Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Nguyễn Hưng Quốc - Văn hóa và tham nhũng


Nguyễn Hưng Quốc

Tham nhũng là một hiện tượng vô cùng phức tạp, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước, phần lớn giới nghiên cứu chỉ chú ý đến hai nguyên nhân chính: kinh tế và chính trị. Về kinh tế, nói chung, có hai quy luật chính: một, nước có thu nhập trên đầu người càng cao càng ít tham nhũng; và hai, trong khi thu nhập dựa trên kỹ nghệ làm giảm thiểu tham nhũng, ở những nơi thu nhập chủ yếu dựa trên tài nguyên thiên nhiên (như dầu lửa, chẳng hạn) thì tham nhũng không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng trầm trọng hơn những nơi khác.


Về chính trị, nói chung, cũng có mấy quy luật chính: một, quốc gia càng dân chủ, càng minh bạch và càng tự do, đặc biệt tự do ngôn luận, tham nhũng càng ít; hai, tính chất dân chủ ấy càng lâu đời và càng ổn định, tham nhũng lại càng ít (ngược lại, như nhiều nước Đông Âu sau 1990 chứng minh, trong quá trình chuyển tiếp từ độc tài đến dân chủ, nạn tham nhũng càng hoành hành dữ dội hơn hẳn trước đó); và ba, hầu hết các nước độc tài đều tham nhũng, nhưng mức tham nhũng mỗi nơi mỗi khác: độc tài dựa trên ý thức hệ ít tham nhũng hơn độc tài dựa trên gia đình hoặc cá nhân. Gần đây, ngoài hai nguyên nhân kinh tế và chính trị ấy, giới nghiên cứu còn chú ý đến một nguyên nhân khác: văn hóa.

Về phương diện văn hóa, ở cấp độ vĩ mô, người ta phát hiện một số điểm khá thú vị. Một, trong các nước phát triển, những nước theo đạo Tin Lành ít tham nhũng hơn các nước khác (xin lưu ý: các nước theo đạo Tin Lành cũng là những nước có nền dân chủ sớm, cao và ổn định nhất!). Hai, trong số các nước đang phát triển, các cựu thuộc địa của Anh ít tham nhũng hơn cựu thuộc địa của Pháp hay Tây Ban Nha. Ba, những nước có tinh thần tập thể (collectivism) mạnh thường tham nhũng nhiều hơn những nước có tinh thần cá nhân chủ nghĩa cao (có một ngoại lệ hầu như duy nhất: Singapore). Bốn, trong các nước có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, những nơi chủ nghĩa cá nhân phát triển theo chiều dọc (vertical individualism, nhấn mạnh vào tính độc lập của cá nhân đồng thời chống lại những dị biệt mang tính đẳng cấp trong xã hội ) thường tham nhũng nhiều hơn những nơi chủ nghĩa cá nhân phát triển theo chiều ngang (horizontal invidualism, nhấn mạnh cả tính độc lập lẫn tính cạnh tranh, muốn chiếm vị trí trên cùng trong bậc thang đẳng cấp) (1). Năm, ít nhiều liên hệ với đặc điểm vừa nêu, những nơi nặng tinh thần gia tộc bao nhiêu càng dễ tham nhũng bấy nhiêu: ở đó, những người có quyền thế dễ có khuynh hướng phân phối quyền lực và quyền lợi, trước hết, cho những người thân trong dòng họ, và những người ấy lại trở thành những đầu mối của tham nhũng (2). Sau, những nước càng đề cao nam quyền càng có nguy cơ tham nhũng nhiều.

Ở cấp độ vi mô, nhiều nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý vào tâm lý cá nhân cũng như liên cá nhân (interpersonal) để giải thích hiện tượng tham nhũng. Lý do cũng dễ hiểu. Tham nhũng là một mối quan hệ hai chiều: người nhận tiền - thường là người có quyền lực) - và người đưa tiền - người ít hoặc không có quyền lực nhưng đang cần sử dụng quyền lực của người khác (đó là chưa kể sự hiện hữu của thành tố thứ ba: môi giới).

Lý do để người ta nhận hối lộ không khó giải thích: thứ nhất, vì tham; thứ hai, vì người ta có thể; và thứ ba, vì tính toán: khó bị phát hiện, hoặc nếu bị phát hiện, cái giá phải trả rẻ hơn những gì người ta nhận được. Nguyên nhân thứ nhất gắn liền với bản tính con người; nguyên nhân thứ hai với cơ chế; và nguyên nhân thứ ba với pháp luật.

Nhưng vấn đề là: Tại sao những người đưa hối lộ lại sẵn sàng móc tiền túi ra để đút lót cho người khác? Lý do, thật ra, cũng không khó hiểu: Vì muốn được việc. Nhưng cái gọi là được việc ấy lại có thể được nhìn từ hai góc độ: kinh tế và đạo đức.

Về kinh tế, người ta thấy số tiền đút lót rẻ hơn số tiền người ta đáng lẽ phải trả. Ví dụ, một người nào đó, ở Việt Nam, muốn mua nhà. Đã chọn và đã ngã giá xong xuôi. Bây giờ đến giai đoạn quan trọng nhất: làm giấy tờ mua bán nhà. Muốn làm giấy tờ, phải lót tiền cho các cán bộ liên hệ. Người ta có hai lựa chọn: một, không chịu lót tiền để hoặc, không làm được giấy tờ hoặc làm một cách chậm trễ, cuối cùng, không mua được căn nhà mình thích; và hai, chi ra một số tiền nào đó để mọi thủ tục hành chính được tiến hành nhanh chóng và êm ả. Người chọn giải pháp thứ hai sẽ lý luận: mất một ít tiền hối lộ nhưng đỡ mất công chạy tới chạy lui, hơn nữa, còn được việc. Tính ra, số tiền hối lộ ấy được xem là rẻ, hoặc ít nhất, có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, còn một khía cạnh khác: đạo đức. Ở một số nơi, nhiều người biết hối lộ sẽ được việc nhưng người ta vẫn từ chối làm như thế vì nó trái với nguyên tắc về sự công chính hay công bằng mà người ta tin tưởng và theo đuổi. Chính ở đây, người ta nhận thấy có sự khác biệt về văn hóa: tham nhũng càng dễ phát triển ở những nơi có sự dễ dãi đối với tham nhũng (corruption permissiveness), ở đó, người ta cho rằng, một, việc hối lộ không thuộc phạm trù đạo đức; hai, ai và ở đâu cũng có tham nhũng nên người ta không có chọn lựa nào khác; và ba, chính vì hai lý do ấy, tham nhũng là điều có thể chấp nhận được.
Nguyên nhân chính của thái độ dễ dãi đối với tham nhũng như vậy nằm ở sự tin cậy. Có hai khía cạnh thường được chú ý: sự tin cậy liên cá nhân (interpersonal trust) và sự tin cậy đối với cơ chế (institutional trust). Cả hai sự tin cậy này đều là những sự đối lập của tham nhũng, tuy mức độ đối lập ấy, ở mỗi loại tin cậy, có sự khác biệt khá rõ. Sự đối lập giữa tham nhũng và sự tin cậy liên cá nhân có mức độ giao động khá cao (3). Nhưng trong phạm vi cơ chế, tham nhũng chỉ xảy ra khi người ta không có sự tin cậy. Ở Úc (hay tất cả các quốc gia có chỉ số minh bạch cao), làm bất cứ một thứ giấy tờ gì đó, ít có người nghĩ đến chuyện hối lộ. Vì người ta tin tưởng vào bộ máy công quyền. Hơn nữa, người ta cũng sợ sẽ bị tác dụng ngược: không những không được việc mà còn có thể bị phạt. Ở Việt Nam, hay ở bất cứ nơi nào có nạn tham nhũng cao, người ta hoàn toàn không có sự tin cậy ấy. Nhiều người Việt ở nước ngoài, mỗi lần về nước, có thói quen hay nhét vài chục đô la vào passport. Lý do: họ sợ bị làm khó dễ. Mà bị làm khó dễ ở Việt Nam thì không thể khiếu nại với ai được. Nhưng cũng người ấy, khi quay lại quốc gia nơi họ định cư thì lại tuyệt đối không bao giờ có ý định nhét tiền vào passport khi đi qua cửa khẩu.

Ở Việt Nam, cũng như một số nước Á châu khác, việc tham nhũng, nhất là việc đưa hối lộ, bị loại trừ ra khỏi phạm trù đạo đức còn vì một lý do khác nữa: nó được xem là một thứ văn hóa giao tiếp với một tên gọi rất ư ngọt ngào: quà. Tặng quà không phải là hối lộ và nhận quà cũng không phải là nhận hối lộ. Hối lộ gắn với sự tham lam và sự gian dối, hơn nữa, là một hành vi phạm pháp. Quà thì khác: quà gắn liền với tình nghĩa và truyền thống, do đó, là một hành động cao đẹp. Một bác sĩ nhận tiền của bệnh nhân để thu xếp giường nằm cho bệnh nhân ấy trong bệnh viện không xem số tiền ấy là hối lộ mà là “quà”.

Một giáo sư nhận phong bì của nghiên cứu sinh làm luận án để cho điểm luận án ấy một cách rộng rãi cũng tự xem phong bì ấy chỉ là “quà”. Tết, nhân viên cấp dưới tặng cho thủ trưởng những phong bì có khi lên đến cả hàng chục ngàn đô la thì vẫn xem đó là “quà”. Nghe kể, ở Việt Nam, khi có con chuẩn bị đi du học ở nước ngoài, nhiều bậc có chức quyền thường khuyên chúng đi quanh chào từ biệt các nhân viên cấp dưới. Để làm gì? Mục đích chính là để nhận quà cáp trước lúc lên đường. Để lấy lòng thủ trưởng, người nào cũng cố sức quan tâm đến con cái thủ trưởng. “Cháu đi học ở châu Âu hả? Mùa này lạnh lắm. Để chú tặng cháu cái áo da.” “Cháu đi học xa, chắc cần liên lạc với gia đình và bạn bè, để cô tặng cháu cái Iphone mới nhé?”, “Em lên đại học rồi, chắc cần Ipad và Laptop lắm? Để chị tặng cho!” Vân vân. Tất cả đều không phải là hối lộ. Mà là quà.

Nhớ, cách đây khá lâu, trong một cuộc họp Khoa, một đồng nghiệp của tôi đặt vấn đề: Một số sinh viên Á châu thường đến tặng quà; thầy cô giáo có nên nhận hay không? Một số giáo sư ngành Á châu học nhấn mạnh: đó là một nét trong văn hóa Á châu. Sau một hồi bàn cãi, mọi người “nhất trí” với nhau mấy nguyên tắc chính: thứ nhất, đó là văn hóa thì mình phải tôn trọng; thứ hai, nhưng dù là văn hóa, cũng không được quyền biến thành một sự đổi chác; thứ ba, để khỏi bị biến thành “đổi chác”, chỉ nhận những món quà có tính chất tượng trưng (nghĩa là rất rẻ) và đặc biệt, quan trọng nhất, sau khi thi xong, chấm điểm xong, nộp điểm xong và điểm đã được công bố chính thức!

Sau cuộc họp ấy, tôi cứ phân vân tự hỏi: Ở Việt Nam, có bao giờ người ta bàn với nhau như vậy không nhỉ? Và nếu bàn, có thực hiện không nhỉ?

***
Chú thích:
Xem bài “Cultural Orientation and Corruption” của Shu Li, Harry C. Triandis và Yao Yu trên báo Ethics & Behavior số 16 năm 2006, tr. 199-215.
Xem bài “Corruption, Culture and Communism” của Wayne Sandholtz & Rein Taagepera trên International Review of Sociology số 15, tháng 3, 2005, tr. 112.
Xem www.worldvaluessurvey.org/wvs/articles/folder.../5_Moreno.pdf


Tú Anh - Miến Điện dân chủ hóa để thoát gọng kềm Trung Quốc


Tú Anh (RFI)

Tiến trình dân chủ không thể đảo ngược và đất nước sẽ hài hòa . Đây là lời khẳng định của Tổng thống Miến Điện với toàn thể thế giới vào ngày 27/09/2012 tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong một thông điệp vinh danh công lao của nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi. Ba hôm sau, Tổng thống Thein Sein tuyên bố không loại trừ khả năng giải Nobel hòa bình 1991 lên làm Tổng thống. Theo giới phân tích, thành phần quân nhân yêu nước xem dân chủ hóa là giải pháp cứu nước.


Tổng thống Miến Điện,Thein Sein tại Đại Hội Đồng LHQ 2012 - REUTERS/Lucas Jackson

Lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã thực hiện một chuyến viếng thăm đầy thành công rực rỡ tại Hoa Kỳ hồi cuối tháng 9. Bà nhận giải thưởng Huy chương vàng của Quốc hội, phần thưởng cao quý nhất của Mỹ mà một người dân sự có thể nhận được. Bà cũng được Tổng thống Obama tiếp kiến tại Nhà Trắng. Cùng lúc đó, Tổng thống Miến Điện, Thein Sein, người đã ban hành liên tục những biện pháp cải cách từ khi làm nguyên thủ quốc gia vào tháng ba năm nay, đọc một bài diễn văn lịch sử tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Tổng thống Miến Điện Thein Sein đã dành những lời tốt đẹp nhất để vinh danh bà Aung San Suu Kyi người mà cách nay hai năm còn bị xem là kẻ thù của chế độ. Trong bài diễn văn 15 phút được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình nhà nước, ông tuyên bố « với tư cách là một công dân Miến Điện, tôi thành thật chia vui với bà Aung San Suu Kyi đã nhận được những vinh dự và lòng biết ơn về những nỗ lực then chốt đóng góp vào tiến trình dân chủ ».

Tổng thống Miến Điện cam kết là sẽ xây dựng một « xã hội hài hòa » theo chuẩn mực « quốc tế ». Cũng từ diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ông khẳng định « tiến trình dân chủ không thể đảo ngược » và liệt kê những biện pháp cụ thể như thả tù chính trị, hủy bỏ kiểm duyệt báo chí, tổ chức bầu cử quốc hội bổ khuyết tháng 4/2012 một cách dân chủ, chấp nhận đa nguyên đa đảng để dân chúng tham gia việc nước…

Ba ngày sau, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Anh BBC, Tổng thống Miến Điện tuyên bố sẽ chấp nhận bà Aung San Suu Kyi làm tổng thống nếu bà được dân bầu.

Tuy nhiên ông nhấn mạnh là mọi tu chính Hiến pháp 2008 để lãnh đạo đối lập, có chồng và con là người nước ngoài, ra tranh cử tổng thống, phải do Quốc hội quyết định. Vấn đề là hiện nay, 25% ghế nghị viện nằm trong tay sĩ quan quân đội và Hiến pháp hiện hành do của chính quyền tiền nhiệm soạn thảo quy định « quân đội có vai trò chính trị ». Cựu bộ trưởng quốc phòng Hla Ming từng tuyên bố là sẽ « giảm trọng lượng » quân nhân trong quốc hội khi cần thiết.

Con đường dân chủ hóa Miến Điện còn rất nhiều bất trắc. Cho đến nay, Hoa Kỳ không bao giờ đưa ra những lời tuyên bố lạc quan mà ngược lại luôn giữ thái độ thận trọng, đề phòng tình hình đảo ngược.
Vì theo nhận định của giới tình báo phương Tây thì với vị trí địa lý và tài nguyên dồi dào, Miến Điện là một thế cờ địa chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Trung Quốc. Bắc Kinh không thể để cho quốc gia Đông Nam Á này ngả theo Ấn Độ hay Tây phương. Trung Quốc lệ thuộc vào Miến Điện từ khí đốt cho đến thủy điện, từ kinh tế cho đến quốc phòng và đặc biệt là đầu cầu triển khai hải quân trong Ấn độ dương.

Trong 20 năm qua, song song với công trình xây ống dẫn khí đốt xuyên qua Miến Điện, từ vịnh Bangale đến tận Vân Nam, Bắc Kinh đã tiến hành kế hoạch cài « đạo quân thứ năm » tại Miến Điện. Chỉ riêng tại thành phố Mandalay, chiếc nôi của nền văn hóa Miến Điện, người Trung Quốc chiếm gần phân nửa dân cư địa phương. Tiếng Miến Điện tuy còn là ngôn ngữ chính thức nhưng tiếng quan thoại được sử dụng trong giao dịch thương mại.

Từ thập niên 1990, Trung Quốc cũng là nguồn cung cấp vũ khí cho quân đội Miến Điện. Ảnh hưởng nhân sự, kinh tế và quân sự đã làm cho dân chúng Miến Điện rất bực bội và xem Trung Quốc là « thực dân xâm lược ». Hàng loạt vụ tấn công phá hoại ống dẫn khí đốt đã xảy ra trong tháng 5 năm 2010. Cũng trong bối cảnh này, dự án đập thủy điện Myitsone do thầu Trung Quốc xây dựng trở thành mục tiêu bài Hoa của người dân địa phương. Chính vì thế mà ngày 30/09/2011, tân tổng thống Thein Sein tuyên bố đình chỉ dự án để « tôn trọng ý dân ».

Trong tầm nhìn nầy, Jean-Bernard Pinatel, một chuyên gia tình báo Pháp nhận định : sự kiện bà Aung San Suu Kyi vinh quang trở lại chính trường thể hiện quyết tâm của một bộ phận quân nhân Miến Điện muốn lật qua trang sử độc tài để thoát khỏi hiểm họa « thực dân » Trung Quốc.

Theo phân tích của phóng viên Arnaud Dubus từ Bangkok, phe cải cách trong chính quyền Thein Sein và đối lập đang hợp tác với nhau để dân chủ hóa đất nước. Tiến trình này có nhiều tương đồng với những bước chuyển hóa tại Indonesia.

RFI : Thân chào Arnaud Dubus, từ khi Aung San Suu Kyi trở lại chính trường, nhà lãnh đạo đối lập này có nhân uy tín quốc tế của mình tranh giành ảnh hưởng với tổng thống Miến Điện hay là hai bên hợp tác với nhau để phục vụ tiến trình dân chủ hóa ?

A. Dubus : Tổng thống Thein Sein và lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi hành xử một cách rõ ràng bổ sung cho nhau. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ là một chứng minh cụ thể. Khi bà Aung San Suu Kyi, trong bài diễn văn đầu tiên tại đất Mỹ, kêu gọi Washington ngưng cấm vận triền miên Miến Điện chính là bà đã dọn đường cho Tổng thống Thein Sein. Kế tiếp, mọi việc diễn ra như một bài hợp tấu. Ngoại trưởng Hillary Clinton thông báo bỏ lệnh cấm nhập cảng hàng hóa Miến Điện vào thị trường Hoa Kỳ, đây là biện pháp trừng phạt kinh tế cuối cùng. Tiếp theo đó, Tổng thống Thein Sein đã có thể đọc bài diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với nội dung tập trung vào thành quả dân chủ hóa và ông được cử tọa nhiệt liệt hoan nghênh.
Nếu so sánh chuyến viếng thăm Hoa Kỳ với những sự kiện nhân chuyến xuất ngoại đầu tiên tại Thái Lan của bà Aung San Suu Kyi vào tháng 6 năm nay thì sự phối hợp giữa bà và Tổng thống Thein Sein rất rõ rệt. Tại Bangkok, chương trình của hai người « va chạm » nhau và tổng thống Miến Điện đã hủy bỏ chuyền đi của ông để không bị cuộc tiếp đón huy hoàng mà Diễn đàn Kinh tế Thế giới dành cho nhà nữ đối lập làm lu mờ. Sau vụ này, hai bên đã rút tỉa kinh nghiệm.

RFI : Từ tháng ba đến nay đã có hàng loạt biện pháp cải cách từ việc thả tù chính trị, nới lỏng kiểm duyệt báo chí, đối lập vào quốc hội… Chúng ta có thể biết một cách chính xác Miến Điện đang ở trong giai đoạn nào trong tiến trình dân chủ?

A. Dubus : Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể so sánh tình hình Miến Điện với Indonesia sau năm 1998. Sau 30 năm cai trị với bàn tay sắt, nhà độc tài Suharto bị lật đổ. Trong ba năm đầu tiên sau biến cố lịch sử này, tính chất ù lì của chế độ cũ vẫn đè nặng trong sinh hoạt chính trị. Ví dụ, quân đội vẫn chiếm một số ghế cố định trong Quốc hội như tình trạng hiện nay ở Miến Điện. Đảng Golkar, do Suharto thành lập vẫn tiếp tục áp đảo chính trường nhờ vào bộ máy kinh tài khổng lồ. Giới tướng lãnh tiếp tục chi phối chính trị.

Mãi đến khi bà Megawati Sukarnoputri lên làm tổng thống từ năm 2001 đến 2004 thì Indonesia mới bắt đầu tiến trình dân chủ hóa thật sự và lúc đó quân đội mới rời chính trường quay về doanh trại. Nhưng để tiến được tới giai đoạn này, thì trước đó, tức là từ 1999 đến 2001, Tổng thống Abdurahma Wahid, bằng tinh thần can đảm vượt bực, đã ép được quân đội chấp nhận thối lui.

Cũng tương tự như vậy , chính quyền Thein Sein phải bắt đầu bằng những biện pháp ít khó khăn nhất : như là thả tù chính trị, bỏ kiểm duyệt thông tin …. Nhưng giai đoạn khó nhất vẫn chưa được tiến hành. Giai đoạn này sẽ tiến hành khi quyền lợi kinh tế và chính trị của giới quân sự bị đe dọa trực tiếp. Điều đáng chú ý là trong diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, ông Thein Sein nhấn mạnh rằng quân đội vẫn còn vai trò chính trị.

Hiện nay, chưa có cơ hội để tạo đối đầu trực tiếp giữa chính phủ và đối lập vì vấn đề nhạy cảm nhất, kiểm soát quyền lực chính trị và kinh tế, chưa được đề cập đến và sẽ không được đề cập trước bầu cử quốc hội 2015. Giai đoạn sau 2015 sẽ là thời kỳ đổi mới thật sự.

RFI : Quân đội có từ bỏ bớt quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị hay chưa?

A. Dubus : Về mặt chính trị, như chúng ta đã biết, quân đội Miến Điện chiếm 1/4 ghế đại biểu trong 2 viện quốc hội và ở các nghị viện cấp vùng. Cũng ở cấp vùng ảnh hưởng của các tư lệnh địa phương rất lớn; không một chuyện gì mà không có sự đồng ý của họ. Tuy nhiên cũng cần phải tương đối hóa vấn đề này, chẳng hạn như các sĩ quan trong nghị viện đã đóng một vai trò khá tích cực trong chiều hướng dân chủ hóa và đã nhiều lần bỏ phiếu cùng với đối lập.

Mới đây họ đã biểu quyết cách chức một số thẩm phán của Viện Bảo Hiến. Dường như các quân nhân trong nghị viện bầu theo một hướng. Các đại biểu mặc áo nhà binh rất hăng hái tham gia các cuộc tranh luận. Quân nhân Miến Điện kiểm soát hầu hết các lãnh vực kinh tế qua hai đại tập đoàn xí nghiệp quân đội và các công ty "chân rết" của quân đội. Giới quân nhân thường sử dụng biện pháp thô bạo để giành hợp đồng. Mới đây, tập đoàn Myanmar Holding Economics của quân đội hợp tác đầu tư với một công ty Trung Quốc khai thác mỏ đồng ở phía bắc Miến Điện. Quân đội đã dùng sức mạnh đuổi nông dân ra khỏi làng mạc, đe dọa dân và đốt chùa chiền. Tuy nhiên, dân làng cùng các tổ chức xã hội dân sự đã chống cự lại cùng với sự tiếp tay trợ lực của báo chí khiến cho phe quân đội không thể muốn làm gì thì làm như trước đây.

RFI : Anh vừa nói đến vai trò của các xí nghiệp Trung Quốc. Là phóng viên nhiều năm trong khu vực, anh có chia sẻ ý kiến cho rằng dân chủ hóa cũng là một giải pháp ngăn chận ảnh hưởng Trung Quốc, ít ra là theo quan điểm của một bộ phận quân nhân yêu nước ?

A Dubus : Vấn đề này khá phức tạp. Nhưng chúng ta có thể nói là phe « cứng rắn » trong guồng máy nhà nước, nhất là trong tập đoàn quân sự cho đến khi rút lui vào đầu năm 2011, đều có quan hệ mật thiết với Bắc kinh từ quyền lực chính trị đến quyền lợi kinh tế. Chính thành phần này đã thiên vị các công ty Trung Quốc nhất là trong bối cảnh cấm vận làm các công ty Mỹ đứng ngoài. Ở miền bắc Miến Điện, giáp giới với Trung Quốc, người dân rất lo âu trước tình hình càng ngày càng có đông người Trung Quốc sang lập nghiệp. Nhiều khu phố ở Mandalay hoàn toàn thuộc di dân Trung Quốc mới từ Hoa lục kéo qua. Khi chính phủ dân sự được thành lập, công việc đầu tiên của Tổng thống Thein Sein là đình hoãn công trình xây đập tủy điện Myitsone ở bang Kachin do Trung Quốc thầu và tài trợ và dường như không báo trước cho Trung Quốc. Chuyện này đã làm nức lòng dân chúng địa phương và góp phần làm đẹp hình ảnh của tân tổng thống.
Từ nay, Miến Điện không còn là cánh cửa mở toang cho Trung Quốc như trong những năm 1998-2010.
Tuy nhiên cũng phải lưu ý là nhiều dự án của Thái Lan cũng bị đình hoãn. Do vậy, không thể kết luận một cách vội vã là có một phong trào chống Trung Quốc trong nội bộ tập đoàn quân sự. Đúng hơn là quân đội có một quyết tâm muốn Miến Điện quân bình quan hệ đối ngoại chẳng hạn như dành thị phần rộng rãi hơn cho Tây phương.

RFI : Miến Điện là quốc gia có nội chiến sắc tộc triền miên và dài nhất trên thế giới. Nhiều sắc dân tranh đấu võ trang hàng nửa thế kỷ để đòi được đối xử bình đẳng. Liệu tiến trình dân chủ hóa sẽ có tác động tích cực đem lại hòa bình giữa 60% người Miến và 40% sắc dân thiểu số ?

A. Dubus : Điều đáng chú ý là về lãnh vực sắc tộc thiểu số tổng thống Thein Sein có vẻ bỏ xa bà Aung San Suu Kyi một đoạn đường dài. Phần nói về số phận các sắc dân thiểu số trong diễn văn tổng thống tại New York rất hay. Ông nói rằng những thỏa thuận ngưng chiến đã ký với hàng chục tổ chức nổi dậy không đủ. cần phải có hiệp định hoà bình, thỏa mãn những "nguyện vọng chính trị" của dân thiểu số. Một cách gián tiếp, ông cho là phải tiến tới một chế độ tự trị.

Từ xưa đến nay, chưa bao giờ một lãnh đạo Miến Điện đưa ra một lập trường tiến bộ như vậy đối với dân tộc thiểu số. Về hồ sơ người Rohingya theo đạo Hồi, bà Aung San Suu Kyi nhiều lần bị chỉ trích vì quan điểm mơ hồ của bà. Lãnh đạo đối lập chỉ tuyên bố chung chung là phải giải quyết trong khuôn khổ nhà nước pháp trị. Trong khi đó thì tổng thống Thein Sein tận tình tìm giải pháp mặc dù ông đã một lần bị chỉ trích mạnh vì đề nghị cho sắc dân theo đạo Hồi này di cư sang một quốc gia khác .

Ít ra là ông không 'nửa nạc nửa mỡ' vấn đề này thật tình thì rất phức tạp vì người Hồi giáo ở bang Rakhine không phải là thuần nhất. Tuy là có một phần đông định cư tại đây từ nhiều thế hệ nhưng phần khác là di dân mới từ nơi khác nhập cư. Người Miến Điện thì lại lẫn lộn vàng thau.

Đây là vấn đề quan trọng vì thật tình mà nói, đây là vấn đề cơ bản buộc người dân Miến Điện phải chọn một "mô hình xã hội". Hoặc họ chọn một xã hội tập quyền, trong đó sắc dân chiếm đa số áp đặt ý chí của mình và đồng hóa các dân tộc ít người. Đây là mô hình xã hội gần giống Thái Lan.

Hay là họ theo một mô hình xã hội tương đối tản quyền trong đó mỗi địa phương có ít nhiều quyền tự trị về hành chánh và mỗi sắc dân có thể bảo vệ văn hóa truyền thống của mình. Mô hình này gần giống với tổ chức xã hội của Indonesia. Đây là lúc mà Miến Điện phải lựa chọn.

Nhưng hiện tại họ có vẻ nghiêng về mô hình người Miến trước đã. Có lẽ cũng cần nhắc lại là chính vấn đề "địa phương tự trị" đã gây ra hai cuộc nội chiến, lần đầu xảy ra ngay sau khi độc lập vào cuối thập niên 1940 và lần thứ nhì vào đầu thập niên 1960. Cũng vì viện lý do "toàn vẹn lãnh thổ" mà quân đội đã đảo chính năm 1962. Biến cố này mở đường cho 50 năm độc tài quân phiệt.


Trọng Nghĩa - Mỹ triển khai một hạm đội hùng hậu trên cả Biển Hoa Đông lẫn Biển Đông


Trọng Nghĩa (RFI)

Vào lúc các vùng biển quanh Trung Quốc có dấu hiệu căng thẳng hẳn lên vì tranh chấp chủ quyền giữa Bắc Kinh và các lân bang, mà gần đây nhất là tranh chấp Nhật Trung về quần đảo Senkaku, với Trung Quốc, Hoa Kỳ đã kín đáo cho triển khai một hạm đội hùng hậu khác thường gần các khu vực tranh chấp. Giới chỉ huy Hải quân Mỹ khẳng định đó chỉ là những hoạt động bình thường, nhưng nhiều nhà phân tích xem đây là tín hiệu gởi đến các bên tranh chấp.



Hàng không mẫu hạm Mỹ George Washington tại biển Hoa Đông. - US NAVY


Theo tạp chí Mỹ Time ngày 30/09/2012, Hải quân Mỹ đã xác nhận rằng hạm đội tác chiến của hàng không mẫu hạm USS George Washington đã bắt đầu đến hoạt động ở biển Hoa Đông, gần khu vực quần đảo đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Trong cùng một thời điểm, tàu sân bay USS John C. Stennis cùng toàn bộ các chiến hạm hỗ trợ cũng hiện diện xa hơn một chút ở phía Nam, tại vùng Biển Đông. Mỗi đội tàu sân bay này đều có hơn 80 chiến đấu cơ, các tuần dương hạm được trang bị tên lửa, khu trục hạm, tàu ngầm và tàu tiếp liệu.

Khoảng 2200 lính thủy quân lục chiến cũng đã được đưa lên tàu chở trực thăng loại lớn USS Bonhomme Richard và hai tàu hộ tống trực chỉ vùng biển Philippines để chuẩn bị tham gia một cuộc tập trận chung, kể cả tại vùng Palawan nhìn thẳng ra Biển Đông. Đơn vị thủy quân lục chiến này cũng được trang bị hùng hậu với các phương tiện cơ giới lội nước, pháo, trực thăng và phi cơ phản lực tiêm kích Harrier.

Mặc dù phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ khẳng định rằng các hoạt động trên của Hải quân Hoa Kỳ không gắn với bất kỳ sự kiện cụ thể nào, nhưng tất cả các chuyên gia phân tích đều ghi nhận tính chất khác thường của việc tập trung một hạm đội hùng hậu như vậy trong một khu vực không lấy gì là bao la rộng lớn.

Báo chí Đài Loan ngày 03/10/2012 không tránh khỏi so sánh cuộc triển khai này với những gì xảy ra vào năm 1996, khi nước này chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên. Khi ấy, Trung Quốc đã thị uy, cho bắn tên lửa gần bờ biển của Đài Loan để cảnh cáo xu hướng đòi độc lập đang có triển vọng thắng thế.

Trong cuộc khủng hoảng đó, Hoa Kỳ đã cử hai nhóm tàu sân bay tác chiến qua vùng Tây Thái Bình Dương, một sự tập trung lực lượng từng được cho là quy mô nhất từ thời kết thúc chiến tranh Việt Nam cho đến lúc ấy. Thế nhưng, lực lượng đó vẫn còn nhỏ hơn so với cuộc triển khai hạm đội lần này nếu tính về tỷ lệ hỏa lực tập trung trên một diện tích.

Dụng tâm của Hoa Kỳ khi quyết định như trên là gì ? Theo báo chí Đài Loan, rõ ràng là Mỹ muốn gây áp lực tâm lý trên Trung Quốc vào lúc Bắc Kinh đang gây căng thẳng trong hồ sơ tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản.

Báo chí Hàn Quốc thì nhìn rộng hơn, cho là Washington muốn bắn tín hiệu đến cả hai phía Bắc Kinh và Tokyo, yêu cầu cả hai nước đừng làm cho tình căng thẳng hơn nữa.

Dù dụng tâm như thế nào chăng nữa, thì hành động tích cực của Mỹ được cho là có tác dụng trấn an các nước nhỏ trong vùng Đông Nam Á, đang rất cần đến sự hiện diện của Hoa Kỳ để cản bớt xu hướng ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh về mặt áp đặt đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.


Anh Vũ - Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp đến với độc giả Pháp


Anh Vũ (RFI)

Nhân dịp nhà xuất bản Aube tại Pháp vừa cho ra mắt tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, dày 750 trang, dịch sang tiếng Pháp mang tên « Tội ác, tình yêu và trừng phạt », phụ trang văn học của nhật báo l’Humanité, tờ báo của đảng Cộng sản Pháp có bài giới thiệu nhà văn Việt Nam và những tác phẩm nổi bật của ông được viết ra từ thời kỳ « Đổi mới ».


Bài viết mang tiêu đề « Một nhãn quan yêu dấu và không khoan nhượng » đã giới thiệu với độc giả Pháp một những nét khái quát về con người một nhà văn đương đại có những góc nhìn mới, táo bạo.

Có thể đối với độc giả văn học Việt Nam thì Nguyễn Huy Thiệp không phải là cái tên xa lạ mặc dù ông chỉ xuất hiện trên văn đàn Việt Nam từ năm 1986 với một vài truyện ngắn và sau đó là tiểu thuyết. Nhưng với độc giả Pháp theo tác giả bai viết « Việc xuất bản tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Việt Nam là một sự kiện văn học hàng đầu ». Đem lại sự kiện này cho công chúng yêu văn học ở Pháp chính là nhà xuất bản danh tiếng Aube. Cho đến giờ nhà xuất bản này đã từng phát hành 7 tập truyện riêng lẻ và bài viết của Nguyễn Huy Thiệp.

Theo tác giả thì ngay từ đầu những năm 1990, ở Pháp đã xuất hiện một cách lặng lẽ những bản dịch đầu tiên tác phẩm của nhà văn viết trong thời kỳ được gọi là « đổi mới ». Tác giả bài viết nhấn mạnh đến truyện ngắn "Tướng về hưu", lần đầu xuất hiện trên tuần báo Văn nghệ năm 1987 đang gây tiếng vang lớn. Theo tác giả thì với « Tướng về hưu » văn học Việt Nam dường như bước chững trạc vào một kỷ nguyên mới hừng hực khí thế cứ như là chính quyền đã cởi trói hòan tòan muốn các nhà văn viết như vậy.

Cũng vào thời kỳ đó, trên văn đàn Việt Nam xuất hiện các tiểu thuyết của các nhà văn như Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài. Tác phẩm của các tác giả nổi bật này đã được dịch sang tiếng Pháp. Tác giả bai viết nhận thấy một số cuốn như « Bên kia bờ ảo vọng » của Dương Thu Hương, « Nỗi buồn chiến Tranh » của Bảo Ninh đã nói lên được những sắc thái riêng biệt của từng nhà văn.

Tác giả cho biết, cái tựa đề của tuyển tập « Tội ác, tình yêu và trừng phạt » rõ ràng có ý liên tưởng đến văn hào Dostoievski, nó tập hợp tất cả những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã xuất bản tại Pháp, trong đó có thêm bốn tác phẩm mới được công bố. Phần dịch thuật, tuyển tập đã được hai nhà nghiên cứu văn học Marion Hennebert và Thụy Khuê đọc hiệu đính cẩn thận. Trong tuyển tập còn có phần chú thích của nhà xuất bản để tạo điều kiện cho độc giả phương tây tiếp cận tốt hơn với tác phẩm.

Tuyền tập các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được đánh giá như những mảng ghép để vẽ lên một bức tranh mô tả một đất nước Việt Nam vô cùng đa dạng, một Việt Nam mà nhà văn đã lần theo và gợi lại lịch sử ở nhiều chiều và trong mọi mặt mâu thuẫn của nó.

Sau khi điểm qua một số truyện trong tuyển tập, tác giả bài báo nhận định, « Thiệp không ngần ngại đặt mình vào trong cuộc và chia xẻ những suy tư cá nhân và cảm nhận về nghề viết văn của mình trong xã hội, vì thế mà người ta có thể hiểu được những lý do vì sao chính quyền lại cảm thấy khó chịu với thành công của ông trong những tác phẩm văn học ở trong cũng như ngoài nước ».

Tờ báo nhắc lại sự việc, tháng Năm vừa rồi, lẽ ra Nguyễn Huy Thiệp đã đến Pháp để giới thiệu tác phẩm của mình. Nhưng cuối cùng chuyến đi đã bị hủy vì vấn đề visa. Ngay sau sự cố này, Nguyễn Huy Thiệp đã cố gắng giải thích việc đó không liên quan đến chuyện kiểm duyệt của chính quyền mà đơn giản chỉ là vì lý do sức khỏe cá nhân. Theo tác giả thì lời giải thích rất xã giao đó không che giấu được thực tế nặng nề bên trong sự việc. Hiện tại nhà văn một lần nữa lại bị tách biệt với thế giới bên ngòai …Khác với Dương Thu Hương đang tỵ nạn tại Pháp, từ lâu nay, Nguyễn Huy Thiệp đã chọn ở lại đất nước mà ông đã gắn bó, yêu thương mãi mãi.

Giới doanh nghiệp phản đối chính sách thuế khóa của chính phủ Pháp

Chuyển sang các tin tức thời sự khác đang được báo chí Pháp quan tâm. Kinh tế khó khăn là chủ đề bao phủ khắp mặt các tờ báo lớn ra ngày hôm nay. Các báo đều tập trung vào chủ trương thuế khóa, tài chính của chính phủ Pháp trong tình hình hiện nay.

Le Figaro đưa lên trang nhất sự « phẫn nộ thuế má tăng cao » trong giới chủ doanh nghiệp ở Pháp. Hàng lọat các chủ doanh nghiệp khai thác dịch vụ trên internet đã đồng lọat lên tiếng chỉ trích, phản đối dự luật về thuế của chính phủ với mục đích đựoc cho là tăng cường sức cạnh tranh và năng suất lao động của các công ty Pháp. Tuy nhiên các chủ doanh nghiệp thì lại cho đây là chủ trương nhằm đánh vào chính họ, không kích thích đầu tư.

Thể thao đang bị phá hỏng vì cá độ

Libération đưa lên trang nhất hình ảnh lớn một quả bóng được kết bằng những đồng đô la Mỹ để đề cập đến mối liên hệ giữa thể thao và tiền, nhưng ở đây là tiền cá độ nhân vụ bê bối bán độ trong câu lạc bộ bóng ném Monpellier đang bị phát giác và điều tra. Tờ báo nhận thấy, «tham nhũng, tẩy tiền, mafias, ngoài vụ việc của các cầu thủ bóng ném CLB Monpellier, thể thao đang ngày càng bị làm hỏng vì tiền.

Libération dành hẳn 4 trang báo để mổ xẻ vấn đề cá độ trong thể thao hiện nay. Tờ báo khẳng định việc đặt cược vào các cuộc thi đấu thể thao dù có hợp pháp vẫn là một trò chơi nguy hiểm. Tình trạng cá độ trong thể thao đang tràn lan khắp các môn thi đấu đang gây lo ngại cho chính bản thân hoạt động thể thao cũng như các nhà quản lý cũng như các cơ quan đấu tranh chống tội phạm có tổ chức. Vấn nạn này trong thể thao đã được các nhà nghiên cứu của Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp cảnh báo trong một cuốn sách trắng công bố hồi đầu năm rằng : cái chết của thể thao coi như được báo trước nếu như các cơ quan quản lý thể thao và chính quyền không ra tay. Nhưng rất khó có thể quản lý được vì giờ đây để đánh cá một trận đấu người ta có thể làm được từ một quán bán vé số ở góc đường cho đến lên mạng internet hay ngồi từ một góc nào đó ở bất kỳ đâu trên thế giới.

Các nhà nghiên cứu đưa ra một con số không đầy đủ là mỗi năm tổng số tiền trong thị trường cá độ thể thao cả bất hợp pháp cũng như hợp pháp trên thế giới lên tới 200 tỷ euro, dù chưa chính xác nhưng theo các nhà phân tích thì con số này trên thực tế còn cao hơn. Các chuyên gia cũng dự tính có 300 trận bóng đá chuyên nghiệp tại châu Âu mỗi năm có thể đã bị dàn xếp tỷ số phục vụ cá độ.

Theo các nhà nghiên cứu tệ nạn này, hiện nay giới tội phạm có tổ chức nhận thấy việc hối lộ cho các trận đấu thể thao là một họat động không nguy hiểm bằng nững họat động như buôn ma túy, hay vũ khí mà lợi nhuận mang lại cũng không nhỏ.

Tờ báo đặt câu hỏi, làm thế nào để đấu tranh chống lại tệ nạn này ? Thành lập một cơ quan quốc tế chống hối lộ kiểu như cơ quan chống doping quốc tế chăng. Hay là đợi cho chính các tổ chức mafias tự triệt tiêu? Các nhà quan sát đã nhận thấy một thí dụ trong những năm 1990, ở Đông Nam Á các giải vô địch bóng đá quốc gia từng rất sôi nổi, nhưng sau đó các trận đấu bán độ đã bóp chết giải đấu khiến cho sân bóng cũng như các nhà đầu tư rút lui khỏi bóng đá. Nạn cá độ cũng vì thế bị triệt tiêu. Thế nhưng chết ở nơi này thì nạn cá độ lại nảy sinh ở nơi khác, ở các môn thể thao hay các giải đấu khác.

Cộng đồng khoa khọc phản bác kết luận ngô biến đổi gien có thể gây ung thư

Một thời sự khác cũng thu hút sự chú ý của độc giả đó là nghiên cứu gây trân động dư khi cho rằng thực phẩm biến đổi gien tiềm ẩn nguy cơ gây u bướu. Đây là kết luận do một Ủy ban nghiên cứu và thông tin độc lập về di truyền học công bố cách đây 2 tuần trên một tạp chí khoa học về Thực phẩm và hóa chất độc.

Nghiên cứu trên thực sự gây hoang mang trong dư luận người tiêu dùng cũng như giới khoa học. Nhất là khi nhóm nghiên cứu cho đăng trên báo chí và internet hàng lọat bức ảnh các con chuột thí nghiệm bị mắc u bướu vì được nuôi bừng ngô biến đổi gien. Hôm nay nhật báo Le Figaro trở lại đề tài này với bài viết « Chuột nuôi bằng thức ăn biến đổi gien : Phía dưới một nghiên cứu gây tranh cãi ».

Tờ báo cho biết cộng đồng các nhà khoa học bắt đầu lên tiếng phản bác lại thí nghiệm của Giáo sư Seralini, chuyên gia sinh học phân tử thuộc trường đại học Caen, Pháp. Với thí nghiệm đó, ông khẳng định sản phẩm biến đổi gien là tác nhân gây ung thư ở chuột và tất nhiên cũng sẽ có tác động tương tự đối với người. Các nhà khoa học phản biện cho rằng việc công bố thí nghiệm đầy rẫy những sai sót về phương pháp này là một trò gây tiếng vang của nhóm nghiên cứu nói trên. Các nhà khoa học cũng yêu cầu mở tranh luận một cách đàng hoàng về sản phẩm biến đổi gien ». Đi đầu là Cơ quan an toàn y tế của Đức vừa mới khẳng định kết luận của nhóm nghiên cứu nêu trên là không đủ cơ sở.

Cuối tuần này, Cơ quan an toàn thực phẩm của châu Âu sẽ phải đưa ra ý kiến đầu tiên của mình về vấn đề này.

Tuần trước trên một diễn đàn khoa học của tuần báo Marianne ra tại Pháp, bốn chục nhà khoa học của các Viện nghiên cứu danh tiếng của Pháp về lĩnh vực sức khỏe và y học đã nhất loạt chỉ ra những điểm không đáng tin cậy trong nghiên cứu của Giáo sư Seralini. Thí dụ như số lượng các mẫu thí nghiệm không đủ để rút ra kết luận nghiêm túc, hoặc thiếu chi tiết về thành phần thức ăn cho chuột… v.v.

Thậm chí nhiều lý lẽ cho rằng bản thân chuột cũng là động vật thường dễ mắc u bướu. Các đồng nghiệp của vị giáo sư này còn tỏ ra ngạc nhiên về chiến dịch tuyên truyền rầm rộ trên báo chí diễn ra đồng bộ và dường như có chủ đích. Tờ báo kết luận, sự thật là đến lúc này chưa có mộ côgn trình khoa học nào chứng minh được một chút nào nguy hiểm về mặt vệ sinh y tế của các thực phẩm biến đổi gien. Điều này cũng không có nghĩa là là sẽ không có nguy hiểm nào. Các nhà khoa học Pháp giờ đây kêu gọi cần phải có tranh luận vô tư về sản phẩm biến đổi gien, chứ không phải chỉ chống đơn thuần vì những nguyên nhân có thể là do nhận thức hay chỉ trích có chủ ý.


VOA - Chiến lược 'giành tất cả' của Trung Quốc sẽ không đạt hiệu quả


VOA


Tàu chiến của Trung Quốc phóng tên lửa trong cuộc tập trận bắn đạn thật ở Biển Ðông. 

Chiến lược ‘giành tất cả’ của Bắc Kinh tiếp tục khiến cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước khác ngày càng trở nên phức tạp hơn và Bắc Kinh đang mất bạn vì cách hành xử của mình.

Bắc Kinh phải nhận ra rằng phương thức ‘Trung Quốc giành tất cả’ trong tranh chấp Biển Đông sẽ không đạt hiệu quả, bất kỳ giải pháp nào cũng phải dựa trên tinh thần thỏa hiệp, và sẽ không có được giải pháp nếu bất kỳ bên nào ngoan cố.

Đó là cảnh báo của giới phân tích được đăng trên trang Mạng lưới An ninh và Quan hệ quốc tế ISN, một trong những trang mạng hàng đầu thế giới chuyên đăng tải và cung cấp thông tin cho giới chuyên gia trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và an ninh.

Tác giả bài viết là Theresa Fallon, thành viên cao cấp thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu về Châu Á có trụ sở tại Bỉ, và Tiến sĩ Graham Ong-Webb, chuyên viên cố vấn phụ trách văn phòng Đông Nam Á của tổ chức tư vấn rủi ro toàn cầu Control Risks đặt tại Singapore, cho rằng chiến lược ‘giành tất cả’ của Bắc Kinh tiếp tục khiến cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước khác ngày càng trở nên phức tạp hơn và Bắc Kinh đang mất bạn vì cách hành xử của mình ở Biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông theo cách gọi Việt Nam) và Biển Đông Trung Hoa.

Theo hai phân tích gia này, sở dĩ phương thức ‘giành tất cả’ của Trung Quốc ở Biển Đông gặp trở ngại là vì các tuyên bố chủ quyền dựa trên lịch sử của Trung Quốc không thuyết phục được các bên cộng với những khó khăn trong việc gỡ rối các tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau giữa Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Philippines, Malaysia, và Brunei.

Hai phân tích gia Ong-Webb và Fallon cho rằng để các cơ chế luật lệ quốc tế phát huy hiệu quả trong tranh chấp Biển Đông, trước tiên Trung Quốc phải nhìn thấy rằng quyền lực kinh tế hay quân sự không thể giải quyết được tranh chấp biên giới, mà cần phải áp dụng quyền lực mềm để kiếm bạn và vận dụng vai trò lãnh đạo trong khu vực, cũng như phải áp dụng phương thức cùng nhau chia sẻ nguồn tài nguyên.

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Ghé thăm các Blogs: 04/10/2012



BLOG NGUYỄN THÔNG
Thứ tư, ngày 03 tháng mười năm 2012

Thầy Nguyễn Văn Cải - giáo viên trường THPT Quang Trung, H.Củ Chi, TP.HCM có gửi cho báo Tuổi Trẻ thắc mắc: tại sao cụ bà R. ở tổ 4, ấp Lào Táo Trung, xã Trung Lập Hạ, H.Củ Chi có chồng và 2 con là liệt sĩ nhưng vẫn không được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Con cháu cụ đã làm hồ sơ đề nghị rất lâu rồi tuy nhiên các cấp có thẩm quyền, trách nhiệm không xét mà cũng không thèm trả lời. Cụ nay đã 90, tuổi gần đất xa trời, cụ bảo chả biết khi nào người ta mới chịu ban cho cụ cái danh hiệu ấy.

Cũng qua báo Tuổi Trẻ, một vị đại diện cơ quan chức năng nhà nước, ông Huỳnh Thanh Khiết- Trưởng phòng Chính sách có công (Sở LĐ-TB-XH TP.HCM) xác nhận "cụ R. có chồng và hai con trai đều là liệt sĩ. Tuy nhiên, sau này cụ R. đã tái giá (người chồng sau đã mất) và có thêm một người con riêng với người chồng sau. Do đó căn cứ theo quy định hiện hành thì cụ R. không thuộc diện phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Thú thực, khi nghe ông Khiết nói thế, tôi muốn té ngửa. Tôi không trách gì ông ấy bởi những người như ông chỉ thi hành phận sự, nhất nhất làm theo quy định, chỉ thị, chỉ đạo, nghị định, nghị quyết, pháp lệnh, luật, bộ luật... của cấp trên, của nhà nước, của chế độ thôi. Thế thì cái pháp lệnh nào quy định như vậy cứ lôi nó ra gói bã trầu cho cụ R. Lôi mấy ông bà soạn thảo pháp lệnh ấy, thông qua pháp lệnh ấy về làm con cụ để hằng ngày rửa ráy, nấu ăn, nâng giấc cho cụ, thay cho 3 người đã khuất vì nước vì dân kia. Đâu lại có thứ quy định vô cảm, vô nhân, tàn nhẫn, mất tính người như thế.

Tôi, người viết mấy dòng này (chứ không phải thầy Cải, không phải ông Khiết) xin hỏi khắp các ông các bà đang đại diện cho chế độ này, hỏi bà Bí thư trung ương Nguyễn Thị Kim Ngân từng làm bộ trưởng về thương binh-xã hội, hỏi bà Tòng Thị Phóng, bà Nguyễn Thị Doan, bà Hà Thị Khiết (hỏi các bà thôi, dễ đồng cảm với phụ nữ, còn mấy ông kia, sau ly bia nâng lên hạ xuống là quên tiệt ngay): các bà làm to nên các bà hiểu luật, kể cả luật đời, luật trời; các bà đàn bà nên có chồng có con, hiểu được hạnh phúc gia đình, còn chồng còn con thì sướng thế nào, mất chồng mất con sẽ khổ thế nào, mang nặng đẻ đau rứt ruột khổ sở làm sao..., hỏi rằng pháp lệnh như thế có được không?

Các ông các bà cứ suốt ngày hội họp, bàn chuyện trên mây; còn sự phi lý, bất công, nỗi đau rất thật trên đời thì dửng dưng, vô cảm, lạnh lùng, không thấy không nghe. Cứ tạm cho là các ông các bà đại diện cho dân, thay mặt chính quyền "của dân, vì dân, do dân" nhưng trong trường hợp này tôi tin chắc các ông bà không đại diện cho cụ R. Một khi đã ngoảnh mặt trước nỗi đau người dân đang gánh chịu thì chả cần nói ra ai cũng biết đại diện cho cái gì.

Viết những dòng bức xúc này, lúc đầu tôi vẫn sợ mình nhầm. hay là họ cho rằng mới mất có một chồng với hai con thì đáng là bao; đã tái giá tức là có hạnh phúc mới rồi thì đau thương cũ không đáng kể; thiên hạ ối người còn mất tới bảy tám đứa con kia kìa nào ai thắc mắc gì; soạn ra pháp lệnh, nghị định cho cả nước là đã có sự nâng lên đặt xuống, cân nhắc kỹ lắm rồi... Biết đâu nhà chức việc hung hăng nào đó sẽ đòi gô cổ tôi vì tội chống lại pháp lệnh. Bây giờ người ta muốn kết tội ai dễ lắm, nhiều cớ lắm. Nhưng cứ nghĩ đến bà cụ 90 mất chồng mất con để đổ móng xây nền chế độ này đang nhận được sự vô cảm, thờ ơ, lạnh lùng, phi lý bất công đang mỏi mòn leo lét ở Củ Chi thì tôi tin chắc mình chẳng có gì sai. Thậm chí tôi còn muốn sửa cái luật định kia mà bảo các vị ấy rằng các ông bà ạ, người mẹ chỉ cần mất một đứa con (cho đất nước) cũng đau đớn lắm, đau chả khác những cụ mất vài ba con đâu, đừng so đo con số lạnh lùng để ban phát đền ơn. Mất một con cũng xứng đáng mẹ VN anh hùng. Những ông bố mất con cũng xứng đáng nhận sự ghi công của xã hội. Không có bố thì làm sao có con liệt sĩ. Các cụ không cần dựng tượng, chỉ cần được đối xử có đạo lý, có tình người.

Một đất nước qua mấy chục năm chiến tranh, gánh nặng còn nhiều, còn dài. Chính sách chế độ thế nào cho phải đạo, hợp lòng người, để nghĩ đến mai này lỡ xảy ra chiến tranh nữa thì còn động viên được sức người sức của. Cứ cái kiểu ăn cháo đá bát, sẽ kêu gọi được ai. Chả mẹ nào muốn tiễn con ra trận nữa.

Tôi mà là cụ R., tôi sẽ làm lá đơn đề nghị các ông bà giải quyết trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Đến giờ thứ 25, dù có phong là mẫu tổ cũng dứt khoát không nhận. Lúc ấy thà ôm nỗi đau chôn chặt trong lòng còn hơn.

Ai muốn biết cụ thể hoàn cảnh cụ R., có thể liên lạc với thầy Nguyễn Văn Cải, một thầy giáo trẻ nhiều năm nay tôi rất quý trọng, qua email nguyenvancai@yahoo.com hoặc điện thoại 0938217446.



BLOG BÙI TÍN


Tổng thống Miến Ðiện Thein Sein và lãnh tụ đối lập Miến Ðiện Aung San Suu Kyi

Ngày 22/9/2012 vừa qua, tại trường Đại Học Harvard nổi tiếng của Hoa Kỳ tại thành phố Boston, Bang Massachusetts, đã diễn ra một sự kiện lịch sử: hai chính khách Miến Điện đang ở thăm Hoa Kỳ cùng đến phòng đại lễ của nhà trường - Harvard Faculty Club - để nhận mỗi người một Huy Chương mang tên «The TRẦN NHÂN TÔNG Reconciliation Prize » (Giải thưởng Hòa Giải TRÂN NHÂN TÔNG).

Hai nhân vật đó là bà Aung San Suu Kyi, lãnh tụ của đảng Liên minh Dân chủ Toàn quốc Miến Điện, và ông Thein Sein, Tổng thống của Miến Điện.

Lễ trao giải thưởng, theo thông báo của nhà trường, đã diễn ra rất long trọng, thân mật và cảm động. Giải thưởng gồm có một bằng khen lớn và một tấm huy chương vàng hình tròn để mang trước ngực, một mặt là dòng chữ «The Tran Nhan Tong Reconciliation Prize» với hình bức tượng Vua Trân Nhân Tông ở giữa, một mặt là 2 cành tùng chéo nhau và năm 2012.

Trước và sau buổi lễ, Giáo sư Thomas Patterson, một giảng sư kỳ cựu của Đại Học Harvard, hiệu trưởng trường Đại học Trần Nhân Tông (Tran Nhan Tong University), thuộc Đại Học Harvard, kiêm chủ tịch Ủy ban xét trao giải thưởng lớn này, cho các báo biết một số tin tức liên quan. Ông cho biết Đại học Harvard có sáng kiến lập nên giải thưởng này trong thời gian gần đây, và bà Aung San Suu Kyi và ôngThein Sein là 2 người đầu tiên được nhận giải. Ông cũng cho biết Ủy ban xét giải gồm có một số giáo sư, nhà báo, chính khách của Hoa Kỳ và một số nước khác như ông Michael Dukakis, cựu ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ, bà Ann McDaniel của World Press, Giáo sư Janet Gyatso, giảng sư về Đạo Phật, nhà báo Thomas Fiedler, và cựu thủ tướng Latvia.

Giáo sư T. Patterson cho biết ông từng là quân nhân Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Năm 2010 ông cùng vợ sang thăm Việt Nam, ghé thăm chùa Yên Tử ở Quảng Ninh và rất thích thú nghe kể về lịch sử của ông Vua Trần Nhân Tông, một người từng từ bỏ ngôi vua, đi truyền bá đạo lý cho nhân dân, sống cuộc đời đạo đức có lý tưởng trong sáng, làm nhiều bài thơ có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Ông xúc động được biết Trần Nhân Tông cũng 2 lần đứng đầu 2 cuộc chiến chống Nguyên Mông thắng lợi.

Giáo sư T. Patterson cho rằng tinh thần hoà giải rất cần cho thế giới hiện tại trong quan hệ người với người, giữa các quốc gia, các tôn giáo, các chủng tộc, các dân tộc, trong sứ mệnh xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Hòa giải là một giá trị cần được truyền bá rộng rãi.

Được hỏi giải thưởng này khác giải thưởng Nobel Hòa Bình ra sao, Giáo sư T. Patterson cho biết Giải Nobel thường được trao cho một người, còn Giải Trần Nhân Tông trao cho một cặp 2 người - như bà Aung San Suu Kyi và ông Thein Sein, từ 2 phía đối lập mà có chung lập trường và thái độ hòa giải tích cực. Đó là lập trường đặt quyền lợi nhân dân, dân tộc, loài người lên trên mọi tham vọng cá nhân, - như gương sáng của Vua Trần Nhân Tông, để biết thỏa hiệp, tương nhượng, được nhân dân cổ vũ và cả thế giới đồng tình khen ngợi. Cái hay là cả Trần Nhân Tông thời xưa và bà Aung San Suu Kyi cùng ông Thein Sein thởi nay đều là đệ tử thâm sâu của đạo Phật, dựa trên tinh túy của đạo lý là lòng nhân ái, từ bỏ mọi lòng tham quyền lực, tham vật chất và tham hưởng thụ ích kỷ cá nhân trong cuộc đời ngắn ngủi này.

Mọi người Việt Nam yêu nước, chuộng     tự do, công lý, mong muốn hòa giải dân tộc thật sự rât mừng được tin trên đây. Mừng và hy vọng. Dù sao cũng là một tiền lệ đẹp ở phía trước, cho mọi thiện chí.

Và cũng không khỏi ngậm ngùi tự hỏi: Vì sao Miến Điện đạt được hòa giải dân tộc mà ở Việt Nam ta hòa giải vẫn còn là ở phía trước? Vì sao sau 30/4/1975 dân tộc ta vẫn chưa được thống nhất thật sự về cả lãnh thổ và về chính trị, tinh thần? Vì sao bệnh tham quyền lực, tham hưởng thụ vật chất, ham nhà, đất, của cải lại tha hóa bộ máy cầm quyền thành những nhóm quyền lợi xấu xa đến mức thảm hại đến thế này?

Họ không yêu dân, cũng chẳng yêu đảng, họ chỉ yêu tiền và yêu hưởng thụ vật chất thấp hèn.

Cũng thật bẽ bàng khi không thấy người Việt Nam nào trong sáng kiến về Giải thưởng Trần Nhân Tông, về Đại học Trần Nhân Tông, về Huy chưong Trần Nhân Tông trên đây.

Và cũng chẳng có đại diện VN nào có mặt trong lễ trao giải thưởng Hòa Giải Trần Nhân Tông đầu tiên ở Boston vừa qua. Người VN cần tự đặt ra câu hỏi này. Nhất là giới cầm quyền, đặc biệt là 14 người trong Bộ Chính trị, thâu tóm mọi quyền. Để tự vấn lương tâm mình.

Điều thật là mỉa mai là tất cả 700 tờ báo chính thức trong nước đều im thin thít về tin nổi bật trên đây, một tin làm nức lòng mọi người Việt yêu nước, yêu tự do, mong mỏi hòa giải và hòa hợp dân tộc thật sự, chứ không phải kiểu hòa hợp một chiều, kiểu đoàn kết là cúi đầu quỳ gối trước cường quyền hung bạo.



BLOG HIỆU MINH

Hội nghị Trung ương 6 ĐCS VN đang thảo luận “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay”, tôi chợt nhớ đến perestroika của Gorbachev cách đây 30 năm về trước.

Do những vấn đề tế nhị và trong bối cảnh nhậy cảm hiện nay, đề nghị bạn đọc phản hồi một cách xây dựng. Chúng ta đều  mong những thay đổi tốt đẹp cho cả  lãnh đạo và người dân.

Cải tổ Đảng CS Liên Xô – chậm quá hóa hỏng

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Jonathan Steele tháng 11-2011 (báo The Guardian), Gorbachev từng hối tiếc sao không từ bỏ ĐCS sớm hơn. Ông thừa nhận 5 sai lầm dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô, sự ra đi của chính ông và cũng đưa nước Nga hỗn loạn trong thời gian dài, một số thành tỷ phú trong lúc hàng triệu người khác rơi vào cảnh lầm than.

Điều ăn năn nhất của ông là “Tôi đã cố gắng quá lâu để đổi mới đảng Cộng sản.”, làm trật đường ray con đường perestroika do chính ông đặt ra. Cải tổ, chỉnh đốn mà làm quá lâu thì khó thành công.

Có một người khác giúp cho Liên Xô sụp đổ, đó là Yeltsin rất thân cận của Gorbachev, người từng đấu tranh không khoan nhượng với những đặc quyền đặc lợi của những người trong đảng, chống tham nhũng đến cùng.

Lúc làm Thị trưởng Moscow, Yeltsin từng đi metro, đi xe bus, vi hành và nói chuyện với dân thường. Chính mắt ông chứng kiến cảnh mua bán trao tay tại các cửa hàng phân phối, người ta ăn hối lộ và lại quả một cách trắng trợn.

Yeltsin sa thải hàng loạt cán bộ dưới quyền ở Moscow và quyết tâm nói không với nạn tham nhũng. Gorbachev rất mừng vì có một người dám nghĩ dám làm.

Tuy nhiên, khi Yeltsin định tấn công vào Trung ương ĐCS và BCT thì Gorbachev đã tỏ ra bất đồng.
Trong hồi kí của mình, Yeltsin viết “Gorbachev sợ sờ vào bộ máy quan liêu ĐCS, nơi được gọi là nơi bất khả xâm phạm.”

Yeltsin có lòng tin mãnh liệt khi gia nhập ĐCS “Tôi đã chân thành tin tưởng vào các lý tưởng về sự công bằng do đảng tuyên truyền, và cũng có cảm giác ấy khi gia nhập đảng, nghiên cứu toàn bộ các hiến chương, các chương trình và các giáo điều, đọc lại các tác phẩm của Lênin, Marx và Engels.”

Nhưng khi ở trong bộ máy một thời gian thì chính Yeltsin lờ mờ hiểu mối đe dọa đối với Đảng Cộng sản chính là sự bảo thủ, nạn tham nhũng, quan liêu đã mọc rễ từ rất lâu trong nội bộ.

Phong trào dân chủ và cách mạng mầu ở Đông Âu hay sự khích bác của phương Tây chỉ là chất xúc tác rất nhỏ đối với người Nga.

Một người muốn thay đổi triệt để thì không đủ sức, người kia có quyền lực lại thay đổi nửa vời. Cuối cùng, cả hai bị cuốn vào một cuộc chiến giành quyền lực để hành động theo ý mình.

“Dịp may” đã đến với cả hai. Cuộc đảo chính tháng 8-1991 do phe cứng rắn trong ĐCS Liên Xô đã biến Yeltsin thành anh hùng cứu đất nước Nga và Gorbachev thành người ngoài cuộc.

Liên Xô sụp đổ do người dân tự quyết định lấy vận mệnh của mình, sự lựa chọn đến từ đường phố mà ngay cả Gorbachev, Yeltsin và dân Moscow không ngờ tới. Một sự hoán đổi quyền lực lạ lùng ngay cả những đạo diễn chính trị lừng danh khó nghĩ đến.

Rất đáng tiếc, khi ngồi vào ghế quyền lực thì Yelsin lại sai lầm trong điều hành đất nước, kinh tế thảm họa, lạm phát tăng cao, tham nhũng hoành hành, chính bàn tay ông cũng vấy bẩn.

Dân chúng tự hỏi, tiền ở đâu mà gia đình Yeltsin sở hữu hai thuyền buồm tốc độ cao với giá 450.000 USD, một biệt thự tại Pháp trị giá 11 triệu USD. Cháu trai du học tại Anh Quốc với chi phí 25.000 USD/năm.
Ông phạm luật khi chỉ định con gái ông, Tatyana Dyachenko, một người lập chương trình máy tính, trở thành cố vấn tổng thống năm 1996, một sự nhạo báng quyền lực.

Những điều Yeltsin chống ngày xưa thì sau đó chính ông mắc phải. Thứ quyền lực tuyệt đối của ông bị tha hóa vì không có ai kiểm soát nổi Tổng thống nát rượu.

May mắn cho nước Nga vì chính cô con gái Tatyana, người chuyên về IT hiểu tính logic của thời cuộc, đã khuyên bố từ chức.

Yeltsin nhường quyền cho Putin vào đầu năm 2000 khi thế giới bước sang thế kỷ và thiên niên kỷ mới. Người Nga mất thêm 10 năm để tìm ra lối rẽ khác.

Bài học cho Việt nam

BCH TƯ ĐCS VN đang họp khẩn và quyết định những điều hệ trọng. Bối cảnh Liên Xô hay nước Nga sau này không giúp gì Việt Nam, nhưng có vài bài học bổ ích rút ra từ quá khứ.

Gorbachev cải cách nửa vời và chậm đã thất bại. Đợi lúc dân tự quyết định vận mệnh của chính họ trên đường phố thì không phải là giải pháp tốt nhất, tác giả perestroika và không ít người mong muốn.

Yeltsin thắng nhưng sau đó lại bị chính cái bẫy quyền lực hãm hại. Nước Nga rơi vào hỗn loạn một thời gian dài.

Chính trị gia hiểu thời cuộc thì sẽ giúp cho chính họ và hàng trăm triệu người.

Đừng để như Gorbachev hối hận “giá như ra khỏi ĐCS sớm hơn”, rồi ngồi than thảm trạng nước Nga sau này.

Còn Yeltsin trước khi thoái vị đã thỏa thuận với Putin không động đến gia đình ông vì lạm quyền, dối trá và tham nhũng.

Trong bài phỏng vấn, tay nhà báo The Guardian còn viết xỏ xiên về lễ sinh nhật thứ 80 của Gorbachev tại Royal Albert Hall. Một nhóm các ca sĩ lập dị như Shirley Bassey, Paul Anka, Melanie C, Scorpions, đã chơi cho ông nghe. Ít người chăm chú nghe.

Khi Gorbachev hát một bản tình ca Nga thì hàng ngàn khán giả mê mẩn giọng trong veo của nhà chính trị về vườn trong vai ca sĩ.

Jonathan Steele thú nhận là không biết Gorbachev có thể hát một cách tuyệt vời và có tài năng tiềm ẩn.
Gorbachev cười. “Nếu cần tôi sẽ trở thành một ca sĩ nhạc pop,” ông nói. “Raisa thích khi tôi hát.” He laughed. ” If necessary I’ll become a pop singer,” he said. “Raisa liked it when I sang.”

Gorbachev đã có lý. Cải cách chính trị nửa vời thì nên về đuổi gà và hát cho vợ nghe khi nấu bếp.



BLOG QUÊ CHOA

Phạm Nguyễn

1.Thú thực là tôi đã khóc khi nghe và nghĩ đến Sông Tranh. Trong thời buổi nước mắt (không… cá sấu) là thứ xa xỉ, phải nói thật là cảm xúc chia sẻ với nỗi khổ của nghững người dân nghèo Quảng Nam đang ngày đêm “sống trong sợ hãi” cũng chưa làm tôi bật khóc; song tôi đã trào nước mắt vì uất nghẹn trước sự vô cảm, vô trách nhiệm của những người có trách nhiệm khi họ nói về Sông Tranh.

Bia miệng sẽ để đời câu nói không có tính người của bà Ngô Thị Lư, Đoàn nghiên cứu Viện Vật lý Địa cầu: “Người dân quá kém hiểu biết, chỉ mới nghe động là đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy. Chính quyền nên giáo dục lại dân.”

Lòng dân thêm một lần “rung chấn” với phát ngôn: “Dân nên chia sẻ và hy sinh cho thủy điện!” của ông Trần Văn Hải, Trưởng ban Quản lý dự án thủy điện 3.

Xã hội nổi giận trước sự ráo hoảnh “đá bóng trách nhiệm” của quan chức Bộ Công thương về việc phê duyệt “cái gọi là báo cáo tác động môi trường” được làm theo phương pháp “copy and paste”: “Ở đây, Bộ TNMT phải chịu trách nhiệm trong việc xây dựng báo cáo”.

Và dư luận nhếch mép cười ruồi trước lời khuyên “Người dân và chính quyền tỉnh Quảng Nam phải tin vào kết luận của các nhà khoa học vì đó là… chân lý” của ông Phó Trưởng ban xây dựng Tập đoàn… “Điên nặng”.

2. Khi nghe những phát ngôn này, trong tôi bật lên những câu hỏi:
Tại sao một nhà khoa học (chẳng biết có thật không?!) được nuôi dậy bằng tiền của nhân dân lại có thể quay lại xỉ vả dân như vậy?

Tại sao ông Trưởng ban Quản lý lại có thể mở mồm đòi hỏi thêm ở nhân dân sự hy sinh? Nhân dân đã hy sinh như thế còn chưa đủ hay sao?

Tại sao vị quan chức bộ kia lại có thể điềm nhiên phủi tay với cái báo cáo “thơm mùi mỡ hành” và là liều thuốc đầu độc nhân dân, mà cấp dưới của mình làm “đầu bếp”?

Và tại sao ông Phó ban nọ không tự vấn, vì sao nhân dân lại không tin vào kết luận của các “nhà khoa học”?

3. Nhìn từ Sông Tranh, người ta thấy rằng, chưa bao giờ sự vô cảm lại… vô cảm đến thế! Chưa bao giờ người dân lại nhiều trách nhiệm đến thế! Và chưa bao giờ người dân lại cô đơn đến thế!

Thuỷ điện Sông Tranh là một vở bi kịch đang được hài kịch hoá.

Khi đến tận cùng nỗi đau, người ta thường trở lên hài hước.

Và khi đến tận cùng nỗi đau, người ta cũng rất dễ vùng lên!


Coca và Samsung rút quảng cáo trên Zing

Các hãng hàng tiêu dùng muốn nhắm vào giới trẻ

Hai công ty Coca-Cola và Samsung vừa rút các quảng cáo của mình khỏi Zing.vn sau khi được tin trang này cho phép tải lậu các bài hát Việt và phương Tây.

Thông tấn xã Hoa Kỳ Associated Press (AP) nói hai hãng trên đã ngừng quảng cáo trên Zing.vn khi được tin về tình trạng vi phạm trên trang web nằm vị trí thứ sáu trong các trang nhiều người truy cập nhất ở trong nước.

AP đánh giá đây là "chiến thắng hiếm thấy" chống nạn vi phạm bản quyền trên mạng ở một đất nước mà vấn nạn này tràn lan không ai kiểm soát.

Zing là công ty thuộc sở hữu của Tập đoàn VinaGame (VNG), tập đoàn hàng đầu trong mảng cung cấp trò chơi trực tuyến.

Tập đoàn này có đầu tư của công ty IDG Ventures, trụ sở San Francisco; và Goldman Sachs.

Tổng giám đốc IDG Ventures ở Việt Nam là ông Nguyễn Bảo Hoàng, chồng của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái duy nhất của đương kim Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Liên minh Bản quyền Trí tuệ Quốc tế (IIPA) năm nay đã cáo buộc Zing.vn nhiều lần vi phạm bản quyền.

Quan hệ kinh doanh

Lý do để hai tập đoàn khổng lồ quảng cáo trên Zing là vì thị trường của trang web này được nói là giới trẻ, thông thạo kỹ thuật, khá tiềm năng đối với sản phẩm của họ.

Ngoài Coca-Cola và Samsung, các công ty đa quốc gia khác là Canon, Yamaha, Intel và Colgate Palmolive cũng có quảng cáo trên Zing.

Về phần mình, Zing ra thông cáo nói không có bình luận gì.

Việc các hãng nước ngoài quảng cáo trên Zing.vn đã gây bức xúc trong giới nghệ sỹ Việt Nam, vốn cho rằng trang mạng này vi phạm bản quyền của họ một cách trầm trọng.

Sau khi được AP liên lạc về chủ đề này, Samsung và Coca-Cola nói trong hai thông báo riêng biệt rằng sẽ chấm dứt quảng cáo.

Coca-Cola nói sẽ tiếp tục điều tra

Thông báo của Samsung viết: "Chúng tôi rất tôn trọng bản quyền và phản đối bất cứ vi phạm nào, như sao chép và phân phối các tài liệu đã đăng ký bản quyền".

Samsung hiện quảng cáo máy tính bảng Galaxy trên Zing.

Coca-Cola cũng nói đã quyết định rút quảng cáo và "sẽ điều tra trước khi đưa ra quyết định tiếp theo".
Coca-Cola có quan hệ làm ăn khá thân cận với Zing.vn.

Năm 2011, hãng này đã cùng Zing tổ chức một giải thưởng âm nhạc và trang web đặc biệt dành cho chủ đề trên Zing đã thu hút tới sáu triệu người với 10 triệu lượt đọc.

Tình trạng các công ty có tiếng tăm quảng cáo trên các trang tải nhạc lậu đã bị chỉ trích lâu nay ở Hoa Kỳ.
Hồi tháng Năm năm nay, Hiệp hội các nhà Quảng cáo Hoa Kỳ đã khuyến cáo các thành viên ngăn chặn hoạt động quảng cáo bất hợp pháp trên.

Thông tấn xã AP cho rằng quyết định ngừng quảng cáo của Coca-Cola và Samsung có thể khuyến khích các trang web ở Việt Nam chấn chỉnh hoạt động.

Công ty MV Corp, đại diện cho khoảng một nửa số nghệ sỹ ở Việt Nam, nói một số website lớn như Zing đang có kế hoạch lấy tiền người tải nhạc, bắt đầu từ 1/11. Thế nhưng chưa rõ các trang web này có rút xuống các sản phẩm vi phạm bản quyền, và các công ty băng đĩa nước ngoài có tham gia hay không.

Các nghệ sỹ ở Việt Nam than phiền họ không thể có thu nhập bằng âm nhạc vì tình trạng vi phạm bản quyền, mà phải nhờ vào các nhà tài trợ.

Một trong các ca sỹ nổi tiếng, Lệ Quyên, đã khởi kiện Zing và tám website khác để đòi bồi thường.
Theo một số thống kê, khoảng 1/5 số khách truy cập Zing.vn là từ ngoại quốc.

Liên minh bản quyền IIPA đã lên tiếng hoan nghênh quyết định của Coca-Cola và Samsung.

Nguyễn Hưng Quốc - Nhân danh


Nguyễn Hưng Quốc


20% nguồn tiền lưu thông tại Việt Nam hiện tại là tiền đôla.

Khi nói đến thành ngữ “lòng tham không đáy”, chúng ta thường nghĩ ngay đến chuyện tiền bạc. Nhưng liên quan đến lòng tham, không phải chỉ có chuyện tiền bạc. Đối với quyền lực, người ta cũng không bao giờ biết đến giới hạn. Bao giờ những người có quyền cũng có khuynh hướng lạm quyền. Bởi vậy, một trong những vấn đề quan trọng và nhức nhối nhất của các chế độ dân chủ là tìm cách ngăn ngừa và chận đứng những sự lạm quyền ấy. Dĩ nhiên, đó không phải là điều dễ. Giới cầm quyền, từ dân chủ đến độc tài bao giờ cũng có những cách để thoát khỏi những sự ngăn chận ấy. Một trong những cách phổ biến nhất là…nhân danh.

Năm 2001, nhân danh sự an toàn của nước Mỹ, Tổng thống George W. Bush xua quân đánh Afghanistan. Năm 2003, nhân danh sự an toàn của thế giới, ông lại xua quân qua đánh Iraq. Trước những lý do rất mực chính đáng ấy, cộng với tâm lý vừa hoảng hốt vừa phẫn nộ sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9, phần lớn dân Mỹ đồng ý tham chiến. Trước đó, suốt thời Chiến tranh lạnh, bên phía tư bản, đứng đầu là Mỹ, lúc nào cũng nhân danh tự do; và phía cộng sản, đứng đầu là Liên xô, lúc nào cũng nhân danh sự bình đẳng, để tập trung quyền lực vào tay nhà nước và hành xử quyền lực ấy đối với các nước khác. Trước đó nữa, thời chủ nghĩa thực dân, tất cả các đế quốc đều nhân danh văn minh và sứ mệnh khai hóa để xâm lược, áp bức và bóc lột các nước nhược tiểu.

Ở đâu và thời nào cũng có những sự nhân danh như thế. Chỉ có điều, sau này, ở các nước dân chủ, những sự nhân danh như vậy, dù sao, cũng hạn chế và thường thì khá ngắn hạn. Trong dân chúng, đặc biệt giới trí thức, không phải ai cũng sẵn sàng chấp nhận những sự nhân danh như thế. Nhiều người không ngừng đặt vấn đề. Một lúc nào đó, chính quyền cũng phải chấp nhận sự thật và từ bỏ tham vọng nới rộng quyền lực của mình, trở lại những giới hạn mà luật pháp quy định.

Chỉ ở những quốc gia độc tài, những sự nhân danh như vậy mới sống lâu, do đó, mới gây nên những tác hại khủng khiếp. Một số nhà lãnh đạo cộng sản, từ Stalin đến Mao Trạch Đông và Pol Pot, đã nhân danh cách mạng, giết hại cả triệu người; riêng trường hợp của hai người trên, giết hại cả hàng chục triệu người, trở thành những sát thủ có bàn tay đẫm máu nhất trên thế giới trong suốt thế kỷ 20.

Việt Nam cũng thế.

Từ lúc được thành lập vào năm 1930 đến 1954, đảng cộng sản Việt Nam lúc nào cũng nhân danh lòng yêu nước để tập hợp quần chúng và thâu tóm quyền lực. Đánh Pháp: họ nhân danh lòng yêu nước. Ừ, thì cũng được. Nhưng giết hại các đảng phái quốc gia, những người cũng đang tìm cách chống Pháp như họ, họ cũng nhân danh lòng yêu nước. Từ năm 1954 về sau, họ vừa nhân danh lòng yêu nước vừa nhân danh cách mạng để phát động cuộc chiến tranh Nam Bắc kéo dài cả hai mươi năm và để thẳng tay đàn áp bất cứ người nào chống đối lại họ, thậm chí, chỉ hoài nghi họ. Hậu quả? Bao nhiêu xương máu của người Việt đã đổ xuống. Người ta ước tính, suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, từ 1954 đến 1975, ở cả hai bên, có khoảng ba triệu người bị giết chết. Còn những người bị giết chết trong các cuộc cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950, những cuộc thanh trừng dưới danh nghĩa chống xét lại vào giữa thập niên 1960 và trong các trại cải tạo ở miền Nam sau năm 1975 là bao nhiêu, chúng ta hoàn toàn không biết. Rồi số người chết trên biển cũng như trên đường vượt biên nữa. Người ta ước tính đến mấy trăm ngàn người. Một con số chính xác vẫn còn để ngỏ. Đợi các nhà nghiên cứu, sau này.

Mà thôi. Đó là những chuyện cũ. Từ gần hai thập niên gần đây, sau khi chế độ cộng sản ở Liên xô và Đông Âu sụp đổ, không thể nhân danh cách mạng được nữa, nhà cầm quyền Việt Nam lại nhân danh một điều khác: sự ổn định. Với họ, có hai khía cạnh cần sự ổn định nhất: chính trị và xã hội. Về chính trị, ổn định có nghĩa là: một, không có bạo loạn; hai, không thay đổi chế độ; và ba, không có đối lập hay đa nguyên đa đảng gì cả. Về xã hội, ổn định là không có chuyện xuống đường biểu tình. Vì bất cứ lý do gì.

Nói cách khác, ổn định, với họ, có nghĩa là mọi thứ đều ở trong nguyên trạng. Chế độ cộng sản đã sụp đổ khắp nơi rồi ư? Kệ nó! Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội vẫn cứ là “con đường phát triển tất yếu”. Ở khắp nơi làn sóng dân chủ dâng trào mãnh liệt ư? Kệ nó! Ở Việt Nam, dân chủ vẫn là điều cấm kỵ. Ở đâu người ta cũng lên án là Việt Nam độc tài và tham nhũng tràn lan ư? Mặc kệ! Chính quyền Việt Nam vẫn cứ là “chính quyền của dân, do dân và vì dân”!

Người ta đưa ra hai lý do chính để biện minh cho nhu cầu ổn định ấy.

Thứ nhất, để phát triển. Việt Nam đang nghèo và lạc hậu. Nhu cầu lớn nhất của Việt Nam là phát triển để mạnh mẽ, tiến bộ và giàu có ngang bằng các nước trong khu vực. Muốn vậy, Việt Nam cần ổn định cả về chính trị lẫn xã hội. Mô hình lý tưởng mà người ta nhắm tới là Trung Quốc và Singapore: Cả hai đều phát triển trên nền tảng một quyền lực ổn định, thậm chí, độc tài. Người ta cũng thường nêu lên các biến động chính trị và xã hội ở Thái Lan trong mấy năm trước với những cuộc biểu tình rầm rộ của cả hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn người, tràn ngập các khu phố chính ở Bangkok, làm tê liệt việc buôn bán và du lịch trong cả mấy ngày, có khi, cả tuần… để đe dọa dân chúng, kiểu: “Thấy chưa? Dân chủ là như vậy đó!” Người ta cố tình làm lơ một sự thật: bất chấp các biến động như vậy, kinh tế Thái Lan vẫn phát triển mạnh.

Gần đây, người ta nêu lý do thứ hai để biện chính cho nhu cầu ổn định: đối phó với Trung Quốc. Người ta lý luận: Trung Quốc mạnh, đang hăm he lấn chiếm Việt Nam, điều chính phủ Việt Nam cần nhất hiện nay là sự ổn định để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng đương đầu bằng cách nào thì người ta không nói. Điều dân chúng thấy, ngày này qua ngày khác, là những sự nhượng bộ liên tục. Ở đây, rất dễ thấy lập luận của nhà cầm quyền không vững chút nào cả: Một, một sự ổn định dựa trên sự trấn áp dân chúng chỉ là một sự ổn định giả; và hai, giữa sự ổn định giả ấy với một sự đoàn kết thực sự để chống lại ngoại xâm, chắc chắn, ai cũng biết, sự đoàn kết cần thiết hơn hẳn.

Trong bất cứ trường hợp nào, việc nhân danh ổn định cũng vẫn chỉ là một sự lừa bịp nhằm duy trì một chế độ độc tài và tham nhũng.

Với chiêu bài ấy, người ta tha hồ trấn áp dân chúng.


Minxin Pei - Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ chịu số phận bi đát không?


Minxin Pei, Foreign Policy, ngày 1 tháng Mười 2012
Trần Ngọc Cư dịch

Liệu giới lãnh đạo chóp bu của Bắc Kinh có thể phải chịu chung số phận với giới lãnh đạo Liên Xô cũ hay không? Có lẽ.

Bản thông cáo vào hôm thứ Sáu vừa qua cho biết Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ triệu tập Đại hội Đảng thứ 18 vào ngày 8 tháng 11 đã mang lại sự nhẹ nhõm tâm tư cho những ai lo lắng rằng những tai tiếng chính trị và cuộc tranh chấp quyền lực ở chóp bu của Chính phủ Trung Quốc đã phá hỏng cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo, cứ mười năm mới diễn ra một lần. Cuối cùng, giới lãnh đạo chóp bu của Đảng có vẻ đã thỏa thuận với nhau là phải làm gì với cựu Bí thư Trùng Khánh thất sủng Bạc Hy Lai (có khả năng đi tù) và đã nhất trí về việc đưa ai vào Bộ Chính trị và Ban Thường vụ nhiều quyền uy hơn.


Vì tất cả những lý do hiển nhiên, giới lãnh đạo chóp bu Trung Quốc sẽ cố gắng hết sức mình trong những tháng tới để phóng chiếu một hình ảnh đoàn kết và tự tin, đồng thời thuyết phục phần còn lại của thế giới rằng thế hệ lãnh đạo kế tiếp sẽ có đầy đủ khả năng để duy trì độc quyền chính trị của Đảng.

Đáng tiếc là, nỗ lực này sẽ khó có hiệu quả. Lòng tin của người dân đối với sự cố kết nội bộ và ban lãnh đạo Đảng đã bị lung lay vì vụ Bạc Hy Lai, vì nạn tham nhũng tràn lan, vì sự đình đốn của chương trình cải tổ trong thập kỷ qua, vì một nền kinh tế đang trì trệ, vì quan hệ với các nước láng giềng và với Mỹ ngày một xấu đi, và vì các bất ổn xã hội ngày một gia tăng. Những câu hỏi đang làm nhiều người trăn trở hiện nay là, Đảng còn bám víu vào quyền hành được bao lâu nữa? Và liệu Đảng có khả năng để quản lý một cuộc chuyển đổi sang thể chế dân chủ để tự cứu mình không?

Những câu hỏi này chắc chắn không phải là sản phẩm của những đầu óc chây lười. Trên nhiều phương diện, quyền lãnh đạo của Đảng sắp đi vào một thập kỷ khủng hoảng có tính hệ thống. Đã cai trị Trung Quốc 63 năm, Đảng đang tiến tới, trong vòng 10 năm nữa, tuổi thọ được ghi nhận của những chế độ độc đảng lâu dài nhất thế giới – Đảng Cộng sản Liên Xô cũ (74 năm), Quốc Dân Đảng tại Đài Loan (73), và Đảng Cách mạng Thể chế Mexico (71). Như một con người, một tổ chức như ĐCSTQ cũng phải già nua.

Hơn nữa, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đã đẩy nước này quá cái ngưỡng thường được gọi là “khu vực chuyển đổi sang dân chủ” (democratic transition zone) – tức là, một mức lợi tức đầu người trong khoảng từ 1000 USD đến 6000 USD (tính bằng sức mua tương đương của đồng tiền, Purchasing Power Parity, hay PPP). Các nhà khoa học chính trị đã nhận xét rằng các chế độ độc tài đối diện với nguy cơ thay đổi chế độ cao hơn khi mức thu nhập của người dân gia tăng. Cơ may để duy trì chế độ độc tài càng giảm một khi lợi tức đầu người của một nước vượt quá 6000 USD (PPP). Lợi tức đầu người của Trung Quốc đã lên tới 8.500 USD (PPP). Và gần như tất cả các chế độ độc tài trên thế giới với lợi tức đầu người cao hơn TQ đều là các quốc gia dầu lửa. Như vậy, Trung Quốc đang ở trong một môi trường kinh tế xã hội, trong đó việc quản trị quốc gia theo đường lối độc tài ngày càng trở nên thiếu tính chính đáng và không đứng vững. Những ai không tin điều này, xin hãy nhìn vào mạng xã hội Weibo của Trung Quốc (hay các blog cá nhân) để biết người dân Trung Quốc đang nghĩ gì về chính phủ của họ.

Như vậy, câu trả lời cho tính bền vững của chế độ độc đảng tại Trung Quốc là rõ ràng: viễn cảnh của chế độ này rất bi đát.

Câu trả lời cho câu hỏi, làm thế nào để một chế độ độc đảng có thể quản lý sự chuyển đổi chính trị để tự cứu mình, là đáng chú ý và phức tạp hơn.

Trên cơ bản, có hai con đường cho các chế độ độc đảng: con đường của Liên Xô chắc chắn dẫn đến sự tự hủy; và con đường của Đài Loan và Mexico dẫn đến sự tự canh tân và chuyển đổi chính trị.

Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, giới lãnh đạo chóp bu của ĐCSTQ đã bày tỏ quyết tâm không lặp lại thảm kịch Xô viết. Chính sách của họ, do đó, là tiếp tục chống lại mọi hình thức cải tổ chính trị. Kết quả, thật không may, là một đảng cầm quyền ngày càng xơ cứng, bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, và các quan chức cơ hội chủ nghĩa, tham nhũng, sa đọa như Bạc Hy Lai. Mặc dù Đảng có trên 80 triệu thành viên, nhưng hầu hết bọn họ gia nhập Đảng chỉ để khai thác các tài lợi mà Đảng cung cấp. Chính họ đã trở thành một nhóm đặc quyền đặc lợi, tách rời với xã hội Trung Quốc. Nếu sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCSLX) đưa ra được những bài học thực tế nào, thì những bài học đó nhất định không phải là lập trường chính thống của giới lãnh đạo Trung Quốc, khi cho rằng chính những cải tổ của Gorbachev đã đưa đến sự sụp đổ của Đảng. Sự thật đáng buồn là: chế độ Xô viết đã quá bệnh hoạn, không còn cứu vãn được nữa vào giữa thập niên 1980, bởi vì chế độ này đã chống lại mọi cải tổ suốt hai thập niên truớc đó dưới sự lãnh đạo của Brezhnev. Nghiêm trọng hơn nữa, ĐCSTQ phải biết rằng, cũng như hàng triệu đảng viên ĐCSLX, hàng ngũ của nó cũng gần như chắc chắn sẽ tan rã vào những lúc chế độ gặp khủng hoảng. Khi ĐCSLX sụp đổ, không có lấy một trường hợp điển hình nào mà các đảng viên trung thành chạy đến bảo vệ chế độ. Một số phận như thế đang chờ đợi ĐCSTQ.

Sự thể này chỉ để lại cho ĐCSTQ một lựa chọn duy nhất: đó là đường lối tự canh tân và chuyển đổi theo mô hình Đài Loan và Mexico. Những chế độ độc đảng tại Đài Loan và Mexico rõ ràng là những chế độ thành công nhất trong nỗ lực tự chuyển đổi thành những thể chế dân chủ đa đảng trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua. Mặc dù quá trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ của hai nước này là khác nhau và phức tạp, nhưng chúng ta có thể đúc kết bốn nhận định sau đây về sự thành công của họ.

Thứ nhất, giới lãnh đạo tại Đài Loan và Mexico đã đối đầu với một cuộc khủng hoảng về tính chính đáng (a legitimacy crisis) vào những năm 1980 và nhận thấy rằng các chế độ độc đảng nhất định sẽ thất bại. Họ không thể tự lừa dối mình bằng các ảo tưởng hay những điều láo khoét được nữa.

Thứ hai, lãnh đạo của hai nước này đã hành động trong khi chế độ của họ còn mạnh hơn phe chống đối và trước khi họ bị mất uy tín hoàn toàn, như vậy họ còn đủ khả năng để quản lý một sự chuyển đổi dần dần.
Thứ ba, lãnh đạo của hai nước đã tập trung quyền lực và thi hành chính sách độc tài trong Đảng, chứ không phải dân chủ trong đảng, để khống chế sự chống đối của phe bảo thủ trong chế độ. Trong những chế độ độc đảng, thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng chắc chắn sẽ dẫn đến một sự rạn nứt công khai trong giới lãnh đạo chóp bu, như vậy làm suy yếu nghiêm trọng khả năng của một chế độ có chủ trương cải tổ, trong việc quản lý sự chuyển đổi qua chế độ dân chủ. Ngoài ra, việc làm cho toàn bộ một hệ thống chính trị trở nên dân chủ hơn, chủ yếu thông qua các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh ở cấp thành phố và cấp quốc gia, sẽ cung ứng cho giới lãnh đạo chóp bu cơ hội để học hỏi một kỹ năng tối quan trọng: tìm kiếm hậu thuẫn của cử tri để giành phiếu và thắng cử. Những kỹ năng này không thể học hỏi từ việc thể hiện trí trá cái gọi là dân chủ trong nội bộ Đảng, mà thực chất chỉ là một tên gọi khác của sự mặc cả và sử dụng thủ đoạn với nhau trong giới lãnh đạo chóp bu.

Thứ tư, một lực lượng đối lập dân chủ ôn hòa là người bạn tốt nhất và lợi thế lớn nhất mà một chế độ độc đảng có chủ trương cải tổ cần phải có. Một lực lượng đối lập như thế là một đối tác thương thuyết và có thể giúp chế độ duy trì sự ổn định trong thời kỳ quá độ. Nó còn có thể đưa ra những điều kiện tốt đẹp hơn nhiều trong việc bảo vệ lợi ích của giới lãnh đạo chóp bu và thậm chí còn giúp họ tránh được tù tội.

Khi chúng ta nhìn vào các phần thưởng mà Quốc Dân Đảng (tại Đài Loan) và Đảng Cách mạng Thể chế (tại Mexico) đã gặt hái, chúng gồm có không chỉ những điều kiện thuận lợi cho việc đi ra khỏi bộ máy quyền lực (ngoại trừ Tổng thống Salinas, người bị buộc phải lưu vong vì tội tham nhũng), không một lãnh đạo cao cấp nào bị truy tố hình sự, cả Quốc Dân Đảng lẫn Đảng Cách mạng Thể chế đã chiếm lại được phủ tổng thống, vị trí quyền lực chính trị của hai nước, sau khi trải qua hai nhiệm kỳ trong thế đối lập.

Nhưng ĐCSTQ có thể thực sự học hỏi từ Quốc Dân Đảng hay Đảng Cách mạng Thể chế không?

Tạm gác ý muốn của mình qua một bên, ĐCSTQ gặp thêm một trở ngại nữa. Đảng này vẫn còn là một đảng toàn trị (a totalitarian party), chứ không phải là một đảng độc tài thông thường (an authoritarian party). Sự khác biệt giữa hai loại đảng này là, một đảng toàn trị bám sâu và lan rộng trong bộ máy Nhà nước và trong nền kinh tế hơn nhiều. ĐCSTQ kiểm soát quân đội, ngành tư pháp, bộ máy quan liêu, và nền kinh tế ở một mức độ lớn hơn Quốc Dân Đảng và Đảng Cách mạng Thể chế rất nhiều. Rút một đảng toàn trị ra khỏi một bộ máy Nhà nước là khó hơn nhiều. Thật vậy, nỗ lực này chưa bao giờ được thử nghiệm thành công. Tại Liên Xô cũ, nỗ lực này đã dẫn đến sự sup đổ chế độ. Tại Đông Âu, các cuộc cách mạng dân chủ đã không cho các chế độ toàn trị một cơ may thử nghiệm.

Vì thế, trách nhiệm dành cho các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc là rất đáng lo ngại. Việc đầu tiên của họ là tránh lao vào một cuộc cải tổ chính trị (political perestroika) kiểu Gorbachev, nhưng phải đi theo một tiến trình tháo gỡ tính toàn trị trong bộ máy Nhà nước và chuyển đổi ĐCSTQ thành một đảng như Quốc Dân Đảng của Đài Loan và Đảng Cách mạng Thể chế của Mexico. Nếu không theo biện pháp trung chuyển này ngay lập tức, ĐCSTQ có thể thấy rằng một sự sụp đổ kiểu Xô viết là tương lai duy nhất của mình.
M. P.
Minxin Pei là một giáo sư môn Chính phủ tại Đại học Claremont McKenna và là một nhà nghiên cứu thâm niên không thường trú tại Quĩ Marshall Đức của Hoa Kỳ. Công trình nghiên cứu của ông đã được đăng trên các tạp chí Foreign Policy, Foreign Affairs, The National Interest, Modern China, China Quaterly, Journal of Democracy và trong nhiều sách được biên tập. Nhiều bài xã luận của ông đã xuất hiện trên các báo Financial Times, New York Times, Washington Post, Newsweek International, và International Herald Tribune, cũng như nhiều nhật báo quan trọng khác.

Nguồn: Bauxite Việt Nam


J.B. Nguyễn Hữu Vinh - Chút kỷ niệm với nhà thơ, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện


J.B. Nguyễn Hữu Vinh


Nghe tin ông Nguyễn Chí Thiện từ trần, mình thấy thảng thốt. Vậy là một cuộc đời kết thúc, một con người đã ra đi. Ðơn giản, nhẹ nhàng nhưng đau xót.


Một buổi chiều ở Nam California nắng vàng rực rỡ, cái nắng không gắt gao như ở quê mình, bởi không khí vẫn cứ lạnh nếu bạn đứng vào trong bóng râm. Mình đang ngồi ở nhà một người bạn, bỗng một chiếc xe đậu ở cửa, một người đàn ông gầy gò ăn mặc theo lối mùa Ðông, đầu đội mũ phớt bước vào, người đi cùng giới thiệu: “Ðây là anh Nguyễn Chí Thiện.”

Mình giật mình, quả là không bao giờ nghĩ rằng mình có thể gặp “Ngục sĩ” ở đây. Ở Hà Nội, vài lần ngồi với anh bạn quê Hải Phòng, anh say sưa nói về Nguyễn Chí Thiện, một con người đã đi vào huyền thoại vì những năm tháng tù đày của một thời khắc nghiệt. Thỉnh thoảng đọc những bài thơ trong tập thơ Hoa Ðịa Ngục, mình thấy chí khí một con người khá mạnh mẽ vào thời buổi đầy sắt và máu. Nghĩ vậy, đọc vậy và biết vậy chứ chưa bao giờ mình nghĩ có thể gặp được ngục sĩ bằng xương, bằng thịt hẳn hoi. Mình chào hỏi và ngồi nghe ông nói chuyện.
Ông nói nhỏ nhẹ, bình thản về những năm tháng tù đày của mình ở Việt Nam, những trại giam nào ông đã đi qua, những ai ông đã từng gặp… nhiều thứ mình không thể nhớ nổi. Nhưng nhớ nhất là thái độ của ông khi nói về những chuyện đó, cứ nhẹ nhàng kể lại những sự việc khủng khiếp mà như kể câu chuyện nào đó xảy ra bình thường trong cuộc sống. Không có hận thù, không có căm giận, ông điềm tĩnh và bình thản lạ thường khi giải thích những điều mà mình lần đầu tiên được nghe và tự rùng mình.
Kể về những năm tháng trong tù ngục của ông, mình nhớ nhất câu chuyện về những ngày sau khi cuốn Hoa Ðịa Ngục của ông được xuất bản tại nước ngoài. Khi đó, ông vẫn cứ sống trong trại giam, mà ở trại giam khi đó, điều kiện để tiếp tế đồ ăn, thức uống từ gia đình là điều không thể có đối với ông, cuộc sống hết sức khốn khổ. Nhiều khi chỉ một điếu thuốc lá, một cốc nước chè là cả một mơ ước của tù nhân.
Ông kể lại rằng: Kể từ khi đưa cuốn sổ thơ vào Ðại Sứ Quán Anh trở ra để bị bắt vào nhà ngục, mọi thông tin về tập thơ hầu như không có phản hồi, không hề biết tập thơ của mình đã đi đến đâu và số phận mình sẽ ra sao.
Một hôm, có cán bộ đến hỏi ông về tập thơ Hoa Ðịa Ngục. Trong thâm tâm, ông sung sướng khi biết rằng: Như vậy, tiếng nói của ông đã vang lên từ bên ngoài biên giới.
Khi cán bộ hỏi ông về tập thơ, ông công nhận rằng đó là tập thơ của mình, nhưng làm đã lâu. Cán bộ hỏi ông có thể nhớ được những bài thơ trong đó và có thể chép lại không? Ông bảo: “Có thể, nhưng cần có thời gian và điều kiện như ở nhà tù này thì không thể nào nhớ được.”
Thế là từ đó trở đi, hàng ngày ông được đưa về một nơi khá tươm tất, được phục vụ nước, thuốc, ăn uống đầy đủ để… chép lại thơ mình. Ông mỉm cười nhỏ nhẹ: “Nhiều khi, cuộc sống tù đày khắc nghiệt cũng làm cho mình có vài chút mẹo vặt. Khi đó cho dù có thuộc nằm lòng từng bài thơ, thì mình vẫn cứ mỗi ngày chép ra một vài bài mà thôi, vì nếu đã chép hết thì lại trở về những ngày đói khát và giam cầm trong trại. Nhờ đó, mình được một thời gian khá dài không đến nỗi vất vả.”
Thời gian gặp nhau không dài, ngồi nghe những câu chuyện của ông nhiều khi cười ra nước mắt. Biết ông vẫn sống một mình kể từ khi sang Mỹ đến nay, mình hỏi ông chuyện gia đình, ông nói: Có lẽ cuộc sống của ông gắn với nhà tù và chính vì thế ông không có thời gian để lấy vợ, khi ra khỏi nhà tù thì đã 53 tuổi, thân hình ốm yếu lại cuộc sống bơ vơ rồi sang Mỹ mấy năm sau đó, chấp nhận một cuộc sống một mình. Vậy là cuộc đời của ngục sĩ đơn côi cho đến hôm nay khi nhắm mắt lìa đời.
Chia tay ông, biết mình từ Việt Nam sang, ông nhờ một việc: Năm 1991, trước khi ra tù, ông được điều trị tại bệnh viện 198 của Bộ Công An. Ở đó, có một gia đình làm ông nhớ đến nay nhưng không thể có tin tức, nay muốn tìm lại thông tin từ họ. Ðó là gia đình một sĩ quan phục vụ trong bệnh viện 198, khi đó giám đốc bệnh viện là Hoàng Tuấn. Gia đình viên sĩ quan này có một cô gái là Mai Thanh Hà mới 14 tuổi, ông đã dạy học cho cô bé một thời gian. Sự tận tình của ông đã được gia đình cô bé trân trọng và quý mến. Thế rồi ông ra tù đến nay đã 20 năm không có tin tức từ họ nay nếu có thể thì tìm thông tin cho ông. Mình cứ nghĩ là có thời gian để tìm hộ ông những thông tin đó, đã cố gắng hỏi vài ba người nhưng thế hệ sau này họ không biết được. Tưởng còn thời gian, nào ngờ ông đã ra đi.
Người bạn cho tôi biết, ông sống trong một căn hộ nhỏ ở Quận Cam với cuộc sống đơn giản, đạm bạc vì ông không ăn uống được nhiều. Bạn bè ông quý mến lo lắng cho ông nhiều thứ. Nhưng ông luôn nhớ về quê hương, về những người đã cùng cảnh ngộ với ông, nên thỉnh thoảng với những đồng lương còn lại, ông dành dụm gửi về giúp đỡ những người đó. Thật khó có thể nói hết tấm lòng của ông nếu chứng kiến ông với thân hình gầy gò và hoàn cảnh đơn độc ở một đất nước xa xôi vẫn nhớ về những người tâm huyết ở trong nước.
Thế rồi chia tay nước Mỹ, chia tay ông đã hơn 1 năm.
Hôm trước, nhận được tin ông ốm nặng chưa kịp hỏi thăm, nhưng mừng cho ông đã chính thức trở thành người con của Chúa. Ông đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy để trở nên con cái Chúa. Ông đã đáp lại lời Chúa mời gọi ông từ mấy chục năm qua. Lời mời gọi đó thông qua cuộc sống và cảm nghiệm của ông với các chứng nhân, qua những tấm gương của những linh mục, tu sĩ và giáo dân ở các trại giam ông đã từng nếm trải.
Hôm nay ông rời bỏ trần thế, nơi ông đã có cuộc sống nhọc nhằn và đầy vất vả. Cuộc sống đó không đem lại cho ông sung sướng về vật chất, về cơm ăn, áo mặc hoặc danh vị, tiền tài… Nhưng ở đó, sau 73 năm trên đời, ông để lại một tấm gương, nghĩa khí của một CON NGƯỜI.
Vĩnh biệt ông, cuộc gặp gỡ giữa chúng ta dù ngắn ngủi, giữa hai con người thuộc hai thế hệ khác nhau, nhưng qua đó, đã thấy đậm tình người và một chí khí cao cả, đầy nhân ái.
Xin Chúa đón nhận linh hồn Thomas More Nguyễn Chí Thiện được sớm về nơi thanh nhàn sau những năm tháng đớn đau nơi trần thế.
Là những tín hữu Công Giáo, chúng ta tin tưởng và xin hẹn gặp lại nhé, ngục sĩ Thomas More Nguyễn Chí Thiện.
Hà Nội, đêm 2 tháng 10, 2012


Minh Văn - Thời của những Nghịch Lý


Blog Minh Văn

Tôi đã đi từ muôn ngàn dặm
Và còn nhiều hơn thế nữa kia
Nhưng cũng chưa từng được thấy
Chuyện xây nhà từ nóc bao giờ...

Nhà nước của dân, do dân, vì dân...

Từ xưa cho tới nay, dù để xây một ngôi nhà bình dị hay toà lâu đài lộng lẫy thì người ta đều phải đặt nền móng trước, từ đó mới dựng nên công trình. Chứ không có ai lại đi xây nhà từ nóc cả, điều đó chỉ có trong trí tưởng tượng của con người mà thôi. Thế nhưng điều tưởng chừng như nghịch lý đó lại đang thực sự diễn ra tại Việt Nam. Để xây dựng một xã hội Cộng Sản hoang tưởng mà người ta toàn làm những điều ngược đời, giống như chuyện xây nhà từ nóc vậy.


Và bao giờ cũng vậy, nghịch lý thì đi kèm với bất công. Ở Việt Nam, những bất công đó thì đất nước và nhân dân phải gánh chịu, trong khi đảng Cộng Sản cầm quyền ngày càng vinh quang và vĩ đại. Kể cũng lạ, đó cũng là một điều nghịch lý nữa, nghịch lý của nghịch lý.

Có lẽ chúng ta cũng cần phải nhắc lại những điều nghịch lý mà đảng Cộng Sản đã thực hiện trong buổi đầu nắm chính quyền: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, đốt sách, ...; vì rằng những sai lầm kinh thiên động địa đó thì cả thế giới đều biết cả, nó khiến cho nền tảng đất nước lung lay và hàng chục vạn người bị chết oan.

Nhận thấy nếu không thay đổi thì chế độ độc tài sẽ sụp đổ, đảng Cộng Sản buộc phải thực hiện chính sách đổi mới đất nước kể từ năm 1986. Tuy chấp nhận một số nguyên tắc tiến bộ về kinh tế tư nhân và thị trường, nhưng vì vẫn ngoan cố duy trì thể chế độc tài Cộng sản mà họ lại sa vào con đường tự mâu thuẫn. Chính vì thế mà những nghịch lý lại không ngừng được sinh ra, tưởng chừng như chưa bao giờ nhiều đến thế. Họ thực hiện chính sách đổi mới nhưng thực chất là quá trình cởi trói nền kinh tế. Quá trình phát triển đó không tuân theo quy luật thị trường tự do, mà theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa”?. Từ đó mà hiện hữu một thực tế: ViệtNam vẫn tồn tại chế độ Độc Tài Cộng sản, nhưng lại mang những yếu tố của một xã hội tư bản hoang dã.

Điều đó đã dẫn tới một hệ quả tai hại: Xã hội Việt Nam tồn tại dựa trên những nguyên tắc của giá trị đồng tiền. Mọi mục tiêu đều được biện minh bằng tiền bạc, đó là điều duy nhất mà con người Việt Nam hướng tới, những giá trị khác bị xoá bỏ và quên lãng. Và cái giá trị xã hội đó được guồng quay của một bộ máy nhà nước độc tài toàn trị đảm bảo và duy trì. Họ duy trì những nghịch lý để kéo dài sự tồn tại của một thể chế chính trị ngược đời đang sắp đến hồi diệt vong.

Thực tế lịch sử, thì đảng Cộng Sản Việt Nam là một chi nhánh của Đệ tam quốc tế Cộng sản. Chi bộ ViệtNam chịu sự chỉ đạo của ban chấp hành đảng Cộng Sản Liên Xô. Vì thứ chủ nghĩa ngoại lai đó mà đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa. Để thực hiện lý tưởng của mình, người cộng sản đã từ bỏ dân tộc, xoá bỏ cội nguồn để áp đặt niềm tin mù quáng đó lên đất nước mình. Trên thực tế, lý tưởng Cộng sản là kẻ thù của chủ nghĩa dân tộc và các tôn giáo. Ngày nay, nền tảng lý luận bị lung lay, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Cộng sản là sai lầm. Để cứu vớt chế độ, đảng Cộng Sản lại bám víu vào chủ nghĩa dân tộc, coi đó là một giá trị thiết yếu cho sự tồn tại của chế độ. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng đó chỉ là hình thức, là cách thức lừa bịp mới của người Cộng sản mà thôi, trước khi bị chết đuối thì họ bám víu vào bất kỳ vật gì có thể.

Sau khi nắm chính quyền ở miền Bắc, rồi thống nhất đất nước, đảng Cộng sản đã thực hiện các chính sách ngu ngốc và man rợ. Đó là: Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, tiêu diệt văn nghệ sĩ, cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền, đàn áp và tiêu diệt các đảng đối lập, đốt sách...; những chính sách này chỉ phục vụ cho lợi ích của đảng Cộng sản, mà đi ngược lại với tinh thần dân tộc.

Xây nhà từ nóc...

Trước đây, khi đấu tranh để giành chính quyền, người Cộng sản cũng từng đòi hỏi tự do dân chủ, bình đẳng, công lý...; nhưng nay chính họ lại là kẻ thù của những giá trị đó, trở thành tay sai cho chủ nghĩa ngoại bang. Để rồi cuồng tín đến độ thực hiện những hành động tàn ác chống nhân loại, đày đoạ và giam hãm các giá trị tự do của dân tộc mình. Tinh thần quốc tế vô sản, nền chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã biến những con người một thời yêu nước trở thành kẻ thù của lợi ích dân tộc, của tự do, dân chủ. Điều đó là không thể hiểu nổi, và nó chỉ tồn tại trong một thời đại nghịch lý mà thôi.

Nếu ai hỏi tôi “Điều gì nghịch lý nhất trên cõi đời?”, thì tôi sẽ trả lời rằng: “Chủ nghĩa Cộng Sản!”. Nó hệt như câu chuyện xây nhà từ nóc mà loài người vẫn thường ví von để diễu cợt vậy.