Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Thảo Trường - Mặt Ðường


Thảo Trường

Thụ ôm gói đồ đứng tựa gốc cây chờ Hảo. Như thế cũng đã khá lâu. Mỗi khi một chiếc xích lô đạp chở đàn bà thong thả chạy qua, Thụ lại cúi người xuống chú ý nhìn vào những khuôn mặt đó để tìm cái vóc dáng quen thuộc của Hảo. Hảo hay mặc chiếc áo dài đỏ đi đón khách. Hảo bảo như thế cho khách quen dễ nhận.


Nhưng từ chập tối đến giờ, Thụ chờ Hảo, cũng vài lần mừng hụt vì những người đàn bà khác, cũng mặc áo đỏ. Thụ nghĩ rằng ở hoàn cảnh nào cũng có nhiều người muốn mình là  một trường hợp đặc biệt. Thụ nghĩ rằng nét đặïc biệt nhất của Hảo là càng dâm dật bao nhiêu khi đi đón khách thì càng chán chường bấy nhiêu khi đưa khách về tới căn buồng hành lạc.

Hôm đầu tiên gặp Hảo, Thụ còn nhớ rõ, sau khi thỏa thuận giá cả, Thụ bước lên xích lô ngồi cạnh Hảo, người phu xe vừa cài mảnh vải che mưa vào và trèo lên bắt đầu đạp, chiếc xe chuyển bánh, Hảo đã lần mò khắp mình mẩy Thụ hỏi :
- Có muốn ngay bây giờ không ?

Hai tay Thụ sờ soạng khắp thân hình Hảo, Thụ sỗ sàng nhưng cũng không lại với Hảo và Thụ phải nói “ Thôi để lát nữa về tới buồng đã” Hảo lắc đầu không chịu rồi vít đầu Thụ xuống hôn Thụ tàn nhẫn. Về tới căn buồng cho thuê, quen thuộc với Hảo nhưng là lần thứ nhứt với Thụ. Loại buồng cho thuê tính tiền hàng giờ, thì Hảo chán nản bảo Thụ:
-Em hết muốn rồi

Thụ thì lúc đó lại lồng lộn lên như con thú dữ. Thụ quặp chặt lấy Hảo vật Hảo ngã xuống giường, Hảo nằm bất động lơ đãng nhìn ngắm Thụ hành động. Sau một lát hung hăng, Thụ chợt nhận thấy sự hờ hững của Hảo, Thụ ngừng lại suy nghĩ rồi tặc lưỡi:
- Tôi cũng hết muốn rồi.

Hảo nằm yên xem Thụ mặc quần áo, lúc đó Hảo mới chú ý nhiều tới vết sẹo nơi bắp chân Thụ, Hảo nhỏm  dậy sờ vào chỗ sẹo của Thụ hỏi.
- Sao vậy Anh?

Thụ cáu kỉnh:
- Hỏi làm gì ?

Biết Thụ giận Hảo làm lành:
- Em xin lỗi. Tại em hay chán nản bất thường. Thôi tụi mình nói chuyện một lát, có hứng lại em sẽ đền anh. Cái gì cũng vậy, phải có hứng mà làm mới thích. Ai bảo anh lúc lên xích lô em đòi không chịu.

Thụ cầm chiếc giầy định mang vào chân, chợt Thụ nhìn thấy cái thẹo nơi mu bàn chân, Thụ sờ tay gãûi gãûi ở chỗ da nhăn bảo Hảo:
-Sẹo nữa đây này cũng bữa đó đấy.

Hảo ngồi sát lại Thụ:
-Sao vậy Anh?

Thụ quẳng chiếc giầy xuống đất, quàng tay sang ôm lấy thân hình trần truồng của Hảo:
-Hành quân dẫm phải chông và chỗ nãy bị một viên đạn bắn lén của tụi nó. Thôi mặc quần áo vào đi ra.

Hảo mân mê bàn chân Thụ:
-Kệ nó, em sắp muốn rồi, mặc vào cởi ra mắt công lắm. Ôm lấy em đi. Lần đó anh có đau lắm không?
-Sao không đau, khi bị hụt xuống hố chông, anh nằm vật mặt xuống đường, anh kêu lên thê thảm, mặt anh úp lên mặt đường và anh kịp nhìn rõ một tên núp trong bụi rậm đang dương súng bắn anh mà anh không có phản ứng gì được. Nhưng viên đạn của tên đó chỉ trúng vào chân anh. Anh đau đớn ngất đi vì hai vết thương.

Hảo vít cổ Thụ xuống hôn say đắm rồi nói:
- Tội nghiệp không, thôi bây giờ nằm xuống với em, em đền.

Thụ vùng đứng dậy
-Không
Rồi Thụ cầm đôi giầy lại chỗ chiếc ghế ngồi xuống mang vào chân, vừa thắt sợi dây vừa ngước mặt nhìn Hảo ngồi chồm hổm trên giường thiểu não nhìn Thụ. Hai tảng vú Hảo chảy dài xuống tội nghiệp.

Hảo nói:
- Anh chán rồi sao? Em không còn gì hấp dẫn nữa sao? Nhưng lúc này em muốn anh chứ không phải em làm tiền anh đâu.

Thụ lớn tiếng:
- Thôi mặc đồ vào. Tôi đến đây muốn mua cô một lát chứ tôi không muốn cô đền tôi. Vết thương này không ai đền được cả. Sự thiếu trống trong lòng tôi cũng không ai đền được cả. Cô mặc kệ tôi đi tìm lấy cho tôi những cần thiết. Tôi tìm không được thì kệ xác tôi.

Nói rồi Thụ móc túi quẳng cho Hảo mấy tờ giấy bạc. Thụ bước ra ngoài mặc Hảo với cái thân xác đang bồn chồn thức dậy của nàng.

Nhưng rồi lần nghĩ phép sau của Thụ, về đến thành phố gửi đồ tại nhà một người quen, tối đến Thụ lại đến ngã ba đường cũ tìm Hảo. Lần đó Thụ cũng phải chờ rất lâu. Gần khuya mới thấy Hảo ngồi trên xích lô với cái áo đỏ, người phu xe chậm chạp đạp. Hảo cũng nhận ra Thụ và Hảo cũng không hiểu sao nàng lại mừng rỡ gặp Thụ một cách lạ không có vẻ nghề nghiệp tí nào.

Thụ trèo lên xe, người phu xe cài chiếc phủ che mưa phía trước lên. Hảo lại xục xạo. Lần này Thụ đi tới và sự tìm kiếm của Thụ đã diễn ra và kết thúc ngay phút chốc trên xe. Người phu xe đạp được một quãng chưa về tới căn phòng thì Thụ đòi xuống. Thụ bảo Hảo:
-Thôi thế đủ rồi, bây giờ mình xuống đây “đớp” cái gì cho khỏi đói.

Thụ và Hảo sau khi trả tiền xe khoác tay nhau vào tiệm ăn. Lúc ăn Thụ hỏi Hảo sao hôm nay ra trễ thế thì Hảo trả lời hồi chập tối Hảo đã ra rồi và đã đi một chuyến nhưng gặp một thằng khốn nạn lâu quá nên mới trở lại ngã ba muộn thế.

Mỗi lần nghỉ phép, từ những miền đồng ruộng khói lửa về thành phố, Thụ đều đi đến địa điểm này kiếm Hảo.

Lần này Thụ cũng phải chờ rất lâu. Hai chân Thụ đã mỏi nhừ, Thụ ôm gói đồ đứng dựa thân cây nhìn khúc đường sâu thăm thẳm, những bóng tối chập choạng bóng cây, những căn nhà im lìm, ẩn núp. Mặt đường nhựa bóng loáng, mưa lất phất và gió thổi ngang mặt. Thụ nhìn mặt đường rồi sờ tay lên đầu, vết sẹo mới còn da non. Cái  sẹo này mới có cách đây hơn nữa tháng, cũng tại chỗ này, tại cái ngã ba đường này. “Ðồ khốn nạn!” Thụ chửi thầm thế.

Hôm đó Thụ được nghĩ phép và đến thành phố nghe tin có biểu tình. Thụ đi lang thang xem. Rồi cũng không hiểu có phải vì tình cờ, Thụ bước tới ngã ba này. Ðúng rồi tại chỗ góc kia, dưới gốc cây, bên cạnh một cột đèn. Ðám biểu tình đang đánh nhau với một đám đông khác. Thụ đứng xem, những khúc cây, những chiếc dùi. những thanh mã tấu, những sợi xích vung lên và những nguời ngã quỵ. Thụ đã chứng kiến cảnh hãi hùng đó và một lúc thật bất ngờ Thụ cũng bị một cây dáng trúng đầu quỵ xuống gốc cột đèn, máu ra lênh láng. Trước khi ngất đi Thụ còn kịp nhận thấy những tiếng chân chạy huỳnh huỵch trên đường dẫm cả lên người Thụ, Thụ còn nhìn thấy mặt đường trải rộng mênh mông nhốn nháo.

Khi tỉnh dậy Thụ thấy mình nằm trên giường bệnh viện, đầu băng kín. Cô y tá bước tới và Thụ cảm thấy nhói ở óc. Thụ được Cô y tá cho biết  Thụ ngất đi từ chiều hôm qua và lúc này là buổi sáng ngày hôm sau. Như thế Thụ đã mê man gần một ngày. Cô y tá cũng cho Thụ biết sau khi Thụ bị đánh bể đầu, Thụ được đưa vào bệnh viện và sau đó xem giấy tờ mới biết Thụ là quân nhân nên Thụ được chuyển sang bệnh viện quân đội, cô y tá này lần trước đã săn sóc cho Thụ. Cô cười hỏi Thụ:
- Ông đến đây lần này là lần thứ hai. Lần trước thì bị thương ngoài mặt trận, lần này thì bị đánh tại thành phố. Ông xui quá hé?

Thụ nằm im sờ những sợi râu trên cằm nghĩ ngợi. Thu cũng chẳng hiểu tại sao mình bị đánh. Thụ phải nằm nhà thương mất 14 ngày. Trong thời gian đó có rất nhiều người đến uỷ lạo nạn nhân trong biến cố vừa qua. Người ta cho Thụ mười ngàn bạc với xà phòng , khăn mặt, thuốc lá, bánh kẹo và những tượng ảnh Chúa, Phật, những sách kinh và những lời an ủi, những lời ca ngợi. Họ kể cho Thụ nghe những sự cao cả của Thượng Ðế, những quyến rũ của tôn giáo họ. Thụ nằm im không thái độ và cũng không cám ơn. Tất cả những tiền và tặng phẩm, Thụ gói cả lại và hôm nay Thụ mang đến đây đến ngã ba này, đến cái địa điểm kiếm đĩ này, tìm Hảo và Thụ sẽ đưa Hảo hết những thứ đó, vì Thụ không biết đưa ai. Thụ nghĩ rằng chỉ còn có cách đưa Hảo may ra có ích gì cho Hảo chăng. Thụ cũng không có ý định đưa Hảo với một hy vọng Hảo sẽ dùng số tiền này để làm lại cuộc đời. Thụ biết Hảo là một thứ đĩ theo ý thích, nó không thể bỏ được cái tính đĩ thỏa của nó thì dù có nhiều tiền Hảo vẫn đĩ. Thụ tìm Hảo để trút những đồng tiền này cho Hảo, những món quà này cho Hảo, như những lần Thụ đã trút những khổ đau dằn vặt sang Hảo trong những khoảnh khắc trước kia. Thụ không thể giữ những thứ này cho Thụ, tiền này không phải của Thụ, thuốc lá khăn mặt này không phải của Thụ. Nhưng thứ này là của chúng nó. Chúng nó đã đánh đập anh, Hảo ơi, rồi chúng nó lại xoa dịu anh. Chúng nó nhân danh Thượng đế của chúng nó để hò nhau đi đánh đập nhau, giết chóc nhau. Chúng nó đã dối trá và lừa bịp mọi người. Anh không chấp nhận chúng nó. Anh tuyên án chúng nó bằng hành động này đây. Chúng nó đừng nghĩ rằng chúng nó mang Thượng Ðế của chúng nó ra là che đậy được tất cả. Chúng nó đừng tưởng rằng chúng nó có thể đền bù được vết thương trên đầu anh đâu. Chúng nó cũng đừng tưởng rằng chúng nó có thể ủy lạo anh bằng những lời ngon ngọt. Không, không bao giờ có ai có thể hàn gắn được vết thương trên đầu anh. Vết sẹo còn đây. Sự đau khổ còn đầy dẫy ra đó. Ngay bây giờ chúng nó đã bị kết án bằng cách đánh giá những sự đền bù của chúng nó đem dục cho em, cho một con đĩ.

Hảo ơi ! Em biết không. Chúng nó làm sao mà được an thân thờ phượng Thượng Ðế của chúng nó không? Hảo ơi, em có biết vì ai mà chúng nó có được an thân ngang nhiên hò hét đả đảo không? Chính vì những vết thương dưới chân anh này. Anh đã đi giết thù địch, anh đã dẫm phải chông của thù địch, anh đã bị thù địch nhắm bắn, chỉ vì ai em biết không?    Chỉ vì tín ngưỡng của chúng nó. Chỉ vì cho em yên ổn làm đĩ. Hảo ơi truớc đây anh không tin một ông thượng đế nào cả. Anh cũng không yêu em. Thế nhưng vì sự bạo hành của chúng nó, vì trên đời này không có ai đàn áp chúng nó mà chính chúng nó đã đàn áp nhau và đàn áp luôn cả Thượng đế của chúng nó nên anh sẽ yêu thương các ông ta từ hôm nay. Anh cũng sẽ yêu thương em thực sự từ hôm nay vì anh mới khám phá ra rằng anh đã dẫm lên bàn chông thù địch để ít ra cũng cho em được yên ổn làm đĩ.

Hảo ơi, chỉ có bấy nhiêu thôi. Ngoài ra chẳng còn có cái gì ý nghĩa trong cái thành phố này cả, trên cái mảnh đất khẳng khiu này cả. Liệu anh có thể làm gì cho em được không? Liệu anh có thể giúp gì cho mấy ông Thượng đế không? Hay là rồi anh cũng sẽ bị em phụ bạc? Hay là rồi anh cũng sẽ lại cùng các Thượng đế bị chúng nó đàn áp?

Hảo ơi ! Tiền đây, tặng phẩm đây, em có dùng không. Anh sẽ đưa em tất cả. Những thứ này không phải của anh. Những thứ này của chúng nó. Anh không bán máu anh cho những tên thầy tu lang sói. Anh không bán thân anh cho chúng nó dùng làm vật liệu giả ân giả nghĩa kích thích lòng thù hằn. Anh không thể nhận những thứ này để chúng bó trang trí lòng bác ái và hỉ xả của chúng nó.

Hảo ơi! Vết sẹo ở dưới chân anh còn có lý do của nó. Tại vì anh không đồng ý cho chúng nó có mặt ở miền Nam này nên anh đã lội đi tìm chúng nó giết đi. Thế nên chúng nó đặt chông bẫy anh, thế nên chúng nó nhắm bắn anh. Ðiều đó còn có thể giải thích được. Sự có mặt của những vết sẹo dưới chân anh là hợp lý!

Nhưng còn vết sẹo trên đầu anh. Hảo ơi! Ai đã tạo nên? Ðứa nào đã đánh đập anh. Sự đau đớn lần bị thương thứ nhì này không chỉ ở vết thương mà còn rướm máu ở trong tâm hồn anh. Ai đánh đập anh?
Ðứa nào em biết không? Chính là những người trong hàng xóm của chúng ta: chính là những người trong thành phố này. Chính là anh em chúng ta. Tại sao hả? Tại vì nơi đây họ không tìm thấy kẻ thù. Tại vì chúng nó không có đối tượng để thù nghịch nhau. Chúng nó nhìn quanh. Chúng nó tìm quanh  Kẻ thù không có ở đây, nhưng chúng nó thèm một sự phản kháng, thèm một sự vùng dậy. Chúng nó thèm chống đối, thèm bạo động.

Hảo ơi! Thế đấy! Chính vì thế đấy mà anh có vết sẹo trên đầu anh đây. Vết sẹo to bằng hai ngón tay trắng hếu một mảng đầu. Nó có mặt thực sự trên đầu anh như sự có mặt thực sự của những oán thù và đố kỵ trên xứ sở này. Vết sẹo có thực trên đầu anh là một tố cáo hùng hồn tội ác của chúng nó. Thân xác anh đã hai lần bị thương với  ba vết sẹo là một thương tích điên khùng nhất, khốn nạn nhất của cái thời đại này.

Hảo ơi ! sao bây giớ em chưa đến đây. Sắp nửa đêm rồi. Chúng ta đâu có thể gặp nhau sau nửa đêm. Sau lệnh giới nghiêm. Em hãy đến đây với anh. Anh tuyệt vọng tất cả, anh bị lợi dụng tất cả, anh đã đổ máu vô ích. Chúng nó đã dày xéo lên thân xác và linh hồn anh. Chúng nó còn gớm ghiếc hơn cả những quỷ dữ trong sách kinh của chúng nó. Anh chẳng còn điểm tựa nào để bám víu vào mà tiến bước không nề hà chông gai, ngoài em. Chỉ còn có một niềm tin mong manh là em. Em hãy đến với anh đi. Gần 12 giờ đêm rồi. Hảo ơi! đến với anh và nhận những thứ tiền và quà gớm ghiếc này. Cả những mẫu ảnh nữa. Cả những sách kinh nữa. Cả cái tình yêu súc vật này nữa.

Thụ ngồi xuống hè đường , gói đồ rơi bên cạnh. Mưa rơi, Phố buồn. Ngọn đèn vàng dội xuống mặt nhựa ướt bóng . Ðường dài sâu hút. Thụ nhìn về cuối đường chờ một hình ảnh quen thuộc. Trong đêm.

Sàigòn,  03-10-1964

Hà Tường Cát - Hải quân Trung Quốc chưa đáng ngại ở biển Ðông


Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)

Người ta đã nói nhiều đến nỗ lực phát triển hải quân của Trung Quốc trong hai thập kỷ vừa qua và hiện nay tình trạng căng thẳng trên biển Ðông do những hành động gây hấn của nước lớn này khiến có sự lo ngại xung đột có thể xảy ra trong khu vực.


Tuy nhiên, theo phân tích và nhận định của nhiều quan sát viên quốc tế, mặc dầu với lực lượng áp đảo, khả năng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ bành trướng có nhiều giới hạn về chính trị, ngoại giao cũng như thực lực của Trung Quốc.

Các chuyên gia quân sự thế giới đánh giá hải quân Trung Quốc vẫn còn ở chừng mực “hạm đội duyên hải,” chưa đủ khả năng hoạt động viễn dương. Hiện nay, hải quân Trung Quốc có khoảng 70 tàu chiến thuộc hạng khu trục hạm hay hộ tống hạm và 60 tàu ngầm trong đó có 10 tàu ngầm nguyên tử. Tàu dân sự hay bán quân sự, kiểu như các tàu hải giám, có thể hỗ trợ khi có chiến tranh, ngoài ra hàng chục ngàn tàu đánh cá là một thứ “dân quân trên biển” thi hành được nhiều công tác, nhưng tất nhiên cũng chỉ trong phạm vi cận duyên hay nhiều lắm là ở một phần biển Ðông.

Chiếc hàng không mẫu hạm Variag cũ của Liên Xô hạ thủy từ năm 1988 mà Trung Quốc mua lại của Ukraine 10 năm sau trong tình trạng giải giới hoàn toàn chỉ còn là một thân tàu trống, được kéo về và sau đó tân trang hoàn toàn tại quân cảng Ðại Liên. Năm ngoái, Variag - tên mới chưa chính thức là Thi Lang - đã bắt đầu chạy thử chuyến đầu tiên. Cuối Tháng Tám vừa qua, báo chí Trung Quốc ồn ào loan tin Thi Lang chuẩn bị bước vào đợt thử nghiệm thứ 10.

Nhưng phóng viên David Lague của hãng thông tấn Reuters cho rằng chiếc hàng không mẫu hạm Trung Quốc chỉ “hữu danh vô thực”. Theo ông, Thi Lang chưa có phi đội máy bay chiến đấu, trang bị vũ khí và thiết bị điện tử cần thiết cho hoạt động chiến đấu và nhất là còn thiếu việc huấn luyện nhân sự cũng như khả năng yểm trợ từ tiếp vận. Hơn nữa, một hàng không mẫu hạm không thể hoạt động đơn lẻ mà phải ở trong một hải đội bao gồm các chiến hạm hộ tống và tàu tiếp tế.

Trung Quốc muốn mua máy bay Su-33 của Nga để trang bị cho mẫu hạm, nhưng chỉ đồng ý điều kiện mua một số ít trong khi Nga đòi hỏi phải mua toàn thể một phi đội vì hiểu rằng Trung Quốc sẽ sao chép kiểu mẫu để tự chế tạo. Thỏa thuận không đạt được và Trung Quốc cho biết sẽ dùng máy bay chiến đấu J-15 do xưởng Shenyang sản xuất, dựa theo mẫu từ một chiếc Su-33 chưa hoàn hảo đã mua lại được của Ukraine.

Trước sự quan tâm của Tây phương đối với chương trình bành trướng hải quân, Trung Quốc nói rằng mẫu hạm của họ chỉ nhằm sử dụng vào mục tiêu huấn luyện. Lời giải thích ấy có thể là đúng vì cho đến nay hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa có kiến thức nào về lãnh vực vũ khí này.

Vả lại, mẫu hạm Thi Lang, trọng tải 60,000 tấn, nguyên thủy theo quan niệm chế tạo của Liên Xô là một tuần dương hạm mang máy bay (aircraft-carrying cruiser) với sứ mạng chiến lược không hoàn toàn giống như tàu sân bay kiểu Mỹ (aircraft carrier). Thi Lang chỉ có thể trang bị khoảng 20 máy bay chiến đấu, đường cất cánh kiểu “ski jump” cong lên ở mũi tàu không có hệ thống máy phóng (catapult) nên máy bay không thể mang theo nhiều bom đạn nặng.

Ông Scott Cooper, một chuyên gia quân sự thuộc Bộ Quốc Phòng Úc, không tin rằng Trung Quốc có chương trình phát triển hàng không mẫu hạm như Hải Quân Hoa Kỳ, dù rằng họ có dự án tự đóng thêm ít nhất hai hàng không mẫu hạm khác. Theo ông, Trung Quốc chưa đủ khả năng chế tạo những siêu mẫu hạm nguyên tử thế hệ Nimitz như Hoa Kỳ đang sử dụng hiện nay và phải nhiều chục năm nữa hải quân Trung Quốc mới có thể sử dụng đủ hiệu quả những hệ thống vũ khí này. Ông cũng cho là Trung Quốc sẽ chưa có tham vọng cạnh tranh quyền bá chủ đại dương trong tương lai gần, và nếu phải đụng độ với Hải quân Hoa Kỳ, chỉ cần dùng tàu ngầm và hỏa tiễn.

Do đó, ông Cooper cho rằng hàng không mẫu hạm của Trung Quốc vào lúc này nhắm đến mục tiêu chính trị hơn là quân sự và là sự biểu dương đối với các nước láng giềng Châu Á. Ngay cả chiến tranh với Ðài Loan cũng không cần tới hàng không mẫu hạm vì máy bay đặt căn cứ ở lục địa có thể là đủ. Nhưng nếu xung đột trên biển Ðông ở Hoàng Sa hay Trường Sa thì máy bay từ mẫu hạm sẽ có thể hoạt động hiệu quả hơn vì tầm hoạt động quá xa, máy bay từ đất liền không thể yểm trợ chiến trận trong một thời gian dài được.

Tuy vậy, Hải Quân Trung Quốc sẽ không dễ dàng trong những xung đột trên biển Ðông. Nếu Philippines đến bây giờ chưa đủ lực lượng đương đầu với Trung Quốc dù là chỉ xung đột nhỏ trong thời gian ngắn thì từ 5 năm nay, tiềm lực quân sự của Việt Nam đã gia tăng rất nhiều. Tờ China Review News ở Trung Quốc nhận định rằng trong năm quốc gia Ðông Nam Á ở biển Ðông - Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei - thì lực lượng quân sự của Việt Nam, đặc biệt là hải quân, có khả năng công cũng như thủ toàn diện và mạnh nhất. Nga đã bán cho Việt Nam nhiều hệ thống vũ khí phòng thủ cũng như tấn công hiện đại, bao gồm chiến hạm gắn hỏa tiễn loại Gepard, Molnya, và sắp tới là tàu ngầm lớp Kilo. Tầm hoạt động của máy bay chiến đấu đặt căn cứ ở các sân bay Biên Hòa, Phan Rang, Cam Ranh... bao trùm biển Ðông, với Su-30MKV là loại máy bay chuyên dụng chiến đấu trên biển cũng như hỏa tiễn chống chiến hạm Yakhont từ bờ biển Phan Thiết có tầm bắn tới Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong những điều kiện ấy, Hải Quân Trung Quốc không sẵn sàng để có thể lấn chiếm một số đảo như ở Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Vả lại, Hải Quân Trung Quốc không có lực lượng thủy quân lục chiến và chiến hạm đổ bộ sẵn sàng. Các trang mạng chuyên về quân sự quốc tế cho biết Trung Quốc đang cố gắng phát triển loại tàu đổ bộ chạy trên đệm khí LCAC. Việc chiếm các đảo nhỏ và bãi đá ở Trường Sa không thể sử dụng loại tàu đổ bộ kiểu cổ điển dễ bị mắc cạn, nên cần đến tàu chạy trên đệm khí hoặc sử dụng trực thăng. Nhưng Trung Quốc hiểu rõ rủi ro khi đụng độ với Việt Nam, vì vậy những thái độ khiêu khích và gây hấn cho đến nay chưa hẳn là một dấu hiệu phát triển tới xung đột, trong khi về phía các nước Ðông Nam Á như Việt Nam và Philippines vẫn luôn luôn kềm chế phản ứng tránh hành động khơi mào cho chiến tranh.

Cuối cùng thì dù với hệ thống vũ khí nào và số lượng bao nhiêu, yếu tố căn bản vẫn là con người, sử dụng như thế nào và kết quả ra sao không ai có thể dự đoán chính xác. Có lẽ Trung Quốc cũng như các nước Ðông Nam Á ý thức được thực tế ấy, và xung đột không phải là giải pháp hiệu quả nhất để chắc chắn giải quyết dứt khoát các tranh chấp.(tổng hợp)



HOA KỲ -Người ta đã nói nhiều đến nỗ lực phát triển hải quân của Trung Quốc trong hai thập kỷ vừa qua và hiện nay tình trạng căng thẳng trên biển Ðông do những hành động gây hấn của nước lớn này khiến có sự lo ngại xung đột có thể xảy ra trong khu vực.

Tuy nhiên, theo phân tích và nhận định của nhiều quan sát viên quốc tế, mặc dầu với lực lượng áp đảo, khả năng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ bành trướng có nhiều giới hạn về chính trị, ngoại giao cũng như thực lực của Trung Quốc.

Các chuyên gia quân sự thế giới đánh giá hải quân Trung Quốc vẫn còn ở chừng mực “hạm đội duyên hải,” chưa đủ khả năng hoạt động viễn dương. Hiện nay, hải quân Trung Quốc có khoảng 70 tàu chiến thuộc hạng khu trục hạm hay hộ tống hạm và 60 tàu ngầm trong đó có 10 tàu ngầm nguyên tử. Tàu dân sự hay bán quân sự, kiểu như các tàu hải giám, có thể hỗ trợ khi có chiến tranh, ngoài ra hàng chục ngàn tàu đánh cá là một thứ “dân quân trên biển” thi hành được nhiều công tác, nhưng tất nhiên cũng chỉ trong phạm vi cận duyên hay nhiều lắm là ở một phần biển Ðông.

Chiếc hàng không mẫu hạm Variag cũ của Liên Xô hạ thủy từ năm 1988 mà Trung Quốc mua lại của Ukraine 10 năm sau trong tình trạng giải giới hoàn toàn chỉ còn là một thân tàu trống, được kéo về và sau đó tân trang hoàn toàn tại quân cảng Ðại Liên. Năm ngoái, Variag - tên mới chưa chính thức là Thi Lang - đã bắt đầu chạy thử chuyến đầu tiên. Cuối Tháng Tám vừa qua, báo chí Trung Quốc ồn ào loan tin Thi Lang chuẩn bị bước vào đợt thử nghiệm thứ 10.

Nhưng phóng viên David Lague của hãng thông tấn Reuters cho rằng chiếc hàng không mẫu hạm Trung Quốc chỉ “hữu danh vô thực”. Theo ông, Thi Lang chưa có phi đội máy bay chiến đấu, trang bị vũ khí và thiết bị điện tử cần thiết cho hoạt động chiến đấu và nhất là còn thiếu việc huấn luyện nhân sự cũng như khả năng yểm trợ từ tiếp vận. Hơn nữa, một hàng không mẫu hạm không thể hoạt động đơn lẻ mà phải ở trong một hải đội bao gồm các chiến hạm hộ tống và tàu tiếp tế.

Trung Quốc muốn mua máy bay Su-33 của Nga để trang bị cho mẫu hạm, nhưng chỉ đồng ý điều kiện mua một số ít trong khi Nga đòi hỏi phải mua toàn thể một phi đội vì hiểu rằng Trung Quốc sẽ sao chép kiểu mẫu để tự chế tạo. Thỏa thuận không đạt được và Trung Quốc cho biết sẽ dùng máy bay chiến đấu J-15 do xưởng Shenyang sản xuất, dựa theo mẫu từ một chiếc Su-33 chưa hoàn hảo đã mua lại được của Ukraine.

Trước sự quan tâm của Tây phương đối với chương trình bành trướng hải quân, Trung Quốc nói rằng mẫu hạm của họ chỉ nhằm sử dụng vào mục tiêu huấn luyện. Lời giải thích ấy có thể là đúng vì cho đến nay hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa có kiến thức nào về lãnh vực vũ khí này.

Vả lại, mẫu hạm Thi Lang, trọng tải 60,000 tấn, nguyên thủy theo quan niệm chế tạo của Liên Xô là một tuần dương hạm mang máy bay (aircraft-carrying cruiser) với sứ mạng chiến lược không hoàn toàn giống như tàu sân bay kiểu Mỹ (aircraft carrier). Thi Lang chỉ có thể trang bị khoảng 20 máy bay chiến đấu, đường cất cánh kiểu “ski jump” cong lên ở mũi tàu không có hệ thống máy phóng (catapult) nên máy bay không thể mang theo nhiều bom đạn nặng.

Ông Scott Cooper, một chuyên gia quân sự thuộc Bộ Quốc Phòng Úc, không tin rằng Trung Quốc có chương trình phát triển hàng không mẫu hạm như Hải Quân Hoa Kỳ, dù rằng họ có dự án tự đóng thêm ít nhất hai hàng không mẫu hạm khác. Theo ông, Trung Quốc chưa đủ khả năng chế tạo những siêu mẫu hạm nguyên tử thế hệ Nimitz như Hoa Kỳ đang sử dụng hiện nay và phải nhiều chục năm nữa hải quân Trung Quốc mới có thể sử dụng đủ hiệu quả những hệ thống vũ khí này. Ông cũng cho là Trung Quốc sẽ chưa có tham vọng cạnh tranh quyền bá chủ đại dương trong tương lai gần, và nếu phải đụng độ với Hải quân Hoa Kỳ, chỉ cần dùng tàu ngầm và hỏa tiễn.

Do đó, ông Cooper cho rằng hàng không mẫu hạm của Trung Quốc vào lúc này nhắm đến mục tiêu chính trị hơn là quân sự và là sự biểu dương đối với các nước láng giềng Châu Á. Ngay cả chiến tranh với Ðài Loan cũng không cần tới hàng không mẫu hạm vì máy bay đặt căn cứ ở lục địa có thể là đủ. Nhưng nếu xung đột trên biển Ðông ở Hoàng Sa hay Trường Sa thì máy bay từ mẫu hạm sẽ có thể hoạt động hiệu quả hơn vì tầm hoạt động quá xa, máy bay từ đất liền không thể yểm trợ chiến trận trong một thời gian dài được.

Tuy vậy, Hải Quân Trung Quốc sẽ không dễ dàng trong những xung đột trên biển Ðông. Nếu Philippines đến bây giờ chưa đủ lực lượng đương đầu với Trung Quốc dù là chỉ xung đột nhỏ trong thời gian ngắn thì từ 5 năm nay, tiềm lực quân sự của Việt Nam đã gia tăng rất nhiều. Tờ China Review News ở Trung Quốc nhận định rằng trong năm quốc gia Ðông Nam Á ở biển Ðông - Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei - thì lực lượng quân sự của Việt Nam, đặc biệt là hải quân, có khả năng công cũng như thủ toàn diện và mạnh nhất. Nga đã bán cho Việt Nam nhiều hệ thống vũ khí phòng thủ cũng như tấn công hiện đại, bao gồm chiến hạm gắn hỏa tiễn loại Gepard, Molnya, và sắp tới là tàu ngầm lớp Kilo. Tầm hoạt động của máy bay chiến đấu đặt căn cứ ở các sân bay Biên Hòa, Phan Rang, Cam Ranh... bao trùm biển Ðông, với Su-30MKV là loại máy bay chuyên dụng chiến đấu trên biển cũng như hỏa tiễn chống chiến hạm Yakhont từ bờ biển Phan Thiết có tầm bắn tới Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong những điều kiện ấy, Hải Quân Trung Quốc không sẵn sàng để có thể lấn chiếm một số đảo như ở Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Vả lại, Hải Quân Trung Quốc không có lực lượng thủy quân lục chiến và chiến hạm đổ bộ sẵn sàng. Các trang mạng chuyên về quân sự quốc tế cho biết Trung Quốc đang cố gắng phát triển loại tàu đổ bộ chạy trên đệm khí LCAC. Việc chiếm các đảo nhỏ và bãi đá ở Trường Sa không thể sử dụng loại tàu đổ bộ kiểu cổ điển dễ bị mắc cạn, nên cần đến tàu chạy trên đệm khí hoặc sử dụng trực thăng. Nhưng Trung Quốc hiểu rõ rủi ro khi đụng độ với Việt Nam, vì vậy những thái độ khiêu khích và gây hấn cho đến nay chưa hẳn là một dấu hiệu phát triển tới xung đột, trong khi về phía các nước Ðông Nam Á như Việt Nam và Philippines vẫn luôn luôn kềm chế phản ứng tránh hành động khơi mào cho chiến tranh.

Cuối cùng thì dù với hệ thống vũ khí nào và số lượng bao nhiêu, yếu tố căn bản vẫn là con người, sử dụng như thế nào và kết quả ra sao không ai có thể dự đoán chính xác. Có lẽ Trung Quốc cũng như các nước Ðông Nam Á ý thức được thực tế ấy, và xung đột không phải là giải pháp hiệu quả nhất để chắc chắn giải quyết dứt khoát các tranh chấp.

Trịnh Hội - Ðêm nguyện cầu

Trịnh Hội

Cũng lâu. Lâu lắm rồi tôi mới đi cầu nguyện. Chắc cũng phải mười mấy năm rồi. Từ năm 1999 khi tôi cùng nhóm bạn luật sư ở Hồng Kông tham dự đêm thắp nến tưởng niệm lần thứ mười ngày đẫm máu 4 tháng 6 ở Thiên An Môn.



Mới thấy đó mà đã hơn 13 năm rồi.

Tôi ít khi đi biểu tình, thắp nến cầu nguyện. Có lẽ vì lớn lên ở Úc tôi thấy có nhiều cách để người dân nói lên tiếng nói phản kháng của họ. Viết bài. Viết báo. Hay tự đến gặp dân biểu trình bày ý kiến của mình. Nếu cần thiết, có thể thành lập hội đoàn, các tổ chức đứng ra trực tiếp tranh đấu cho những vấn đề mình quan tâm. Bất kể đó là vấn đề gì. Công hay tư.

Liên quan đến nơi mình đang sinh sống hay ở một xứ xa xôi nào đó.

Bất cứ lúc nào những người dân thường như tôi cũng được cho cơ hội để nói, để bàn cãi. Vấn đề quan trọng ở chỗ mình có trình bày hay, mạch lạc đủ để mấy ông lớn sẵn lòng lắng nghe và thay đổi quan niệm, chính sách của họ hay không. Chứ chẳng có ai cấm cản hay tuyệt đối hoàn toàn không có ‘cửa’ để trình bày.

Tôi ít khi đi biểu tình, thắp nến cầu nguyện là vì thế.

Bởi vậy trong suốt gần hai thập niên qua, có lẽ tôi chỉ tham gia được một vài buổi biểu tình. Mà phần lớn đều liên quan đến chuyện…người ta.

Chuyện cựu Tổng Thống Estrada tham nhũng đến độ bị người dân Phi lật đổ. Hay chuyện những nhà lãnh tụ cộng sản đại tài ở Bắc Kinh cho xe tăng vào Thiên An Môn giết một loạt sinh viên của nước mình để đỡ nhức đầu, cho xong chuyện.

Chứ chuyện nhà, những chuyện liên quan đến biểu tình đối với các vấn đề ở Việt Nam thú thật tôi ít khi tham gia. Mãi cho đến hôm tuần trước khi tôi cùng một số bạn bè Việt Nam quyết định đi biểu tình thắp nến cầu nguyện ở thủ đô Manila để cùng phản đối chính sách ‘du côn’ của Trung Quốc trên biển Đông. Mà chúng tôi, cả Việt Nam lẫn người dân Phi Luật Tân có mặt ngày hôm đó gọi vắn tắt là ‘Chinese bullying’.

Không có chữ nào ngắn gọn và chính xác bằng chữ này. Và cũng không có từ nào nói rõ hơn cái thói ỷ mạnh, hiếp yếu, chuộng võ lực của những kẻ từ phương Bắc. Nếu họ đã dám ra lệnh giết chết chính những người con ưu tú của họ, để cả một thế hệ lớn lên trong sợ hãi, hoàn toàn mất đi sự phản kháng cần phải có của tuổi trẻ thì chắc chắn một điều, người Việt Nam hay người Phi Luật Tân, những lợi ích quốc gia của các nước láng giếng, có chính đáng hay không, chẳng là gì trong mắt họ.

Không phải ngẫu nhiên mà từ ngàn xưa họ đã tự đặt cho mình cái tên: Trung Quốc. Một quốc gia đứng ngay giữa. Là cái rốn của vũ trụ. Tất cả đều phải quay quanh họ.

Cũng may là thế giới này tròn chứ chẳng phải vuông như họ tưởng. Cũng may là thế giới này sẽ tiếp tục tự nó quay tròn chứ chẳng phải xuôi theo bất kỳ thế lực nào. Cho dù nó có mạnh đến bao nhiêu.

Cũng may là trên thế giới này còn rất nhiều người sẵn sàng đứng lên đáp trả cái tính du côn ngày càng hung hãn của họ. Như tôi đã chia xẻ với những người Phi tham dự trong đêm hôm ấy.

Tôi đã chia xẻ là tôi cảm thấy rất vinh dự (honored) và may mắn (blessed) được tham dự. Tôi cảm thấy vinh dự vì hôm đó đã có rất nhiều người Phi, những người thành công trong xã hội đến góp mặt, từ ca sĩ Gary V đình đám, các mục sư, đức giám mục nổi tiếng, cho đến dân biểu, cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Roilo Golez, thượng nghị sĩ trẻ Cayetano, các ca đoàn, hội đoàn USPGG (US Pinoys for Good Governance) dưới sự điều động và dẫn dắt của một trong những nữ thương gia thành công nhất của nước Phi, bà Loida Lewis.   

Tôi bảo ước chi những người đang cầm quyền ở nước tôi cũng tạo điều kiện cho người dân được giải bày như thế. Để không chỉ có một vài trăm người dám nói, dám làm, dám xuống đường bất kể khó khăn mà nó sẽ là dịp để tất cả mọi thành phần trong xã hội Việt Nam từ ca sĩ, diễn viên, cho đến các thương gia, sinh viên, học sinh, các thầy, các cha… được một lần nói rõ cho Bắc Kinh biết là dân tộc Việt Nam không bao giờ và chưa bao giờ khiếp sợ trước cái thói du côn, du đãng của họ.

Tôi cũng bảo tôi cảm thấy may mắn vì trong cùng một ngày những người dân Phi hiền hòa đã cho tôi thấy sự phản đối rất có chừng, có mực của họ. So với thái độ hung hãn, chen đẩy, xô lấn, để lật cho được một chiếc xe hơi chỉ vì nó mang nhãn hiệu ‘Made in Japan’, của những người Trung Quốc phản đối việc một số người Nhật có mặt trên một quần đảo mà họ hiện đang tranh chấp với Nhật.

Hình ảnh này đã được chiếu đi, chiếu lại nhiều lần trên CNN.

Nghĩ cũng lạ. Mình cho tàu, cho lính đi qua một quần đảo khác, một nơi đang có nhiều quốc gia tranh chấp, để bắt họ, giết họ, sau đó lấy bảo là của mình thì… OK. Nhưng có một ai đó, một dân tộc nào đó dám đứng lên mạnh miệng bảo rằng: không, quần đảo đó không phải là của bạn thì ngay lập tức bạn dở thói côn đồ, hung hãn, nhảy đổng vào chửi rủa thậm tệ.
Ủa? Vậy là sao?

Lời cuối cùng tôi chia xẻ trong ngày hôm ấy cũng là lời cầu nguyện và hy vọng của chính tôi. Đó là chúng ta sẽ xử dụng luật quốc tế, dùng tòa án quốc tế để giải quyết những xung đột quốc tế. Chúng ta không nên và không thể đàm phán song phương khi đây không phải là một vấn đề song phương. Chưa kể đến cái thế của những nước nhỏ, yếu kém về cả tài chính lẫn quân sự, khi chúng ta đồng ý đàm phán song phương điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đồng ý để họ chia rẽ chúng ta. Để chiến thắng chúng ta.

Divide then Conquer.

Đó là ý đồ của họ. Là chính sách của họ. Là lý do tại sao họ nhất quyết từ chối sự tham gia của các cơ quan, tòa án quốc tế để giải quyết những tranh chấp trên biển Đông.

Vì vậy, chúng ta cần phải đoàn kết. Hơn bao giờ hết, dân tộc Việt Nam và dân tộc Phi Luật Tân cần phải đoàn kết trước hiểm họa chung. Một hiểm họa xuất phát từ một chế độ độc tài, độc đảng sinh ngạo mạn, lỗ mãng.

Phạm Quốc Bảo - Nhục Vinh


Phạm Quốc Bảo 

“Nhục vinh vinh nhục đối đầu
cho ta sống trọn trước sau một đời.
Nếu toàn mạc mặt đãi bôi
thì ai trân trọng đắp bồi mãi đây? ”

- Ông có phải tên Nam không?

- …Nhìn khuôn mặt ông,tôi thấy ngờ ngợ.

- Có lẽ cũng phải trên bốn mươi năm rồi, chúng ta chưa gặp lại nhau…Hưng. Hưng ‘tốc’ đây!

- Ối! Thật không thể ngờ.

- Tôi già đến độ chẳng nhận ra được sao?

- Gớm! Làm cứ như ‘ông’ lớn hơn tôi nhiều lắm vậy…Có điều, lẽ ra chúng ta đã phải gặp lại nhau trong gần ba chục năm nay rồi chứ! Thế mà…

- Lẽ ra vậy. Nhưng từ ngày qua đây,tôi cứ chết rí mãi ở một thị trấn nhỏ vùng đông- bắc. Xin lỗi trước: Quả thật, thâm tâm tôi cũng không muốn gặp mặt bất cứ ai là bạn cũ trước Bảy Lăm.

- Nhưng còn bây giờ?

- Về hưu rồi. Con cháu thì vì công ăn việc làm và tâm tình của chúng mà tứ tán khắp nơi. Vợ tôi nhất định đòi về ở dưới Nam Cali này để được gần gũi anh chị em, họ hàng… Anh có gì bận bịu ngay bây giờ không?

- Chẳng có gì gấp cả.

- Thì mình vào cái quán kia, nhâm nhi với nhau một ly cà phê?… Sao, bạn sang năm nào?

- Sau Bẩy Lăm tôi ở tù trên năm năm, ốm xuýt chết một năm rưỡi họ mới thả ra. Rồi gặp may, chỉ vài tháng sau là vượt biển thoát. Sang đây và định cư tại vùng này luôn từ giữa 81 đến giờ.

- Việc làm ăn vẫn ổn chứ?

- Ðại khái là sống được: Về hưu trên một năm nay rồi nhưng may mắn là hiện vẫn còn được làm bốn tiếng mỗi ngày, thêm chút ít chi dụng hằng tháng, lại có cơ hội hoạt động đều đặn hằng ngày, cho thể xác đỡ lười biếng mà tâm trí bớt phải bấn bíu vẩn vơ.

- Tôi cũng vậy: Làm việc thiện nguyện, tuần mấy ngày và mỗi ngày vài giờ.

- Việc thiện nguyện của cộng đồng à?

- Không. Thiện nguyện chuyên môn cho hãng của Mỹ… Mà này. Anh vừa nói đến cộng đồng… Nhưng mới gặp lại nhau, đã vội hỏi han vào chi tiết thì hơi kỳ.T uy nhiên, vì đang nôn nóng trong lòng và cũng cậy vào tình thân cũ từ thời đầu 1960, tôi có thắc mắc điểm này. Nếu có gì khiến cho anh không vừa lòng lắm, xin bỏ qua cho.

- Ðược rồi. Chúng mình đã vốn quý thuở học trò với nhau. Hơn nữa,về già thì tình bằng hữu tôi lại càng thấy cần thiết hơn bao giờ.

- Thêm nữa: anh sống ngay tại đây lâu rồi thì chắc thông suốt hơn tôi nhiều… Ðiều tôi muốn hiểu rằng khi đề cập đến bất cứ ai có chút tiếng tăm, trước đây hay hiện giờ, là người ta hầu hết đều tỏ ra chỉ muốn bươi móc để chê bai, để bêu rếu. Tại sao vậy?

- Mới chân ướt chân ráo sang bên đây tái định cư, gặp phải hiện tượng này, anh chắc thấy hơi ngán ngẩm chứ gì?

- E ngại thì đúng hơn.

- Ðã từ lâu, bạn hữu sống ở những tiểu bang xa về vẫn thường bầy tỏ với tôi cái cảm tưởng đại khái như ‘ông’ cả. Xem ra đúng là có nhiều tiêu cực hơn ở bề mặt sinh hoạt cộng đồng nói chung. Tuy nhiên, nhân dịp anh hỏi tôi cũng muốn trình bầy cho có lớp lang để chúng ta dễ thông hiểu một cách hợp lý và chấp nhận được. Như vầy nhá. Ðầu tiên, đây là xứ tự do, chính chúng ta đây ai cũng là những người đều đang vừa sống lại vừa phải học hỏi để tôn trọng và thực thi tự do – dân chủ – nhân quyền. Nếu đồng ý cái căn bản này,chúng ta đương nhiên phải chấp nhận ý kiến của bất cứ ai khác, cho dù những ý kiến ấy trái ngược hẳn lại với chủ kiến của mình.

- Nhưng đối với những ý kiến mà nội dung có tính cách mạ lỵ thì sao?

- Theo tôi, đại khái có mấy trường hợp thường gặp về những ý kiến có tính cách bêu rếu: Một là vốn mang tâm trạng uất ức dồn nén từ quãng đời quá khứ của từng cá nhân một mà gặp dịp là họ nói năng vung vãi, cho hả. Hai là xuất phát từ tâm lý muốn ‘làm nổi’, họ phát biểu lung tung nên lộ rõ căn bản thiếu hiểu biết chín chắn của chính cá nhân họ. Ba là những người‘ thừa nước đục thả câu’, họ nêu ý kiến vì sẵn có ẩn ý hay bị chi phối bởi một mục đích riêng, nhằm gây ‘hoả mù’ dư luận. Khi phân biệt và xếp loại được vậy là chúng ta dễ dàng bình tĩnh có nhận định chính xác ngay(1).

- Anh dẫn giải có lý…Nhưng rõ rệt là tôi thấy số lượng ý kiến có tính cách bêu rếu vẫn trội hơn hẳn.

- Ðúng như vậy.Và như thế ít nhất có nghĩa là phía có ý kiến đúng đắn bị ‘lép vế’, không đủ khả năng tạo thế cân bằng cho dư luận.

- Ồ…Không ngờ mới được gặp lại nhau mà anh đã giải toả phần nào cho cái khúc mắc này. Hẳn là anh đã có suy nghĩ kỹ từ trước rồi.

- Ai cũng có thể suy nghĩ chín chắn được cả. Nhưng tôi cho là vấn đề ở chỗ suy nghĩ theo chiều hướng nào, với mục đích gì.

- Phải. Thật tình, tôi thú vị và muốn gặp anh lại, càng sớm càng tốt. Vì có một số ấm ức mà cả mấy chục năm nay tôi tự mình không giải toả nổi.

- Chẳng gặp được nhau thì thôi, chứ đã gặp được rồi thì phải gặp dài dài, không thì trễ mất. Chúng ta đang về già cả rồi, mau quên lắm!

- Tuần sau, được không?

- Sao không! Trao đổi số phôn đi,rồi thủng thẳng hẹn lại cho chắc ăn.

*

- Quán này tương đối sạch sẽ, yên tĩnh. Hai đứa mình ăn sáng với nhau, thủng thẳng chuyện trò.

- Này, tôi hỏi thật nhá: Sang được đây cả trên ba mươi lăm năm nay rồi mà sao cậu lại trốn biệt luôn. Thỉnh thoảng gặp bạn cũ thời trung học, ai cũng bặt tin của cậu cả. Cứ tưởng là…

- Tôi đã mất hút trên cõi đời này rồi. Phải không?

- Thì đại khái bằng hữu đều nghĩ vậy.

- Anh cứ thử tưởng tượng xem: Trưa ba mươi tháng Tư, đang lênh đênh trên biển Ðông mênh mông, nghe thấy lệnh đầu hàng ở SàiGòn loan qua làn sóng vang vang, ai nấy đều lặng người đi. Thế rồi tầu cập vào Subic Bay, hải cảng Mỹ thuê dài hạn của Phi Luật Tân, hát bài Quốc ca lần cuối trong nước mắt để hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ xuống, mới được bước ra đất đảo. Cái tâm trạng tủi nhục ấy đã hun hút dính theo tôi từ đó cho đến giờ, không hề nguôi ngoai…



- Và cứ thế, cậu sống lẩn mãi vào trong cái xã hội Mỹ mênh mông?

- Rồi đến nay, vì hoàn cảnh gia đình, tôi mới bất đắc dĩ dọn về để cư ngụ trong khu vực dân cư tập trung nhất của cộng đồng Mỹ gốc Việt, là đây…

- Còn tôi, tôi ở lại đi tù thì có khác gì cậu đâu. Ðó là thời gian một hai năm đầu lặn ngụp trong nhục nhã, từ chuyện đói rét triền miên ám ảnh đến những hành hạ tâm trí hằng ngày. Nhưng may mắn là sau đó chính con người mình dần dần tỉnh trí lại, và thực tế cuộc sống đã đánh thức nhận định của mình. Tôi mới vỡ nghĩa ra rằng cá nhân mình, gia đình mình và ngoài xã hội suốt hai mươi năm Miền Nam của mình cái gì cũng đều đã phát triển hơn họ cả. Mình thua họ chỉ vì cái thế chiến lược quốc tế nó xếp đặt với nhau như vậy, nó vượt khỏi sức lực đề kháng của dân miền Nam lúc đó, và vì con người của miền Nam mình xưa nay vốn sẵn không thể tàn nhẫn vô nhân như họ được… Ngoài ra, mình còn thấu hiểu thêm được rằng dân Miền Nam sau 75 mới khốn khó, chứ trên hai muơi năm trước đó hầu hết dân chúng Miền Bắc đã phải khốn đốn triền miên hơn thế rồi!.. Và nếu cứ như xã hội đang vận hành bây giờ ở trong nước thì cả dân tộc Việt Nam phải chịu khốn nạn mãi, cho đến khi mất luôn nòi giống!

- Cho nên người ta mới tìm đủ mọi cách rời khỏi nước?

- Ðúng.

- Thế mà ra đuợc ngoài này rồi, cộng đồng người Việt ta trên ba mươi lăm năm nay đầu óc chả khá gì hơn xưa.

- Ðầu óc muốn khá ra thì cũng phải tích cực dài hạn mà học hỏi, cũng phải tự mình biến đổi lấy mình, theo chiều hướng muốn mình phải đoàng hoàng hơn,trong bối cảnh tiến bộ chung của xã hội ngoài này chứ.

- Với mục tiêu như thế thì tôi thấy từ mốc điểm Ba mươi tháng Tư 75 tới giờ là trên 35 năm rồi, đầu óc chúng ta chả tiến bộ được bao nhiêu.

- Rời khỏi đất nước, với hai bàn tay trắng và mọi thứ đều phải bắt đầu lại từ số không. Như vậy theo anh, ta phải làm gì trước tiên?

- Dĩ nhiên là phải đâm đầu vào kiếm sống trước nhất!

- Hẳn vậy. Và cho đến ngày nay, cơm ăn áo mặc đã thư thả rồi, vấn đề tái định cư tạm ổn rồi thì.. thì làm gì nữa?

- Chắc anh muốn nói ‘phú chi’ rồi mới đến ‘giáo chi’?

- Xin lỗi bạn, tôi thường suy xét từ thực tế: Ðói rã họng thì việc trước hết là phải kiếm gì bỏ vào bụng cái đã. Sau rồi mới thong thả nhìn ngó chung quanh, học hỏi và suy nghĩ chứ… Thực tế này cũng phù hợp với nhu cầu, mỗi lúc một rõ ra, của chúng ta ở ngoài này: Chỉ khi có sự hiện diện lớn mạnh những cộng đồng gốc Việt ngoài nước hỗ trợ và tác động hữu hiệu thì dân Việt trong nước lúc ấy mới vững lòng tạo cơ hội và thúc đẩy người ta tích cực tìm ra được con đường trường tồn mới cho dân tộc trong tương lai.

- Nói như vậy tức là anh mặc nhiên đồng ý với cái trò chỉ thích mạ lỵ người khác đang diễn ra ở cộng đồng này, hiện nay?

- Theo tôi nghĩ, cậu nên phân biệt cho rõ: Ðấy là mấy hiện tượng thiếu thận trọng,chỉ đưa đến tác dụng bêu rếu cộng đồng, bên cạnh những hoạt động tích cực xây dựng của cộng đồng.

- Chứng cớ ở đâu mà anh có thể khẳng quyết là vậy?

- Cộng đồng nào mà chả bao gồm những ý tố tích cực lẫn tiêu cực. Có điều dân cư của cộng đồng ấy có biết tìm cách phát triển những ý tố tích cực, đồng thời làm thui chột đi những ý tố tiêu cực của cộng đồng mình hay không… Và cậu có biết được cộng đồng di dân nào ở lịch sử xã hội Mỹ này mà trong ba mươi lăm năm lại xây dựng và phát triển mọi mặt nhanh chóng được như cộng đồng gốc Việt hiện nay chăng?

- Ờ. Về điểm này, trong nhất thời tôi cũng phải đồng ý với anh…

- Cộng đồng nào mà chẳng thường xuyên xẩy ra những lộn xộn, trở ngại, sai sót. Anh chỉ ra cho tôi đi! Vấn đề là chúng ta có dám thẳng thắn vạch trần ra được những lộn xộn trở ngại ấy, một cách chi tiết ngọn nguồn, để mà tự tìm được phương cách điều chỉnh và sửa chữa. Hay là chúng ta chỉ chủ tâm kể lể để chê trách dè bỉu khinh bỉ người khác mà thôi?

- Rồi. Bây giờ lấy sự kiện cụ thể, như lần bầu cử bán kỳ(2), thứ Ba, ngày mùng 2 tháng 11, cá nhân anh nghĩ sao?

- Chắc cậu muốn nói rằng có nhiều ứng viên gốc Việt, nhiều hẳn hơn trước đây, nhưng số lượng đắc cử lại khá khiêm nhường?

- Là vậy.

- Nhận xét tổng quát, và trong nhất thời, của cá nhân tôi thì đầu tiên là chưa bao giờ lại nhiều ứng viên trẻ, hầu hết thuộc thế hệ một rưỡi và hai của cộng đồng gốc Việt, đến như vậy. Tức là nhân cuộc bầu cử bán kỳ này,hai thế hệ này bầy tỏ sự tự tin và muốn chứng tỏ sức mạnh của họ trên bước đường xông vào sinh hoạt chính trị chính dòng của xã hội Mỹ. Hai nữa, mặc dù tỷ lệ đi bầu của dân cư gốc Việt vẫn còn khiêm nhường nhưng hầu hết cử tri gốc Việt đã thêm nhiều người có tư thế độc lập, tỏ ra khá sáng suốt và nghiêm chỉnh khi quyết định bằng lá phiếu của họ. Ðây là hai điểm đáng mừng.

- Nhưng sao đa số lại thất cử ?(3)

- Theo tôi, thất cử là do sự chuẩn bị chưa đúng mức cần và đủ của họ về tư thế, về bề dày hoạt động cụ thể hữu hiệu trong quá khứ cho nhu cầu của dân cư ở địa hạt bầu cử. Họ còn yếu kém về hiểu chính xác cử trị của họ, về tính chuyên nghiệp hoạt động chính trị trong xã hội Mỹ; họ thủ đắc những trò ‘ma giáo’ hơn là đường lối tranh cử đường hoàng mà khôn ngoan. Nói chung, chính đa số chúng ta còn chưa cởi mở đủ về nếp sinh hoạt dân chủ của xã hội này.

- Cộng đồng ta thất bại rõ…

- Xin phép. Cách phát biểu kiểu chọc giận của cậu vừa không rõ rệt mà lại vừa khiến cho người nghe dễ hiểu lầm là cậu chỉ muốn khơi khơi chỉ trích một cách bá vơ. Tôi nói thẳng, vì tôi biết cậu không để bụng giận gì tôi.

- Ðúng rồi. Nhưng ý của cậu thì sao?

- Tôi cho rằng các cụ ta xưa nay nói rất đúng, trong trường hợp này: Thất bại là mẹ thành công. Có nghĩa là yếu kém của các ứng viên lẫn của cử tri gốc Việt lộ ra ở lần bầu cử bán kỳ này nếu được xem như những bài học, thì chúng ta phải chịu khó phân tích để biết thật rõ đến ngọn nguồn những thiếu sót của chính mình mà tìm cách điều chỉnh và chuẩn bị kỹ hơn nữa.Nếu được như vậy, tôi nghĩ trong mùa bầu cử chính vào hai năm nữa, chắc kết quả sẽ phải khá hơn.

*

- Cảm ơn sự kiên nhẫn thông cảm của bạn, trong khi nói chuyện với tôi. Nhưng có lẽ bạn cũng cảm thấy rằng cách phát biểu của tôi có chiều hướng như muốn dè bỉu người khác phải không?

- Tôi chưa dám khẳng định như vậy.

- Nhờ những lời chân thành vừa qua của bạn, tôi tự xét thấy là bản thân tôi luôn ấm ức khi đưa ra một nhận xét có vẻ gay gắt mà ‘vơ đũa cả nắm’ nào đó. Bạn có thể thẳng thắn phân tích thêm vào sâu hơn chút nữa chăng?

- Tôi cho là…cậu thực sự còn bị ám ảnh nặng bởi cái hận nhục nhã từ trên ba mươi lăm năm nay, khi cùng những người đồng cảnh ngộ hát lên bản Quốc Ca trong lúc hạ xuống lá cờ vàng ba sọc đỏ trên chiếc tầu di tản năm xưa.

- Ơ…

- Thời điểm Ba Mươi Tháng Tư, tất cả chúng ta đều mang mối hận nhục nhã đó cả…Có điều, mỗi hoàn cảnh mỗi khác.

- Thế mà xem ra bạn đã dẹp bỏ được rồi đấy?

- Thành thật mà nói, được như cậu nói, tôi hết sức mừng… Có điều, tôi nhìn lại lịch sử dân tộc mình thì thấy rằng trên mười thế kỷ dân tộc ta bị phương Bắc liên tiếp đô hộ, thế mà sau đó với các nhà Ngô – Ðinh – Tiền Lê – Hậu Lý – Trần.. các triều đại này đã xác lập được nền tự chủ cho gần mười thế kỷ kế tiếp là nhờ ở đâu? Nhờ ở rất nhiều ý tố quật cường của dân Việt.

Chẳng hạn như suốt thời kỳ ấy, đã có liên tục không biết bao nhiêu những cuộc vùng dậy đòi độc lập của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Phùng Hưng Bố Cái Ðại Vương, Lý Bôn, Lý Phật Tử, Triệu Quang Phục Dạ Trạch Vương, Mai Hắc Ðế, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ…(4) Chẳng hạn như nước Việt ta thuở ấy hiện diện song song với chữ và tiếng Trung Hoa bị bó buộc sử dụng, tiếng Việt vẫn được dân ta ăn nói thường ngày và phổ cập rộng khắp trong dân gian bằng những ca dao-tục ngữ và truyện cổ tích, bằng mọi hình thái của văn chương truyền khẩu như hát ru, hát rong, hát xẩm, các điệu hò, quan họ, ca kịch…Vì thế đến thời độc lập sau này, cái vốn tiếng Việt sẵn có ấy, cái nếp quật cường kia mới đủ sức thúc đẩy giới trí thức chịu khó sáng tác ra chữ Nôm (hình thành từ gốc là chữ viết Trung Hoa). Rồi khi mấy vị linh mục ngoại quốc đến truyền đạo Thiên Chúa giáo dựa vào mẫu tự La Tinh mà phiên âm tiếng Việt,viết thành kinh thánh để cho lớp giáo dân tân tòng đọc, từ thế kỷ thứ 16. Cái chữ Việt viết theo mẫu tự La tinh ấy cứ thế mà loan truyền, cứ thế mà biến đổi, điều chỉnh và phát triển mãi. Cho đến khi người Pháp sang xâm chiếm nước ta vào giữa thế kỷ19, họ thiết lập nền tảng đô hộ, trong đó có cả sự kiện bãi bỏ các kỳ thi Nho học và chính thức hoá cho việc sử dụng chữ Việt viết theo mẫu tự La tinh ở khắp nước, vào cuối thế kỷ19 đầu thế kỷ 20. Loại chữ này thành chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng khắp và liên tục phát triển cho đến tận bây giờ…

Tóm lại, những điểm chính yếu và căn bản nhất mà tôi có thể thổ lộ ra đây với cậu. Và lẽ dĩ nhiên còn nhiều ý tố khác nữa, nhưng trong nhất thời chúng ta chưa soi rọi đủ để mà thấy hết được … Nghĩa là muốn lấy lại được độc lập khi có điều kiện thì trên một ngàn năm bị Bắc thuộc, tổ tiên chúng ta đã phải kiên trì nuôi dưỡng mầm tự chủ và luôn phát triển cho bằng được, bằng đủ mọi cách, để liên tục tạo thành cái nếp sống văn hoá riêng biệt của dân tộc. Nghĩa là ông cha tổ tiên ta đã nghiền ngẫm và nghiền nát nỗi nhục hận bị đô hộ cho nó tiêu hoá đi trong nỗ lực xây dựng cái nền móng tự chủ, chủ động tìm đến vinh quang khi có thể vùng đứng dậy thành công, đòi lại được hình thức độc lập dân tộc. Nghĩa là nhờ vào cái nhục của cả nghìn năm Bắc thuộc đó, tổ tiên chúng ta mới kiếm ra đuợc cái vinh độc lập cho dân tộc, là vì biết biến cái nhục thành cái vinh một cách xứng đáng. Tôi cho,Việt tức là vượt. Ít nhất lịch sử dân tộc Việt ta đã thủ đắc được tính chất cốt lõi ấy.

- Thế còn bây giờ?

- Bây giờ, trong bước tiến bộ chung của nhân loại, dân tộc ta với biến cố Tháng Tư 1975 dù muốn hay không thì cũng đã phải bước sang một thế sống còn mới.Nhờ vào những điều kiện sống mới có trong hoàn cảnh hiện nay của dân tộc, chúng ta lại bắt buộc phải nỗ lực tìm cho ra đựơc những khả năng mới của dòng giống Việt. Chúng ta có nối gót tổ tiên, bằng cách thực hiện đựơc nội dung ý nghĩa ‘vượt’ hay không, là vấn đề của chung chúng ta hiện nay.

- Chẳng hạn?

- Mỗi người trong chúng ta, mỗi tập thể, mỗi cộng đồng gốc Việt đều có thể nhìn ra được những khả năng mới ấy.

- Bạn nói mông lung quá, làm tôi hoang mang, mất định hướng.

- Xin lỗi. Tôi chia xẻ với cậu, mà chẳng qua chỉ có thể đề cập được một đôi điều ‘nhìn ngắm’ của riêng mình.

- Bạn nhìn thấy những gì?

- Thực ra tôi nhìn thấy khá nhiều điều. Nhưng vẫn còn rất nhiều chỗ cần được từ tốn suy nghĩ sâu rộng để bổ túc lại.

- Bạn cứ nói ra đi.Chắc chắn là rất có ích, ít nhất là đủ khiến tôi lên tinh thần trước đã.

- Tôi chỉ muốn thổ lộ: Sau vài năm đầu tâm tư còn bối rối trong tù, tôi dần dần tỉnh trí và nhận rõ ra
rằng về mọi phương diện, từ căn bản học thức- hiểu biết lẫn nếp sinh hoạt- làm vịêc thì bọn tù miền Nam của mình đều hơn xa hẳn đội ngũ những người cai quản mình. Nghĩa là tóm lại họ đúng lẽ ra nên học hỏi ở chúng ta, hơn là chúng ta phải học hỏi ở họ. Thế mà trên thực tế, họ đã ‘cả vú lấp miệng em’ áp đặt những cái đầy sai lạc cho bọn tù chúng tôi. Nghĩa là họ và mình là hai xã hội sống và theo đuổi hai hệ thống giá trị khác biệt hẳn nhau. Thế mà họ cứ đinh ninh rằng họ phải ‘hướng dẫn’ và ‘dạy dỗ’ chúng tôi rập theo một khuôn mẫu ‘tuyệt đối hoàn thiện’ mà họ đang nhắm mắt làm theo. Họ chẳng hiểu là cái khuôn mẫu tuyệt đối hoàn thiện đó chỉ có trong ảo tưởng mà thôi! Trong khi ấy, trên thực tế hằng ngày chứng minh hiển hiện ra trước mắt là cả họï (lớp người cai tù) lẫn bọn mình ở tù đều đói khổ như nhau, đều quay quắt như nhau, trong cái hũ nút, trên cái bánh vẽ! Nghĩa là cả hai cùng bị lừa như nhau, cả hai đều đáng được cứu vớt như nhau! Mà ai có khả năng cứu vớt được chúng ta? Lịch sử dân tộc, nhất là sử Việt cận và hiện đại cho thấy rõ rằng kẻ có thể cứu vớt ấy không thể là ai khác, ngoài chính chúng ta!

- Kỳ lạ nhỉ!

- Thế đấy! Và cứ thế tôi nhẩn nha cứu xét lại: Xã hội miền Nam dưới chế độ VNCH trước 75 đương nhiên là quá nhiều thứ xấu xa của một xã hội đang nỗ lực gột rửa những nếp sống phong kiến – quân chủ, nhưng ngược lại,trong khi phải chịu đựng chống đỡ một cuộc chiến tự vệ mà còn xây dựng được căn bản cái xã hội bước đầu chập chững của dân chủ – tự do, với bốn hệ thống phát triển sao cho phổ cập khắp miền Nam Việt Nam thời bấy giờ: Giáo dục công tư phổ thông từ cấp vườn trẻ mẫu giáo lên đến đại học; y tế quốc dân từ y – nha – dược tá lên tới y – nha – dược sĩ các cấp, từ thị thành về tới nông thôn; quản trị hành chánh từ thư ký lên đến cấp trưởng các ngành sinh hoạt trong xã hội, từ quản trị phường khóm lên đến tỉnh thành, đâu vào đó; và cuối cùng là cái nếp đạo đức sống và giao tế của người dân cư trú bất cứ một nơi chốn nào trong lãnh thổ miền Nam ấy.

Trong khi đó ở miền Bắc, cũng hai mươi năm ấy, họ thiết lập một hệ thống xã hội khác hẳn, từ độc tài đảng trị với lý tưởng ảo là kháng chiến chống ngoại xâm Mỹ – Nguỵ, khiến dân chúng cứ thế mà sống khốn cùng trong cái tâm lý hai mặt tồn tại lừa đảo lẫn nhau một cách bệnh hoạn thành nếp, thành một xã hội con người sống trong đó chỉ như con vật phản xạ vô điều kiện. Họ cần phải có đủ điều kiện và cơ may để tự mình thức tỉnh mà tự cứu lấy họ.

- Cậu nghĩ vậy sao?

- Thì thế! Ra sống ở ngoài này gần ba mươi năm nay, tôi rút ra được kinh nghiệm là thế hệ di tản thứ nhất của nguời gốc Việt đã nỗ lực xây dựng một cộng đồng lớn mạnh đến như ngày nay thì đầu tiên, chúng ta phải biết hãnh diện vào những thành quả mà chúng ta đã đạt được. Ngay cả đến cái nỗ lực cứu trợ thân nhân và đồng bào khốn khó trong nước suốt ba mươi lăm năm nay đều phát xuất từ tính chất nhân đạo mà chúng ta lại vẫn thường ‘gấu ó’ nhau nhưng rõ rệt không ai dứt khoát ngã ngũ được cả.

Ðồng thời phải công nhận là các cộng đồng gốc Việt chúng ta đã và đang là sức sống bổ túc cho cộng đồng Việt trong nước,ở những khả năng sống còn của dân tộc trong con đường tồn tại mới trong tương lai về kiến thức hiểu biết, cũng như về nếp sống tôn trọng những nguyên tắc tự do – dân chủ – nhân quyền, những tiêu chuẩn đạo đức sống mở ra với bước tiến bộ của loài người nói chung.

- Nhưng sao vẫn còn tồn đọng quá nhiều trở ngại trì níu…

- Ðó là phương diện tiêu cực, mà vì tâm tư vẫn còn mắc dính với cái mối nhục hận xưa cũ khiến chúng ta chưa thực sự hoàn toàn cởi mở được chính con người của mình để thênh thang nhẹ nhõm tiến về phía trước.

- Và kết quả cuộc bầu cử..

- Trên mười năm nay,mỗi lúc thế hệ một rưỡi và hai tỵ nạn đã và đang dần dần thay thế chúng ta ở mọi ngành sinh hoạt của cộng đồng. Cho nên cái thành tựu phần nào giới hạn của kết quả bầu cử bán kỳ vừa qua là thể hiện sự thiếu chuẩn bị cần và đủ của họ. Chính họ cần phải phân tích cho kỹ để mà điều chỉnh kịp thời cho kỳ bầu cử chính hai năm sắp tới đây.

- Còn trách nhiệm của lớp già chúng ta vẫn có chứ?

- Sao không! Tuy nhiên cũng đừng cứ đòi ‘chèo chống’ dùm họ. Họ thực sự chẳng cần mình lắm đâu! Vả chăng phải để họ có làm có hưởng thì có chịu, giá trị điều chỉnh của chính họ mới thoả đáng. Bây giờ là thời thế của họ mà!

- Mấy anh già sáu bẩy mươi tuổi trở lên tụi mình thực sự nên về hưu cả sao?

- Ấy. Lớp anh già cứ mở miệng ra là bảo tôi hưu trí rồi.Thực tế cho thấy, chính tâm lý già lại hay sốt nóng hơn bất cứ lớp tuổi nào khác, cứ thích nhẩy xổ vào việc của người ta, rồi bô bô lên rằng làm gâm gấp lên chứ, đến khi không còn tôi nữa thì lấy ai ra đây để mà ‘chỉ bảo’ cho mấy anh! Ðấy. Mấy anh già vẫn không thực sự biết và sống như đúng cái tuổi của mình, cứ cố chơi trò ‘độc đoán’, quen tật ‘ăn trên ngồi chốc’, khó mà cởi bỏ đi được lắm.

- Thế ta chọn thái độ đứng ngoài à?

- Ta già ví như con dao phay, sử dụng cách gì cũng đuợc.Miễn là làm sao trong giới hạn sức khoẻ cho phép, và tuỳ theo chuyên môn mà trợ giúp thôi. Ðiểm quan trọng là mình có thực sự biết người ta cần ở mình cái gì.

*

- Cũng như câu chuyện tâm sự ngày hôm nay, bạn trợ giúp cho tôi khá sâu xa đấy.

- Bạn ơi. Tụi mình thân thiết cũ gặp nhau, vui vầy chia xẻ với nhau là chính, nói chi chuyện giúp đỡ. May mà cậu còn thẳng thắn tâm sự, tôi đỡ khổ, chứ không lại mang tiếng ‘dạy đời’. Sướng ích gì!

- Tình thật: Bạn ‘mở mắt’ cho tôi mấy điểm quan trọng lắm.

- Cậu có còn nhớ: Hồi xưa cùng học, cậu thường xuyên chỉ cho tôi môn toán đấy sao?

- Thời đó tôi giỏi Toán nhất lớp. Không biết sao bây giờ tôi lại bị u mê ám chướng hơn cậu xa.

- Riêng cá nhân thì tôi thấy, có lẽ nhờ mấy chục năm nay cuộc sống cứ bị dồn mãi vào chân tường, tôi phải cố công suy tư mà vỡ nghĩa ra được vài phần.

- Hiểu được như cậu, tôi thấy sống nhẹ nhõm hẳn.

- Ấy. Cân nặng cơ thể của bọn già chúng ta bắt buộc phải ‘nhẹ nhõm’ hơn hồi xuân trẻ chứ!

- Ha. Ha. Phải vậy, phải vậy!

- Ðùa với cậu một câu, cho giảm căng thẳng đấy thôi.

- Nhưng cậu đùa mà vẫn đúng: Muốn sống thoải mái, theo tôi, phải luôn tự sửa mình, ăn ít đi, tập thể dục hít thở thường ngày và ngủ say khá hơn trước mới khá được. Nói tóm lại, dù đã lớn tuổi nhưng trên bước đường thăng tiến, hãy sống trọn vẹn, thưởng thức trọn vẹn từng hoàn cảnh sống của mình.

- Và cuối cùng, vẫn là phải biết đùa cợt, cậu ạ.

Phạm Quốc Bảo



Chú thích:
(1) Xin đọc thêm Bài viết ko có tựa của Joyce Anne Nguyen đã đăng trong BNS QUÁNVĂN số 156 ra ngày thứ Tư 10 tháng11.2010, trên NVOnline ; www.người-việt.com.
(2) Cuộc bầu cử bán kỳ (bầu cử giữa kỳ, midterm election).
(3) Số ứng viên gốc Việt trên toàn nước Mỹ độ 31, so với dân số gốc Việt độ trên 2 triệu thì quá ít; riêng tại địa phương Quận Cam là 19, đắc cử 7 cho đủ mọi chức vụ: Tỷ lệ được gần 30% thì so ra, không phải là ít! Ðặc biệt sau lần bầu cử bán kỳ này cộng đồng gốc Việt trên toàn nước Mỹ không còn ghế dân biểu liên bang nữa, dân biểu tiểu bang chỉ còn 1 (ông Hubert VÕ bên Houston,Texas) so với 2 trước đây;tức là một bước lùi đáng kể.. Nhưng được cái vẫn đạt 3 trên tổng cộng 5 ghế Nghị viên thành phố Westminster, Little Sàigòn. Ðấy là chưa bàn sâu vào những ý tố thuộc đảng (Cộng Hoà, Dân Chủ), tỷ lệ cử tri gốc Việt độc lập… thay đổi nhiều so với các lần bầu cử trước đây.
(4) Theo Việt Sử Toàn Thư của Pham Văn Sơn, Thư Lâm Ấn Quán, 15-07-1960, Tủ sách Sử học của Ðại Nam tái xuất bản tại hải ngoại: Từ năm 207 trước Tây lịch đến năm 939 sau TL, dân Việt bị phương Bắc đô hộ liên tục bốn năm lần cả thảy.

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Ngô Nhân Dụng - Đọc Bình Ngô Đại Cáo


Ngô Nhân Dụng

Gần đây tôi trở lại cái thói quen hay lẩm nhẩm bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân mà thay cường bạo. Đọc xong bỗng thấy cái xương sống lưng mình đứng thẳng hơn, y như có người kéo cho đầu mình bắt phải ngẩng lên vậy. Hồi còn trẻ tôi dậy học trò môn lịch sử, đã có lúc hành hạ các em nhỏ bằng bài văn này. Khi học đến đoạn Lê Lợi kháng Minh, tôi đố các học sinh, ai học thuộc lòng bài Đọc Bình Ngô Đại Cáo sẽ được 20 điểm. Không hiểu sao hồi xưa các thầy cô ở nước ta hà tiện, với môn sử, địa điểm tối đa thường chỉ cho tới 15, 16. Cho nên nghe nói 20/20 nhiều em học trò cũng hăng hái chấp nhận lời thách đố của thầy giáo.


Tôi không ngờ, có rất nhiều học sinh hồi đó, những năm 1960 ở Sài Gòn, đã học thuộc lòng bài Đọc Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch rất văn chương chép trong Việt Nam Sử Lược. Tới ngày trả bài, nhiều em xin lên đọc, phải cho các em đọc theo lối tiếp sức. Một em đọc nửa chừng, ông thầy ra hiệu cho một em khác đọc tiếp, rồi trở lại người cũ hay đổi sang người mới, em nào cũng phải sẵn sàng đọc tiếp, tức là phải thuộc lòng cả bài Đọc Bình Ngô Đại Cáo. Khi chấm dứt, “Bá cáo xa gần, ngỏ cùng nghe biết” thì cả lớp vỗ tay; thầy lẫn trò đều nghẹn ngào. Bởi vì khi cùng nhau đọc và nghe bài đại cáo này, lòng yêu nước thế nào cũng dâng lên, bồi hồi nhớ các tổ tông đời trước!

Một nửa thế kỷ đã qua, bây giờ tôi chắc nhiều học sinh cũ của tôi vẫn còn nhớ bài Đọc Bình Ngô Đại Cáo, dưới ngòi bút dịch nhuần nhã cao sang của Bùi Kỷ. Nhiều người sau này đã dịch cách khác, có thể đúng, sát nghĩa hơn; nhưng không thể coi là những áng văn chương như bản dịch Bùi Kỷ. Tôi hy vọng các em vẫn còn có thời giờ lâu lâu đọc lại, thưởng thức những lời văn trác tuyệt đó. Chính tôi có những lúc thấy mình đang lẩm nhẩm, “Giang san từ đây mở mặt – Xã tắc từ đây vững nền.” Chợt thấy mình đang đọc, xong rồi lòng ngẩn ngơ.

Cho nên, tôi nảy ra một ý kiến muốn đề nghị với các thầy, các cô giáo, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác. Tại sao chúng ta không tổ chức một ngày giỗ Lê Lợi bằng một buổi đọc Bình Ngô Đại Cáo? Tháng Tám âm lịch sắp tới có hai ngày giỗ ai cũng nhớ: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi. Hồi nhỏ có lần tôi đã được dự lễ ở ngay tại Đền Vua Lê bên cạnh hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Bây giờ đúng là lúc nên cho các bạn trẻ ở nước ta đọc lại Nguyễn Trãi, nhớ lại công ơn Lê Thái Tổ. Nhân ngày giỗ Vua Lê, học sinh tiểu học, trung học tất cả các làng, các tỉnh, khắp nước Việt Nam hẹn nhau một giờ cùng tụng đọc bài Bình Ngô Đại Cáo. Các em không cần học thuộc lòng, cứ cầm bản văn đọc dõng dạc trang nghiêm cũng quý lắm rồi. Chắc tổ chức ở trong trường thì không ai gọi là biểu tình. Không cần phải xin phép xin tắc gì cả. Ở nước ngoài thì càng dễ tổ chức hơn nữa. Đọc trong chùa, trong nhà thờ càng thêm nghiêm trang.

Nhiều người sẽ phản đối, vì sợ các em học sinh không hiểu hết được cả bài Bình Ngô Đại Cáo. Chuyện đó tự nhiên; nhưng không hiểu thì phải học cho hiểu. Bố mẹ, thầy cô phải học trước cho rõ nghĩa từng câu, rồi giảng lại cho các em hiểu. Không nên lười, không nên ngại khó. Cái công mình học cho hiểu nghĩa bài Bình Ngô Đại Cáo không khó nhọc bằng công các cụ Lê Lợi, Nguyễn Trãi đời xưa đánh giặc Minh suốt mười năm đâu!

Có người còn than phiền là bài văn này, ngay cả bản dịch ra tiếng Việt của Bùi Kỷ, cũng có nhiều chữ Hán quá. Như vậy có gì mâu thuẫn không? Một bản văn nêu cao ý chí cương cường của dân Đại Việt chống lại cuộc xâm lăng và âm mưu Hán hóa của vua chúa bên Tàu, không lẽ mình lại cứ sử dụng đầy chữ Hán như thế? “Nhật nguyệt hối rồi lại minh – Càn khôn bĩ rồi lại thái!” Sao không nói ra tiếng Việt ròng cho chúng cháu nhờ!

Xin nhắc: Những chữ đó đều thuộc vào tiếng Việt từ lâu rồi. Ông anh tôi tên là Nhật, cô em tên là Nguyệt, bộ tưởng họ người Trung Quốc hay sao? Nói đến “Càn Khôn” mà e ngại là mình ăn phải đũa người Trung Hoa, thế thì không nghe bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương nói, “Miệng túi càn khôn thắt lại rồi;” nghe mà cưới khúc khích với nhau hay sao? Nếu không chịu học thì làm sao biết mà cười? Những chữ đó, chúng không có quốc tịch. Ở bên Trung Quốc nó là chữ Tàu; qua biển sang Nhật Bản nó thành tiếng Nhật; sang đến nước ta nó là tiếng Hán Việt. Ai nuôi nó thì nó thành đứa con ngoan ngoãn cho mình sai bảo. Còn ai từ chối nó thì nó đi mất luôn. Thế khi mình đi biểu tình, hô to, “Đả đảo Trung Quốc xâm lược” thì mình đang nói tiếng gì đây? Cả sáu chữ được hô lên đều là gốc Hán, là con nuôi cả! Tổ tiên chúng ta đã gom chúng lại, nuôi nấng chắt chiu được mấy chục ngàn tiếng mới, gọi là tiếng Hán Việt, truyền lại cho con cháu xài trong cả ngàn năm. Bây giờ tính đem đổ xuống sông xuống biển hết hay sao?

Có người lớn cái đầu, 40, 50 tuổi mà vẫn cứ e ngại, bảo rằng mình rất khâm phục con người Nguyễn Công Trứ, nhưng không thể đọc thơ ông được. Vì trong đó toàn chữ Hán. Đọc lên tưởng như mình hóa thành người Trung Hoa!

Người nói câu đó rõ ràng là thời còn ít tuổi đã mất cơ hội học đến nơi đến chốn. Cho nên khi lớn lên không muốn học, sợ khó. Mà đó chỉ là học có mấy chục chữ Hán Việt trong một bài thơ, mà đã sợ khó rồi. Bèn tự trừng phạt, không cho mình đọc thơ Nguyễn Công Trứ nữa. Mà thực sự, có ai bắt chúng ta phải học chữ Hán đâu. Chỉ cần nghe đọc lên thì hiểu cái tiếng gốc chữ Hán ý nghĩa thế nào thôi. Người Trung Hoa viết thế nào, không cần biết. Hãy tưởng tượng một học sinh người Nhật Bản phải học chữ Hán thế nào thì thấy việc học thơ cổ của mình dễ ợt. Nước Nhật chưa bị người Trung Hoa đô hộ ngày nào, nhưng trong ngôn ngữ họ bắt cóc đem chữ Hán về nuôi và dùng, đông đúc cũng bằng một nửa số chữ thông dụng.

Một người Nhật biết chữ có nghĩa là phải biết vài ngàn chữ Hán. Nhìn chữ người Tàu viết thế nào phải đọc lên được, hiểu được nghĩa. Mệt nhất là phải biết cách viết chữ đó, viết đúng thứ tự, có 10 nét thì nét nào viết trước, nét nào viết sau. Ở nước Nhật 99% dân biết chữ. Một học sinh qua bậc tiểu học phải biết mấy trăm chữ, học hết trung học phải biết mấy ngàn chữ, tất cả được quy định trong chương trình giáo dục. Nếu không học thì lớn lên cầm tờ báo không đọc được!

Nghĩ đến công khó nhọc của các học sinh Nhật thì phải thấy mình học thêm một chút để hiểu bài Bình Ngô Đại Cáo là việc dễ như không. Cả nước cùng học lại, cùng hiểu nghĩa bài Bình Ngô Đại Cáo thì 90 triệu trái tim cùng đậtp theo một nhịp. Đến nước sông Hồng cũng phải sôi lên đỏ rực, nước Cửu Long cũng phải cuồn cuộn dâng trào.

Ước mong quý vị nhà giáo đồng nghiệp của tôi sẽ để ý tới đề nghị này. Ước mong ngày Giỗ Vua Lê năm nay cả nước sẽ cùng đập trống, gõ mõ, đọc Bình Ngô Đại Cáo theo nhịp của trái tim mình. Sẽ cùng nhau đọc: “Nền vạn thế xây nên chăn-chắn – Thẹn nghìn thu rửa sạch làu-làu!” Rồi quyết tâm cùng nhau làm sao đừng để cho con cháu bị mắc một mối nhục ngàn thu!



Nguyễn Hưng Quốc - Ba Tôi

Nguyễn Hưng Quốc

Viết cho ngày Father’s Day (1)

Những năm gần đây, không hiểu sao, tôi lại hay nhớ đến ba mẹ tôi. Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi. Ba tôi vẫn ở Việt Nam với gia đình đứa em út. Nỗi nhớ người mất khác nỗi nhớ người còn sống. Nhớ người đã mất, buồn thì có buồn, nhưng chỉ là một nỗi buồn an phận, nhẹ nhàng và hiu hắt; nhớ người còn sống, ở xa và không có hy vọng gì gặp lại được, ngược lại, có lúc thấy như xót xa, cồn cào, lòng cứ chùng xuống. Nặng trĩu.


Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc (Ảnh: Nguyên Việt)
Ba tôi sinh năm 1920, nếu tính theo tuổi ta, như cách ông thường tính, năm nay đã 93. Từ đầu năm 2005, tôi chưa gặp ba tôi lần nào cả. Nhớ ba, tôi chỉ còn một cách duy nhất: điện thoại. Nhưng ba tôi lại khá nặng tai. Có lúc nghe được, có lúc không. Nhiều khi, ở Úc, tôi nói chuyện như gào thét, ba tôi vẫn hử hử, không nghe gì cả. Tội nghiệp nhất là nhiều lúc, không nghe được, nhưng ông vẫn thích nói, thích bày tỏ tình cảm với đứa con trai ở xa. Nhiều nhất là câu “Ba nhớ con lắm.” Rồi nghẹn. Có khi, sau câu nói ấy, ông đọc câu ca dao “Nhỏ thì nhớ mẹ, nhớ cha / Lớn lên nhớ vợ, về già nhớ con.” Rồi lại nghẹn.

Mỗi lần nghe như thế, tôi vừa cảm động lại vừa ngạc nhiên. Bình thường, ba tôi ít nói, thậm chí, vụng nói. Ông hiếm khi bày tỏ tình cảm với con cái bằng lời. Anh em chúng tôi biết ba thương mình chủ yếu qua sự chăm sóc hay cách nhường nhịn thức ăn trên bàn cũng như qua ánh mắt hiền lành và triều mến của ông. Chứ không phải qua ngôn ngữ. Chỉ mấy năm gần đây, sau khi tôi bị cấm về Việt Nam, không còn cơ hội gặp nhau nữa, qua điện thoại, ông mới nói những câu như “Ba nhớ con lắm” như thế. Tôi biết, nói thế, trong lòng ông không những chỉ có tình thương mà còn có cả sự tuyệt vọng.

Nhớ, cuối năm 2005, khi dẫn một nhóm sinh viên Úc về Việt Nam nghiên cứu, lúc máy bay mới hạ cánh, tôi đã gọi điện thoại ngay cho ba tôi, bảo tôi đã đến Tân Sơn Nhất và đang chờ chuyển máy bay ra Hà Nội; khoảng ba tuần sau sẽ vào Sài Gòn và sẽ gặp ba. Ba tôi mừng lắm, nói tíu tít. Khoảng một tiếng sau, tôi gọi lại, bảo tôi bị cấm nhập cảnh và phải quay lại Úc ngay, ba tôi, thoạt đầu, ngạc nhiên, sau, giận dữ, và cuối cùng, khuyên tôi như lúc tôi còn nhỏ dại: “Con thử năn nỉ mấy ổng xem sao. Con nói con đâu có làm chính trị. Ông Nguyễn Cao Kỳ mà còn về Việt Nam được mà! Con lại nói với mấy ổng đi!”

Ba tôi thuộc loại đàn ông hiền lành và chất phác. Cả đời, ông cần cù đi làm để nuôi gia đình chứ không biết gì về đời sống xã hội cả. Trong các buổi họp mặt bạn bè trong nhà, đụng đến đề tài chính trị, người nói nhiều, có kiến thức và có chủ kiến nhất, nói năng mạch lạc và hùng hồn nhất, là mẹ tôi chứ không phải ba tôi. Dường như cả đời ba tôi cảm thấy hạnh phúc trong việc tự lùi ra phía sau để mẹ tôi đương đầu với xã hội bên ngoài. Tôi hiếm thấy người nào phục vợ như ông. Lúc mẹ tôi còn sống, mọi chuyện lớn nhỏ trong gia đình, ông đều giao hết cho mẹ tôi quyết định. Ở nhà tôi, mỗi lần có ai khen ngợi con cái về chuyện này chuyện nọ, bao giờ ông cũng nói: “Tụi nó giống mẹ!” Hiền lành và chất phác như thế, tôi có cảm tưởng, cho đến nay, ông vẫn không hiểu được tại sao tôi lại bị cấm về Việt Nam. Ông vẫn tin tưởng một ngày nào đó mấy “ổng” sẽ nghĩ lại. Và tôi sẽ lại được về nước. Bố con tôi sẽ được gặp nhau.

Tôi thì tôi biết đó chỉ là một ảo tưởng. Bởi thế, mỗi lần nghĩ đến ba, người tôi sẽ không bao giờ gặp lại được – dù chỉ cách có tám giờ bay, lòng tôi bao giờ cũng se thắt lại. Trước, tôi ít quan tâm đến tuổi tác của người thân trong gia đình. Tôi cứ tưởng mọi người dù sao cũng sống với nhau mãi. Đến lúc, cách đây 12 năm, bất ngờ nhận được tin từ Việt Nam là mẹ tôi đã qua đời sau một cơn tai biến mạch máu não, tôi mới bàng hoàng thấy sự sống thật mong manh. Những người thân ở bên mình có thể ra đi bất cứ lúc nào. Nhất là những người, như ba tôi, đã 93 tuổi, vượt quá cái mốc “cổ lai hy” đến hơn hai chục năm. Bởi vậy, lần nào nói chuyện với ba tôi – nếu nói chuyện được – bao giờ tôi cũng có cảm giác đó là lần cuối cùng.

Cái cảm giác ấy vừa buồn rầu vừa xót xa. Cộng thêm ý nghĩ mình sẽ không về được, dù để chỉ chào lần cuối, nó trở thành một cảm giác vừa áy náy lại vừa uất ức. Những cảm giác ấy cừ dày vò tôi mãi. Trong sự dày vò ấy, hình ảnh của ba tôi không phải chỉ là một nỗi nhớ. Mà là một ám ảnh.

Ám ảnh đến nghẹn ngào.

Liên quan đến chuyện tình cảm, có điều này tôi mới nhận ra: nhân loại, từ xưa đến nay, vẫn trọng lý hơn tình. Về lý, người ta muốn đi đến tận cùng. Càng xa càng tốt. Về tình, người ta hay đặt ra những hàng rào và những cột mốc. Yêu vợ/chồng hay tình nhân quá, người ta có thể bị chê cười. Yêu con cái quá, người ta cũng có thể bị trách móc. Với cả hai loại tình cảm ấy, mọi người, một cách có ý thức hay từ trong vô thức, đều muốn có một chút giới hạn nào đó. (Sực nhớ câu thơ của Tố Hữu khi nhắc đến chuyện Mỵ Châu và Trọng Thủy: “Trái tim lầm chỗ để trên đầu.”) Chỉ với tình yêu dành cho bố mẹ là không ai nói đến các giới hạn. Không ai bị chê trách là yêu bố mẹ quá mức. Mà thật ra, có lẽ không ai nghĩ là mình yêu bố mẹ quá mức, thậm chí, đúng mức. Bao giờ trong tình thương dành cho bố mẹ cũng thấp thoáng có chút gì như ân hận: mình chưa làm hết những gì mình cần làm. Có một món nợ nào đó chưa trả. Có một bổn phận nào đó chưa hoàn tất.

Gắn liền với ân hận, tình thương trở thành một sự day dứt. Cũng nặng trĩu như nỗi nhớ.


***

Chú thích:
1. Ngày Father’s Day mỗi nước một khác. Ở Mỹ cũng như nhiều nước khác (kể cả Việt Nam), ngày Father’s Day được tổ chức vào ngày Chủ nhật thứ ba của tháng Sáu (năm 2012 là ngày 17/6); ở Úc, cũng như New Zealand, người ta tổ chức vào ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng Chín (như vậy, năm nay sẽ rơi vào ngày 2/9).

Song Chi - Sáu mươi bảy năm và bi kịch to lớn của cả dân tộc


Song Chi/Người Việt

 Cứ vào ngày 2 Tháng Chín hàng năm, nhà cầm quyền Việt Nam lại long trọng tổ chức lễ kỷ niệm.

Báo chí nhà nước, nhất là những tờ đậm tính đảng như Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng... sẽ lại có những bài tổng kết, nhai lại những luận điệu cũ. Chẳng hạn như Việt Nam qua chặng đường dài hơn 6 thập kỷ “dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản đã liên tiếp đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” ra sao.


Mối quan tâm của hàng triệu người Việt Nam hiện nay là kiếm miếng ăn hàng ngày. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Truyền hình sẽ lại chiếu những hình ảnh về cái ngày 2 Tháng Chín năm 1945, những bộ phim tài liệu so sánh đất nước hồi đó và bây giờ đã phát triển vượt bực như thế nào. Các lãnh đạo lại xuất hiện, với những bài diễn thuyết hùng hồn về ý nghĩa của ngày độc lập, về hạnh phúc của dân tộc Việt Nam được có sự dìu dắt lãnh đạo của đảng...

Và cuối cùng chốt lại, “...Nhân dân Việt Nam cương quyết tiếp tục đi theo con đường đã chọn lựa là tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng của học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu chống phá, diễn biến hòa bình đòi đa nguyên đa đảng của các thế lực thù địch trong ngoài” vân và vân.

Chỉ có điều, càng ngày dường như người dân càng ít quan tâm đến ý nghĩa thật sự của những dịp “lễ, giỗ chính trị” và những bài thuyết giáo hùng hồn của các ông lãnh đạo.

Với đa số người dân bình thường, ngày 2 Tháng Chín chỉ còn là một ngày mà người ta vui mừng vì được nghỉ làm, ai có tiền thì đi chơi, không có tiền thì nằm nhà nghỉ cho khỏe.

Với đa số người dân bình thường ở Việt Nam bây giờ, cuộc sống là một cuộc chạy đua vất vả với cơm áo gạo tiền hàng ngày.

Một cuộc đua mà trong đó người dân luôn luôn bị hụt hơi vì vật giá cứ chạy đằng trước họ một quãng xa. Trong khi hành trang của họ thì bị oằn xuống bởi gánh nặng thuế má chất chồng, do phải trả những món nợ khổng lồ gây ra bởi sự tham nhũng, lãng phí và làm ăn kém cỏi của nhà nước.

Cái gánh ấy còn nặng thêm bởi muôn ngàn nỗi lo nỗi sợ do trót phải sống trong một cái xã hội mà sự bình an trong tâm hồn, sự an toàn cho bản thân hay những khái niệm về tự do dân chủ là điều xa xỉ còn sinh mạng con người thì rẻ như bèo.

Với một gánh nặng như vậy, con người chỉ còn có thể chúi mũi đuổi theo cái vòng cơm áo hàng ngày. Chẳng hơi đâu mà nghĩ đến giấc mơ xã hội chủ nghĩa hay kịp hoàn hồn để vui sướng với “những thành tựu rực rỡ nhờ ơn đảng và nhà nước”!

Trong khi đó, những ai quan tâm đến vận nước, theo thời gian, ngày 2 Tháng Chín trở thành nỗi xót xa day dứt.

Theo thời gian, những luận điệu tuyên truyền kiểu như “dù sao đảng cộng sản cũng có công lao lớn đối với đất nước, dân tộc là đã giành được độc lập, đánh thắng hai đế quốc to Pháp, Mỹ, thống nhất đất nước, giữ vững sự hòa bình ổn định chính trị và đưa Việt Nam phát triển như ngày hôm nay...” dần dần không còn thiêng nữa.

Những thông tin từng một thời bị bưng bít, những tư liệu lịch sử... đã được tiết lộ khá nhiều với những ai muốn tìm biết sự thật.

Ðã từng có những câu hỏi nếu đảng cộng sản không giành được chính quyền, nếu như không có cái ngày 2 Tháng Chín năm 1945, nếu Việt Nam không đi theo con đường do đảng cộng sản lãnh đạo... số phận đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ như thế nào.

Tất nhiên, sẽ không có cuộc chiến tranh với Pháp, không có vụ Cải Cách Ruộng Ðất, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, miền Bắc không phải đói nghèo đến thế do hậu quả của nền kinh tế bao cấp.

Ðất nước sẽ không bị chia cắt 2 miền. Không có cuộc chiến tranh Nam Bắc với Mỹ là đồng minh hỗ trợ cho miền Nam và Liên Xô, Trung Quốc cùng toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa hỗ trợ, tiếp tế cho miền Bắc. Không có cái giá thống nhất phải trả bằng mấy triệu người ngã xuống và một đất nước hoang tàn.

Không có những chính sách sai lầm về kinh tế sau chiến tranh dẫn đến việc hàng triệu người bỏ nước ra đi, hàng triệu người khác nằm lại mãi mãi dưới lòng biển sâu. Kinh tế miền Nam bị đánh sập lùi lại hàng chục năm và cả nước suýt đứng bên bờ vực chết đói trước khi mở cửa về kinh tế.

Không có cuộc chiến Tây Nam với Campuchia và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc, hàng trăm kilomet lãnh thổ dọc biên giới phía Bắc và hàng trăm dặm lãnh hải không bị mất.

Việt Nam không bị tụt hậu hàng chục, thậm chí hàng trăm năm so với các nước láng giềng. Quan trọng nhất, Việt Nam không bị trói chặt, lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc từ chính trị cho đến kinh tế, và đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược như hiện nay...

Nếu và nếu...

Không ai có thể quay ngược thời gian, quay ngược bánh xe lịch sử. Cũng chẳng có ích gì để nhắc mãi những chữ “nếu.”

Chỉ là để những người lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, những kẻ bồi bút, cũng như những ai còn tin vào những gì nhà cầm quyền nói, hiểu rằng có phải nếu không có đảng thì dân tộc Việt Nam không có được ngày hôm nay hay ngược lại.

67 năm kể từ ngày đảng cộng sản tuyên bố nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, tức nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bây giờ, chỉ mong sao người dân ngày càng hiểu ra nhiều vấn đề.

Mong những ai đã có dịp đi du lịch sang các nước có mô hình thể chế tự do dân chủ, có thể so sánh người Việt Nam đang sống như thế nào và Việt Nam hiện đang tụt hậu về mọi mặt ra sao so với nước khác.

Mong những ai chưa từng đi du lịch bất cứ đâu, nhưng chỉ cần tìm hiểu qua các kênh thông tin bên ngoài, cũng nhận ra bi kịch của đất nước và sự thiệt thòi của dân tộc Việt Nam. Và nguy cơ tụt hậu càng xa lẫn nguy cơ mất nước khi còn tiếp tục đi theo mô hình thể chế chính trị hiện tại do đảng cộng sản lãnh đạo.

Ngay cả những ai không có cả thì giờ, điều kiện tìm hiểu thông tin bên ngoài, thì thực tế cuộc sống hàng ngày đã là những câu trả lời sinh động nhất.

Dân tộc này đã đổ máu quá nhiều, đã hy sinh vài thế hệ cho tham vọng cướp và giữ chính quyền của đảng cộng sản, nhưng cho đến ngày hôm nay, những ai thực sự được lợi từ cái giá quá đắt này?

Là những ông quan to quan nhỏ, tầng lớp tư bản đỏ, những kẻ tiếp tục thay thế tầng lớp phong kiến địa chủ cường hào ác bá ngày xưa để ngồi lên đầu lên cổ nhân dân, với mức độ còn tệ hại hơn. Người nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị, công nhân viên chức, trí thức văn nghệ sĩ... tiếp tục bị bóc lột, bị khinh rẻ, chà đạp.

Ðất nước chưa bao giờ bị tàn phá đến vậy bởi một hệ thống chính quyền đã tạo ra và dung dưỡng, bao che cho bọn tham nhũng, bọn cướp ngày ngang nhiên vơ vét, bán tháo tất cả từ tài nguyên thiên nhiên, tài sản, lãnh thổ lãnh hải của đất nước. Cho đến từng đồng tiền đóng thuế, tiền gửi tiết kiệm... mồ hôi xương máu của nhân dân.

Ðất nước tiếp tục bị tàn phá bởi những kẻ bất tài, ngu dốt và tham lam, phá nát từ thiên nhiên, môi trường, đạo đức xã hội, văn hóa cho đến cái đẹp, cái thiện, thế giới tâm linh, nhân tính trong từng con người.

Chỉ cần nhìn từ cuộc sống trong xã hội Việt Nam hàng ngày cũng có thể nhận ra cái bi kịch hiện tại vô cùng to lớn của cả dân tộc.

Ðể hiểu rằng chỉ có người Việt Nam tự cứu lấy mình, cứu lấy dân tộc và đất nước.

Trước khi quá trình tàn phá được thực hiện trọn vẹn, để lại cho tương lai một đất nước tan hoang, rỗng ruột và những gánh nợ khổng lồ.

Trước khi quá trình xâm lược dần dần không tốn một viên đạn của nhà cầm quyền Trung Quốc cộng với sự tự nguyện cam tâm làm tay sai của nhà cầm quyền Việt Nam hoàn tất. Và người Việt Nam một buổi sáng thức dậy bàng hoàng nhận ra một chu kỳ Bắc thuộc mới lại bắt đầu!

Nguyễn Thị Khánh Minh - Những bóng


Nguyễn Thị Khánh Minh

Biển ơi!
Bóng em áo màu trăng huyễn ảo
Hạt lệ ngân thành tiếng sóng
Tiếng sóng đêm đêm rợn tiếng khóc
Tiếng khóc đêm đêm vỡ những giấc mơ
Cát đêm rất mặn
Những mảnh thuyền dao cắt
Những con ma nhìn em cúi mặt
Những con ma ăn thịt người tanh mùi quỉ dữ
Nhờ nhờ dưới màu nguyên sơ ánh mắt em
Tha Sala em ơi biển động về hư không [1]
Bóng em bản thông điệp máu thời mạt pháp
Bóng em áo màu trăng ngây thơ
Bóng em mảnh ván thuyền vĩnh quyết
Bóng em biển một thời cuồng phong
Bóng em thời gian miên viễn
Đêm nay, em nghe, tôi nghe, người nghe
Tiếng chuông những trái tim
Bồng em biển người bay về cố quận
Một dải biển thơm mùi khói hương ruột thịt
Đón em về.
Bước em xanh ngát biển khoan dung
Tha Sala em ơi biển động về mỗi trái tim

"Illusion of Time #5”. Ann Phong. 2009. Mixed media, 24x72 inches.
Bóng mẹ ngồi khung xương cong
Bóng thịt bóng da
Bóng đập phập phồng trái tim mẹ
Biển vời vợi xa
Biển không theo con về với khoang cá đầy
Nuôi vợ nuôi con nuôi mẹ nuôi dân chài những đời rất nhỏ
Biển theo con đi vào hàm cá mập
Hàm cá mập thời hải lý răng cưa chiếc vòi bạch tuộc
Bóng mẹ khô
Ôi con không về nữa

Bóng vợ lô xô cát mặn
Nón trắng xếp hàng như nón tang
Bóng vợ nhấp nhô đêm
Xa khơi đèn biển lập lòe mắt mộng
Biển chở về những con sóng lạnh
Âm âm tiếng đàn ông reo tiếng cá
Trôi đi đâu những con thuyền bé miệng
Bóng vợ oằn như sâu
Máu nóng đau chờ, đá kia cũng sợ
Ôi chồng không về đâu

Biển từ thuở Em bắt đầu viết trên sóng đường đi đẫm máu
Biển từ thuở hòa lệ mẹ
đến giờ biển không còn mặn nổi
đến giờ biển không còn biết khóc
Biển của Người biển ơi…

Sông ơi!

Bóng bé thơ bay trên những dòng sông
Bắc những cây cầu
Để,
Sớm mai em đi học
Buổi chiều em đi về
Bình an trên dòng nước lũ
Bóng bé thơ bay trong giấc mơ
Chiếc cầu, bóng cũng như em

Bóng bé thơ bay đàn bướm trắng [2]
Trên dòng sông hôm qua nuốt con đò,
Con đò làm từ giấy bạc lòng tham nên sinh mạng các em rất nhẹ
Sông dạt về những bóng xác lạnh
Bóng các em không còn trong lớp học
Bóng các em thôi ấm bếp lửa nhà sàn
Bóng các em nằm trên dòng sông,
Nhấp nhô bóng những con đò vỡ
Mẹ chờ, đá kia nghe đã mỏi
Mẹ bản nghèo xưa nay lầm lũi rẫy nương
Mẹ chiều nay hóa bóng bên bờ sông lặng lẽ
Bóng bé thơ bay đàn bướm trắng,
Rừng bản dập dềnh bướm trắng
Em bay về đâu…
Khách có về bên bờ sông
Thấy chiếc đò chở các em đi học
Đó là chiếc thuyền rất chắc chắn
Đàn bướm kết trong giấc mộng
Đưa em sang sông và lành lặn trở về

Biển cúng
Sông cúng
Biển khóc
Sông khóc
Đất ngập nước mắt
Trời mờ khói hương
Lệ tôi đêm nay cũng khói
Theo từng con bóng bay lên

Nguyễn thị Khánh Minh
Tháng 7, 2012

Trần Mộng Tú - Ðất nước tôi thon thả giọt đàn bầu


Trần Mộng Tú

Con gái tôi mới lấy chồng được một năm, cô muốn giới thiệu cho cha mẹ chồng và chồng của cô về quê mẹ mình, cô rủ bên chồng làm một chuyến du lịchViệt Nam. Không muốn để con đi một mình, tôi phải đi theo tháp tùng vì biết cô sẽ lúng túng khi giới thiệu ngôn ngữ và phong tục Việt Nam, dù cô nói tiếng Việt khá thông thạo.


Tôi dắt theo chồng, con gái, con rể và suôi gia đi trên tuyến du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long. Chiếc xe hơi có gắn máy lạnh, chở ba mươi lăm du khách, rời Sài Gòn đi ra ngoài thành phố, trên quốc lộ 1. Tôi ngồi phía sát bên cửa kính để nhìn ra ngoài cho rõ. Xe bắt đầu vào Bình Chánh, đi về hướng Long An. Đường sá hai bên, chỗ nào cũng đang đập phá, rỡ đất để xây công xưởng, tư xưởng hoặc cao ốc. Bây giờ đi về miền quê không đồng nghĩa đơn thuần là thấy đồng lúa, nương khoai, bãi rau xanh ngát nữa. Điều trước tiên tôi thấy là những bảng hiệu: Bán Vật Liệu Xây Cất, Công Ty Sắt, Thép; Trường Kỹ Nghệ Long An; Car Dealer Lifan, Ford New Holland; Máy Cầy-Máy Ủi Đất. Cũng mừng cho đất nước mình, trông như đang hưng thịnh.

Anh hướng dẫn viên du lịch, nói tiếng Anh không thông thạo lắm, nhưng đủ để khách nước ngoài tương đối hiểu anh nói gì.

Anh nói: Long An nơi nổi tiếng về trái thơm, dưa hấu ruột vàng, và gạo nếp. Vựa lúa Long An góp một phần không nhỏ vào số gạo xuất khẩu hàng năm của cả nước.GạoViệt Nam xuất khẩu hàng năm trên thế giới, đứng thứ hai, chỉ sau Thái Lan.Tuy nhiên lợi tức của một nông dân mỗi năm là 450 Mỹ kim cho một đầu người, nên trẻ em con nhà nông vẫn không được đi học, vì cha mẹ không có đủ tiền đóng học phí cho các em. Anh nói tiếp: Các em được đi học hay không vẫn trông vào quỹ từ thiện của nước ngoài. Tôi không biết anh định nói, quỹ nước ngoài là quỹ của mấy ông Tây, bà Mỹ hay của Việt Kiều.

Khi vào khu vực tỉnh Long An, Bến Tre chúng tôi được chuyển sang thuyền máy. Hai chiếc thuyền máy chở ba mươi lăm người đi dọc theo sông Cửu Long bát ngát. Chúng tôi gặp rất nhiều những ngôi nhà nổi trên sông, thật ra không phải nhà, mà là vựa chứa cá.

Đó là một cái mảng có mái, diện tích như một ngôi nhà lớn, có nước đá giữ cho cá tươi và đặc biệt mảng nào cũng có một, hai, con chó canh gác cá, không cho kẻ trộm lấy cá khi không có chủ mảng ở đó. Nước đá làm từ nước sông lấy thẳng lên, không lọc, nên chỉ dùng được trong việc giữ cá. Sông Cửu Long cung cấp cho ngư dân hơn năm trăm loại cá khác nhau. Ngoài cung cấp cá, sông còn cung cấp cả cát, và đất sét vét từ hai bên sông. Những mảng chở cát, to đến có thể chở được 800 tấn trên một mảng, mỗi mảng được kéo theo bằng một thuyền máy phía trước. Suốt dọc sông đi, tôi thấy số mảng chở cát, và số mảng giữ cá nhiều ngang bằng nhau.

Những người cha của miền đồng bằng sông Cửu Long này suốt đời ở sông thả lưới bắt cá, tài xế chạy máy tầu hay vét đất bên bờ, trong khi những người mẹ lại là ngưới vá lưới sửa tầu. Tầu máy chúng tôi đi qua thỉnh thoảng lại bắt gặp ngay sát bờ, những phụ nữ tuổi trạc 25-40 đang sửa thuyền đánh cá, một công việc làm tay rất vất vả. Tôi thấy những thân hình bé nhỏ, nón lá đội úp, có người còn bịt cái khăn rằn che ngang miệng, nên không nhìn rõ hết mặt chỉ thấy một phần mũi hay một phần cằm. Các bà người nào cũng đen đủi vì nắng và bùn tẩm vào da thịt, quần áo; tay cầm búa, cầm rìu, tay uốn cong những nẹp sắt, các bà vá những con tầu âu yếm như vá áo cho chồng, con.  Chao ôi, thân cò eo sèo mặt nước cả mưa nắng hai mùa!
 Thỉnh thoảng một đám lục bình trôi qua, cụm hoa mầu tím nhạt, một mầu tím đẹp bình thản, chịu đựng, bền bỉ như phụ nữ trên sông nước Cửu Long này. Mùi nước, mùi sông, mùi nắng, mùi gió, mùi cá, và ngay cả những đám mây trắng trên cao đang buông xuống, tất cả đều như có thoảng hơi bùn, làm nên một mùi rất đỗi thân quen: Mùi quê hương yêu dấu!


Chúng tôi được tầu ghé vào đất liền, cho khách du lịch ăn trưa và xem làm kẹo dừa, xem gà trọi, (một môn giải trí phổ thông Nam Bộ.) Bến Tre là xứ dừa, ngày trước con gái Bến Tre nổi tiếng tóc mướt dầu dừa, da trắng sữa dừa. Bây giờ các cô không biết lưu lạc phương nào! Chỉ còn mấy em mới lớn đứng cắt kẹo dừa bằng dao, gói kẹo dừa bằng tay. Du khách được nếm kẹo, uống rượu cất bằng nước dừa, có pha thêm mật ong.

Sau mua bán, chúng tôi được chuyển sang xuồng máy nhỏ. Cứ bốn người một thuyền. Tôi để con gái ngồi với chồng và bố mẹ chồng một thuyền, Vợ chồng tôi ngồi với hai người lạ, một thanh niên Hòa Lan đi du lịch một mình, và một phụ nữ nữa cũng đi một mình, đến từ Úc. Tôi được anh hướng dẫn cho biết, năm nay, vào tháng này, người Việt về ít hơn người nước ngoài. (Người Việt hải ngoại bây giờ được nhận là người nhà rồi.) Thuyền đi qua những ngã sông rất nhỏ, chẳng khác nào xe đang đi ngoài đường, rẽ vào hẻm. Gần mươi chiếc thuyền máy nhỏ len lách giữa hai hàng cây xanh gần như giao vào nhau trên mái thuyền. Tôi biết một bên là dừa nước, loại dùng để lợp mái nhà, bên kia, tôi không biết những bụi cây lá nhỏ là loại cây gì, đi một đỗi, tôi cố nhận định mà vẫn không biết, định hỏi người lái thuyền, thì mắt chạm phải những trái mầu xanh, có hình tròn và dẹp như con vụ (con quay). À, nhớ ra rồi, những khóm này là khóm bần. Chẳng biết ai đặt tên cho cây nghe tội thế! “Bần”! Bần là nghèo, chắc những bụi cây này sẽ mãi mãi ở đây thôi.

 Thỉnh thoảng thuyền xô vào một đám lục bình, đẩy chúng lênh đênh trên làn nước đục. Ai đó đã ví: “ Đời người như lục bình trôi”. Lục bình trôi theo con nước, theo gió, và chao đảo ngay cả với những cái rẽ của một con thuyền nào đó, nó đâu có tự mình định hướng được trên sông. Nên nó một đời ngơ ngác.

 Em đứng thẳng cho anh nhìn vào mắt
 Anh vướt hộ em những hạt long lanh
 Con sông chảy cả một thuyền dĩ vãng
 Trong mắt em ngơ ngác đám lục bình. (tmt)

Chúng tôi lại rời thuyền lên bộ. Đi vào vườn cây ăn trái, qua con đường làng nhỏ, hai bên thỉnh thoảng có những ngôi mộ xây nổi trên vườn nhà, tôi vừa đi vừa tò mò ngắm những bức hình, đọc năm sinh, năm tử trên những mộ bia. Những cụ già suốt đời sống ở miệt vườn, chết ở lại trên phần đất của giòng họ mình, họ đã nhìn thấy bao nhiêu du khách người Mỹ, người Việt đi qua trước mặt, hồn họ đã cảm nhận được điều gì?

Lên đây chúng tôi được cho ăn trái cây vườn. Mỗi người một đĩa nhỏ, có: một trái chuối cau, mấy lát dưa hấu nhỏ, mấy lát thơm, mấy lát sa bô chê (sapotier), và chúng tôi được mời nghe hát cổ nhạc. Ban nhạc gồm có bốn người đàn ông, tuổi giữa năm mươi, sáu mươi. Nhạc sĩ ngồi theo thứ tự: đàn Độc Huyền (đàn Bầu), đàn Kìm (đàn Cò), đàn Nguyệt (tròn như mặt trăng) và đàn Guita cổ (chỉ có 5 giây). Hai người hát vọng cổ là một cô tuổi dưới ba mươi, mặc nguyên một bộ áo dài, quần dài mầu hồng và một người đàn ông trung niên.

Điều thiếu sót là người hướng dẫn không cắt nghĩa cho du khách đó là cổ nhạc. Và nghe hát vọng cổ thì phải vỗ tay lúc người ca hạ giọng ở câu cuối. Cô gái hát một bài vọng cổ “Chia tay mười hai con phượng hoàng” rồi một bài trách người yêu bỏ ra đi tìm công danh ở chốn xa xăm, quên người con gái nơi quê nhà. Không thấy ai vỗ tay khi mình xuống sáu câu, nên đến khi người đồng ban lên hát cô phải đứng vỗ tay, làm mẫu.

 Ngay từ lúc những nhạc công rộn rã mang nhạc khí ra, tôi nhìn, thấy đã lòng rưng rưng rồi. Khi họ ngồi xếp hàng trước mặt tôi, thì thật sự, núm ruột xa ngàn dặm (của tôi) quặn thắt. Tôi thấy thương cho sự lạc lõng của họ ngay trong làng, trong xóm của họ. Trong số ba mươi lăm khách du lịch bằng thuyền máy trên sông Cửu Long ngày hôm đó, chỉ có một người rưỡi là Việt Nam (Tôi nguyên và con gái tôi một phần hai Việt Nam,) phần còn lại, họ là Mỹ, Đức, Úc, Thụy Sĩ.

Ban nhạc chơi đàn thật điệu nghệ. Tiếng đàn bầu thánh thót trước tiên, làm tôi nhớ câu:

 Đàn bầu ai gảy thì nghe
 Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.

Tiếng đàn đó quyến rũ đến thế nào mà ông bà ta ngày trước phải thốt lên như thế! Giờ đây, đang gảy lên để cho một mình tôi thưởng thức, tôi vừa thấy mình đặc biệt vừa ngậm ngùi thương cho người nhạc sĩ. Rồi tiếp theo là tất cả tiếng đàn cùng cất lên, tôi vừa nghe vừa chậm nước mắt. Những cái tai chung quanh tôi họ nghe như thế nào nhỉ? Không lẽ “Đàn gảy tai trâu” là trường hợp này đây?

Đất nước tôi bây giờ từ thành thị đến thôn quê đều sống nhờ vào du khách, nên linh hồn của người nằm ở phần đất trên kia, chắc cũng đã quen với những tiếng chân của du khách phương xa, họ có rộn ràng chờ đón du khách? Cũng như những nhạc công này, chắc họ đã quá quen với những lần gảy đàn và hát vọng cổ cho toàn người ngoại quốc, không biết một chút gì về cổ nhạc Việt Nam.

 Tôi ngồi đây, tự cho mình có cái may được cả ban cổ nhạc trình diễn cho một riêng mình. Tôi đã qua thời con gái, nên tôi được phép nghe đàn bầu. Tôi còn được nhỏ giọt lệ cho riêng tôi và cho những giọt đàn thon thả đó.

tmt
23/01/2010


Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

William Choong - Việt Nam 'bủa lưới' Trung Quốc - Việt Nam 'bủa lưới' Trung Quốc


William Choong

Trong cuốn sách mới nhất của Hugh White, "The China Choice: Why America Should Share Power" - "Lựa chọn Trung Quốc - Tại sao Hoa Kỳ Phải Chia sẻ Quyền lực", vị giáo sư Australia cho rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc phải chia nhau Châu Á nhằm giữ hòa bình trong khu vực.

Một vấn đề cụ thể là Hoa Kỳ phải nhường Đông Dương cho Trung Quốc, vị cựu quan chức quốc phòng nói thêm.

Gợi ý này đã làm cả vùng tức hộc máu, nhất là Việt Nam, nước có lịch sử sóng gió với Trung Quốc.

Nhưng nếu người ta có cái nhìn thực tế khách quan thì chuyện Việt Nam bị rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc không có gì là đáng ngạc nhiên.

Dù sao thì Trung Quốc cũng đã bốn lần thống trị Việt Nam trong giai đoạn từ thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ mười lăm.

Vào cuối thập niên 1960 trong cuộc chiến Việt Nam, Trung Quốc đã đổ viện trợ kinh tế và quân sự vào Bắc Việt Nam khi nước này đang chống lại Hoa Kỳ khiến cả hai bên coi quan hệ giữa họ như "môi với răng".

Nhưng bất chấp điều này, "môi với răng" đã trở thành chứng viêm lợi và sâu răng trầm trọng.

Hồi năm 1971, sự tiếp cận Washington của Bắc Kinh là màn dạo đầu cho xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc trong năm 1979.

Trong năm 1988, hai nước đã giao tranh tại đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa.

Máu nóng vẫn tiếp diễn cho tới ngày nay khi Hà Nội và Bắc Kinh tranh chấp lãnh hải tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Vậy nên không có gì đáng ngạc nhiên khi quan hệ Trung-Việt ngày nay đầy phức tạp.

Không 'ăn phân Tàu'

Theo lời Tiến sỹ Tim Huxley, giám đốc phụ trách Châu Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế có trụ sở ở London, Việt Nam đã có 1000 năm chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc.

Ông nói thêm rằng đưa Việt Nam vào quỹ đạo của Trung Quốc cũng giống như "bắt đầu một cuộc chiến".
Cựu nhà báo của Hãng Thông tấn Pháp, ông Robert Templer, trong cuốn sách ra năm 1999 "Bóng Và Gió", cũng nghĩ như vậy khi nói rằng "điểm nhấn chủ đạo" trong lịch sử chính thức của Việt Nam luôn là sự kháng cự Trung Quốc.

Ông [Templer] đưa ra ví dụ về ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo thân Trung Quốc và từng có nhiều kỳ nghỉ ở Trung Quốc.

Khi được hỏi liệu tình huống nào tốt hơn, nằm dưới sự cai quản của quân đội Quốc dân Tưởng Giới Thạch hay sự quay trở lại của Pháp, câu trả lời có tiếng của ông Hồ là ông "thà ngửi chút phân Pháp trong vài năm còn hơn phải ăn phân Tàu trong ngàn năm tới".

Đối mặt với mối đe dọa hiển hiện từ sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc, Việt Nam cũng không thiếu các sáng kiến địa chính trị.

Giống như nhiều nước Châu Á khác, Việt Nam đã áp dụng chiến lược ngoại giao phổ biến là nhập cuộc nhưng "không chọn" giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Hà Nội làm ra vẻ có chút tình đoàn kết với Bắc Kinh.

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ hồi năm 1991, cả hai bên đã có những cơ chế vững chắc để xử lý quan hệ với hơn 100 đoàn thăm viếng lẫn nhău mỗi năm.

Trung Quốc cũng là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.

Việt Nam cũng cố gắng hàn gắn và xây dựng quan hệ với Hoa Kỳ [và coi đó] như bảo hiểm chiến lược trước Trung Quốc.

Họ cho các tàu hải quân Hoa Kỳ cập cảng.

Trong tháng Sáu, Việt Nam đã đón Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta, báo hiệu tầm cao mới của quan hệ.

Nhưng tiếp cận cả Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng có giới hạn của nó.

Dù sao thì Việt Nam cũng có sự ngờ vực thâm sâu đối với Trung Quốc từ lịch sử ngàn năm và với Hoa Kỳ sau cuộc chiến Việt Nam đau thương.

Đây là điểm mà mảng thứ hai trong chiến lược của Hà Nội được áp dụng - bủa lưới.

Bằng cách trói Trung Quốc vào mạng lưới các tổ chức khu vực - chẳng hạn Thượng đỉnh Đông Á và Diễn đàn Vùng Asean - Việt Nam hy vọng những luật lệ của những thực thể như thế sẽ trói gã khổng lồ Gulliver Trung Quốc bằng những sợi dây của các chú tí hon Liliput.

'Tức phát điên'

Bủa lưới không phải là điều gì mới mẻ.

Khi viết bài cho báo Business Times [của Singapore] hồi năm 1992, quan chức Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Hồng Thạch nói quan hệ Trung - Việt phải được kết nối với "mạng lưới lợi ích kinh tế và chính trị lớn hơn".

Hồi năm 2010, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã làm Trung Quốc tức phát điên khi tuyên bố tại Diễn đàn Vùng Asean ở Hà Nội rằng Washington sẵn sàng đóng vai trò trong đàm phán đa phương nhằm giải quyết tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa.

Một số nhà phân tích nghi ngờ rằng tuyên bố của bà Clinton một phần được sự trợ giúp của Hà Nội, nước chủ tịch Asean trong năm đó.

Kéo Trung Quốc vào các đàm phán đa phương sẽ tăng vị thế của các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines.


Trung Quốc đã gây ảnh hưởng với Campuchia để không đưa Biển Đông vào thông cáo của Asean
Tại cuộc gặp của Asean mới đây ở Phnom Penh, Việt Nam đã [phải] nếm vị thuốc chính họ [kê đơn].

Trung Quốc đã dùng ảnh hưởng của họ đối với Campuchia - nước chủ tịch Asean - để ngưng công bố thông cáo trong đó có đề cập tới Biển Nam Trung Hoa.

Đó là một cuộc đảo chính ngoại giao cho Trung Quốc. Nhưng chiến thắng này cũng làm tăng lo ngại trong khu vực về tham vọng đầy tự phụ của Trung Quốc và ngoại trưởng nước này đã phải có chuyến thăm nhanh chóng trong vùng nhằm giảm thiểu thiệt hại.

Chiến lược hỗn hợp

Về lâu dài, chiến lược hỗn hợp tiếp cận và bủa lưới sẽ mang lại kết quả.

Nhưng chiến lược hỗn hợp chỉ tồn tại khi Hà Nội không phải chọn giữa Bắc Kinh và Washington.

Những căng thẳng gần đây ở Biển Nam Trung Hoa cho thấy Việt Nam có thể sẽ phải sớm có lựa chọn.

"Những trao đổi gia tăng của Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ có thể sẽ khiến họ nhờ tới sự trợ giúp của Chú Sam nếu có xung đột với Trung Quốc."

Philippines, nước đã có căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc về Biển Nam Trung Hoa, rõ ràng đang trục lợi từ liên minh quân sự với Hoa Kỳ.

Những trao đổi gia tăng của Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ có thể sẽ khiến họ nhờ tới sự trợ giúp của Chú Sam nếu có xung đột với Trung Quốc.

Giáo sư White cũng nhắc tới điểm này trong cuốn sách mới của ông. Trong một kịch bản, Việt Nam và Trung Quốc giao chiến trong một sự cố khác trên Biển Nam Trung Hoa và Hà Nội đề nghị Hoa Kỳ trợ giúp.
Điều này khiến căng thẳng tăng nhanh và tạo rủi ro có chiến tranh hạt nhân giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Đây cũng chính là thế tiến thoái lưỡng nan của Hà Nội nếu họ lại giao chiến với Bắc Kinh tại Biển Nam Trung Hoa.

Họ sẽ thấy mình bị kẹt trong thế bất khả thắng - nhờ tới Hoa Kỳ và tạo rủi ro căng thẳng leo thao, hay chịu thua Trung Quốc và có nguy cơ bị hút vào quỹ đạo của nước này - một lần nữa.

Bài viết nguyên văn của tác giả William Choong, tựa đề do BBC đặt.