự nó đã hàm ngụ lề lối cảm nghĩ của dân tộc ấy rồi. Thành thử người làm văn thơ có chỗ không giống các nghệ sĩ khác: người làm văn thơ bị hồn thiêng dân tộc đeo đuổi, ám ảnh, canh giữ, ràng buộc, qui định; mặt khác, người ấy được nó bảo vệ, dìu dắt, hướng dẫn, ngay bằng cái phương tiện sử dụng.

Viết bằng Việt ngữ là có Việt tính rồi. Hoặc ít hoặc nhiều, tự nhiên phải có.

Nghe nói hồi thế kỷ thứ XIII, Trần Cương Trung sang ta một chuyến, về Tàu kể lại trong sách Sứ Giao Châu tập đại khái rằng dân ta nói nhanh, giọng cao, giống như chim kêu, phong gọi là gió, vân gọi là mây, thủy gọi là nước, nam gọi là can đa (?), nữ gọi là can ái (con gái?) v.v...

Không biết viên sứ nhà Nguyên chú ý làm gì đến những chuyện vô vị như thế. Giữa tiếng ta và tiếng Tàu bộ không có chỗ nào khác nhau ngộ nghĩnh hơn sao?

Sau họ Trần, nhiều người nêu lên chuyện cú pháp chẳng hạn: Bên này nói “xanh trời” (thanh thiên), bên kia nói “trời xanh”, bên này nói “trời con” (thiên tử), bên kia nói “con trời”, bên này nói “nước đáy trăng hình” (thủy để nguyệt ảnh), bên kia nói “hình trăng đáy nước” v.v. Đôi bên đều có thể tự hỏi: “Không biết đầu óc những kẻ kia ra sao mà họ nói năng ngược ngạo vậy?”

Xét cách nói năng, dưới gầm trời còn lắm cái kỳ cục: Thay vì nói “Tôi thấy nó”, người Pháp bảo “Tôi nó thấy” (Je le vois); thay vì “Bà ta đang mua cuốn sách”, người Đức lại nói “Cuốn sách mua người đàn bà bây giờ” (Das Buch kauft die Frau jetzt) v.v.

Vị trí ngược ngạo của các tiếng trong câu chỉ là chuyện nhỏ nhặt trong sự dị biệt giữa các ngôn ngữ. Quái gở còn nhiều.

Chẳng hạn một số dân tộc, như người Pháp, cứ khăng khăng xếp cho kỳ được mọi sự mọi vật trên đời vào hai “giống”, hoặc cái hoặc đực: bàn (la table) thì cái mà ghế (le banc) lại đực! Người Đức, người Nga thấy sự vật có ba giống. Có những dân tộc chia ra đến hơn mười hai giống.

Lại chẳng hạn sự phân biệt bên nhiều bên ít trong tiếng Anh tiếng Pháp: Hễ muốn nói đến một sự một vật gì, trước tiên ông tây bà đầm phải biết sự vật đó thuộc phe nhiều hay phe ít; không biết điều đó, không thể nói nên lời. Bởi vì tiếng nói của họ dính liền với cái ý niệm nhiều ít: một người sẽ nói thì “parlera”, mà nhiều người sắp nói thì “parleront”. Ta bảo “cuốn vở”, người Pháp không có cách nào nói như thế được: “cahier” (không có s) bao gồm cả cuốn vở lẫn số lượng của nó. Cuốn vở Pháp không tự tách lìa ra khỏi số lượng được.

Đối với Pháp, Anh, thì một là ít, hai trở lên là nhiều. Tiếng cổ Do Thái có thời từng phân biệt: ít, cặp, và nhiều (singulier, duel, pluriel). Lại có dân tộc còn thấy phải tách số ba ra làm một hạng riêng biệt nữa (triel).

Thế rồi một sắc tộc ở vùng vịnh Hudson bên Hoa Kỳ nói tiếng eree, cho rằng sự phân biệt xa gần hết sức cốt yếu: kẻ gần nói với người xa thì “kitotèw”, kẻ xa nói với người gần lại là “kitotik”. Không để ý đến xa gần thì không sao diễn được cái ý “nói” nên lời! Cái gì mà lạ vậy?

Đối với người xứ này sự vật phải luôn luôn là đực hay cái, với người xứ nọ luôn luôn có nhiều ít phân minh, với người xứ khác luôn luôn chia ra hai hạng xa gần. Đối với chúng ta, những cái “nhảm nhí” ấy không một mảy may cần thiết.

Trên hoàn cầu có ba nghìn thứ tiếng: trong cái “thế giới ba nghìn” ấy, sự tréo cẳng ngỗng, trái nghịch nhau không biết kể sao cho hết. Vả cũng chẳng có ai biết hết để mà kể.

Vấn đề không phải là ai phải ai trái, ai hợp lý ai vô lý. Mọi ngôn ngữ đều có tính cách ước định; các từ vị được sắp xếp theo những cấu trúc khác nhau: có những cái không thấy cần thiết trong hệ thống sắp xếp này lại là cần thiết trong hệ thống khác.

Nhưng không phải trái, không phải là hết vấn đề. Các đặc điểm trong ngôn ngữ không tranh hơn thua với nhau, nhưng có một số nào đó chắc chắn có thể tiết lộ về ít nhiều xu hướng tinh thần riêng biệt của từng dân tộc. Tại sao ta sắp xếp câu nói theo lối này mà các người bạn nước láng giềng lại sắp xếp theo lối nọ? Tại sao ta chú trọng đến lãnh vực này và có một kho từ ngữ hết sức phong phú, trong khi dân tộc khác lại không quan tâm đến địa hạt ấy và lời lẽ để diễn tả rất nghèo nàn? v.v. Những chuyện ấy hẳn có ý nghĩa.

Hàng triệu triệu người trong muôn vạn năm đã kế tiếp nhau xây dựng một hệ thống ngôn ngữ, hết lớp này đến lớp khác, hết sáng kiến nọ đến tìm tòi kia, đem tất cả kinh nghiệm sinh hoạt của mình, tất cả tình cảm tư tưởng của mình ký thác vào đó: Làm sao mà một ngôn ngữ không phản ảnh nếp sống vật chất và tinh thần của dân tộc cho được. Không phải chỉ phản ảnh vào nội dung các công trình xây dựng bằng lời nói (tức các tác phẩm văn chương) mà phản ảnh ngay cả trong cấu trúc của câu nói, trong thành phần của lời nói, cũng có khi trong cách phát ra giọng nói nữa. Tức ngay trong bản thân của tiếng nói.

Alain cho rằng nhà thơ vì sử dụng ngôn ngữ cho nên được nhiều may mắn hơn nhà điêu khắc. Và không phải chỉ có người làm nghệ thuật được lợi thế, đến như nhà tư tưởng cũng nhờ vào ngôn ngữ của mình nhiều lắm. Aristote mỗi lần gặp chỗ rắc rối liền nhận thấy: “Đọc nghe không ổn.” Phải chăng hễ cứ viết thế nào mà lời lẽ sắp xếp cho thuận hợp với nhau, nghe ổn thỏa, là tự nhiên thành viết đúng? Bởi vì quy luật kết hợp của lời lẽ do cha ông truyền lại vốn bao hàm một ý nghĩa thâm trầm.(2)

Ngôn ngữ giúp thi sĩ viết hay, triết gia viết đúng: Alain có lạc quan quá chăng? Trong tiếng nói cha ông có gửi gắm sự khôn ngoan, dĩ nhiên là vậy. Nhưng ông Alain có nghĩ rằng trong đó cũng có phản ảnh cả những cái không khôn ngoan, và cả những cái trái với sự khôn ngoan? Tại sao không? Dân tộc nào dám chắc mình không có nhược điểm, ngôn ngữ nào không có những chỗ lẩm cẩm? Trong tiếng Anh, pants, trousers, breeches, shorts, slacks v.v. đều thuộc số nhiều cả. Áo số ít, quần thì số nhiều, tại sao vậy? Thật khó mà tin rằng có sự khôn ngoan lớn lao trong những chiếc quần thuộc số nhiều ấy.

Vậy trong tiếng nói có biểu lộ các sở trường mà chắc chắn cũng có cả những sở đoản của dân tộc. Kẻ nào am hiểu tường tận tiếng nói của mình thì biết được nhiều hơn là mình vẫn tưởng.

Cụ tượng, không lấy gì làm lạ  

“Kẻ nào am hiểu tường tận tiếng nói của mình”, kẻ ấy chắc chắn không phải là một người Việt Nam. Ngành ngữ học ở Âu Mỹ phát triển sớm và tiến xa hơn ở ta nhiều, thế mà câu nói về chuyện “am hiểu tường tận” của Alain còn là một lời ước ao. Còn chúng ta, xưa kia tiếng nói nôm na kẻ học thức không chịu dùng vào văn chương, nói gì đến việc nghiên cứu tìm hiểu nó? Chuyện ngữ pháp, văn pháp, văn phạm, mẹo tiếng Nam v.v. chẳng qua là những chuyện mới bắt chước theo... kiểu Tây cả.

Dù mới tìm hiểu không lâu đã có người nhận thấy tiếng nói của chúng ta có những đặc điểm lý thú.

Hơn ba mươi năm trước (3) , cụ Dương Quảng Hàm để ý thấy tiếng Nam giàu về các từ ngữ cụ tượng, nghèo về các từ ngữ trừu tượng, nhất là các từ ngữ thuộc phạm vi triết học và khoa học. Cụ Dương nhận xét: “Điều đó không lấy gì làm lạ, vì xưa kia các cụ chưa hề nghiên cứu đến các vấn đề triết học và các khoa học chuyên môn, nên chưa tìm tiếng, đặt tiếng để diễn đạt các tư tưởng ấy.” (4)

Cũng vấn đề từ ngữ cụ tượng ấy, về sau nhiều người khác (các ông Hoài Thanh, Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong v.v.) tiếp tục nêu ra những khía cạnh mới.

Một vài trường hợp thường được đưa ra làm thí dụ: Về cái ý mà người Pháp diễn tả bằng một tiếng “porter”, chúng ta dùng bao nhiêu là tiếng khác nhau: ẵm, bồng, đeo, đội, mang, xách, vác, bưng, bê, bế, khuân, chở, nách, cõng, gánh, quảy, khênh, địu...; về cái ý “trốn”, chúng ta phô diễn bằng bao nhiêu là tiếng khác nhau: dọt, tránh, lỉnh, lánh, lẻn, cút, xước, de, lặn, dù, xéo ...; về cái ý “la”, chúng ta có bao nhiêu là tiếng: hét, tru, kêu, thét, quát, gào, réo, rú, rống, ré, rít, reo v.v...

Thấy vậy mà bảo rằng tiếng Việt phong phú, các thứ tiếng khác nghèo nàn thì e không ổn, thì gặp rắc rối ngay. Bởi vì có những trường hợp khác người Việt dùng ít tiếng mà người Anh người Pháp lại diễn ra bằng nhiều tiếng khác nhau. Việt bảo “nói”, Anh, Pháp phân biệt ra: say, speak, lecture, talk, tell, address, chatter, gossip, converse, discourse v.v., hay parler, dire, bavarder, s’adresser v.v.; Việt chỉ gọi là “thịt”, Anh lại phân biệt ra meat với flesh, Pháp gọi tách riêng viande với chair v.v...

Khi người khác có ít tiếng mà Việt có nhiều, khi người khác có nhiều mà Việt lại chỉ có ít tiếng, những cái tưởng chừng mâu thuẫn ấy thực ra chỉ do một nguyên nhân: là Anh Pháp sở trường về cái trừu tượng, còn Việt Nam thì thiên về cái cụ thể. Người Việt Nam nói đội, vác, cõng... là vẽ ra nhiều hình ảnh khác nhau mô tả những điệu bộ, cử chỉ, cách thế khác nhau: hoặc mang một vật trên đầu, hoặc mang vật ấy trên vai, hoặc mang vật ấy trên lưng v.v...; nhưng người Việt Nam không rút ra được từ bao nhiêu động tác khác nhau ấy một khái niệm chung là: nhấc một vật lên. Người Việt phân biệt ra nhiều dạng thức cụ thể khác nhau, còn Anh Pháp thì từ nhiều dạng thức linh tinh họ rút ra một ý niệm chung. Do đó trong những trường hợp này họ dùng ít tiếng mà Việt dùng nhiều. Trái lại, cũng chính vì lý do ấy mà ở trường hợp các tiếng nói, và tiếng thịt, Việt với Anh Pháp lại khác nhau. Giữa talk với speak, với tell v.v., giữa viande với chair, không có sự khác biệt về dạng thể, chỉ có sự khác biệt về ý nghĩa. Ấy, chính sự phân biệt về những ý niệm trừu tượng ấy là chỗ yếu của Việt Nam, chúng ta không để ý đến, chúng ta bỏ qua!

Một bên chú trọng đến dạng thái nên sử dụng nhiều tiếng để chỉ thị những dạng thái cụ thể khác nhau; một bên chú trọng đến ý niệm nên có nhiều tiếng để chỉ thị những ý niệm trừu tượng khác nhau. Và ở những trường hợp vừa dẫn trên đây không hề có vấn đề triết học, khoa học chuyên môn nào cả; tự dưng chúng ta thiên về cái cụ tượng trong khi có những dân tộc khác thiên về cái trừu tượng vậy thôi.

Lẽ nào “điều đó không lấy gì làm lạ”?

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.”

Nước sông Hoàng Hà trong câu thơ Tàu tha hồ có thể đáo Nam Hải, đáo Bắc Hải, đáo Đông Hải v.v..., tiếng đáo vẫn thích hợp như thường.

Nếu có một con sông như thế chảy trong câu thơ Việt thì mỗi sự đổi hướng của nó sẽ gây chuyện phiền toái hơn: “Chảy ra bể Bắc, chảy vào bể Nam, chảy xuống bể Đông v.v.”, phải nói vậy mới nghe được.

Ngồi tại Sài Gòn, một người nói tiếng Việt có thể khiến bạn bè bật cười vì những lỗi lầm như: “Tôi vừa ra Chợ Lớn, vào Sài Gòn, xuống Lăng Cha Cả, lên Cần Thơ v.v.” Kẻ xài tiếng Tây tiếng Mỹ không gặp những rắc rối ấy.

Kể ra người Việt cũng có thể nói: đi Sài Gòn, đi Cần Thơ, đi Chợ Lớn v.v., không cần chỉ rõ phương hướng di chuyển, cũng như người Pháp nói “aller à”, người Mỹ nói “go to”... tứ phương vậy. Nhưng thường thường người Việt thông thạo lại không chịu cách nói dễ dãi ấy.

Kẻ nói ra, vào, lên, xuống, mô tả rõ ràng, cụ thể sự di chuyển. Còn dùng tiếng à, tiếng to lại chứng tỏ một khả năng trừu tượng, rút ra một ý niệm chung ngụ trong những tiếng chỉ chiều hướng khác nhau.

Ở đây cũng chẳng có vấn đề triết học, khoa học chuyên môn gì ráo. Chúng ta như từng có trong đầu một hình ảnh quá cụ thể về sự di chuyển trong không gian, vậy thôi.

Lẽ nào “điều ấy lại không lấy gì làm lạ”?

Gọi bằng em

Lại nữa, khi người Pháp nói: “Elle est belle”, chúng ta không biết dịch ra làm sao cho phải. “Cô ấy đẹp” chăng? Không chắc đâu. Elle là cô ấy, cũng có thể là bà ấy, là bà cụ ấy, là dì ấy, thím ấy, chị ấy, nàng ấy, mợ ấy v.v.

Tiếng elle của Pháp thuộc một tự loại mà chúng ta có người gọi là nhân vật đại danh từ, có người gọi là ngôi tự. Trong Pháp ngữ mỗi ngôi chỉ có một vài tiếng để chỉ chung các nhân vật thuộc số ít, và một tiếng chỉ các nhân vật số nhiều. Trong Việt ngữ mỗi ngôi dùng không biết bao nhiêu là tiếng khác nhau.

Đại danh từ là tiếng thay thế cho danh tự, nhưng chúng ta lại không muốn cho danh tự bị thay thế. Một tiếng “vous” thay thế tất cả mọi danh từ ở ngôi thứ hai trong Pháp ngữ. Ở ta thì không hề có một tiếng nào được phép đại diện rộng rãi như vậy; chúng ta vẫn xưng hô phân biệt: anh, ông, chị, bà, quí ngài, các cháu, cô, dượng, v.v.

Ở đây lại có vấn đề tiếng cụ tượng nữa.

Trong những cô, bác, ông, anh, v.v. nọ, mỗi người có hai tư cách: một là cái tư cách của nhân vật có liên hệ thân thuộc, có quan hệ tôn ti với ta; một nữa là cái tư cách của kẻ đối thoại với ta. Trong tư cách sau này, họ bình đẳng với nhau, họ là “vous” như nhau.

Nhưng để gọi “vous”, phải vận dụng óc trừu tượng để rút ra từ bao nhiêu nhân vật khác nhau nọ một tư cách giống nhau. Chúng ta không làm công việc ấy trong khi nói năng.

Đến đây chợt nhớ Hồ Dzếnh. Ông từng có mấy câu buồn bã:
(...) Con người tôi gọi bằng em
Nhớ tôi nhưng đã thành duyên lâu rồi
Mộng tàn nước chảy mây trôi
Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa (...)

Hồ Dzếnh chỉ có một nửa dòng máu Việt Nam trong người nhưng ông đã thấm thía sâu xa cái ngôn ngữ của quê ngoại.

Con người được gọi bằng em, tất nhiên đó không phải là một người em. Và “gọi bằng em” là một cái gì quan trọng, là một giá trị tình cảm không nói sao cho xiết. Thoạt tiên ắt gọi là cô, mãi sau bao vất vả mới gọi nhau được bằng tên (hoặc Loan, hoặc Phượng, hoặc Thúy, hoặc Thoa...), rồi mới được gọi bằng em. Tiến từng cung bực thân yêu, mặn nồng. Từng cung bực rung động khác nhau nơi người nói và kẻ nghe. Không sao?
Lần đầu tiên gọi nhau bằng anh, bằng em, bằng cưng, bằng mình, lần đầu tiên tự xưng bằng anh bằng em, ôi chao! sung sướng đến rùng mình, rợn cả người, đê mê tâm thần, máu bốc lên đỏ cả mặt mày, xúc động mạnh từ thể xác đến tâm hồn chứ phải chơi đâu. Vì thế ở đời thỉnh thoảng vẫn có kẻ chưa được hưởng tình thân với người đẹp nhưng cũng đánh liều gọi tiếng “em” để ăn gian một khoái cảm. Khi gọi em, tự cái tiếng gọi nó đem tức thì đến cho mình một cảm xúc. Tức thì. Cho nên “con người tôi gọi bằng em”: Khỏi cần nói người ấy với tôi quan hệ như thế nào. Biết tôi gọi ra sao, thế là đủ. Tiếng gọi sao mà huyền diệu. Khác với tiếng you biết chừng nào!

Do đó từ Hồ Dzếnh lại nghĩ sang hoàn cảnh hôn nhân dị chủng, đến những cặp vợ chồng gọi nhau bằng you. Vợ thì có đấy nhưng không có “em”, chồng thì có đấy mà mình không xưng “em” được: mỗi một ngày biết bao lần thiệt thòi, mất mát. Mơ tưởng đến cái tiếng “em” không bao giờ được gọi được xưng, ối trời! Thì vẫn là người ấy, nhưng gọi “you” thì còn đâu tình cảm nữa; gọi thế là rốc cạn em đi, là làm rỗng cả em mất rồi. Ngôi thứ hai! cái “ngôi” sao mà vô vị. Ngôi này ngôi nọ, thảy đều là ý niệm, là sự bịa đặt của lý trí. Tư cách người đối thoại, cái tư cách gì mà chung chung, mà nhạt nhẽo thế? So sánh làm sao được với “em”, vốn chỉ thị một đối tượng cụ thể trong một quan hệ nồng nàn.

Người Việt Nam không xưng hô với các ngôi, với những tư cách trừu tượng; chúng ta nói với những con người cụ thể, nói về những con người cụ thể. Bởi vì mỗi tiếng xưng hô chỉ thị một nhân vật cụ thể cho nên mỗi tiếng phát khởi một tình cảm rõ ràng: yêu đương, trìu mến, hận thù, tôn kính, khinh khi v.v... Tiếng xưng hô dính liền với một hình ảnh cụ thể, cho nên trong tiếng xưng hô có một chứa đựng tình cảm tương ứng với hình ảnh ấy.

Xưng người như vậy mà tự xưng mình cũng vậy: hoặc cháu, hoặc tôi, hoặc tao, hoặc mỗ, hoặc ta, hoặc thằng này, hoặc kẻ hèn này v.v.: mình tự trình diện dưới những tư thế, dạng vẻ khác nhau, khi ôn nhu khép nép lúc dõng dạc oai vệ... “Này, cho mày biết: trêu vào bà, bà cho tan xác đấy nhá!” Cái ngôi thứ nhất trong tiếng “bà” vụt lớn lên, dữ tợn không ngờ. Giả sử vẫn người ấy vừa mới thỏ thẻ em em anh anh với chồng thì ta thấy ngay cái hiệu quả của ma lực ngôn ngữ cụ thể thật là kỳ diệu: “Còn em đâu nữa mà bà đấy thôi”. Từ một hình ảnh ngoan hiền thoắt cái biến sang một hình ảnh đanh ác. Đại danh tự như “je”, như “I”..., những cái trừu tượng ấy không dựng lên hình ảnh nào hết.

Khi dân tộc ta bắt đầu tiếp xúc với dân tộc Trung Hoa thì trình độ văn hóa ta thấp hơn văn hóa họ, xã hội ta tổ chức kém xã hội họ. Người Tàu đã đưa vào ta một số kỹ thuật mới, tất nhiên cũng đưa sang ta cả những từ ngữ mới liên quan với kỹ thuật ấy. Cũng như thế, ta học được của người Tàu nhiều điều về tổ chức chính trị từ cơ sở lên đến trung ương, và đồng thời ta mượn luôn của họ những từ ngữ thuộc sinh hoạt chính trị: xã, thôn, hương, lý, triều đình, quan, dân v.v. Ta học của họ nhiều kiến thức và đồng thời cũng nhiều từ ngữ về triết học, tôn giáo, y thuật: âm, dương, liêm, sỉ, thiện, ác, tạng, phủ, hư, thực v.v.

Tuyệt đại đa số những tiếng chỉ về tư tưởng, học thuật, về sinh hoạt chính trị, kinh tế v.v. là những tiếng mượn của người Tàu, và cũng là những tiếng trừu tượng. Như thế không lạ.

Nhưng cái lạ là có những chuyện không liên quan gì đến học thuật, tư tưởng, chính trị v.v., những chuyện mà trước khi gặp người Tàu đầu tiên dân tộc ta vẫn làm, vẫn nói đến, thế mà ở những chuyện ấy các dân tộc khác có những lối nói chứng tỏ một óc trừu tượng, trong khi lối nói của chúng ta biểu lộ một khuynh hướng thích cái cụ thể.

Trong trường hợp các tiếng ẵm, bồng, khuân, vác, trốn, lỉnh, hò, hét, la, kêu v.v., cũng như trong trường hợp ra, vào, lên, xuống..., cũng lại như trong trường hợp xưng hô về ngôi nọ ngôi kia, chúng ta thấy có một thiên năng về cái cụ tượng hiển hiện trong Việt ngữ ngay từ trước khi có sự can thiệp của ảnh hưởng Hoa ngữ. Chúng ta đâu có chờ đợi đến lúc gặp mặt người Tàu mới quyết định lối xưng hô trong khi trò chuyện?

Tiếng nói của cảm quan

Nhiếp ảnh gia Mỹ đưa máy ảnh lên và nhắc: “Cheese!” để khách hàng cười cho tươi. Người khách hàng Việt Nam không cần phát âm cái tiếng có ý nghĩa xa lạ với niềm hân hoan như thế. Chúng ta chỉ cần mở miệng nói: “Cười”, thế là nụ cười đã nở ngay trên môi.

Chúng ta không thể nói “ngậm” mà hở miệng, nói “nhăn răng” mà khép mồm giấu răng giấu lợi được. Chúng ta không nói để gọi tên một động tác, mà nói để biểu diễn luôn cả cái động tác ấy cho người khác thấy hiển hiện trước mắt. Khi nói “khạc” thì ta khạc, nói “nhổ” thì mồm ta nhổ, nói “hút” thì ta hút vào, nói “phun” thì ta phun ra, nói “nuốt”, nói “ọe”, nói “hả” v.v. đều thế cả. Lắm khi thật ngộ nghĩnh: Nói cười “ha hả” thì miệng ta mở toang mà bảo cười “mỉm” thì miệng ta lại ngậm hàm tiếu! Nói rằng cửa “mở” thì miệng cũng mở theo, mà bảo cửa “khép” tức thì môi người cũng khép lại. Trông theo miệng người Anh người Pháp lúc phát âm ra các tiếng rire, sourire, open, close, ouvrir, fermer v.v., đâu có thế? Cách nói của Việt Nam trong nhiều trường hợp không phải chỉ là phát ra một ký hiệu âm thanh. Mà là biểu diễn cả một dạng thể.

Người Việt Nam khi phát âm thì miệng mồm biểu diễn sự việc mà cái âm của tiếng nói tự nó cũng mô tả sự vật nữa.

Chúng ta thường khen trong Truyện Kiều có nhiều câu thơ mà âm thanh có giá trị mô tả cao. Chẳng hạn: “Vó câu khập khễnh, bánh xe gập ghềnh”. Hai tiếng “khập khễnh” và “gập ghềnh” tự nó diễn tả tình trạng con đường rõ ràng hơn bất cứ cách định nghĩa nào tìm thấy trong tự điển.

Tất nhiên một câu thơ như thế chứng tỏ thiên tài rực rỡ của Nguyễn Du, nhưng phải nhận rằng cái tài ấy đã nương cậy rất nhiều vào thiên năng đặc biệt của dân tộc, tôi muốn nói đến đặc điểm của Việt ngữ. Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, những kẻ không có năng khiếu nào về thi ca cũng sử dụng những tiếng có giá trị mô tả rất tinh. Chẳng hạn:
“Thằng nhỏ trông lí la lí lắc, khó thương quá.

Ông ấy đi đứng sao mà ưỡn à ưỡn ẹo, không nghiêm chỉnh tí nào.

Lạ thật, bà nọ đẫy đà mà sanh ra con cái đứa nào cũng loắt choắt v.v.”

Không cần ai giải nghĩa những chữ lí la lí lắc, ưỡn à ưỡn ẹo, loắt choắt; cứ nghe tiếng nói phát ra là chúng ta đã hình dung được những dạng thái ngụ trong ấy rồi.

Ông Đàm Quang Hậu (5) đã chú ý đến khả năng gợi tả của các âm trong Việt ngữ. Tóe, xòe, loe, toe, toét, loét, khoe...: âm oe đọc lên gợi ra hình ảnh một cái gì mở rộng. Eo, teo, quắt queo, cheo leo, lèo khèo v.v.: âm eo diễn tả cái gì thắt lại. Khi đọc âm ong thì môi phải cong miệng phải phồng; cho nên các tiếng quả bóng, cái lọng, cái nong, chiếc vòng v.v. đều ngụ ý cong và phồng. Khi đọc âm oi thì phải hắt hơi ra; cho nên các tiếng thòi (ra), lòi (ra), cái ngòi, cái vòi, nhoi (lên) v.v. đều ngụ ý ngoi ra. Các tiếng quát, quạt, quất, quật, quăng, quẳng v.v. đều hàm ý cứng cỏi, không phải là không liên quan với phụ âm nổ qu. Các tiếng mềm mại, mịn, mượt, mướt, mơn mởn, mỡ v.v. đều hàm ý mềm, không phải là không liên hệ với phụ âm lỏng m.

Cũng về trường hợp các âm, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (6) nghĩ rằng Tàu có 214 bộ trong phép viết, hoặc giả ta cũng có một số vần gốc làm căn bản cho phép nói chăng? mỗi vần biểu thị một khái niệm gì đó. Chẳng hạn vần ắt trong các tiếng cắt, chặt, gặt, ngắt, vặt, xắt v.v.

Ở đây có chỗ cần lưu ý: là mối liên hệ giữa các chữ cùng một bộ trong Hoa ngữ căn cứ trên một sự phân loại theo lý trí, còn mối liên hệ giữa các tiếng cùng âm của Việt ngữ lại căn cứ trên cảm nhận của giác quan. Các chữ ngôn , luận, ngữ, nghị cùng có bộ ngôn; đó là kết quả một suy luận về các ý nghĩa trừu tượng của chúng. Trong khi ấy tròn, lon, hòn v.v. mà đồng âm với nhau là kết quả của sự gần nhau về dạng thái những gì cụ thể do cảm quan ghi nhận.

Ông Phan Văn Hùm lại chú ý đến các thanh: “Vì giọng hỏi là một giọng gãy, nhưng mà còn dịu, nên chi những tiếng nào nó đã ghi là có nghĩa nhẹ, hoặc ngắn, hoặc nhỏ, hoặc dễ v.v. Còn giọng ngã, vì gãy mà chìm, nói phải ráng đưa hơi từ trong ngực ra, nên chi những tiếng nào nó đã ghi là có nghĩa nặng, hoặc dài, hoặc lớn, hoặc khó, hoặc bền v.v.” (7). Do lẽ ấy, ông Phan bảo hai chữ mỏng mảnh không thể có dấu ngã được; còn những chữ nặng trĩu, dài nhẵng, phải đánh dấu ngã.

Cũng về các thanh, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cảm thấy giọng ngang có ý ngang ngang chưa quyết định; giọng sắc có ý mạnh mẽ, gắng sức; giọng nặng có ý nặng nhọc, chìm hẳn xuống.

Còn ông Maurice Durand, thì nghiên cứu tỉ mỉ, công phu về khả năng gợi tả của tiếng Việt, cả các âm cũng như các thanh (8).

Để nói về loại tiếng nọ, ông M. Durand dùng một tự ngữ mà chúng ta có kẻ dịch là cảm từ, có người dịch là tiếng biểu cảm.

Cái thực lạ: ở khắp nơi, tiếng nói chẳng qua là những dấu hiệu ước định để biểu ý; ở ta nó lại có giá trị biểu cảm.

Đành rằng trong ngôn ngữ các dân tộc khác có loại nghĩ thanh từ (onomatopée) bắt chước thiên nhiên, nhưng số tiếng ấy chẳng có là bao, và “bắt chước” là chuyện quá thô sơ so với lối gợi tả của tiếng biểu cảm trong Việt ngữ. Gần chúng ta như người Tàu người Ấn, xa chúng ta như bên Âu bên Phi, cho đến nay chưa nghe nói có dân tộc nào dùng nhiều tiếng biểu cảm như ta.

Thiên hạ nói là phát ra những tín hiệu bằng âm thanh; còn chúng ta nói là gợi lại tiếng động, là vẽ ra hình tượng, là truyền cho nhau những cảm giác sống động. Chúng ta nói, kẻ tiếp nhận không phải chỉ hiểu ý nghĩa, mà còn cảm được nội dung của điều phát biểu, mường tượng ra hình ảnh những sự vật được đề cập. Nói bằngViệt ngữ tức là mô tả một cách cụ thể bằng âm thanh.

Có lần học giả Granet nhặt trong tiếng Trung Hoa được ba trang lớn tiếng đôi (như quan quan, yêu yêu, hoàng hoàng, âm âm v.v.) ông lấy làm thích thú về những điệp ngữ ấy lắm. Ông cho rằng những cặp chữ đôi ấy gợi lên cái gì cụ thể như những bức họa bằng lời (comme de véritables peintures vocales).

Granet có lý: Khi ta nói chậm, chậm có thể mang một nghĩa ước định. Nhưng khi ta nói chầm chậm, thì âm thanh của tiếng nói mô tả động tác, khả năng tác động của từ ngữ ấy vượt ra ngoài ý nghĩa ước định. Tiếng điệp ngữ quả là có giá trị minh họa. Và những bức họa tài tình như thế chồng chất đầy nghẹt cả kho ngôn ngữ Việt Nam. Nếu sưu tầm, chúng ta không phải chỉ có ba trang giấy mà là trùng trùng điệp điệp, bởi vì gần như mọi tĩnh từ trong Việt ngữ đều có thể biến thành tiếng đôi: Trong Truyện Kiều có mấy câu mà chúng ta ai nấy đều biết:
“Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối gành bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đàng
Rầu rầu ngọn có nửa vàng nửa xanh”.

Cụ Nguyễn Du làm thơ, nghe mà ham! Dám chắc thi sĩ mọi quốc gia trên thế giới đều ao ước được sử dụng một thứ tiếng có nhiều điệp ngữ biểu cảm như tiếng Việt.

Làm thơ mà biểu cảm được là hay; nói lời nói thường mà cũng biểu cảm được thì thật là tuyệt vời. Có ai mở miệng nói mà không muốn truyền thẳng cảm xúc của mình cho người nghe; nhưng mấy ai muốn mà được? Từ cái cảm xúc trong lòng, cái hình ảnh trong trí, cho đến những ký hiệu dùng để diễn tả, sự cách biệt quá xa. Nói bằng ký hiệu làm nghèo hẳn cảm xúc, nghèo hẳn cái nội dung được nói đến.

Dường như A. Daudet có viết đâu đó về tình cảnh bất lực thảm thương của người văn sĩ: điều hắn ôm ấp trong lòng thật linh động, phong phú, nhưng tác phẩm hắn viết ra chẳng diễn tả được bao nhiêu; giống như con sứa ngoài khơi Địa Trung Hải đẹp đẽ chừng ấy mà giạt vào bờ nó teo tóp lại, vớt lên chỉ còn tí xíu trên tay!

Nói bằng tiếng “biểu cảm” là cách nói lạ lùng nhất, là chộp con sứa ngay giữa bể khơi, là “truyền thần” được những hình ảnh, cảm xúc: lí la lí lắc, loắt choắt, ưỡn ẹo, nao nao, sè sè v.v., đó không phải là thực tại, là sự sống được trực tiếp “truyền thần” lại bằng âm thanh sao?

Nói bằng tiếng biểu cảm cũng lại là cách nói thật tài tình. Là làm nghệ thuật.

Tiếng biểu cảm khác với tiếng ước định cũng như bức vẽ khác với chữ viết. Ghép ba mẫu tự c, â, y — ba dấu hiệu ước định — để làm thành một chữ vô hồn, thật xa với việc vẽ ra bức tranh cây để gửi vào đó sự rung động của mình.

Thành thử viết chữ và dùng tiếng ước định, ai cũng làm được; còn vẽ tranh và đặt ra tiếng biểu cảm là chuyện khó khăn hơn nhiều, chỉ có những hạng nghệ sĩ mới làm nổi. Theo Đoàn Phú Tứ, phải nghệ sĩ như trẻ con, như quần chúng quê mùa dốt nát. Và, dĩ nhiên, như Đoàn Phú Tứ nữa: bài ‘Màu thời gian’ là một biểu diễn xuất sắc về cái khả năng gợi tả của Việt ngữ.

Cũng như ở mọi ngành nghệ thuật khác, người nghệ sĩ nói tiếng nói biểu cảm phải có những cảm giác tươi tắn. Đời sống cảm quan phong phú, cái trực giác làm bật ra những âm thanh thích hợp tương ứng với những cảm giác nọ không phải sở trường của hạng trí thức vùi đầu vào sách vở (9). Tiếng nói đặc biệt của chúng ta không phải là công trình của lý trí mà là của cảm quan. Nó là kết quả của một đời sống thiên về những cảm quan tươi tắn, mạnh mẽ, dồi dào; nó nói thẳng với cảm quan.

Thế giới của cảm quan là cái thế giới hữu hình, khả xúc, khả giác, cụ tượng. Là cái thế giới của tiếng nói kỳ diệu của chúng ta.

(Còn tiếp)

1. Tiểu luận này được viết dần, đăng trên các tạp chí Thời Tập và Văn ở Sài Gòn trong các năm 1973–75. Biến cố tháng 4-75 làm gián đoạn, tác giả ra đi không mang được tài liệu theo để tiếp tục công việc. Mười ba năm sau — tháng 7-1988 — các ý kiến cũ được trình bày trong một hội nghị ở Adelaide (Úc châu); và đoạn kết của bài nói chuyện hôm ấy được dùng để tạm kết thúc loạt bài này. Toàn thiên tiểu luận đã được in vào cuốn Tiểu luận, do nhà Văn Nghệ xuất bản tại Hoa Kỳ cuối năm 1988. 
2.  “Bien écrire n’est-ce pas développer selon l’affinité des mots, qui enferme science profonde?” (Alain, Préliminaire à l’esthétique).
3.  Bài này được viết vào năm 1973. 
4. Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu in lần thứ 10, năm 1968, trang 407. 
5. Danh từ chuyên khoa trong Việt ngữ , Huế, 1958. 
6. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, 1963.
 7.  Dẫn theo Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, sđd, trang 115. 
8.  ‘Les mots impressifs en Vietnamien’, trong Bulletin de la société des études indochinoises, bộ mới, tập XXXVI, số 1, 1961.  
9. Đoàn Phú Tứ, bài ‘Âm thanh’ trong tạp chí Thanh Nghị, số 14, ra ngày 1-6-1942.