Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Luân Hoán - Nguyễn Mộng Giác, dòng văn bên dòng sông Côn


Luân Hoán

Có một thời tôi từng tưởng lầm và tưởng bở: bốn chữ Địa Linh Nhân Kiệt chỉ dành riêng để vinh danh quê hương nghèo khó của người Quảng Nam. Về sau tôi mới hiểu ra, bốn chữ cao quí này được dùng rất rộng rãi, và có thể nói bất cứ vùng đất nào trên lãnh thổ Việt Nam, đều có thể, đều xứng đáng mang trước ngực bốn chữ đã trở thành “phổ thông” này. Như vậy thật công bình. Bởi tính chất thiêng liêng của mỗi vùng đất (địa linh) là điều có thật, được từng vị thổ địa làm “công an khu vực”, “quản lý” một cách nghiệm ngặt. Về nhân kiệt, tuy có sự chênh lệch, nhưng ít nhiều gì mỗi vùng đều có. Quảng Nam và Bình Định là hai vùng sinh sản ra nhiều “anh kiệt”, đồng thời  cũng sản xuất những con dân có óc địa phương, cục bộ vào bậc nhất. Nếu có sự ganh đua, so tài giữa hai vùng này, dù bất cứ ở lãnh vực nào, cũng thường xảy ra những căng thẳng, gay go. Ngày tôi còn đi học, những lần đội bóng của trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, đụng đội bóng của trường Cường Để Bình Định vẫn thường là những cuộc so giày nảy lửa, nhiều lúc dẫn đến “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”. Trong lãnh vực văn học, về nhân tài của Quảng Nam và Bình Định, chưa biết vùng nào lấn lướt hơn. Tôi có thể bị đồng hương quở là mất gốc, thiển cận với nhận xét: vào cuối thế kỷ 20, đội ngũ những người sinh hoạt văn học xuất thân từ Bình Định có lẽ nặng cân hơn Quảng Nam một chút. Nhân kiệt góp phần làm cho cán cân chênh lệch, tôi nghĩ, có lẽ không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Mộng Giác.

          Căn cứ vào những sinh hoạt, Nguyễn Mộng Giác còn có thể được gọi là nhà báo, nhà biên khảo, nhà phê bình…nhưng tôi tin rằng ông Nguyễn Mộng Giác, không phải người ham mang trên mình quá nhiều loại “nhà”, như một số người đã làm, nên tôi chỉ gọi ông là nhà văn. Xét kỹ ra, hai tiếng “nhà văn” oai phong, lẫm liệt, được trọng vọng hơn hẳn nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo…rất nhiều.

          Nhà văn Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Ngân Sơn, Phú Yên, Bình Định. Theo một bài viết của nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân, thời trung học, Nguyễn Mộng Giác là lứa học trò đầu tiên của trường trung học Cường Để, rồi lang thang đến trường Võ Tánh Nha Trang, làm sinh viên của Văn Khoa Sài Gòn. Cuối cùng con đường học vấn tại trường ốc của ông được kết thúc năm 1963 với mảnh bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, ban Việt Hán. Ông tân thủ khoa được bổ dụng giảng dạy tại trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế. Sau hai năm, ông xin thuyên chuyển về trường Cường Để. Có được với đất thần kinh trên dưới sáu năm, Nguyễn Mộng Giác có nhiều cơ hội “Xin Huế Một Người Tình” và cô nữ sinh áo trắng Nguyễn Khoa Diệu Chi của trường Đồng Khánh đã bắt dính anh chàng Bình Định, vốn là ông thầy đáng kính của mình. Chẳng rõ họ có đưa nhau “về dinh” ngay trong chuyến đổi vị trí công tác của ông Giác hay không?

          Về đến Bình Định, Nguyễn Mộng Giác được bổ nhiệm chức Giám Học ngay niên khóa sau, và đến năm 1971, ông lên làm Hiệu Trưởng trong hai niên khóa, rồi giữ chức Chánh Sở Học Chánh Bình Định Qui Nhơn. (Sở Học Chánh hình như được thành lập trong thời Đệ nhị nền Cộng Hòa Việt Nam, và bành trướng mạnh trong giai đoạn đảng Dân Chủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phát động. Sở có nhiệm vụ trông coi việc giáo dục của cả hai bậc trung và tiểu học).  Ông thầy Nguyễn Mộng Giác quả đã không có duyên cận kề nhiều với hơi hám đám thư sinh, nên cuối năm 1974, được chuyển luôn vào Sài Gòn, làm chuyên viên nghiên cứu tại Bộ Giáo Dục. Đứng trên bục giảng hay ngồi điều nghiên, sưu tầm tại Nha sở, nơi nào chắc cũng có cái thú riêng. Và có lẽ cái nghề tay trái đang có mưu toan lấn lướt cái “nghề bán cháo phổi”, nên tôi tin ông Nguyễn Mộng Giác bằng lòng với công việc mới của mình hơn. Nhưng cái nghĩa vụ công chức của thầy giáo Giác không kéo dài được lâu. Ông là người đầu tiên của Nha Nghiên Cứu Sưu Tầm Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa được chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa cho nghỉ việc. Và có lẽ ông cũng được mời tham dự nhiều lớp bổ túc chính trị. Những kinh nghiệm trong thời chống Pháp mà ông Nguyễn Khắc Phê nhắc trong bài “tản mạn nhân gặp lại nhà văn Nguyễn Mộng Giác” trên Talawas: “… Tuy còn nhỏ tuổi học sinh, chúng tôi đều được tổ chức cho học tập kiểm điểm tự thú những hành vi tư tưởng hủ bại ‘mất lập trường giai cấp’ ”, chắc chưa đủ để một ông ngụy quyền có văn bằng cấp Đại học thư thả trong cuộc đổi đời mới. Chính vì thế, ròng rã trong sáu năm, ông Nguyễn Mộng Giác xoay đời mình theo nhiều nghề lao động chân tay khác nhau. Ông đã vinh quang đi bán sách cũ ở chợ trời, rồi làm công nhân hẳn hoi trong tổ hợp mì sợi Dân Sinh ở Chợ Lớn. Cuối cùng ông chọn lối thoát vượt biên và sau bốn lần giỡn mặt với tử thần, ông và cậu con trai mới qua đến đảo Kulu, Galang Nam Dương vào cuối năm 1981. Đến tháng 11 năm 1982 cha con ông được nhận vào Hoa Kỳ. Trước đó không lâu, trưởng nữ của ông đã định cư tại HoustonTexas. Họ gặp nhau. Nhưng ba cha con ông không ở với thành phố nắng ấm này lâu. Họ dắt nhau về California, và bắt đầu cuộc sống mới từ năm 1983. Những năm đầu sống trên đất người được nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết ngắn gọn:
          “…Bốn năm đầu, tôi vừa học nghề thợ in vừa làm thuê cho báo Việt ngữ ở quận Cam. Công việc nhiều mà lương ít ỏi quá, không đủ gởi về cho nhà tôi và cháu út còn ở lại, nên từ năm 1987, tôi xin làm cho công ty ấn loát niên giám điện thoại GTE của Mỹ. Công việc ấy tôi giữ được lâu bền hơn mười năm qua, từ 1987 đến nay. Nhà tôi và cháu út qua Mỹ tháng 3 năm 1990 trong chương trình đoàn tụ gia đình (ODP)”
                                                                                  (Nguyễn Mộng Giác, trả lời phỏng vấn Đặc san Cường Để-1998)

          Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết, ông khởi viết rất sớm, từ thời sinh viên. Nhưng khác với nhiều người, ông đã không gởi bài đến các tạp chí. Ông đã hủy bỏ khá nhiều bản thảo sau khi đọc những tác phẩm lỗi lạc của các văn hào thế giới. Sự thận trọng cầm chân ông khá lâu, cho đến dịp ông bén duyên cùng tạp chí Bách Khoa, năm 1971, lúc đó ông vừa vượt qua lứa tuổi “tam thập”.

          Miền Nam, nhất là Sài Gòn, lúc bấy giờ truyện chưởng Kim Dung được đón nhận thành một phong trào rầm rộ. Truyện của cây bút người Trung Hoa vẫn còn đang ở nước Tàu này được dịch đăng từng kỳ, tràng giang đại hải trên các nhật báo, tuần báo…in thành sách, thu hút mạnh mẽ bạn đọc từ bình dân đến trí thức. Thuở thiếu thời, tôi đã bị bội thực loại truyện kiếm hiệp cấp thấp hơn, nên thoạt tiên không có nhiều thích thú đến với những Vi Tiểu Bảo, Vô Kỵ, Nhạc Bất Quần, Trương Tam Phong, Lão Ngoan Đồng, Kiều Phong, Lâm Bình Chi…Nhưng rồi Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung, từ suy nghĩ, phân giải của một nhà giáo,  sừng sững thành sách năm 1972, đã cù rủ tôi trở lại với truyện chưởng và tức thì, tôi say mê những Triệu Minh, Doanh Doanh, Hoàng Dung, Chu Chỉ Nhược, Hân Tố Tố…Dù thật sự, tôi chưa được đọc trọn vẹn cuốn tiểu luận về Kim Dung của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Tôi chỉ đọc loáng thoáng đâu đó từng đoạn rời. Giá trị đích thực của cuốn tiểu luận đối với cá nhân tôi chính là cái uy tín của tác giả ngày một nổi bật giữa làng viết Sài Gòn. Tôi biết danh Nguyễn Mộng Giác từ dạo ấy. Tạp chí Bách Khoa cũng là tờ báo tôi thường se sua làm dáng với bạn bè, nên cái tên Nguyễn Mộng Giác, trụ dưới truyện dài Qua Cầu Gió Bay làm tôi cảm thấy mỗi ngày một thân quen hơn.

          Từ Bách Khoa, ông Nguyễn Mộng Giác đã tự tin, đã vượt qua cái khớp trước những đàn anh lỗi lạc, ông viết đều tay một cách vững vàng. Những tác phẩm đầy đủ giá trị văn học nghệ thuật của ông tuần tự ra mắt bạn đọc. Năm 1973 với tập truyện ngắn Bão Rớt và cuốn truyện dài Tiếng Chim Vườn Cũ được nhà xuất bản Trí Đăng phát hành. Qua năm 1974, hai cuốn truyện dài ra đời, Qua Cầu Gió Bay do Văn Mới in và Đường Một Chiều, được ra mắt bạn đọc bởi nhà xuất bản Nam Giao. Tác phẩm Đường Một Chiều đã mang đến cho tác giả giải thưởng của Trung tâm Văn bút Việt Nam năm 1974.

          Đường Một Chiều là một cuốn tiểu thuyết tình cảm, phản ảnh một góc nhỏ xã hội miền Nam trong thời chinh chiến. Nhân vật chính là một sĩ quan cấp tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đồn trú xa nhà với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng một tiểu đoàn tác chiến. Hành quân là “nghề của chàng”. Cho đến một hôm, tương tự như anh lính Hữu Loan, ông thiếu tá nhận được một điện tín với tin không vui: vợ ông qua đời. Gia đình ông gồm Thúy, vợ ông, bé Ly, 14 tuổi con riêng của bà Thúy. Ngoài ra, hạ sĩ Ninh, được vợ chồng ông xem như em, ở chung nhà, vừa làm nhiệm vụ tài xế vừa làm quản gia cho gia đình. Chính Ninh là người mở ra thảm kịch gia đình cho thiếu tá Lộc. Xa vắng gia đình lâu ngày và thường trực cận kề với cái chết, những người lính hay tạo cho mình những cơ hội để tạm “lãng quên đời” đó là cái thú uống ruợu. Hạ sĩ Ninh tốt số, được mang chữ thọ to tướng trên người, nhưng chàng thanh niên hai mươi tuổi này, có lẽ vì “lửa gần rơm” lâu ngày nên sinh tật.  Gã mượn rượu để tỏ tình. Trong một lần “tới chỉ” với vài người bạn cùng đơn vị, gã bước thấp bước cao ra về và vô tình đi lạc vào tận phòng ngủ của bà Lộc. Chuyến gõ cửa tình dục của Ninh không nhằm giờ, gã bị Thiếu tá phu nhân chống cự. Trong giằng co, Ninh đã kết liễu cuộc đời người đàn bà xuất thân vũ nữ, bằng mười ngón tay thô bạo của gã . Tất cả hoạt cảnh này diễn ra trước mắt quan sát của Ly. Nhưng cô lolita, chẳng rõ lòng đã biết yêu, biết hận gì chưa mà đã không nói ra sự thật trước những viên điều tra của Quân cảnh tư pháp, cũng như trước phiên xử của Tòa án Quân sự. Án mạng có nhiều nghi vấn chưa được làm sáng tỏ. Giữa những tranh luận sôi nổi của Ủy viên chính phủ và Luật sư biện hộ, bỗng có thêm một nhân vật xuất hiện. Người đó là chồng cũ của Thúy, người mà bà Thiếu tá nói dối với chồng là đã chết. Và càng gay cấn, bất ngờ hơn, khi pháp luật chưa tìm được sự liên quan giữa cái chết của Thúy và người chồng cũ, thì Ninh đột ngột tự sát trong quân lao cùng sự bỏ nhà đi bụi của Ly.

          Tôi ý thức được việc tóm lược một cốt truyện nặng tính cách văn học phải hoàn toàn chính xác và với giọng văn nghiêm chỉnh. Nhưng tôi đã không làm nổi điều đó, trí nhớ tôi đã quá cùn mòn.  Nhưng không thuật đại khái lại tình tiết của câu chuyện thì tôi tự thấy thiếu thiếu một cái gì. Có lẽ vì tác phẩm trúng giải quan trọng của nhà văn Nguyễn Mộng Giác tôi không tìm thấy tại nơi tôi đang cư ngụ. Và trong nước, sau thời kỳ ông Tần Thủy Hoàng tái sinh lộn trên đất Việt Nam, chắc gì đã tìm ra được Đường Một Chiều. Tôi bạo gan vì vậy, dám mong tác giả và bạn đọc nhắc nhở, bổ sung. Đọc cốt truyện, dù chính xác trăm phần trăm cũng không tìm hiểu được văn phong, tư tưởng của tác giả. Chỉ biết đại khái về cốt truyện không thể lượng định được giá trị văn học của một tác phẩm. Hơn nữa, cùng một cốt truyện, nhưng nhiều người viết, hay dở khác nhau là chuyện thường. Cái tài của nhà văn, nằm trong suy nghĩ và diễn đạt riêng của mỗi người. Do đó, từ một cốt truyện có thể không có gì mới lạ, chỉ là những mẩu đời thường mà thể hiện thành tác phẩm có giá trị văn học, được nhiều người có uy tín công nhận, không phải là chuyện dễ. Tôi vẫn nghĩ, giải thưởng của Trung tâm Văn bút Việt Nam là một giải cao quí, và ban giám khảo là những người có cái tâm trong sáng với văn học. Có đến năm vị trong ban giám khảo: Nguyễn Thị Vinh, Tam Lang, Nhật Tiến, Sơn Nam, Phạm Việt Tuyền
          Phát biểu về giá trị Đường Một Chiều, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn viết:         
      
         “ Theo tôi, đó là một tác phẩm được sáng tác rất công phu. Say sưa mà vẫn thận trọng, đầy cảm hứng mà vẫn tiết chế, cô đọng bằng một kỹ thuật cao và khéo léo, nội dung chứa nhiều ý tưởng phong phú mà hình thức vẫn gọn gàng lôi cuốn. Những đặc điểm đó khiến Đường Một Chiều đích thực là một tác phẩm văn chương đúng nghĩa…Truyện của Nguyễn Mộng Giác thường đặt ra cho người đọc những câu hỏi, tác giả không trả lời, chính mỗi người chúng ta, nếu chúng ta là những độc giả không ngại phải băn khoăm suy nghĩ khi đọc sách thì chính mỗi người trong chúng ta sẽ tự tìm lấy câu trả lời riêng cho mình… Điểm đáng đề cao hơn nữa của truyện Đường Một Chiều, tác phẩm thứ năm của Nguyễn Mộng Giác, là thêm một lần nữa chứng tỏ cái ý hướng trách nhiệm của tác giả đối với xã hội. Truyện của Nguyễn Mộng Giác bao giờ cũng từ chối làm chiều long những kẻ trưởng giả giầu sang, ăn chơi phè phỡn, hưởng thụ chán chê rồi học đòi triết lý thời trang rằng cuộc đời là hư vô, phi lý, buồn nôn.”
                                                                                                        (Văn Học số 233 tháng 9 và 10-2006)
   Ý kiến hội của đồng giám khảo do nhà nghiên cứu văn học, ông Phạm Việt Tuyền đại diện, tiên đoán và khen ngợi:
          “…Phần đông độc giả sau này chắc sẽ phải đọc một hơi từ đầu đến cuối cuốn tiểu thuyết như một số vị trong Hội Đồng Tuyển Trạch, bởi vì tình tiết rất hấp dẫn…Khi đã xảy ra thành sự kiện thực tế rồi thì vẫn còn tạo bâng khuâng triết lý như tách trà thơm, ly rượu ngon đượm thêm tình nghĩa nặng sâu…”

          Đường Một Chiều bất ngờ mở vào Cul de Sac. Dấu chấm hết là quà tặng của chính quyền đất nước thống nhất dành cho những người cầm bút đã từng nặng lòng với miềnNam.  Rất may những người có lòng với chữ nghĩa vẫn lặng lẽ sáng tác. Riêng nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã khởi hành trở lại vào năm 1977. Và lần này, có lẽ nhờ không bận tâm in ấn, phổ biến qua báo chí, chi phối thời gian, nên ông đi một đường thong dong. Bộ trường thiên tiểu thuyết đầu tiên mang tên Sông Côn Mùa Lũ được hoàn tất năm 1981. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã trình bày vắn tắt về tác phẩm kỳ vỹ này với các bạn sinh viên đại học Berkeley:
          “…Nói chung, bộ trường thiên lấy khung cảnh thời Tây Sơn, thế kỷ 18 và khởi đầu là sự nghiệp của anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và chấm dứt khi Nguyễn Huệ mất. Đây là thời gian có nhiều biến động. Quan trọng là qua những biến động đó, cái thử thách dành cho người đương thời, nhất là những nho sĩ, những người viết lách, những người có trình độ trí thức cao phong phú lắm. Mỗi người một thái độ phản ứng khác nhau. Từ thái độ bất hợp tác với triều mới như Lý Trần Quán, đến thái độ hợp tác như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, đến người thuộc loại cơ hội như Nguyễn Hữu Chỉnh. Một thời đại mà tất cả biến động của lịch sử và cái phức tạp của đời sống hiện ra trọn vẹn, giống như những phức tạp hiện ra trong thời kỳ cộng sản ở Việt Nam vậy, giống nhau lắm. Và vì giống như vậy, thay vì trực tiếp viết về cộng sản, tôi chuyển qua hai thế kỷ trước viết về thời Tây Sơn. Có nhiều hoàn cảnh mà tôi suy từ thời mình bây giờ sang thời trước…”

         Trước sự hứng thú lắng nghe của đám sinh viên, nhà văn Nguyễn Mông Giác cũng đã hào hứng nhắc lại những kỷ niệm trong khi hoàn thành tác phẩm:
          “…Hoàn cảnh viết bộ truyện này là hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Sau năm 1975, tôi đang làm chuyên viên nghiên cứu tại Bộ Giáo dục Sài Gòn (BGDSG) thì bị cho nghỉ việc. Tôi bán sách cũ ngoài chợ trời hai năm, sau đó xin làm công cho một tổ hợp mì sợi. Các bạn có gia đình qua sau năm 1975 biết là cả nước Việt Nam trong giai đoạn thiếu gạo và phải ăn bo bo, nhập cảng bột mì rồi làm mì sợi để sống. Tôi làm công nhân cho một tổ hợp mì sợi từ năm 1978 đến năm 1981. Chương trình làm việc của tôi thời kỳ này là 6 giờ sáng đem một lon cơm, đạp xe từ Thị Nghè tới Phú Lâm làm việc. Làm việc từ 8 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa. 12 giờ nghỉ ăn cơm, ăn cơm xong từ 12 giờ đến 2 giờ thì ngồi viết. Xong rồi, làm việc từ 2 giờ đến 8 giờ. Sau đó 8 giờ thì ra khỏi xưởng, chở mì sợi đi bán, về tới nhà khoảng 10 giờ tối, và ngồi viết từ 10 giờ cho đến 12 giờ. Viết trong tình trạng làm việc và viết như vậy trong bốn năm thì hoàn tất bộ trường thiên tiểu thuyết này, dày 2000 trang. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi có khả năng viết trọn vẹn cả bộ truyện. Trong thời gian viết, bộ truyện này bị ngưng lại vì hai lần tôi ở tù. Lần đầu viết xong cuốn ba thì tổ hợp mì sợi bị đóng cửa rồi ban điều hành tổ hợp bị bắt. Năm 1979, các bạn nhớ đó là thời gian Việt Nam và Trung Quốc đánh nhau. Tổ hợp tôi làm việc là một tổ hợp của người Hoa. Công an Sài Gòn nghi ngờ tổ hợp làm gián điệp cho Trung Cộng nên tất cả ban điều hành đều bị bắt. Tôi bị kẹt trong đó 4 tháng, đang làm ăn bình thường thì bị bắt như vậy. Bốn tháng sau, được thả ra, tôi tiếp tục viết, đến gần xong phần kết từ ở cuốn thứ tư thì có mối vượt biên ở Vũng Tàu. Vượt biên không thành công, tôi bị bắt lần nữa và lần này bị giam bốn tháng. Sau khi được thả ra, tôi về viết xong phần kết. Tháng 10 năm 1981 thì hoàn tất bộ này, tôi đóng và để lại cho nhà tôi giữ và đi vượt biên. May mắn vượt biên lần này thành công…”

          Công sức đáng phục của nhà văn Nguyễn Mộng Giác sẽ chỉ còn trong trí nhớ và niềm hồi tưởng, buồn tiếc của riêng ông, nếu ông không có một người bạn đời tuyệt vời. Tôi vẫn tự cho rằng mình có nhiều khả năng “nịnh đầm”, biết ngợi ca những người đẹp tài hoa, nhưng sao chợt vụng về, tìm không được một từ nào khả dĩ thích hợp, để tán thưởng cái tài bảo quản tác phẩm và đưa chúng đến được nơi chốn, chúng có thể chào đời của chị Nguyễn Khoa Diệu Chi. Từ chỗ xé lẻ để cất giữ đến mưu mẹo qua mắt sự kiểm soát gắt gao của an ninh phi trường là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự bình tĩnh và khôn khéo tuyệt hảo. Với tư cách một độc giả, tôi xin được cảm ơn người đi bên đời nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Còn ông, xét ra không cần thiết, vì đó là chức phận thiêng liêng và tự nhiên của ông. Lẽ ra ông phải cảm ơn ngược những bạn đọc có lòng mới phải phép. Đùa vô duyên vậy thôi, xin đừng giận, ông nhà văn.

         Vịn vào một thời đại đã qua để mô tả những biến động lịch sử cùng những diễn tiến hỗn tạp của xã hội đương thời là một dụng ý khá quan trọng của tác giả Sông Côn Mùa Lũ. Tôi không rõ những người điều hành, chỉ huy nền văn học nghệ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa có đánh hơi ra được điểm này ? Chắc là có. Có nhưng họ vẫn biểu quyết để thông qua việc in và phát hành rộng rãi tác phẩm này trong nước, chỉ vì một lý do: giá trị đích thực về mặt văn học và nghệ thuật của tác phẩm. Từ rất lâu, vấn đề giao lưu văn hóa giữa trong và ngoài Việt Nam vẫn chỉ thập thò một chiều. Bàn tay đưa ra trước vốn của người rộng lượng, cởi mở. Trên những khán đài quyền thuật, đa số những võ sĩ thắng trận thường đến bắt tay, thân thiện với kẻ chiến bại. Những người cộng sản Việt Nam kể như đã thắng trong việc thống nhất lãnh thổ, nhưng họ vẫn sợ, chưa dám chấp nhận giao lưu văn hóa. Chẳng lẽ họ đã thua ở một bình diện nào đó ? Trên những tạp chí dưới đất hay trên mạng điện toán của Việt Nam, gần như không bao giờ dám nhắc đến những sinh hoạt văn học tại hải ngoại, trừ một vài tin về âm nhạc không thuộc “thế lực chống phá chế độ”. Những tạp chí Hợp Lưu, Văn Học, Việt… thỉnh thoảng có về được trong nước, hoặc được nhắc tên đâu đó một đôi lần, chắc cũng do một vài cá nhân còn giàu lãng mạn hoặc “điếc không sợ súng’. Trường hợp Sông Côn Mùa Lũ do đó trở thành một hiện tượng lạ. Dù sao cũng là điều đáng mừng.

          Nhờ phát hành trong nước, Sông Côn Mùa Lũ được đón đọc rộng rãi. Những câu chữ sau đây của Hoàng Linh trên báo điện tử Tiền Vệ, cho chúng ta biết ít nhiều về giá trị của những sáng tác từ hải ngoại và tiếng vang không nhỏ của Sông Côn Mùa Lũ:
          “…Có thể nói không cường điệu rằng, nếu năm 1998 là năm văn chương hải ngoại chiếm lĩnh sự chú ý của công luận trong nước, thì nửa năm đầu thuộc về tạp chí Văn Học (Mỹ) và nửa năm sau thuộc về Sông Côn Mùa Lũ và tạp chí Việt (Australia)...”

          Ông Trần Độ, một quan chức cấp cao của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã hồi hưu, cũng rất ưng ý với Sông Côn Mùa Lũ, ông viết:
          “Sau khi viết thiên bút ký “Một cái nhìn trở lại ", tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ và thấy ra rằng còn phải nhìn lại nhiều vấn đề lắm. Trong khi thấy như vậy thì lại đọc thêm một số sách về sử và vài cuốn tiểu thuyết. Trong có một cuốn mà tôi gặp trong đó nhiều ý nghĩ, nhiều tư tưởng có thể gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Đó là một bộ tiểu thuyết lịch sử tên là "Sông Côn Mùa Lũ ", tác giả là Nguyễn Mộng Giác nói về giai đoạn lịch sử nửa sau thể kỷ 18 ở miền Trung nước ta, về phong trào Tây Sơn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ. Tiểu thuyết dựng lại chân dung nhiều nhân vật lịch sử và cũng hư cấu chân dung một số nhân vật của thời đại đó, một cách sinh động, để làm nổi thêm các nhân vật lịch sử có thật. Qua sự việc và lời lẽ của các nhân vật, tác giả nêu lên những tư tưởng và những vấn đề của thời kỳ lịch sử đó mà cũng có nhiều ý nghĩa thời sự. ..”

          Chẳng thể nào lượm hết những bày tỏ về Sông Côn Mùa Lũ, tôi xin nhắc lại một kỷ niệm riêng: Nhớ đã lâu, sau khi mượn từ thư viện Côte des Neiges về, tôi tạm để bộ trường thiên này bên bàn nước phòng khách, cậu út của tôi đi ngang, chợt đứng nhìn cái bìa một chặp, rồi thích thú với khám phá:
          “Sách in trật lất chính tả rồi, sông “con” mà có ô, thật…”

Cậu chưa nói hết câu, tôi đã mỉm cười sửa lưng:
          “Không phải sông con, sông cái đâu con. Đây là danh từ riêng, tên một dòng sông ở Bình Định như sông Hàn ngoài mình vậy…”

Cậu út tôi đứng ngẩn mấy giây rồi bước đi, không quên lầu bầu phỏng đoán:
          “Chắc con sông này qui tụ nhiều bọn côn đồ lắm!..”.

          Tôi, thật sự cũng chưa thấy dòng sông Côn dài ngắn ra sao, hay không chừng đã thấy qua rồi mà khi nhìn chưa biết tên. Quê hương mình chẳng rộng là bao mà đi chưa hết, biết chưa tường quả thật đáng xấu hổ. Một ngày nào có dịp về Việt Nam, tôi sẽ đi thăm cho tận quê ông Phiến, quê ông Giác… để có dịp so sánh với đất Ngũ Phụng Tề Phi của tôi một cách công bằng.

          Tịch thu, hoả thiêu sách báo, băng nhạc, họa phẩm…văn học nghệ thuật miền Nam vẫn âm thầm tồn tại. Ngoài lớp bạn đọc cũ, những người từ phương Bắc vào cũng háo hức tìm đọc, tìm hiểu. Những người sáng tác ở miền Nam, giai đoạn đầu cuộc đổi đời có khựng lại một thời gian ngắn, để rồi lặng lẽ viết, không kém hăng say như ngày trước. Những thay đổi, những qui định có tính cách ràng buộc, rào cản, vô tình trở thành cơ hội để thay đổi tư duy, đề tài. Cuộc chiến văn hoá, không “bày binh bố trận” nhưng dành từng phân chiến thắng lại ở trong tay những người vừa mất tự do. Điều này có thể nhìn vào lãnh vực âm nhạc mà suy ra. Nhạc tiền chiến, nhạc thời trang, qui chung vào một mối: nhạc vàng. Cấm. Nhạc đỏ hay nhạc phục vụ, ngợi ca chế độ, đương nhiên không phải bài nào cũng dưới trung bình, không thiếu những bài hay, những bài rất xuất sắc, nhưng theo thời gian những ca khúc đó nằm im trong một góc khuất. Không có nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ …nào chống đối việc thống nhất đất nước. Sự chấn chỉnh trong sáng tác đương nhiên cần có dưới một chính thể mới, nhưng sự vụng tay thô bạo đã đẩy những người làm công việc văn hóa nghệ thuật phải xa lánh chế độ. Đối với những người “nội công thâm hậu” như cỡ nhà văn Nguyễn Mộng Giác, thì việc cầm bút trở lại chỉ là vấn đề thời gian. Thời cơ thuận tiện đã đến với ông, ngay trong những ngày tị nạn khốn khổ trên những hòn đảo xứ người. Ông đã xác nhận:
          “…Đây là thời kỳ độ viết lách sung mãn nhất trong đời viết của tôi”

          Trong khung cảnh bao la màu xanh của biển của rừng, trên đầu mây che, chung quanh thú rừng, chim bướm, sâu bọ cùng thở, Nguyễn Mộng Giác mỗi ngày hoàn tất một truyện ngắn. Cái thời tạm dung ở  Nam Dương của ông coi vậy mà hạnh phúc vô cùng. Càng hạnh phúc hơn, những sáng tác viết ban ngày, ban đêm đã có đám bạn đọc chuyền tay nhau san sẻ, thưởng thức. Những tác phẩm tốt số đó không bị tước đoạt, không bị đục bỏ một chữ nào. Chúng phương phi trở thành cuốn thứ nhất của bộ trường thiên Mùa Biển Động, và là từng phần da thịt của tập Ngựa Nản Chân Bon. Sự thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp đến với Nguyễn Mộng Giác khá dễ dàng, nhờ ông có một tấm lòng rộng mở, biết lắng nghe, biết nhìn và đánh giá chính xác những người chung quanh. Trong bài nói chuyện với sinh viên đại học Berkeley, ông đã đưa ra vài ví dụ, có thể như là những bài học quí:
          “…Các kinh nghiệm vượt biên tôi cố gắng ghi một cách trung thực, không tô điểm, nếu là người bi quan thì sẽ cho đó là những kinh nghiệm xấu, nhưng nếu là người lạc quan thì cho là chuyện bình thường. Chẳng hạn như khi tàu vượt biên bị chết máy, lênh đênh trên biển, hết nước, thì may mắn có trời mưa. Khi những giọt nước mưa chảy xuống cái tấm bạt trên ghe thì mấy ông già không chút do dự, đẩy bật những đứa trẻ ra để mà giành uống nước đó. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, cảnh giành nhau để sống, con người rất tàn nhẫn. Nhưng cũng chính các cụ già này khi lên đến đảo thì lại hô hào mọi người làm vườn hoa cho các em chơi. Như vậy mình nói các cụ già giành nước với các em uống, và cụ già muốn làm vườn hoa cho các em chơi, cụ nào là thật? Khó trả lời lắm, rất khó trả lời. Một ví dụ nữa tôi lấy trong chuyến vượt biên: do hệ thống hút nước của ghe bị hư, ghe bị vô nước. Muốn cứu ghe thì phải tạt nước ra, nhưng không ai chịu làm cả. Nước đó dơ dáy lắm, gồm cả phân và nước tiểu, nên không ai chịu xuống tát ra cả. Tôi thấy vậy thì xung phong. Tôi nói tao già rồi nhưng mà tao xung phong để bọn trẻ bắt chước, hy vọng là bọn trẻ thấy mình làm thì sẽ thấy lòng ân hận mà xuống giúp mình, nhưng không ai giúp cả. Sau đó tôi nghe bọn trẻ nói chuyện với nhau, "Tội gì mình phải xuống làm. Phải giữ sức khỏe để lỡ ghe chìm còn sức mà bơi." Đại khái như vậy. Nếu mình bi quan thì cho là những con người rất xấu trong cảnh tồn tại nguy hiểm. Nhưng nếu mình lạc quan, nhìn một cách dung dị hơn, thì mình cho họ đáng thương. Qua những kinh nghiệm đó, tôi nghĩ là tôi có lý. Không có người xấu, chỉ có người đáng thương. Và tôi dùng cái nhìn đó để tạo những nhân vật của bộ SCML và bộ MBĐ. Qua hai bộ trường thiên và tập truyện ngắn Xuôi Dòng, các bạn sẽ thấy tôi nhìn đời không tốt, không xấu, nó tự nhiên như vậy. Con người chỉ có hai loại, con người đáng yêu và con người đáng thương. Tôi không biết các bạn có đồng ý với tôi không…”

          Ngựa Nản Chân Bon in đầu tiên vào năm 1984, năm tôi đang ở Sài Gòn.

          Năm 1989, tôi gởi bản thảo một tập thơ, viết trong thời gian già ba năm sống tại thành phố Montréal cho nhà thơ Thái Tú Hạp, tìm cách in giúp. In truyện dễ dàng bao nhiêu thì in thơ khó khăn bấy nhiêu. “Con đường vương giả tiến lên đài vinh quang”, hình dung của nhà văn Võ Phiến dành cho thơ, cũng đã đúng như ông nhận xét tiếp… “nhưng đến đây thì tiếng nói thanh tao đành bị tiếng đại bác át hẳn”. Vậy mà tôi vẫn cố chơi cho kỳ được. Tập thơ của tôi có tên Chùn Bước Đời Ngựa Ô. Nhận được bản thảo, Thái Tú Hạp gọi ngay, đề nghị sửa lại tên sách. Lý do: không khác với Ngựa Nản Chân Bon là bao nhiêu. Tôi thuận theo ý kiến của anh Thái Tú Hạp, sửa tên tạp thơ thành Ngơ Ngác Cõi Người.

          Ngựa Nản Chân Bon đã tái bản lần thứ 4 vào năm 2003, đây là tập truyện ngắn thứ hai của tác giả. Sách dày 260 trang với 13 truyện và một bài “thay lời tựa” của nhà văn Võ Phiến, dài 14 trang. Không thể phủ nhận mức độ tiêu thụ nói nên một phần giá trị tác phẩm. Tôi không dám đề cập đến văn chương, tác phẩm Nguyễn Mộng Giác. Ông là một nhà văn thành danh đã lâu và có uy tín lớn trong lẫn ngoài lãnh thổ Việt Nam. Mỗi sáng tác của ông là một công trình nghệ thuật văn học nghiêm túc. Chính vì thế, mỗi bạn đọc nên tìm thẳng đến tác phẩm để hiểu theo những cảm nhận, đánh giá riêng của mình. Bài thay lời tựa của nhà văn Võ Phiến, viết rất kỹ và rất khách quan. Nhà văn Võ Phiến không những giới thiệu chu đáo về người bạn văn của mình mà còn trưng ra rất rõ những điểm đặc sắc trong văn phong cũng như con người của một cây bút chân tài của văn chương Việt Nam. Tôi định trích dẫn vài đoạn bài viết này, nhưng lại thôi, vì nét nào Võ Phiến vẽ Nguyễn Mộng Giác cũng đáng mách cùng bạn đọc cả. Không lẽ dám trích hết nguyên bài ?

          Ngựa Nản Chân Bon, là một tác phẩm nhà văn Nguyễn Mộng Giác đắc ý. Sáng thứ bảy ngày 28 tháng 2 năm 1987 trên đài VOA cho phổ biến bài điểm sách Ngựa Nản Chân Bon. Bài viết được thực hiện bởi ký giả Bùi Bảo Trúc, dưới bút hiệu Bảo Lâmđược in lại trên tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ số 16, phát hành trong tháng 5-1987.

          Bài điểm sách được ông Bùi Bảo Trúc bố cục thành 4 phần, khá dài. Trong hai phần đầu ông khai triển những ý chính:
          . Ngựa Nản Chân Bon (NNCB) cần nên đọc nhiều lần, vì “mỗi lần đọc, dường như lại một khiá cạnh mới của những câu truyện đó hiện ra”

          . giới thiệu bối cảnh, thời gian và lý do viết của NNCB.

          . mục đích viết, được Bùi Bảo Trúc khẳng định: “NNCB đã được viết cho chính tác giả”, không bị những ràng buộc bởi kiểm duyệt, chế độ phải tuân thủ, và cả nhà xuất bản.

          . cuốn sách là gạch nối giữa hai thời kỳ cầm bút của Nguyễn Mộng Giác (trước 1975 và sau này tại hải ngoại)
         Tôi xin trích dẫn nguyên văn phần kế tiếp:
          “ trong số 13 truyện ngắn của tập NNCB thì có 6 truyện lấy khung cảnh Việt Nam. 7 truyện kia có bối cảnh là hòn đảo nhỏ nơi tác giả ỏ tạm sau chuyến đi kéo dài một tuần lễ khởi từ Việt Nam.
         Nguyễn Mộng Giác là con người chừng mực trong lời ăn tiếng nói ngoài đời, nhưng trong văn chương, ông là người có đôi mắt ‘tinh tường không để thoát một chi tiết nhỏ nhặt nào’ như nhà văn Võ Phiến đã có lần nhận xét về ông. Trong truyện Tố Chân, truyện tình duy nhất trong cuốn NNCB, Nguyễn Mộng Giác viết về một cuộc tình không kết thúc của một mối tình đầy hệ lụy và nghịch cảnh. Mối tình đi từ hoa bướm của tuổi mới lớn, của đôi guốc cao gót đầu tiên đến một đoạn đời hắt hiu của một thiếu phụ không hạnh phúc trải dài ngang thời gian mười năm trời. Truyện Một Ngày Như Mọi Ngày, có lẽ độc giả thấy được con người thật nhất của Nguyễn Mộng Giác. Ẩn dưới khuôn mặt ít nói, ít nói đôi khi đến nỗi ta tưởng ông là người cả thẹn và bẽn lẽn đó, là một bộc óc hài hước rất khô, hài hước rất Ăng Lê của ông. Một Ngày Như Mọi Ngày vẽ lại cảnh sống của một nhà văn gốc nhà giáo, mà người đọc ngờ đó chính là ông, mặc dù anh đã cẩn thận dùng ngôi thứ ba số ít. Nhân vật này trong những băn khoăn , lo âu của cuộc sống đã xuất hiện với một khuôn mặt rất người, rất nhân bản, rất hài hước và rất triết lý, cho dù đó là lúc phân vân không biết bán món đồ nào trong nhà để lấy tiền, hay làm thế nào kiếm được cái áp-phe, hoặc đứng chen chân mua gạo ở một cửa hàng. Truyện Dốc Nhân Sinh là một truyện chỉ có thể xảy ra ở ViệtNam hay tại một quốc gia vừa tàn một trận nội chiến. Hai người phế binh của hai phe mà cũng là hai người bạn thời thơ ấu gặp nhau tại một quán nước. Một người cụt chân vì đạn AK, một người mù vì đường xá xôi, thiếu phương tiện tải thương cấp cứu. Hai cuộc đời tan nát ngồi nói về những ngày cũ trong một cảnh sống vô cùng bi đát, Một người héo như cành cây bị gãy, một người quắt queo như một trái chanh đã vắt hết nước vừa bị quăng đi. Câu chuyện trao đổi giữa hai người không mang một lời thù oán nào.
         Những truyện viết về đời sống trên đảo Kuru nơi ông viết cuốn NNCB đã là những truyện sống nhất. Từ bức thư nét chữ nắn nót của cậu bé gởi về cho mẹ, dặn dò đứa em, đến bản tạ ơn của bốn thanh niên chất phác viết để lại dưới chân Phật đài ở một Niệm Phật đường trên đảo, những lời lẽ chân thật một cách tội nghiệp của những đời sống sắp bơ vơ trên những vùng đất lạ. Nguyễn Mộng Giác khéo léo vẽ lại được bằng những nhận xét tỉ mỉ của ông những mẫu người ông gặp trên đảo. Những nhân vật ấy trong những ngày chờ đợi  dài đằng đẵng đã có dịp ngồi xuống, duyệt lại, nhìn lại đoạn đời trước đó của mình. Đó là những con ngựa đã nản chân bon mà chịu làm con ngựa gỗ. Đó là một ông già sống hồn nhiên như một em bé mà lại triết lý đầy người, nhân bản hết sức, một bà cụ chỉ lo con gái ở Việt Nam quên món nợ ở ngoài chợ…”
                                                                                                                     (BảoLâm,Voice of America)

         Bài điểm sách NNCB của ông Bùi Bảo Trúc, quả thật quá đầy đủ. Nhưng tôi vẫn muốn viết vài dòng. Theo tôi, Ông Nguyễn Mộng Giác thành công trong tác phẩm truyện ngắn này qua các điểm sau:
         . Thực hiện đúng câu “Phải viết cái gì trung trực” (trong Một Ngày Như Mọi Ngày)

         . Sinh động trong những nét phác họa cuộc sống thường nhật chung quanh

         . Tinh thần lạc quan và có tài trong việc biến một số câu chữ thành những hình ảnh hóm hỉnh, phát ra được tiếng cười ngay trong những trường hợp bi quan nhất.

         . Có một tấm lòng trong sáng, không hận thù và hằn học với quá khứ. Sự vị tha làm cho ngòi bút trở nên thong dong, nhẹ nhàng.

         . Những triết lý về sự sống, cuộc đời không quá xa vời. Nhờ đó trở thành những lời nhắn nhủ, gởi gắm chân tình, cũng như chia xẻ những vốn sống đã có của mình cùng mọi người.

         . Dòng văn mang nhiều chất thơ,

         Một tác phẩm quan trọng khác của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động. Toàn bộ dày 2000 trang viết đều đặn trong 7 năm, xen kẽ giữa thời gian đi làm thiết kế đồ hình (graphic designer) tại một công ty điện thoại Hoa Kỳ, ngày 8 tiếng. Để có kiên nhẫn và hứng thú cầm bút, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết đã vịn vào sự ngây thơ đi kèm với niềm đam mê. Thế nào là ngây thơ ? tác giả giải thích:
          “…Nhưng để giải thích vì sao mình kiên nhẫn như vậy thì điều chính là thế này, mình chỉ bỏ công viết được những tác phẩm đòi hỏi sự kiên nhẫn khi nào mình ngây thơ. Cái đam mê đương nhiên là có rồi, nhưng phải ngây thơ nữa. Khi tôi viết bộ này, thì hoàn cảnh sống quá bi đát, cả phương diện vật chất và tinh thần. Tôi nghĩ rằng mình viết như viết di chúc vậy, viết xong chết cũng được. Nhưng may là viết xong... chưa chết. Hồi viết bộ này thì tôi cũng ngây thơ nữa, cứ cho là cái kinh nghiệm mình trải qua ở Việt Nam từ năm 1963 là năm Ngô Đình Diệm sụp đổ, cho đến năm 1981, qua nhiều chế độ, nhiều thăng trầm, nếu mình không viết thì sẽ không ai viết cả, và như vậy thì uổng lắm. Quá ngây thơ! Thật ra, nếu mình không viết thì sẽ có người viết và viết hay hơn mình. Do cái ngây thơ đó nên tôi ráng viết trong vòng bảy năm và hoàn tất bộ này”.

          Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng cho biết những khuyết điểm của công trình tâm huyết của ông:
          “…Khi đọc lại, dĩ nhiên thấy không bằng lòng. Các bạn biết mình như người thợ hàn vậy thôi. Mình lấy miếng này mình hàn miếng kia, độc giả không thấy nhưng mình thấy. Tất cả các phần ghép nối, các phần giả tạo, phần tưởng tượng chưa tới, mình đều thấy cả. Đọc lại tôi thấy không bằng lòng. Nhưng may là, nếu hồi đó không viết thì bây giờ không viết nổi. Có người hỏi tôi, bây giờ anh rảnh, sao không viết cái gì đi. Tôi trả lời một cách triết lý là bây giờ mọi thứ không còn quan trọng nữa, viết làm gì. Mình biết mình không viết được thì cứ nói mình không viết được, đừng nói dối. Quả là khi mình không còn ngây thơ thì mình không thể viết được nữa. Chúc các bạn giữ được ngây thơ, nhờ ngây thơ đó mà các bạn làm được nhiều việc. Sau khi in bộ này, tôi không còn viết được gì nhiều ngoài một số bài luận về văn học như cuốn “Nghĩ Về Văn Học Hải Ngoại”.

          Dù tác giả chưa thật sự bằng lòng với công trình của mình, Mùa Biển Động vẫn được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Tác phẩm gây được tiếng vang lớn, tạo ra hai thành phần chê, khen. Bên phía những người chỉ trích, hầu hết là những người chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp tình yêu nước của mình trước những diễn biến chung của hai khối Quốc, Cộng. Quá khích, cứng ngắc và đố kỵ đã tạo nên những người phê bình văn học mà không cần đọc tác phẩm. Họ chỉ dựa theo một vài tin thiếu xác thực trên báo, hoặc nghe kể lại bởi những đánh giá hạn hẹp, thiếu trung trực để có cơ hội bôi bẩn, hạ uy tín một người có lòng với văn chương, với quê hương. Dĩ nhiên trong nhóm này không thiếu những người thông minh, đánh hơi được sự nguy hiểm của một ngòi bút đối với chế độ họ đang ngấm ngầm phục vụ, buộc họ cần lấy điểm. Những gì thiếu trung trực thường sớm được lặng lẽ kết thúc. Thành phần tán dương Mùa Biển Động không ít, nhưng rất may không quá ồn ào. Giá trị của tác phẩm cứ theo thời gian mà tăng thêm độ bền vững.

          Với 2000 trang, Nhà văn Nguyẽn Mộng Giác viết những gì ? trình bày được những gì ? Câu trả lời xin dành cho bạn đọc tùy nghi dành cho chính mình. Nếu vui tay mời gõ thành chữ cho bốn phương cùng đọc. Cá nhân tôi, hiểu mình, biết người, nên xin áp dụng đúng vế sau của câu này: “biết thì thưa thốt…”. Chỉ xin được giới thiệu bộ trường này gồm 5 tập:
          1/ Những Đợt Sóng Ngầm, 392 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1984, tái bản 3 lần.
          2/ Bão Nổi,  239 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1985, tái bản 6 lần.
          3/ Mùa Biển Động, 332 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1986, tái bản 6 lần.
          4/ Bèo Giạt, 433 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1988.
          5/ Tha Hương, 644 trang , Văn Nghệ xuất bản năm 1989.

          Một trong nhiều người, đã vui tay một cách tận tình khi gõ thành chữ những quan niệm và nhận xét của mình về Mùa Biển Động, là một vị thầy giáo trung học có bút danh rất yểu điệu thục nữ: Nguyễn Thị Sông Hương. Nếu tác giả Mùa Biển Động đã dùng 7 năm để hoàn tất bộ trường thiên hai ngàn trang, thì ông Nguyễn Thị Sông Hương, vừa đứng nghiệp chủ quán sách Trung Việt ở thành phố Montréal, Canada, vừa bỏ ra hai năm rưỡi để thực hiện tươm tất cuốn Phê Bình Mùa Biển Động. Một công trình nghiên cứu, nhận xét, đánh giá dày đến 332 trang, chữ nhỏ.

          Là một nhà giáo Việt văn kỳ cựu trong nghề, hành nghiệp tại trường trung học Võ Tánh, Nha Trang, ông Nguyễn Thị Sông Hương đã bố cục rất chặt chẽ trong cuốn sách phê bình văn học của mình. Hình như ông là người đầu tiên và chờ trở thành người cuối cùng, rộng tay với chỉ một tác giả như vậy. Nếu nêu lên những ưu khuyết về cuốn sách phê bình của ông Trung Việt (anh em bạn văn chúng tôi ở Montréal thường gọi như thế) một cách cặn kẽ, thì tôi sẽ lạc đề. Nếu tôi dựa vào sách ông để viết ít nhiều về Mùa Biển Động, ví dụ như tóm tắt sơ lược cốt truyện, đưa ra những hoàn cảnh lịch sử dùng làm bối cảnh cho tác phẩm,  hoặc giới thiệu quan niệm và chủ đích của tác giả, thì tôi là người thiếu lương thiện. Tôi đã có đọc Mùa Biển Động, nhưng chưa đọc một cách nghiêm chỉnh, nghĩa là đọc rời rạc làm nhiều lần, nhiều cơ hội khác nhau. Làm công việc điểm sách hay nhẹ nhàng hơn là giới thiệu sách, không những phải có kiến thức, khả năng trình bày những nhận xét khách quan của mình một cách rõ ràng, gọn nhẹ. Không thể nhờ bè bạn kể cho nghe về cốt truyện, giới thiệu nên đọc một số đoạn tiêu biểu, rồi bắt tay xuống bút, rồi tha vào bài viết những tư tưởng, những câu viết của những nhà văn thành danh nước ngoài để lòe bịp, gánh đỡ kiến thức của mình.

         Giới thiệu Mùa Biển Động trong mớ chữ lạng quạng của tôi, không thể thiếu, nhưng chỉ có thế, dù những nhân vật, những biến động thời sự diễn tiến trong tác phẩm dài hơi của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, rất gần với tôi, ngó lại như thấy rõ một thời. Bởi cá nhân tôi có mặt trong đám nhân vật của ông Giác. Không đốt nhà nhưng cũng từng từ khu Thanh Bồ hơ hải chạy trở ra. Không diễn thuyết, kích động, nhưng từng đứng trên lan can Tòa Thị Chính nhìn ra sông Hàn, nhìn đám đông hoan hô đả đảo dưới lòng đường Bạch Đằng. Không mang Phật ra đường nhưng đã từng cùng bè bạn thu vén giúp một số bàn thờ ấm hương khói trên đường Ông Ích Khiêm, Triệu Nữ Vương, Hoàng Diệu…ngậm ngùi trở vào hiên nhà. Hình như rất nhiều đoạn đời trong Mùa Biển Động đều phảng phất hình ảnh của chính tôi một thời. Tôi không lạ mặt với những tờ Lập Trường, Đứng Đầu Gió…Những tin nóng bỏng có máu, có nước mắt có cả sự giật giây, thổi phồng của những người anh em bên kia sông Bến Hải, của những bè bạn ăn cơm bên này thờ phụng bên nọ. Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác vật vã quá dài, đi từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa với đầy đủ những biến cố lớn của lịch sử đến ngày hấp hối của một chế độ, một thời từng trưng dụng một ít máu của chính tôi. Sống lại một thời từ Mùa Biển Động, dĩ nhiên tôi không chỉ tìm ra tôi mà còn thấy rất nhiều bằng hữu. Tôi cũng ít nhiều cảm được chính tác giả sống ké vào những nhân vật nào. Chính tác giả đã sống thật qua những gì ông hàn nối, lắp ghép thành một công trình văn học để đời.

          Ngoài Nguyễn Thị Sông Hương, không thiếu những ngòi bút phê bình uy tín phân tích Mùa Biển Động. Những Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc …đều dự phần chia vui cùng tác giả. Điều quan trọng, tuy dựa vào bối cảnh lịch sử, nhưng Mùa Biển Động không thuộc loại tiểu thuyết lịch sử, tác giả khẳng định trong “lời thưa trước với bạn đọc”:
          “ Toàn bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động không phải là một bộ tiểu thuyết lịch sử. Tác giả không có khả năng, mà cũng không có ý định ghi lại các biến chuyển lịch sử Việt Nam từ 1963 đến nay. Tác giả chỉ mong ước ghi lại những biến chuyển tâm trạng của một thế hệ thanh niên trong giai đoạn đó mà thôi.

          Cho nên dù tác phẩm có mô phỏng một số mẫu sống, một số nhân vật, một số sự kiện lịch sử có thật, nhưng Mùa Biển Động chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Những người từng tham dự vào các biến động lịch sử trong giai đoạn này chắc chắn thấy rõ điều đó.
          Sỡ dĩ tôi có lời thưa này, là vì cho đến nay, vẫn còn rất nhiều bạn đọc không muốn phân biệt giữa sự thực lịch sử và sự thực tiểu thuyết.
          Đâu là sự thực của đời sống ? Đó là điều tác giả quan tâm trước tiên khi dự định viết bộ trường thiên tiểu thuyết này”
                                                                                                                              (Nguyễn Mộng Giác)

          Trước 1975, nhà văn Nguyễn Mộng Giác có bài trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức… nhưng ông chưa thật sự tham gia vào việc làm báo. Nhờ cũng có lai rai đôi ba bài thơ ở Bách Khoa, tôi làm quen với cái tên gọi Nguyễn Mộng Giác, bình thường như những bút danh khác Nguyễn Ngu Í, Xuân Hiến, Lê Ngộ Châu, Võ Phiến, Trần Huiền Ân, Vũ Quỳnh Bang, Minh Quân, Lữ Quỳnh, Trụ Vũ…Tôi là một anh “Hai Lúa” của miền Trung, nhưng đi đâu cũng sợ, đến đâu cũng ngại, phản ánh rất đúng câu: “…con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh” nên chuyện vào Sài Gòn trong thời kỳ tập viết của tôi rất xa vời. Chuyện ghé thăm các tòa soạn là một điều không tưởng. Tuy vậy tôi quen biết qua thư từ khá nhiều, nhưng trong đó không có nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Tôi nhớ lại thời thỉnh thoảng có vài ba nhà văn Sài Gòn có dịp tạt ngang Đà Nẵng, đã vui chân ghé thăm tôi tại sở làm, trong đó có nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà văn Dzoãn Dân (qua đời ngay sau đó không lâu) nhà thơ Phan Trước Viên (cũng đã qua đời vì bom đạn ít lâu sau)… và một người, không chắc có phải là ông Nguyễn Mộng Giác không ? Nhưng có điều lạ, đã từ lâu tôi hình dung trong đầu, tầm vóc của hai nhà văn Ngô Thế Vinh và Nguyễn Mộng Giác na ná như nhau. Vóc người không lùn, không cao. Tròn tròn, không ốm, không mập. Nước da không quá sáng cũng chẳng quá sậm, đủ độ vàng của một người vừa trí thức vừa chân chất bình dân. Nói không nhiều, cười không lớn tiếng. Nhưng tặng ngay cho người đối diện sự thân mật, tự nhiên. Riêng Nguyễn Mộng Giác, nhà văn Võ Phiến tô đậm thêm:
         “…Ở Giác, tôi chắc chắn tất cả bạn bè Giác và những ai quen biết Giác đều nhận thấy cái hiện ra bề ngoài rõ ràng nhất là sự nghiêm chỉnh: nghiêm chỉnh ở nét mặt, cái nhìn, phong thái. Đó là cái tính cách hiển hiện nổi bật từ toàn bộ trước-tác của Nguyễn Mộng Giác…”

          Nhà văn Nguyễn Mộng Giác không họa ra nhân dạng mình, nhưng ông cho biết con người nội tâm của ông:
          “…Bản tính tôi nhút nhát, vụng về trước đám đông (điều này có lẽ ông khiêm nhường), không dễ tạo cảm tình nơi người khác lúc sơ giao. Những người có thiện cảm với tôi như nhà văn Võ Phiến thì rộng lượng cho rằng tôi ‘cẩn trọng từ tốn, không dàn trải mình ra bên ngoài, không bộc lộ náo nhiệt, cuộc sống thu lắng cả vào bên trong’. Những người có thành kiến xấu chắc chắn sẽ nghĩ tôi lãnh đạm, khó khăn. Bản tính vui buồn, nhanh chậm thuộc về bẩm sinh, tôi không can thiệp vào được. Tôi chịu nhiều thua thiệt do bản tính đó, nhưng đôi lúc nhờ ít nói cũng tránh được những lầm lẫn ngông cuồng. Càng ít nói càng đỡ lỡ lời…”
                                                                                                                                                       (Tha Hương, MBĐ 5)

          Năm 1985, tôi qua Montréal vào tháng giêng. Chừng bốn, năm tháng sau, nhà văn Nguyễn Mộng Giác tiếp nối công sức của nhà văn Võ Phiến, chăm sóc tạp chí Văn Học. Tôi có dịp quen với bút danh của tác giả Sông Côn Mùa Lũ nhiều hơn. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc cũng biết qua bút hiệu tôi chút chút, vì tôi thỉnh thoảng gởi bài cho tòa soạn chờ được chọn đăng. Thơ thẩn càng ngày càng trở thành chuyện ruồi bu. Buồn chán, vất vả sinh ra thi sĩ. Sung túc, trưởng giả sinh ra thi sĩ. Cứ vậy ngày một nhiều, ngày một đông những người chí tình làm thơ. Họ có cái thơ ngây lớn hơn tác giả Mùa Biển Động rất nhiều. Và vì thế tòa soạn bất cứ loại báo nào cũng thặng dư thi ca. Rất may cái thời “làm thơ gởi chạy nhật trình, đề tặng em để lừa mình đó thôi” (LH) của tôi đã đi qua. Tôi gởi thơ đăng báo để nuôi cầm chừng cái tên mình cũng có. Tôi gởi thơ đăng báo để tạ ơn các vị làm báo, nuôi báo, đã gởi cho mình báo đọc cũng có. Gởi bài nhưng gần như chẳng gởi thư, hoặc họa hoằn ghi vắn tắt bên dưới bài thơ vài dòng, cụ thể: “Anh thấy được thì ‘đi’ không thì vứt.”.Có một lần tôi viết nhiều chữ hơn cho ông chủ bút Văn Học: “ bài thơ có nhắc đến tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh thấy ngại, thì bỏ”

          Nhà văn Nguyễn Mộng Giác gởi ngay cho cái hồi âm, đại ý: “sao lại ngại” và một vài câu ngắn gọn nữa, chân tình, thâm thúy lắm. Nhưng tôi nhớ không ra. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi có được một vài chữ viết của một người tôi ngưỡng mộ, nhưng nay, mẩu giấy ấy lạc đâu mất. Thật tiếc. Mỗi lần in thơ, hình như tôi có đề tặng người cha đẻ của Tiếng Chim Vườn Cũ một tập, nhưng tôi chưa hân hạnh được ông cho một tác phẩm nào của ông để làm oai, khoe với đám con và cô vợ, cũng thỉnh thoảng đọc sách. Tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác nặng ký ở nhiều phương diện, giá trị nghệ thuật, lẫn chi phí in ấn, đâu có thể thành xôi chuối của nhà chùa. Nhắc điều này, tôi tuyệt nhiên bình thản, không có ý nhắc khéo hay trách nhẹ gì, chỉ để chứng minh tôi hiện không có một thủ bút nào của ông, để scan bỏ vào bài viết (như những người khác), cho ấm thêm những dòng ba hoa. Và từ nay cho tới ngày về làm thơ ở ngục A tỳ, tôi chắc chắn sẽ không có được cái đang thiếu, vì nếu có liên lạc cũng chỉ gõ vào email. Tiếc.

          Giữa tháng 6 năm 1992, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cùng một số bạn văn khắp nơi ghé về thành phố Montréal, tham dự buổi sinh hoạt “Kỷ niệm 35 năm văn học hội họa Võ Đình”, Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đến Montréal, dĩ nhiên, tôi có được bắt tay ông, nói với ông vài câu xã giao. Ông vẫn như thời tôi đã tưởng tượng trên. Tế nhị, hòa nhã và đứng đắn với nụ cười chúm chím trên môi. Những năm tháng tiếp theo, giữa chúng tôi vẫn vậy. Tôi vẫn được tặng tạp chí Văn Học dù năm ba số chưa thấy cái tên Luân Hoán xuất hiện một lần. Tình hình tiêu thụ báo chí có phần sút giảm. Lệ phí gởi báo lại tăng, Văn Học lên tiếng than phiền, tôi hơi chột dạ, chẳng giúp được anh em điều gì. Tôi vội ghi mươi chữ, kính gởi đàng hoàng, để xin thôi nhận báo biếu. Dĩ nhiên tôi được chấp thuận dễ dàng. Hết báo đọc, tôi rất ít biết tin sinh hoạt của văn thi sĩ bốn phương. Tin về nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng gần như mù luôn. Rất may, ở gần tôi có nhà văn Song Thao, anh cộng tác với Văn Học nên có báo tặng. Tôi siêng thì mượn đọc chơi. Chuyện lẩm cẩm làm thơ đăng báo của tôi, tuy không tuyên bố nhưng xem như chấm dứt, dù tôi vẫn mần thơ tùy hứng.  Nhờ qua anh Song Thao, tôi biết nhà văn Nguyễn Mộng Giác có thêm một số tác phẩm nữa:
          Tập tiểu luận Nghĩ Về Văn Học Hải Ngoại, xoay quanh các vấn đề như tên sách, với 19 tiểu mục, trong đó có ba bài Nguyễn Mộng Giác trả lời nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, nhà văn Trần Doãn Nho và nhà văn Trần Long Hồ. Một bài thảo luận về tiểu thuyết lịch sử với nhà văn Nam Dao. Qua những câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mộng Giác, tôi hiểu thêm được rất nhiều vấn đề. Nhà văn Trần Long Hồ đã mở ra cơ hội để nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói về sự hình thành cùng diễn tiến sinh hoạt của tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ . Nhà văn Trần Doãn Nho nêu lên những câu hỏi có tính cách chuyên môn về vấn đề sáng tác. Nhờ thế, chúng ta có thể biết quan niệm văn chương, những yếu tố căn bản trong tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác. Ta cũng biết thêm cách gầy dựng cốt truyện, cách sử dụng nhân vật và những điểm cần thiết, chuẩn bị trước khi bắt tay điều hành những con chữ. Nói chung, kỹ thuật viết văn được Nguyễn Mộng Giác trình bày trong những câu ông trả lời Trần Doãn Nho.

          Một tác phẩm khác thuộc loại tạp luận, có tên Bạn Văn, Một Thuở… Mới nhìn cái đề, tôi có thêm một lần giật mình nữa. Tôi tự hỏi, hóa ra mình đang bắt chước? Rất may, nhà văn Nguyễn Mộng Giác không viết tầm phào như tôi. Tuy đề tài của ông cũng liên quan đến bạn bè, nhưng những gì ông viết toàn là chuyện văn chương chữ nghĩa cả. Nó thể hiện đúng tầm vóc và tác phong của ông. Muốn biết ông đọc tác phẩm của Miêng ra sao, ông giới thiệu Chân Mang Giày Số 6 của Song Thao thế nào, hoặc cùng ông “Đi Vào Cõi Thơ Khoa Hữu” v..v..  đều đọc thấy trong tác phẩm dày 260 trang này. Giá cũng chỉ 13 Mỹ kim. Người có khả năng viết cái gì cũng đạt. Câu này đem nghiệm với Nguyễn Mộng Giác rất chính xác.




        




Mùa hè năm 2006 tôi và gia đình bất ngờ đến thăm quận Cam
California, nhưng không tình cờ khi ghé thăm nhà văn Võ Phiến và nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Hai ông văn sĩ này là những ngọn đỉnh thu hút những người cầm bút dù mới, dù cũ, nếu có cơ hội, đều  muốn gặp qua cho biết. Vợ chồng Thái Tú Hạp và vợ chồng Thành Tôn là những kẻ đưa đường, giới thiệu. Trên đường đi, tôi được các bạn cho biết sự vui tính của chi Nguyễn Khoa Diệu Chị. Quả nhiên khi xe vừa ngừng ngoài lộ, chúng tôi đã bắt gặp được những tiếng cười nhẹ nhàng bên cạnh những tiếng reo vui của cậu cháu ngoại măng sữa của anh chị Giác.

          Tổ ấm mới của gia đình nhà văn Nguyễn Mộng Giác, khang trang rộng rãi, nằm trong thành phố Westminster, quận Cam, không xa trung tâm Little Sài Gòn là bao nhiêu, chỉ năm phút, ba phút hay sáu phút… tùy hứng của mỗi người lái xe, là có thể có mặt tại nơi đô hội này. Căn nhà của nhà văn Nguyễn Mộng Giác không to lớn như một villa sang trọng, nhưng là một nóc gia có phong cách rất Việt Nam. Từ đường lộ, lối vào lát đá có đủ chiều dài, để vừa thư thả bước đi, vừa ngắm tổng quát khu nhà đầy đủ sân, hiên, vườn cây, giàn nuôi hoa lá. Phòng khách rộng, thật lý tưởng cho những cuộc hội ngộ năm, mười bằng hữu, lai rai tán dóc chuyện đời, chuyện sách vở. Cuối phòng khách, cánh cửa sổ đủ sức mời những đôi mắt vô tình, lơ đãng nhất phải nhìn, phải ngắm vườn cây xanh bên ngoài. Cạnh cửa sổ là những tủ sách đứng chạm vai nhau trong dáng vẻ trầm lặng quan sát. Nhìn tủ sách, bạn đến chơi cảm thấy được sự mời gọi thật ấm áp. Những tác phẩm đủ loại đứng chen nhau như chờ đợi, như thăm hỏi. Cùng với sách những khung ảnh đủ cỡ, lồng chân dung nhiều khuôn mặt sáng mát, thân tình. Bàn viết, ghế ngồi không xa những tủ sách bao nhiêu. Người viết văn hẳn nhiên phải có một chỗ ngồi đàng hoàng, không thể tùy tiện như mấy chàng làm thơ. Nhưng trong phòng khách của nhà văn Nguyễn Mộng Giác không phải chỉ có vậy. Nhiều loại máy móc cần dùng, nhiều món đồ chơi của trẻ con được bày đặt rải rác và nhất là tràn đầy những tiếng cười lạc quan của một người đàn bà, biết thế nào là yêu chồng, yêu cuộc sống.

          Tuy không thân tình, nhưng anh chị Giác (tôi xin thay đổi cách xưng hô ở đoạn này cho đúng với thực tế) đã dành cho tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, nói chuyện khá vui vẻ. Đây là bản tính hiếu khách của anh chị. Tôi rút được một bài học trong chuyến thăm viếng đáng nhớ này là sự lạc quan. Bài học giản dị nhưng tôi chưa chắc thực hiện nổi, nếu cũng gặp khá nhiều trục trặc trong sức khoẻ như anh Nguyễn Mộng Giác. Sự lạc quan của anh đang chiến thắng những con vi trùng ung thư. Và chị Diệu Chi chứng minh được câu nói rất nhà binh “tiếng cười át tiếng bom”. Câu chuyện trong tương kính xã giao dần dần cởi mở hơn, nhất là sau lúc anh Giác gọi phone rủ nhà thơ Lữ Quỳnh đến chơi, Lữ Quỳnh thành danh từ đầu thập niên 60. Tôi biết danh anh từ lâu nhưng cũng chưa được gặp bao giờ.

          Cách đây chừng một tuần,  nhà văn Song Thao cho tôi biết sức khoẻ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã vô cùng khả quan. Căn bệnh họ Ung của ông đã thật sự bị thất thế, trước sự bình tĩnh của ông cộng thêm sự vui vẻ lạc quan của chị Nguyễn Khoa Diệu Chi. Người đời thường nói: Sống chết là chuyện thường tình. Tôi thấy khó bình thường được. Nếu chẳng may ông Nguyễn Mộng Giác không có được chị Diệu Chi, tôi không có được Trần Thị Lý, Song Thao không có được chị Diệu Hương, Phan Ni Tấn không có Châu Khả Khiếm… thì chắc rất là phiền. Nhà thơ Du Tử Lê đã kết hợp với nhạc sĩ Từ Công Phụng để tạ ơn em một đời. Nhà văn Thế Uyên và tôi cũng từng được đồn là ca ngợi vợ. Nhà văn Song Thao, trong trang đầu của cuốn truyện thứ sáu của anh, cuốn “Bên Lưng Những Con Chữ”, cũng đã bỏ nhỏ: “Cho em, ghi nhớ 30 năm bên nhau”. Còn ông Nguyễn Mộng Giác đương nhiên đã viết một trang “ghi ơn nhà tôi” ở cuối bộ truyện Sông Côn Mùa Lũ. “ Sông Côn Mùa Lũ in được trọn vẹn và tới tay quí bạn đọc, phần lớn cũng nhờ công lao của nhà tôi, từ lúc phác thảo cho tới khi thành sách. Xin phép được chia sẻ những lời riêng tư này với quí bạn đọc, dù biết đối với nhà tôi, những dòng chữ này không cần thiết lắm.” Chúng tôi là những người hít thở cùng chữ nghĩa, không có mấy bà hà hơi tiếp sức, cùng chia bớt khí lực thì ắt sẽ khó vượt đường dài.

          Vui mừng trước tin Song Thao báo, tôi quên chuyện thân sơ, email thăm hỏi nhà văn Nguyễn Mộng Giác tức thì. Không phải nói thành lời, không phải đối diện, với đầu ngọn bút chì, tôi gõ thành chữ, đâu có chi ngại ngùng, nên luôn tiện tôi xin phép dựa hơi (mỗi lần muốn dựa hơi ai đều phải nhiêu khê như vậy, chứ không hề tùy nghi) . Dĩ nhiên với lịch sự, nhà văn phải cho phép. Tôi đã khéo léo đặt ông vào chỗ đã rồi. Thật ra tôi đã nông nổi bày một trò hơi liều, để rồi viết một cách hời hợt, nhạt nhẽo. Dù sao tôi cũng hy vọng, đây là cơ hội duy nhất để tôi mang tặng ông bà Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Khoa Diệu Chi, mỗi người một món quà rất chân tình.

          Xin tặng nhà văn cơ hội làm lại nhà giáo ngày nào, để thoải mái ghi lại những chữ đã từng phê trên bài học sinh một thời: Rườm rà, Lạc đề, Luộm thuộm và Vụng về vv…

          Xin tặng cô cựu nữ sinh Đồng Khánh Diệu Chi cái cơ hội để cười quên dứt. Và tiếp tục làm thêm chục câu thơ xuất thần, thâm thúy, như thơ chị đã sáng tác tốc hành, dành cho một nữ sĩ nào đó, tôi được nghe hôm nào. Đọc bài viết này của tôi chị sẽ làm thơ dễ dàng thôi, nhớ gởi cho tôi xin vài câu, vài đoạn, để cùng cười cho vui.
Luân Hoán

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Bùi Giáng - chỗ này / người xưa / người điên


Thơ BÙI GIÁNG



chỗ này

Người đứng  đó ngày về tôi có thấy
Hai bàn chân trên cỏ lá ngàn xuân
Phong cảnh  đã  bốn bề cùng tôi nói
Linh hồn người là thiếu nữ thanh tân

Rồi tôi  lớn đi vào đời chân bước
 Cỏ mùa xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
 Người đi đâu ? xưa chính đã chỗ này

Người không ở vì chờ mong đã mỏi
Người đã đi cùng tuổi trẻ tôi đi
Chợt có lúc trên đường tôi đứng lại
Ngó ngu ngơ ... xưa chính đã chỗ này
                                                                               


người xưa

Người đi lại bước  vào em nhắn nhủ
Sầu vây quanh bờ cõi rụng chiêm bao
Mắt đã khép lúc thu mờ đã cũ
Xa mấy lần cồn lá  động môi trao

Đầu mũi dựng một triều  sông dạo sóng
Gọi miên man trời thiên cổ mong manh
Mắt đã khép để mi mờ còn vọng
Tiếng linh hồn trong cẩm thạch long lanh

Người đã định một lần thôi để hỏng
Đường vu vơ về chốn cũ trăm năm
Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm

                               
người điên

Người yêu mù của tôi
Người yêu câm của tôi
Một đời chàng không nói
Một đời chàng khô môi

 Chàng nghe thấy ở đâu
Nơi nào chàng bắt gặp
Bên bờ cỏ bụi dâu
Một mùa xuân hấp tấp

Từ khô se cồn nội
Xuống ruộng trổ đòng đòng
Lúa mùa lên phơi phới
Bờ nước đục cong cong

Vì sao chàng nhắm mắt
Đi kiếm mãi một mình
Để trời mưa lên mặt
Một cồn lá phiêu linh.

Trích trong tác phẩm MƯA NGUỒN

Đỗ Kim Nhung - Quê Hương Xưa Trong “Cõi Đá Vàng”


Tùy Bút-Đỗ Kim Nhung

Tháng 3 năm 2012 tôi về Việt Nam. Ý nguyện của tôi trong chuyến đi nầy là sẽ viếng thăm quê hương của tác giả “Cõi Đá Vàng”, Nguyễn Thị Thanh Sâm, chị ruột tôi.

Cùng với thời gian này, anh Trần Hoài Thư, một nhà thơ, một cựu quân nhân của VNCH ở hải ngọai, người chủ biên “Thư Quán Bản Thảo”. Anh đã cùng một nhóm bạn, với tinh thần “Gìn Vàng giữ Ngọc” khởi xướng công việc tìm kiếm những quyển sách có giá trị văn học để in lại và lưu giữ cho những thế hệ trẻ lưu vong sau này.
Anh Phaolô đã tìm được và mượn Cõi Đá Vàng trong thư viện của trường Đại Học Cornell và với một tấm lòng yêu mến tác phẩm, anh đánh máy lại từng trang, và cuối cùng thì đến tay các anh chị trong Thư Quán Bản Thảo. Họ đã cùng nhau vực “Đứa con tinh thần” của Nguyễn Thị Thanh Sâm, cho sống lại trong ánh sáng mùa xuân 2012. Chị Trần Thị Nguyệt Mai là người đã bỏ ra rất nhiều công sức, thay mặt cả nhóm thực hiện trong việc liên lạc và đều hành tổng quát dự án “Cõi Đá Vàng”.

Sau đó những cây bút có giá trị về văn học đã ca ngợi và làm thăng hoa cho tác phẩm đã bị chôn vùi hằng bao năm tháng.

Vào một đêm tôi nằm giữa Saigon, hồn quê cũ thức dậy gọi người ra đi hàng chục năm hãy trở về. Trở về để nghe lại tiếng thì thầm của giòng sông, tiếng rì rào của hàng tre xao động, để nghe tiếng đất thở hòa vào tiếng thở của chính mình. Những kỷ niệm tuổi thơ mơ hồ đó, tưởng đã quên, tưởng đã mất, nhưng bỗng rủ nhau trở về khua động cả tâm thân.Tình hoài hương đã giục giã chân người. 

Buổi sáng hạ tuần tháng ba, từ Huế trên chiếc xe van, người tài xế lái chạy về hướng Bắc. Rời quốc lộ 1, vượt qua bao nhiêu làng mạc có những tên quen thuộc trong tiềm thức thơ bé ngày xưa của tôi. Phá Tam Giang, một địa danh mang chất thơ Tô Thùy Yên và nhạc Trần Thiện Thanh qua bài thơ phổ nhạc nổi tiếng “Chiều Về Trên Phá Tam Giang”. Rẽ phía phải chúng tôi đi qua các làng Văn Xá, Vĩnh Xương, Đại Lộc, Kế Môn nằm dọc theo một hàng chữ nhất. Nơi đây trong thời tham gia kháng chiến 1950-1951, Phạm Duy đã lấy chất liệu viết nên chiều dài lịch sử bản nhạc “Về Miền Trung”.

Chao ôi! Tôi nhớ lại cái thuở mà hai chị em chúng tôi từ Huế trở về quê trong ba tháng hè:
 “Chân non vui mộng hiền
 Nắng hè thơm bình yên” (Thơ Thanh Sâm).

Nhìn ra xa, giòng sông Ô Thủy vẫn lặng lờ bao quanh làng mạc, khói sóng đẹp như bức tranh thủy mạc và vời vợi buồn như đôi mắt của những người con gái thời chiến chinh.

Đến đầu làng Thế Chí Tây, làng của tôi, tôi cảm động không nói nên lời. Tôi muốn bắc chước nhà văn Do Thái Isaac Asimon. Khi về đến nơi chôn nhau cắt rốn, ông bốc một nắm đất trên tay cất vào ngực mình, như một nơi quí nhất của tâm hồn. Ông nói: “Cảm tạ Thượng Đế, Cảm tạ Thượng Đế đã cho tôi thấy lại quê hương một lần nữa.”


Không bao lâu tôi đã đứng trong sân từ đường xưa của ông nội tôi. Cảnh vật theo thời gian biến chuyển không ngừng. Tôi không tìm ra hình ảnh ngày xưa cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhưng tôi đã đứng đây trên mảnh đất quê xưa. Tôi định được vị trí trong óc tưởng tượng của tôi. Tôi bắt trí óc tôi kiến trúc lại hình ảnh dấu yêu của thời thơ ấu. Nơi kia cội hoa sói cạnh hòn non bộ trước sân nhà mà chúng tôi hằng ra hái để kính cẩn rắc vào chén trà buổi sáng của ông nội tôi. Xa hơn mươi bước dưới giàn hoa tường vi thơm ngát hương đêm nơi chúng tôi đùa vui ca hát quanh sân từ đường vào những đêm có ánh trăng tràn ngập.

Trước ngõ đi vào giữa hai hàng chè tàu, tơ vàng biêng biếc như những giải lụa óng ả quấn quanh âu yếm trên những đọt chè .Tôi hình dung ra được chị tôi mặc chiếc áo dài vân trắng của Huế, tóc xõa ngang vai đang dịu dàng đi giữa hai hàng tơ vàng đó, chị tôi đang ở tuổi dậy thì thơm ngát của mùa hè quê nội...

Tôi chớp mắt, tất cả đều tan biến. Những ngày tươi đẹp không còn nữa. Tôi thấy bài thơ của chị tôi viết về quê nội trong những tháng ngày điêu linh:

“Nhưng làng tôi xưa, ngày nay không còn nữa.
Từ chiến chinh bừng lửa một đêm nao
Thây ngổn ngang máu ngập trên chiến hào,
Tro tàn lạnh nhà xiêu bên gạch đổ,
Chiều vắng lạnh tóc tang về đây đó
Không tiếng gà eo óc buổi hoàng hôn.
Đêm nghe như ghê sợ đến bên hồn.
Làng tôi chừ, chiều nghe niềm thống khổ
Chinh phu về dấu rỗ gót chinh nhân.” 

Quyển “Cõi Đá Vàng” được viết nên trong bối cảnh đau thương của những thanh thiếu niên trí thức miền Trung dưới đại họa ý thức hệ cộng sản.

Hôm nay với căn bệnh alzheimer và tuổi đời chồng chất, chị tôi ngồi quên lãng tất cả. Suối nguồn quá khứ và hiện tại không còn nữa. Trí óc chị như một giải mù sương, như một giải khăn sô trắng xóa. Chị ngồi đó, mỉm cười xa vắng...

Cõi Đá Vàng là một thời quá khứ đầy nhiệt huyết, tình yêu và nước mắt của chị. Nhưng chính chị, chị là một quá khứ tràn ngập tình thương yêu trong tôi.

Tôi nhớ mãi trong lòng hai câu thơ chị đã dịch của văn hào Nga Leon Tolstoy:

              “Con người ta sống bằng gì?
        Bằng tình yêu mến khắc ghi trong lòng”

Đỗ Kim Nhung
Tháng 8 năm 2012

   

                                           












Ngô Nhân Dụng - Mối đe dọa trên kinh tế Trung Quốc


Ngô Nhân Dụng

 Hiện giờ chắc ai cũng đang chú ý tới bản tin chính quyền Trung Quốc đưa chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất của họ vào diễu võ dương oai trong vùng Biển Ðông.


Nhưng thực sự nó đáng sợ hay không? Nó có mạnh bằng đạo quân 100,000 binh sĩ với 10,000 ngựa giống Thiểm Tây, và 200,000 dân phu phục dịch mà Tống Thần Tông sai Quách Quỳ và Triệu Tiết đưa sang tấn công nước ta năm 1077 hay không? Ai cũng nhớ, sau khi gặp quân đội Việt Nam của Lý Thường Kiệt, hai tướng báo cáo về triều rằng: Binh sĩ và dân phu đã chết một nửa. Các ông tướng giải thích: Chúng chết vì bệnh tật.

Một chiếc tàu sân bay đi giữa biển thì không lo lính tráng mắc bệnh dịch. Nhưng nó sẽ phải lo đối phó với phi cơ chiến đấu của những nước trong vùng (Phi Luật Tân và Việt Nam chẳng hạn). Nếu chẳng may có chiến tranh, những máy bay của các nước bị Trung Quốc đe dọa có thể cất cánh từ những phi trường trên đất liền, được tiếp tế nhiên liệu và bom đạn ngay gần nơi chiến trường, chắc không yếu sức hơn những máy bay trên chiếc tầu sân bay (chữ tầu sân bay nghe giản dị hơn chữ hàng không mẫu hạm, mà lại là chữ Việt, rất nên dùng). Một chiếc tầu sân bay mà không có đủ một hạm đội hộ tống thì giống như con vịt lênh đênh trên mặt hồ làm đích cho máy bay bên địch tập bắn hoặc thả bom!

Chuyện tầu sân bay không đáng quan tâm. Cho nên muốn nói chuyện Trung Quốc bây giờ thì chuyện kinh tế đáng chú ý nhất; nó lớn hơn chuyện bà Cốc Khai Lai bị án tử hình treo! Kinh tế Trung Quốc đang chạy với tốc độ chậm chạp nhất kể từ 2009 đến nay. Với tình trạng kinh tế Mỹ vẫn chưa phục hồi sức khỏe, khu vực đồng euro đang khủng hoảng, hàng Trung Quốc bán ra chậm hơn, trong khi giới tiêu thụ trong nước vẫn chưa dư tiền tiêu xài. Kinh tế Trung Quốc đang trì trệ đáng lo ngại. Tuy hiện giờ tỷ lệ tăng trưởng vẫn là 7.6% một năm (trong ba tháng quý thứ nhì 2012), nhưng tốc độ giảm đột ngột nếu so sánh với tỷ lệ trên 10% trước đây khiến nhiều xí nghiệp xính vính.

Các xí nghiệp không tuyển thêm nhân viên và công nhân nữa. Số xuất cảng gần như đứng khựng lại không lên được. Nhập cảng cũng xuống, đáng kể nhất là các nguyên liệu như sắt dùng để chế thép. Bởi vì các công ty chỉ mua nguyên liệu và bộ phận về khi tin rằng sẽ bán được hàng; nay viễn ảnh bán hàng đang đen tối. Giá nhà cửa đã xuống đều đều từ khi ông Ôn Gia Bảo đạp chân thắng, hạn chế không cho mua căn nhà thứ hai; vì ông muốn chặn đứng đầu cơ trong thị trường địa ốc. Mối lo lắng về kinh tế khiến nhiều người chuyển tiền ra nước ngoài.

Một nguồn tăng trưởng quan trọng nhất của kinh tế Trung Quốc là nhờ xuất cảng. Trong Tháng Sáu, số xuất cảng đã tăng 11% so với tháng trước; sang Tháng Bẩy chỉ tăng 1% so với Tháng Sáu. Các công ty xuất cảng sử dụng hàng trăm triệu công nhân. Công nhân đang đòi lương cao hơn, trong khi hàng bán không tăng, nhiều xí nghiệp đã phá sản. Báo China Times (Trung Quốc Thời Báo) cho biết đang có 46 xưởng đóng tầu lo phá sản, vì số bán giảm mất một nửa. Sau tin báo động này, chắc chính phủ Bắc Kinh sẽ đem tiền ra cứu, nhưng cứu cho các xí nghiệp tiếp tục chạy mà hàng vẫn không bán được thì đúng là “Gánh vàng đi đổ sông Ngô!”

Trung Quốc được gọi là “nhà sản xuất của thế giới” (trong khi dân Mỹ được gọi là nhà tiêu thụ của thế giới). Nhưng vì số giấy đặt hàng giảm, số hàng chế hóa ở Trung Quốc trong bẩy tháng qua tăng với tốc độ chậm nhất, và sang Tháng Tám thì không tăng nữa mà bắt đầu giảm bớt. Người ta đo lường sức khỏe của ngành chế hóa (manufacturing) bằng một chỉ số. Trong Tháng Năm, chỉ số PMI là 50.4, sang Tháng Sáu xuống 50.2; qua Tháng Bẩy xuống nữa, thành 49.3; nhưng chỉ số PMI Tháng Tám tụt xuống nữa, chỉ còn 47.8. Chỉ số PMI (Purchasing Managers Index), do Ngân Hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) tính toán, khi PMI xuống dưới 50 là dấu hiệu số sản xuất sắp xuống.

HSBC là một ngân hàng tư quốc tế cho nên công bố các số thống kê. Chính phủ Bắc Kinh thì chỉ muốn che giấu. Ủy Ban An Ninh Công Cộng đã ra lệnh các thành phố không được công bố thống kê về số xe đăng bộ (car registration). Vì sợ người ta biết xe hơi đang ế hàng. Lần cuối cùng có số thống kê về các căn hộ trong chung cư (apartment) bỏ trống là năm 2008. Từ đó tới nay không có con số nào cả! Những các nhà báo ngoại quốc quen nghề điều tra kinh tế vẫn tiết lộ được tình cảnh trì trệ trong cả hai ngành, xe hơi và nhà cửa. Ðó là hai ngành ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe cả nền kinh tế (coi nước Mỹ thì biết). Bởi vì khi người ta mua xe mới thì không phải chỉ có các hãng xe kiếm lời mà tất cả các xí nghiệp lớn nhỏ cung cấp phụ tùng, bộ phận làm chiếc xe đều có cơm ăn. Mua nhà cũng vậy, ai cũng phải lo mắc điện, ống nước, sắm sửa đồ đạc và trang hoàng, tu bổ căn nhà.

Các nhà báo đi thăm những sàn bán xe (car dealers), hỏi chuyện mấy câu cũng thấy được là số xe ế được nằm ụ lên cao. Làm tính cộng lại, người ta thấy từ Tháng Mười Hai năm ngoái đến Tháng Sáu năm nay, số xe nằm ụ tăng từ 1.3 triệu lên 2.2 triệu. Số “tồn kho” tăng thêm là 900,000 chiếc xe, đã tăng hơn 70%. Cho nên các công ty sản xuất xe hiện chỉ hoạt động 65% sức sản xuất bình thường. Một xưởng làm xe phải hoạt động 80% mới hy vọng có lời. Các đô thị lớn ở Trung Quốc đang lo nạn kẹt xe, đã đưa ra nhiều biện pháp hạn chế việc mua xe, góp phần vào cảnh trị trệ của thị trường bán xe. Giá nhà cửa xuống thì ai cũng biết từ lâu, và các công ty xây cất cũng giảm bớt hoạt động. Công nhân ngành xây dựng đang mất việc.

Các công ty tư vấn kinh doanh đi nghiên cứu để cung cấp tài liệu cho giới đầu tư quốc tế cho biết kho chứa tất cả các thứ hàng hóa ở các nhà bán sỉ và bán lẻ đang tăng lên, vì hàng bán quá chậm; trong khi nhà sản xuất vẫn tống hàng đến cho họ. Số hàng tồn kho trong Tháng Tám tăng lên với một tốc độ cao nhất kể từ khi số thống kê này được chính phủ tính toán vào năm 2004. Phỏng vấn các nhà sản xuất và nhà buôn sỉ người ta được biết từ năm ngoái sang năm nay, số bán đã giảm trong nhiều mặt hàng: máy hút không khí ẩm (dehumidifiers), ống dẫn trong hệ thống quạt thông không khí (ventilation systems), bàn thu điện mặt trời (solar panels), đà thép làm trần nhà, và cả khăn vải trải giường nữa. Tất cả những món hàng trên liên hệ đến việc mua nhà hay xây nhà mới!

Chính quyền Bắc Kinh cố che đậy những nhược điểm trên đây để dân không lo lắng, hoảng hốt. Ngay phương pháp làm thống kê cũng được sửa đi sửa lại để che giấu cảnh xuống dốc. Nhưng chỗ nhược nặng nề nhất là trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng quốc doanh lớn nhất (nhà nước nắm đại đa số cổ phần) đều chồng chất nợ xấu, khó đòi được. Nhưng họ tìm cách làm cho các tỷ số nợ xấu giảm đi bằng trò phù thủy.

Thí dụ tại Ngân Hàng Công Thương (ICBC) năm 2004 có 21% số tiền cho vay được liệt kê là nợ xấu. Năm nay, tỷ lệ xuống chỉ còn 1%. Hai ngân hàng khác, Trung Quốc Ngân Hàng và Trung Quốc Kiến Thiết Ngân Hàng cũng có tỷ lệ 16% và 17% nợ xấu, nay chỉ còn 1% thôi? Làm cách nào các ngân hàng giảm bớt nợ xấu nhanh như vậy?

Nhìn vào sổ sách của ICBC thì người ta thấy ngân hàng này có một món tài sản lớn 313 tỷ đồng Nguyên, gọi là “Trái phiếu Hoa Dong.” Ðó là những trái phiếu do công ty tài chánh Hoa Dong Tư Sản Quản Lý Công Ty phát hành. Tức là ICBC mua trái phiếu của Hoa Dong, đưa 313 tỷ Nguyên cho họ.

Rồi sau đó, ngay lập tức công ty Hoa Dong bỏ tiền ra mua các món nợ xấu của ICBC. Thoáng một cái, số nợ xấu của ICBC biến gần hết. Hoa Dong mua của nợ về làm gì? Không ai cần biết, đòi nợ được thì đòi, không thì thôi. Vì đó là một công ty do Bộ Tài Chánh làm chủ quản! Tóm lại, đảng Cộng Sản Trung Quốc làm phép cho các món nợ xấu của các ngân hàng biến mất. Những nó chỉ chạy từ chỗ này sang chỗ khác mà thôi! Ðến khi các trái phiếu Hoa Dong đáo hạn, làm sao ICBC lấy lại được tiền đầu tư, sẽ tính sau!

Một thứ nợ xấu không bao giờ đòi được nữa là do các ngân hàng cho các chính phủ địa phương vay, trong chương trình “kích thích kinh tế” của Bắc Kinh, từ năm 2009. Tổng số tiền kích thích lên tới $1,500 tỷ. Phần lớn là các ngân hàng đưa cho các tỉnh, các huyện xây cất gì đó, không cần biết có cần hay không, và có ích lợi gì hay không. Xây dựng xưa nay vẫn là món chi tiêu dễ rút ruột nhất!

Cả nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của Trung Quốc hiện nay như vậy đó. Ðó là một chiếc hàng không mẫu hạm đang bị lủng nhiều lỗ, không biết làm sao cứu. Tất nhiên, chính quyền cộng sản Trung Quốc vẫn còn tiền để bơm thêm cho kinh tế tiếp tục chạy, ít nhất từ đây cho đến cuối năm, khi Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo hết nhiệm kỳ. Nhưng sau đó, sẽ ra sao thì không biết được.

Ðây không phải là một tin vui đối với người Việt Nam cũng như người Mỹ. Nếu kinh tế Trung Quốc xuống thì cả thế giới cũng sẽ xuống, vì kinh tế Mỹ cũng như Châu Âu vẫn phải xuất cảng. Mà một nước nhập cảng nhiều hạng nhất hiện nay là Trung Quốc!

Ðiều người ta mong ước là kinh tế Trung Quốc sẽ xuống từ từ, đừng có sập nhanh quá. Chúng ta chúc dân Trung Hoa gặp nhiều may mắn. Và xin đừng giở trò đem tàu máy bay ra dọa láng giềng nữa. Dọa làm gì, vô ích. Năm 1078, sau khi một nửa số quân sĩ nhà Tống chết (vì bệnh thời khí!) và một nửa còn lại “khai bệnh,” Tống Thần Tông đã cho rút quân về ngay. Bởi vì lúc đó nhà Tống cũng đang lo quân nước Tây Hạ và nước Liêu tấn công. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nên để sức lo kinh tế hơn là đi hăm dọa các nước láng giềng!

Lê Quốc Quân - 'Vỡ quẻ Bầu Kiên' chỉ là cuộc chiến mini



Lê Quốc Quân

Dư luận rúng động, truyền thông căng lên, vàng tăng giá, chứng khoán sập sàn…là những dấu hiệu bề nổi vụ ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt.


Còn tng băng chìm là nhng bình lun vô tin khoáng hu  mi cp vmt cuc chiến Ba-Tư[1]; là s lo ngi sp đ ca h thng tin t, là băn khoăn v mt xu hưng mi theo M hay theo Tàu; và thm chí c hy vng ca nhng ngưi đu tranh cho tiến b xã hi.

Phải tìm cho ra kẻ thù 

Có th trong nhng ngày ti, 5 hay 10 ngưi na s b bt, mi tun vài chú, nhưng chc chn không có b trưng, thm chí th trưng nào vào vòng lao lý. 

Màn kịch này đủ để gây xúc động nhưng không để có biến động.

Nhiều người cho rằng “quẻ” đã vỡ và sẽ có biến động chính trị, nhưng chắc chắn là không có chuyện đó vào thời điểm này, vì những uỷ viên BCT có thể kèn cựa nhau về quyền lợi và những mâu thuẫn cá nhân nhưng đều đang cùng một nhóm lợi ích bảo vệ sự thống trị của chính mình.

Các “vina” có đổ vỡ ào ạt nhưng song sắt, vốn đang khóa chặt nhiều người dân vô tội, không rộng mở để đón chào các ủy viên Bộ Chính Trị. 

Việc bắt bớ là hệ quả tất yếu của những diễn biến kinh tế chính trị thời gian qua ở Việt Nam. Khi cơ chế “lập lờ đánh lận con đen” này đã tạo ra những ổ tham nhũng, những tập đoàn Mafia lũng đoạn đến “tận căn”, vượt quá ngưỡng chịu đựng của dân chúng là lúc Bộ Chính trị phải bật đèn xanh để tìm ra một số: “k thù ca nhân dân”nhằm thỏa mãn đòi hỏi của dân chúng.

Kẻ thù dễ chĩa mũi dùi vào nhất vẫn là các chủ tư bản mới nổi. Nó vừa phù hợp với học thuyết vô sản mà đảng đang cổ súy đồng thời ngăn chặn được sự phẫn nộ của công chúng về bất công quá đáng của cơ chế thịtrường.

Về mặt bề ngoài, nó cũng cần có một “sự biến” đủ lớn để tạo nên những chú ý trong dư luận nhưng chắc chắn không thể đi xa ngoài tầm kiểm soát. 

14 thành viên BCT vẫn đủ tỉnh táo và nhẫn nhục để thỏa hiệp và stop lại nếu như nó tạo ra một cuộc đảo chính hoặc một cuộc chiến tranh “mini”.

Bóng ti, th kho và tên trm

Vào một đêm nọ có một thằng ăn cắp đi vào một kho tài sản khổng lồ của nhân dân bao đời gầy dựng với biết bao nhiêu máu và nước mắt. Đầu tiên có kẻ tắt đèn bằng Nghị quyết làm cho bóng tối bao trùm; một tay thủ kho cầm chìa khóa đang đợi sẵn để mở theo Luật pháp. 

Tên trộm lẻn vào và ăn cắp tài sản của nhân dân, nó lấy đi nhiều đến nỗi dân chúng không còn cái để ăn, mẹ già ốm không có thuốc, công nhân đói bị teo cơ, ngư phủ chết vì giành nhau cá ươn, thiếu nữ chạy loạn xin lấy chồng Hàn Quốc để kiếm miếng ăn…

Đèn bật sáng bằng chỉ thị, tên thủ kho tung chưởng hình sự và kẻ trộm bịchính hai kẻ này bắt giữ. Nhân dân vỗ tay vui mừng hớn hở mà quên rằng không thể có một sự lũng đoạn nào được thực thi nếu không có sựchỉ đạo bằng Nghị Quyết và tiếp tay bằng Pháp luật. 

Xong rồi, đảng sẽ lại trong sạch hơn, nghiêm túc hơn trong mắt nhân dân. Thế là họ lại bắt đầu một cuộc chơi mới, đầy bóng tối với những tay thủ kho và tên trộm. 

Và những khoản thủ đắc ngày càng lớn hơn.

Nhưng thực tế thì tên trộm này là người nuôi bóng tối và thủ kho trong suốt nhiều năm qua. Ngoài tiền thuế nó đóng vào ngân sách để trả lương cho cả hai hệ thống Đảng và Nhà nước, những giám đốc này rải tiền dài miên man từ Móng cái đến Cà Mau, rải sâu từ trưởng thôn lên tận BộChính Trị, rải mạnh đến mức từ thông tư đến cả nghị quyết đảng đều có dấu ấn tư duy của họ thâm nhập vào trong từng điều khoản.

Tên trộm bị bắt nhưng bởi cùng hội cùng thuyền nên những kẻ bị bắt sẽkhông bao giờ khai ra hoặc tố cáo những người đương chức trong chính quyền vì họ có cơ sở để tin rằng là mình sẽ được “giải cứu” từ chính những người đã tắt đèn và mở khóa để họ vào kho.

Kết cc s ra sao ?

Rồi những án tù sẽ được đưa ra mà thời hạn thua xa so với một vài cá nhân viết blogs cho vui với duy nhất một điều là mong mỏi một cuộc sống chân thật hơn;

Rồi chỉ vài năm sau những tên mafia cỡ bự lại quay về với những tài sản ăn cắp được của mình, vẫn còn đó những kẻ tắt đèn và thủ kho trung thành đợi sẵn.

Rồi nhân dân Việt Nam ngàn đời lam lũ, vốn giàu lòng vị tha, cũng vội quên đi tiền thuế, máu và nước mắt, thậm chí cả cái chết của họ.

Quan trọng hơn họ bị đánh lừa khỏi những vấn đề thời sự lớn lao hơn là giặc giã ngoài biên cương, biển đảo bị mất, tây nguyên bị chiếm và vô vàn vấn nạn nhãn tiền khác.

Rồi sẽ còn họp hành liên miên với vô vàn tranh luận vô bổ rất mất thời gian giữa luật và nghị quyết. Cuối cùng có thể phải đi đến một số biểu quyết nhưng có thể cũng như cuộc bỏ phiếu “tín nhiệm” ở cấp cao nhất vừa qua, dù có 3/13 phiếu thuận thì thủ tướng vẫn bình chân như vại vì đó không phải là bỏ phiếu “bãi nhiệm”.

Và nếu có “bãi nhiệm” thì cũng không ai có thể “bứng” ông đi được nếu bản thân ông muốn trụ lại.

Liêm sỉ đang là thứ quá xa xỉ, chưa nói đến sự đan xen nhằng nhịt quyền lợi giữa đảng và chính phủ, giữa luật và nghị quyết, giữa lợi ích cá nhân và phe nhóm.

Điều đó cho phép hàng loạt thỏa hiệp dễ dàng tiếp theo với một thời gian rất dài so với mong mỏi của người dân và những người đang đấu tranh cho công lý và minh bạch xã hội.

Công lý và t do báo chí !

Cuộc đánh nhau hiện nay có thể dẫn đến kẻ thắng kẻ thua, nhưng công lý thì không bao giờ được thực thi vì chính những kẻ trong và ngoài song sắt đều không hướng việc hy sinh thân mình để tiêu diệt điều xấu xa, đểtăng cường pháp chế và bảo vệ dân chủ mà họ chỉ lo bảo vệ tài sản và bản thân mình.

Nhưng rõ ràng chỉ có một nhà nước pháp quyền mới soi rọi được kẻ có tội và bảo vệ người vô tội, tội phạm mới chùn tay làm việc ác còn người vô tội mới được thanh thản sống bình an.

Không có pháp quyền và công lý thì Nhà nước sẽ nghiền nát nhân dân như cát sỏi, trái lại một Nhà nước pháp quyền vì công lý thì sẽ bảo vệ mọi người trong phạm vi của nó, kể cả những kẻ tội phạm.

Nếu có tự do báo chí thì vụ bắt “bầu Kiên” và các vụ tiếp tục sau này phải bắt đầu bằng một cuộc họp báo.

Ở giữa là Bộ Công an, một bên là Ngân hàng Nhà nước và một bên là Viện Kiểm sát. Tất cả hành vi tội trạng phải được nêu ra công khai và báo chí tha hồ đặt câu hỏi về tình tiết, động cơ, mục đích, thái độ và bất cứ ai đứng sau chịu trách nhiệm về vụ việc này với những kiểu hỏi và trả lời đầy lắt léo, ngoạn mục...

Nhưng trên tất cả chỉ có dân chủ mới có đối lập để cùng cạnh tranh chạy đua hướng đến một kết quả tốt đẹp.

Nếu Đảng cộng sản vẫn tiếp tục độc quyền và tổ chức bắt giữ người nhưnhững vở kịch để làm tươi mới và trong sạch hóa bề ngoài nhằm duy trì sự độc tôn lãnh đạo và xác lập cả khuynh hướng phát triển của đất nước trong thời gian tới thì biết đâu lại mang họa lớn cho toàn dân tộc ?



[1] Dư luận cho rằng đang có sự tranh chấp quyền lợi và đấu đá giữa Ba Dũng (TT Nguyễn Tấn Dũng ) và Tư Sang (TC nước Trương Tấn Sang ) 


Alan Phan - Giả Dối Lên Ngôi


Alan Phan 

Vì Thế Đất Nước Mới Ra Nông Nỗi Này!

Qua bài “Lạm bàn về căn bệnh dối trá tại Việt Nam”, Giáo sư Trần Kinh Nghị từ Hà Nội đề cập tới điều có thể nói hài hước – nhưng chua chát – rằng “ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”


Một nhà giáo dục luôn quan tâm cho vận nước, dân tộc là GS Hà Văn Thịnh từ Huế cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở Việt Nam giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội Việt Nam:

Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.

GS Hà Văn Thịnh:
“Trong bản chất xã hội Việt Nam có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa Việt Nam hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.”

Theo GS Trần Kinh Nghị, thì dối trá thoạt nghe qua cũng chỉ là một thói đời không mấy tốt đẹp vốn nhan nhản trong xã hội loài người, nên người ta dễ tưởng rằng “không có gì nguy hại lắm”. Nhưng, khi “Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam”, GS Trần Kinh Nghị không khỏi lưu ý rằng “Ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng”. Những “đặc thù riêng” ấy là như thế nào ?

Tác giả giải thích:
“Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn giai phẩm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ cũng khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính hai mặt, nói và làm không đi đôi với nhau.”

Căn bệnh trầm kha

Vẫn theo GS Trần Kinh Nghị, thói “làm thì láo, báo cáo thì hay” cùng thói “chạy theo thành tích” vốn phát xuất từ thời XHCN ở Miền Bắc đã góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh dối trá ở Việt Nam hiện nay, và đã trở thành “căn bệnh trầm kha bám sâu rễ trong toàn xã hội đến độ ai không biết nói dối, không biết làm ẩu và không biết ‘ăn theo nói leo’ thì không thể tồn tại”.

Và tác giả báo động rằng tệ nạn bè phái, tham nhũng nghiêm trọng tràn lan trên khắp quê hương hiện nay cũng có nguyên nhân sâu xa từ căn bệnh dối trá ấy, để từ đó, sinh sôi và dung dưỡng cho “những kẻ bất tài, vô đạo đức nhưng thích làm quan”.

Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” đã thẳng thắn đề cập tới “một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người”. Theo cái nhìn của nhà văn Nguyên Ngọc thì tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức ấy phát sinh từ một “căn bệnh” cứ “vây kín quanh mình”, “va vào đâu cũng gặp” dưới “mọi kiểu trắng trợn hay tinh vi”, đó là sự giả dối.

Nhà văn Nguyên Ngọc phân tích:
“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”

Đang thống trị xã hội

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng không tránh khỏi âu lo khi căn bệnh giả dối ấy “đang thống trị xã hội” Việt Nam, mà chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thiếu trung thực của nền giáo dục nước nhà: Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo:
“Sự giả dối tồn tại ở xã hội Việt Nam lâu rồi. Ngay trong lãnh vực giáo dục, ông phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phụ trách các mặt văn hóa-giáo dục cũng khẳng định là tình trạng thiếu trung thực trong giáo dục là bệnh lớn nhất tại VN.

Mà giáo dục là gì? Giáo dục là dạy cho con người trở thành người. Nó dạy cho con người phải có đạo đức. Mà cái đầu tiên của đạo đức là chân thật. Giả dối thì trái ngược lại, là phản giáo dục. Vừa rồi nhà bác học toán học Hoàng Tụy cũng vừa viết một bài rất hay góp ý cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tái cấu trúc xã hội

Theo GS Hoàng Tụy thì không thể nào tái cấu trúc xã hội. Bởi vì tái cấu trúc là những bộ phận rời. Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.”

Cả một hệ thống

Cách nay chưa lâu – tức hồi cuối năm ngoái, vào một buổi chiều cuối năm, khi “giá rét và nỗi buồn… tràn ngập tâm hồn khiến nỗi lòng chùng xuống”, TS Nguyễn Xuân Diện đã phóng bút bài “Chiều cuối năm nhìn lại”, qua đó ông không quên lưu ý tới “những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc án, quyết liệt” hơn.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng có cái nhìn tương đồng về việc xã hội Việt Nam ngày nay – mà theo lời ông, “xuống cấp chưa từng thấy”:
“TS Nguyễn Xuân Diện nói thế là chính xác bởi vì điều đó có rất nhiều người đã khẳng định rồi. Ngay cả nghị viên Quốc hội Việt Nam Dương Trung Quốc cũng nói rằng thế hệ chúng ta là thế hệ mất gốc. Mà mất gốc là mất những giá trị tốt đẹp của Việt Nam.

Còn xã hội Việt Nam hiện nay, về mặt đạo đức, xuống cấp chưa từng thấy. Tình trạng này đầy tràn những mặt báo “lề phải”: Ngày nào cũng cướp, cũng giết, cũng có những tội phạm xã hội khủng khiếp. Nó tràn lan, không còn là hiện tượng riêng lẻ, mà cả hệ thống như vậy rồi.”

Nếu ngày xưa – cách nay hơn một thế kỷ – nhà thơ Trần Tế Xương than phiền và báo động tình trạng xã hội VN lúc đó suy đồi về đạo đức, khi:
Nhà kia lỗi đạo con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

thì ngày nay, tình hình đạo đức sa sút ngày càng trầm trọng trong nước đang gây bất an, trăn trở triền miên cho những người có tâm huyết với quê hương.

Lời bình của Alan:
Một bạn BCA gởi tôi bài viết trên đăng trên BBC cách đây vài tháng để xin tôi câu bình luận. Thực tình, tôi không chắc là mình có được sự hiểu biết sâu rộng về xã hội này cũng như một góc nhìn khách quan để đánh giá một vần nạn có thể nói là nghiêm trọng và căn bản trong sự vận hành của một quốc gia.

Tôi xin dành sân chơi này cho các bạn: những người con của tổ quốc đang trải nghiệm trong môi trường; đang có những băn khoăn bức xức (hay đang an hưởng hạnh phúc); muốn nhìn thấy một Việt Nam khác biệt (hay vẫn như thế); và có một tình yêu quê hương sâu đậm (hay makeno).

Tôi xin đề nghị vài câu hỏi

1. Sự giả dối có lan tràn từ A đến Z hay không? Hay chỉ là cục bộ và không trầm trọng đến vậy?
2. Đây có phải là một vấn đề cơ chế cần tái cấu trúc toàn bộ? Hay có thể sừa sai từng phần?
3. Nếu sự xuống cấp của xã hội quá tồi tệ thì bản thân và gia đình bạn sẽ chịu đựng và tốn tại như thế nào? Trong bao lâu?
4. Yếu tố nào đã gây nên những hệ quả này: dân trí, kinh tế, lịch sử hay thể chế?
5. Bạn có thể tạo cho mình một ốc đảo thanh bình giữa những nhiễu nhương?
Let the game begin…trong những ngày hè lười biếng và nóng nực.

Alan Phan

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Bùi Tín - Hiệp sĩ không chơi đòn thù như thế


Bùi Tín

Vladimir Putin, tổng thống lần thứ 3 của liên bang Nga từng tự nhận mình là một hiệp sĩ, có tinh thần hiệp sĩ, dấn thân cho sự nghiệp cao quý là cứu nhân độ thế, hy sinh cho nước mình và cho cộng đồng nhân loại.


Thành viên của nhóm Pussy Riot (từ trái): Maria Alekhina,
Yekaterina Samutsevich, và Nadezhda Tolokonnikova

Vào năm 2000, sau khi được bầu là Tổng thống Liên bang Nga ở tuổi 48, ông Putin sang thăm chính thức nước Pháp, được giới thiệu là một con người Hùng của nước Nga, còn được giới truyền thông Pháp nhận định là mang tinh thần thượng võ của một hiệp sĩ đa năng – multi chevaleresque - cực kỳ quý hiếm.

Trong tiểu sử của ông Putin, có ghi rõ ông từng là sỹ quan, đại tá ở trong quân đội Xô viết và ngành An Ninh KGB, lập nhiều thành tích trong các ngành thể thao mũi nhọn, mang đai 6 trong các môn võ Sambo, Judo và Karate, đánh box, đua ngựa, trượt tuyết, đua xe đạp đều cừ, còn tham gia đua xe gắn máy phân khối lớn tốc độ cao, có chân trong đội hockey trứ danh của Leningrad.

Vẫn chưa hết, nhà hiệp sĩ Putin còn lặn xuống dưới đáy đại dương, còn trưng ra bức ảnh ngồi trong buồng lái của chiếc máy bay ném bom chiến lược Tupolev TU-160, chứng tỏ ông là một nhà lãnh đạo văn võ toàn tài, xứng đáng làm tổng thống lần thứ 3 và còn có thể là tổng thống lần thứ tư nữa, khi hiện ông chưa đến 60 tuổi.

Vậy mà đã có 3 cô gái Nga cả gan chống lại tham vọng của ông. Đó là các cô sinh viên Nadejda Tolokonnikova 22 tuổi, Ekaterina Samoutsevitch 30 tuổi, và Maria Alekhina 24 tuổi, họ tự đặt ra một bài hát rất ngắn chỉ có một câu là «cầu nguyện Thượng đế không để Putin làm tổng thống nữa», và rủ nhau vào Nhà thờ Chúa Cứu thế giữa thủ đô Moscow để hát và cầu nguyện theo bài hát ấy.

Thế là 3 cô bị bắt tại chỗ, bị xích tay, bị truy tố và đưa ra xét sử trước tòa án Moscow ngày 17/8/2012 vừa qua, và trước tòa, bà chánh án Marina Syrova tuyên án 2 năm tù ở trại cải tạo cho 3 cô gái Nga nói trên, với tội trạng vu vơ: «xúc phạm tình cảm của những người tín ngưỡng có mặt trong nhà thờ».

Biểu tình đòi tự do cho nhóm nhạc rock Pussy Riot tại Munich, Ðức

​​Lập tức cả một phong trào phản đổi nổ ra khắp thế giới, từ các tổ chức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền tự do phát ngôn, quyền tự do báo chí truyền thông,từ các nguyên thủ quốc gia, các bộ ngoại giao, các đoàn thể phụ nữ, tôn giáo, sinh viên, giáo dục…lên tiếng cho rằng nước Nga đã trở lại thời cộng sản kiểu Stalin, với các trại cải tạo Kulag rùng rợn, rằng bản án là vô cùng nặng nề, quá đáng, không cân đối với sự vi phạm. Huống gì bài hát ngắn không hề nói xấu, kể tội gì đương sự là ông Putin, chỉ nói lên một ước vọng là ông ta thôi chức tổng thống đã vào khóa thứ ba.

Luật sư Nga bảo vệ 3 cô sinh viên cho rằng tòa án đã tuyên án không phải theo luật hiện hành và tập quán tố tụng quốc tế, mà là theo lệnh trên, ông cho là do đích thân tổng thống Putin ra lệnh, nhằm ra oai, trả thù 3 cô gái yếu ớt tay không, không có quyền hành gì, đã dám dùng quyền công dân nói lên một cách độc đáo và thông minh ước vọng yêu nước của mình.

Dư luận nước Nga và gia đình 3 cô gái đang nỗ lực vận động công luận toàn liên bang Nga yêu cầu tổng thống Putin xử dụng quyền ân xá đặc biệt của tổng thống để hủy bỏ bản án không công bằng, càng không sạch sẽ này. Để xem ông Putin cuối cùng nghĩ lại và sẽ động tĩnh ra sao. Nếu không đây sẽ là một vết nhơ bám chặt suốt nhiệm kỳ này của ông Putin.

Dư luận báo chí Pháp bàn tán rất sôi nổi về bản án không cân đối, mang tính phục thù thấp kém này.

Ông Putin từng hãnh diện mình là một nhà hiệp sĩ, ắt phải là một «hiệp sĩ không sợ ai, cũng không bao giờ phạm sai lầm» – un Chevalier sans peur et sans reproche.

Một hiệp sĩ chân chính dấn thân cho nghĩa lớn trên đời không bao giờ chơi đòn trả thù hiểm ác và thấp hèn đối với bất cứ ai. Huống chi đây lại là 3 cô gái chỉ có sáng tác một câu hát, còn ít tuổi hơn 2 cô con gái Aline và Anna của nhà hiệp sĩ đa năng Putin.

Việt Nguyên - Tâm thần, vấn đề trầm trọng trong xã hội Hoa Kỳ


Từ vụ thảm sát Aurora

Việt Nguyên

LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.

Chữa bằng thuốc hay chữa tâm lý?

Tôi đi xem phim “The Dark Knight rises” 3 ngày sau cuộc thảm sát ở Aurora, Colorado với hung thủ trẻ tuổi James Holmes, hóa trang Joker một nhân vật ác trong truyện Batman, nã súng vào khán giả giết 12 người trong đêm chiếu khai mạc.


Cuốn phim “The Dark Knight rises” kết thúc 3 bộ phim sau “Batman begins” (Batman khởi đầu năm 2005) và “Dark Knight” (Hiệp sĩ bóng tối năm 2008). Ðạo diễn Christopher Nolan đã làm một phim đáng xem, trong đó thiện thắng ác, dựa trên truyện bằng tranh của David Goyer, D C Comics. Bruce Wayne, Batman nhà tỷ phú, con mồ côi, một lần nữa cứu thành phố Gotham khỏi tay kẻ gian. Bane, thủ lãnh khủng bố, làm cuộc cách mạng bạo động phá hủy thành phố và thị trường chứng khoán.

Ðảng cách mạng của Bane khiến tôi không thể nào không nhớ đến đảng Cộng Sản quốc tế. Ðảng cướp của Bane muốn “trả tài sản của nhân dân về lại cho nhân dân,” tịch thu tài sản, lập ra “tòa án nhân dân” xét xử bọn tư bản và bọn cầm quyền như cảnh sát trưởng James Gordon. Tòa án nhân dân chỉ có hai bản án như những tòa án nhân dân thời Stalin, Mao Trạch Ðông và Hồ Chí Minh trong cuộc cải cách ruộng đất: “Biệt xứ” hay “tử hình” và cuối cùng bản án rất mỉa mai “tử hình bằng cách đày biệt xứ.”

Những tên cướp, như lãnh tụ Bane, hành động như những bệnh nhân tâm thần, chính David Gayer cũng xác nhận ông đã viết truyện với những nhân vật có hai bộ mặt, với những cá tính bệnh nhân điên loạn (psychosis), tâm thần phân liệt (schizophrenia), nhiều nhân cách (Multiple Personalities Disorder, MPD). Cuốn phim vì vậy đã bị đổ tội ảnh hưởng đến James Holmes.

Các bệnh tâm thần

James Holmes, cậu sinh viên trên 24 tuổi theo đuổi ngành khoa học não bộ, mua súng và 15,000 Mỹ kim đạn trong một tháng, đã có những triệu chứng bệnh tâm thần khi đi khám bác sĩ tâm thần của Ðại Học Colorado, bà Lynne Fenton, James Holmes bị xem là nguy hiểm nhưng Bác Sĩ Fenton đã không báo cáo và trị bệnh, giống như lần bà bị Hội Ðồng Y Khoa Colorado khiển trách vào năm 2005. Luật sư của bị can James Holmes chắc sẽ bào chữa cho cậu dựa trên bệnh tâm thần phân liệt nghe lệnh từ những tiếng nói trong đầu xui khiến cậu làm ác.

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh khó chữa, có tính di truyền, đa số từ 15 đến 25 tuổi. Triệu chứng chính của bệnh là thính ảo (auditory hallucination), người bệnh nghe tiếng nói truyền lệnh như ma nhập. Tâm thần người bệnh chia đôi hay chia nhiều (MPD) giống như tôn giáo dạy bản chất con người có hai phần thiện và ác, Thiên Chúa Giáo hình dung con người với thiên thần đứng bên vai này ác quỷ đứng bên vai kia, Phật Giáo dạy con người có hai phần, phần chính và phần phụ khi phần phụ thắng, con người mất thăng bằng bị bệnh tâm thần. Nhưng nghe tiếng nói trong đầu là bình thường, con người khi mệt, khi buồn ngủ, khi bị căng thẳng có khi nghe tiếng cha mẹ an ủi, nghe giọng nói của bà nội bà ngoại dỗ dành.

Các nhà tiên tri trong kinh Cựu Ước nghe tiếng nói của thần nhân, Mohammed ngồi thiền trong động ở sa mạc nghe tiếng thần nhân ghi lại nguyên cuốn Koran, Moses dẫn dân Do Thái từ Ai Cập về nghe tiếng Thượng Ðế Yaweh dẫn dắt. Joseph cha của Chúa nghe tiếng Thượng Ðế 3 lần, lần bà Maria mang thai, ngày bà sắp sinh và ngày sau khi sinh Chúa. Tiếng nói trong đầu của những người bệnh tâm thần khác tiếng nói của thần nhân. Tiếng nói ấy chỉ trích tư tưởng, hành động, cấm cản không cho bệnh nhân làm những việc muốn làm. Bắt đầu tiếng nói có vẻ không rõ ràng, từ từ trở nên mạnh mẽ đầy uy quyền. Bệnh càng nặng tiếng càng lớn, bệnh nhân không thể đối xử, không thể trốn tránh, không thể nhắm mắt bỏ trốn, bệnh nhân hoang mang, trở thành một con người khác, nghe lệnh tiếng nói tuyệt đối, có khi bệnh nhân phải la lớn lên (echolalia) như các nhà tiên tri trong kinh Cựu Ước.

Chỉ sau năm 400, nghe tiếng nói được xem là Ðiên, trước đó cũng như triệu chứng ám ảnh (Paranoid) (Para-nons, tiếng Hy Lạp) thấy người khác được xem là bình thường. Plato xem điên là ân sủng của Thượng Ðế, quà tặng từ các thần, chỉ có người điên mới có thể viết nhạc (thần Muse) tiên tri (thần Apollo) tế lễ (thần Dionysius) nói cách khác có nhiều người trong một người.

Người bệnh tâm thần phân liệt nghe tiếng nói nhưng không nhận rõ mặt người. Thử nghiệm bằng cách vẽ người (DAP, draw a person) là một thử nghiệm được sử dụng nhiều và chính xác. Người bệnh vẽ người hoặc thiếu mắt, thiếu mũi, thiếu tai hay thiếu bàn tay, v.v... người bệnh mất trí nên thiếu óc diễn tả, nhưng người bệnh là “siêu nhân” không biết mệt, nhảy hàng giờ, cười, không ngủ. Trong cuộc thăm dò 604 người bệnh ở bệnh viện tâm thần Worcester, bệnh nhân nghĩ mình có thể bay, đi qua tường, biến thành từng mảnh. Nguy hiểm nhất là người bệnh có thể giết người không hận thù.

Thất bại của ngành Y khoa Tâm Thần

Phương pháp chữa các bệnh tâm thần của y khoa Hoa Kỳ hiện này bị xem là thất bại. Nhiều tiếng nói có thẩm quyền trong các trường đại học y khoa chuyên về tâm thần đã lên tiếng. Lý do là vì các bác sĩ tâm thần (Psychiatrist) bị ảnh hưởng tài chính của các đại công ty dược phẩm.

Phương pháp định bệnh hiện nay dựa trên cẩm nang DSM (diagnostic and stat manual of mental disorder), cuốn sách như Thánh Kinh có ảnh hưởng nặng trên xã hội Mỹ. Cuốn sách sắp ấn bản lần thứ năm trong năm 2013. Thời kỳ chữa bệnh tâm thần dựa trên sự tĩnh thức của Bác Sĩ Sigmund Freud đã qua. Thời kỳ mà giáo sư Ðại Học John Hopkins và Harvard, Leon Eisenberg gọi bệnh tâm thần là tình trạng “không óc” “không trí,” thời kỳ trước khi các thuốc chữa bệnh tâm thần ra đời dựa trên lý thuyết rối loạn chất Dopamine chuyên chở ở các nơi nối dây thần kinh (Neuro transmitter drug). Với sự sử dụng thuốc trong thập niên 1950 gia tăng trong thập niên 1980, bác sĩ ít chú trọng và lắng nghe câu chuyện đời của bệnh nhân. Ngành phân tâm nhường chỗ cho thuốc. Các bác sĩ chú trọng vào thuốc quên đến hậu quả của các tác dụng phụ. Giáo Sư Eisenberg chỉ trích đồng nghiệp dùng thuốc nhiều vì quyền lợi của các công ty thuốc mà quên nghĩ đến bệnh nhân.

Năm 1977 cuốn sách DSM được các đại dược phòng yêu chuộng. Năm 1980 cuốn DSM III liệt 265 định bệnh (tăng từ 182 trong cuốn DSM II). Nếu người bệnh có 5 trong 9 triệu chứng thì người bệnh được chẩn đoán có bệnh tâm thần. Cuốn sách được sử dụng từ các bác sĩ tâm thần cho đến bệnh viện, hãng bảo hiểm, các nghiên cứu y khoa, các cơ quan chính quyền, cơ quan xã hội và nhất là các dược phòng để đi đến một mục đích: chứng minh cho việc dùng thuốc. Từ cuốn DSM III đến DSM IV năm 94 rồi đến DSM IV-TR năm 2000 con số định bệnh tăng lên đến 365. Mỗi lần sách mới ra là mỗi lần số định bệnh tăng mà không dựa trên căn bản nghiên cứu khoa học. Cuốn sách trở thành sách bán chạy nhất cho Hội Y khoa Tâm Thần (American Psychiatric Association). DSM IV bán hơn 1 triệu cuốn, chuyện không gì lạ khi 1/5 ngân quỹ hội các bác sĩ tâm thần đến từ hãng thuốc và các hãng thuốc đã ảnh hưởng lên nghiên cứu y học. Các bác sĩ tâm thần cũng nhận nhiều tiền từ hãng thuốc hơn các bác sĩ khác. Các đại công ty dược phẩm đã ảnh hưởng dễ dàng lên ngành tâm thần vì lằn ranh định bệnh giữa bình thường và bất bình thường mỏng manh. Sự định bệnh không chính xác, không có thử nghiệm máu hay quang tuyến, MRI hay CT Scan. Vì vậy một người bệnh có thể có nhiều chẩn đoán (diagnosis), bác sĩ tâm thần chỉ dùng một số thuốc điển hình: Celexa dùng cho trầm cảm (depression) Ativan dùng cho lo lắng, Ambien chữa chứng mất ngủ, Provigil chữa cơn mệt mỏi (là phản ứng phụ của Celexa) Viagra (được bác sĩ cho để chữa phản ứng phụ của thuốc Celexa). Các bác sĩ tâm thần có khi cho thuốc tùy hứng, buổi sáng vui vẻ gặp trình dược viên đưa loại thuốc nào đến phòng mạch thì bác sĩ kê toa loại thuốc ấy! Theo Giáo Sư Irving Kirsh, sự sử dụng thuốc bừa bãi và lạm dụng chỉ giống như cho thuốc giả (Placebo) Bác Sĩ Allen Frances, chủ tịch ủy ban soạn thảo cuốn DSM IV đã phản đối cuốn DSM V, ông cho đây là một cơ hội làm tiền của hãng thuốc.

Theo tiến triển tự nhiên của bệnh tâm thần phân liệt, nhiều bệnh nhân không chữa đã tự hồi phục sau hai năm. Sự lạm dụng thuốc đã làm tăng số bệnh nhân trẻ bị tiểu đường và cao mỡ trong máu và cuốn sách DSM là nguyên nhân chính của sự gia tăng bệnh tâm thần của trẻ em trong đó trẻ nhất là 2 tuổi.

Số bệnh tự kỷ (Autism, như phim Rain man với Dustin Hoffman và Tom Cruise) tỷ lệ 1/500 năm 1993 lên đến 1/90 năm 2011). Trẻ bị bệnh tâm thần lưỡng cực (bipolar) tăng 4 lần từ năm 1993 đến 2004. Có nhiều thuốc không được cơ quan FDA chấp thuận đã được sử dụng, nhưng tiếng kêu nhiều nhất đến từ bệnh tâm thần trẻ em. Hơn 500,000 trẻ em đang dùng thuốc chữa bệnh tâm thần. Bệnh trẻ em thiếu chú ý ADHD gia tăng ở trường học vì trong ấn bản mới DSM V bệnh ADHD sẽ thành tên TDD (T=temper, nóng giận). Sự thật là con trai lớp 5 đa số không chú ý trong lớp học, còn các cô gái ở tuổi dậy thì đi học lúc nào cũng lo lắng.

Người nghèo, nhận trợ cấp SSI và Medicaid nhân đó lợi dụng bệnh tâm thần trẻ em để nhận trợ cấp. Các cơ quan xã hội và bệnh viện cũng nhờ đó mà kiếm lời. Trường hợp quá độ xảy ra vào tháng 12 năm 2006, em bé Rebecca Riley đã chết ở tỉnh nhỏ gần Boston, em đã được bác sĩ cho uống Clonidin, Depakote và Seroquel để chữa bịnh ADHD. Hai anh chị của Rebecca cũng được uống thuốc. Cả gia đình nhận trợ cấp 30,000 Mỹ kim một năm.

Cách đương đầu với tiếng nói

Trong vòng 5 năm qua, 5 hãng thuốc lớn như Pfizer (thuốc Geodon) Eli Lilly (thuốc Zyprexa) Astra Zeneca (thuốc Seroquel) đã điều đình trả cho chính phủ cả trăm triệu Mỹ kim nhưng thuốc vẫn bị sử dụng bừa bãi, những nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần từ gia đình, trường học đến xã hội không được chú ý đến và ngành phân tâm học bị quên lãng.

Năm 1984, Bác Sĩ Nancy Andreason gọi những người bệnh tâm thần là những người óc bị hư (broken brain), bị ảo giác, ảo tưởng không còn có thể có hoạt động bình thường. Trong các bệnh tâm thần, bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia) nặng nhất với ảo giác thính thị (auditor hallucination) là đặc điểm. Bác Sĩ Andreason chủ trương dùng thuốc, các phương pháp phân tâm học không hiệu quả nhưng gần đây thuốc Chlorazil và Thorazin cũng vô hiệu. Bác sĩ người Hòa Lan, Marcus Romme đã dựa vào cuốn sách năm 1982 của nhà tâm lý học Julian Jaynes, Ðại Học Princeton để chữa ảo giác thính thị.

Ông Julian Jaynes nhận thấy con người đã nghe tiếng nói của người khác từ phần phụ qua các nền văn hóa từ xưa như trong chuyện thần thoại Hy Lạp Iliad thần Achille đã nghe tiếng nói của thần Agamemnon khuyên không giết tình địch hay bà Jeanne d'Arc nghe tiếng nói của Thượng Ðế dẫn dắt người Pháp kháng chiến chống Anh.

Nguyên tắc của Bác Sĩ Romme là người bệnh nghe tiếng nói trong đầu ra lệnh khiến họ sợ hãi nhưng khi bệnh nhận nghe tiếng nói mỗi ngày, bắt đầu có quan hệ, đối thoại với tiếng nói, thì tiếng nói thay đổi giọng điệu, tiếng nói còn thay đổi nhiều nếu bệnh nhân chú ý nghe tiếng nói nói gì với họ và tiếng nói sẽ nhẹ nhàng hơn khi bệnh nhân nói: “Ông bảo tôi làm điều sai nhưng xin để tôi lựa chọn” (giống như dân lành đối đầu với cán bộ cộng sản!).

Bệnh nhân MPD (Multiple Personalities Disorder), một người có nhiều nhân cách, nhiều người trong một người, có lợi trong cách chữa đương đầu với tiếng nói. Căn bệnh có tên từ quan điểm của Bác Sĩ Pierrer Janet thế kỷ thứ 19, được Bác Sĩ Sigmund Freud xem là kết quả của thương tổn, chấn thương từ bạo hành tình dục nay được thay là Dissociative Identification disorder (bịnh rối loạn nhận diện) xác nhận tính cách tôn giáo từ mấy ngàn năm như Thiên Chúa Giáo qua việc trục quỷ (exorcist).

Mạng lưới nghe giọng nói (Hearing voices network) ra đời, có trên nhiều quốc gia kể cả Hoa Kỳ. Mục đích của trị liệu là xem tiếng nói của thính ảo như là tiếng người, xem tiếng nói đó xảy ra trong những trường hợp bình thường như khi mệt mỏi, buồn ngủ (lúc buồn ngủ nhiều người nghe tiếng nói gọi tên mình hay tiếng nói của cha mẹ, một nửa số sinh viên đại học cho biết họ nghe tiếng nói ít nhất là một lần trong đời đi học khi căng thẳng buồn ngủ vào giữa đêm học bài).

Các bệnh nhân được dạy là phải đối xử với tiếng nói một cách kính trọng, xem tiếng nói muốn gì và thương lượng với nó: Các nhà phân tâm học bắc ghế ngồi cạnh bệnh nhân, nghe bệnh nhân và hỏi tiếng nói muốn gì, có khi họ mời tiếng nói tham dự vào buổi hợp của nhóm.

Kết quả có nhiều bất ngờ. Một bệnh nhân người Ðức tên Hans của Bác Sĩ Romme nghe tiếng nói khuyên bảo nên đọc kinh Phật, tiếng nói hối thúc mỗi ngày cả năm trời, cuối cùng ông Hans điều đình “sẽ đọc kinh Phật mỗi ngày một tiếng và chỉ cầu nguyện mỗi ngày một lần, một năm sau ông Hans nhận thấy tiếng nói từ từ dịu dàng và biết mất. Một bệnh nhân khác ông T.M. Liehrmamn theo lời khuyên của hội, điều đình với tiếng nói (yêu cầu ông phải đuổi theo, giết người hàng xóm!) một năm sau ông bớt thuốc Chlorazil từ 500 mg mỗi ngày xuống 50 mg, bớt mập, không còn nghe tiếng nói và xuất viện.

Luật sư của cậu James Holmes sẽ ra tòa biện hộ 24 trọng tội. Họ sẽ viện lý do bệnh tâm thần và dùng phương cách cũ rích đã dạy trong Thánh Kinh, cuốn sách luật đầu tiên: đổ thừa (ông Adam phạm tội đổ thừa bà Eva, bà Eva đổ thừa cho con rắn). Họ sẽ đổ thừa cho súng đạn, đổ thừa phim Batman và Hollywood có ảnh hưởng xấu nhưng cũng như các bác sĩ tâm thần họ quên nhìn cậu Holmes, một người mắc bệnh tâm thần gây ra do những căng thẳng trong đời sống của xã hội Hoa Kỳ.

(Ngày 3 tháng 8, 2012)