Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

Dương Kế Thằng – Nền chính trị hại dân của Mao trong thời kì Đại Nhảy vọt ở Trung Quốc: Lời nói đầu cho cuốn “Bia mộ” (2)



Bùi Xuân Bách, 

Phạm Nguyên Trường, Phạm Vũ Lửa Hạ dịch


Sau khi giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc bưng bít hết mọi nguồn thông tin từ nước ngoài, đồng thời phủ nhận toàn bộ những chuẩn mực đạo đức truyền thống của Trung Quốc. Chính phủ nắm độc quyền thông tin nên cũng nắm độc quyền về chân lí. Là trung tâm quyền lực, Trung ương Đảng cũng là trung tâm chân lí và thông tin. Tất cả các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội cúc cung tận tụy xác nhận tính chính đáng của chế độ cộng sản; mọi đoàn văn công nỗ lực hết mình ca tụng Đảng Cộng sản Trung Quốc; tất cả các cơ quan truyền thông đưa tin đăng bài chứng minh sự sáng suốt và sức mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ nhà trẻ đến đại học, sứ mệnh chính là cấy thế giới quan cộng sản vào tâm trí của học sinh, sinh viên các cấp. Các viện nghiên cứu khoa học xã hội, đoàn văn công, cơ quan truyền thông và trường học tất thảy đều trở thành công cụ cho sự độc quyền của Đảng về tư tưởng, tinh thần và quan điểm, và tất cả các cơ quan này liên tục tham gia nhào nặn tâm hồn của thế hệ trẻ Trung Quốc. Những người làm công việc này hãnh diện được gọi là ‘kĩ sư tâm hồn’.


Trong hoàn cảnh suy nghĩ và thông tin bị bưng bít như vậy, chính quyền trung ương dùng bộ máy độc quyền của mình cho công tác lâu dài là làm cho mọi người thấm nhuần các giá trị cộng sản đồng thời phê phán và bài trừ bất cứ giá trị nào khác. Bằng cách này, tâm trí của giới trẻ hình thành những cảm xúc rõ rệt và sâu sắc về đúng/sai và yêu/ghét, và những cảm xúc đó hóa thành niềm khao khát mãnh liệt muốn biến các lí tưởng cộng sản thành hiện thực. Lúc đó, bất cứ lời nói hay hành động nào phản đối hay đi chệch khỏi những lí tưởng này sẽ bị toàn thể mọi người nhất loạt đả kích.

Trong công tác tuyên truyền cho thấm nhuần các giá trị [cộng sản], cơ cấu tổ chức của Đảng thậm chí còn hữu hiệu hơn cả các viện nghiên cứu khoa học xã hội, cơ quan truyền thông, đoàn văn công và trường học. Mỗi cấp ủy Đảng có một bộ phận nòng cốt được hậu thuẫn của những đảng viên tích cực, cấp trên quản lí cấp dưới, cấp dưới trung thành với cấp trên. Những phong trào chính trị liên tiếp, hàng trăm hàng ngàn cuộc họp lớn nhỏ, những buổi lễ tuyên dương và các buổi đấu tố, các phần thưởng và hình phạt, tất thảy đều dùng để lôi kéo giới trẻ vào một quỹ đạo duy nhất. Tất cả những quan điểm khác với các quan điểm của Đảng đều bị tiêu diệt từ trong trứng nước.

Lúc đó tôi thật lòng tin rằng một nước Trung Quốc yếu kém và nghèo đói, từng bị bọn đế quốc áp bức trong gần 100 năm, có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường “Ba ngọn cờ hồng” và tiếp tục thực hiện lí tưởng cao nhất của nhân loại – đó là chủ nghĩa cộng sản. So với lí tưởng cao cả này, những khó khăn cỏn con tôi gặp phải thì nghĩa lí gì?

Tôi tin tưởng chủ trương “Ba ngọn cờ hồng” không chỉ vì u mê ngu dốt, mà còn vì áp lực chính trị kinh khủng đè nặng lên toàn xã hội, cái kiểu áp lực không cho ai nghi ngờ. Bản thân tôi chứng kiến nhiều biến cố đau lòng. Vạn Thượng Quân (萬尚君), học cùng trường nhưng trên tôi một lớp, mất cơ hội thi đại học vì anh ấy ca ngợi một bài diễn văn của Tito phê phán ‘phe xã hội chủ nghĩa’. Anh ấy từng đỗ đầu trong kì thi vào trường cấp hai của huyện trước tôi một năm, nên tôi biết rõ về anh. Anh là học sinh xuất sắc và chín chắn nhưng lại mất hết triển vọng cho tương lai ở tuổi mười bảy vì anh suy nghĩ quá độc lập. Trong một vụ khác xảy ra vào mùa Xuân năm 1959, có người phát hiện dòng chữ ‘Đả đảo Mao’ viết nguệch ngoạc trên vách ngăn cầu tiêu, và hoảng hốt đi báo lãnh đạo nhà trường. Trường vội vã báo lên Sở Công an, và Sở nhanh chóng phá án. Hóa ra một anh học trên tôi một lớp, đói quá hóa rồ, trong cơn tức giận đã viết dòng chữ đó. Tôi tận mắt thấy anh bị cùm tay và tống vào tù.

Những đợt phê bình không ngừng nghỉ của quần chúng cách mạng và những hình phạt khắc nghiệt mà ta chứng kiến dần dần tiêm vào ta cảm giác kinh hoàng. Nỗi kinh hoàng đó không phải là cảm giác khiếp sợ chợt đến khi ta thấy rắn độc hay thú dữ, mà là nỗi ghê sợ ăn dần thấm dà vào thần kinh ta, vào máu ta, để rồi trở thành một phần trong bản năng sinh tồn của một con người. Người dân biết cách tránh hiểm họa chính trị như thể thấy cháy nhà thì ráng chạy thoát thân.

Ở một đất nước vốn từ xa xưa đã có tâm lí tôn vua kính chúa, ngay từ đầu người dân đã xem chính quyền trung ương là tiếng nói quyền uy, và Đảng dùng ‘sức mạnh diệu kỳ’ của chính quyền trung ương để khiến toàn dân thấm nhuần các giá trị thống nhất. Giới trẻ ít kinh nghiệm thật lòng tin tưởng những giáo điều này, còn cha mẹ của chúng tuy có nhiều kinh nghiệm hơn chút ít nhưng vì lòng tin mù quáng vào ‘sức mạnh diệu kỳ’ hoặc vì sợ chế độ nên cố gắng hết sức để ngăn không cho con cái bộc lộ bất cứ luồng tư tưởng nào khác với tư tưởng của chính quyền, buộc con cái phải phục tùng và vâng lời.

Năm 1960 tôi thi đỗ vào Viện Đại học Thanh Hoa. Ngay sau khi nhập học, tôi tham quan triển lãm “chống hữu phái” của trường và bắt đầu dấn thân vào con đường giáo dục lòng trung thành của tôi. Tiếp đến là hơn năm mươi ngày làm việc cực nhọc ở nông thôn để được giáo dục qua lao động và tập tranh luận biện hộ cho “Ba ngọn cờ hồng”. Dù bụng đói sôi sùng sục, chúng tôi cũng chưa bao giờ hoài nghi về “Ba ngọn cờ hồng”.
Trường đại học này từng nổi tiếng về tính cởi mở của giới trí thức, nhưng hóa ra lại hết sức hẹp hòi. Viện đại học Thanh Hoa từng có nhiều giáo sư lừng danh, nhưng tôi chỉ biết đến Văn Nhất Đa (聞一多) và Chu Tự Thanh (朱自清) từ những trước tác của Mao Trạch Đông, và chưa hề nghe đến Trần Dần Khác (陳寅恪) hay Ngô Mật (吳宓)[i]. Thư viện của trường có sách nhiều đáng nể, nhưng những cuốn duy nhất tôi có thể mượn được, ngoài những cuốn về khoa học kĩ thuật, đều liên quan đến chủ nghĩa cộng sản. Hai cựu sinh viên của trường, Dương Chấn Ninh (楊振宁) và Lý Chính Đạo (李政道), đã giành giải Nobel vật lí năm 1957,[ii] nhưng trường lại giữ kín chuyện này. Trong những buổi họp cán bộ Đoàn Thanh niên, trường thậm chí còn cảnh báo rằng hai người này là phần tử trí thức phản động, và chúng tôi không nên đi theo con đường ‘tinh hoa chủ nghĩa’ của họ.

Thời đại học, tôi vẫn rất ngoan ngoãn phục tùng, suốt thời gian đó tôi làm bí thư chi đoàn, rồi vào Đảng Cộng sản tháng 5 năm 1964. Thời đó, những thanh niên như tôi được xem là rất ngây thơ và chân chất, và quả đúng như vậy; đầu óc chúng tôi chỉ toàn những niềm tin do bộ máy tuyên truyền tiêm vào, ngoài ra chẳng có gì cả. Bằng cách này Đảng uốn nắn thế hệ đang lớn lên dưới chế độ mới thành những tông đồ trung thành. Nếu không có những sự kiện lớn xảy ra trong những thập niên đó, và nếu chế độ đó vẫn vững vàng tại vị, thế hệ chúng tôi có lẽ vẫn giữ những niềm tin đó trong suốt cuộc đời mình.

Điều dẫn đến thay đổi đầu tiên trong suy nghĩ của tôi là Cách mạng Văn hóa. Lúc khởi đầu Cách mạng Văn hóa, tôi rất ngạc nhiên khi thấy ở Viện Đại học Thanh Hoa xuất hiện hàng ngàn “Đại tự báo” tố cáo cuộc sống hủ bại và tinh thần đê hèn của những nhà cách mạng lão thành mà tôi kính nể từ lâu. Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1966, tôi và nhiều bạn cùng lớp đi đến hơn 20 thành phố để ‘thiết lập quan hệ’, và ở những nơi đó chúng tôi cũng thấy nhiều “Đại tự báo” tiết lộ sự tham nhũng và đặc quyền của những cán bộ cấp cao. Tôi bắt đầu mất niềm tin vào hệ thống công quyền, và tôi chẳng còn tin những gì mình đọc trên báo. Tôi bắt đầu nghi ngờ những huyền thoại mà Đảng đã khắc ghi trong tâm trí tôi suốt những năm qua. Giống như hầu hết những người dân thường, tôi tham gia vào Cách mạng Văn hóa chỉ vì phản đối đặc quyền của các quan chức. Và chính trong thời kì Cách mạng Văn hóa, Trương Thể Học (張體學), Chủ tịch tỉnh Hồ Bắc, đã nói một điều làm tôi sửng sốt: trong ba năm khốn khó ở tỉnh Hồ Bắc, khoảng 300.000 người đã chết đói! Chỉ khi ấy tôi mới nhận ra rằng bi kịch của gia đình tôi không phải là đơn nhất.

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi được phân công làm việc tại Tân Hoa Xã. Các phóng viên Tân Hoa được gặp gỡ mọi tầng lớp xã hội mà những người khác chẳng bao giờ có thể tiếp xúc. Tôi không chỉ biết nhiều sự thật mâu thuẫn với những điều đã viết trong sách sử của Đảng, mà còn quan sát cuộc sống vất vả của giới công nhân thành thị. Là phóng viên Tân Hoa, tôi biết ‘tin tức’ đăng trên báo chí đã được chế tác ra sao, và tôi cũng biết các cơ quan truyền thông đã thành cái loa của nhà cầm quyền như thế nào.

Chủ trương cải cách và mở cửa đã nới lỏng đáng kể những ràng buộc trước đây bóp nghẹt giới trí thức của Trung Quốc, và một số sự thật lịch sử bắt đầu hé lộ. Trong quá khứ, Đảng đã dạy chúng tôi rằng trong cuộc kháng chiến chống Nhật, chỉ có người cộng sản đánh Nhật, còn Quốc dân Đảng hoàn toàn đầu hàng và cộng tác với địch. Giờ đây chúng tôi biết rằng khoảng hai trăm tướng lĩnh Quốc dân Đảng đã hi sinh tính mạng để duy trì công cuộc kháng chiến. Trước kia, Đảng đã dạy chúng tôi rằng thiên tai đã gây ra nạn đói ở một số ít vùng trên toàn quốc. Giờ đây chúng tôi biết rằng đó hoàn toàn là nhân họa khiến hàng chục triệu người đói đến chết. Tôi bắt đầu hiểu rằng lịch sử Đảng, và lịch sử một trăm năm gần đây của Trung Quốc, đã bị xuyên tạc và biên tập cho phù hợp với nhu cầu của Đảng.

Nhờ nhận ra mình đã bị lừa dối trong suốt thời gian dài như vậy, tôi bỗng có sức mạnh ghê gớm để rũ bỏ sự dối trá này. Chính quyền càng che giấu sự thật, tôi càng quyết tâm theo đuổi sự thật. Tôi bắt đầu đọc hàng tập tư liệu mới xuất bản, và trong công việc tường thuật tin tức tôi cố gắng tìm hiểu sự thật của quá khứ. Kinh nghiệm cá nhân của tôi về cuộc biến động ở Bắc Kinh năm 1989 (sự kiện Thiên An Môn – 天安門事件) đã thức tỉnh tôi đáng kể: máu của những sinh viên trẻ tuổi đó đã rửa sạch đầu óc của tôi, gột sạch tất cả những điều dối trá mà đầu óc tôi đã chấp nhận trong mấy chục năm trước. Trong vai trò nhà báo, tôi phấn đấu tường thuật và bàn luận đúng sự thật. Trong vai trò học giả, tôi cảm thấy có trách nhiệm phục hồi lịch sử trở lại với đúng bản chất của nó, và kể sự thật lịch sử cho những người đã từng bị lừa dối nghe.

 Trong nỗ lực phá bỏ sự lừa dối và theo đuổi sự thật, tôi dần dần hiểu được bối cảnh xã hội lúc cha tôi mất. Dù mấy chục năm đã trôi qua, những hồi tưởng của tôi về nguyên nhân khiến cha tôi chết và những điều tôi suy nghĩ về ông ngày càng thấm thía. Đến thập niên 1980, dân làng ở quê tôi bắt đầu có xu hướng dựng bia mộ cho những người đã khuất. Những người làm cán bộ cao cấp ở nơi khác dựng bia mộ rất hoành tráng. Bạn bè và bà con họ hàng động viên tôi dựng bia mộ cho cha tôi. Tôi nghĩ dù mình chẳng phải là cán bộ cao cấp gì cho cam, tôi cũng sẽ dựng bia mộ cho cha còn hoành tráng hơn bất cứ bia mộ nào khác. Nhưng tôi nhớ đến số phận những bia mộ ở làng tôi vào năm 1958. Có bia mộ đã bị phá dỡ để dùng trong các công trình  thủy lợi lớn, hoặc dùng làm nền cho các lò luyện kim trong chiến dịch sản xuất thép thời kì Đại Nhảy vọt; có bia mộ bị dùng để lót đường cho hàng ngàn người đi qua. Bia mộ càng uy nghi thì càng có khả năng bị phá bỏ. Bia mộ của cha tôi phải được dựng, nhưng không phải trên đất, mà là dựng trong tim. Bia mộ trong tim chẳng bao giờ bị phá dỡ hay bị thiên hạ giày xéo lên.

Tôi quả thực đã dựng bia mộ cho cha trong tim tôi. Cuốn sách này viết nên từ những chữ tôi khắc lên bia mộ đó. Ngay cả sau khi tôi nhắm mắt xuôi tay, cảm xúc chân thành được thể hiện bằng những từ ngữ này sẽ vẫn lưu lại trong các thư viện trên khắp thế giới.

II.

Tấn bi kịch xảy ra trong gia đình tôi cũng đồng thời ập xuống hơn mười triệu gia đình trên khắp đất nước Trung Quốc.

Trong những chương nói về tổn thất dân số, người đọc sẽ thấy tôi tham khảo nhiều loại tài liệu từ Trung Quốc và từ nước ngoài để khẳng định rằng khoảng 36 triệu người đã chết vì đói ở Trung Quốc từ năm 1958 đến năm 1962. Vì nạn đói cũng làm giảm tỉ lệ sinh, trong những năm đó số trẻ ra đời ước tính thấp hơn 40 triệu so với con số lẽ ra đã có trong hoàn cảnh bình thường. Tính chung có tổng cộng 76 triệu mạng sống bị mất đi do nạn đói trong bốn năm đó.

Ở các vùng Tín Dương (信陽, tỉnh Hà Nam), Thông Vị (通渭, tỉnh Cam Túc), Phụng Dương (鳳陽, tỉnh An Huy), Hào Châu (亳州, tỉnh An Huy), La Định (羅定, tỉnh Quảng Đông), Vô Vi (無為, tỉnh An Huy), Quán Đào (館陶, tỉnh Hà Bắc), Tế Ninh (濟宁, tỉnh Sơn Đông) và nhiều vùng thuộc tỉnh Tứ Xuyên, gần như gia đình nào cũng có ít nhất một người chết vì đói, và không ít gia đình bị xóa sổ hoàn toàn. Trong một số trường hợp, cả làng không còn một người nào. Cảnh tượng này giống như Mao Trạch Đông tả trong một bài thơ của ông: ‘Ngàn làng mạc mênh mông cỏ dại, người muôn người chết dần chết dà; Vạn ngôi nhà chỉ còn bóng ma lởn vởn hát ca’.[iii]

Hãy khoan nói đến 40 triệu người chưa bao giờ ra đời, làm sao ta có thể hình dung nổi 36 triệu người đang sống lại bị bỏ đói đến chết? Con số này tương đương 450 lần số người chết vì bom nguyên tử thả xuống Nagasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945.[iv] Như thể có kẻ cho thả 450 quả bom nguyên tử xuống các làng mạc Trung Quốc. Con số này gấp 150 lần số người chết trong trận động đất Đường Sơn (唐山, tỉnh Hà Bắc) vào ngày 28 tháng 7 năm 1976.[v]  Con số này lớn hơn số người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Khoảng 10 triệu người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, hay trung bình hai triệu người mỗi năm từ năm 1914 đến 1918. Chỉ trong năm 1960, 15 triệu người chết đói ở Trung Quốc. Mức độ tàn khốc của nạn đói này ở Trung Quốc thậm chí vượt xa cảnh khốc liệt của Chiến tranh Thế giới thứ hai với 40-50 triệu người thiệt mạng.[vi] Những ca tử vong trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trải ra trên khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi trong thời gian bảy hay tám năm; còn 36 triệu nạn nhân của nạn đói ở Trung Quốc chết trong thời gian chỉ ba hay bốn năm, và ở đa số vùng, số tử vong tập trung chỉ trong vòng sáu tháng.

Nạn đói thời kì 1958-1961 khiến tất cả những nạn đói khác trong lịch sử Trung Quốc trở nên mờ nhạt. Nạn đói trầm trọng nhất trước kia được ghi lại trong sử Trung Quốc diễn ra trong  những năm 1928–1930, trong thời gian đó một thiên tai đã ảnh hưởng đến 22 tỉnh. Nạn đói đó phá vỡ mọi kỉ lục có trước, nhưng tổng cộng chỉ có 10 triệu người chết. Trong 17 năm từ 1920 đến 1936, nạn đói do mất mùa cướp đi sinh mạng của 18,36 triệu người.[vii] Lý Văn Hải (李文海) và những đồng tác giả khác, trong các cuốn Những nạn đói gần đây ở Trung Quốc và 10 nạn đói lớn nhất gần đây của Trung Quốc,[viii] thực sự tin rằng con số đó bị phóng đại, và số người chết trong nạn đói trầm trọng nhất thời kì 1928–1930 không vượt quá 6 triệu, trong khi 140.000 người chết do những trận lụt sông Dương Tử năm 1931. Số người chết đói từ năm 1958 đến 1962 gấp nhiều lần so với số người chết trong bất kì thảm họa nào trước kia ở Trung Quốc.

Không một tiếng kêu khóc thống thiết khẩn cầu trời đất, không còn đám tang tẩm liệm đàng hoàng, không có tiếng pháo đì đùng và tiền âm phủ để tiễn người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng, không còn ai để thương cảm và đau buồn, không một giọt nước mắt, cũng chẳng còn sửng sốt hay hoảng loạn. Hàng chục triệu người rời bỏ trần gian trong một không khí hờ hững câm lặng.

Một số làng dùng xe tải chở xác đi chôn trong những nấm mồ tập thể ở ngoại vi. Ở những làng mà người sống không đủ sức mai táng người chết cho đàng hoàng, chân tay của người chết trồi lên mặt đất. Ở một số nơi, người chết nằm ven đường khi họ gục xuống trong lúc đang vô vọng đi tìm thức ăn. Không ít người bị bỏ lại tại nhà, để rồi lũ chuột gặm nhấm mũi và tai họ.

Mùa Thu năm 1999, tôi đến Cao Du phường (高油坊) ở làng Phòng Hồ (防胡鄉) thuộc huyện Hoài Tân, thành phố Tín Dương, để tìm hiểu thêm về tình hình ở đây. Một ông lão trong làng, Dư Văn Hải (餘文海), tuổi trạc thất tuần, dẫn tôi ra một đồng lúa ở rìa làng. Cụ vừa chỉ đám cây mọc trên đồng vừa nói, ‘Chỗ mấy cái cây kia từng là hố chôn ít nhất 100 xác người’. Nếu cụ Dư với tư cách là nhân chứng của những sự kiện đó không nhắc chuyện này, có lẽ đã chẳng ai biết đến bi kịch kinh khủng chôn vùi dưới đám mạ xanh mơn mởn và những cái cây dáng vẻ oai nghiêm kia.

Cơn đói dằn vặt con người trước khi chết còn tàn khốc hơn chính cái chết. Lúa gạo ngũ cốc không còn một hạt, cỏ cây dại đã ăn sạch, thậm chí vỏ cây cũng tước ra ăn, rồi chuột, phân chim, và cả bông nhồi trong chăn, tất thảy đều cho vào mồm hòng nhét đầy bao tử. Trên những đồng đất sét cao lĩnh,[ix] những người đói quay quắt vừa đào đất sét vừa nhai trệu trạo. Xác của những người chết, của những nạn nhân từ các làng khác đến lánh nạn đói, và thậm chí của chính người thân trong gia đình, trở thành thức ăn cho những kẻ đang tuyệt vọng.
Chuyện ăn thịt người không còn là cá biệt. Sách sử xưa thuật lại nhiều trường hợp các gia đình đổi con cho nhau để ăn trong những nạn đói trầm trọng, còn trong thời kì Nạn đói 1958-1961 này, một số gia đình chỉ còn biết ăn con của chính mình. Ở một số huyện ở Tín Dương, ở Thông Vị, tỉnh Cam Túc, và ở tỉnh Tứ Xuyên, người sống sót kể lại nhiều chuyện ăn thịt người kinh hoàng. Tôi đích thân gặp nhiều người từng ăn thịt người và nghe họ mô tả mùi vị của nó.

Qua phân tích những bằng chứng đáng tin cậy mà tôi thu thập được, có thể thấy có hàng ngàn vụ ăn thịt người trên khắp Trung Quốc trong thời gian đó.[x] Tôi đã nêu chi tiết những trường hợp bi thảm này trong các chương liên quan đến từng tỉnh cụ thể.

Đây là thảm kịch vô tiền khoáng hậu trong lịch sử loài người. Trong một thời kì có khí hậu bình thường, không có chiến tranh hay dịch bệnh mà lại có đến hàng chục triệu người bị đói đến chết và thậm chí phải ăn cả thịt người, thì quả là chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Trong thời kì ấy và nhiều thập niên sau đó, sách báo và các văn bản chính thức soạn ở Trung Quốc tích cực tránh né và che giấu thảm kịch khủng khiếp này. Cán bộ ở mọi cấp chính quyền đều không hé môi về chủ đề người dân đói dần đến chết. Cán bộ ở mọi cấp chính quyền giả mạo số liệu thống kê về số người chết và cắt giảm số liệu bằng mọi phương tiện có trong tầm tay. Để vĩnh viễn che giấu chuyện này, chính quyền đã ra lệnh hủy toàn bộ dữ liệu ở tất cả những tỉnh báo cáo dân số giảm đi hàng chục triệu người.
Những người tị nạn lánh được sang Hương Cảng và thân nhân của Hoa kiều đã xoay xở loan truyền được chút ít tin tức về thảm họa này, và dựa trên thông tin này, một số cơ quan truyền thông phương Tây đã đưa tin về nạn đói ở Trung Quốc. Những bản tin này tủn mủn, vụn vặt, nhưng chính phủ Trung Quốc đã nhất quyết gọi đó là ‘những trò công kích ác ý’ và ‘những tin đồn vu khống’.

Nhằm đảo ngược dư luận quốc tế, chính phủ Trung Quốc đã mời một số ‘người bạn của Trung Quốc’ đến thăm và tận mắt chứng kiến, với hi vọng họ sẽ viết bài ‘làm sáng tỏ các dữ kiện và sự thật’. Chính phủ Trung Quốc đã chuẩn bị hết sức thấu đáo cho mỗi chuyến viếng thăm này, tỉ mỉ dàn xếp từng chặng trong lộ trình của khách mời, bao gồm những nơi họ sẽ đến thăm, những người họ có thể tiếp xúc, và những điều sẽ nói khi tiếp khách. Trong những cuộc viếng thăm này, các vị khách nước ngoài bị tách biệt hẳn với dân thường, và một số nơi thậm chí còn trưng ra những người được ăn uống đầy đủ và áo quần chỉnh tề.

Phương Thực (方實), lúc đó là Phó trưởng ban đối nội của Tân Hoa Xã, có lần được giao nhiệm vụ tháp tùng các vị khách nước ngoài trong chuyến tham quan tỉnh An Huy. Về già, ở tuổi 85, ông kể với tôi cách Tỉnh ủy An Huy lừa dối khách nước ngoài như thế nào (được mô tả ở phần sau trong cuốn sách này). Những vị khách bị lừa gạt này lúc về nước đăng những bài báo dựa trên ‘những điều mắt thấy tai nghe’ của họ, ca ngợi ‘những thành tựu vĩ đại’ của Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc lúc đó không bị nạn đói và người dân Trung Quốc đủ ăn đủ mặc.

Nhà báo Anh Felix Greene, trong tác phẩm nổi tiếng của ông về Trung Quốc in năm 1965, Tấm màn ngu tối (A Curtain of Ignorance), viết rằng trong năm 1960 ông đã đi khắp Trung Quốc trong thời kì mà ngũ cốc được chia khẩu phần rất eo hẹp, nhưng chẳng hề thấy dấu hiệu nào của nạn đói đại trà. Nhà báo Mỹ Edgar Snow (tên ông đã trở nên quen thuộc ở Trung Quốc) là một trong những người bị Trung Quốc lừa gạt rồi truyền bá sự dối trá đó sang người khác. Tân Hoa Xã dịch tất cả những bài báo nước ngoài này sang tiếng Trung như “hàng xuất khẩu bán ở thị trường nội địa’ để phổ biến trong Tin tức tham khảo (參考消息) và Tư liệu tham khảo (参考資料) nhằm làm công cụ thống nhất dư luận và đàn áp những quan điểm khác trong nước.

Khoảng 20 năm sau những sự kiện này, một số học giả nước ngoài và người Hoa sống bên ngoài đại lục bắt đầu nghiên cứu và báo cáo về thảm họa vô tiền khoáng hậu này. Những nghiên cứu này có giá trị cao, nhưng vì các tác giả không ở trong nước, họ không tiếp cận được những tư liệu nội bộ trong các văn khố lưu trữ chính thức của Trung Quốc, nên kết quả nghiên cứu của họ chưa đầy đủ.

Từ đầu thập niên 1990, tôi tận dụng những chuyến công tác của mình để tham khảo những tư liệu liên quan trên khắp đất nước và phỏng vấn những người đã sống sót qua nạn đói đó. Tôi đi từ miền Tây Bắc xuống Tây Nam, từ Hoa Bắc sang Hoa Đông, từ vùng Đông Bắc xuống Hoa Nam, tham khảo văn khố lưu trữ ở hơn chục tỉnh và phỏng vấn hơn một trăm nhân chứng. Sau mười năm nỗ lực, tôi đã tích lũy văn bản tổng cộng hàng triệu từ và mười cuốn sổ ghi chép các cuộc phỏng vấn. Bằng cách này tôi có được hiểu biết toàn diện và sâu sắc về những hoàn cảnh thực sự của Nạn đói 1958-1961.

Đối mặt với những hậu quả trầm trọng của Nạn đói 1958-1961, Lưu Thiếu Kỳ có lần nói với Mao Trạch Đông, ‘Lịch sử sẽ ghi lại vai trò của đồng chí và tôi trong chuyện quá nhiều người dân bị đói, và nạn ăn thịt người cũng sẽ được khắc ghi!’.[xi] Mùa Xuân năm 1962, trong một lần nói chuyện với Đặng Lực Quần (鄧力群), Lưu Thiếu Kỳ một lần nữa lại nhắc rằng ‘những cái chết vì đói sẽ được ghi lại trong sử sách’. Tuy nhiên, sau hơn bốn mươi năm, không có cuốn sách nào như vậy về Nạn đói 1958-1961 được xuất bản ở Trung Hoa đại lục. Điều đó không chỉ đáng tiếc từ góc độ lịch sử mà còn xúc phạm đến kí ức về hàng chục triệu nạn nhân vô tội. Tôi đã dành nhiều năm trời để hoàn tất cuốn sách này. Cuốn sách này có thể xem như bia mộ dành cho hàng chục triệu linh hồn đói khát đó, và tôi hi vọng nó sẽ phần nào an ủi cho họ.

Lưu Thiếu Kỳ cũng từng nói rằng thảm họa này nên được khắc bia tưởng niệm làm di tích ‘truyền lại cho con cháu chúng ta để một lỗi lầm như vậy sẽ không bao giờ tái diễn’. Phải, nên dựng một đài tưởng niệm lớn cho một sự kiện lịch sử trọng đại như vậy như một lời cảnh báo cho các thế hệ tương lai. Tôi tin rằng chỉ một cuốn sách của tôi sẽ không đủ để khắc ghi sâu trong tâm trí bài học lịch sử này. Đã có những đài tưởng niệm cho nạn nhân trận động đất Đường Sơn, cho Hiroshima và Nagasaki, và cho các nạn nhân của Chiến tranh Thế giới thứ hai trên khắp châu Âu. Trung Quốc cũng nên dựng những đài tưởng niệm các nạn nhân của Nạn đói 1958-1961 ở những nơi tập trung số người chết nhiều nhất, ví dụ như Tín Dương, Thông Vị, La Định, Hào Châu, Phụng Dương, Tuân Nghĩa (遵義, tỉnh Quý Châu), Kim Sa (金沙, tỉnh Quý Châu), huyện Bì (郫縣, Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên), huyện Vinh (榮縣, tỉnh Tứ Xuyên), Phong Đô (豐都, Trùng Khánh, Tứ Xuyên), Đại Ấp (大邑, Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên), Quán Đào, Tế Ninh, v.v… và ở tỉnh lị của những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đó là Tứ Xuyên, An Huy, Quý Châu, Hà Nam, Sơn Đông, Cam Túc và Thanh Hải, cũng như ở quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Những đài tưởng niệm này sẽ không chỉ tưởng nhớ người chết mà còn để nhắc nhở đến tai họa này, từ đó có thể rút ra bài học để ngăn chặn sự tái diễn của một thảm kịch như vậy trong tương lai.

III.

Dù đất canh tác giảm đi và dân số gia tăng 200 triệu trong thập niên 1980 và 1990, nguồn cung cấp ngũ cốc của Trung Quốc nay dồi dào hơn bao giờ hết; giới trẻ không biết đói là gì, và nông dân thậm chí khó bán hết thu hoạch vụ mùa của mình. Tất thảy những thành quả này đều nhờ những thay đổi về hệ thống nông nghiệp của Trung Quốc kể từ khi Công xã Nhân dân được thay thế bằng hệ thống trả công gắn với sản lượng, và điều đó chứng tỏ ảnh hưởng quan trọng của một hệ thống đối với nạn đói.

Amartya Sen, người đoạt giải Nobel [Kinh tế] năm 1998 nhờ những nghiên cứu của ông về nạn đói, đã viết:
Trong lịch sử khủng khiếp của những nạn đói trên thế giới, chưa có một nạn đói lớn nào từng xảy ra ở một nước độc lập và dân chủ với nền báo chí tương đối tự do. Bất kể tìm ở đâu, chúng ta không tìm được ngoại lệ cho quy tắc này: những nạn đói gần đây ở Ethiopia, Somalia, hay những chế độ độc tài khác; những nạn đói ở Liên Xô trong thập niên 1930; nạn đói 1958-1961 của Trung Quốc với thất bại của “Đại nhảy vọt”; hay thậm chí xưa hơn nữa, những nạn đói ở Ái Nhĩ Lan hay Ấn Độ dưới ách đô hộ của ngoại bang. Dù kinh tế về nhiều mặt khá hơn Ấn Độ, Trung Quốc (khác với Ấn Độ) vẫn để xảy ra nạn đói, thực ra là nạn đói lớn nhất được ghi nhận trong lịch sử thế giới: gần 30 triệu người chết trong nạn đói thời kì 1958–1961, trong khi những chính sách sai lầm của chính phủ vẫn không được sửa đổi trong suốt ba năm đó. Những chính sách này không bị chỉ trích vì không có đảng đối lập trong quốc hội, không có nền báo chí tự do, và không có bầu cử đa đảng. Quả thực chính tình trạng thiếu phản biện đã để cho những chính sách hết sức sai lầm này tiếp diễn mặc dù chúng giết chết hàng triệu người mỗi năm.[xii]

Thực vậy, nguyên nhân cơ bản khiến hàng chục triệu người ở Trung Quốc chết đói là chế độ cực quyền (totalitarianism – cũng còn gọi là chế độ toàn trị). Dĩ nhiên tôi không nói rằng chế độ cực quyền tất yếu sẽ dẫn đến những tai họa trên quy mô lớn như vậy, nhưng trong chế độ cực quyền những chính sách vô cùng khiếm khuyết sẽ dễ xuất hiện hơn, và sau này muốn sửa đổi những chính sách đó sẽ khó hơn. Một điều quan trọng hơn nữa là trong hệ thống này, chính phủ độc quyền thâu tóm mọi sản phẩm và nguồn duy trì sự sống, để rồi một khi thảm họa ập đến, người dân thường không có phương tiện tự cứu mình và chỉ còn ngồi chờ chết.
Trong lĩnh vực chính trị và tư tưởng, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa áp dụng chế độ chuyên chính vô sản toàn diện, đàn áp không thương tiếc bất cứ người bất đồng chính kiến nào. Về mặt kinh tế, nước này thực hiện một nền kinh tế kế hoạch tập trung hóa cao độ trong đó chính phủ nắm độc quyền với tất cả mọi nguồn lực kinh tế. Về mặt ý thức hệ, nước này thực hiện độc quyền nghiêm ngặt về thảo luận và suy nghĩ, và không cho phép bày tỏ những quan điểm khác biệt. Bản thân Mao Trạch Đông mô tả đặc trưng của hệ thống chính trị này là ‘Marx cộng với Tần Thủy Hoàng’. Hệ thống này kết hợp kiểu chuyên quyền tập trung cao độ của Liên Xô với kiểu chuyên chế mà hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc đã áp đặt hơn 2.000 năm trước, và đã dần dần trở nên chặt chẽ hơn qua những triều đại kế tiếp. Kết quả là sự lạm dụng quyền lực hành pháp trầm trọng hơn sự lạm dụng của Liên Xô, hay của bất cứ hoàng đế nào của Trung Quốc. Đó là một hệ thống chuyên chính đúng nghĩa.

Chế độ chuyên chế Trung Quốc bắt đầu từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công nguyên, và đã lưu lại nhiều dấu tích lịch sử trong quá trình hơn hai nghìn năm. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kế thừa hệ thống này một cách hiệu quả, và mặc dù sự cai trị của Đảng chỉ là đoạn kết của chế độ chuyên chế phong kiến Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc có được vũ khí, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và những phương pháp tổ chức hiện đại, nên Đảng càng nắm quyền kiểm soát vừa rộng vừa sâu đối với xã hội, hệ thống công quyền, và người dân với mức độ chặt chẽ hơn và chi li hơn mà chế độ chuyên quyền phong kiến trước kia chưa hề đạt đến. Cái thòng lọng này thắt chặt mọi cơ chế hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và ý thức hệ của xã hội và mọi khía cạnh đời sống thường nhật. Quyền lực cưỡng bức của chế độ độc tài thâm nhập vào mọi ngóc ngách của thậm chí những làng mạc hẻo lánh nhất, chạm đến từng thành viên trong từng gia đình, và len lỏi vào tâm can của từng người. Gọi chế độ này là ‘cực quyền’ nghĩa là nói đến sự bành trướng của quyền lực hành pháp đến mức cùng cực.

(Còn 1 kì)

Nguồn: Tạp chí “Trung Hoa đương đại” (2010), số 19 (66), tháng 9, trang 755-776). Bản tiếng Anh.
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra; © 2012 Bùi Xuân Bách, Phạm Nguyên Trường, Phạm Vũ Lửa Hạ
___________________________
Lời cảm tạ: Chúng tôi, những người dịch, xin chân thành cám ơn những người bạn thân đã cổ vũ và giúp đỡ rất nhiều, chẳng hạn như tìm giúp cho bản tiếng Hán, bớt thời gian quý báu của mình đọc trước bản dịch và đóng góp nhiều ý kiến xác đáng.
Lưu ý về chú thích:
- Chú thích của tác giả sẽ viết tắt là TG.
- Chú thích của người dịch bản tiếng Anh sẽ viết tắt là TA.
- Chú thích của người dịch bản tiếng Việt sẽ viết tắt TV.
- Tên riêng nào (chỉ còn có hai cái) chúng tôi chưa tra được nguyên văn tiếng Hán, đành phỏng đoán sát nhất và đánh dấu hoa thị (*).
[i] TA: Văn Nhất Đa (1899–1946), người phê phán chính phủ Quốc dân Đảng, đã chết dưới tay Quốc dân Đảng. Chu Tự Thanh (1898–1948), một người chống đế quốc, đã chết vì đói sau khi từ chối thực phẩm viện trợ của Mỹ. Ngược lại, cả Trần Dần Khác (1890–1969) và Ngô Mật (1894–1978), là những học giả văn hóa cổ truyền được đào tạo ở nước ngoài và cố giữ khoảng cách với Đảng Cộng sản. Họ Ngô bị tra tấn trong Cách mạng Văn hóa.
[ii] TA: Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo là học giả ở Mỹ khi họ trở thành những người gốc Hoa đầu tiên giành giải Nobel.
[iii] TA: Trích từ bài thơ ‘Tống tiễn ôn thần’ (Tống ôn thần, 送瘟神) của Mao Trạch Đông. Mao viết bài thơ này vào ngày 1 tháng 7 năm 1958, khi biết tin về thành công trong công tác chống bệnh kí sinh ở Dư Giang (餘江), tỉnh Giang Tây.
[iv] TG: Vào ngày 6 tháng 8 năm 1945, máy bay quân sự Mỹ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, Nhật, giết chết 71.000 người. Ngày 9 tháng 8, Mỹ thả một quả bom khác xuống Nagasaki, giết chết 80.000 người.
[v] TG: Ước tính có 240.000 người chết trong trận động đất Đường Sơn (28 tháng 7 năm 1976). TV: Một vài nguồn vẫn cho rằng con số người thiệt mạng lên tới khoảng 700.000 người. (Xem Wikipedia)
[vi] TG: Henri Michel, Chiến tranh Thế giới thứ hai, ấn bản tiếng Trung, tập 2 (Thương Vụ ấn thư quán, 1981), trang 427. (TA: Ấn bản tiếng Anh do nhà Praeger xuất bản năm 1975.)
[vii] TG: Đặng Vân Đặc [鄧云特], Lịch sử cứu trợ nạn đói ở Trung Quốc [Trung Quốc cứu hoang sử, 中國救荒史] (Bắc Kinh: Thương Vụ ấn thư quán, 1993), trang 142–143.
[viii] TA: Trích dẫn toàn văn các tác phẩm của Lý Văn Hải (李文海), giáo sư Viện Đại học Nhân dân, và các tác giả khác có thể truy cập ở http://qss.ruc.edu.cn/en/100964/101137/20249.html.
[ix] TA: Đất sét cao lĩnh (高嶺), còn gọi là ‘đất sét Quan Âm’ vì nó là thành phần chính làm tượng sứ Quan Âm. Trong nạn đói này, nhiều nông dân đã ăn để chống đói. Vì không tiêu được, đất sét này sẽ làm nghẽn ruột, thường dẫn đến cái chết. TV: Ta thường gọi là cao lanh (Kaolin). Được sử dụng trong các lĩnh vực sau: công nghiệp dược, mĩ phẩm; công nghiệp giấy; sản xuất gạch ceramic; công nghiệp gốm sứ, vật liệu chịu lửa; sứ cách điện; công nghiệp luyện kim; chất tẩy trắng dầu mỡ; tổng hợp Zeolit; v.v…
[x] TG: Trong bảy lần in đầu tiên của cuốn sách này ấn bản tiếng Trung, tôi đã dùng số liệu của Lý Nhuệ (李銳) ước tính có hơn 1.000 vụ ăn thịt người trên toàn Trung Quốc. Tháng 7 năm 2009, Ân Thụ Sinh*, nguyên phó giám đốc Sở Công an tỉnh An Huy, cung cấp cho tôi thông tin sau: năm 1961, Sở Công an tỉnh An Huy báo cáo với Tỉnh ủy là đã có 1.289 vụ ăn thịt người ở tỉnh này. Có hơn 300 vụ ăn thịt người được báo cáo ở huyện Hoàng Trung (湟中縣), thành phố Tây Ninh (西宁市) thuộc tỉnh Thanh Hải. Cộng thêm những số liệu báo cáo ở Tứ Xuyên, Sơn Đông, Hà Nam và những nơi khác ở Trung Quốc, con số ước tính mấy ngàn không phải là phóng đại.
[xi] TA: Vương Quang Mỹ, Lưu Nguyên và các tác giả khác, Lưu Thiếu Kỳ – những chuyện chưa biết [你所不知道的劉少奇] (Trịnh Châu: Hà Nam Nhân dân Xuất bản xã, 2000), trang 90.
[xii] TA: Amartya Sen, “Dân chủ như một giá trị phổ quát”, [‘Democracy as a universal value’], Journal of Democracy 10(3), (1999), trang 3–17, có ở địa chỉ: http://hdr.undp.org/docs/training/oxford/readings/2006/Sen%20Democracy%201999.pdf. Tác giả trích dẫn bản dịch tiểu luận của Sen sang tiếng Hán của Trình Hiểu Nông (程曉農) đăng trong tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc đương đại (當代中國研究) 69(2), (2000).
 SHARE

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

Ngô Nhân Dụng - Kinh tế vẫn cần tiếp máu


Ngô Nhân Dụng

Fed tức là Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương của nước Mỹ. Làm chủ tịch Fed cũng giống như làm dâu của hai mẹ chồng; có thể nhiều hơn nữa. Ông Ben Bernanke đã trải qua kinh nghiệm đó.
Hai bà mẹ chồng đầu tiên là Hành pháp và Lập pháp. Ông Ben Bernanke được cựu Tổng Thống George W. Bush đề nghị vào chức vụ này năm 2006, sau khi đã làm chủ tịch ủy ban cố vấn kinh tế của ông Bush hai năm. Nhưng lúc muốn ngồi vào ghế Fed, ông vẫn phải được Thượng Viện thông qua. Ðến nay, trong một năm bầu cử, hai bà mẹ chồng là hai đảng chính trị. Họ luôn luôn soi mói xem các quyết định của ông có làm lợi cho ứng cử viên đảng bên kia hay không. Bất cứ nhà chính trị nào trong mỗi đảng cũng có thể lên tiếng chỉ trích. Thống Ðốc Texas Rick Perry năm ngoái mới dọa: Trong năm 2012 này mà ông in thêm tiền thì phải gọi ông là đồ “phản bội!” (Ông Perry dùng cả hai tiếng, treacherous và treasonous).


Từ Thứ Năm vừa qua, ông Ben Bernanke đang bị chỉ trích nặng nề, sau khi công bố một chương trình mới bơm thêm tiền vào nền kinh tế Mỹ. Bơm tiền vô tức là cho tiếp thêm máu cho cơ thể kinh tế chạy lẹ hơn; cũng giống như chích thuốc cho thân thể bớt bệnh. Thúc đẩy kinh tế chạy nhanh tức là có lợi cho ông Barack Obama, ông sẽ dễ thắng cử hơn. Vì ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney đang đưa đề tài kinh tế trì trệ để kêu gọi cử tri bãi chức ông tổng thống đương nhiệm. Cho nên, trong mấy ngày qua không thiếu gì người thuộc đảng Cộng Hòa chỉ trích ông Ben Bernanke thiên vị ông Barack Obama. Mà lại thiên vị trong 52 ngày chót của mùa tranh cử.

Nhưng liệu kinh tế có hồi phục trong vài tháng tới hay không? Ðiều này thì không chắc. Một biện pháp tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương không gây hậu quả trong vài tháng. Kết quả sẽ từ từ, chậm chạp; và đến lúc thấy chút kết quả thì phòng phiếu đã đóng cửa từ lâu rồi.

Hôm nay Thứ Sáu, 14 Tháng Chín 2012, Fed bắt đầu mua các trái phiếu địa ốc (MBS, mortgage-backed secutities) với nhịp độ 40 tỷ đô la trong một tháng. Trong 50 ngày tới, sẽ có thêm từ 60 đến 70 tỷ đô la chạy dần dần vào trong túi các ngân hàng thương mại. Những khi tiền vào rồi, các ngân hàng phải mất cả tháng mới đem cho vay được. Người tiêu thụ không ai vội vã đi vay tiền mua xe hơi, mua tủ lạnh, máy giặt ngay trong một hai tháng. Các xí nghiệp khi vay được tiền, cũng phải mất cả tháng mới tuyển dụng thêm nhân viên và công nhân. Phải đợi mấy tuần sau, khi lãnh lương quý vị nhân viên này mới đem tiền ra chi tiêu thêm, giúp cho các cửa hàng và các nhà sản xuất hoạt động hơn trước. Lúc đó kinh tế mới bắt đầu phục hồi. Và cũng chỉ mới chớm hồi phục thôi. Tính nhẩm cũng thấy ngay là từ lúc Fed tuyên bố in thêm tiền cho tới lúc người dân bình thường nhìn thấy kinh tế nhúc nhích trước mắt, cũng phải mất bốn tháng đến nửa năm. Lúc đó thì cuộc bầu cử đã chấm dứt từ lâu rồi.

Tính nhẩm sáu tháng cũng còn hơi lạc quan. Vì đã giả thiết là người tiêu thụ sẽ phản ứng nhanh chóng sau khi có thêm tiền, sẽ đi vay và mua sắm để cứu cho kinh tế đứng dậy. Trong thực tế, người tiêu thụ ở Mỹ bây giờ khác hồi mươi năm trước. Họ tiết kiệm nhiều hơn, vì từ mấy năm nay bỗng đâm ra dè dặt! Một lý do giản dị là rất nhiều người còn mang nợ, nhất là nợ những món vay để mua nhà. Những người ôm món nợ cao hơn trị giá căn nhà mình làm chủ thì cũng lo trả nợ hơn là tiêu xài. Thị trường địa ốc suy sụp là nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng hiên nay; cho nên số người này còn đông lắm.

Một cuộc nghiên cứu của Giáo Sư Amir Sufi, Ðại Học Chicago, cho biết là những người đang nợ nhiều quá thì không muốn hoặc không thể chi tiêu. Bằng chứng ông đưa ra là trong mấy năm qua ở những tiểu bang dân mang nợ nhiều số xe hơi và hàng bán lẻ được tiêu thụ rất thấp; còn ở những nơi dân ít mang nợ thì số bán xe hơi và hàng tiêu thụ đã phục hồi nhanh. Bài nghiên cứu của ông Sufi mới được trình bày trong cuộc hội thảo ở Jackson Hole, tiểu bang Wyoming, trong tuần trước. Ðây là một cuộc gặp gỡ của các chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương những nước kinh tế mạnh nhất thế giới, do đồng nghiệp Mỹ của ông Ben Bernanke mời.
Từ nửa năm nay thị trường chứng khoán vẫn chờ bao giờ Fed sẽ bơm thêm tiền vào nền kinh tế Mỹ. Nếu trước đây 6 tháng, hay 4 tháng thôi mà Fed hành động, thì chắc trong Tháng Tám, Tháng Chín vừa rồi số công việc làm ở Mỹ đã tăng lên nhiều hơn, người thất nghiệp đã giảm nhiều hơn, và ông Obama chắc chắn được lợi. Chờ cho tới 53 ngày trước khi dân Mỹ bỏ phiếu mới đưa ra quyết định bơm tiền, có lẽ ông Bernanke cũng muốn tránh tiếng gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử. Vả lại Hội Ðồng Tiền Tệ (Open Market Committee) có nhiều người, đủ cả hai đảng, một ông Ben Bernanke không tự quyết đoán được. Ông thuộc đảng Cộng Hòa, do Tổng Thống Bush bổ nhiệm, rồi được Tổng Thống Obama lưu nhiệm, không thể nói ông lại thiên vị một đảng nào.''

Cũng trong cuộc hội thảo Jackson Hole trên, hai giáo sư Markus Brunnermeier và Yuliy Sannikov, Ðại Học Princeton, nhấn mạnh là khi Ngân Hàng Trung Ương bán các trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, mua trái phiếu dài hạn trên 10 năm, thì hậu quả là người gửi tiền vào các ngân hàng sẽ bị thiệt; còn các ngân hàng thương mại sẽ được lợi. Vì trả lãi suất rất thấp cho người gửi tiền, cho vay lãi cao. Hành động của Ngân Hàng Trung Ương thế nào cũng sẽ gây hậu quả “tái phân bố lợi tức” (redistributive effects). Cho nên, muốn đạt hậu quả mong muốn thì Ben Bernanke phải lựa chọn mục tiêu. Phải nhắm bơm tiền vào lãnh vực nào sinh hậu quả tạo ích lợi chung lớn nhất. Quyết định của ông trong tuần này có vẻ đáp ứng đúng những khuyến cáo của các nhà kinh tế trên: Chọn bơm tiền, và bơm vào lãnh vực vay nợ về địa ốc.''

Hiện nay chỗ yếu nhất trong kinh tế Mỹ là địa ốc. Sau khi dân Mỹ vay thả cửa, ngân hàng cho vay thả giàn để mua nhà từ 2003, 2004, đến năm 2007 và 2008 giá nhà cửa ở Mỹ sụt thảm hại vì nhiều con nợ thiếu tiền trả. Cho đến nay cơn khủng hoảng địa ốc vẫn chưa qua. Ngân Hàng Trung Ương mua các giấy nợ địa ốc MBS sẽ giúp thị trường có thêm tiền cho vay, giá nhà sẽ lên và nhiều con nợ sẽ có thêm tiền đi mua sắm các thứ khác.''

Theo chương trình gọi là QE3 này thì Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sẽ mua các trái khoán nợ địa ốc MBS, 40 tỷ trong một tháng, và không nói bao giờ sẽ ngưng. Có thể nửa năm, một năm không chừng! Ðây là một cách nuôi niềm tin cho cả giới tiêu thụ lẫn các xí nghiệp, niềm tin tăng lên thì kinh tế sẽ khá.''

Nhưng người ta vẫn hỏi: Tại sao lại thêm cái QE3 làm gì, sau khi những đợt QE1 và QE2 chưa giúp cho kinh tế hồi phục lại như cũ? Bà Sarah Palin vừa mới nhắc lại, hai năm trước đây bà đã phản đối QE2, với câu hỏi: “Nếu QE2 không làm cho kinh tế chạy nhanh hơn thì rồi sao? Lại in thêm tiền nữa, cứ thêm QE3, QE4 mãi hay sao?” Ông Lanhee Chen, cố vấn về chính sách trong ban vận động tranh cử của Thống Ðốc Mitt Romney, cũng nói: “Ðiều quan trọng là tạo ra thêm của cải, chứ không phải là cứ in thêm tiền!”'

Nhưng đối với các người đã nghiên cứu kinh tế thì việc in thêm tiền có thể đưa tới hành động tạo thêm của cải. Vì tiền cho người tiêu thụ vay và các xí nghiệp vay sẽ giúp tạo thêm việc làm và của cải. Ông Ben Bernanke từng chuyên nghiên cứu về cơn Ðại Khủng Hoảng thời 1930 ở Mỹ và khắp thế giới. Một sai lầm lớn nhất thời đó là khi cơn khủng hoảng chớm bắt đầu thì Ngân Hàng Trung Ương Mỹ lại hạn chế số tiền các ngân hàng thương mại được cho vay, tức là “thắt chặt” số lượng tiền đang lưu hành. Thế là không riêng các ngân hàng sập mà bao nhiêu xí nghiệp cũng sập luôn; một cơn suy thoái biến thành đại khủng hoảng.'
Vì vậy, ngay cuối năm 2008, sau khi Lehman Brothers phá sản, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã in thêm tiền, bỏ ra mua 600 tỷ đô la trái phiếu dài hạn trong thị trường, gọi là QE. Hai chữ QE là viết tắt của “quantitative easing,” nghĩa là thả thêm tiền vào nền kinh tế (easing), bằng cách mua trái phiếu dài hạn theo số lượng mình chọn (quantitative). Khi các ngân hàng thương mại bán trái phiếu, họ sẽ có thêm tiền trong túi để cho vay; từ đó cả khối tiền được bơm vô mạch máu, chuyền đi khắp cơ thể. Ông Bernanke lại tiếp tục thêm đợt QE2 vào Tháng Tám năm 2010. Tổng cộng hai đợt QE trước đã in thêm 2,300 tỷ đô la. Fed đã mua các trái phiếu dài hạn, do chính phủ Mỹ phát hành hay do các ngân hàng địa ốc cho vay; QE1 tiếp máu 1,700 tỷ, QE2 thêm 500 tỷ đô la nữa. Mà vẫn chưa đâu vào đâu cả.'

Tại sao 2,300 tỷ đô la đó chưa giúp cho kinh tế phục hồi? Cũng trong cuộc hội thảo tại Jackson Hole tuần trước, nhà kinh tế Adam Posen, từng làm cho Ngân Hàng Trung Ương Anh, nêu ra một lý do khiến các biện pháp bơm thêm tiền (ở Anh và ở Mỹ) trong mấy năm qua không đưa tới kết quả nhanh: Vì cả hệ thống ngân hàng và thị trường tài chánh đang “đang mắc bệnh” (dysfunctional). Bơm tiền vô, giống như chích máu vào để chữa bệnh, nhưng chính hệ thống tuần hoàn không chạy thì máu vô quá chậm, không gây hiệu quả nhanh được. Chính ông Posen cũng khuyến cáo Fed nên chữa bệnh bằng cách chích máu vào đúng nơi đang bị bế nặng nhất, là thị trường các trái khoán nợ địa ốc.'

Quyết định ngày Thứ Năm của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có vẻ theo đúng những khuyến cáo của các kinh tế gia trong cuộc hội thảo ở Jackson Hole tuần trước. Ðó là điều mà thị trường đang sốt ruột chờ từ mấy tháng nay. Sở dĩ thị trường chưa sụp trong nửa năm qua là nhờ người ta hy vọng, đoán trước rằng sớm muộn Ngân Hàng Trung Ương Mỹ cũng sẽ bơm thêm tiền vào. Trong ngày Thứ Năm, thị trường chứng khoán New York đã lên đến mức cao nhất kể từ cuối năm 2007. Giới chuyên gia đã sửa đổi các tiên đoán về thị trường nhân dụng: Trước đây người ta ước tính cuối năm 2014 tỷ lệ thất nghiệp sẽ nằm trong khoảng “7% đến 7.7%.” Nay với QE3, chắc sẽ xuống trong khoảng “6.7% đến 7.3%.”'

Nghe nói trong hai năm nữa mà tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn gần 7% thì cũng thấy nản thật! Ðúng là không thể vội. Vì bơm tiền vào kinh tế ảnh hưởng rất chậm chạp. Khó khăn chính vẫn là do hệ thống tài chánh, ngân hàng. Một cuộc suy thoái kinh tế do hệ thống ngân hàng gây ra bao giờ cũng hồi phục chậm chạp. Nhìn vào các số tiên đoán trên, nếu cuối năm 2014 dân Mỹ mới bỏ phiếu bầu tổng thống, thì chắc ông Obama sẽ nhiều hy vọng; vì lúc đó QE3 mới có ảnh hưởng rõ rệt! Chỉ 52 ngày nữa đã bỏ phiếu thì chưa thể nào thấy ảnh hưởng. Cho nên kết tội ông Ben Bernanke đang can thiệp vào cuộc bầu cử năm nay là hơi bị hấp tấp.
Riêng ông Mitt Romney thì rất khôn ngoan, ông không phê bình Ben Bernanke một lời nào về vụ QE3 cả. Ngược lại Mitt Romney còn biến một điều mà nhiều người nghĩ là bất lợi, thành một dấu hiệu có lợi cho ông trong cuộc tranh cử. Ông giải thích rằng quyết định QE3 của Bernanke chỉ chứng tỏ Tổng Thống Barack Obama đã thất bại: “Ðây nhé, ông Obama cứ nói rằng kinh tế đang tiến triển, đang hồi phục. Nhưng ông Bernanke bảo: Không phải vậy, tôi đang phải in thêm tiền đây này!”

Ðúng là một nhà làm chính trị biết cách nói!


Trangđài Glassey-Trầnguyễn - ngọc bay về nguồn


Trangđài Glassey-Trầnguyễn



* mừng sinh nhật thứ 100 của Hàn Mạc Tử

thơ đến từ Thượng Đế i
dòng ngọc sáng Trời Cao ii
người đến từ cát bụiiii
làm cho đời thanh tao iv

hồn vẽ chân dung thơ
biến hình từ tội nhơ
càng gần trời, càng sáng
càng cuối đời, càng thiêng

thơ Hàn, dòng trăng ngọc
trôi ngược từ trần gian
càng cao càng mạnh mẽ
gần thượng nguồn, càng vang

trong ngất ngây đau khổ
bật thoát vạn hào quang
người oằn oại trần gian
thơ đã về chín cõi

thơ ngọc thuộc về Thiên Trí v
nhân gian nếm chỉ một phần vi
i Trong quan niệm về thơ gửi cho Hoàng Trọng Miên, ghi tại Quy Nhơn, Juin 1939, Hàn Mạc Tử đã viết: “Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có.”
ii Tôi ví dòng thơ Hàn như một dòng ngọc sáng, bay ngược từ cõi trần lên thượng giới.
iii Hàn đã sống một cuộc đời bình thường, nhưng đã đi vào tâm trí sáng tạo bất thường khi kết hợp tâm linh để mình được biến đổi trong Đức Tin.
iv Trong ‘Quan Niệm Thơ,’ Hàn đã viết: “Loài thi sĩ là những bông hoa quý và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mệnh rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi những quyền phép của Người và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm thơ, rất tinh sạch.”
v Thiên Trí ở đây có ba nghĩa: a. tâm trí của Thượng Đế, khi dòng thơ Hàn đã siêu thoát, đã mời được “Xuân thiêng ra đời” (Lời tựa “Xuân Như Ý”); b. Hàn tên thật là Nguyễn Trọng Trí, nên Thiên Trí là Trí ở trên trời, hàm ý tâm trí của Hàn đã thuộc về trời cao, dù xác còn lung lao trong bệnh cùi; c. khi Hàn đã nên một với Tạo Hóa trong đau khổ, thì được mặc lấy cõi thiêng liêng cao sáng nhất, mà tôi gọi là Thiên Trí.
vi Đa số thơ của Hàn đều bị thất lạc, chỉ còn một số rất ít được giữ lại, theo “Sưu tập kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử” do Trăng Thập Tự chủ biên, NXB Phương Đông, 2012.

Phạm Phú Minh - Vai trò của báo Nam Phong trong việc thúc đẩy sự trưởng thành của quốc văn


Phạm Phú Minh

LTS. Trong dịp Thư Viện Điện Tử Người Việt sắp khai trương - mà độc giả Diễn Đàn Thế Kỷ sẽ có đường nối vào sử dụng, để thay cho mục Văn Khố lâu nay-- với tài liệu mở đầu là toàn bộ báo Nam Phong đã được điện toán hóa, chúng tôi đăng bài viết sau đây như một lời giới thiệu sơ lược và tổng quát về đường hướng của tờ tạp chí này.

*

Nhìn lại bối cảnh văn hóa của nước ta vào đầu thế kỷ 20, chúng ta sẽ rất ngạc nhiên vì có những cái ngày nay chúng ta coi là tất nhiên thì ngày đó hầu như còn chưa có gì cả. Chẳng hạn như ngôn ngữ viết. Từ đầu công nguyên nước ta đã bị Tàu đô hộ suốt một ngàn năm, sự học vấn hoàn toàn theo Tàu, chữ nho là chữ viết chính thức. Đến khi nước ta được tự chủ kể từ thời Ngô Quyền, về chính trị thì độc lập, nhưng về văn hóa thì vẫn chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, chữ nho lại tiếp tục dùng như ngôn ngữ chính trong việc học hành và trong guồng máy hành chánh của đất nước, mặc dù càng về các thế kỷ sau chúng ta đã chế ra được chữ nôm, và đã có những tác phẩm bằng tiếng Việt, viết bằng chữ nôm. Thế nhưng chữ nho vẫn ngự trị như một thứ chữ viết chính thống, và chữ nôm vẫn bị coi thường. Thứ chữ viết bằng mẫu tự La tinh mà các giáo sĩ Tây phương sáng chế ra từ thế kỷ 16 mà sau này chúng ta gọi là chữ quốc ngữ chỉ bắt đầu được dạy trong các trường kể từ khi người Pháp đến cai trị nước ta, nhưng trong thời gian đầu ảnh hưởng của nó vẫn còn hạn chế, vì nền Hán học vẫn còn ngự trị trong triều đình và giới có học trong nước. Vào thời điểm đầu thế kỷ 20 thì chữ quốc ngữ hãy còn lép vế so với tiếng Pháp đã được dạy rộng rãi và chữ nho vốn đã được sử dụng từ hai ngàn năm trước.


Trong tình hình như vậy, chính sách văn hóa của người Pháp rõ ràng là muốn dùng chữ quốc ngữ thay thế chữ nho làm ngôn ngữ viết chính thức cho người Việt Nam, bên cạnh tiếng Pháp là ngôn ngữ chính trong hành chánh và học thuật. Họ đã nhìn báo chí như là công cụ trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, với tờ Gia Định Báo xuất bản đầu tiên ở Sài Gòn năm 1865, rồi đến Nông Cổ Mín Đàm, Sài Gòn 1901; mãi đến  năm 1905 tờ báo đầu tiên mới xuất hiện ở Hà Nội, đó là Đại Việt Tân Báo; rồi đến Lục Tỉnh Tân Văn tại Sài Gòn 1909; rồi đến nhật báo Đăng Cổ Tùng Báo, Hà Nội 1907, Trung Bắc Tân Văn Hà Nội 1913; rồi đến một cái mốc quan trọng khác, Đông Dương Tạp Chí, Hà Nội, 1913. Đặc điểm của tất cả các tờ báo vừa kể là người sáng lập luôn luôn là người Pháp, nhưng chủ bút là người Việt Nam. Vào thời ấy việc làm báo còn xa lạ với người mình, cho nên người Pháp phải đứng ra tổ chức, vừa giữ gìn đường lối, vừa bày vẽ người mình làm báo. Đến mãi thập niên 1930 mới bắt đầu có những tờ báo do người Việt làm chủ.

Đến Nam Phong ra đời năm 1917 thì có ba người đồng sáng lập, là Phạm Quỳnh, Louis Marty và Nguyễn Bá Trác. Ngay số đầu, về mục tiêu của tờ báo, chúng ta đọc thấy những dòng này:
"Mục đích của Nam Phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Nhà nước, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn, để giúp sự mở mang trí thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn cái quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp, người Nam trong trường kinh tế.

Báo Nam Phong lại chú ý riêng về sự luyện tập văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam..."
Chúng ta thấy bên cạnh việc mang những nguồn tư tưởng mới và tinh thần khoa học của Tây phương đến cho một dân tộc từ nhiều thế kỷ chỉ biết học văn hóa Trung Hoa, báo Nam Phong còn đề ra cho mình một nhiệm vụ khác, là "chú ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam". Điều này chứng tỏ vào thời điểm bấy giờ --cuối thập niên thứ hai của thế kỷ 20-- nước ta chưa có một nền quốc văn trưởng thành. Từ ít ra khoảng hơn một trăm năm trước, Việt Nam đã có những tác phẩm quốc âm điêu luyện, như Truyện Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, nhưng đều là những tác phẩm văn vần. Về văn xuôi, tổ tiên chúng ta viết toàn bằng chữ Hán. Nay Nam Phong thấy ngay chỗ thiếu sót ấy và cố làm sao luyện tập cho quốc dân một nền tản văn viết bằng chữ quốc ngữ.

Để hiểu rõ hơn tình hình ấy, chúng ta hãy đọc đoạn văn sau đây của Phạm Quỳnh trong bài Làm Văn đăng trên Nam Phong số 67, năm 1923:
"Tôi còn nhớ năm sáu năm về trước, hồi tôi mới lập ra báo Nam Phong này, ngoài mấy anh em làm báo, không thấy mấy người làm văn quốc ngữ. Có lẽ không ai nghĩ đến rằng chữ quốc ngữ có thể làm thành văn chương được. Trước tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh từ hồi báo Đăng Cổ đã hết sức hô hào, ông thường nói: "Hậu vận nước Nam hay dở thế nào là ở chữ quốc ngữ." Vì ông với tôi trước sau vẫn có một chủ nghĩa là biết rằng ở nước ta chữ Nho không thể giữ được hết, chữ Tây không thể học được khắp, muốn dùng để phổ thông giáo dục cho quốc dân, duy chỉ có chữ quốc ngữ, nhưng muốn cho chữ quốc ngữ dùng được việc thì phải rèn tập cho mỗi ngày mỗi hay hơn lên. Bởi thế nên chúng tôi gia công gắng sức trong bao nhiêu năm, không quản công phu khó nhọc, không quản có kẻ chê bai, chỉ ước ao có một điều là có ngày người mình cũng "làm văn" được như người, nghĩa là làm văn bằng tiếng mình, không phải mượn tiếng người. Ngày ấy có lẽ đã tới đây..."

Chúng ta thấy tình hình năm 1923, nền quốc văn của Việt Nam còn như thế, và đã có những người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh lo âu việc vun bồi, bằng phương tiện báo chí, để đưa nền quốc văn ấy từ chỗ còn vụng về chập chững tiến dần đến chỗ trưởng thành. Nhờ viễn kiến, tài năng và sự quyết tâm của quý vị thúc đẩy mà nền quốc văn của Việt Nam đã trưởng thành rất nhanh, chỉ 10 năm sau, vào đầu thập niên 1930 Khái Hưng đã viết Hồn Bướm Mơ Tiên, rồi tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn ra đời, bên cạnh các tác giả lừng danh khác cùng thời như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Vi Huyền Đắc v.v..., nền văn học Việt Nam từ thập niên 1930 đã trưởng thành một cách rực rỡ.

Ngày nay chúng ta coi việc viết văn quốc ngữ là việc rất tự nhiên như ăn cơm, uống nước, nhưng không ngờ cách chúng ta chỉ gần một trăm năm thôi, tình hình còn khó khăn, chữ quốc ngữ còn ở vị trí thứ yếu so với chữ nho và chữ Pháp. Và phải có những vị như Phạm Quỳnh, phải có những cơ quan ngôn luận như Nam Phong đi tiên phong khai phá, mở đường dẫn lối với biết bao khó khăn, nước Việt Nam mới có một nền chữ viết như ngày nay. Báo Nam Phong thể hiện sự "đào luyện quốc văn" ấy bằng chính những bài viết của mình về đủ loại thể tài: khảo luận, dịch thuật; nghiên cứu về tư tưởng, tôn giáo, triết học, khoa học; sáng tác văn học... Để đối phó với tình trạng tiếng nước ta còn thiếu từ ngữ trong rất nhiều lãnh vực, Nam Phong đã lập ra một loại từ điển tiếng mới để diễn đạt các khái niệm còn mới mẻ đối với dân ta. Ngày nay nhìn vào các từ ngữ này, chúng ta thấy nó vẫn có thể còn hữu ích, nhất là cho các cộng đồng Việt Nam xa xứ.

Chúng ta phải hiểu thấu các cố gắng đó để biết ơn tiền nhân. Và cách biết ơn thiết thực nhất là chúng ta phải đọc lại báo Nam Phong để cảm nhận, để hiểu biết tấm lòng, tài năng và tình yêu nước chan chứa của cả một lớp người trước, đã khó nhọc dọn đường để chúng ta có thể có những bước chân thong dong trong nền văn hóa của ngày hôm nay.


Từ Khanh - Chỉ Có Nước Bia Là Trong


Từ Khanh

Chỗ những chuyến tàu buôn từ bắc xuống hay dưới Yangon lên ghé bến Magway, người ta kê vài cái bàn làm một quán cà phê sáng dưới các tàng cây cổ thụ. Chếch lên vài chục thước là cầu Magway dài ba cây số nối qua Minbu. Dưới chân cầu có nhà hàng đèn đuốc Monalizar nhưng đến tối mới mở cửa, đứng ngoài đường nghe ban nhạc sống chơi xập xình, vài cô ca nhân hát hò trên sân khấu.


Quán cà phê cổ thụ hoạt động buổi sáng. Các bàn vuông dàn từ lề đường vắng xe cho đến sát mép sông. Những chiếc bàn ngay ngắn, sạch sẽ, lặng lẽ.

Tôi chưa tìm thấy một chỗ ngồi buổi sáng nào trên chốn giang hồ lưu vong lại hồn nhiên như chỗ này.
Giống như ông trời đặt ra một chỗ như vậy để (tôi) uống cà phê sáng.

Con người chỉ góp công vô chút xíu: kê bàn, đặt ghế, nấu nước. Thiên nhiên một tay con người một tay. Hai tay hòa thuận làm thành một chỗ ngồi rất phê.

Thiệt là sung sướng.

Con người không cần hào soạn, làm dáng cho những chiếc bàn hay trang điểm lại cái ghế cho thẳng thớm. Người ta cũng lau cái bàn, lượm vài cọng rác, đứng chờ thực khách gọi. Nhưng những sinh hoạt của cuộc sống cũng tự nhiên như cây mọc trên đất lành.

Bằng một nhịp điệu yên ả vô tư. Hệt như sông ngửa mặt nghênh ngang đưa nắng tới tận chân núi bên kia bờ mà chơi.

Phía bên kia đường, có một chiếc bàn dài để mấy cái nồi bán thức ăn. Mì Shan khô hay nước, bánh samusar, cơm cà ri. Bên này bờ các ông quấn longyi ngồi chồm hổm trên cỏ ngó nước sông chảy. Các cậu bé đi qua bê thức ăn đem về cho khách. thong thả, không nói. Cười mỉm mỉm.

Tôi ăn hai cái samusar lớn bằng bàn tay con nít. Bánh chiên bọc nhân hành trộn với khoai tây nhuyễn, uống một ly cà phê nổi tiếng dở, làm nửa điếu xì gà Miến Điện, thổi khói phù qua cái ông đang nhổ toẹt nước trầu xuống đất.

Xì gà Miến là cheroot, không phải xì gà đựng trong hộp gỗ như thường thấy. Rất rẻ, mua một đô được cả bó hút tháng trời còn nửa điếu. Bên ngoài cuộn bằng lá tha-nat-phet, không biết tiếng Việt gọi là gì. Ruột xì gà là cả một tình yêu ấp ủ (lôi thôi): một mớ lá thuốc giã nhỏ trộn với me, ‘đầu lọc’ làm bằng lá bắp khô. Tất cả cuộn trong một chiếc lá tha-nat-phet đã khô nhưng còn màu xanh lục, gân lá sần như bàn tay khó nhọc nổi lằn xanh.

Tôi nghe một ông bác sĩ ở Yangon kể rằng xì gà Miến do phụ nữ cuốn bằng tay. Các xưởng gia công thuê toàn phụ nữ, mà họ hút không kém gì đàn ông. Khi một thiếu nữ tự tay cuốn xì gà để tặng một chàng nào đó, thì cầm chắc nàng đã chịu chàng. Chàng cứ lai rai tiến nhanh tiến mạnh bảo đảm không cần kinh qua giai đoạn quá độ vẫn tới ngay thiên đàng. Nhưng nếu nàng ra quán mua xì gà thì vẫn chưa ngon. Khi yêu tha thiết, nàng sẽ hái một chiếc lá tha-na-phet còn tươi về, để dưới gối (hay dưới nữa thì không biết) dùng hơi ấm của thân thể để sấy cho đến hôm nào lá khô, nàng sẽ bỏ những cọng thuốc trộn me và lá bắp khô lên lá, cuộn lại làm một điếu cheroot tặng chàng. Hút lá thuốc ướp theo kiểu này ‘phê’ đến ngất ngưởng.

Chẳng may (rất may) tôi chưa được một em Miến nào tặng xì gà tha-nat-phet dù đã xẹt ngang một xưởng gia công toàn các em thoa phấn thanaka. Khi ngồi bập bập bên chân cầu Magway, tôi cố phân tích vị thuốc nhưng không nghe ra mùi gì. Mùi me chắc ít quá nên không có, lá bắp khô tuyệt vô vị. Chỉ dường như có một vị gì nhè nhẹ, tan theo khói thuốc màu nhang.

Thằng nhỏ chạy bàn lắc đầu khi tôi làm dấu tính tiền. Tôi không ngạc nhiên lắm vì từng được ưu đãi mấy lần, nhất là hồi ba lô lên miền bắc. Chắc người Miến thấy tướng tôi te tua bầm dập hơn cả họ nên làm phước chăng.

Thằng nhỏ chỉ tay qua hai thanh niên đang đứng khép nép bên kia đường. Hóa ra là cậu xe ôm hôm qua và một thanh niên rất đẹp trai đang đứng nhìn. Tôi mời họ qua bàn, kêu thêm mấy ly trà đậm. Chàng thanh niên này dong mạo tuấn tú, mũi thanh cao như Meg Ryan, nói tiếng Anh tốt quá, và thật lạ cậu xe ôm hôm nay như bóc lưỡi, cũng nói tiếng Anh. Cậu bảo tôi mời anh ăn sáng, không có gì.

Có chuyện gì xảy ra chăng? Hôm qua, cậu chỉ lỏm bỏm mấy chữ. Hôm nay, cậu nói thành câu thành cú. Vẫn chiếc áo xanh dương sút chỉ, tóc đen cháy vàng, khuôn mặt đen thẫm chìm trong bóng cây râm. Duy ánh mắt u sầu nhưng sáng rực đầy sinh khí. Cậu hỏi tôi đi đâu, đã chuẩn bị xe sẵn, và người thanh niên là bạn sẽ đi theo để làm thông dịch.

Tôi bảo sao bữa nay em nói năng tốt quá, cậu bạn đi theo càng vui nhưng chắc không cần thông dịch. Tôi hỏi bộ em mới học nói cấp tốc suốt đêm qua à?

Chỉ cười cười.

Chúng tôi kéo nhau xuống bờ sông, ngồi và ngó bâng quơ.

Cả hai người thanh niên có một vẻ thong thả lạ lùng. Như thể họ không có gì để than phiền trong cuộc sống này. Chàng thanh niên kia học xong ngành vật lý, về nhà làm ruộng không xong, dạt lên thành phố làm nghề này nghề nọ và tản cư sự nghiệp vào đại đội xe ôm.

Cậu xe ôm của tôi nói hôm qua chạy cho anh bằng làm cả tháng, nên hôm nay nếu tôi muốn đi chỉ cần đổ xăng, khỏi lo tiền. Tỉnh này du khách nước ngoài mỗi tháng đếm đủ một bàn tay. Trong năm, người địa phương đến đông nhất vào ba tháng hành hương chùa Shwesettaw. Những lúc không có khách làm gì, rảnh rỗi làm gì. Chàng thanh niên cười buồn.

‘Lúc nào cũng rảnh.’

Nghe sướng quá. Họ không bị chiếc đồng hồ hủ hóa. Ở bến xe, họ ngồi nhàn tản chờ những chuyến xe hàng từ xa lắc xa lơ bò tới. Nhưng khi xe khục khặc đến rồi họ chưa vội lên. Xe đến giờ chạy nhưng bác tài vẫn tà tà ngồi uống trà ăn trầu, khách chẳng cằn nhằn gì. Lúc đó, những người khách hay cả bác tài xúm lại nói chuyện vặt. Người Miến có nhiều chuyện tiếu lâm chắc nhờ sản sinh vào những lúc như thế này. Hôm qua, trên đường từ Bagan đến Magway, tàu đậu bến Yenangyaung lúc bốn giờ rưởi chiều. Chỉ đi thêm hai tiếng nữa là đến Magway. Nhưng tài công ‘mệt’, anh ta cặp ghe cho nghỉ đến sáng hôm sau. Tôi đã cố tìm hiểu tại sao phải neo tàu suốt đêm mà không làm gì cả. Không đón trả khách. Không lên xuống hàng hóa. Rõ ràng tàu ghé một nơi có rất nhiều giếng dầu chỉ để ghé chơi. Tài công lên bờ ăn trầu uống trà, tắm táp, rồi lại ăn trầu uống trà, ngó phụ nữ chăn heo, dòm con gái tắm sông, ngó con nít nhổ tóc cho bà già. Không ai phàn nàn hục hặc.

Dường như thời gian không bao giờ hết. Dường như với họ, thời gian còn cả đống kia. Không phải vội.

Nhưng đó là cái vẻ ngoài vô tư dưới con mắt của người vô (tích) sự.

Buổi chiều bên bến Yenangyaung. Dân làng có cái vẻ nhàn hạ, sự nhàn hạ bản chất nhưng còn là cách nhàn hạ từ đời sống đã giật đi của họ nhiều thứ. Nhiều làng ở Yenangyaung bị chính quyền xua đi nơi khác để lấy đất làm ‘dự án’. Ở thị trấn dầu mỏ này, dân phải mua phân bón của một công ty do con trai tướng Khin Nyunt làm chủ. Một thứ phân không xài được nhưng giá lại cắt cổ. Những khu đất ven sông màu mỡ phù sa bị chiếm. Người nông dân dạt đi đâu đó.

Một trong những người nông dân ấy là chàng thanh niên đẹp trai đang ngồi với tôi bên cầu sông Magway. Chàng quả không biết làm gì vì ‘lúc nào cũng rảnh’.

‘Có người yêu chưa?’

‘Không có.’

‘Đẹp trai thế này không có người yêu sao sống nổi.’

‘Em thế này có người yêu như người cụt muốn nhảy Yodayar!’

Mấy người xung quanh bật cười. Yodayar là điệu nhảy nổi tiếng của Miến Điện, tay và chân phải thay đổi theo điệu nhạc chuyển tông rất thình lình. Có câu chuyện cười về phiên xử một người mắc nợ nhưng không trả được. Anh ta tự bào chữa trước tòa: ‘Tôi hứa là sẽ trả đủ vốn lẫn lời, nhưng chỉ trả khi nào khá giả kia. Chứ giờ tôi như rùa lật ngửa, nếu tòa bắt tôi trả ngay thì khác gì bắt thằng cụt nhảy Yodayar!’
Chàng thanh niên ví mình như người cụt, sau khi có bằng cử nhân về nhà ở một làng thuộc quận Yenangyaung làm ruộng. Mảnh ruộng bị quan địa phương lấy, bố mẹ dạt đi nơi khác, em gái lên Yangon làm gì đó, còn chàng trôi về Magway chạy xe, ăn trầu, khạc nhổ xuống đất, buồn rầu ngó sông chảy.

Tôi chỉ thấy sự dịu dàng của thiên nhiên và những con người hiền lành nơi bến Yenangyaung hôm nào. Không nhìn ra những nông dân mất đất tứ tán khắp nơi, sẽ không biết lãnh tụ nhóm Thế Hệ Sinh Viên 88 Min Ko Naing đang nằm tù gần chỗ tôi ngồi, nếu không ngồi lại bên chân cầu Magway một sáng yên bình.
Trong không gian riêng biệt này, có rất nhiều nông dân từ các vùng lân cận đổ về kiếm sống.

Lại thêm vài người đàn ông xê lại la cà góp chuyện. Chàng thanh niên đẹp trai ngồi xổm, mặt tựa lên đầu gối, hai tay chặp lại để trên đầu Những người kia từ các làng mạc bên kia sông, vùng đất từng mỉm cười đón Phật, cùng ngồi bệt xuống. Những khuôn mặt đen chìm trong bóng đen dưới tàng cổ thụ.

Ông nông dân kể rằng đàn cá đi hành hương cũng trôi dạt mất mát nhiều rồi. Hai bên bờ sông đất phì nhiêu lắm, nhưng chính quyền địa phương ‘mua’ những miếng đất bồi này để canh tác. Nông dân mất đất. Họ đi xa hơn để trồng hoa hướng dương, trồng mè và đậu. Quan lớn bắt phá đi để trồng lúa. Mà lúa thì không sống nổi vì đất khô. Những gia đình nông dân ly tán qua vùng khác.

Những cánh đồng hướng dương cũng không hiền hậu hoang liêu như tôi tưởng. Chúng phá nhiều rồi, người nông dân nói. Vùng đất mà Phật từng dặn ông Phú Lâu Na là ‘con người ở đó rất hung dữ’, bây giờ vẫn còn hung dữ. E chừng hung hãn hơn. Những mảnh đất bị xới tung, những hàng cây bị đốn hạ. Đất thành hoang. Cây ứa nhựa lệ ứa. Người xiêu lạc. Hồn vất vưởng chờ một tiếng chuông ngân.

Bao nhiêu cảnh đời của dân khó được bày ra trong buổi sáng bình yên này. Những kẻ xa nhà vì chính sách tái định cư, bị bắt lính, bị bắt làm dân công không lương, bị lừa khai khẩn đất hoang thành đất mật rồi cường hào địa phương đến tịch thu, hoặc không còn cách nào sống. Đôi khi chỉ vài gia đình ra đi. Đôi khi cả làng dắt díu nhau đi.

Chúng tôi ngồi bên này sông, ngó bên kia vùng đất mầu nhiệm. Đôi mắt của những người đang ngồi quanh quạnh quẽ u hoài.

Mỗi thân phận là một câu chuyện dài không dứt. Những câu chuyện không ai nói ra mà phải tìm đến, soi rọi bằng tình thương may ra hiểu nổi. Không gì khờ khạo hơn khi nhìn một đất nước qua vài cao ốc trong thành phố, rồi hồ hởi ‘đất nước thay da đổi thịt hàng ngày.’ Trời ơi, da thịt mà thay đổi liền liền như thế nếu không kiết lỵ thì cũng  ung thư, cái chắc.

Tôi nói với chàng thanh niên đẹp trai hay là mình kiếm một chỗ nào làm vài ly lai rai. Tôi muốn nghe các bạn trần tình sự đời, những đứa em lưu lạc lên thành phố làm các nghề bí mật, những em nhỏ thất học đói khát bị sung lính, những mảnh đất phì nhiêu hóa man rợ, những mảnh đất man rợ hóa phì nhiêu rồi bị trưng thu, những ngôi chùa quan lớn xây từ tiền dân. Những cặn bã vinh quang trong điện thờ. Bao nhiêu oan nghiệt, bắt bớ, giam cầm, hãm hiếp, đói khát, chia ly.

Chúng tôi quyết định mượn tạm mấy cái bàn của quán cà phê, quay lại, qua bên kia đường mua cà ri làm mồi. Chàng thanh niên nói họ không uống bia, ăn và uống trà thì được. Tôi nhìn những chiếc áo tơi tả bày biện thịt da, bảo biết rồi, biết mấy ông là Phật tử. Không biết nhậu, tốt lắm. Nhưng ra nông nổi thế này thì kiêng cữ làm chi, còn gì đâu mà cữ, làm đại vài chai cho nó đã đời, bao nhiêu tội lỗi phá giới tôi gánh hết.
Nào, chúng ta hãy xông thẳng vào đời. Cạn ly. Sông từ cội nguồn thì trong. Nước sông đến đây dần đục quặn từ thủy điện thượng nguồn. Nước non đang tan tác. Nước mưa cay nồng a xít. Nước mắt khô hạn lắm rồi. Chỉ có nước bia là trong.

Sóng sánh đổ trên nền đất những tiếng thở dài.



Ngự Thuyết - Bọn người lao đao


            Ngự Thuyết
Thương nhớ Ân  

“Sao hồi đó ở đây buồn quá hả chú ...”

Người đàn bà ngập ngừng. Cô còn trẻ. Cô ngồi trên một chiếc ghế đá nhìn xuống thung lũng, bên cạnh là một người đàn ông đứng tuổi. Buổi trưa cao nguyên nắng mênh mông. Gió lớn. Thông reo gần như gào thét, nhưng cũng có lúc nghe như tiếng suối chảy, hoặc thoang thoảng như tiếng sáo trúc. Trời nhiều mây. Mây cuồn cuộn bay về phía hai ngọn núi nhọn trông như cặp vú khổng lồ nằm phơi mình giữa trời đất mà dân địa phương gọi là Núi Bà. Gần đấy là Núi Ông. Dưới xa, thật xa, qua ba bốn triền dốc với nhiều bậc tam cấp chạy lượn lờ uốn khúc là mặt hồ xanh biếc in hình những chòm cây đứng rải rác hoặc tụ thành từng cụm trên các sườn đồi gần đấy. Cây thì toàn là thông với thông. Thân cây bao bọc bởi lần vỏ nâu đen sù sì nằm lẫn trong biển xanh của lá.


        "Sao hồi đó ở đây ...”

Người đàn bà lặp lại. Tiếng nói nhỏ quá, trời gió lớn. Người đàn ông ngồi cạnh dường như không nghe thấy gì, nhìn quanh, lơ đãng, thỉnh thoảng đưa bàn tay nắm lấy vai người đàn bà. Cô ta đưa hai tay giữ lấy mớ tóc buông xuống trước ngực đang bị gió đánh rối. Hai cánh tay áo xắn lên quá khuỷu tay để lộ làn da trắng xanh, chiếc áo sơ-mi vải phin mỏng màu mỡ gà dán sát vào thân hình, và chiếc khăn nhỏ màu xanh lá cây chấm bông cuốn tròn buộc hờ quanh chiếc cổ cao. Chiếc khăn không dùng để che cho ấm cổ, mà như một thứ trang sức. Cô hơi gầy, đôi mắt hoang mang, ngồi giữ ý khép nép.

Người đàn ông chốc chốc lại trân trân nhìn người đàn bà dò xét. Cái nhìn lạnh lùng, sấn sổ, xoi bói, kèm với nụ cười pha chút giễu cợt. Nhạn, người đàn bà, giọng dịu dàng:
"Cái gì vậy chú?  Mặt cháu dính lọ nghẹ hả chú?”

Người đàn ông cười khan:
"Làm gì có."

Nhạn cúi mặt. Người đàn ông cười to:
“Thẹn sao? Với tôi mà cũng thẹn? Được, được đấy.”

Làm bộ ngẫm nghĩ, ông chắc lưỡi nói tiếp:
"Cháu đặc biệt lắm, chú phải nhìn kỹ hơn nữa. Nhỏ đẹp theo cách nhỏ, lớn lên lại đẹp cách khác. Nếu có da có thịt thêm chút chút nữa cũng sẽ ... vẫn đẹp. Mà gầy gầy như bây giờ càng lôi cuốn. Chú nhớ, đọc đâu đấy, có những đứa con gái Pháp, con gái Paris hồi bị Đức chiếm đóng trong Thế Chiến Thứ Hai, sống trong thiếu thốn, đẹp não nùng. Càng đói càng đẹp, nhất là đôi mắt như mắt chó sói bị bao vây bốn bề bởi tụi lính Đức thô bạo, tên nào trên tay cũng ôm sẵn nào bánh mì, nào cheese, nào rượu chát. Nhưng đâu có thể đẹp bằng đôi mắt sợ hãi này. Cháu sợ cái gì vậy?”

Nhạn quay nhìn ra xa, thở dài, nói nhỏ:
"Thay đổi nhiều quá!"

"Hả? Cái gì vậy?”

“Dạ, không có gì cả.”

“Có chứ sao lại không. Nhạn nói chú đổi khác? Dĩ nhiên là thế, chú phải khác mà cháu cũng thế, cũng khác. Xa nhau quá lâu rồi nay gặp lại phải có khác. Không khác là bế tắc, là hết thời. Khác nhất là đôi mắt.”
“Thưa chú nói sao ạ?”

Ông Tuệ rung đùi:
“Chú đã nói rồi đấy, đôi mắt sợ hãi. À mà năm nay Nhạn mấy tuổi?"

"Cháu nghe nói người nước ngoài không hỏi tuổi phái nữ, phải không chú?"

"Lại muốn giấu tuổi?"

Người đàn bà nhỏ nhẹ:
"Dạ, cháu không dám giấu đâu ạ!"

"Không sao, cứ cố giấu đi, chú tính ra được ngay. Nào, hồi tôi đi cô còn bé tí, chỉ mới 15, 16 là cùng. Vậy thì nay cháu, xem nào, trên dưới 30, cái tuổi mặn mà nhất trong đời người đàn bà. Đúng không?"

Cô không trả lời, kín đáo ngồi nhích lần ra mép ghế như để tránh nắng. Quả vậy, tia mặt trời buổi trưa xuyên qua những ngọn thông chiếu loe loé những hình sao vào đôi mắt hoang mang, vào đôi môi son tô nhạt. Lốm đốm những vạt nắng trên vai, trên đùi. Nắng trong veo. Một tiếng động khe khẽ, khô khan, dội lên giữa tiếng gió vi vu, giữa tiếng thông reo như không bao giờ dứt. Một trái thông khô rơi xuống chạm vào thành ghế đá văng xuống đất. Thêm một chấm nâu trên nền cỏ xanh. Màu xanh mênh mang, thông xanh, cỏ xanh, mặt hồ xanh, da trời cũng xanh. Lại một trái thông rơi, Nhạn giật mình thảng thốt:
"Sao hồi đó ..."

Xích đến gần người đàn bà hơn, người đàn ông cười cười:
"Sao? Hồi đó, hồi đó hoài! Hồi đó có cái gì hay ho kể cho tôi nghe đi."

"Hồi đó ở đây ... hồi đó chú khác lắm. Giọng nói nữa, cháu cũng nhận không ra. Bây giờ chú pha giọng bắc."

Ông cười lớn:
"Cô nói sai rồi. Giọng của tôi bây giờ là giọng hằm bà lằng, chứ bắc biếc cái gì. Bắc trung nam đều có tuốt. Thống nhất."

Nhạn ngập ngừng:
"Thế sao! Nhưng ...  nhưng thưa chú, hồi đó..."

"Hồi đó, hồi đó hoài,” người đàn ông gắt. “Có gì cứ nói đại đi!”

Cô hoảng hốt:
"Dạ."

Người đàn ông dịu giọng:
"Hồi đó tôi khác hồi này chứ gì. Cô đã nói thế nhiều lần, khỏi cần nhắc lại.”

Người đàn bà lại ngập ngừng:
"Dạ, ... hồi đó ở đây buồn quá phải không chú."

"OK, để tôi cắt nghĩa cho nghe,” người đàn ông cao giọng như muốn kết thúc một câu chuyện ông không muốn kéo dài nữa. “Xưa, đây chỉ là một cái thung lũng hoang vu thông mọc đầy, ít người lui tới. Chú có đưa cháu đến đó chơi nhiều lần, có cả bố mẹ cháu cùng đi, cháu còn nhớ chứ. Có con suối nhỏ chảy dưới lòng thung lũng. Một hôm cả nhà muốn mạo hiểm lần lần từng bước trên bờ dốc rồi ngồi phịch xuống hai chân chống đất phía dưới, hai tay vắt ra đàng sau níu cỏ, cố xuống cho đến tận dòng suối thử xem sao. Thì cháu tuột tay nhào người ra phía trước. May chú nhanh tay giữ được cháu. Cháu ôm chầm lấy chú, hốt hoảng, run rẩy, mặt mày tái mét.”

“Dạ, cháu có nhớ chuyện đó, nhớ như in.”

“Tên của vùng này là ... chú nhớ ra rồi, Thung Lũng Tình Yêu, bắt chước cái tên bằng tiếng Pháp, Bois d'Amour, gần thác Cam Ly. Cái tên ấy cũng có lý, trai gái tìm đến đấy chuyện trò, yêu đương. Về sau, trước khi miền Nam mất, người ta đắp đập ngăn nước biến dòng suối thành cái hồ. Nay, sau mấy mươi năm, nơi này đã được sửa sang nhiều và trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của thành phố. Du khách đến đông đúc quanh năm. Cho nên nó không buồn như xưa nữa. Đơn giản thế thôi."

Người đàn bà lặng lẽ ngồi nghe, như chìm trong giấc mơ. Người đàn ông hỏi lớn:
“Cô có nghe tôi nói gì không đấy?”

“Dạ, cháu có nghe. Cháu nghe từng lời của chú. Và cháu còn nhớ mẹ hỏi con đã hết sợ chưa ... và .... và bảo rằng nếu không có chú thì con sẽ trôi theo dòng nước như mấy trái thông khô kia kìa. Thôi, con lên trên kia với mẹ.” Cô nói tiếp sau một phút ngẫm nghĩ. “Nhưng ... nhưng cháu muốn nói hồi đó, hồi ... sau đó, khi chú...”

Ông lại cau mày đăm đăm nhìn cô ta, hơi ngạc nhiên. Bỗng ông reo lên:
"Hay quá, ê Yên, lại gặp nhau đây nữa.” Ông đứng dậy bắt tay người mới đến rồi kéo người ấy ngồi xuống ghế đá bên cạnh ông. “Này này, hôm qua cậu nói sáng nay cậu bay về Sài Gòn mà."

Người đàn ông mới đến trả lời:
"Cũng định thế, nhưng đổi ý.”
“Yên ơi, thấy cậu là thấy đổi ý.”

“Đúng thế, nếu không thì tôi không phải là tôi rồi,” ông Yên cười xòa. “Đi xe du lịch Xinh Cà Phê tiện hơn nên không bay nữa. Sẽ ở đây thêm vài ba hôm."

"Lạ chưa, đến đây một mình? Thế cái thằng kia của cậu đâu?"

Người đàn ông tên Yên cười hô hố:
"Anh Tuấn hả? Ảnh đang bận tán con nhỏ bán trái cây ngoài kia. Chán thiệt.” Quay nhìn người đàn bà, ông Yên nói hối hả. “Xin lỗi, chào chị, chị ..."

"Chị chị cái gì," người đàn ông chen vào. "Cháu tôi đó.”
Nhạn ngồi yên ở mép ghế mỉm cười với người mới tới rồi quay mặt đi nơi khác. Người đàn ông nói tiếp:
"Đây Nhạn, cháu tôi, đồng thời cũng là bạn của tôi, và đây Yên, cũng bạn tôi. Mà bạn của bạn là bạn. Và thù của thù cũng là bạn. Bạn chung. Nhưng bạn của thù là thù.  Phải không Yên."

Người đàn ông tên Yên cười xuề xòa, mắt nhắm tít sau cặp kính cận dày cộm. Tiếng cười chưa dứt đã nối tiếp bằng tiếng nói oang oang:
"Cậu đang ôn bài học khai tâm về chính trị hồi đó hả?”

“Hồi đó là cái con khỉ gì. Hồi nào?” ông nhìn qua phía cô gái.

 “Hồi ở tù cải tạo chứ còn hồi nào nữa,” ông Yên đáp. “Bực quá, thấy gái là a thần phù vào."

Người đàn ông nhíu mày:
"Thằng Phù nào đây nữa? Mà này, cái thằng Tuấn của cậu hình như chỉ biết sống trong không gian thôi..."

"Sao?" Ông Yên ngắt lời. "Sống trong không gian? Ảnh được chọn làm phi hành gia hồi nào vậy? Ông có nói lộn không?"

"Trong không gian chứ có phải là bên ngoài không gian, bên ngoài bầu khí quyển đâu. Đừng lẫn hai thứ. Tôi muốn nói trong không gian thì hắn có sống, có nhúc nhích, có đi đây đi đó, có đổi chỗ ở, có ở tù, và cũng có chạy qua đây, vân vân và vân vân, như tôi với cậu. Nhưng trong thời gian hắn nay không khác hắn xưa chút nào. Bây giờ hay cách đây hai ba mươi năm vẫn thế, thấy gái là lũi vào, trẻ không tha, già không buông."

"Đúng thế,” ông Yên đáp. “Chán anh ấy quá. Nhưng cậu cũng thế thôi, thấy gái cũng  ... Ấy chết..."

Ông Yên ngưng lại giữa câu nói, liếc mắt nhìn người đàn bà ngồi ở mép ghế bên kia. Dường như không muốn để ý đến câu chuyện của người khác, Nhạn nhìn xa, thở dài.

Người đàn ông như sực nhớ có Nhạn ngồi bên cạnh, quay qua nói:
“Thở dài vì có gì buồn trong lòng chăng, hay chẳng qua đó chỉ là một thói quen, thói quen lâu thành tật. Hay cũng có thể là một cách làm duyên? Sao? Làm duyên hả cô Nhạn của tôi?”

Cô im lặng.

Ngoài kia, những đám bụi đỏ nhờ nhờ thỉnh thoảng tung lên mỗi khi có xe hơi chạy qua làm mù mịt con đường trải đá. Con đường dài nằm giữa ngăn cách một bên là khu du lịch với cây cối, hoa lá, hồ nước, quán xá, bên kia là những thửa vườn thoai thoải xuống một thung lũng cạn trồng nhiều loại rau cải, cây, trái. Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn, đám bụi đỏ lắng xuống, trả lại cho cảnh vật màu xanh của rừng thông, màu hồng, tím, đỏ, trắng của nhiều loại hoa đang đua nhau nở. Trời nắng trưa nhưng trong bóng im vẫn không oi bức lắm. Dưới những gốc thông, dưới những mái nhà lợp lá không vách bao quanh, du khách ngồi tụm năm, tụm bảy, nghỉ ngơi, chuyện trò, hoặc mang thức ăn ra ăn. Nhiều người, thường là những người ngoại quốc, ngồi bệt xuống đất, hoặc nằm dài trên những thảm cỏ gấp hai cánh tay làm gối. Cỏ xanh tươi, mịn màng, sạch sẽ.

Bỗng tiếng nhạc từ loa phóng thanh cạnh phòng bán vé trổi lên bài Đêm Đông. Người đàn ông nói với Nhạn:
“Trưa hè nắng muốn đổ lửa mà cứ ong ỏng đêm đông. Có bài hát nào tên Trưa Hè không, Nhạn? Cháu hát cho chú nghe một bài về mùa hè đi. Ngay bây giờ.”

Cô cúi mặt nói lí nhí những gì không rõ, rồi lặng lẽ đứng dậy rút chiếc khăn tay nhỏ từ trong túi quần chặm nhẹ lên vài giọt mồ hôi đọng trên trán, trên cổ. Đưa mắt chào hai người đàn ông, cô vói tay lấy chiếc áo khoác mỏng vắt trên thành ghế đá choàng vội vào vai, và cỗi giày ra cầm trong tay, lần từng bước đi xuống những con dốc trơn trợt khá dài. Ông Yên cũng đứng dậy hối hả  nói oang oang:
"Hà hà, xin lỗi chị ... cô ... Cô hãy ngồi lại chơi tự nhiên với anh Tuệ đi. Tôi chỉ giỏi đến quấy rầy. Nhưng tôi đi ngay mà."

Người đàn ông, ông Tuệ, cũng nói vói theo:
"Cháu đi đâu đấy?"

Nhạn quay đầu không trả lời, đưa tay vẫy chào và tiếp tục đi. Ông Tuệ nheo mắt nhìn theo cô ta, nói to:
"Xuống hồ hả! Nhớ cẩn thận, đường đầy lá thông khô trơn trợt, coi chừng té gãy giò. Nhưng như thế cũng tiện, để đàn ông người ta nói chuyện với nhau. Chờ tôi dưới đấy, chốc tôi xuống ngay. Đừng đi nơi nào khác, đừng bắt tôi tìm kiếm, mất thì giờ của tôi lắm."

Khi người đàn bà đã đi xuống các tam cấp khuất tầm mắt, ông Yên lại ngồi xuống, cổi mắt kính ra lau, và oang oang:
"Cô bé trông được lắm đó, phải không câu. Còn cậu thì có khác chi Tuấn, gặp gái là tán riết. Làm như tán gái là bổn phận của đàn ông. Giống như gà.”

"Cái gì?"

"Cậu từng ở nhà quê chứ?  Gà trống thấy gà mái là giở trò dê ngay, sè cánh xuống sát đất nghiêng người đi vòng vòng ngất ngưởng quanh con gà mái theo cái điệu đấu bò tót của dân Tây Ban Nha."
“Đó là cái kiểu của gà, sao bảo nó dê?”

Ông Yên không để ý lời của bạn, đứng dậy kéo ông Tuệ đi đến gặp một người đàn ông tóc nhiều muối hơn tiêu đang đứng ba hoa với một cô bán hàng khá xinh ngồi trước quầy hàng trái cây cạnh chiếc cổng lớn bên ngoài phòng bán vé:
"...răng cũng đẹp mà tóc cũng đẹp. Cái răng cái tóc. Mà mặt mày tay chân gì cũng đẹp. Nhưng đôi mắt thì hết biết, tuyệt!  Còn có cái gì khác cũng đẹp mà tôi quên nói tới hả cô em?"

Cô hàng lém lỉnh:
"Chú quên cái đó rồi hả. Cái gì chú biết không?”

“Không biết.”

“Đó là ... là mấy nải chuối La Ba ngon hết sẩy, dâu tây trong vườn vừa mới thu hoạch sáng nay tươi rói, trái bơ, trái hột gà, trái mơ, trái mận Trại Hầm cũng thơm ơi là thơm."

Cô hàng đưa nải chuối lên mời. Người đàn ông tóc tiêu muối nhại:
"Và cô em ăn nói có duyên ơi là duyên."

Nói xong ông ta cầm tay cô hàng đang đưa nải chuối.

“Thôi nghe, thôi nghe. Đừng mà!”

Ông ta buông tay ra rồi nhại:
“Vâng, đừng mà.”

Ông Yên đứng cạnh nhìn chòng chọc. Cô hàng lại tiếp lời:
"Mua ngay đi chú. Còn hai chú tê đứng làm chi đó, ngồi xuống đi. Mua một thứ cũng tốt, mà mua hai ba thứ hay mua hết quầy cháu cũng không cấm cản. Khẩn trương kẻo hết!"

"Khẩn trương? Nghe ngộ quá. Tôi khẩn trương mua đây. Vâng, mua trọn ... trọn gói nhé, trong đó có cả cô nữa đấy.”

Cô hàng ngoe nguẩy:
“Không dám đâu.”

 “Cô không dám nhưng tôi dám. Nhưng cứ chú chú, cháu cháu nghe kỳ quá. Gọi là anh đi. Anh còn trẻ mà.”
Ông Yên chen vào:
"Tuấn ơi, anh thì nhất rồi, trẻ mãi không già. Vừa phải thôi chứ!"

Người đàn ông tên Tuấn trả lời:
"Chốc nữa chúng mình sẽ có khối chuyện để đấu với nhau, còn bây giờ xin để yên cho tôi nhờ. Tôi không bắt chờ lâu đâu." Xoay qua cô bán hàng. "Cô nghe thấy bạn tôi nói đấy chứ, trẻ mãi không già! Thật ra cũng có già đôi chút so với cô em, tuy thế còn được lắm. Con gái gặp là chịu ngay. Nhưng trước hết là phải đổi cách xưng hô."

Cô bán hàng cười ngây thơ:
"Không gọi chú là chú thì cháu phải gọi là chi đây? Ôn nghe. Dạ thưa ôn, ôn nói đúng. Bọn con gái tụi cháu chịu mấy ôn lắm."

"Xưng hô cái kiểu gì mà ớn vậy! O là người Huệ?"

"Dạ đúng. Người Huế vô trong ni làm ăn cũng bộn. Thưa ôn, ở ngoài Huế mình cũng như ở đây, con gái rất thích mấy ôn, rất thích sưu tầm đồ cổ..."

Ông Yên cười toáng lên một cách sung sướng, vừa bước đi vừa nói với ông Tuệ:
"Đáng đời! Đáng đời!"

Ông Tuệ tiếp lời:
“Ăn thua gì. Càng được đàn bà mắng chửi thằng Tuấn càng khoái. Chốc nữa tôi phải sửa cái thằng này mới được.”

“Nhớ nhé, chắc chắn nhé,” ông Yên rối rít. “Cậu giũa cho ảnh một trận te tua đi.”

Hai người đàn ông bước đi, tiếng nói láu lỉnh của cô hàng còn văng vẳng đuổi theo:
"... mà đồ cổ càng để lâu càng có giá, càng đắt tiền. Nhưng, nhưng trong túi ôn có chừng mô?  Nói thiệt cho con cháu nó mừng."

Ông Tuấn hớn hở đáp:
"Cô em của tôi cứ việc mừng đi. Sách có câu, 'Càng già càng dẻo càng dai'. Ôn tiền không nhiều nhưng tình thì lai láng."

Nói xong, ông Tuấn rút tờ giấy bạc 100 ngàn đồng đưa cho cô hàng, xách nải chuối La Ba, và đứng dậy. Cô hàng vội vã:
"Đi mô mà gấp dữ rứa hả ôn ... hả chú ... hả anh! Tiền thối đây anh, đây anh.”


“Khỏi, cô giữ lấy.”
“Nhưng anh ơi hãy cứ ngồi xuống với em cái đã rồi sẽ tính.”

Ông Tuấn cười tình rồi quay người bước đi nhanh theo hai ông bạn. Cô bán hàng ngồi bên cạnh chỏ mỏ:
“Ủa lạ chưa! Hôm nay mày ăn phải cái gì mà chê tiền đấy hả?”

“Còn lâu.”

“Sao đòi thối.”

“Tao nói thế để dụ thằng già dịch ngồi lại.”

           (Còn tiếp)


Hoàng Hưng - Ba mươi năm "Về Kinh Bắc"


Hoàng Hưng

Ba mươi năm thoắt như giấc mộng. Kể từ buổi chiều oan nghiệt (ngày 17/8/1982) khi chiếc xe bịt bùng chở mình từ đồn Công an Hàng Bạc về thẳng Hỏa Lò, mở đầu vụ án văn tự có lẽ là kỳ quái nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Đến hôm  nay vẫn không biết nên cười nhiều hơn hay mếu nhiều hơn! (Chi tiết vụ án đã được kể trong bài “Về Kinh Bắc: một vụ án “hậu Nhân Văn” viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày ra tù, 2010).


Hôm nay nhắc lại chuyện cũ vì một kỳ duyên mới: Sau 30 năm, thật bất ngờ gặp lại cố tri, “tang vật” chính của vụ án: tập chép tay Về Kinh Bắc mà anh Hoàng Cầm chép tặng, với chữ ký của người can tội “lưu truyền văn hóa phẩm phản động” (tức là tôi) xác nhận trên từng trang. Trang đầu Hoàng Cầm viết bằng chữ đỏ: Chép gửi Hoàng Hưng, cho mai sau của chúng ta. Hànội tháng Tám 1982, với hình vẽ đầu một cô gái đẹp.  (Mười hai năm sau, cái “mai sau” ấy thành hiện thực, khi Về Kinh Bắc được xuất bản chính thống, anh Hoàng Cầm vẽ lại bìa tập thơ có hình cô gái y như thế để tặng tôi và một số người thân). Kèm một trang có hình vẽ màu nước ba cái lá (chắc là “lá Diêu Bông”) mà anh Văn Cao vẽ làm bìa tập thơ theo yêu cầu của tôi. Lại thêm cái bìa montage siêu thực mà ông Trần Thiếu Bảo hứng chí làm chơi. Nhưng thiếu những phụ bản mà tôi xin họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ cho, thể hiện các cô gái quan họ quen thuộc của ông. Các cô giờ lưu lạc nơi đâu?

Chẳng biết con đường lòng vòng nào đã đưa “tang vật” này đến tay nạn nhân-chủ nhân của nó sau 30 năm lưu lạc. Còn nhớ 10 năm trước, trong ngày sinh nhật thứ 80 của Hoàng Cầm tại nhà thi sĩ, thiếu tướng Phạm Chuyên, giám đốc CA Hà Nội, đã hứa trước mặt nhiều văn nghệ sĩ là sẽ tìm để trả cho tôi báu vật này. Ít lâu sau ông bắn tin là tìm không thấy. Thì ra nó đã lọt ra ngoài từ bao giờ!

Thì giờ đây cũng có thể coi là “châu về hợp phố”! Có phải Ý Trời để chính thức khép lại mọi ân oán của vụ kỳ án này?

Đối với hai nạn nhân của vụ “Về Kinh Bắc”, anh Cầm thì đã ngậm cười nơi chín suối, còn tôi cũng dần dần “ngộ” lẽ tha thứ và thương cảm của Đức Như Lai, chuyện ân oán chẳng còn bận tâm.

Nhưng chừng nào những người hữu trách vẫn không chịu thay đổi cái chính sách gọi theo từ nhà Phật là “vô minh” – vẫn tìm cách dập tắt các tác phẩm nghệ thuật, báo chí, nói rộng ra là các tư tưởng mà họ tùy tiện áp đặt tội danh “phản động”, bất chấp sự thực là những tác phẩm ấy không cần chờ quá lâu để được xã hội tôn vinh - thì ân oán còn “trùng trùng giao kết căn duyên” (Nhập Môn, thơ HH).

Tôi đã có lần nói với các sĩ quan an ninh “làm việc” với mình: “ Các anh nên nhớ rằng chính trị là chuyện nhất thời, còn văn hóa thì sống mãi.” Nay muốn nói thêm: Chính trị hóa văn hóa là tự chuốc họa cho chính mình, vì tự tạo ra kẻ thù không đáng có. Thay vì thế, xin hãy một lần thực tập “pháp môn lắng nghe”, lắng nghe những tiếng nói khác biệt, những tiếng nói phản biện, cả những tiếng nói đối lập. Đó là con đường duy nhất để đạt được sự đồng thuận của dân tộc trước hiểm họa lớn lao của đất nước.

Hôm nay, nhân kỷ niệm 30 năm vụ “Về Kinh Bắc”, tình cờ cũng là năm sinh nhật thứ 90 của Hoàng Cầm, thứ 70 (đã là “xưa nay hiếm”) của bản thân, tôi xin trân trọng công bố toàn vẹn bản chép tay quý báu của Hoàng Cầm với tranh bìa của Văn Cao và Trần Thiếu Bảo. Đây cũng là mở đầu cho việc lần lượt công bố trên mạng mấy bản thảo của tôi đã nhiều năm nay không xin được giấy phép xuất bản. Xét thấy mình thật vô duyên, cứ cố “xin” mãi mà người ta không “cho”, mà có cho thì chắc cũng chỉ in được vài trăm cuốn không biết có ai mua trong tình hình khủng hoảng thị trường sách in hiện nay, vậy tội gì mình không EBook cho nó “phẻ”? Tôi bèn coi đây là mở đầu cho bộ sưu tập HHEBOOKS, trước hết phục vụ cho bản thân, sau đó là chia sẻ với đồng bào mạng, mong nhận được ít nhiều đồng cảm.

Tháng 8/ 2012

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Nơi An Lành Cho Bác


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“…  sử dụng xác chết Hồ Chí Minh cho ‘trò chơi biểu tượng’ phục vụ mục đích tuyên truyền chính trị ích kỷ, ĐCSVN đã cố tình tấn công vào các giá trị thẩm mỹ, đạo đức của người Việt, vi phạm pháp luật, làm khổ thân xác của Hồ Chí Minh, xúc phạm nghiêm trọng phẩm giá, danh dự của người chết và người thân trong gia đình. Hãy chấm dứt trò chơi biểu tượng ngoại lai, phi pháp này!” - Lê Diễn Đức


Trong phần hậu từ của tác phẩm Chuyện Làng Ngày Ấy, nhà văn Võ Văn Trực đã cẩn thận ghi thêm đôi dòng ...trấn an:” Viết lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý đồ xấu xa moi móc những sai lầm chúng ta đã vấp phải, để rồi đổ lỗi cho người này hoặc người kia, mà cốt để chúng ta đừng lập lại những sai lầm ấy – ‘Chúng ta’ không có nghĩa chỉ là thế hệ được chứng kiến sai lầm, mà tất cả mọi thế hệ mai sau.

Từ sau đại hội Ðảng lần thứ VI, nhất là từ sau nghị quyết IV về văn hóa - xã hội của ban chấp hành trung ương Ðảng khóa VII, chúng ta thẳng thắn nhìn vào những sai lầm cũ và đề xuất phương hướng đi tới. Mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phục hồi. Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. Nhưng tình làng nghĩa xóm đã dần dần được hàn gắn, mọi người lại sống trong một cộng đồng đầm ấm, cùng bắt tay khôi phục những gì còn có thể khôi phục được. Các chi họ, các dòng họ đã sửa sang lại khu mộ của tiền nhân. Ðảng ủy xã, ủy ban nhân dân xã đã xây đài tưởng niệm liệt sĩ.”

Những lời “trấn an” thượng dẫn, tiếc thay, đã không mang lại kết quả như tác giả mong muốn. Bởi vậy, dù Chuyện Làng Ngày Ấy đã được giấy phép xuất bản nhưng sách chưa ra khỏi nhà in thì đã bị thu hồi, và bị “chôn sống” trong kho, với lệnh “niêm phong” vô thời hạn (*).

Quí vị phụ trách Ban Tư Tưởng & Văn Hoá, tất nhiên, có lý do để biện minh cho sự kiện rất vô văn hóa này. Đâu có ai ngây thơ tới cỡ tin rằng “Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. Nhưng tình làng nghĩa xóm đã dần dần được hàn gắn, mọi người lại sống trong một cộng đồng đầm ấm, cùng bắt tay khôi phục những gì còn có thể khôi phục được.”

Người ta có thể vực dậy một làng quê, một đất nước xác sơ tiêu điều trong trong mươi, mười lăm năm nhưng để khôi phục “mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc” đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, chứ vài ba cái “nghị quyết về văn hóa - xã hội của ban chấp hành trung ương Ðảng” thì kể như là đồ bỏ!

Việc Đảng “phá trụi đền thờ, miếu mạo” đến độ “không còn gì để phục hồi” nữa đã để lại những tác hại về phương diện đạo đức - cũng như về tâm linh – ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Và ông Hồ Chí Minh hiện đang là một trong những nạn nhân khốn khổ, khốn nạn nhất, chứ chả phải là ai khác.

Sau khi lìa đời, thay vì được chôn cất tử tế, Hồ Chí Minh đã bị bỏ vào một cái lăng thâm u và lạnh lẽo – cùng với rất nhiều điều tiếng:
Thi sĩ Bút Tre:”Vào trong lăng Bác âm u. Chị em phụ nữ dở mũ ra chào.”

Giáo sư Trần Khuê và tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân:
 “... đề nghị Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dự chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn vắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi… Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thể xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo…”

Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh : “Tôi nghĩ một ngày nào đó, khi chúng ta vượt qua nỗi khiếp sợ của cái ngu và ác, tôi đề nghị một phương pháp xử lý lăng Hồ Chí Minh như vầy: chôn ông ta thật sâu dưới lòng đất, ngay nơi xác ông ta đang quàn, rồi dán lên bên trong, bên ngoài của tất cả những bức tường, trần và các lối đi trong lăng những đầu lâu của những nạn nhân, ưu tiên là những nạn nhân trong cải cách ruộng đất, và đổi tên thành: LĂNG NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VIỆT NAM.”

Nghe thấy ghê chết mẹ luôn. Hèn chi mà thằng chả vừa mới dứt lời thì đại gia Dũng Lò Vôi đã lật đật ôm bác Hồ bỏ liền vô chùa (Đại Nam Quốc Tự) cho nó chắc ăn.

Tuổi Trẻ Online mô tả “Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng, gồm 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm,  4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm.” Thiệt là quá đã. Đúng là Lạc Cảnh Đại Nam Quốc Tự. Chùa mà xây chung với chợ như vậy thì trước sau gì chị em ta ở bến Ninh Kiều, ở Đồ Sơn, ở Quế Lâm ... rồi cũng sẽ nườm nượp tề tựu về Bình Dương sống chung với Bác cho coi.

Dù có tượng Phật (làm vì) bên trong chính điện, với cái thứ chùa chiền tào lao và uế tạp (với sở thú, khu ăn chơi, phòng ngủ và đĩ điếm kề bên) như thế, người Việt có tên gọi dành riêng cho nó là dâm từ.

Dâm từ, theo Việt Nam Tự Điển – Khai Trí Tiến Đức là «đền thờ thần bất chính». Còn theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình - Tịnh Paulus Của (Imprimerie Rey, Curol & Cie : Sài Gòn 1895, trang 219) là miếu thờ yêu quái. Ở dâm từ, dân gian hay thờ cúng những… dâm thần!

Nghe mà thấy ớn. Thảo nào, ngày 19 tháng 5 năm 2012 – nhân kỷ niệm lần thứ 122 ngày sinh của ông Hồ Chí Minh – sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đã vội vã đưa Bác sang trời Âu lánh nạn. Sự kiện này được phóng viên của Đàn Chim Việt, thường trú tại Varsovie, tường thuật như sau:
“Trong phần nghi lễ chính, đại sứ Nguyễn Hoằng và phu nhân đã cùng làm lễ hô thần nhập tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghi lễ, việc ‘mời’ linh hồn Hồ Chí Minh để nhập vào tượng trực tiếp từ Lăng trên quảng trường Ba Đình hay từ hang Pác bó, và Bác sang Ba Lan bằng phương tiện giao thông nào là một điều bí hiểm thuộc ‘bí mật ngoại giao’ mà ông Hoằng đại sứ giữ kín không tiết lộ.”

Ông đại sứ và phu nhân trong nghi lễ nhập hồn vào tượng. Ảnh:ĐCV.

Ở một đất nước mà cái cột đèn (nếu) có chân cũng chạy luôn thì chuyện Bác phải đi tị nạn cũng không có gì là lạ. Chỉ có điều đáng phàn nàn là Bác ngồi chưa ấm chỗ thì đã có sự cố xẩy ra.
Ở quê nhà, thiên hạ đang xôn xao về việc “Hồ Chí Minh sẽ làm thành hoàng tại các đình làng. Theo chỉ đạo của Quận ủy & UBND quận Tây Hồ, Ban Quản lý đình làng Phú Xá (làng Sù – phường Phú Thượng, Tây Hồ, HN) đưa tượng Hồ Chí Minh vào đình làng này để thờ cùng thành hoàng làng (vốn ngự ở đình đã gần 300 năm). Cũng theo chỉ đạo, 3 nhà sư trong trang phục Phật giáo đã sử dụng 1 đầu trâu và 3 bát máu tươi để cúng cho hồn tượng thêm ‘linh.’

“Dự buổi lễ khánh thành tượng Hồ Chí Minh ở đình làng vào sáng hôm sau có các quan chức: Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận Tây Hồ, đại diện các ban ngành đoàn thể của quận, phường. Tổng giám đốc Khu đô thị Nam Thăng Long, Tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Bao bì xuất khẩu (hai đơn vị tài trợ chính) đã tham dự. Giá trị bức tượng khoảng hơn 2 tỉ đồng.Tới đây, quận sẽ chỉ đạo các Ban quản lý đình làng trên địa bàn quận học tập và làm theo để phấn đấu mọi đình làng đều phải có tượng Hồ Chí Minh được thờ cùng thành hoàng làng.”
(http://youtu.be/j7VXAIRbBSE)
Trên dương thế mâm nào mà không có Bác. Qua cõi khác, Bác lại tiếp tục bao thầu trọn gói và tuốt luốt khắp mọi nơi thì cũng tốt thôi. Tuy nhiên, tưởng cũng nên tìm hiểu thêm về ý nghĩa của hai thành hoàng (một cách đàng hoàng) chút xíu.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có ghi như sau:
“Thành hoàng (chữ Hán: 城隍) là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Vị thần này dù có hay không có họ tên & lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng & đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó…
Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành…
Các thứ hạng
Cũng theo sách Việt Nam phong tục, thì mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần.
Phúc Thần có ba hạng:
Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần như Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Sử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa... Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách làm Thượng đẳng thần.
Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.
Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần.
Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều nơi thờ bậy bạ, như: thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết... Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển, không có phong tặng gì...


Ho Chi Minh - Frank Kozik
Bác, rõ ràng, thuộc loại “thần bậy bạ” nhưng chưa có danh xưng tên nên tôi mạo muội xin đề xuất  gọi tên ngài là... thần chết. Cũng theo Wikipedia:” Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 3 đến 5 triệu người Việt.” Nếu không có Bác, chắc chắn, đã không có hai cuộc chiến rất thần thánh và hoàn toàn không cần thiết vào thế kỷ vừa qua. Và ngoài Bác ra ai mà có đủ khả năng đẩy “từ 3 đến 5 triệu người Việt” vào... chỗ chết?
Tưởng Năng Tiến
(*) Chuyện Làng Ngày Ấy do NXB Lao Động ấn hành tháng 6 năm 1993. Nhà văn Xuân Cang chịu trách nhiệm xuất bản. Nhà văn Ma Văn Kháng chịu trách nhiệm bản thảo. Tác phẩm này được in lại (năm 2006) bởi Tạp Chí Văn Học, ở California.


Nguyễn Hưng Quốc - Cưỡng chế ngôn ngữ


Nguyễn Hưng Quốc


Ở Việt Nam, mấy năm gần đây, có một chữ khá thịnh hành và thường gây xôn xao dư luận: “cưỡng chế đất đai”. Nhưng việc cưỡng chế ấy không phải chỉ giới hạn ở chuyện đất đai. Từ lâu, chính quyền đã có một hình thức khác: cưỡng chế ngôn ngữ.

Hình thức cưỡng chế ấy có nhiều biểu hiện.

Thứ nhất, nhà cầm quyền cộng sản sử dụng ngôn ngữ như những nhãn hiệu để phạm trù hóa kẻ thù. Ngày xưa, thời kháng chiến chống Pháp, đó là những chữ “thực dân”, “Việt gian”, “địa chủ”, “cường hào” và “tư sản”; sau, thời chiến tranh Nam Bắc, đó là những chữ “đế quốc”, “chủ nghĩa thực dân mới”, “Mỹ ngụy”, “bù nhìn”, “tay sai”, “ác ôn”, “phản quốc” và “phản động”; sau năm 1975, “chủ nghĩa bá quyền”, “chủ nghĩa bành trướng”, “tư sản mại bản”, “tàn dư của chủ nghĩa thực dân” và “phản động”; gần đây, thêm hai khái niệm mới: “diễn tiến hòa bình” và “âm mưu của các thế lực thù địch quốc tế”. Đi đôi với các từ ngữ ấy ấy là vô số các ẩn dụ nhằm phi nhân hóa kẻ thù: “sài lang”, “lang sói”, “ác thú”, “quỷ dữ”, v.v.

Những nhãn hiệu ấy có ba chức năng chính: một, để chụp mũ bất cứ người nào đi ngược lại chủ trương của họ; hai, để phi nhân hóa kẻ thù: kẻ thù tồn tại không phải như những con người mà là như những khái niệm, do đó, việc tiêu diệt kẻ thù không còn nằm trong phạm trù đạo đức thông thường nữa; và ba, để dựng lên những con ngáo ộp hầu một mặt, dù dọa dân chúng; mặt khác, biện minh cho những chính sách cứng rắn, thậm chí, có tính chất khủng bố của họ. Chức năng thứ ba là thuộc tính của mọi chế độ độc tài: Họ luôn luôn cần kẻ thù, cần văn hóa chiến tranh. Nếu không có kẻ thù thì họ thêu dệt ra kẻ thù. Bóng ma của kẻ thù là một cách để vừa tập trung quyền lực vừa đánh lạc hướng dư luận. Đối diện với cái bóng ma đầy đe dọa ấy, dân chúng nói chung dễ dàng gác bỏ mọi sự hoài nghi hay ý hướng phản kháng.

Thứ hai, đặc biệt suốt cả hai cuộc chiến tranh, 1946-54 và 1954-75, là quân sự hóa các hoạt động ngôn ngữ trong đời thường. Văn học nghệ thuật biến thành hoặc “chiến trường” hoặc “mặt trận” hoặc “trận tuyến”; tác phẩm là “vũ khí”; viết lách là “tiến công”; “nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “viết bài thơ trên báng súng”; “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy / bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”; giới cầm bút biến thành “đội ngũ”, hình thành nên cái gọi là “đội quân văn nghệ” hay “lực lượng sáng tác”, ở đó mọi người đều là những “chiến sĩ cầm bút” và đều tuân theo một “cương lĩnh chiến đấu” và cùng nhau “hiệp đồng chiến đấu”. Thơ trào phúng được xem là một “binh chủng đặc biệt” trong khi các bài ký sự hôi hổi sức nóng của đời sống thực được xem là một “mũi xung kích” hoặc “mũi nhọn tiến công” của nền văn học mới. Một nhà thơ hay một nhà văn trung thành với một vùng sáng tác nào đó thì được gọi là “bám trụ”; đi tiên phong trong một lãnh vực nào đó thì biến thành “ngọn cờ”; tập trung vào việc đả kích địch thì được ví với việc “nổ súng”; thường xuyên phê phán địch thì được biểu dương là “nắm thắt lưng địch mà đánh”. Trong thơ, có những “bài thơ rực lửa chiến đấu”; trong âm nhạc, có “tiếng hát át tiếng bom”.

Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ở các lãnh vực khác, cũng thế. Một đám đông, dù chẳng liên quan gì đến quân sự, cũng được gọi là “đội quân”: “đội quân thất nghiệp”. Làm quang đất đai thì gọi là “giải phóng mặt bằng”. Một chương trình có nhiều người tham gia và được nhà nước cổ vũ thì được gọi là “chiến dịch” (ví dụ: “chiến dịch làm sạch đường phố”). Ngày mở đầu của những chiến dịch như vậy thường được gọi là “ra quân” (“Hà Nội ra quân chống ùn tắc giao thông”). Trấn giữ một địa điểm nào đó để làm nhiệm vụ, cho dù chỉ là nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, cũng được gọi là “đóng chốt” hay “trực chiến” (“Chính quyền, các cơ quan chủ quản đã cử người đóng chốt, trực chiến tại những địa điểm nhiều nguy cơ lũ tràn về”) (1). Cách thức ăn uống đặc biệt cho một loại người nào đó trở thành “chế độ” ăn uống. Tự mình dằn vặt suy nghĩ để đi đến một quyết định quan trọng nào đó thì được gọi là “đấu tranh tư tưởng”. Tố Hữu có hai câu thơ tả một cánh đồng hợp tác xã ở miền Bắc: “Hãy xem! Đồng ruộng cũng chỉnh tề thế trận / Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm tấn.” Một nhà thơ nào đó, hình như là Trinh Đường, có câu thơ tả tình yêu: “Tình yêu anh, em ạ, cũng lên nòng.”

Thứ ba là hành chính hóa ngôn ngữ. Ở xã hội nào cũng có lớp từ vựng hành chính riêng. Xưa, có các từ sớ, tấu, chiếu, chỉ, bẩm, báo, trình, với những “quan”, những “cụ”, những “thầy” các loại. Xã hội ngày nay cũng vậy. Cũng có “cán bộ”, có “đồng chí”, có “báo cáo”, có “phương án giải quyết”, có “đăng ký” và “quản lý”, v.v. Chỉ có vấn đề là, khác với các nơi và thời khác, dưới chế độ cộng sản, lớp từ hành chính ấy cứ tràn ra đời sống hàng ngày. Ở mọi nơi. Kể cả những nơi quan hệ giữa người và người không có chút hành chính gì cả.

Cũng có khi đó là chủ trương chung của nhà cầm quyền: Để xây dựng một xã hội mới với những con người mới, và đặc biệt, những quan hệ mới, người ta cổ vũ việc sử dụng lớp từ hành chính trong mọi trường hợp. Bạn bè là “đồng chí” của nhau. Những người “đồng chí” ấy không chuyện trò với nhau: Họ “trao đổi” hoặc “báo cáo” cho nhau, rồi “tự phê” và “phê bình” nhau. Sau những “báo cáo” và những “phê bình” ấy, người ta không cần hiểu rõ: Người ta chỉ cần “quán triệt”. Nếu một người còn hoang mang, người khác sẽ tiếp tục giúp “đả thông tư tưởng”. Con trai và con gái không gặp nhau: họ “phát hiện” ra nhau; họ không yêu nhau: họ có “quan hệ tình cảm” với nhau; họ không làm đám cưới với nhau, họ chỉ “đăng ký kết hôn”. Ngày xưa, chỉ có các nhà tư tưởng mới “tư duy” (Tôi tư duy vậy tôi hiện hữu, “Cogito ergo sum”, Descartes), bây giờ, trong quần chúng, ai cũng “tư duy” nên mặt mày ai cũng “khẩn trương” và cũng đầy “bức xúc”, nhất là khi gặp một “sự cố” gì đó mà người ta chưa có “phương án giải quyết”.

Việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy làm xóa mờ ranh giới giữa cái riêng và cái chung, tính chất cá nhân và tính chất tập thể, kích thước xã hội và kích thước chính trị trong đời sống con người. Từ cái nhìn bên ngoài, chúng ta dễ thấy việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy là một sự hài hước, thậm chí, lố bịch, do đó, nó trở thành đề tài của các truyện cười nhạo báng chế độ, kiểu nói chuyện với bố mẹ hay anh em bạn bè mà dùng chữ “báo cáo”; xin kết hôn mà dùng những chữ to tát như “đăng ký” hay “quản lý đời em”; hối thúc một người nào đó mà dùng chữ “hãy khẩn trương lên”… Tuy nhiên, từ cái nhìn trong cuộc, với việc phổ cập của lớp từ vựng hành chính trong đời sống hàng ngày như vậy, nhà cầm quyền đã thành công trong việc nhồi sọ quần chúng, biến mọi người thành một thứ công cụ như được đúc ra từ một cái khuôn duy nhất: người ta không còn sự riêng tư và sự độc đáo nữa.

Thứ tư là tạo nên những từ mới hoặc áp đặt lên các từ cũ một nội dung mới hoàn toàn trái ngược hẳn với hiện thực vốn có. Ví dụ cho loại này nhiều vô cùng: thay cho chữ “trại tù”, họ gọi là “trại học tập” hay “trung tâm phục hồi nhân phẩm”; thay cho chữ “nhồi sọ”, họ gọi là “cải tạo tư tưởng”; thay vì gọi thẳng là tịch thu đất đai của địa chủ, họ dùng chữ “cải cách ruộng đất”; thay vì gọi thẳng tịch thu tài sản của người giàu, họ gọi là “đánh tư sản”; thay cho chữ “làm quan”, họ tự xưng là “đầy tớ nhân dân”; thay cho chữ “độc tài”, họ lại gọi là “làm chủ tập thể”; cán bộ đồi trụy, thay vì nói đồi trụy, họ dùng chữ “hủ hóa”; đối với hiện tượng tham nhũng hay thoái hóa của đảng viên, thay vì dùng chữ “nhiều”, họ dùng chữ “không ít” hoặc “một bộ phận”; thay vì thừa nhận thất bại trước các thử thách, họ dùng cách nói “từng bước khắc phục”; thay vì “bắt lính”, họ gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”; thay vì nói đánh chiếm Campuchia, họ nói họ đang làm “nghĩa vụ quốc tế”; thay vì nói “bế tắc”, họ dùng chữ “hạn chế tất yếu”; những gì họ thích thì họ gọi là “bản chất” và “khách quan”; những gì không thích thì họ gọi là “hiện tượng” và “chủ quan”.

Gọi như thế, người ta bất chấp cả sự thật. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới và những mặt trái của nó đã được vạch trần và đã trở thành hiển nhiên với mọi người, họ vẫn tiếp tục gọi nó là “tiến bộ”, là “đỉnh cao”, là “ưu việt” và là “quy luật phát triển” của lịch sử. Không có tự do bầu cử và cũng không có bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý nào, người ta vẫn khăng khăng nhân danh “ý nguyện của toàn dân” để duy trì sự độc quyền lãnh đạo của mình. Suy nghĩ cũ mèm mà vẫn cứ ba hoa là “đổi mới tư duy”. Gần đây, họ gọi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn là các cuộc “tụ tập tự phát” của quần chúng; tàu Trung Quốc đâm nát tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam ngoài Biển Đông được gọi là “tàu lạ”; những vấn đề nhà cầm quyền không muốn nghe thì gọi là “nhạy cảm”, v.v.

Có thể nói, với những cách dùng từ hoặc định nghĩa từ ngang ngược như vậy, người ta tiến hành một cách quy mô, kiên trì và có hệ thống một cuộc cưỡng chế trong lãnh vực ngôn ngữ. Hậu quả là nó làm thay đổi hẳn ý nghĩa của rất nhiều từ quen thuộc hoặc làm cho chúng trở thành rỗng tuếch, không còn mang một ý nghĩa gì cả. Những chữ như “cách mạng”, “giải phóng”, “công bằng”, “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tiến bộ”, “phát triển”, “đỉnh cao trí tuệ”, “làm chủ tập thể”, “quần chúng”, “nhân dân”, thậm chí, cả chữ “yêu nước”… đều nằm trong trường hợp như thế. Ngay cả những chữ đơn giản như “đúng” và “sai”, “thật” và “giả”, “tiến bộ” và “lạc hậu”, “tốt” và “xấu”… cũng không còn nguyên nghĩa của chúng nữa. Trong các cặp đối lập ấy, khái niệm thứ nhất bao giờ cũng được sử dụng cho đảng, hoặc rộng hơn chút, cho “phe ta”; còn khái niệm sau bao giờ cũng thuộc về phe địch. Không có ngoại lệ. Đã là địch thì phải sai, phải giả, phải xấu và phải lạc hậu. “Ta” thì, ngược lại.

Trong cuốn phim tài liệu Chuyện tử tế, Trần Văn Thủy đi hỏi ý nghĩa hai chữ “tử tế” và “vĩ đại”, hầu như ai cũng lúng túng. Bây giờ thử hỏi những người Việt Nam bình thường những từ như “tình hữu nghị” hay “láng giềng tốt” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thực sự có nghĩa là gì, hẳn ai cũng thấy hoang mang. Khi những người yêu nước, vì công phẫn trước những thái độ uy hiếp ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc xuống đường biểu tình, bị chính quyền, cũng nhân danh lòng yêu nước, trấn áp, đánh đập, bắt bớ, sỉ nhục và bị xem như một “thế lực thù địch”, người ta không còn thấy đâu là ranh giới giữa yêu nước và bán nước nữa. Bài thơ “Lẫn lộn lung tung” của Bùi Giáng, làm trước năm 1975, có giá trị như một sự tiên tri:

Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây.

***

Chú thích:
1. Ví dụ này và ví dụ trên được dẫn lại từ bài “Dấu vết chiến tranh trong tiếng Việt” của Nguyễn Đức Dân trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 2.9.2012