Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Đặng Thơ Thơ - và ông vẫn là người duy nhất có thể tới dù không đóng vai nào trong câu chuyện


Đặng Thơ Thơ

LTS. Bài sau đây trích từ cuốn sách "Nguyễn Mộng Giác và bằng hữu" sẽ được ra mắt vào 1 PM ngày 6 tháng 10, 2012 tại hội trường Văn Lang, 14861 Moran St, Westminster CA 92683, trong buổi lễ tưởng niệm nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhân 100 ngày mất của ông.

Ảnh: Da Màu

Ngày 19 tháng 8

Cafe Tourane vào ngày thứ 49. Những người còn sống đi cafe để nhắc đến người vừa khuất, thất tuần. Người đã khuất mặt vẫn hiện hữu trong tâm trí người sống, sự ngăn cách chỉ là một chuyến đi. Một nhà thơ rất thân với tôi đã nói cách hồn nhiên: bốn chín ngày là có visa rồi, có visa là đi được rồi. Câu này khiến tôi thấy nhẹ lòng, vì đi là tốt. Đi trong ý nghĩ, đi trong văn học, đi trong dòng chảy của biến hóa. Nghĩ tới nhà văn Nguyễn Mộng Giác - mà tôi vẫn gọi là chú Giác - là nghĩ tới chuyện “đi”. Những cái viết của ông nằm trong chuyển động của việc đi, đi như thác của Sông Côn Mùa Lũ, đi như dời chuyển của Mùa Biển Động, đi không quay lại của Đường Một Chiều… Với một nhà văn, viết là không thể dừng, sự dừng lại mang ý nghĩa của tự hủy.

Một bạn văn rất thân khác tiếp nối câu chuyện visa: vậy là sẽ ăn cháo lú rồi. Câu này đánh mạnh vào tim tôi hơn, thảng thốt hơn, chấn động hơn. Lại một mệnh đề khác của siêu hình mà những người có mặt chỉ lặng lẽ gật đầu, trong giả dụ rằng dù có hộ chiếu mà muốn được đi, thì phải quên hết đã. Nhưng mà đi và quên, hai thứ này nhất thiết phải đồng hành với nhau sao?

Vào thăm chú Giác ở nursing home trong những ngày cuối, cô Diệu Chi đã cẩn thận nhắc nhở tôi, tránh không nói đến chuyện văn chương nữa, để cái ngã lặng yên.

Nên một phần tôi muốn chú Giác quên, để mà đi, đi bình yên. Một phần khác tôi muốn chú Giác nhớ, để tìm đến, trong đời sau. Quên vừa đủ để đừng luyến tiếc. Nhưng trong cái quên còn tiềm ẩn cái nhớ, mà cái nhớ của một nghiệp văn không sao mất được, nó dai dẳng, nó không ngừng, nó phải tiếp nối không thôi. Một lúc nào đó cái nhớ sẽ tỉnh dậy từ ký ức của nhiều tiền kiếp. Và cái nhớ sẽ đi tiếp con đường của nó.


Ngày 1 tháng 7

Người ta mang chú Giác về nhà.

Căn phòng để trút hơi thở cuối cùng nằm cuối lối đi, phía cánh trái của ngôi nhà. Một cửa sổ nhỏ nhìn ra khu vườn đang vào hồi rực rỡ của mùa hè. Cũng chính căn phòng này bao nhiêu lần tôi vào thăm chú sau khi nằm viện, sau những phẫu thuật. Chú Giác đang nằm đó, trên giường của bệnh viện chuyển tới. Nhiều người trong nhà, sự náo động bất thường. Đi mua các vật dụng với cô Chi, để chuẩn bị. Chú kêu đau. Những người con gái cho thêm thuốc giảm đau vào máu. Mắt nhắm. Chú không thấy tôi. Những ngón tay huơ lên từ chăn. Giọng nói độc chỉ một người có.

Cái chết đi từ dưới chân lên. Sự hủy hoại màu tím bầm. Cô Chi dặn những người con trai, con gái về nghỉ sớm để dưỡng sức, mình còn đi đường dài. Những đứa cháu chạy chơi quanh phòng khách. Người cảm nhận cái chết nặng nề nhất là người vợ, sự sống bị hút dần ra, sự cạn kiệt sắp đến gần, những ý tưởng bi thảm, tuyệt cùng. Nói như khóc.

Lúc đó tôi chưa kịp nghĩ đây ngày chủ nhật cuối của một đời người.


Ngày 18 tháng 8

Đi nhiều lần, vòng quanh những con đường vắng vào một buổi chiều tàn. Không đi một mình. Đi và trò chuyện với chú Giác trong ý nghĩ. Tôi cần nghĩ, mọi nơi, mọi lúc, mọi trạng thái, và mọi hành động để tránh cảm giác mình đang chết dần trong óc. Chú Giác chắc cũng vậy, đi vào thời gian, đi vào cõi chết bằng cách nghĩ, trong những ngày nằm trên giường bệnh. Nhà văn viết để đẩy ý nghĩ đi tới. Nghĩ là một cách đi nhanh.
Tự hỏi giờ này, sau khi lìa thân xác, chú Giác đã nghiệm ra những gì, đã chuẩn bị gì cho ngày mai. Ngày thứ 49. Một chuyến đi thật. Đầy đủ hộ chiếu. Exit ra khỏi trí nhớ của chính mình.

Và tôi nhớ lại câu chuyện exit trên freeway trong lần gặp đầu tiên với người chủ biên duy nhất của tôi.
Năm 1995, trong buổi ra mắt cuốn “Những Con Chuột Thời Thơ Ấu” của nhà văn Hoàng Khởi Phong. Lúc ấy trong giới văn chương tôi chỉ biết chú Hoàng Khởi Phong, người bạn của bố tôi. Lúc đó Mùa Xuân Trắng đã đăng trên Văn Học mấy tháng mà tôi không hay. Chú Hoàng Khởi Phong tìm tôi, nói anh Giác muốn gặp thơ-thơ, chú đưa truyện của cháu cho anh Giác, anh Giác đăng mà không biết điện thoại của cháu. Một khởi đầu của nghiệp văn như thế, bất chợt, tưởng chỉ là viết và chia xẻ với một người bạn. Chú nhắc lại, thơ-thơ nhớ đến chiều nay, anh Giác muốn gặp thơ-thơ lắm.

Chú Giác đến ngồi cạnh tôi buổi chủ nhật hôm đó. Cuộc gặp gỡ “nhẹ nhàng” và “dễ thở” hơn tôi hình dung. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, chủ bút Văn Học, xuất hiện như một người thầy kín đáo dấu sự uyên bác bằng vẻ ngoài khiêm tốn, hiền hòa, bình dị. Ấn tượng đầu tiên đó không thay đổi trong suốt những năm tháng sau này. Nói chuyện với chú Giác, tôi luôn có một chỗ riêng để thở, để tự tại, tìm được mình trong câu chuyện của người đối thoại. Chú Giác nói đùa vui, tinh tế. Một vị diễn giả hôm ấy có tài nói lâu hơn khả năng ghi nhận của thính giả. Nhiều lần tưởng là sắp xong định vỗ tay thì vị ấy lại nói sang mục khác, cứ thế, cứ thế. Chú Giác và tôi thỉnh thoảng lại nhìn nhau cười. Tôi để ý thấy chú Giác có cái cười rất nhẹ, nhưng mang sức hàm chứa cao, độ nén nhiều. Tôi thấy mắt chú có ánh nghịch ngợm tinh quái. Chú nói, “Người này thật ra đang kể chuyện lái xe freeway mà không tìm ra exit.”


Tháng 4 năm 2012

Những giấc mơ thi thoảng về chú Giác đã đẩy tôi đến.

Thăm cô chú trong ngôi nhà Văn Học. Chúng tôi ngồi trong phòng khách, trước lò sưởi. Chú Giác lại đi đứng khỏe mạnh như thường. Phòng hơi tối. Đang nói chuyện thì cô Chi có điện thoại. Nhìn lại thì thấy chú Giác đã chuyển sang bàn làm việc trong góc đối diện tủ sách. Sự chuyển động rất nhanh trong một chớp mắt như phim ảnh. Chú mặc quần áo chỉnh tề, áo sơ mi trắng tinh, đang cúi xuống thắt dây giày. Tôi trong tư thế chuẩn bị giúp đỡ nếu cần. Ở bên phải ống quần tây của chú chợt hiện ra những vết vàng thẫm. Những vết loang ra thành đốm. Những đốm vàng càng lúc càng dày lên. Một thứ chất vàng xẫm xền xệt. Những mủn gan đang thấm xuyên qua kẽ vải, tôi chợt nghĩ. Tôi tìm một cái khăn giấy Cleenex mỏng đưa chú thấm. Không đủ. Càng thấm càng đùn ra vải nhiều hơn. Tôi nhìn lên. Định kêu cô Chi. Thấy trên mặt chú Giác những mủn vàng xệt trào ra lên từ sống mũi. Tôi không mở miệng nổi. Tôi vốn sợ những chất lỏng nằm sâu trong cơ thể.

Tôi còn giữ lá thư chú gửi năm 1995 qua đường bưu điện đến địa chỉ nhà tôi ở Artesia.

Thời kỳ 1997-2002, viết xong cái gì là mang đến ngay.

Lúc đó tôi đã về Westminster, đi bộ đến nhà chú chỉ độ mười phút. Ngồi nói chuyện với cô Chi, chú Giác. Có khi nói cùng lúc, nghe cùng lúc hai đề tài khác nhau từ hai người. Có khi ở lại ăn cơm với cô chú, cười vang, có cả Cookie. Lúc mới đến nhà “ông bà Giác”, Cookie còn bé lắm, còn đứng trên ghế sofa, vừa ba tuổi rưỡi, đã biết nhận xét, bún bò bà Giác là ngon nhất, con biết ăn cay, cá kho ngon nhất, con ăn cá kho mỗi ngày được…

Điều này thuộc về một thế kỷ trước. Khi phòng khách của tòa soạn Văn Học mỗi cuối năm đầy đủ thân hữu đón tất niên. Không khí ấy, ánh sáng ấy, âm thanh ấy, chỉ cần nhớ tới là như đang sống lại. Khi ấy chủ bút Văn Học còn mạnh khỏe.


Năm 2010

Tôi đứng trong một căn phòng tối của City of Hope. Chú Giác ngồi trên giường. Sắp sửa bước vào một phẫu thuật mới. Hy vọng. Hy vọng. Bác sĩ thọc một cái ống plastic mềm vào bụng bệnh nhân, dán băng keo thật chắc. Một bác sĩ khác chích thuốc tê cho tôi. Ông ta kéo máy hút lại gần, đút ống thủy tinh vào lỗ rốn của tôi. Y tá nối ống thủy tinh vào ống plastic. Một dòng nước vàng đục chảy từ rốn tôi sang rốn chú Giác. Thời gian kéo dài rất lâu. Tôi quay đầu, nhắm mắt. Tôi không đau. Tôi chỉ không muốn nhìn thấy.

Tỉnh dậy, tôi muốn lấy điện thoại gọi cô Chi. Nhưng tôi ngần ngại. Tôi sợ nghe một cái tin chẳng may.


Ngày 5 tháng 7, 2012

Một vòng hoa tang cho một nhà văn vừa qua đời. Tôi nói với tiệm hoa thế.

Họ nhớ tôi. Tôi vẫn đến đặt vòng hoa nơi này, phần lớn để viếng những người viết. Chú Thảo Trường năm 2008. Chú Nguyễn Mộng Giác năm 2012. Tôi cũng sẽ có những vòng hoa khác do một vài người đặt sẵn.
Tôi nói muốn đặt một vòng hoa theo hình dáng một cuốn sách mở ra. Như thế, như thế…

Họ nói, chúng tôi không nhận làm cuốn sách vì không có sẵn khuôn mẫu.

Một tiệm khác nói, sorry.

Tiệm cuối cùng nói, có thể làm thế này, gắn hoa thành hình cuốn sách trên mặt phẳng hình vuông, được không? Như hình thánh giá trên trái tim, hình chữ vạn trong khung tròn?

Trên một mặt phẳng?

Tôi nói, tôi muốn một cuốn sách thật bằng hoa cúc trắng. Cuốn sách mở tung ra cho thiên hạ đọc. Một cuốn sách như hình dung trong đầu. Cuốn sách tồn tại trong một không gian ba chiều. Như cuốn tự điển bách khoa giữa thế kỷ trước, dày cộm, trang lớn, khổ rộng như tờ báo.


Ngày 6 tháng 7, 2012

N hỏi, tại sao ngay giữa thủ đô tị nạn, tập trung những tòa soạn, tiệm sách, nhà báo nhà văn, mà không có cuốn sách hoa tang?

Anh Phùng Nguyễn nói, làm được không đó cô?

Tôi nghĩ, hãy thử làm. Tôi muốn nhìn tận mắt những hình ảnh và những ý tưởng đang nung nấu trong đầu. Cũng như muốn đọc một cuốn sách đúng yêu cầu, mình phải tự tay viết (chú Giác vẫn hay nhắc nhở tôi viết một cuốn truyện dài), muốn có một vòng hoa như ý, mình phải tự tay làm.


Ngày 7 tháng 7, 2012

Kế hoạch lên khung như sau: hai tấm canvas gắn theo hình cuốn sách mở ra, một trăm bông hồng trắng phủ lên canvas, ba bó cỏ khô làm sớ sách, những chùm lan vàng lẫn vào violet tím rủ xuống trang sách, bảy cuộn ruy-băng tím quấn thành bảy chữ “tác phẩm - Nguyễn Mộng Giác - nhà văn”, sau đó viết toàn bộ tác phẩm lên giấy papyrus, dùng lông vịt trời chấm mực tím viết, sách đặt trên giá vẽ của N.

Tiệm hoa nói: không có hồng trắng, tất cả hồng trắng đã dùng cho đám cưới.

Những chọn lựa còn lại: cát tường trắng, huệ trắng, lan trắng, phải là màu trắng.

Lan trắng cũng đã cung cấp cho đám cưới. Cát tường mỏng manh không xuyên qua canvas được. Huệ trắng không đẹp.

Các bạn Da Màu đã cung cấp vốn liếng để tôi tìm vật liệu, họ tin tưởng tôi sẽ thay mặt Da Màu mang đến một vòng hoa khác lạ. Một thứ gì nói lên tình cảm của chúng tôi, nói theo một cách riêng.

Hồ Như sẽ nói, đúng là gan cùng mình.

Tất cả hoa sẽ tàn, ngay ngày Chủ Nhật hôm sau.


Ngày 8 tháng 7, 2012

Nhưng bây giờ là thứ bảy, thứ bảy còn năm chục bông cúc đại đóa trắng.

N đang là một họa sĩ điên cầm dao cắm vào canvas. Cúc đại đóa mọc ra từ những vết đâm.

Thiếu hoa, cúc đại hóa không lấp hết mặt vải, chạy ra đường hái vội Lily of the Nile, hái trộm tất cả những loài hoa trắng trên đường, vơ vét cả hoa dại, không còn thời gian nữa. Chúng tôi hối hả. Màu sắc đúng như mình đã tưởng tượng, màu tím than trên màu cỏ úa, màu xanh rêu lẫn trong màu vàng, màu trắng tràn ra ngoài trang sách.

Những bông hoa có một ngày để sống.

Cuốn sách mở tung ra.


Ngày 5 tháng 7, 2012

Nhận được email của anh Thường Quán: “Tối hôm nay quá nửa đêm vào giường đi ngủ, lần đầu tiên bị trường hợp như có ai thực sự tấn công mình (an attack by a spirit) thành ra phải thức dậy viết cái homage, còn vẽ nữa chứ. - Vẽ trước, viết sau. Đọc lại thấy đúng như hay nói chuyện với anh Giác.”
Tôi nhìn hình phác họa chú Giác của anh Thường Quán. Tôi không biết vẽ, nhưng tôi cũng muốn tượng hình một chân dung theo cách của tôi. Mỗi người nhìn chú Giác một cách riêng. Câu anh hỏi “Ai nhận ra nhà văn? (của mình)” khiến tôi cũng muốn tự tay dựng lại chân dung nhà văn ấy, giữa mọi người, duy nhất, như anh đã viết trên Da Màu.

Đây là tác phẩm của tôi cho chú Giác:
Sữa và rượu. Văn chương nuôi dưỡng chúng ta như sữa và làm chúng ta say như rượu. Những bình không, những chai rỗng, những vật để chứa đựng nhắc nhở tôi, rằng tôi đã uống trọn những chất lỏng của đời. Tôi nhìn tác phẩm này để nhớ đến điều còn lại, đến những tinh túy mình đã từng uống, từ những bình rỗng, từ những chai không kia.

Điều không nhìn thấy nữa đã ngấm vào thân thể.


Tháng 12, 2000

Con người lúc nào cũng điềm nhiên, sẵn sàng có câu trả lời… Một mẫu người hết sức giản dị, trang phục lẫn ngoại hình đều có thể chìm lẫn, một nhân dáng có thể dễ lãng quên. Nhưng tất cả những điều này sẽ chấm dứt khi lắng nghe ông nói… Một con người trầm lặng, thật ít lời, nhưng hễ nói thì lại tạo cho tôi những thử thách mới. (1)

Người chủ bút trong một nơi để viết của phòng triển lãm mùa đông, đã đọc tất cả, trả lời tất cả, viết thư tất cả, trao đổi tất cả. Đã hoàn tất vai một chủ biên văn học. Và đã dặn, hãy viết thêm chút nữa, ở đây, ở đây, “ý tưởng rất hay, nên khai thác thêm, vì vừa nên thơ vừa bi đát.” (2) Người đã ghi những dòng chữ nghiêng nghiêng đó bên lề trang giấy. Rồi tôi đã mang chúng lại vào trong truyện của tôi. Và tôi bắt gặp lại trên mặt ông nụ cười tinh nghịch khi đọc đến đoạn này.(3)

Người chủ bút đến thăm tôi giữa chương ba của cuốn tiểu thuyết trong một nơi để viết, khi tôi nhìn lên thì ông đã đi rồi. Ngày hai tháng bảy năm 2012 lúc mười giờ mười lăm tối. Đi vào giấc mơ của người khác và exit khỏi trí nhớ của chính mình. Nhưng với tôi, nhớ vẫn là hành động khứ hồi. Và ông vẫn là người duy nhất có thể tới dù không đóng vai nào trong câu chuyện.

______________________
  1. Những câu viết nghiêng trích ý hoặc nhắc lại nguyên văn từ truyện ngắn Một Nơi Để Viết trong tuyển tập “Phòng Triển Lãm Mùa Đông” (Văn Mới 2002)
  2. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã viết câu này trên bản thảo Nhà Trẻ của Đặng Thơ Thơ
  3. Nhân vật ông chủ bút trong Một Nơi Để Viết cũng đã viết câu này trên bản thảo chương ba của nhân vật “tôi”, nhà văn trong truyện.


Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Trà Mi - Giới blogger phản đối công văn 7169 của Thủ tướng Việt Nam


Trà Mi - VOA

Công văn 7169 mới ban hành của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang gây tranh cãi trong công luận, nhất là giới viết blog và những ai quan tâm đến các trang báo công dân trên mạng như Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, và Biển Đông. Công văn chỉ thị nghiêm trị những người xây dựng các trang báo không thuộc nhà nước này vì cho rằng các trang mạng ấy bôi nhọ lãnh đạo. Ba blogger từ ba miền Bắc-Trung-Nam của đất nước tham gia cuộc thảo luận trên Tạp chí Thanh Niên hôm nay nói lên phản ứng của họ về chỉ thị này.


Trà Mi: Về công văn 7169 của Thủ tướng vừa ban hành liên quan tới các trang mạng như Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, và Biển Đông, là những người trong cuộc, những người quan tâm, những người có góp bài cho Dân Làm Báo, các bạn có suy nghĩ gì khi biết thông tin về công văn này?

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Đối với tôi chả có gì để nói hơn nữa về những điều mà chính quyền Việt Nam đang làm với người dân nói chung, và với giới blogger nói riêng. Đó là tận cùng của sự thật vọng rồi chị ạ.

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Công văn 7169 này đối với giới blogger, tôi thấy nó cũng không có ảnh hưởng gì hết. Những gì đúng với luật pháp, lương tâm thì mình cứ làm thôi. Công văn này nói rõ là cấm xuyên tạc, nói xấu, sai sự thật. Mình nói đúng sự thật lấy gì mình sợ. Hôm trước có một blogger đã phát biểu rồi, rằng Thủ tướng mà viết những câu văn như vậy thấy sao vô duyên quá, không đúng tầm của một Thủ tướng.

Trà Mi: Trong công văn này có ghi rõ ‘điều tra, xử lý nghiêm’ những người tham gia xây dựng Dân Làm Báo. Các anh là những ngòi bút chấp bút góp bài cho Dân Làm Báo, các anh có nao núng trước điều đó?

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Tôi khẳng định luôn là chúng tôi không khuất phục. Chúng tôi sẽ vẫn cất cao tiếng nói chính kiến của mình bởi vì tiếng nói của chúng tôi là tiếng nói của sự thật.

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Chưa có công văn này từ trước giờ đã bị cấm đoán rồi. Đâu phải cần có công văn này đâu. Dân Làm Báo cũng đã bị đánh sập bao nhiêu lần, nhưng cứ đánh thì mọc lên lại. Chứ họ có cho đâu. Rõ ràng cấm là cấm nói sai sự thật, cấm tuyên truyền, phản đối, chống đảng, chống nhà nước. Tôi không chống ai hết. Áp bức, bất công, sai pháp luật là tôi chống thôi. Đảng không đảng, tôi không cần biết, không quan trọng đối với tôi.

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Việc nhà cầm quyền cấm đoán tất cả dân trong nước tiếp xúc với các nguồn thông tin đa chiều, hạn chế những tiếng nói đối lập thì trước nay họ đã làm từ rất lâu rồi. Họ hạn chế tuyệt đối quyền tự do ngôn luận và tất cả các quyền dân sự và quyền chính trị đối với toàn bộ dân tộc này. Mà bây giờ công văn này lại ra đời trong thời điểm này, tôi nghĩ nó có vấn đề riêng của nó.

Trà Mi: ‘Vấn đề riêng của nó’ ở đây ý anh là thế nào?

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Nguyễn Tấn Dũng cố ý muốn đánh vào Quan Làm Báo chứ không phải là hai trang blog ‘thái độ’ còn lại. Ông ta cần làm như vậy với mục đích ‘công báo tư thù’. Tôi nghĩ đây thuộc về vấn đề những tranh chấp quyền lợi trong nội bộ đảng cộng sản giữa phe nhóm của Nguyễn Tấn Dũng với phe nhóm của Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng.

Trà Mi: Trên cơ sở nào Hiếu cho rằng công văn này nhắm mục tiêu chính là ‘Quan Làm Báo’?

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Trang Dân Làm Báo có thể nói đó là một trang blog đối lập, đưa những thông tin bất lợi cho chế độ cộng sản, lúc nào cũng bị đặt tường lửa. Việc này họ đã làm từ trước tới nay, tại sao họ lại đưa ra công văn này để làm gì? Trang Biển Đông chỉ đăng tải những nội dung liên quan vấn đề Biển Đông, không thách thức sự cầm quyền của đảng cộng sản. Còn nội dung của Quan Làm Báo, tất cả thông tin đưa ra nhằm mục đích tấn công Nguyễn Tấn Dũng và phe cánh của ông ta.

Trà Mi: Hồi nãy bạn có nói công văn 7169 giới hạn quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam, vốn là một điều không lạ đối với những người yêu chuộng dân chủ. Nếu có lập luận cho rằng công văn này không giới hạn quyền tự do ngôn luận vì nó không cấm người ta nói, nhưng nó chỉ cấm những điều nhà nước cho là ‘chống phá’, ‘bôi nhọ’. Ý kiến các bạn thế nào?

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Rất lấy làm thú vị với phân tích của bạn Hiếu. Tôi nghĩ mình hoàn toàn có quyền suy luận như thế. Nhưng ở đây tôi quan tâm nhiều tới ảnh hưởng của công văn ấy đối tới quyền tự do ngôn luận như thế nào. Nói về quyền tự do ngôn luận, chúng ta sinh ra mỗi người đều có những tiếng nói khác nhau. Có những tiếng nói khác nhau thì tôi mới cho đó là quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ ý kiến của mình. Xâm phạm điều này cá nhân tôi cực lực lên án.

Trà Mi: Nhà nước cũng nói họ tôn trọng ý kiến phản biện, những cái mà họ cấm ở đây là vì theo họ, đó là những quan điểm hoàn toàn ‘bịa đặt’.

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Thế nhưng mà thực tế hiện nay, họ chưa bao giờ làm nổi một việc là chứng minh cho chúng tôi thấy là nó ‘bịa đặt’ chỗ nào, ‘xuyên tạc’ chỗ nào. Trong khi đó, chúng tôi chỉ đòi hỏi họ có một sự kiểm chứng thì họ không làm được. Cho nên, rõ ràng anh đã không chứng minh được những điều đó là ‘xuyên tạc, bịa đặt’ thì chúng tôi, những người tham gia hay theo dõi những trang này, có quyền tin hay không tin vào những thông tin trên đó chứ.

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Mục tiêu của việc này, theo tôi, là do người ta lo lắng niềm tin vào chế độ cộng sản sẽ không còn nữa. Chính quyền cộng sản tồn tại ngày nào, ngày đó họ sẽ còn hạn chế quyền tự do ngôn luận của công dân để duy trì, bảo vệ quyền lợi của chế độ. Nếu không hạn chế quyền tự do ngôn luận, chắc chắn sẽ có nhiều người biết đến những cái xấu xa trong guồng máy nhà nước, guồng máy lãnh đạo.

Trà Mi: Nói tới quyền tự do ngôn luận trong đó có quyền tự do tiếp cận thông tin, xin hỏi các bạn, về phương diện thông tin, giá trị và tác dụng của những trang đang bị nhắm mục tiêu này ra sao?

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Dân Làm Báo đăng tải rất nhiều thông tin cổ võ cho dân chủ-đa nguyên, đa đảng, tự do. Nó thách thức quyền lực của đảng cộng sản.

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Trong ba trang này, chính là Dân Làm Báo rất là có lợi cho người đọc là nhân dân. Những người nào vô đó đọc sẽ biết được thông tin nhiều chiều. Lượng thông tin trên đó nhiều, nhanh, thực tế, luôn kèm hình ảnh rất sát. Dân Làm Báo hay một điểm nữa là không có và không cần lực lượng cộng tác viên chính thức. Ai thấy bài nào được thì đăng lên chứ không cần biết có phải cộng tác viên hay không. Quan Làm Báo thì nhắm vào đối tượng chính là gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng.

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Tôi ủng hộ trên tư cách người đọc. Tự chúng tôi sẽ trang bị cho mình những kiến thức để hiểu biết được những thông tin tốt hay chưa tốt. Tôi cũng mong rằng nhà nước Việt Nam với 700 tờ báo của họ thoải mái nói, thì hãy để cho các trang blog này được quyền nói thoải mái. Còn người tiếp cận thông tin, trong thời đại văn minh như bây giờ, người ta không nhầm lẫn đâu.

Trà Mi: Các bạn ghi nhận hiệu ứng từ sau khi có công văn này trong giới blogger, độc giả, hay những người quan tâm như thế nào?

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Văn bản này không có giá trị. Thực tế nhất là hai bữa nay từ sau khi có công văn, xuất hiện Vua Làm Báo, Đảng Làm Báo, Ma Làm Báo…Nào giờ không ai biết trang Biển Đông là gì, nhưng khi có công văn này ra, người ta cố tình tìm đọc trang này.

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Tác dụng mong muốn của họ để hạn chế mọi người đọc và tham gia viết bài, tôi nghĩ có hiệu ứng ngược.

Trà Mi: Dẫu là có những hiệu ứng ngược ngay sau khi có những quyết định từ chính phủ đối với những tiếng nói phản biện, nhưng chung cuộc, thực tế cho thấy những gì chính phủ muốn nhắm mục tiêu, họ cũng đạt được những mục tiêu đó. Những blogger mà họ nghĩ rằng phản biện, chống đối nhà nước, họ cũng đã xử lý. Bằng chứng cho thấy không ít các blogger bị bắt giam, bị lãnh án, các trang blog hay web không theo lề phải của nhà nước cũng bị đánh sập hoặc không thể hoạt động được lâu dài. Đó là tác dụng trên thực tế của những biện pháp từ phía nhà nước. Theo các bạn, ba trang blog liệu sẽ đi về đâu dựa vào tình hình thực tế tại Việt Nam?

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Trong kịch bản thực tế hiện nay, việc họ nhắm vào đâu thì hoàn toàn ở đó có thể là mục tiêu bị trừ khử. Điều đó hoàn toàn có khả năng xảy ra trong tầm tay của họ. Nhưng bằng chứng cho thấy sau mỗi đợt truy quét, đóng cửa các trang blog thì hầu như lại xảy ra một hiệu ứng giống như ‘nấm mọc sau mưa’, xuất hiện hàng loạt các trang khác thậm chí còn có phần hơn như thế.

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Dân Làm Báo hay các trang của Đàn Chim Việt, Dòng Chúa Cứu Thế đã bị đánh phá từ lâu nay rồi. Tất cả những độc giả của các trang blog này là những người quan tâm đến vấn đề chính trị-thời sự ở Việt Nam. Cho nên, khi các trang này bị sập, bị phá, bị đặt tường lửa, người ta vẫn tìm cách vô thôi. Nó vẫn tồn tại mặc dù có thể gặp nhiều khó khăn.

Trà Mi: Đó là nói về tác dụng tức thời và hiệu ứng lâu dài của những chính sách ngăn chặn các trang blog phản biện tại Việt Nam. Là những người góp bài hoặc ủng hộ cho các trang blog này, trước công văn của chính phủ đòi dẹp các trang bị cho là ‘phản động, xuyên tạc’ như thế, các bạn chuẩn bị cho mình tinh thần như thế nào, cách ứng phó ra sao để có thể tiếp tục bảo vệ những trang báo mà các bạn cho là cần thiết và hữu ích cho xã hội?

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Đối với tôi chuyện đó rất bình thường. Tôi vẫn ủng hộ tối đa và tôi công khai ủng hộ. Công an có hỏi tôi cũng nói thế vì các trang đó viết lên sự thật. Riêng Quan Làm Báo, tôi nghĩ, có thể sẽ tự dẹp vì cách viết và bài vở trên đó nặng về tính cách cá nhân và phe phái. Còn Dân Làm Báo rõ ràng là trang báo dành cho người Việt Nam đọc. Thông tin trên đó rất trung thực. Nói về thông tin ‘sai trái, vu khống, bôi nhọ’, tôi dám nói là mấy trăm tờ báo kia kìa. Đài truyền hình VTV của nhà nước nói người biểu tình chống Trung Quốc nhận tiền từ thế lực nước ngoài, hứa trưng ra chứng cứ, nhưng rốt cuộc đâu có. Đó mới là bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu, không đúng sự thật. Còn Dân Làm Báo nói chỗ nào không đúng sự thật, chỉ cho tôi coi.

Trà Mi: Là những người quan tâm đến Dân Làm Báo, góp bài cho Dân Làm Báo, trước những biện pháp mạnh tay của chính phủ đối với trang này, nếu có cơ hội nói chuyện hoặc gióng lên tiếng nói của mình với giới hữu trách, các bạn sẽ nói gì?

Blogger Huỳnh Công Thuận ở Sài Gòn: Sẵn sàng lãnh án nếu bị ghép tội, nhưng viết là vẫn viết, không có gì để sợ hết. Đúng sự thật thì tôi cứ đưa tin. Còn anh nếu muốn ghép tội, vu khống, bắt bớ kiểu nào thì anh cứ làm. Vì công lý, sự thật, người ta sẵn sàng viết tiếp.

Trà Mi: Anh Thuận khẳng định ý chí theo đuổi sự thật và công lý. Các bạn khác, nếu có cơ hội nói với người hữu trách nguyện vọng của mình trước công văn 7169, các bạn sẽ nói gì?

Blogger Trương Ba Không từ Bắc Cạn: Thứ nhất, về những hiệu ứng tức thời và lâu dài của công văn này để bóp nghẹt tiếng nói sự thật, quyền tự do ngôn luận, tôi muốn nói với họ rằng họ hoàn toàn chỉ có thu được hiệu ứng ngược. Họ đang sử dụng uy quyền của nhà nước đối với chúng tôi, nhưng điều đó cũng không ngăn cản được tiếng nói sự thật của chúng tôi, không ngăn cản được sự ủng hộ của chúng tôi đối với các tiếng nói khách quan thông qua các trang blog này để phản ảnh những tiêu cực trong xã hội. Đúng như câu nói rằng đã đến lúc ‘Chó cứ sủa và đoàn người vẫn cứ tiến.’

Trà Mi: Đó là nguyện vọng với những người hữu trách. Một thông điệp chia sẻ với những độc giả trong xã hội về những trang báo này, Hiếu sẽ nói gì?

Blogger Huỳnh Trọng Hiếu tại Quảng Nam: Tự do ngôn luận là quyền thiêng liêng của con người được quy định trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Không bất kỳ một chính quyền nào, một thế lực nào trên thế giới có quyền tước bỏ đi cái quyền thiêng liêng đó của một con người. Muốn tìm chân lý, phải bỏ công đi tìm và phải dùng khả năng tư duy của mình để nhận thức vấn đề đúng sai, không ai có thể làm thay chúng ta. Phải tự đi tìm nguồn thông tin đa chiều thật sự cho mình để nhận thức về xã hội hiện đang như thế nào và hiểu được thế giới hiện nay đang bước những bước đi to lớn thế nào.

Trà Mi: Cảm ơn các bạn đã dành thời gian cho chương trình, chia sẻ cảm nghĩ liên quan công văn 7169 nhắm tới các trang blog phản biện ở Việt Nam.

Theo tổ chức bảo vệ nhân quyền Phóng viên Không biên giới, Việt Nam thuộc nhóm ba nước đứng đầu thế giới về giam cầm blogger và những người thể hiện quan điểm bất đồng chính kiến trên mạng, sau Trung Quốc và Iran, với ít nhất 19 blogger đang bị giam giữ. Việt Nam hiện xếp thứ 172 trên 179 quốc gia trong bảng xếp hạng về Chỉ số tự do báo chí 2011-2012 và nằm trong danh sách ‘Kẻ thù của Internet’ do Phóng viên Không biên giới thực hiện. Báo cáo của Ủy ban Bảo vệ Ký giả quốc tế CPJ cho biết Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia kiểm soát truyền thông nghiêm ngặt và khắc nghiệt nhất tại khu vực Châu Á.


Phan Thanh Tâm - Ai Giữ Tập bản thảo Hoa Địa Ngục?


Phan Thanh Tâm

Tập thơ Hoa Địa Ngục được ai cất giữi kể từ khi Nguyễn Chí Thiện xộc vào Tòa Đại Sứ Anh ở đường Lý Thường Kiệt Hà nội ngày 16/7/79. Bà Lê Mạnh Hùng tức nhà báo Lê Phan cho biết tập thơ được gửi về Bộ Ngọai Giao London. Vì không hiểu nội dung, họ chuyển cho Giáo sư Patrick G. Honey. để tham khảo. Ông là cố vấn, chuyên viên số một về Việt Nam của Bộ.


Bà Trưởng Ban Việt ngữ cũ đài BBC Judy Stowe cho Lê Phan hay là sau khi nhận được trả lời của Giáo sư Honey về tập đó là gì, "họ viết báo cáo và coi như mọi chuyện đã xong". Còn tập thơ, họ hỏi ông Honey có muốn giữ không? Nếu không họ đem hủy. Là một học giả, vị giáo sư này mới xin trao cho ông để làm tài liệu.

Lê Phan trong một điện thư viết rằng, "văn khố nào mà cất một tập bản thảo chưa được xuất bản không tên tuổi". Văn khố Anh Quốc mỗi ngày phải tiếp nhận biết bao nhiêu cuốn sách, thời giờ đâu mà tiếp nhận một bản thảo như vậy. Vả lại, Nguyễn Chí Thiện lúc bấy giờ là "một người vô danh tiểu tốt". Bộ Ngoại giao Anh chẳng muốn giữ thì đưa vào văn khố để làm gì?

Giáo sư Honey, về hưu không còn muốn dính tới vấn đề Việt Nam nữa, đã tặng nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến tập Hoa Địa Ngục khi gặp lại ông bạn già, sau hơn hai chục năm xa cách vì thời cuộc, trong dịp ông Như Phong sang viếng Anh Quốc năm 1997. Thời gian ở Anh, Như Phong tá túc nhà hai vợ chồng Lê Mạnh Hùng. Trước khi về Mỹ, giấy tờ, tài liệu sách báo nhiều quá, ông gửi lại một số. Chẳng được bao lâu, ông lâm trọng bệnh; qua đời ngày18/12/2001, hưởng thọ 79 tuổi.

Ông có ba người anh đều bị Cọng sản giết năm 1945. Nhà báo Như Phong sau 1975 bị đi học tập cải tạo mãi đến năm 1994 mới định cư ở Mỹ. Năm 1993, Tổ Chức Human Rights Watch chọn ông để trao giải thưởng Tự Do Phát Biểu Tư tưởng. Ông từng làm cố vấn cho Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát và Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ. Từ năm 1962, ông được thế giới biết đến qua những loạt bài viết cho các tạp chí nghiên cứu ở Luân Đơn trên tờ The China Quarterly hay The Forum World Features.

Lê Phan cho biết nhân một buổi dọn dẹp, sắp xếp đồ đạc, soạn thấy tập thơ của Nguyễn Chí Thiện nên mới định bụng là sẽ trả cho tác giả vì Như Phong đã mất. Lê Phan viết "việc chỉ có vậy thôi. Tụi này hoàn toàn là kẻ đưa thư". Hôm sang Cali vì quá ít ngày, lại không biết ông Nguyễn Chí Thiện nên mới phải nhờ Đinh Quang Anh Thái chuyển lại cho ông này.

Tập Hoa Địa Ngục xuất hiện lần đầu tiên hồi tháng 9/80 do Thời Tập ở Virginia in ra, không tên tác giả, không đầu đề, nhưng đã gây xôn xao trong dư luận vì những vần thơ "có sức phá vạn lần hơn trái phá". Gần hai năm sau, người ta mới biết tác giả là Nguyễn Chí Thiện bị chế độ của Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hoà đày đến tầng cuối địa ngục trần gian,

Phan Thanh Tâm
Saint Paul 28/12/08


Hai Tập Thơ Tù Nguyễn Chí Thiện & Hồ Chí Minh


Tản mạn của Phan Thanh Tâm


Từ tù lớn đến tù nhỏ, từ tù thời Tây cho đến tù thời nay, Việt Nam là nước có số lượng văn thơ tù ngục nhiều nhất thế giới. Đố ai đếm được nước mình có bao nhiêu thơ tù thì cũng như đố ai biết lúa mấy cây, biết mây mấy từng hay đố ai nằm ngủ mà không mơ vậy. Tuy thế, hầu như mọi người trong chúng ta đều nghe nói tới hai tập thơ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện và Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh.

Hoa Địa Ngục với “những vần thơ từ đau khổ bao la” xuất hiện lần đầu tiên hồi tháng 9/80 một cách khá ly kì, do Thời Tập ở Virginia in ra, không tên tác giả, không đầu đề , “song sức phá vạn lần hơn trái phá” của tập thơ đã gây xôn xao trong dư luận. Gần hai năm sau, người ta mới biết tác giả là Nguyển Chí Thiện, một cái tên lạ hoắc, bị chế độ của Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hoà, tác giả tập thơ Nhật Ký Trong Tù, đày đến tầng cuối địa ngục trần gian, khiến ông phải than rằng: “Tôi sợ bác Hồ vạn lần hơn bác Hổ.”


Nguyễn Chí Thiện, tác giả 'Hoa Ðịa Ngục'

 Nhật Ký Trong Tù được công bố đầu tiên năm 1960, sau vụ Nhân văn Giai Phẩm; năm 1990 mới cho xuất bản toàn bộ gồm 133 bài. Các bộ máy công quyền Việt Nam đã vận dụng mọi phương tiện để năm châu biết Hồ Chí Minh, chẳng những là một nhà cách mạng mà còn là một nhà thơ, một nhà văn hóa nữa. Khác với Hoa Địa Ngục, tập thơ của họ Hồ viết bằng chữ Hán về tù ngục bên Tàu, từ 29-8-1943 đến 10-9-1943, thời Tưởng Giới Thạch, được dịch ra tiếng Việt để giảng dạy ở các trường trong nước.

Có thể nói sách nào viết về Hồ Chi Minh cũng đề cập tới Nhật Ký Trong Tù. Nó như đứa con cưng được cung phụng đủ điều. Viện Văn Học trong cuốn Suy Nghĩ Mới Về Nhật Ký Trong Tù, với sự cọng tác của 21 Giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên ngành cho biết “Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh đã được tìm hiểu, nghiên cứu hầu như về tất cả mọi phương diện và công bố dưới nhiều hình thức khác nhau: khảo luận, giảng dạy, bình thơ...” Tác phẩm này được dịch in ở nhiều nước trên thế giới như Liên sô (cũ), Pháp, Balan (cũ), Hungari (cũ), Trung Quốc, Tiệp Khắc (cũ), Mỹ...

Trái lại, Hoa Địa Ngục “tưới bằng xương máu thịt” trong các nhà tù miền Bắc thì lại là một tai họa, lại có cơ bị chôn vùi theo người cưu mang ra nó. Nguyễn Chí Thiện đã phải mất ba ngày moi trong bộ nhớ ở đầu mình, viết lên giấy 400 bài thơ để đưa đứa con tinh thần đào thoát. Ngày 16/7/1979, ông dứt khoát xộc vào Toà Đại Sứ Anh, xin tị nạn nhưng bị từ chối. Ông trao cho họ tập thơ và ba tấm hình. Ông khẩn khoản mong họ cho Hoa Địa Ngục phổ biến ở các nước tự do.

Vào Tù Vì Sự Thật

Bước ra ông bị Cảnh sát bắt đưa thẳng vô Hoả Lò, được gọi là “Hanoi Hilton”, nơi giam giữ phi công Mỹ bị hỏa tiễn Nga bắn hạ. Đây là lần thứ ba ông sống với “rận, chấy, kẹp cùm, thối khai, dớt dãi”. Lần thứ nhất ông bị bắt năm 1961 sau khi dạy Sử thay cho một người bạn; vì lời nói “nước Nhật đầu hàng bởi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki” chớ không như cuốn Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 của nhà sách Sự Thật viết “quân Nhật đầu hàng vì thua quân Nga ở Manchuria.”

Lần thứ hai bị tù, năm 1966, vì công an gán ông là tác giả các bài thơ phản động, truyền miệng trong dân chúng ở Hải Phòng và Hà Nội. Ông hay nhẩm thơ trong đầu vì ở tù, giấy bút không có và bị khám trại thường xuyên.  Qua lời tựa tập thơ Hoa Địa Ngục do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ in năm 2006, Nguyễn Chí Thiện thố lộ, “Có những ngày mưa rét, vừa nhẩm đọc, vừa ứa nước mắt, lưng tựa vào tường, người run rẩy”. Để nhớ, ngày nào ông cũng đọc thơ đã làm, “làu làu như một cuộn băng.”

Còn Hồ Chí Minh nếm mùi tù mấy lần? Lần đầu gần hai năm từ 6/1931 đến 1/1933 ở nhà tù Trung Ương Hồng Kông và nhà tù Victoria vì Tống Văn Sơ - tên Hồ Chí Minh bấy giờ - hoạt động cho Cọng Sản quốc tế, bị giam chung với ông già họ Lý “độ 60 tuổi, hòa nhã, mưu trí, và gan góc, giỏi chữ Trung Quốc, làm được thơ.”  Lần thứ hai ở huyện Đức Bảo tỉnh Quảng Tây ngày 27/8/1942. Ông rời hang Pác Bó – mà Nguyễn Chí Thiện gọi là hang Ác Thú – ngày 13/8/1942 trở lại Trung Quốc nhằm tìm sự hỗ trợ cho lực lượng của ông từ các nước đồng minh chống phát xít với cái tên mới là Hồ Chí Minh.

Theo sách báo Cọng sản, sau nửa tháng băng rừng, Hồ Chí Minh bị bắt ở Túc Vinh ngày 27/8/1942; bị giải giam qua 30 nhà tù thuộc 13 huyện tỉnh Quảng Tây. Nhờ sự can thiệp, vận động từ đảng bộ Cọng sản và Liên sô cùng các nhân vật trong chính giới Trung quốc ông được thả ngày 10/9/1943. Hồi ký của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho biết, “Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pác Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc.”

Con vua thì được làm vua. Thơ vua thì buộc cả nước vỗ tay reo hò khen hay. Đó là thơ tù của Chủ tịch nhà nước dù sinh ở Tàu, viết tiếng Hán. Thơ tù “của người dân đen, của lớp người sống cực nhọc nhất, thê thảm nhất” ở trong nước phải trốn chui trốn nhủi, phải cao chạy xa bay. Hoa Địa Ngục ra khỏi Việt Nam, vọt xa và cao như rồng gặp mây. Nó ghi chép cảnh thực, tình thực, của một giai đoạn lịch sử đớn đau tột độ, không cường điệu, khuếch đại, bôi đen; lấy chất liệu từ muôn ngàn cuộc đời bị tan nát, chôn vùi.

Uy danh của Hồ Chí Minh đã tỏa sáng cho Nhật Ký Trong Tù. Trái lại, Hoa Địa Ngục thì mang tác giả ra khỏi cuộc đời đen thui. Giờ đây Nguyễn Chí Thiện là một trong những tên tuổi Việt Nam lẫy lừng nhất thế giới. Trước đó, tuy chưa biết của cha căn chú kiết nào nhưng báo nói, báo in các nơi đã đua nhau phổ biến “tiếng của cuộc đời nức nở” trong tập thơ. Hơn hẳn Nhật Ký Trong Tù, chưa có nhạc sĩ người Việt nào phổ nhạc; nhiều bài trong Hoa Đia Ngục đã được nhạc sĩ Phạm Duy,  Phan văn Hưng, Trần Lãng Minh, Nguyễn Văn Thành (Dân Chủ Ca) đưa vào âm nhạc. Một số bài có cả lời Anh nữa.

Giải Nobel Về Văn Chương

Ba lần được đề cử lãnh giải Nobel về Văn chương; vào tự điển Who’s Who in Twentieth-century World Poetry; hội viên danh dự của nhiều trung tâm văn bút Pháp, Hoà Lan…; được nhiều giải thưởng: Giải thưởng thơ Rotterdam (1984), Freedom to Write Prize của Trung tâm Văn bút Hoa Kỳ, và ba năm làm khách danh dự của International Parliament of Writers; dịch ra tiếng Anh, Pháp, Đức, Tiệp, Hòa Lan, Trung Hoa, Đại Hàn… bởi các dịch giả nổi tiếng như: Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Ngọc Bích, Ỷ Lan, Võ Văn Ái, Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Ngọc Phách, Bùi Hạnh Nghi, Bùi Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Quỳ, Jachym Topol, Dominique Delaunay…

Ngoài ra, nhân Nghị Hội Quốc tế các Nhà văn (Parlement des Ecrivains) ở Âu Châu bảo trợ để giúp ông phục hồi sức khỏe ở St-Lô gần Normandie (Pháp) và  nghiên cứu, diễn thuyết từ 1999 đến đầu tháng 6/2001, ông đã hoàn thành tập truyện Hỏa Lò, gồm sáu truyện ngắn, một truyện vừa. Đôi khi trong cái rủi nằm phục một điều hay. Nhờ bị tống vào “Hỏa Lò gần Trung Ương nhất” nơi “con người gần con vật nhất,” nền văn học Việt Nam có thêm một tác phẩm văn xuôi nói về một địa ngục có thật. Sống tổng cọng 27 năm trong tù, Nguyễn Chí Thiện  đích thực là một chứng nhân của thời đại mả tù và mả lính.

Trong www.vietnamlit.org của G.S Dan Duffy bằng tiếng Anh, mục tự truyện (autobiography), với sự nhuận bút của Jean Libby, một nhà hoạt động xã hội, tác giả Hoa Địa Ngục kể rõ việc xộc vào toà Đại sứ Anh và các lần bị tù cùng thân thế của mình. Nguyễn Chí Thiện sinh ở Hà nội ngày 27/2/39, thành công dân Mỹ  ngày 20/10/04. Qua Mỹ nhờ sự vận động của Đại tá Noboru Masuoka và các tổ chức nhân đạo. Ông có người anh, ông Nguyễn Công Giân, cựu trung tá trong QLVNCH. Ông viết, quả là nhờ số mệnh và sống được là một phép lạ.

Đứa con tinh thần mà ông đưa đào thoát ra nước ngoài ở Toà Đại sứ Anh, gần 30 năm sau đã về lại với người viết ra nó. Trên nhật báo Người Việt, Nguyễn Chí Thiện cho biết khoảng tháng Sáu năm 2008, ông có nhận từ Giáo Sư Lê Mạnh Hùng nguyên bản tập thơ Hoa Ðịa Ngục mà Bà vợ của Giáo Sư Patrick Honey (Phòng Nghiên Cứu Phi Châu và Phương Ðông tại Luân Ðôn) đã cho Giáo Sư họ Lê giữ bản này sau khi Giáo Sư Honey mất (2005). Bản ông viết hai mặt giấy, có nhiều trang bằng mực đỏ. Dưới lá thư viết bằng tiếng Pháp, có ghi tên ông và địa chỉ “136 Rue de La Gare, Hải Phòng.”

Theo Ông, “để giữ an ninh cho tôi, Bộ Ngoại Giao Anh đã cắt bỏ phần này.” Bản  Văn Nghệ Tiền Phong thì do ông Châu Kim Nhân giao cho từ ông Ðỗ Văn. Ông Hùng và ông Văn đều từng làm cho BBC. Hoa Địa Ngục xuất hiện đầu thập niên 80; có lẽ vì vô đề nên Thời Tập lấy câu thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực làm tựa và Văn Nghệ Tiền Phong thì đặt tên là Chúc Thư Của Một Người Việt Nam. Nhà Xuất Bản Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ cho hay, tập tuyển dịch sang tiếng Anh năm 1984 của Huỳnh Sanh Thông (Flowers from Hell) đã khẳng định tựa đề là Hoa Địa Ngục và tên tác giả chính xác là Nguyễn Chí Thiện, dựa trên một bức thư của Giáo sư Honey.

Tác Giả Dởm

Nguyễn Chí Thiện họp báo ngày 25/10/08 ở Quận Cam Cali để phản bác lại chuyện có người nghi ông là Thiện “dởm”; tác giả Hoa Địa Ngục đã chết; Lý Ðông A mới là tác giả thực. Ông thách người tố giác $200,000, nếu chứng minh ông là người giả mạo. Nguyễn Chí Thiện còn trưng dẫn tài liệu việc giảo nghiệm chữ viết, hình ảnh để xác nhận: “Tôi là tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục”. Một số tên bạn tù hiện ở quận Cam, Hà Nội, Pháp và ngay cả còn trong tù cọng sản cũng được ông nêu ra. Nguyễn Chí Thiện quả quyết nói, “tôi thường đọc thơ cho họ nghe trong tù.”

Thật ra, nếu trường Ecole Coloniale của Pháp năm 1911 cho Hồ Chí Minh xin vào học làm quan, lúc đó tên là Nguyễn Tất Thành thì Việt Nam chắc sẽ không có Việt Gian, Việt Cộng, Việt kiều, không có Đấu tố, Mậu Thân, Mỹ Lai, Chất độc da cam; không thuyền nhân vượt biển, không trại cải tạo; không có Nhật Ký Trong Tù, Hoa Địa Ngục; không có thơ: Yêu biết mấy con nghe tập nói, Tiếng đầu lòng, con gọi Xít ta lin; hay bài hát: 1-2-3, ta là cha thằng Mỹ, 4-5-6, ta là cháu bác Hồ, 7-8-9, ta là lính thủ đô, 10-20, ta là người Xô viết; hoặc câu ca dao: Chiều chiều trên bến Ninh Kiều, Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân; và tuyệt nhiên không có dịnh nghĩa đầy tính Việt gian: yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa.

Theo dòng đời, ông thành đảng viên Cọng sản năm 1920, được huấn luyện tại Đại học Phương Đông (1923) và Đại học Lénine (1934), Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Mác Lê làm “cẩm nang thần kỳ” vì ông có một Tổ quốc Cách Mạng Nga để phục vụ; có một sứ mệnh xây dựng phong trào vô sản ở Châu Á để hoàn thành; và có một “người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn” là Lénine để tuân phục. Trước đó, năm 1919 ông đã đạo danh Nguyễn Ái Quốc, tên chung của Hội Những Người An Nam Yêu Nước do Phan Châu Trinh đứng đầu, để làm tên của mình.

Tập thơ Hoa Địa Ngục và tập truyện Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện gây ấn tượng mạnh hơn Nhật Ký Trong Tù và Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch do Trần Dân Tiên - tức Hồ Chí Minh - viết. Những cảnh bị trói cánh khuỷu, cổ mang vòng xích, ăn không đủ hay ở chung với tù bệnh giang mai cùng tháng ngày tù ngục ở bên Tàu mà họ Hồ tả chẳng thấm vào đâu nếu so với những thống khổ mà Nguyễn Chí Thiện phải chịu trong chế độ lao tù Miền Bắc. Hơn nữa, đảng Cọng sản có cả một mạng lưới bảo vệ Hồ Chí Minh. Thời gian tù Hồng Kông, hai luật sư người Anh bào chữa cho ông và ông còn được ăn cơm Tây, ngủ giường tốt.

Phần Nguyễn Chí Thiện thì đã “sống bẩn thỉu, hôi hám như một con chuột cống, có điều thua con chuột cống ở chỗ đói, rét, ốm, đi không vững.” Thân cô, thế cô, nhiều lúc quá tuyệt vọng, rũ rã, ông muốn chết. Nguyễn Chí Thiện tồn tại được là nhờ “Thơ và Mơ”; phải sống để đưa ra khỏi nước “mầy vần thơ ai oán”. Còn Nhật Ký Trong Tù tung ra chỉ để tuyên truyền, làm đẹp cuộc đời Hồ Chí Minh. Trong  Những Mẩu Chuyện của Hồ Chủ Tịch, ông tự cho mình là cha già dân tộc. Danh xưng dân Ấn tôn vinh Mohandas Gandhi (1869-1948), người đã thuyết phục được Anh Quốc trả độc lập cho Ấn bằng con đường hòa bình ngày 15/8/1947. Hồ Chí Minh đã ăn cắp ý này.

Ai là tác giả Nhật Ký Trong Tù?

Sự nghiệp và cuộc đời hai tác giả khác hẳn nhau. Gần nửa đời người, Nguyễn Chí Thiện chỉ biết hết tù nhỏ đến từ lớn, không vợ con, chay tịnh. Tài sản của ông là Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò, được kết nụ, nung nấu trong lòng chế độ mà Hồ Chí Minh đã xây dựng sau 30 năm bôn ba hải ngoại. Sự nghiệp Hồ Chí Minh là làm cách mạng chuyên nghiệp, cướp chánh quyền. Có cả trên trăm lần thay tên đổi họ. Chỉ Đệ tam quốc tế của Liên sô mới thấu rõ “con đường bác đi” vì tên ông có trong sổ lương. Vợ Tăng Tuyết  Minh (1), con Nguyễn Tất Trung (2), nhưng vẫn sống lối độc thân tại chỗ, được tôn làm vua đạo dụ. Một điều giống nhau, cả hai ông đều bị tố: kẻ đạo thơ.

Ở Việt Nam, chẳng ai dám bàn nhiều về chuyện này. Trong bài “19/5 không phải là ngày sinh của Hồ Chí Minh” (3), Đinh Tiểu Nguyễn cho biết, “Ngày 15 tháng 10 năm 1998, tại Ban Việt học của Đại Học Paris VII, Giáo sư người Nhật, ông Kenichi Kawaguchi, Hội viên Văn Bút Nhật bản, Giáo sư tại Đại học Tokyo, Ban Bang giao quốc tế, thuật chuyện ông về Hà Nội. Nghe nói tập thơ Tù của Hồ Chí Minh, ông đã đến Hà Nội tìm đọc và có thể sẽ dịch ra tiếng Nhật. Một giáo sư người Việt thấy vậy, vỗ vai ông vừa cười và bảo tập thơ ấy có phải của ông Hồ đâu mà ông mất công nghiên cứu.”

Theo Wikipedia tiếng Việt, Nhật ký trong tù, nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, ghi bốn chữ "Ngục trung nhật ký" (tức Nhật ký trong tù), kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép; ở trang đầu ghi 29.8.1932 và ngày 10.9.1933, trang sau ghi 29-8-1942 và 10-9-1943 là lúc Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây.  Điều này làm nảy sinh nhiều nghi vấn về tác giả và thời điểm sáng tác của tập thơ.       


Đã có nhiều bài báo bàn ra tán vào về nghi vấn ai là tác giả. Trước hết là con số bài thơ trồi sụt bất thường. Ngày tháng tù của ông Hồ ở bìa sách và lưng sách sai biệt 10 năm. Chữ viết có vẻ khác. Trang đầu dùng chấm, chữ nghiêng trái. Trang chót dùng gạch ngang, chữ hơi ngã phải. Hầu hết các bài báo cho là Hồ Chí Minh lấy thơ người khác rồi viết thêm thơ mình vào; nên Hồ Chí Minh không thể là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký gốc được. Mặt khác, trong cuốn “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện,” tác giả T. Lan cũng là tên của Hồ Chí Minh cho biết: Ở Quảng Tây ông chỉ bị bắt “giải đi suốt 18 nhà lao”.

Giáo sư Lê Hữu Mục, dạy Triết trường Quốc Học Huế và các Đại Học Văn Khoa trước 1975, nhờ còn ở Việt Nam sau 30/4/75 nên ông đã “thọc sâu vào được cái bóng tối dày đặc bao bọc chung quanh tập thơ.” Qua Canada ông đã viết tập “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký.” Theo ông, ban tuyên giáo Cộng Sản đã rất công phu trong việc gán ép quyền tác giả tập thơ cho Hồ Chí Minh. Trong tương lai, vẫn theo giáo sư, “nó sẽ bị đánh bật ra khỏi tay Hồ Chí Minh, sẽ được trao trả cho tác giả đích thực của nó là già Lý.” Đó là ông lão hay làm thơ, cùng bị giam với Hồ Chí Minh ở Hồng Kông những năm 1932-1933.

Vụ Đạo Thơ lớn Nhất Trong Lịch Sử

Tập biên khảo, được xuất bản bởi Ủy Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh năm 1990 ở Paris còn cho biết, “quốc tịch Trung Hoa của con người trong tập thơ nổi bật lên một cách dễ dàng,” nếu đọc kỹ các bài thơ. Con người này là Ông già Lý, chúa một dãy núi, kể lại đời sống ở những vùng rừng núi khi còn trẻ qua nhiều bài thơ trong cuốn sổ tay đó. Ngoài ra, có những từ liên hệ trực tiếp với Hồng Kông hơn là ở Quảng Tây; phù hợp với con số 1932-1933 mà nhà văn Đặng Thái Mai đã nêu ra, mới đúng là năm viết Nhật Ký Trong Tù.        
                         
Viện Văn Học trong cuốn Suy Nghĩ Mới Về Nhật Ký Trong Tù đã bác lập luận của  Lê Hữu Mục bằng bài “Câu Chuyện Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký” của Phó Giáo sư Phan Ngọc tức Nhữ Thành. Phó giáo sư này, khẳng định là tập thơ “viết cùng một thứ chữ; xuất xứ đâu có phải mơ hồ.”  Tác giả Nhữ Thành còn cho rằng, “Quyển sách Lê Hữu Mục viết ra thực tế là hành động giơ dao.”  Ông khuyên Giáo sư này, “Nên buông dao thì hơn.” Về dòng chữ đề ngày 29.8.1932 – 10.9.1933 ở ngoài bìa, Viện văn học biện minh là để “nguỵ trang.”  

Dù vậy, những phản biện của Viện Văn Học không đủ thuyết phục, không đánh tan được nghi vấn ăn cắp thơ của Hồ Chủ Tịch từ nửa thế kỷ nay. Đây là một vụ án đạo văn thơ lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, có sự hỗ trợ của quyền lực. Thời gian chỉ làm dịu vơi nỗi khổ, niềm đau; chớ không thể xóa bỏ sự hoài nghi hay gian ác được. Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, để lại nhiều mả tù, mả lính, xương trắng Trường sơn, và gây cảnh Nam Bắc phân ly, huynh đệ tương tàn. Đường vào văn học sử thì khác. Rất dễ nhưng rất khó. Nó đòi hỏi sự thật và nghệ thuật.

Tù nhân Nguyễn Chí Thiện, trước các làn sóng tố cáo “Thiện giả, ăn cắp thơ,” đã chấp nhận giảo nghiệm hình ảnh và chữ viết của mình để minh chứng tên tác giả thực của Hoa Địa Ngục. Đảng Cọng Sản Việt Nam thừa kế di sản Hồ Chí Minh tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ 3/2/2007 đến 3/2/2011 thì không gì cụ thể và ngay thẳng hơn: cho công bố cuộc giảo nghiệm chữ viết và con số cùng bút tự chữ Hán trong các di cảo của ông Hồ với cuốn sổ gốc Nhật Ký Trong Tù. Nếu hô hào suông, thần tượng Hồ Chí Minh chỉ là: Trông xa ngỡ tượng tô vàng; Nhìn gần lại hóa toàn là đồ gian.

Thật vậy, thực tiễn mới là thước đo chân lý. Muốn biết về thời đại Hồ Chí Minh thì “Hãy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực” bằng cách đọc Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò.  Kinh nghiệm Cọng sản là một cái gì cụ thể. Trong “Hồi kí Nguyễn Hiến Lê”, một học giả có cả trăm đầu sách, rất có ảnh hưởng ở miền Nam, ông viết, muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ. Đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi và có lẽ cả 90% người miền Nam rút được. Mấy ông Tây bà đầm, các nhà khoa bảng lẫy lừng khi nói đến họ Hồ nên nhớ đến lời này. Mong lắm thay!

Phan Thanh Tâm
Saint Paul, 12/08

(1)      http://www.gio-o.com/NguyenDuyChinhTangTuyetMinh.htm
(2)      http://www.geocities.com/xoathantuong/bt_sophanntt.htm
(3)      http://www.geocities.com/xoathantuong/dtn_1905hcm.htm
   


Nguyễn Hưng Quốc - Xấu và đẹp


Nguyễn Hưng Quốc

Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, trong 9 tháng vừa qua, đã có 178 đoàn đông người đi khiếu kiện, chủ yếu về đất đai, trên địa bàn thành phố. Có đoàn gồm cả hai trăm người (huyện Đông Anh), có đoàn khoảng 160 người (thị xã Tân Mai); có đoàn khoảng 150 người (chợ Nghĩa Tân, Cầu Giấy), v.v. Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị thừa nhận là ngày nào cũng có người đến khiếu nại.


Báo Vnexpress ngày 27 tháng 9 tường thuật: “buổi sáng ông mở cửa đã thấy người dân đứng chờ đưa đơn, 19h trở về nhà cũng có người chờ đưa đơn, chưa kể ở cơ quan cũng thường nhận đơn khiếu nại.”

Xin lưu ý nhóm từ “đoàn đông người” ở trên. Tức là người ta đã loại trừ những vụ khiếu kiện lẻ tẻ, mang tính chất cá nhân, chỉ có một, hai người. Mà con số này thì rất nhiều. Cũng trong bài báo nêu trên, ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cho biết là các cơ quan chức năng ở thành phố, trong 9 tháng qua, đã tiếp 15.000 lượt người và xử lý 21.500 đơn thư. Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào các cuộc khiếu kiện đông người và tạm tin những con số do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra (178 vụ; mỗi vụ có khoảng từ vài chục đến khoảng 200 người). Nhưng như vậy cũng đã là nhiều. Trung bình mỗi tháng có 20 cuộc khiếu kiện đông người. Hay, nói cách khác: cứ ba ngày thì có hai vụ khiếu kiện tập thể.

Trên một số blog ở trong nước, nhiều người đã loan tin và đăng tải hình ảnh về các cuộc khiếu kiện ấy. Ở đây, tôi chỉ chú ý đến một khía cạnh khác: phản ứng của chính quyền. Chủ yếu là lời phát biểu của ông Nguyễn Thế Thảo vào ngày 27/9:

"Việc làm của bà con là bày tỏ nguyện vọng của mình, nhưng mặc áo màu Quốc kỳ, mang theo khẩu hiệu đòi đất đã làm xấu hình ảnh thủ đô, ảnh hưởng đến ngoại giao.”

Lời phát biểu ấy, thú thực, làm tôi rất ngạc nhiên. Tôi nghĩ đó là lý do chính khiến ông ra lệnh cho công an dẹp đuổi, đôi khi với những biện pháp rất nặng tay, những người đi khiếu kiện tập thể như vậy. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, sự kiện những người khiếu kiện mặc áo màu quốc kỳ có thực sự “làm xấu hình ảnh thủ đô và ảnh hưởng đến ngoại giao” không? Hai, giữa sự kiện những người khiếu kiện mặc áo màu quốc kỳ và sự kiện công an nhào đến đánh đập và xua đuổi những người khiếu kiện ấy, sự kiện nào “làm xấu hình ảnh thủ đô” và “ảnh hưởng đến ngoại giao” hơn?

Nếu ông Nguyễn Thế Thảo chịu khó đọc báo chí nước ngoài, ông sẽ thấy sự kiện “làm xấu hình ảnh” không những thủ đô Hà Nội mà còn cả nước Việt Nam nữa không phải là sự kiện dân chúng xuống đường khiếu kiện hay biểu tình mà chính là sự kiện những con người yếu ớt vô tội ấy đã bị đàn áp một cách dã man từ đường phố đến tòa án. Nguyên nhân khiến nhiều tổ chức quốc tế cũng như nhiều quốc gia trên thế giới lên tiếng phê phán Việt Nam, nghĩa là, nói theo chữ của ông Nguyễn Thế Thảo, gây “ảnh hưởng đến ngoại giao” đều liên quan đến phản ứng của chính quyền chứ không dính dáng gì đến màu áo hay các khẩu hiệu ghi trên áo của những người khiếu kiện và biểu tình. Chính những phản ứng độc tài và hung bạo của chính quyền mới “làm xấu hình ảnh” Việt Nam và “ảnh hưởng đến ngoại giao”.

Còn chuyện dân chúng xuống đường khiếu kiện hay biểu tình, thật ra, không hề “làm xấu hình ảnh” của đất nước. Có khi ngược lại. Nó chứng tỏ, một mặt, nước ấy có vấn đề khiến dân chúng bất mãn; nhưng mặt khác, nó lại chứng tỏ những người bất mãn ấy được quyền bày tỏ nguyện vọng và thái độ của mình một cách công khai. Chuyện bất mãn, ở đâu mà chả có? Ở các nước tự do và dân chủ trên thế giới, không ở đâu không có khiếu kiện và biểu tình.

Ở thành phố Melbourne, Úc, nơi tôi đang sống, lâu lâu lại bùng nổ các cuộc biểu tình có khi lên đến mấy chục ngàn người. Còn các cuộc biểu tình nho nhỏ thì khá thường xuyên. Những ngày cuối tuần, rảnh, lang thang trên phố xá, tôi hay bắt gặp những cuộc biểu tình nho nhỏ như thế. Nhỏ, có khi vài ba chục người; có khi, ít hơn nữa, chỉ năm mười người; thậm chí, có khi, họa hoằn hơn, chỉ có một người, thường là đàn ông, một tay cầm bảng hiệu trên đó có biểu ngữ phản đối một chính sách gì đó của chính phủ, và một tay cầm loa phóng thanh, miệng cứ nói thao thao về quan điểm của mình. Khách qua đường, đã quá quen thuộc với những hình ảnh ấy, cứ thản nhiên đi qua; một số người khác, tò mò dừng lại lắng nghe. Rồi lại đi. Người phản đối cứ một mình cầm biểu ngữ và cầm loa tiếp tục phản đối đến khi khan cổ hay mệt mỏi thì cắm cúi thu dọn “đồ nghề” rồi đi về.

Không ai cho những chuyện như vậy là “làm xấu hình ảnh” thành phố cả.

Ngược lại.

Nhớ, lần đầu tiên sống ở nước ngoài, thấy những hình ảnh như thế, tôi rất ngạc nhiên. Bao giờ tôi cũng dừng lại thật lâu và kín đáo quan sát. Quan sát người (hoặc những người) phản đối và biểu tình. Quan sát phản ứng của những khách qua đường. Và, đặc biệt, quan sát sự hiện diện và thái độ của cảnh sát. Thường, ở các cuộc biểu tình, bao giờ cũng có cảnh sát. Biểu tình lớn: cảnh sát đông. Biểu tình nhỏ: cảnh sát ít. Biểu tình một hai người: có khi không thấy bóng dáng một cảnh sát nào cả. Trong mọi trường hợp, nhiệm vụ chính của cảnh sát chỉ là bảo vệ trật tự và an ninh. Vậy thôi. Họ chỉ can thiệp khi xảy ra bạo động. Còn không, họ chỉ thản nhiên đứng nhìn. Người biểu tình hô khẩu hiệu đả đảo ai, họ cũng mặc kệ.

Tôi - mà không phải chỉ có tôi –, hầu hết người dân sống ở Tây phương chấp nhận, có khi, thích các cuộc biểu tình bất bạo động như thế. Chúng là biểu hiện của sự sống. Của nhân quyền. Và của dân chủ. Nó chứng tỏ trong xã hội tự do, mọi người đều có quyền cất lên tiếng nói của họ, trình bày các nguyện vọng và quan điểm của họ, nhất là khi quyền lợi của họ bị xâm phạm.

Chỉ có việc bóp miệng (Linh mục Nguyễn Văn Lý, trong một phiên tòa ở Huế), đạp vào mặt (Nguyễn Chí Đức, trong một cuộc biểu tình ở Hà Nội), đánh đập (hai nhà báo Nguyễn Ngọc Năm và Hàn Phi Long ở Văn Giang, Hưng Yên), vu khống và xét xử dựa trên những bằng chứng vu khống ấy (hai cái bao cao su với Cù Huy Hà Vũ, tội trốn thuế với Điếu Cày Nguyễn Văn Hải) hoặc đánh chết trong nhà giam (ông Trịnh Văn Tùng và nhiều người khác)…những người vô tội mới “làm xấu hình ảnh” của đất nước.

Dưới mắt nhân loại ở thời đại hiện nay, không có hình ảnh nào đáng xấu hổ và đáng ghê tởm cho bằng hình ảnh trấn áp quần chúng của những tên độc tài.

Đó mới là điều cần tránh. Chứ không phải là màu áo của những nạn nhân xuống đường kêu cứu.


Ngô Nhân Dụng - Ngọn lửa tâm can Nguyễn Chí Thiện


Ngô Nhân Dụng

Nguyễn Chí Thiện đã nhìn thấy Cái Ác. Và anh đã gọi thẳng tên nó ra. Có lẽ vì tên anh là Chí Thiện, cho nên suốt đời anh lo vạch mặt Cái Ác.

Không bao giờ nghỉ. Anh là người chững chạc. Một người thành thật, hồn nhiên, có tư cách, đáng kính trọng. Anh luôn luôn khích lệ, góp ý kiến, không chờ được hỏi, không khách sáo.


Gặp nhau hôm hội Bắc Ninh ở đây, anh chỉ cho mấy chỗ sai chính tả trong bài tôi viết về quá trình “Hán hóa miền Nam Trung Quốc.” Tôi nói với anh đó là một bài trong cuốn sách đang viết giở về thời Bắc thuộc; với câu hỏi chính là vì sao dân Việt Nam bị đô hộ một ngàn năm vẫn không mất nước; anh đề nghị ngay: Nếu vậy thì anh phải đề cập đến những thắc mắc như thế này, thế này...

Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau là ngày giỗ Ðỗ Ngọc Yến vừa qua, tôi đã nhờ anh đọc hộ hơn trăm trang bản thảo cuốn sách; như anh đã hứa. Năm 1995, Ðỗ Ngọc Yến gõ cửa phòng, báo tin “Có khách;” mở cửa ra, không ngờ thấy anh Nguyễn Chí Thiện đang cười tươi, đưa tay ra bắt: “Tôi muốn gặp ông vì tuần trước mới ngồi ở Hà Nội với mấy anh ấy, nghe ông nói trên đài BBC.” Anh kể tên mấy người bạn cùng nghe đài, những người tôi đã nghe tên mà chưa bao giờ gặp. Gặp anh, giống như gặp một người từ thế giới bên kia. Từ đó, chúng tôi là bạn.

Một lần Giáo Sư Trần Quốc Vượng đã hỏi tôi và bạn Nguyễn Hữu Chung: “Các cậu có biết tại sao những người đồng canh, đồng tuế lại dễ thân nhau hơn không?” Và ông trả lời: “Vì họ cùng chịu những hoạn nạn giống nhau. Cùng trải qua những cuộc cách mạng, những cuộc chiến tranh, những nạn đói như nhau ...” Tôi cùng tuổi với anh Nguyễn Chí Thiện. Nhưng quả thật, chúng tôi trải qua những kinh nghiệm cuộc đời khác hẳn nhau. Năm 1954, mẹ tôi đã dẫn các con vào Nam. Sau cuộc di cư, cuộc đời của anh và tôi đã đi theo những con đường khác.

Năm chúng tôi sống ở tuổi 20 thì nhiều thanh niên ở miền Nam và miền Bắc cũng nuôi những hy vọng giống nhau. Trong bài thơ Ðồng Lầy, anh viết:

“Ngày ấy, tuy xa mà như còn đấy
Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi
Bốn phía bao la chỉ thấy
Chân mây, rộng mới tuyệt vời!
... Tuổi hai mươi tuổi của không ngờ.
Không sợ!
Viển vông đẹp tựa bài thơ
Mơ ước
Ðợi chờ
Vĩ đại.”

Nhưng sau đó, Nguyễn Chí Thiện đã gặp Cái Ác. Ðã nhìn thấy rõ mặt Cái Ác. Anh gọi đích danh Cái Ác. Từ đó, định mệnh của anh là vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Nguyễn Chí Thiện đã vạch tội Cái Ác trong những trò giáo giở:

Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ.
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường.

Năm 22 tuổi tôi làm nghề dạy học, vẫn làm thơ, mơ mộng yêu đương, còn anh đã vào tù vì vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Năm 25 tuổi ở miền Nam chúng tôi đang đi biểu tình đả đảo Hiến Chương Vũng Tàu, nuôi hy vọng xây dựng một chế độ tự do dân chủ; còn anh được tự do chưa đầy một năm thì lại bị bắt giam hơn 11 năm nữa. Năm 1965 chúng tôi đi làm trại công tác xã hội, cùng các sinh viên, học sinh đi giúp đồng bào nông thôn; còn anh đã nhìn thấy, như trong bài thơ Ðất Này:

Ðất này chẳng có niềm vui
Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt
Trại lính, trại tù người đi không ngớt
Người về thưa thớt dăm ba...
Trẻ con đói xanh như tàu lá
... Buồn tất cả
Chỉ cái loa là vui!”

Ở một nơi mà cả nước phải suy tôn “Cha Già Dân Tộc,” Nguyễn Chí Thiện vạch ra:

Mi ngu si, mi chăng biết gì!
Cha mẹ mi là dân tộc Việt
Anh chị mi là dân tộc Việt
Mi ngủ với ai mà là cha già của họ, hỡi Hồ Ly!

Cái Ác không phải chỉ hiện hình trong một con người gian trá, mà trong cả một chế độ, một chủ nghĩa, một guồng máy. Cái Ác lớn đẻ ra nhiều Cái Ác nhỏ.

Ðạo lý tối cao của xứ đồng lầy.
Là lừa thầy phản bạn
Và tuyệt đối trung thành vô hạn.
Với Ðảng, với Ðoàn, với lãnh tụ thiêng liêng.
Hạt thóc, hạt ngô phút hóa xích xiềng.
Họa phúc toàn quyền của đảng.
Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm.
Nên chúng tưởng màu đen là ánh sáng!
Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng
Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen.

Năm 1980 Nguyễn Chí Thiện đã viết những lời phê phán mà ngày nay các nhà tranh đấu cho dân chủ ở nước ta cũng lên tiếng tố giác. Vì sau hơn 30 năm cuộc sống đất trước mặt vẫn như vậy:

“Mấy cái đầu
Mấy cái đầu bé tẹo
Quản lý nước, nước nghèo
Cai trị dân, dân khổ
Chỉ được cái lỳ ra, không xấu hổ!”

Nguyễn Chí Thiện đã chỉ rõ mặt Cái Ác. Anh đã dùng cả cuộc đời anh để vạch trần Cái Ác. Cái Ác của Lê Nin đã được nhập khẩu vào nước ta. Một bài thơ viết năm 1983, khi cả nước bị nạn đói, ở Thanh Hóa có người đã chết đói:

“Ðể mãi mãi được làm chúa tể
Ðể đánh bật đào tung gốc rễ
Giá trị tinh thần đạo lý bền sâu
Ðể bắt dân đen quỵ gối, cúi đầu
Ngậm đắng, nuốt sầu
Chịu trói!
Biện pháp hàng đầu: cái đói!
Biện pháp nhiệm mầu: cái đói!
Khi người ta đói
Xin đừng có nói văn hoa
Cùng đạo lý cao xa!
Vì những lời hay ý đẹp
Cái dạ dầy lép kẹp không nghe!
Ðể bắt nó nghe
Ðể bắt nó làm
Phải có trại giam, cái cùm, khẩu súng
Cùng muôn thủ đoạn gian hùng
Dồn ép nó lâm vào thế kiệt cùng
Không thể cựa!
Bắt nó phục tùng, hóa thành trâu ngựa
Phải tuân theo
Mọi yêu cầu của chế độ hùm beo!
Lúc đó, ăn uống mới ban cho một tí!
Tem phiếu mới phân chia từng tí!
Lê nin nói vô cùng có lý
Khi căn dặn bọn tay chân đồng chí:
“Không kỷ luật nào bằng kỷ luật đói, chớ nên quên”
Còn chúng ta cũng chớ nên quên
Phải ghi nhớ điều này:
Khống chế dạ dầy là chiến lược dài lâu
Chiến lược hàng đầu của đảng!”

Nguyễn Chí Thiện dùng thơ như một vũ khí chiến đấu với Cái Ác:

Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở

Nhưng anh cũng ca ngợi công dụng của thơ. Anh Nguyễn Thanh Hải, mới bị kết án tù 12 năm, chắc sẽ thích thú những câu thơ viết năm 1972, Nguyễn Chí Thiện đã tiên tri, nhắc đến biệt hiệu Ðiếu Cầy của anh:

Nhà thơ có khả năng biến chiếc điếu cày thành bất tử
Biến đám cầm quyền nghiêng ngả non sông
Thành lũ hề nhố nhế lông bông

Phải sống với Cái Ác một nửa cuộc đời, nhưng Nguyễn Chí Thiện vẫn nói lên những tiếng của hy vọng:

Dù thể xác lao tù héo khô muốn đổ
Dù đau lòng dưới năm tháng vùi chôn
Ta đã sống và không xấu hổ
Vì ta cứu giữ được linh hồn

Nguyễn Chí Thiện đã ra đi. Một nạn nhân của Cái Ác nhưng vẫn giữ được tâm hồn Thiện. Những ai gần gũi anh chắc đều thấy anh tính tình hồn nhiên, giản dị. Tôi chưa nghe anh nói xấu về một người nào bao giờ, trừ Cái Ác. Tôi rất mừng trước khi qua đời anh đã tìm thấy một tôn giáo. Ðứng trước ngưỡng cửa giữa sự sống và sự chết, một niềm tin sẽ giúp anh ra đi trong bình an. Nguyễn Chí Thiện từ nay sẽ không còn bị Cái Ác quấn lấy nữa. Nhưng Ngọn Lửa Tim Gan của anh sẽ còn cháy mãi trong lòng chúng ta:

Vang mãi vô hạn
Tiếng lòng chứa chan!
Sáng mãi vô hạn
Ngọn lửa tâm can!

Trần Trung Ðạo - Tiễn biệt nhà thơ Nguyễn Chí Thiện


Trần Trung Ðạo



Một chứng nhân bất khuất
Trong chương sử điêu tàn

Tội ác còn chưa dứt
Nên thơ còn dở dang

Giọt máu nằm im lặng
Trên vết thương năm nào
Ðời lưu vong cô độc
Tâm sự cùng trăng, sao

Một cành hoa địa ngục
Vừa nở giữa thiên đàng
Mười ngàn đêm khổ nhục
Chợt sáng về thênh thang

Chuyến xe rời quá vội
Không kịp nói năng gì
Dù ngàn lời tiễn biệt
Cũng một lần ra đi.



Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

TN - Người Việt - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, thọ 73 tuổi


TN - Người Việt    
 

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.


Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005. (Hình: Quang Phu Van - Vietnam Literature Project) 

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào bệnh viện vào sáng sớm ngày 26 Tháng Chín, 2012. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.

Tuy nhiên, cho đến sáng ngày Thứ Hai, 1 Tháng Mười 2012 thì bệnh trở nặng. Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.

Nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, đã vuốt mắt cho nhà thơ sau khi ông qua đời.

Người anh ruột của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là ông Nguyễn Công Giân đáp máy bay từ Virginia tới Quận Cam sáng nay cũng không kịp gặp mặt em trước khi mất.

* Người tù 27 năm
Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.

Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.

Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.

Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.

Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008.

Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.

Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.

Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.

Tác giả Hoa Địa Ngục

Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.

Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.” (TN)



TN - Người Việt - Kinh tế Việt Nam, từ ‘cọp’ thành ‘mèo’


TN - Người Việt 
 
Trong một bài phân tích dựa trên những thí dụ nổi bật chứng minh cho các chính sách sai lầm chỉ để làm đầy túi cho đám quan lại tham nhũng, tạp chí Newsweek số ra ngày 1 tháng 10, 2012 trình bày một số những lý do đã làm cho Việt Nam từ triển vọng thành cọp Á Châu lại biến thành một con mèo nhỏ đầy khuyết tật.


Vịnh Vân Phong thuộc tỉnh Khánh Hòa, một dự án cảng biển quốc tế với vốn đầu tư lên nhiều tỉ đô la nhưng thất bại của tổng công ty tàu biển Vinalines. Những chiếc trụ xi măng trơ trọi phơi sương phơi nắng trong nước biển là biểu tượng của chiến lược sai lầm của đám quan quyền tham nhũng “có dự án là có cơ hội chấm mút” bất kể hậu quả cho đất nước. (Hình: AP)

Theo bài viết này, “Ðể cứu một nền kinh tế có nhiều vấn đề, những người làm chính sách tại Việt Nam cần phải thực hiện các kế hoạch cải cách thật sự sâu rộng và đúng nghĩa.”

“Tuy nhiên, điều này có làm hay không hoàn toàn tùy thuộc vào cái đầu của những kẻ nắm giữ quyền lực, mà người ta tin họ không dễ dàng từ bỏ các đặc quyền đặc lợi.”

Bài phân tích mở đầu bằng cuộc thăm viếng Hà Nội hai năm trước của bà Christine Gregoire thống đốc tiểu bang Washington đứng mời khách hàng món khoai tây chiên tại tiệm thức ăn nhanh KFC ở Hà Nội.
Mục đích chính của bà không phải đi cổ võ khoai tây chiên mà đi cắt băng khánh thành cảng nước sâu Cái Mép-Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Cảng biển này, tốn phí xây dựng và chuẩn bị suốt 6 năm lên tới $160 triệu USD, liên doanh giữa công ty Carrix's Marine Unit trụ sở ở Seattle và Cảng Sài Gòn, một đơn vị thành viên của Tổng Công Ty Vận Tải Biển Việt Nam (tức Vinalines).

Từ khi khánh thành đến nay, cảng Cái Mép chìm sâu vào thua lỗ.

Theo bài viết của báo Giao Thông Vận Tải ngày 1 tháng 10 năm 2012, “Hầu hết các cảng container khu vực Cái Mép-Thị Vải đều thua lỗ ít cũng 6-7 triệu USD, nhiều tới 20-30 triệu USD”. Một trong những lý do là thiếu trang bị hạ tầng bên cạnh những lý do khác.

Công ty mẹ Vinalines thì đầy vấn đề mà những kẻ cầm đầu đã bị bắt giữ gần đây với cáo buộc tham nhũng và “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng...”

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) giới đầu tư ngoại quốc đua nhau đổ tiền vào đây, tưởng nước này một sớm một chiều sẽ trở thành một thứ hổ con ở Á Châu.

Thống kê năm 2007 cho thấy tổng số đầu tư ngoại quốc đổ vào Việt Nam nhiều bằng tổng số đầu tư vào các nước Indonesia, Thái Lan, Phi Luật Tân và một số nước trong vùng. Nhưng chế độ Hà Nội không kịp tiêu hóa số lượng đầu tư quá lớn là một bài học mà giới kinh tế gia gọi là tính toán tài chính sai lạc.

“Việt Nam là trường hợp cổ điển về một nước nhỏ được thúc đẩy quá bạo”. Ruchir Sharma, phân tích gia về thị trường mới nổi của công ty Margan Stanley Investment Management ở New York, nhận định.

“Những kẻ cầm quyền hoặc chưa sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiếp nhận một lượng lớn tư bản ngoại quốc đổ tới trong thập niên qua.”

Tiền đầu tư đổ vào những dự án hạ tầng có vẻ hữu dụng như Cái Mép, các đường lộ và cầu từ Bắc chí Nam. Nhưng tiền cũng được đổ vào các dự án xây dựng cao ốc trong các thành phố. Nhiều đất nông nghiệp biến thành các khu công nghệ.

Tất cả các chương trình và công trình dồn dập, nay có rất nhiều tòa cao ốc bỏ hoang, các khu công nghệ chỉ có khoảng 810 ha là được sử dụng trên tổng số 3,645 ha “quy hoạch” xây dựng. Nông dân thì kiện cáo triền miên vì bị đẩy vào vòng đói khổ do đất đai sản xuất bị nhà nước tước đoạt rồi đền bù bằng những số tiền nhỏ. Họ ăn hết trong thời gian ngắn và không biết làm gì để sống.

Khi nền kinh tế thế giới chạy chậm lại, đầu tư ngoại quốc giảm dần từ năm 2008, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, thay thế tư bản ngoại quốc, bơm tiền thúc đẩy tăng trưởng.

Phần lớn những đồng tiền này chạy vào các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh gồm khoảng 100 công ty mà số nợ hiện lên đến $50 tỉ USD, bằng một phần ba tổng sản lượng quốc gia (GDP).

* Thua lỗ triền miên, nợ khổng lồ

Một số đại gia quốc doanh này thua lỗ triền miên vì tham nhũng và vì đầu tư bừa bãi nhờ vào “tiền chùa” mượn nợ dễ dàng nhân danh nhà nước. Có dự án là có cơ hội chấm mút.

Việc bắt giữ Nguyễn Ðức Kiên, một trong những cổ đông lớn của một số ngân hàng thương mại, Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB và thêm một số ông khác gồm cả cựu Bộ Trưởng Trần Xuân Giá mới đây chứng tỏ hệ thống tài chính ngân hàng ở Việt Nam nhiều lỗ hổng.

Một bản phúc trình của Ủy Ban Kinh Tế Quốc Hội CSVN hồi đầu tháng 9, 2012 ước lượng phải cần số tiền đến $12 tỉ USD để giải quyết cái núi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại trong khi dự trữ ngoại hồi của Việt Nam chỉ có khoảng $14 tỉ USD. Ðây là điều Hà Nội không thể tự giải quyết được nếu không tìm nguồn tín dụng nào đó từ bên ngoài. Nếu cứ in bừa bãi tiền thì sẽ dẫn đến lạm phát cao. Chế độ Hà Nội đã phải đối phó với lạm phát một cách khó khăn và cũng không hoàn toàn thành công.

Một trong những cách giải quyết mà Hà Nội nhắm tới là cố lôi kéo đầu tư ngoại quốc quay trở lại. Tuy nhiên, người ta chẳng mấy hào hứng cắn mồi. Tập đoàn đóng tàu Vinashin vay $600 triệu USD rồi ỳ ra không trả nợ và nhà nước tránh né trách nhiệm hậu thuẫn là một trong những thí dụ điển hình để họ suy nghĩ cẩn thận.
Thêm nữa, luật lệ tròng tréo và mù mờ ở Việt Nam gây khó khăn cho giới đầu tư ngoại quốc không ít. Ðó là chưa kể tham nhũng vòi vĩnh hối lộ rất phổ biến.

Sự thiếu khả năng tự tài trợ để giải quyết khó khăn và giới đầu tư ngoại quốc tránh né làm cho Hà Nội có ít giải pháp đối phó. Trong đó, không loại trừ khả năng phải bơm tiền ứng cứu trước khi hệ thống tài chính sụp đổ.

Ở tình thế như vậy, Hoa Thịnh Ðốn có thể giúp Hà Nội dàn xếp một món vay từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) nhưng nếu chuyện này xảy ra, bài phân tích của Newsweek cho rằng “có thể đặt nền móng cho các tàu hải quân Mỹ quay lại cảng Cam Ranh”.

Dù sao, khi có tin Hà Nội cần sự trợ giúp tài chính của IMF, Ngân Hàng Nhà Nước đã vội vã cải chính là họ không cần.

Nếu tiền đến từ nguồn nào đó bên ngoài, nó phải có những điều kiện. Cải cách sâu rộng và triệt để, gồm cả việc giải tán đám quốc doanh “lời giả lỗ thật” và phải áp dụng chặt chẽ luật lệ minh bạch là những đòi hỏi để có tín dụng.

Nhưng những kẻ cầm quyền ở Hà Nội có chịu cải cách thật sự hay không lại là chuyện không dễ xảy ra, một chuyện đã bị các định chế tài trợ quốc tế áp lực từ khi có chương trình “đổi mới” đến nay vẫn chỉ thấy những cải cách nửa vời.

Cải cách thật sự có thể dẫn đến mất quyền lực, mất cơ hội tham nhũng. Cũng vì vậy mà Việt Nam từ triển vọng trở thành cọp lại chỉ thành một thứ mèo con bệnh hoạn. (T.N.)


Cánh Cò - Ở truồng thắt giây nịt!


Cánh Cò

Hoàn toàn nghiêm túc, không một chút gì hài hước mặc dù bản chất câu chuyện đậm tính khôi hài...

Vài ngày trước, báo VNExpress loan tải: "Sáng 27/9, Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo cho rằng, việc người dân đi khiếu kiện là bày tỏ nguyện vọng cá nhân, nhưng mặc áo màu Quốc kỳ, cầm khẩu hiệu đòi đất đã “làm xấu hình ảnh thủ đô, ảnh hưởng đến ngoại giao”.


Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo
Trưng ra thêm những con số cụ thể cho người nào chưa biết, tờ báo mang tới những thông tin rất chi tiết:
"Theo báo cáo của UBND TP Hà Nội, 9 tháng qua đã có 178 đoàn đông người đi khiếu kiện, chủ yếu là khiếu nại về đất đai, giải phóng mặt bằng. Nổi cộm như vụ việc của 100 công dân phường Dương Nội, 70 người phường Kiến Hưng, 40 người phường Yên Nghĩa (Hà Đông), 150 tiểu thương chợ Nghĩa Tân (Cầu Giấy), đoàn 200 người dân xã Tiên Dương (Đông Anh), bệnh binh 5 xã ở huyện Quốc Oai, 160 người dân phố Tân Mai (thị xã Xuân Mai)…

Hoàn toàn không có một câu chữ nào cho thấy người tập trung khiếu kiện có hành vi làm mất trật tự hay bạo loạn hay những gì tương tự như thế.

Vậy tại sao người dân lại mặc áo quốc kỳ, cầm biểu ngữ khi đi đòi đất lại làm cho ông chủ tịch Nguyễn Thế Thảo phải trăn trở cho hình ảnh của Hà Nội bị xấu đi như thế?

Thưa ông Thế Thảo, họ sợ ông đấy ạ.

Chắc ông còn nhớ hơn hai tháng trước đây, chính ông là người chụp cho những người nông dân khốn khổ này những cái mũ nguy hiểm, đó là bị bọn phản động, bọn xấu lợi dụng khi tập trung khiếu nại. Nếu ông quên, tôi xin nhắc cho ông nhớ cũng trên VNExpress loan tải:
"Trong phiên bế mạc cuộc họp HĐND thành phố Hà Nội ngày 13/7/2012, khi đề cập đến các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc có những hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo, ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Hà Nội đã “yêu cầu các cấp, các ngành cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ, không bị các phần tử xấu, cơ hội lợi dụng xúi giục xuống đường, tụ tập biểu tình gây mất trật tự an ninh ở thủ đô.”

Ông còn khẳng định rằng người dân bị thế lực thù địch lợi dụng và kích động như sau:
Ông Thảo nói: "Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách".

Rõ rồi nhé, báo chí đăng đàng hoàng đấy nhé!

Người dân vốn nhút nhát và trí óc rất đơn giản. Họ không lý luận cao siêu như ông, một kiến trúc sư với hai bằng TS kinh tế và lý luận chính trị cao cấp. Lời kêu gào của họ đơn giản nhưng luôn trong sáng. Phản ứng tự nhiên trước sự chà đạp quá đáng của nhà cầm quyền (tôi rất ghét dùng từ này nhưng đối với các ông không thể dùng từ chính quyền hay chính phủ được) bằng sự kiên trì khiếu nại vì họ biết các ông sẵn sàng sử dụng vũ lực nếu họ phản ứng mạnh bạo. Họ còn biết các ông cũng sẵn sàng bắn vào họ không thương tiếc bất kể họ là ai, dân thường, bộ đội phục viên hay đảng viên kỳ cựu...

Không phải yêu thương tổ quốc mà họ mặc áo cờ đỏ sao vàng. Họ tự bảo vệ mình trước những "cú đạp lịch sử", những lần xé áo người biểu tình trước đây của công an. Họ vẫn tin rằng công an không dám đạp vào cờ tổ quốc, không dám xé lá cờ tổ quốc trên người họ. Ông hiểu chưa?

Lý do thứ hai khiến họ cầm biểu ngữ là minh thị cho các ông thấy mục tiêu của họ: khiếu kiện đất đai. Họ không biểu tình chống Trung Quốc để các ông có cớ mà tâng công. Họ rạch ròi nói với mọi người trên phố rằng: "Nhân dân ơi, đồng bào ơi, chúng tôi là nạn nhân của tập đoàn tư bản đỏ. Chúng cướp đất của chúng tôi và hôm nay chúng tôi tới Ba Đình để đòi lại. Nhân dân có hiểu điều chúng tôi đang làm hay không?"

Họ mặc áo cờ tổ quốc, mang biểu ngữ như thế còn một lý do khác nữa: Họ nuốn mọi người nhớ rằng nếu không làm như vậy thì ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội sẽ ký quyết định tạm giam tất cả từng người trong bọn họ như ông đã làm với bà Bùi Thị Minh Hằng, mặc dù đơn kiện của bà Hằng đối với công dân Nguyễn Thế Thảo vẫn còn nằm đâu đó trong ngăn kéo của Tòa án Nhân dân tp Hà Nội.
Bây giờ xin được hỏi ông, tại sao ông lại cảm thấy xấu hổ đối với ngoại giao quốc tế khi họ mặc áo cờ tổ quốc và mang biểu ngữ đòi đất?

Phải chăng tâm lý phạm tội trực tiếp đã làm ông phản ứng như vậy khi ông biết rõ chính ông là tác nhân khiến mỗi ngày đơn khiếu kiện mỗi dày thêm. Ông bao che thuộc hạ, hay ông tuân lời chủ nhân thì đều giống nhau ở mức độ sai trái. Chính ông biết động cơ của những người khiếu kiện là trong sáng nhưng ông bẻ cong sự trong sáng ấy bằng những suy diễn hàm hồ. Theo lý lịch tự khai ông có bằng TS lý luận chính trị cao cấp vì vậy ông không thể không biết nguyên nhân chính dẫn đến thành công của cách mạng là đấu tranh cho những người thấp cổ bé miệng. "Ở đâu có bất công ở đó có tranh đấu".

Lẽ ra ông phải xấu hổ vì những việc khác chứ không phải vì hình ảnh tập trung khiếu kiện của người dân. Công an dưới quyền của ông thay vì bảo đảm sự an toàn trên đường phố cho khách du lịch ngoại quốc lại bị điều một số lượng an ninh rất lớn theo dõi ngày đêm người biểu tình. Nếu lực lượng này dùng vào việc theo dõi tội phạm hình sự thì hình ảnh Việt Nam không tồi tệ dưới mắt khách du lịch như bây giờ ông ạ.
Thí dụ cho ông thấy nhé:
Trước đây gần 6 tháng, báo Tuổi Trẻ loan tin: "Tại lễ hội đường phố Đông Á - Mỹ Latin, trong khuôn khổ Festival Huế 2012, chiều 9-4, ông Nguyễn Văn Ốc đã móc túi trộm một điện thoại di động của ngài Alberto Jaime Kaminker - đại sứ Argentina tại Việt Nam. Ngay lúc đó, đại sứ Cộng hòa Venezuela đã chụp được bức ảnh khoảnh khắc này. Bức ảnh được cung cấp cho ban tổ chức Festival Huế 2012, ngay sau đó lực lượng công an tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bắt giữ Nguyễn Văn Ốc cùng tang vật."

Và mới cách đây vài ngày, trước khi ông kịp xấu hổ thì cả nước đã phải bưng mặt không dám đọc tin này:
"Một tay quần vợt người Anh vừa cho biết anh bị mất cắp và sau đó bị xô đẩy khi tham gia giải đấuFutures châu Á trong chặng ở Việt Nam.

Andrew Fitzpatrick, từ Solihull, một thị trấn phía tây miền trung nước Anh, cho biết trong tuần đầu vòng thi đấu giải Futures tại Việt Nam, anh đã bị mất cắp 1.000 bảng Anh - toàn bộ số tiền anh chắt chiu để đi lại."
Vụ việc xảy ra tại tỉnh Bình Dương, và bản tin này do BBC phát đi.

Hay ông sẽ nói cả hai vụ đều không phải xảy ra tại Hà Nội nên không việc gì ông phải xấu hổ? Thưa ông, khoan nói ở đâu, nếu có ít thời gian xin ông nói mấy cậu văn thư lên Google đánh dòng chữ như thế này: "móc túi khách du lịch tại TPHCM". Ngay lập tức sẽ hiện lên 838.000 kết quả. Bây giờ xin đánh tiếp "móc túi khách du lịch ngoại quốc tại Hà Nội": 730.000 kết quả!

Cũng theo lý lịch thì ông là một TS kinh tế, chắc ông biết tỷ lệ của hai kết quả này nếu tính theo dân số của hai thành phố. Vậy thì có đáng xấu hổ hay không, thưa ông?

Bây giờ xin được trao đổi với ông, tại sao một người có quá nhiều bằng cấp như ông lại liên tục phát ngôn gây ác cảm cho công chúng đến như vậy. Ông không có khả năng nhận thức tối thiểu của một người nông dân để hiểu thế nào là sự quan trọng của miếng đất nuôi sống gia đình họ. Ông quen với thói nịnh nọt tâng bốc từ khi còn là một cán bộ kỹ thuật Công ty Xây dựng số 5, chỉ trong vòng 10 năm lại leo cao trèo nhanh lên đến địa vị ngày hôm nay phải chăng nhờ những phát ngôn "trái ý dân nhưng gần lòng đảng" này?

Ông ạ, đảng sống tới 70 năm là đại thọ, dân thì sống hoài với dòng chảy lịch sử cho dù lịch sử ấy có đen tối và bất hạnh bao nhiêu chăng nữa. Là một người chức cao học rộng tại sao ông lại không biết những điều mà tất cả mọi người đều biết này?

Tôi cảm thấy nghi ngờ cho hai mảnh bằng TS của ông. Tôi cũng cân đo luôn cái bằng kiến trúc sư mà ông kiếm được.

Tôi không có lý do gì để lo ngại cho con đường hoạn lộ của ông vì với thành tích "chửi dân là chính" ông xứng đáng được nằm trong danh sách bốn người trong lần bầu bán sắp tới. Ông không đậu là một tổn thất lớn cho nền chính trị Việt Nam, nơi tập trung những nhân tài tuy kiến thức rất "ở truồng" nhưng rất thích thắt những chiếc giây nịt lóng lánh đắt tiền mang tên “phát biểu”.