Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Trà Mi - Cần giải pháp và đường lối ngoại giao tích cực đảm bảo hòa bình cho Biển Đông


Trà Mi, VOA

Biển Đông tiếp tục là một đề tài nóng tại Châu Á, với các tranh chấp ngày càng leo thang giữa những nỗ lực ngoại giao nhằm xoa dịu căng thẳng.


Tiếp sau Hoa Kỳ, Australia vừa lên tiếng kêu gọi một giải pháp ôn hòa cho vùng biển giàu tài nguyên này và thúc giục các bên nhanh chóng tiến tới một thỏa thuận chung quyết. Australia cũng khuyến khích Việt Nam củng cố vai trò trong vấn đề an ninh khu vực giữa những bất hòa giữa Việt Nam với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Đài phát thanh Australia ngày 30/8 trích phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith nhân chuyến công du Việt Nam nhấn mạnh Australia muốn nhìn thấy các tranh chấp được hòa giải theo đúng tinh thần luật quốc tế và luật biển, đặc biệt là công ước Liên hiệp quốc.

Lời kêu gọi của Australia được đưa ra giữa lúc Ngoại trưởng Hoa Kỳ khởi sự chuyến công du 6 nước Châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, bắt đầu từ ngày 30/8 để thảo luận về những căng thẳng ở Biển Đông và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ tới Bắc Kinh vào giữa tháng 9 tới đây.

Chuyến đi của bà Hillary Clinton và ông Leon Panetta một lần nữa làm nổi bật sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với Châu Á trong lúc quan hệ giữa Trung Quốc với Mỹ và một số nước trong khu vực đang căng thẳng vì tranh chấp Biển Đông.

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Victoria Nuland, nhấn mạnh:

“Vấn đề Biển Đông sẽ được Ngoại trưởng Clinton nêu lên trước tiên là trong chặng dừng chân ở Đông Nam Á tại Jakarta và có thể là tại Brunei. Hoa Kỳ đang khuyến khích ASEAN đạt quan điểm thống nhất và làm việc với Trung Quốc dựa trên một lập trường đoàn kết. Dĩ nhiên, vấn đề Biển Đông cũng sẽ được Ngoại trưởng Clinton nêu ra khi ghé thăm Trung Quốc trong chuyến đi này. Mỹ tiếp tục thúc giục một cuộc đối thoại đa phương về bộ quy tắc ứng xử Biển Đông theo luật quốc tế và Công ước Liên hiệp quốc về luật biển quốc tế. Chúng tôi vẫn nghĩ đây là phương cách tốt nhất để giải quyết các tranh chấp.”

Mỹ-Trung đang bất đồng về cách xử lý các tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước láng giềng. Mỹ đang nỗ lực cổ võ cho một giải pháp đa phương và khuyến cáo Trung Quốc chớ nên dùng sách lược ‘chia để trị’ trong vấn đề Biển Đông.

Ngược lại, Trung Quốc nhất mực theo đuổi cách giải quyết song phương với từng nước một có tranh chấp và liên tục có các hành động bị coi là ‘gây hấn’ ở Biển Đông.

Mới đây, Washington đã chính thức chỉ trích Bắc Kinh khi Trung Quốc đơn phương thành lập thành phố và khu cảnh bị Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền.

Đáp lại, Trung Quốc không ngừng sử dụng truyền thông đả kích và cảnh cáo Mỹ không được can thiệp vào chuyện Biển Đông.

Tân Hoa xã ngày 29/8 đăng bài xã luận tiếp tục tố cáo Hoa Kỳ dùng các phương tiện ngoại giao, kinh tế, và chiến lược để gây xáo trộn trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương và gây chia rẽ Trung Quốc với các nước xung quanh Biển Đông nhằm kiềm hãm sức mạnh trỗi dậy của Trung Quốc để giành lại bá quyền trong khu vực.

Hãng thông tấn của nhà nước Trung Quốc khuyến cáo Mỹ rằng cản chân Bắc Kinh và xem Trung Quốc là đối thủ là một việc làm thiếu khôn ngoan.

Ngày 30/8, tờ Hoàn cầu thời báo của Trung Quốc cáo giác rằng hai yếu tố đang gây tác động xấu cho tranh chấp Biển Đông là các nước tranh chấp trong khu vực cứ tiếp tục xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc và sự can thiệp tích cực của các thế lực bên ngoài.

Hoàn cầu thời báo cũng kêu gọi cần có sự ngoại giao tích cực để bảo đảm hòa bình cho các ‘quần đảo của Trung Quốc’ ở Biển Đông, theo lời bài báo mô tả.

Cùng với lời kêu gọi ấy, Hoàn cầu thời báo cũng cho biết là Trung Quốc đang dự tính triển khai máy bay không người lái (UAV) trên biển giữa lúc tranh cãi về lãnh hải với các nước láng giềng tiếp tục tăng cao.

Báo này dẫn lời lời ông Vũ Thanh Tùng, giới chức thuộc Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc, cho biết kế hoạch này cũng bao gồm việc xây dựng 11 căn cứ UAV do các cơ quan hàng hải cấp tỉnh phụ trách. Quan chức này không tiết lộ chi tiết nhưng cho biết ít nhất mỗi căn cứ sẽ có một UAV.

Gíơi chuyên môn Trung Quốc nói việc thành lập các căn cứ UAV dọc bờ biển có thể giúp Bắc Kinh bảo vệ lãnh hải về lâu dài.

Bùi Tín - Lỗ hổng đã 67 năm



Bùi Tín 

Cuộc Cách mạng tháng Tám mùa Thu 1945 đã được tròn 67 năm. Trên dưới một đời người. Bao nhiêu thơ ca ca ngợi cuộc chính biến, cách mạng, đổi đời, cướp chính quyền, tang bồng dâu biển sôi nổi ấy. Bao nhiêu bài xã luận, bình luận, chính luận về sự kiện hiếm có ấy trong cuộc sống của dân tộc.


Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945

Tưởng như mọi sự cần nói đã được nói đến hết cả rồi.

Ấy vậy mà năm nay, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 67 cuộc cướp chính quyền tháng 8-1945, tôi vẫn thấy rất cần nêu lên một ý kiến cực kỳ hệ trọng với bà con ta trong cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là với các bạn trẻ hiện chiếm số đông trong gần 90 triệu người Việt.

Xin được trân trọng hỏi các bạn là trong 67 năm nay, cho đến ngày hôm nay, đất nước ta, nhân dân ta trong đời sống thực tế đang thiếu cái gì nhất?

Nghĩa là cái thiếu nhất trong cuộc sống hằng ngày, không kể đến những mỹ từ, những lạm từ, những hoang từ nhằm tuyên truyền, tưởng tượng ra những điều không hề có thật trên giải đất hẹp hình chữ S này.

Trước tháng Tám 1945, dân ta chưa có nền độc lập, mang thân phận dân thuộc địa của nước Pháp, sau đó dân ta đã có nền độc lập cao quý. Đến nay tuy nền độc lập vẫn còn bị đe dọa, nhưng nền độc lập vẫn vững bền trong ý chí kiên cường của toàn dân.

Trước kia dân ta cực kỳ nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu học; trận đói năm Ất Dậu 1945 dưới thời bị quân phát xít Nhật chiếm đóng đã gây nên cái chết thê thảm của 2 triệu người. Nay ta đã là nước xuất khẩu gạo hàng đầu ở châu Á.

Về thiếu học, dân ta đã xóa nạn mù chữ, xây dựng hệ thống học đường từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học và sau đại học, tuy chất lượng giảng dạy còn xa mới đạt mức trung bình khá, chưa nói gì đến tiên tiến, nhưng dù sao thiếu học, dốt nát không còn là vấn đề trầm kha của cuộc sống dân tộc.

Một số nhà nghiên cứu chính trị và lý luận trong nước lập luận rằng 67 năm nay, dân ta đã có tự do, rằng trong bản Tuyên ngôn Độc lập đã dẫn ra những câu bất hủ về tự do của Cách mạng năm 1776 ở Hoa Kỳ và Cách mạng 1791 của nước Pháp, rằng câu châm ngôn «Không có gì quý hơn độc lập tự do» đã trở thành phương châm chính trị quý giá nhất được thực hiện rõ ràng trong 67 năm qua, và hiện nay có hàng triệu người, hàng chục triệu người Việt Nam vẫn tin là đó là những sự thật hiển nhiên khỏi phải bàn cãi.

Chỉ cần mỗi người Việt Nam ta có công tâm, có tư duy lành mạnh, chịu khó suy nghĩ bằng tư duy độc lập của cá nhân mình, không bị chi phối bởi tư duy giáo điều, theo đuôi người khác, quan sát chặt chẽ cuộc sống thực tế xung quanh, là có thể nhận ra sự thật đúng như nó có.

Sự thật cứng đầu, bướng bỉnh, hiển nhiên là cho đến nay tự do của người công dân ở Việt Nam vẫn còn là quả cấm, vẫn còn là mục tiêu đấu tranh ở phía trước, sự thật là 67 năm nay tự do công dân chỉ mới tồn tại thực sự trên tuyên ngôn, trên diễn văn, trên văn kiện, trên cửa miệng và trên giấy tờ, không hề tồn tại với đầy đủ ý nghĩa cao quý tự nhiên của nó trong cuộc sống.

Ngay ông Hồ Chí Minh người được coi là khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người nêu cao các khẩu hiệu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, người nêu cao phương châm «không có gì quý hơn Độc lập Tự do», người còn nói «nếu đất nước đã được độc lập mà nhân dân không có tự do thì nền độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì», thì trên thực tế, mỉa mai thay, ông lại tỏ ra hết sức thờ ơ, hầu như vô cảm đối với mọi quyền tự do của công dân.

Có vô vàn dẫn chứng hùng hồn chứng minh cho điều đó.

Trong 24 năm làm chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, làm lãnh tụ tối cao đảng và nhà nước, ông vẫn chủ trương kiểm duyệt gắt gao xuất bản và báo chí, bóp ngẹt báo chí tư nhân. Khi phong trào Nhân văn Giai phẩm nổ ra, những Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần…chỉ yêu cầu được tự do sáng tác, đề nghị các nhà lãnh đạo tư tưởng, văn hóa, các chính ủy trong quân đội chớ can thiệp quá sâu vào sáng tác văn học nghệ thuật, rồi bị những Trường Chinh, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng «đánh» cho tơi bời khói lửa, vậy mà ông không chút động lòng bênh vực những công dân ngay thật, còn vào hùa trừng phạt những người đòi tự do cho mình và cho toàn xã hội.

Anh Nguyễn Hữu Đang gửi bao nhiêu thư cho ông cầu cứu, ông không một lần trả lời, ngoảnh mặt quay đi với người từng là trưởng ban tổ chức lễ Độc lập, người lãnh đạo Hội Văn hóa Cứu quốc của Việt Minh, người từng đôn đốc dựng đài cao cho ông Hồ lên đọc bản Tuyên ngôn lịch sử.

Tệ hơn nữa là khi người Sỹ quan thân cận của chủ tịch nước – Officier d’ ordonnance du Président - Vũ Đình Huỳnh, cũng là thư ký riêng thân tín của ông hàng chục năm, năm 1964 bị chụp mũ là «xét lại, tay sai Moscow», cũng gửi thư và vợ ông là bà Tề đến cầu cứu ông, ông Hồ vẫn thản nhiên, không một lời an ủi hay bênh vực.

Còn bao nhiêu sự kiện khác. Ông Hồ biết cả. Nhưng ông bất động. Mà ông còn có thể sợ ai nữa. Lúc ấy ông Lê Duẩn, ông Lê Đức Thọ chưa dám hỗn láo hạn chế quyền lực của ông với cái lý do «hãy để ông Cụ nghỉ, đừng làm phiền lòng ổng». Ông chỉ cần phê một chữ, lắc đầu một cái, là có thể cứu người công dân ưu tú khỏi oan trái. Nhưng không. Ông bất động, vì vô cảm. Vì ông vô cảm với bất công, với oan trái, với tự do công dân bị xâm phạm.

Anh Hà Minh Tuân, nhà văn quân đội có tài, chỉ sơ hở một vài câu trong cuốn tiểu thuyết «Vào đời» bị đại tướng Nguyễn Chí Thanh phang một đòn «văn tư sản đồi trụy», từ đó sạt nghiệp văn chương, cũng như nhà thơ tài hoa Quang Dũng, cũng bị ông tướng võ biền Nguyễn Chí Thanh phang một đòn chí tử về tứ thơ từ Tây Bắc «nhớ về Hà Nội bóng Kiều thơm» là «sa đọa tư sản», tất cả bị đưa lên phê phán trên báo, ông Hồ biết rõ cả, nhưng ông không tỏ thái độ, có nghĩa là ông bênh các quan đàn áp lương dân, ông không mảy may rung động khi «nước có độc lập mà dân không được tự do».

Rồi vụ bà Nguyễn Thị Năm ở Đồng Bẩm - Thái Nguyên bị tử hình theo ý kiến cố vấn Tàu, ông Hồ được ông Hoàng Quốc Việt chạy đến cầu cứu vì bà Năm từng nuôi cán bộ cộng sản, có 2 con đi bộ đội, ông Hồ chỉ «thế a!» rồi im thin thít. Đó quan niệm của người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập và tự do là nghèo nàn ấm ớ như thế đó.

Nhiều nhà dân chủ bây giờ đã thấy rõ nếu so sánh lập trường dân chủ tự do của ông Hồ với nhà chí sỹ Phan Chu Trinh thì thấy rất rõ là ông Tây Hồ đã vượt ông Hồ cả một cái đầu. Tôi đã để thì giờ đọc Hồ Chí Minh toàn tập và những trước tác của Phan Chu Trinh để so sánh. Ông Hồ viết sách, viết báo, diễn thuyết khá nhiều, nhưng ông chỉ tập trung lên án mạnh và khá sâu bọn thực dân Tây Phương, bọn thực dân Pháp cầm quyền bóc lột áp bức dân thuộc địa, nhưng ông hầu như bỏ qua mọi hình thức bóc lột đàn áp, bất công tinh vi của người Việt đối với người Việt mình. Các bạn trẻ xin hãy đọc hàng ngàn câu thơ trong tập Tỉnh Quốc Hồn Ca của Phan Tây Hồ, sẽ thấy rõ các chủ trương của ông : nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là cần thiết, cấp bách, quý báu và hiện đại biết bao.

Phan Tây Hồ tuyên chiến mạnh mẽ, sâu sắc với mọi nét văn hóa lạc hậu, cổ hủ của xã hội Việt Nam, tệ nạn trọng nam khinh nữ, thói tham quan ô lại, tệ cường hào quan liêu, thói học vẹt theo thi cử, giảng giải kỹ quyền công dân, tinh thần thượng tôn luật pháp, quyền liên kết lập hội, cổ vũ lối nghiên cứu khoa học theo tư duy độc lập tự chủ kiểu thực nghiệm và thực chứng…Có thể nói tuy Phan Chu Trinh là Phó bảng Hán học nhưng trên thực tế là nhà văn hóa hiện đại nhất, hấp thu tinh túy của văn hóa Tây phương nhuần nhuyễn nhất, có hệ thống và rất thực tiễn. Có cơ sở để kết luận rằng ông Phan Chu Trinh là chiến sỹ Dân Chủ và Nhân Quyền đầu tiên và sâu sắc nhất trong lịch sử nước ta, và tư duy duy tân của ông hiện vẫn là chuyện thời sự cần thiết nóng hổi nhất.

Ông Phan và ông Hồ đều sống ở Pháp khá lâu nhưng ai tiếp thu thật sự nền văn hóa – chính trị mới mẻ tiến bộ của Pháp, có thể khẳng định là ông Phan vượt trội một cách nổi bật, như người dẫn đầu cuộc đua và kẻ mang đèn đỏ. Vì khi cầm quyền ông Hồ và những kẻ kế thừa ông đã quay lưng lại với tự do của người công dân và chà đạp nhân quyền không thương tiếc.

Đó là vì ông sống ở Pháp rồi còn sang Moscow một thời gian dài, ăn lương hàng tháng của Quốc tế CS, khi tư duy chính trị đang chín và đang định hình, bị trực tiếp Stalin và đồng chí của ông ta nhào nặn vào khuôn phép, được đào tạo ở Học viện Đông phương cộng sản, hết họp Đại hội V của Quốc tế CS (tháng 6/1924), lại họp Đại hội Quốc tế Công hội Đỏ, rồi Quốc tế CS Nông dân, rồi cả Quốc tế Phụ nữ và Quốc tế Thanh niên cũng như Quốc tế Cứu tế Đỏ. Rồi một thời gian dài ở Trung Quốc dưới trướng của Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, sau đó với hàng trăm cố vấn của «bác Mao» quanh mình, ông chỉ có một ý nghĩ chính trị mãnh liệt là nhuộm đỏ cả Bắc cả Nam nước ta, nhuộm đỏ cả Lào và Miên, cho đến nhuộm đỏ cả Đông Nam Á và thế giới, sứ mệnh được các lãnh tụ quốc tế của ông là ông Xít và ông Mao giao cho ông.

Cho nên tháng Tám năm nay, nhắc đến bản Tuyên ngôn Độc lập, điều mỉa mai cay đắng khổng lồ là những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trên đó sau 67 năm vẫn còn là những chữ rỗng ruột, những mỹ từ trên giấy, những lời hứa hão huyền, những quả lừa khổng lồ dai dẳng, những món nợ trầm luân của ông Hồ, của đảng Cộng sản đối với dân ta.

24 năm ông Hồ trực tiếp cầm quyền, công dân Việt Nam chỉ được làm những điều gì đảng cho phép, mọi người ngoài đảng chỉ là công dân dự bị, loại hai, bị phân biệt đối xử theo lý lịch, không một công dân nào có hộ chiếu để xuất ngoại, người nông dân tự do, người buôn bán tự do…là chuyện viển vông không tồn tại.

Đến nay, trong đổi mới, gia tài ông Hồ để lại tuy có điều chỉnh chút ít, nhưng đường lối cơ bản theo chủ nghĩa Mác-Lenin vẫn là một xã hội tật bệnh hiểm nghèo, trong đó lỗ hổng cực kỳ bi đát là thiếu dân chủ tự do, thiếu nhân quyền vẫn cứ toang hoác thêm. Vẫn là một không gian xã hội không có dưỡng khí, ngột ngạt đến ngẹt thở. Đây là bất hạnh dai dẳng lớn nhất của dân ta khi so sánh với nhân dân Thái Lan, Philippine, Indonesia, Malaysia gần ta, chưa nói đến dân Ấn Độ, Nhật Bản…

Trên đây là món nợ lớn nhất mà toàn dân ta đang trên đà thức tỉnh để đòi lại cho nhân dân ta và muôn đời con cháu, món nợ lưu cữu 67 năm, lãnh đạo đảng CS không thể trì hoãn và cố tình bỏ quên mãi được.


Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Hà Tường Cát - Năng lượng và bầu cử


 Hà Tường Cát 

Ngay sau khi Mitt Romney chính thức được chọn làm ứng cử viên tổng thống trong đại hội đảng Cộng Hòa đang diễn tiến với tốc độ nhanh nhất, Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Ba đã đưa ra quy định chung quyết về tiết kiệm nhiên liệu cho các xe hơi và xe truck nhỏ sẽ được chế tạo trong tương lai, để tới năm 2025 thì tất cả sẽ đáp ứng đúng tiêu chuẩn.


Hôm Thứ Năm, 23 tháng 8, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney đề ra chính sách năng lượng mà theo ông sẽ đưa Hoa Kỳ đến sự độc lập về năng lượng vào năm 2020 nghĩa là sau hai nhiệm kỳ của ông, nếu ông đắc cử. (Hình: Evan Vucci/AP)

Theo quy định này các xe trên toàn nước Mỹ sẽ chỉ tiêu thụ 1 gallon xăng để chạy được 54.5 dặm (54.5 mpg) nghĩa là hiệu quả gấp đôi so với mức hiện nay và như vậy tiết kiệm được $1,700 tỷ tiền nhiên liệu cho Hoa Kỳ vào năm 2025. Tổng Thống Obama nói rằng: “Tiêu chuẩn nhiên liệu này là bước tiến quan trọng nhất mà chúng ta thực hiện để giảm sự lệ thuộc vào dầu lửa ngoại quốc, tăng cường an ninh năng lượng cho Hoa Kỳ và giúp cho kinh tế của các gia đình trung lưu.” Chính quyền Obama đã được sự ủng hộ của các công ty chế tạo lớn, kể cả “Big Tree” ở Detroit (GM, Ford, Chrysler) về tiêu chuẩn nhiên liệu giai đoạn 2017-2025.

Theo ước lượng, các công ty xe hơi sẽ tốn $157 tỷ để phát triển và sản xuất các xe với động cơ mới. Trung bình mỗi xe sẽ đắt hơn khoảng $3,000 nhưng số tiền này được bù lại bằng nhiên liệu tiết kiệm.

Những người Cộng Hòa chống lại quy định, theo lời Dân Biểu Darrell Issa, California: “Quy định do chính quyền Obama đưa ra hôm nay thiệt hại cho giới tiêu thụ vì bắt họ lái những chiếc xe đắt tiền và kém an toàn hơn.” Ông cho rằng chính quyền đã “bí mật” thỏa thuận với các hãng xe hơi, thiếu nghiên cứu khoa học, tham khảo với các giới và chỉ nhằm mục tiêu chính trị làm vừa lòng các nhóm bảo vệ môi trường. Ứng cử viên Mitt Romney thì cho rằng: “Cách đúng nhất là sản xuất xe mà dân chúng muốn chứ không phải chính quyền bảo các hãng xe phải làm xe như thế nào.”

Nhưng Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Ray Lahood trong cuộc họp báo qua điện thoại với các phóng viên hôm Thứ Ba nói rằng gần đây Ford và Chrysler đã đạt nhiều tiến bộ về xe tiết kiệm xăng. Theo ông: “Dân Mỹ bây giờ muốn dùng xe ít tốn xăng và hãng xe đã đáp ứng được nguyện vọng ấy.”

Năng lượng chính là một đề tài của cuộc tranh cử. Hôm Thứ Năm, 23 tháng 8, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney đề ra chính sách năng lượng mà theo ông sẽ đưa Hoa Kỳ đến sự độc lập về năng lượng vào năm 2020 nghĩa là sau hai nhiệm kỳ của ông, nếu ông đắc cử. Ðây không phải là một mục tiêu mới, các tổng thống hay ứng cử viên tổng thống trong hai thập niên vừa qua đều đã có những ý kiến và chủ trương tương tự. Tổng thống đương nhiệm Barack Obama đã từng nhiều lần khẳng định và cổ vũ sự độc lập năng lượng, không để bị lệ thuộc vào thị trường cung ứng dầu thô từ Trung Ðông và các nước ngoài. Tuy nhiên về phương cách thực hiện lý tưởng ấy, có sự khác biệt hoàn toàn giữa đường lối của hai đối thủ Cộng Hòa và Dân Chủ; Obama tìm hướng giải quyết nhu cầu năng lượng của nước Mỹ ở trên trời còn Romney ở dưới lòng đất, theo một cách nói của các giới truyền thông.

Chính sách năng lượng của ứng cử viên Mitt Romney không làm các giới quan sát ngạc nhiên; ông và đảng Cộng Hòa có liên hệ mật thiết với các đại công ty kỹ nghệ dầu khí và tuần trước ông đã thu được hơn $7 triệu trong một bữa tiệc gây quỹ ở Texas. Ông bênh vực chủ trương dành cho các tiểu bang quyền quyết định thăm dò và khai thác dầu khí. Theo ông: “Các tiểu bang có nhiều khả năng phát triển, quy định và bảo trợ các chương trình năng lượng căn cứ theo tài nguyên, tình trạng địa chất và những quan tâm của địa phương.” Trong chủ trương gia tăng sản lượng dầu nội địa, ông chấp thuận xây dựng đường ống dẫn dầu Keystone XL từ miền Tây Canada đến các nhà máy lọc dầu ở Texas. Tuy vậy để làm giảm lo ngại của các giới bảo vệ môi trường, ông nói thêm rằng sẽ không chấp nhận cho sản xuất năng lượng trên những khu đất liên bang đã được quy hoạch cấm khoan dò dầu khí.

Trong lời phát biểu ngày 15 tháng 12 vào thời điểm giá dầu thô lên cao, Tổng Thống Obama đã khẳng định rằng không một nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nào có khả năng đơn phương giải quyết một vấn đề vốn còn phải tùy thuộc vào cơ chế vận hành của thị trường thế giới. Và ông đề cao chủ trương tìm kiếm phát triển những nguồn năng lượng mới: “Chúng ta không thể có được một chính sách năng lượng ở thế kỷ trước, và đã ràng buộc Hoa Kỳ trong quá khứ. Chúng ta cần một chiến lược cho tương lai, một chiến lược toàn diện trong thế kỷ 21 bằng cách phát triển mọi nguồn năng lượng có thể tạo lập ra.” Tuy nhiên điều đó không dễ dàng và không mau chóng đạt tới.

Nhưng chính sách năng lượng mà ứng cử viên Mitt Romney vừa đề ra không nhắm tới tương lai ấy. Mục tiêu độc lập năng lượng cho Hoa Kỳ trong 10 năm tới cũng mới chỉ là một mục tiêu nhất thời không lâu dài lắm, nếu tin rằng bất cứ những mỏ dầu nào đến một lúc cũng cạn kiệt không thể khai thác mãi. Ông Romney chắc chắn cũng phải nghĩ như thế, nhưng khi đưa ra ý kiến, ông có lý do khác, cụ thể là vấn đề tranh cử. Bầu cử là chuyện tháng 11 này và cử tri bỏ phiếu cho cuộc bầu cử ấy chứ không phải cho năm 2020 và với họ giải quyết được nhu cầu bây giờ mới là điều để quan tâm. Nói cách khác, đây là nội dung kinh tế, chủ đề mà ứng cử viên Cộng Hòa tin rằng có kết quả đưa đến chiến thắng trong mùa bầu cử năm nay.

Phóng viên AP nhận xét rằng sau mấy ngày gặp rắc rối bất ngờ vì định nghĩa “hiếp dâm hợp pháp” (legitimate rape) của ứng cử viên Thượng Nghị Sĩ Todd Akin tiểu bang Missouri, ông Mitt Romney không muốn để cử tri bị lôi cuốn vào những vấn đề xã hội đi lạc ra ngoài đề tài kinh tế của cuộc tranh cử, ông đã tìm cách trở lại bằng cách đưa ra một kế hoạch cụ thể hơn. Tuyên bố tại Hobbs, trung tâm dầu khí của New Mexico, ông hứa hẹn rằng chính sách năng lượng mới sẽ tạo ra 3 triệu việc làm và đem lại thu nhập hơn $1,000 tỷ cho chính quyền liên bang và tiểu bang. Kế hoạch ông đưa ra là mở thêm nhiều khu vực khoan dầu dọc duyên hải Ðại Tây Dương và dành rộng quyền cho các tiểu bang kiểm soát sản xuất năng lượng ở lãnh thổ liên bang. Vùng duyên hải Ðại Tây Dương cho đến nay vẫn là khu vực chưa được phép khoan dò dầu khí. Truyền hình ABC nhắc lại rằng tại Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa 4 năm trước, năm 2008, người ta đã thấy có khẩu hiệu khuyến khích khoan thêm các mỏ dầu ở Hoa Kỳ: “Drill, baby, drill.” (Khoan, khoan đi, chú bé)

Ký giả Bryan Walsh viết trên tạp chí Time: “Cái hoàn toàn sai trong chính sách năng lượng của ông Romney chính là mục tiêu. Ông ta cổ vũ sự độc lập năng lượng như là phương cách để thúc đẩy nền kinh tế và giảm chi tiêu cho những gia đình trung lưu. Nhưng chừng nào Hoa Kỳ còn phải lệ thuộc vào dầu mỏ thì không thể độc lập, dù là dầu từ đâu tới. Dầu thô trao đổi trên thị trường toàn cầu và dầu quốc nội chỉ ảnh hưởng từ ít đến không có. Một sự gián đoạn sản xuất tại một nước nào cũng đều làm xăng ở Hoa Kỳ tăng giá và chúng ta không thể an lành với dầu trong vịnh Mexico. Chuyển bớt nhập cảng dầu Saudi Arabia về Canada có thể tốt về chính trị nhưng đừng nghĩ rằng sẽ tác động nhiều đến giá ở các cây xăng, vì Canada cũng chẳng muốn hạ giá dầu thô.” Walsh viết tiếp: “Trong ít năm gần đây, chúng ta đã sản xuất thêm dầu thô nội địa, nhưng không làm giá xăng hạ xuống bao nhiêu nếu không phải là còn tăng lên. Chúng ta không thể 'drill, baby, drill' mà có năng lượng rẻ.”

Tuần trước, vận động tranh cử tại miền Ðông Ohio giáp giới West Virginia, vùng khai thác mỏ than, ông Romney đã khuyến khích hoạt động của các nhà máy nhiệt điện đốt bằng than và cho rằng Hoa Kỳ sẽ không cần mua dầu của Venezuela hay Trung Ðông vào năm 2020 nếu sử dụng hết các nguồn năng lượng nội địa. Những quan điểm này ngược hẳn với chủ trương của phía đảng Dân Chủ và Tổng Thống Obama đả kích ông Romney là “coi thường vấn đề năng lượng sạch.” Tổng Thống Obama đã thúc đẩy chương trình phát triển điện gió ở nhiều tiểu bang như Iowa, Colorado và đề nghị Quốc Hội gia hạn giảm thuế chi các công ty chế tạo turbin gió, nhưng ông Romney không ủng hộ kế hoạch này. Theo lập luận của chính quyền Obama, ngành kỹ nghệ Hoa Kỳ có ưu thế khoa học kỹ thuật về chương trình phát triển điện gió và sẽ giúp thuộc kỹ thuật tạo ra nhiều công việc làm cho dân Mỹ. Trung Quốc là một trong những quốc gia trên thế giới chú trọng phát triển điện gió và vẫn mua nhiều trang thiết bị của Hoa Kỳ.

Thống Ðốc Cộng Hòa Bob McDonnell tiểu bang Virginia cổ vũ việc khai thác đầu khí ngoài khơi Ðại Tây Dương với kết quả giúp cho kinh tế Virginia và North Carolina phát triển. Chính quyền Obama đã đưa ra dự án cho các công ty khởi sự tiến hành khảo cứu địa chất và khoan dò dầu khí trên thềm lục địa Ðại Tây Dương, tuy nhiên chưa cấp phép nhượng khu khai thác ít nhất là tới năm 2017. Ông Romney tố cáo chính quyền Obama làm chậm việc sản xuất dầu nội địa để làm lợi cho các công ty năng lượng sạch (gió, năng lượng mặt trời). Nhưng nữ phát ngôn viên Lis Smith ban tranh cử của Tổng Thống Obama chỉ trích kế hoạch năng lượng của Romney là “một bước thụt lùi.” Bà nói: “Ðây chỉ là âm mưu giúp các đại công ty dầu khí trong khi để Hoa Kỳ rớt lại phía sau và nhường lãnh vực năng lượng sạch cho Trung Quốc.” Theo tòa Bạch Ốc, sản xuất dầu nội địa đã gia tăng rất nhanh trong nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống Obama và lần đầu tiên từ 13 năm, Hoa Kỳ chỉ còn lệ thuộc dầu nước ngoài ở mức dưới 50% và tới năm 2025 sẽ giảm tới 1/3.

Tổng Thống Obama khẳng định: “Sản xuất dầu lửa gia tăng. Sản xuất khí đốt gia tăng. Nhưng năng lượng của chúng ta sẽ còn tăng gấp đôi nhờ gió và mặt trời. Ðó là năng lượng sạch, năng lượng tái sinh, năng lượng nội địa và giúp tạo ra công ăn việc làm trên toàn nước Mỹ.” Ông cũng đề cao sự phát triển các nguồn năng lượng mới cũng như sản xuất xe hơi với động cơ tiêu thụ ít năng lượng.



Paulo Thành Nguyễn - Du học sinh Việt Nam- Một thế hệ “vượt biên” thời hiện đại


Paulo Thành Nguyễn

Sau “hiệp định Geneve” hàng triệu người, đa số là người Công giáo, rời khỏi miền Bắc VN năm 1954 theo chương trình Passage to Freedom (Con đường đến Tự Do). Tính đến giữa năm 1954 và 1956, trên 1 triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, tức khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc đã bỏ vào miền Nam


 Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều người thật sự ra đi vì lý do kinh tế và chính trị: họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản không có cảm tình với chính phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi.

Biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến hai miền Bắc-Nam chấm dứt. Chế độ Việt Nam Cộng hòa thua trận với hậu quả hai đợt di dân lớn từ Việt Nam đến Hoa Kỳ và các nước Tây phương.

Năm 1977 bắt đầu đợt thứ hai khi phong trào vượt biển tỵ nạn kéo dài cho đến giữa thập niên 1980.

Tiếp đến vào năm 1990 các chương trình đoàn tụ đón tù cải tạo, con lai, tái định cư cho đến nay.

Tổng cộng các đợt di dân lịch sử này tính riêng tại Mỹ hiện là  1.223.736 người. (theo Wikimedia)

Nguyên nhân dẫn đến sự ra đi lịch sử này bắt đầu từ việc người dân miền nam lo sợ chính quyền Cộng sản trả thù sau ngày 30/4/1975. Một phần vì đời sống kinh tế  khó khăn và phần lớn bởi chính sách hà khắc của chính phủ lúc bấy giờ đã đẩy số lượng lớn con người rời bỏ quê hương.

Nhưng đến hôm nay, sự ra đi đó vẫn tiếp diễn…

Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT), nước ta hiện có trên 100.000 du học sinh (DHS) theo học tại 49 quốc gia, vùng lãnh thổ. Nhiều nhất là Úc (khoảng 25.000 người). Xếp thứ nhì là Mỹ (14.888 người), kế tiếp là Trung Quốc (12.500), Singapore (7.000), Anh (6.000), Pháp (5.540), Nga (5.000), Nhật Bản (3.500). Trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc.

Đa số DHS sau khi tốt nghiệp đều tìm cách định cư tại nước sở tại vì điều kiện làm việc và môi trường sống ở nước ngoài. Nhiều DHS không muốn về Việt Nam vì không có cơ hội phát triển và xã hội ẩn chứa quá nhiều rủi ro về các vấn nạn xã hội, một phần vì thích môi trường sống tự do ở các nước Tư bản.

Nếu vượt biên chính thức ngày trước bằng cách “mua bãi” với 6 lượng vàng thì du học ngày nay cần chứng minh tài chính và khả năng chi trả học phí, ăn ở trung bình khoảng 30,000 USD/ năm.

Nếu sự ra đi ngày trước vì lo sợ trả thù, vì cái đói của thể xác thì sự ra đi của một bộ phận thế hệ hôm nay là sự chạy trốn cái nghèo đói về kiến thức và vươn đến sự tự do trong tư tưởng, tự do sáng tạo.

Việc chấp nhận cho con cái du học đồng nghĩa với việc chấp nhận xa lìa con cái như cảnh ly tán ngày trước của rất nhiều gia đình. Chỉ khác là điều kiện liên lạc và phương tiện đi lại hôm nay thuận tiện hơn, nhưng rõ ràng sự chia ly là không ai muốn và càng không muốn làm một người tha hương...

Tuy sự so sánh trên có phần khập khểnh nhưng nhìn chung sự ra đi cũng bởi hy vọng tìm một nguồn kiến thức tốt hơn, môi trường làm việc tốt hơn, môi trường sống thông thoáng hơn hay đơn giản chỉ để tự do hơn...

Một vị giáo người Nga trong một giai thoại về cuộc triễn lãm nghệ thuật “con cá” nói :

"Con cá là một sinh vật. Là một sinh vật, nó chỉ có thể sống trong môi trường nước, chứ không thể sống bằng khái niệm "nước". Người Nga chúng ta cũng như vậy. Là những con người, chúng ta chỉ có thể sống được trong một môi trường với các mối quan hệ xã hội và tự nhiên cụ thể, chứ không thể sống được bằng khái niệm "chủ nghĩa xã hội".  (FB Nguyên Hưng)

Người Việt Nam chúng ta cũng như con cá đó!

Chúng ta không thể "hòa hợp dân tộc" bằng khái niệm khi luôn tồn tại bóng ma “thế lực thù địch”.

Chúng ta không thể phát triển khả năng sáng tạo trong khái niệm tư duy một chiều.

Chúng ta không thể phát triển nhân trí khi bỏ mặc tình hình đất nước cho khái niệm " Đảng và nhà nước lo".

Chúng ta không thể phát triển đạo đức khi chỉ dựa theo khái niệm "tấm gương đạo đức" của người khác.

Và rõ ràng chúng ta đã không thể sống đúng nghĩa là một con người bằng khái niệm “ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Sự rời bỏ của thế hệ trước từ năm 1954 cho đến hôm nay là minh chứng rõ nhất cho sự sống trong cái khái niệm gọi là "thiên đường xã hội chủ nghĩa". Xa hơn, nó còn là dấu hiệu cái chết của một dân tộc..

Paulo Thành Nguyễn
29.8.2012

Việt Hà - Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng qua vụ bầu Kiên


Việt Hà, RFA 

Trong khi ĐCSVN thực hiện chiến dịch phê và tự phê nhằm chỉnh đốn đảng, vụ bắt giữ ông Nguyễn Đức Kiên, người được cho là có quan hệ thân thiết với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng đặt ra câu hỏi về nỗ lực chống tham nhũng của ĐCS.


Từ trái qua: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí Thư ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng và Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang trong phiên bế mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 1 năm 2011 - AFP photo

Nỗ lực chống tham nhũng?

Vụ bắt giữ ông trùm ngân hàng Nguyễn Đức Kiên hay còn gọi là bầu Kiên tại Việt Nam vào hôm 20 tháng 8 vừa qua đã gây ra một làn sóng dư luận sôi nổi trong và ngoài nước. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một cuộc chiến quyền lực nội bộ của Đảng cộng sản. Nhưng nhìn chung, vụ bắt giữ này cũng cho thấy phần nào một cuộc chiến khác mà Đảng cộng sản đã kêu gọi từ bấy lâu nay, đó là cuộc chiến chống tham nhũng.

Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh nhận xét:
Tôi cho rằng đã đến lúc đảng cộng sản thấy rằng không thể kéo dài tình trạng này nữa vì nó làm mất niềm tin ở quần chúng rất lớn và thật ra là nguy cơ bất ổn định chính trị là ở chỗ này, nguy cơ suy sụp nền kinh tế là ở chỗ này. Theo tôi động thái bắt bầu Kiên là trước hết chứng tỏ với dân Việt Nam là các lãnh đạo đang ra tay đây.

Bầu Kiên vốn trước kia là một thành viên sáng lập của ngân hàng thương mại cổ phần Á châu (ACB) và hiện là một cổ đông lớn tại ngân hàng này. Ông ta cũng là người nắm giữ những cổ phần lớn tại nhiều các ngân hàng khác trong nước. Tài sản của bầu Kiên được ước tính đến cả tỷ đô la. Nhưng điều quan trọng hơn cả là bầu Kiên được coi là người thân cận với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Từ nhiều tháng nay, các trang blog trong và ngoài nước liên tục đưa các tin bài về các vụ thao túng ngân hàng lên đến hàng ngàn tỷ đồng của bầu Kiên với sự tham gia của cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người cũng là trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Mặc dù giới chức Việt Nam khẳng định bầu Kiên bị bắt vì liên quan đến những vi phạm pháp luật tại ba công ty từ nhân của mình, nhưng với khối tài sản khổng lồ và mối quan hệ mà bầu Kiên tạo dựng được, dư luận chung cho rằng đây là một vụ án tham nhũng, hối lộ cỡ lớn. Ông Lê Hiếu Đằng nhận xét:
Thực ra những tài sản mà những tay đại gia đó có được là xuất phát từ ba nguồn: một là buôn lậu, hai là tham nhũng, tham nhũng qua hối lộ, ba là từ buôn bán đất đai của người dân.

Giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện quốc phòng Úc trong bài viết về vụ bắt giữ bầu Kiên đăng tải trên website của ông cho rằng ‘ không ai ở Việt Nam có được tài sản lớn mà không có quan hệ mật thiết với các thành viên quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam. Không ai có tầm cỡ như ông Kiên có thể bị bắt mà không có chuẩn thuận chính trị từ các cấp cao nhất’.

Vụ bắt giữ bầu Kiên xảy ra trong giai đoạn Đảng Cộng Sản đang thực hiện một họat động chính trị quan trọng là phê và tự phê trong các tầng lớp lãnh đạo của đảng từ trung ương đến địa phương. Mục tiêu của chiến dịch này là xác định các sai sót trong một số lĩnh vực và chống tham nhũng. Chiến dịch này được triển khai sau hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương đảng khóa 11 diễn ra hồi tháng 5 vừa qua. Tại hội nghị này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhìn nhận ‘tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước’.
Theo tôi động thái bắt bầu Kiên là trước hết chứng tỏ với dân Việt Nam là các lãnh đạo đang ra tay đây.- Ông Lê Hiếu Đằng
Để đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, ban chấp hành trung ương đảng đã quyết định lập ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc bộ chính trị, thay vì đặt ban này dưới sự chỉ đạo của thủ tướng như trước kia. Theo đánh giá của giáo sư Carl Thayer thì đây được coi là một bước nhằm giảm bớt quyền lực quá lớn trong tay thủ tướng, phá vỡ mạng lưới gây ảnh hưởng của thủ tướng vốn đang bị chỉ trích là tham nhũng. GS Carl Thayer nói:
Điểm tích cực trong vụ này là trong 10 năm qua Đảng Cộng Sản đã luôn nói tham nhũng là mối nguy cho sự tồn vong của đảng, nhưng cho đến giờ họ vẫn chưa thành công trong việc giải quyết nạn tham nhũng. Chiến dịch phê và tự phê mà họ đang tiến hành, chiến dịch chống tham nhũng, xem xét hệ thống ngân hàng là những vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà kinh tế nội địa đánh giá Việt nam rất thấp  là những gì họ cần phải làm. Và trong trường hợp này, thủ tướng là người bị xác định là có quá nhiều và dường như là mạng lưới của ông ta đang phải chịu trận. Cho nên điều tích cực là nếu Việt Nam đạt được dù chỉ là một cải thiện rất nhỏ thì nó cũng có thể chỉ ra được những nguyên nhân về cấu trúc.

Hiệu quả tới đâu?

Thế nhưng thể chế chính trị lại đặt ra sự nghi ngờ về hiệu quả của cuộc chiến chống tham nhũng mà Đảng Cộng Sản đang kêu gọi. Ông Lê Hiếu Đằng nhận xét:
Phải có tòa án độc lập, những cơ quan chống tham nhũng độc lập thì mới có thể chống tham nhũng được. Chứ kiểu thế này không thể chống tham nhũng được. Vì đưa về cơ quan đảng thì vừa rồi mấy ông tham nhũng đều là đảng viên hết, từ cấp phường, đến huyện, đến thành phố đều là đảng viên hết. Nếu chuyển cơ chế qua đảng mà không có cơ chế để người dân giám sát đảng và nhà nước thì tôi cho rằng cũng không có hiệu quả. Tôi cho rằng sẽ đi lại vết xe đổ, tình trạng tham nhũng sẽ kéo dài, sẽ xuất hiện những bầu Kiên mới, những đại gia mới, và như vậy làm cho nền kinh tế kiệt quệ và người thiệt hại nhất là người dân.

Để phát hiện tham nhũng, báo chí cũng cần phải được vào cuộc. Và tất nhiên, vụ bắt giữ bầu Kiên cũng được báo chí Việt Nam đưa tin. Tuy nhiên với những kinh nghiệm từ các vụ việc trong quá khứ như PMU 18, hay vụ in tiền polymer, người ta hoàn toàn có thể lo ngại về những sự cấm đoán có thể xảy ra với báo chí đối với vụ nhạy cảm này. Giáo sư Carl Thayer giải thích:
Nếu chuyển cơ chế qua đảng mà không có cơ chế để người dân giám sát đảng và nhà nước thì tình trạng tham nhũng sẽ kéo dài, sẽ xuất hiện những bầu Kiên mới, những đại gia mới... - Ông Lê Hiếu Đằng 
Hiển nhiên là một người có quyền lực rất cao trong đảng phải chấp thuận cho bài viết đầu tiên về vụ việc này trên báo và những gì mà chúng ta thấy từ quá khứ là cái gì đã xảy ra thì sẽ đến một lúc họ nói với báo chí là đủ rồi đó vì vụ này bắt đầu mở rộng vào mạng lưới và như vậy là anh sẽ có những hậu quả khôn lường với những khoản tiền và các lĩnh vực khác có tham nhũng bị lộ diện và sẽ có lúc vượt khỏi tầm kiểm soát.

Vụ bắt bầu Kiên dù đã trôi qua được hơn 1 tuần, nhưng dư âm của vụ việc này sẽ vẫn còn tiếp diễn. Có nhiều dự đoán cho rằng sẽ có những người khác nữa trong mạng lưới các đại gia quyền lực ở Việt nam bị bắt giữ. Tuy nhiên ai sẽ bị bắt, và tội danh thế nào thì lại phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực chống tham nhũng thực sự của đảng.

Ngô Nhân Dụng - Không được cấm quyền yêu nước


Ngô Nhân Dụng

Lâu nay, ở Việt Nam những người bầy tỏ ý kiến về âm mưu chính quyền Trung Quốc thao túng và chèn ép nước ta là các nhà trí thức, nhà báo, văn nghệ sĩ và các sinh viên. Bữa qua mới được thấy ý kiến của một người thuộc giới kinh doanh. Đó là ông ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị ngân hàng Eximbank. Trước đây mạng Quanlambao mới tung tin đồn là ông đang bị quản thúc, sau vụ bắt Bầu Kiên. Được đài RFI phỏng vấn, ông Lê Hùng Dũng cải chính ông bị bắt, nói rằng: “Theo nhận định cá nhân tôi thì cái mạng Quan Làm Báo này là của Trung Quốc. Mà người Trung Quốc – một số người Trung Quốc – thì họ rất không muốn Việt Nam ổn định.” Ông giải thích thêm “… người ta tung tin đó ra với mục đích gì ? Để làm cho Eximbank nói riêng suy yếu, và hệ thống ngân hàng Việt Nam suy yếu, …Họ muốn đánh một đòn vào trong hệ thống tiền tệ Việt Nam để tài chính Việt Nam suy yếu, và họ có cơ hội để họ tiến lên, giống như là họ đang lấn chiếm Hoàng Sa với Trường Sa của chúng ta!”


Phải hoan nghênh tiếng nói mới, tiếng nói đầu tiên của giới kinh doanh góp vào làn sóng dư luận những người yêu nước phản đối Cộng sản Trung Quốc. Chúng ta không biết “nhận định cá nhân” của ông Dũng về nguồn gốc mạng Quan Làm Báo có đúng hay không; nhiều người đã biết mạng này có xuất xứ từ Hồng Kông hay Singapore. Dù ông Dũng nói đúng hay sai thì ông cũng xác định một sự thật là Trung Cộng đang âm mưu phá hoại mọi thứ ở nước ta, trong đó có hệ thống tài chánh, ngân hàng. Khi nói, “giống như họ đang lấn chiếm Hoàng Sa với Trường Sa của chúng ta,” ông Dũng công nhận nước Việt Nam đang bị nước láng giềng đe dọa. Đây là tiếng nói của một người thuộc giới quản trị cao cấp về tài chánh, cho nên có sức mạnh, chứng minh làn sóng chống Trung Cộng trong dư luận phổ cập mọi lớp người. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể vu cáo cho các người đi biểu tình chống Trung Quốc là thuộc thành phần cực đoan nữa.

Nhưng không phải Trung Cộng chỉ nhắm phá hoại hệ thống ngân hàng và tài chánh nước ta. Điều mà họ mong đạt được là xóa bỏ tất cả mọi sức đề kháng của dân Việt. Họ muốn ngăn cấm, dẹp bỏ tất cả  những ý kiến bất lợi cho họ, không cho phép ai được lên tiếng. Vì vậy, mỗi lần có biểu tình chống Trung Cộng là những người tham dự vẫn bị ngăn cản ngay từ trước khi họ bước ra khỏi nhà. Những người lễ phép làm đơn xin tổ chức biểu tình thì đơn xin phép bị coi như tờ giấy lộn. Tóm lại, Cộng sản Trung Quốc muốn người Việt Nam không được bầy tỏ lòng yêu nước, nếu yêu nước nghĩa là chống âm mưu xâm lấn của của Bắc Kinh.
Nhưng ngay trong nước họ, Cộng sản Trung Quốc cũng không ngăn cản được các thanh niên khi họ muốn bầy tỏ lòng ái quốc, phản đối chính phủ Nhật Bản về quần đảo Điếu Ngư, mà người Nhật đang chiếm đóng, gọi tên là Senkaku. Ngày hôm qua, có thanh niên Trung Hoa đã định tấn công Đại sứ Nhật Bản Uichiro Niwa, sấn tới xé lá quốc kỳ Nhật Bản trên xe ông đại sứ. Tình trạng căng thẳng giữa hai nước bắt đầu trong tháng Tám này vì một nhóm người Trung Hoa từ Hồng Kông tổ chức lái một chiếc thuyền tới đảo Senkaku để phản đối ông thị trưởng Tokyo. Ông Shintaro Ishihara đã đưa kế hoạch mua hòn đảo lớn ở đó cho thành phố, quyền sở hữu hiện thuộc một tư nhân người Nhật. Ông trù tính đưa một phái đoàn ra thăm “đất” trước khi hội đồng thành phố chấp nhận việc mua bán. Thực ra các đảo Điếu Ngư nhỏ chưa bằng một khu phố, mà chung quanh cũng chỉ giầu về hải sản chứ chưa có dấu vết dầu, khí nào cả. Hai nước tranh chấp với nhau hoàn toàn vì danh dự, thể diẹn và chủ quyền quốc gia.  

Ông Ishihara có thể chỉ đưa ra dự án này với mục đích tranh cử trong kỳ tới. Nhưng ông đã chọc giận người dân Trung Quốc; với dự tính “thay đổi quy chế pháp lý” của mảnh đất đang tranh chấp. Hành động của ông Ishihara cũng chưa khiêu khích dân Trung Quốc bằng việc khánh thành trụ sở xã Tam Sa của chính quyền Trung Quốc gần đây. Xưa nay, khi hai nước còn tranh chấp chủ quyền trên một miền đất nào thì các chính phủ liên can đều không thay đổi tình trạng vùng đất đang tranh chấp, để giữ hòa bình. Nhóm thanh niên Hương Cảng đã xung phong bầy tỏ thái độ, tổ chức chuyến đi Senkaku, mặc dù biết khi tới đó thì hải quân Nhật đã chờ sẵn, bắt giữ. Trong nhóm thanh niên này có những người ủng hộ cũng như có người thuộc các tổ chức chính trị chống đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày Thứ Hai vừa qua, họ được trả tự do về đến Hồng Kông, và được chính quyền cùng dân chúng đón tiếp như những anh hùng! Cùng ngày đó, đám thanh niên này đạt được mục đích của họ: Chính phủ Nhật Bản tuyên bố không chấp nhận cho thủ đô Tokyo mua hòn đảo!

Trung Cộng không thích hành động của nhóm thanh niên Hồng Kông. Vì hiện nay họ đang muốn không gây sóng gió nào về ngoại giao, trong lúc cả đảng lo chuẩn bị đại hội chuyển giao quyền hành cho lớp lãnh tụ mới. Cộng sản Trung Quốc cũng đang lo theo dõi dân để đối phó với vụ án bà Cốc Khai Lai, vợ viên bí thư Trùng Khánh, bị lên án tử hình treo về tội giết người. Dân chúng biết đây không phải là mọt vụ án sát nhân bình thường, mà đằng sau là cả mạng lưới tham nhũng tranh quyền từ cấp cao nhất trong đảng đang thối rữa.
Nhưng Trung Cộng không ngăn được đám thanh niên Trung Hoa phẫn nộ muốn bầy tỏ lòng yêu nước. Ngay sau khi Nhật Bản bắt các thanh  niên Hồng Kông, đã có hơn 10 cuộc biểu tình tại các thành phố lớn. Đây là phong trào biểu tình chống Nhật lớn nhất kể từ năm 2005. Tại Thẩm Quyến, thành phố nằm bên cạnh Hồng Kông, người biểu tính đã phá một tiệm ăn Nhật Bản. Những chiếc xe hơi nhãn Nhật Bản cũng bị tấn công, dù chủ nhân là người Trung Hoa; trong đó có một chiếc xe của cảnh sát bị lật nghiêng. Cuộc biểu tình lớn nhất diễn ra tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, hàng ngàn người diễn hành qua trung tâm thành phố khiến một cửa hàng bách hóa lớn của người Nhật phải đóng cửa.

Người Việt Nam cũng phải đòi được quyền bầy tỏ lòng yêu nước. Thanh niên Việt Nam không thể chịu thua kém giới trẻ Trung Hoa trong nước họ. Người Trung Hoa có quyền phẫn nộ khi Nhật Bản tiếp tục cai quản những hòn đảo mà đế quốc Nhật mới chiếm lấy từ cuối thế kỷ 19. Họ phải bầy tỏ niềm phẫn uất, nếu không thì nhục nhã.  Người Việt Nam cũng có quyền phẫn nộ khi Cộng sản Trung Quốc thay đổi cả hệ thống hành chánh trên quần đảo Hoàng Sa và một số đảo thuộc Trường Sa, với việc khánh thành thị trụ sở và giới thiệu xã trưởng thị xã Tam Sa. Nếu không , cũng là ngậm câm chịu sỉ nhục.

Dân Việt Nam đang nhìn rõ mối dã tâm của Cộng sản Trung Quốc tìm cách lấn áp nước ta về đủ mọi mặt.  Ông Lê Hùng Dũng, chủ tịch Eximbank chỉ nói lên một sự thật. Đến lúc những người khác có địa vị quan trọng trong xã hội Việt Nam cũng phải nói lên sự thật đó. Không thể bắt cả nước phải ngậm miệng nuốt nhục, chỉ vì đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận chịu lệ thuộc vào các đồng chí Trung Hoa của họ.

Trong ngày 19 tháng Tám, khi các sinh viên và thanh niên Trung Hoa biểu tình khắp nước, một cuộc hội thảo được tổ chức tại Bắc Kinh, để thảo luận về đảo Điếu Ngư. Một diễn giả là tướng La Viện (Luo Yuan), một sĩ quan tại chức. Ông tướng này đã đưa ra những biện pháp để phản công chính quyền Nhật mà chắc không có ông tướng nào ở Việt Nam bây giờ dám nói tới. La Viện đề nghị hãy đặt mìn chung quanh các hòn đảo Điếu Ngư! Hãy cho không quân Trung Quốc dùng các họn đảo này làm nơi tập thả bom hay oanh kích!
Những đề nghị của Thiếu tướng La Viện chắc không bao giờ được Bắc Kinh thi hành. Ông La Viện cũng từng có luận điệu diều hâu khi nói đến vùng Biển Đông của nước ta. Nhưng vẫn phải công nhận việc ông phản đối chính phủ Nhật Bản có lý do chính đáng. Nhưng một người quân nhân yêu nước có quyền nói lên nỗi uất hận khi thấy những hòn đảo của tổ tiên bị nước ngoài chiếm đoạt.

Bao giờ người Việt Nam cũng có quyền bầy tỏ lòng yêu nước như vậy?


Nguyễn Hưng Quốc - Biển Đông: Quyền lợi kinh tế và tinh thần dân tộc

Nguyễn Hưng Quốc

Cách đây mấy năm, trong một cuộc gặp gỡ quanh bàn tiệc ở Úc, có người nêu lên vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, một cán bộ khá cao cấp và có học thức đến từ Hà Nội, nhún vai đáp: “Đó chỉ là mấy hòn đảo hoang nhỏ xíu thôi mà!” Rồi ông lái câu chuyện sang hướng khác. Có lẽ vì lịch sự, không ai quay lại câu chuyện ấy nữa. Tất cả đều quen biết nhau cả. Gần đây, đọc các blog trong nước, tôi lại bắt gặp câu nói tương tự từ các cán bộ cao cấp trong nước, cũng liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa: “Ồ, mấy cái đảo ấy toàn cát, chỉ có chim ỉa, chứ có gì đâu mà làm ghê vậy!” 


Mới biết đó là quan điểm thật. Nếu không phải đảng và chính quyền thì ít nhất cũng của một số, có lẽ không ít, cán bộ cao cấp trong bộ máy đảng và chính quyền Việt Nam.
 
Quả thật, về phương diện diện tích, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có gì đặc biệt.
 
Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo, bãi đá, hòn đá và cồn, nhưng tất cả đều rất nhỏ. Lớn nhất là đảo Phú Lâm cũng chỉ dài chưa tới 4 cây số và rộng chưa tới 3 cây số. Còn đảo Hoàng Sa thì chỉ dài có 900 mét và rộng khoảng 700 mét, diện tích tổng cộng chỉ khoảng 0,3 cây số vuông, kể cả vòng san hô chung quanh. Các đảo khác cũng tương tự, khoảng 1/3 cây số vuông. Như Hoàng Sa. Còn những cái gọi là cồn hay hòn thì có khi chỉ là những mỏm san hô nổi lên trên mặt nước.
 
Trường Sa lớn hơn, gồm đến gần 140 đảo, đá và bãi. Nhưng tất cả cũng đều rất nhỏ. Gộp chung lại, tất cả chỉ có diện tích khoảng 11 cây số vuông. Trong số đó, được chú ý nhất là đảo Song Tử Đông rộng 250 mét, dài 900 mét; đảo Song Tử Tây rộng 300 mét, dài 700 mét; đảo Thị Tứ rộng 550 mét, dài 700 mét; đảo Sinh Tồn – được biết nhiều qua bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Đăng Khoa (1) – chỉ rộng có 140 mét và dài khoảng 400 mét. Đã nhỏ, hầu hết các đảo ấy đều thiếu nước ngọt trầm trọng. Do đó, dân cư rất thưa thớt. Hầu hết những người hiện diện trên các đảo đều là bộ đội.
 
Tuy nhiên, ở đây có mấy điều cần chú ý. Thứ nhất, Trung Quốc không phải chỉ muốn chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ còn muốn chiếm ít nhất là 80% tổng diện tích của Biển Đông. Thứ hai, đảo không phải chỉ là những hòn đá hay thửa đất nổi trên mặt biển mà còn bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên thiên chứa chất dưới chúng cũng như dưới đáy biển chung quanh chúng. Và thứ ba, không nên quên điều quan trọng này: ngoài ý nghĩa địa lý, dân cư và kinh tế, các hòn đảo và vùng biển chung quanh chúng còn có ý nghĩa chiến lược quân sự quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong, hoặc ít nhất, sự phát triển của quốc gia.
 
Thứ nhất, đứng về phương diện kinh tế, Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có mấy ý nghĩa chính. Một, đó là nguồn cung cấp cá và hải sản quan trọng, chiếm khoảng 7-8% tổng sản lượng cá biển và hải sản trên cả thế giới. Riêng với Việt Nam, đó là nguồn cung cấp cá biển và hải sản duy nhất cho cả 90 triệu dân (chưa nói đến chuyện xuất khẩu) và là nguồn sinh kế của cả mấy chục ngàn ngư dân nằm dọc theo các tỉnh duyên hải. Hai, đó cũng là một trong những bồn dầu khí lớn nhất thế giới. Trữ lượng dầu khí ở đó, theo sự ước lượng của Mỹ, lên đến khoảng 28 tỉ thùng, đủ để cung cấp cho cả thế giới trong vòng một năm; theo Trung Quốc, lạc quan hơn, khoảng 200 tỉ thùng, đủ cung cấp cho cả thế giới khoảng sáu năm rưỡi.

Thứ hai, về phương diện chiến lược, Biển Đông là một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. “Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. […] 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. […] Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.”
 
Trên con đường hàng hải quan trọng ấy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Trường Sa, có vị trí như một cái yết hầu, từ đó, người ta có thể kiểm soát tất cả các tàu bè qua lại. Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược mới khẳng định: quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được toàn bộ Biển Đông. Mà khống chế Biển Đông cũng là khống chế hầu hết các nước ở châu Á và tất cả các quốc gia giàu có trên thế giới, những nước có quan hệ thượng mại với châu Á.
 
Cả hai khía cạnh kinh tế và chiến lược nói trên đều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng Biển Đông và các hòn đảo trên Biển Đông còn có ý nghĩa thứ ba này nữa, cũng quan trọng không kém: nó gắn liền với tinh thần dân tộc.
 
Không có quốc gia nào, dù cởi mở đến mấy, có thể phát triển hùng mạnh mà không dựa trên tinh thần dân tộc. Với những nước đang phát triển, khi kinh tế và văn hóa chưa ở độ cao của toàn cầu hóa, tinh thần dân tộc lại càng mạnh và lại càng cần thiết: nó là yếu tố thiết yếu để nối kết mọi người lại với nhau, để nhắm đến một mục tiêu và một lý tưởng chung; nó cũng là nguồn động lực để gây sức mạnh, giúp mọi người chịu đựng được gian khổ hầu thúc đẩy đất nước ngày một tiến bộ. Nói theo các nhà nho cách mạng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, đó chính là hồn nước. Ý thức dân tộc ấy xem bất cứ cái gì thuộc lãnh thổ của mình, dẫu chỉ là những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi, đều là những gì thiêng liêng được đánh đổi bằng xương máu của tổ tiên trong cả hàng ngàn năm, hoặc ít nhất, hàng trăm năm nay.
 
Đối diện với những di sản thiêng liêng ấy, người ta phải có trách nhiệm bảo vệ, có khi ngay cả bằng xương máu của chính mình. Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng Cộng sản và lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên hiểu rất rõ điều đó khi, ngay những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiêu dụ các thanh niên: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựngnước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Chưa nói đến các hậu ý chính trị và thực chất của cái gọi là “giữ lấy nước” của Hồ Chí Minh, chỉ xét đến bình diện ngữ nghĩa, câu nói ấy phản ánh đúng sự suy nghĩ của những người bình thường: việc bảo vệ đất nước là một nhiệm vụ đối với lịch sử và với tổ tiên.
 
Không phải chỉ với người Việt Nam. Khi người Nhật Bản và Hàn Quốc kiên quyết chống đối Trung Quốc để bảo vệ những hòn đảo xa lắc, không có người ở và cũng không có triển vọng chứa đựng bất cứ tài nguyên thiên nhiên nào, họ cũng đều hành xử trong tinh thần như thế. Những hòn đảo ấy chỉ có giá trị tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Vậy thôi. Nhưng dù vậy, họ vẫn giữ một cách đầy quyết tâm, bất chấp mọi hậu quả.
 
Người Việt Nam vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước và bất khuất của mình. Không ai có thể chấp nhận xem những vùng biển quan trọng như thế và những hòn đảo đã từng thấm đẫm máu của cha anh mình như thế, chỉ là những mảnh đất hoang đầy cứt chim như lời một số cán bộ cao cấp tuyên bố.
 
Nói như vậy không những ngu xuẩn mà còn vô liêm sỉ.
 
***
 
Chú thích:
 
(1) Bài “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” như sau:
 
Chúng tôi ngồi trên đảo Sinh Tồn
Bóng đen sẫm như gốc cây khô cháy
Mắt đăm đăm nhìn về nơi ấy
Nơi cơn mưa thăm thẳm xa khơi ánh chớp xanh lấp loáng phía chân trời...
 
Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Mặt chúng tôi ngửa lên như đất
Những màu mây sẽ thôi không héo quắt
Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên
Đảo xa khơi sẽ hoá đất liền
Chúng tôi không cạo đầu để tóc lên như cỏ
Rồi khao nhau
Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt
Ôi ước gì được thấy mưa rơi ...
Cơn mưa lớn vẫn rập rình ngoài biển
Ánh chớp xanh vẫn lấp loáng phía
                                               chân trời..
Ôi, ước gì được thấy mưa rơi
Chúng tôi sẽ trụi trần nhảy choi choi trên cát
Giãy giụa tơi bời trên cát
Như con cá rô rạch nước đón mưa rào
Úp miệng vào tay, chúng tôi sẽ cùng gào
Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo
Mưa đi ! Mưa đi ! Mưa cho táo bạo
Mưa như chưa bao giờ mưa, sấm sét đùng đùng
Nhưng làm sao mưa cứ ngại ngùng
Chập chờn bay phía xa khơi...
 
Chúng tôi ngồi ôm súng đợi mưa rơi
Lòng thắc thỏm niềm vui không nói hết
Mưa đi ! Mưa đi ! Mưa cho mãnh liệt
Mưa lèm nhèm chúng tôi chẳng thích đâu
Nhưng không có mưa rào thì cứ mưa ngâu
Hay mưa bụi ... mưa li ti... cũng được
Mặt chúng tôi ngửa lên hứng nước
Một hạt nhỏ thôi cát cũng dịu đi nhiều...
Ôi đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu
Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn
                                                 trên mặt đảo
Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão
Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong đập  
                                                 trái tim người
Như đá vững bền, như đá tốt tươi...
Mưa vẫn dăng màn lộng lẫy phía xa khơi
Mưa yểu điệu như một nàng công chúa
Dù mưa chẳng bao giờ đến nữa
Thì xin cứ hiện lên thăm thẳm cuối chân trời
Để bao giờ cánh lính chúng tôi
Cũng có một niềm vui
                              đón đợi...
      
                                         (1982)

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Nguyễn Hưng Quốc - Olympic Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc

Nhắc đến Olympic, tôi xin thú nhận ngay: suốt kỳ Olympic ở London vừa qua (29/8-9/9/2012), tôi không hề xem – dĩ nhiên trên tivi – bất cứ một tiết mục nào cả. Lễ khai mạc: Không. Lễ bế mạc: Không. Các trận đấu: Không. Tuyệt đối không. Từ đầu đến cuối.


Thật ra, tôi cũng chẳng hiểu tại sao. Bình thường, tôi không mê thể thao lắm. Nhưng các giải Olympic trước đây thì tôi có xem, ít nhất là lễ khai mạc và bế mạc, vốn thường có nhiều chất nghệ thuật và phản ánh khá nhiều bản sắc văn hóa của quốc gia đang tổ chức. Nhưng lần này thì không. Có lẽ vì tôi bận nghĩ ngợi những chuyện trời ơi đất hỡi gì đó. Rồi quên luôn. Chứ nhất định không phải vì ghét nước Anh.

Tuần trước, khi Olympic đã hoàn toàn kết thúc và cơ hồ chìm vào quên lãng, tôi có dịp bay đến Sydney thăm bạn bè. Trong một bữa ăn tối, quanh những đĩa gỏi cá tuyệt vời của hai người bạn, anh Hải và chị Lan, tình cờ có ai đó nhắc đến Olympic 2012 và tự hỏi: Chả biết bao giờ Việt Nam mới giành được vài cái huy chương nhỉ? Huy chương đồng cũng được. Miễn là có chút huy chương. Để được cả thế giới nhìn ngắm và ngưỡng mộ. Võ Quốc Linh buột miệng nói ngay: Muốn thế, trước hết, Việt Nam phải giành được quyền tổ chức Olympic đã; rồi, với cương vị nước tổ chức, Việt Nam sẽ thay đổi toàn bộ các bộ môn thi đấu “phù hợp với truyền thống văn hóa” và thế mạnh của Việt Nam, nhất định Việt Nam sẽ qua mặt Mỹ cũng như tất cả các nước khác về tổng số huy chương vàng đoạt được. Nghe thế, Hoàng Ngọc-Tuấn nhớ ngay đến bài thơ “Những môn thể thao thế mạnh của Việt Nam” của Lý Đợi đã từng được đăng trên tờ báo mạng Tiền Vệ trước đây.

Những môn thể thao nào có thể giúp Việt Nam đoạt các huy chương vàng ở Olympic?

Trong bài thơ, Lý Đợi liệt kê một số “bộ môn” chính vốn là sở trường của Việt Nam, ở đó, Việt Nam có rất nhiều hy vọng chiến thắng, cho dù đối thủ là ai:
Cưỡi ngựa xem hoa,
Quất ngựa truy phong,
Qua cầu rút ván,
Ðè đầu cưỡi cổ,
Ném đá giấu tay,
Ăn cháo đá bát,
Thượng đội hạ đạp,
Thọc gậy bánh xe,
Gắp lửa bỏ tay người,
Ngậm máu phun người,
Thừa gió bẻ măng,
Thừa nước đục thả câu,
Tát nước theo mưa,
Theo gió trở cờ,
Theo đóm ăn tàn,
Bắt cá hai tay,
Được chim bẻ ná,
Được cá xé nơm,
Ðâm sau lưng chiến sĩ,
Ăn ngược nói ngạo,
Ðâm bị thóc, thọc bị gạo.

Ờ, cũng đúng. Với những môn “thể thao” ấy, không dễ có nước nào địch nổi Việt Nam hiện nay. Nói gì đến chuyện qua mặt.

Qua mặt được Việt Nam, may ra, có Trung Quốc.

Mà thôi. Trung Quốc đứng nhất, Việt Nam đứng nhì cũng được. Chả sao. Anh em láng giềng và đồng chí với nhau cả! Ganh đua với nhau mà làm gì những chuyện cỏn con như thế.

Phải không?

Trọng Nghĩa - Biển Đông : Không nên rơi vào bẫy tạm gác tranh chấp chủ quyền


Trọng Nghĩa

Trong tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại vùng Hoàng Sa và Trường Sa, có ý kiến cho rằng nên tạm gác tranh chấp. Chuyên gia Ngô Vĩnh Long thuộc Đại học Maine (Hoa Kỳ) nêu bật tính chất nguy hiểm của điều này. Trả lời RFI, giáo sư Long nêu ba lý do : (1) Sẽ gây nguy hại lâu dài cho Việt Nam; (2) Sẽ làm « hỏng cẳng » các nước đang cố giữ gìn an ninh cho khu vực; (3) Có thể tạo ra tiền đề để Mỹ sau này thỏa hiệp với Trung Quốc.

Khẩu hiệu cổ vũ cho chủ quyền biển đảo của Việt Nam
treo tại cổng chợ Đakao, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trọng Nghĩa/RFI

Trong tình hình căng thẳng hiện nay ngoài Biển Đông sau hàng loạt hành động lấn lướt của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng lúc càng được báo chí trong nước và ngoài nước chú ý. Mới đây, trên báo chí Việt Nam xuất hiện hai ý kiến có phần trái ngược nhau về giải pháp « giảm nhiệt » tại Biển Đông liên quan đến hướng đi mà Việt Nam cần phải theo đuổi.

Một bài viết đăng trên báo mạng Vnexpress ngày 14/8/2012, tựa đề « 5 sáng kiến ngăn ngừa 'Biển Đông nổi sóng' », đã nêu lên một số đề nghị Trần Công Trục - nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, chủ biên quyển « Dấn ấn Việt Nam trên Biển Đông » vừa được xuất bản. Trong bài viết có một ý kiến đã gây ra tranh luận. Đó là đề nghị tạm gác vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ để duy trì nguyên trạng như hiện nay :

« Trước hết, phương châm có thể áp dụng trong bối cảnh hiện nay là Dễ giải quyết trước, khó giải quyết sau. Vì vậy, trước mắt chúng ta hãy tạm gác vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; tạm thời giữ nguyên hiện trạng của các bên tranh chấp trên hai quần đảo này; mỗi đảo có người cho phép có phạm vi biển rộng 12 hải lý bao quanh, các bãi cạnh nửa nổi, nửa chìm nên có công trình nhân tạo trên đó thì chỉ có vùng an toàn 500 mét bao quanh để thực hiện quản lý, bảo vệ theo quy chế của nội thủy, lãnh hải của bên đang chiếm đóng ».

Trong phần phản hồi của độc giả, có rất nhiều ý kiến đã cho rằng « cần phải cảnh giác cao độ », « không để mắc bẫy »…

Những lập luận nói trên rất giống như lời cảnh báo trong bài « Trung Quốc không xứng một cường quốc có trách nhiệm ! », đăng trên chuyên mục Tuần Việt Nam của tờ báo mạng Vietnamnet ngày 02/08/2012.
 Bài báo đã đặc biệt đả kích điều được tờ báo gọi là « chiêu bài "gác tranh chấp" kiểu Trung Quốc » được Bắc Kinh hô hào từ trước đến nay :

« Tạp chí "Liêu vọng" do Tân Hoa xã chủ quản, trong số ra mới đây đã hăng hái quảng bá cho mô hình "gác tranh chấp". Theo bài thuyết giáo trên "Liêu Vọng", nội dung "chủ quyền về ta, gác lại tranh chấp, cùng khai thác'' do Trung Quốc đề xuất trong thế kỷ trước không những đã phản ánh đầy đủ "trí tuệ Đông phương", mà còn phù hợp với quy định trong "Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển". Theo đó, "trước khi đạt được thỏa thuận, các nước tranh chấp cần căn cứ theo tinh thần thông cảm và hợp tác, đem hết mọi khả năng đưa ra giải pháp tạm thời mang tính thực tế" (!)

Đưa tàu quân sự trá hình hộ tống đội tàu cá đến vùng biển Trường Sa của Việt Nam, song trên lời nói, Trung Quốc đã đánh tráo các khái niệm. Tờ "Liêu Vọng" nói trên tiếp tục biện bạch: "Chủ trương về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều nước ven bờ lại chồng lấn lên nhau, nên giải pháp tạm thời Trung Quốc đề xuất như vậy là có tính khả thi"(?). Và phớt lờ những căng thẳng Trung Quốc đang gây ra hiện nay trên Biển Đông, tờ báo lấp liếm: "Khi thúc đẩy giải pháp tạm thời giữa các nước tranh chấp, phải xây dựng lòng tin, đồng thời thực hiện cam kết chính trị, không làm phức tạp hóa và mở rộng tranh chấp" (?)' ».

Để hiểu rõ thêm về những gì mà Việt Nam có thể làm trong việc quảng bá và thúc đẩy chủ quyền của mình tại Biển Đông, tại vùng quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc thâu tóm, bằng võ lực, hay ở vùng Trường Sa đã bị Trung Quốc gặm nhắm, Ban Việt ngữ RFI đã đặt câu hỏi cho Giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc Đại Học Maine (Hoa Kỳ).

Chủ quyền biển đảo của Việt Nam phải gắn với vấn đề an ninh khu vực

Đối với giáo sư Long, khi trình bày các vấn đề chủ quyền của mình, Việt Nam cần phải gắn liền hồ sơ này với vấn đề an ninh khu vực và thế giới. Riêng về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vấn đề là cần phải rõ ràng trong đòi hỏi, không nên làm như Trung Quốc là đòi hỏi toàn bộ cả biển lẫn đảo, mà phải phân biệt rõ những gì mình đòi chủ quyền, những gì mình không.

Về vấn đề tạm gác tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác, giáo sư Ngô Vĩnh Long xem đấy là một việc rất có hại cho Việt Nam trong bối cảnh Trung Quốc không hề từ bỏ ý đồ dùng võ lực chiếm đoạt Biển Đông, điều họ đã từng làm đối với toàn bộ Hoàng Sa và một số đảo, đá của Việt Nam ở Trường Sa.

Ngô Vĩnh Long : "Tôi thấy có một vấn đề rất lớn mà chính quyền Việt Nam cần phải làm là không nên nói là Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam. Đây là cách nói như Trung Quốc, nên cần phải nói khác đi. Ngoài ra, vấn đề không phải chỉ là chủ quyền về đảo Trường Sa và Hoàng sa mà vấn đề này có dính đến an ninh toàn khu vực, hay là dính đến vấn đề Trung Quốc ngang ngược đưa ra đường lưỡi bò…, chiếm lãnh hải của Việt Nam và của nhiều nước khác, gây mất an ninh.

Không những Trung Quốc chỉ đưa ra đường lưỡi bò, mà bây giờ họ lại còn đưa các hãng dầu của họ vào thềm lục điạ của Việt Nam, rồi kêu gọi thế giới đến để khai thác. Như vậy, là Trung Quốc ngang ngược, không những đưa ra yêu sách không đúng, mà lại còn cố tình gây khó khăn thêm.

Thành ra, khi đề cập đến vấn đề biển đảo, Việt Nam, hay những người nghiên cứu về Việt Nam, theo tôi, không những là phải tách rời vấn đề chủ quyền của Trường Sa và Hoàng Sa ra khỏi vấn đề lãnh hải của Việt Nam, mà cũng phải gắn liền vấn đề tranh chấp này với vấn đề an ninh cho toàn khu vực và cho thế giới. Có như thế thì mới được sự ủng hộ, không chỉ của các nước khác trong khu vực, mà của cả thế giới.

RFI : Về vấn đề chủ quyền tại Trường Sa và Hoàng Sa, « nói khác đi » là như thế nào ?

Ngô Vĩnh Long : Ví dụ như hiện có nhiều nước khác cũng có những đòi hỏi (chủ quyền) riêng của họ về vấn đề Trường Sa, chứ không phải chỉ một Việt Nam, thành ra phải nói là vấn đề chủ quyền của toàn bộ Trường Sa là vấn đề nên bàn cãi giữa các nước liên hệ, và đem vấn đề này ra trước thế giới, trước những cơ quan có thể giúp đi đến thương lượng. Tôi nghĩ đây là vấn đề quan trọng.

Không nên nói tất cả đều là của mình

Còn nếu chỗ nào có thể giải quyết song phương thì mình cứ tiếp tục làm. Thí dụ như về Vịnh Bắc bộ thì Việt Nam đã giải quyết song phương với Trung Quốc một phần lớn, hay là về phía Nam thì có một số vấn đề đã đồng ý với Malaysia.Nhưng mà nhiều vấn đề khác vẫn còn tranh chấp thì không nên nói hết tất cả là của mình.

Kể cả trong vấn đề Hoàng Sa, mình phải nói cho thế giới biết là Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm hết toàn bộ Hoàng Sa, nhưng mình cũng không nên nói rằng tất cả Hoàng Sa là hoàn toàn của Việt Nam. Mình có thể nhượng bộ trên một vài cái đảo, vài vùng nào đó, nhưng mình không chấp nhận chuyện dùng vũ lực chiếm, xong rồi cho đó là việc đã rồi.

Trung Quốc không những cho đó là việc đã rồi, mà lại còn làm như đó là những hòn đảo nhỏ hay những hòn đá có thể giúp cho Trung Quốc, hoặc cho ai chiếm chỗ đó, có 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế. Tôi nghĩ là ngay từ đầu, Việt Nam nên nói là tại những vùng đảo đó, Việt Nam không chấp nhận là có vùng đặc quyền kinh tế, để người ta biết là dẫu có tranh giành được hầu hết hai vùng đảo đó, thì Việt Nam cũng không ngang tàng như Trung Quốc, như là bây giờ Trung Quốc hiện đang làm.

RFI : Gần đây, có ý kiến cho rằng Việt Nam cần phải tạm gác tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc để duy trì nguyên trạng. Giáo sư nhận định sao về đề nghị đó ?

Ngô Vĩnh Long : Trước hết đề nghị này - nếu như anh mới vừa nói - rất mập mờ và rất lộn xộn, có thể gây rất nhiều hiểu lầm.Hoàng Sa và Trường Sa là hai vấn đề khác nhau, và tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng khác nhau. Ngoài ra, vấn đề tranh chấp chủ quyền dính đến vấn đề an ninh Biển Đông và toàn khu vực.

Cho nên, nếu ai mà có nhận định như vậy, tôi nghĩ là nhận định này rất nguy hiểm, vì 3 lý do sau đây : Trước hết nó sẽ gây nguy hại lâu dài cho Việt Nam, thứ hai nó sẽ làm « hỏng cẳng » các nước đang giúp đỡ và đang cố gắng để làm sao giữ gìn an ninh cho khu vực và cho thế giới. Và thứ ba là nó có thể tạo ra một cái tiền đề để Mỹ sau này có thể thỏa hiệp với Trung Quốc, chia ảnh hưởng trong khu vực Biển Đông và Thái Bình Dương. đặc biệt là nếu đảng Cộng Hoà lên nắm quyền tại Mỹ.

Tạm gác tranh chấp sẽ gây nguy hại lâu dài cho Việt Nam vì dã tâm của Trung Quốc

Tôi xin nói trước về nguy hại lâu dài cho Việt Nam như thế nào. Lập luận này không khác lập luận của Đặng Tiểu Bình ngày xưa khi (đề nghị) tạm gác chuyện tranh chấp chủ quyền trên đảo Hoàng Sa hay các đảo khác, để có thể cùng nhau « khai thác » những vùng khác.

Nhưng cái này có nghĩa là : « Tao đã lấy Hoàng Sa của mày rồi thì đừng có nói gì nữa. Bây giờ im đi. Rồi như vậy sẽ cùng nhau khai thác các lãnh vực mới chỗ khác ». Thì chuyện đó xẩy ra như thế nào : Trung Quốc đã dựa vào việc lấn chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa, để thúc đẩy cái gọi là đường 9 đoạn hay là cái lưỡi bò, và Trung Quốc làm việc này có bài bản.

Ví dụ như năm 1992, Trung Quốc đã cấp giấy phép thăm dò dầu khí cho công ty Crestone của Mỹ tại khu vực Tư Chính ((Vanguard Bank) thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, để xem thử phản ứng của Việt Nam và của thế giới như thế nào.Việt Nam thì đã nói rất mập mờ, thế giới lúc đó thì thấy là Trung Quốc nói như vậy như đâu có chuyện gì.

Trung Quốc lại tiếp tục đẩy lần lần, đẩy mãi… cho đến năm 2007 chẳng hạn, họ đã cho lưu hành tấm bản đồ phân lô dầu trên toàn bộ đường lưỡi bò. Cùng năm thì tỉnh Hải Nam thành lập (đơn vị hành chánh) Tam Sa để mà có thể kiểm tra hết tất cả vùng Biển Đông, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Lúc đó Việt Nam cũng ẫm ờ, nhưng bây giờ điều đó đã trở thành hiện thực : Tam Sa đã trở thành một thành phố do chính phủ và quân đội Trung Quốc thành lập. Và họ đã đưa hai sư đoàn thủy quân lục chiến vào đó. Và ngay sau đó họ đã kêu các hãng dầu trên thế giới đến vùng thềm lục điạ của Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để tìm dầu, trong 9 lô dầu, cách Hải Nam từ 350 đến 700 hải lý, nhưng ngay trên thềm lục điạ của Việt Nam. Thì như vậy rõ ràng là Trung Quốc muốn chứng minh cho thế giới rằng là từ Hoàng Sa, từ Trường Sa, họ sẽ dùng cái đó để chiếm lĩnh vùng lãnh hải và lãnh thổ của các nước khác.

Bây giờ họ làm như vậy, thế giới đã thấy rõ bộ mặt của Trung Quốc, và đang muốn làm sao để cho có thể đẩy Trung Quốc vào một cái thế bị động, và phải giải quyết vấn đề, thì Việt Nam lại nói « Thôi tạm quên (tranh chấp chủ quyền) đi để cùng khai thác với nhau ! ». Khi cùng khai thác, Trung Quốc sẽ không cho khai thác gần Hoàng Sa, kể cả đối với những người đánh cá Việt Nam.

Ngư dân Việt Nam đi gần đó đã bị Trung Quốc bắt từ bao nhiêu năm nay rồi. Gần đây, họ đã đưa ra mấy chục ngàn chiếc thuyền, gọi là của ngư dân Trung Quốc, rồi tàu ngư chính…, nghĩa là một thứ "lấy thịt đè người", rồi xua đuổi (ngư dân Việt) ra khỏi Biển Đông.

Bây giờ (nếu) Việt Nam nói « A, ta tạm quên chuyện ta tranh chấp lãnh thổ Hoàng Sa, Trường Sa đi để cùng nhau bắt cá với Trung Quốc », thì tôi nghĩ rằng làm như thế rất nguy hiểm, bởi vì (như vậy không khác gì) là nói với thế giới : « Tôi là nước bị nguy cập nhất, tôi là nước bị ăn hiếp nhất, nhưng mà tôi đã nhường rồi, thì các anh nhường đi ! ».

Phải tranh thủ thời cơ Trung Quốc đang bị vạch mặt chỉ tên là kẻ gây rối

Làm như vậy là làm « hỏng cẳng » tất cả các nước khác, đang cố gắng để cho Trung Quốc khỏi tiếp tục xâm phạm chủ quyền của nước khác. Đó là điểm thứ hai của tôi.

RFI : Giáo sư cũng nói đến điều nguy hại thứ ba liên quan đến việc tạo tiền đề cho Mỹ thỏa hiệp với Trung Quốc để phân chia ảnh hưởng. Cụ thể là như thế nào ?

Ngô Vĩnh Long : Điểm thứ ba là Trung Quốc cố tình làm căng ở Biển Đông cũng như ở nhiều nơi khác để nắn gân Mỹ, để Mỹ có thể nhượng bộ Trung Quốc trên một số vấn đề, trong đó có vấn đề kinh tế, mà ngay ở nước Mỹ hiện nay, có rất nhiều người muốn thỏa hiệp với Trung Quốc, trong bộ máy chính quyền và đặc biệt là những nhà tài phiệt, những nhà kinh tế lớn của Mỹ.

Bây giờ nếu Việt Nam không nhân tình hình mới - khi mọi người thấy rõ bộ mặt của Trung Quốc - để thúc đẩy chính quyền Mỹ, thúc đẩy các chính trị gia Mỹ là phải làm sao để cho Trung Quốc đừng có tham vọng lớn quá, mà lại nói « Ô thôi không sao ! », thì nếu Việt Nam nói « thôi không sao », điều đó sẽ tạo ra một cái tiền đề để cho Mỹ sau này thỏa hiệp với Trung Quốc, đặc biệt là nếu đảng Cộng hoà lên nắm quyền lực tại Mỹ. Tôi nghĩ vấn đề này rất có thể xẩy ra.

Thành ra, cách phân tích mà anh mới vừa nói, nếu mà đúng, thì tôi thấy rất nguy hiểm !

RFI : Nhưng mà trong vấn đề tạm gác tranh chấp, dường như đã có một tiền lệ là hợp tác Việt Nam - Malaysia tại Trường Sa ? Khác biệt như thế nào ?

Ngô Vĩnh Long : Khác biệt là hai bên có cái ý hợp tác với nhau ngay từ đầu, và không có cái ý tranh chấp chiếm đất của người khác.

Khi hai bên có ý hợp tác ngay từ đầu và nói "À ! Thôi thì cái chuyện tranh chấp mình tạm gác để hợp tác với nhau, khi hợp tác, tin tưởng lẫn nhau, dàn xếp cũng dễ hơn, mà mấy cái đảo nhỏ như thế này thì đâu có ăn thua gì miễn là mình tôn trọng luật pháp". Tất nhiên là những cái đảo mà đã chiếm rồi đó, mặc dầu bây giờ chưa giải quyết được, thì phải tuyên bố ngay là theo luật ở biển nếu là một cái đảo lớn rồi cũng không được quyền có vùng 12 hải lý, còn phần lớn cái khác, hòn đá nọ kia... thì quên chuyện đó đi.

Nếu hai nước đàng hoàng với nhau ngay từ đầu thì vấn đề sẽ khác. Còn khi một nước cố tình chiếm - mà đã chiếm bằng võ lực, và từ đó cứ nới rộng mãi - mà bây giờ ta lại nói "A,  tôi sẽ ăn nói nhường nhịn để sau này chúng ta có thể làm việc với nhau", thì trường hợp đó hoàn toàn khác.

Đó là lý do tại sao tôi nói câu nói đó (tạm gác tranh chấp) rất mập mờ và gây rối, vì phải nói rõ từng tình huống một : Tình huống những nước thân thiện với nhau, không cố tình hay có tham vọng chiếm đất của nhau, và tình huống là nói chuyện với một thằng... trong không biết bao nhiêu năm qua càng ngày càng lấy thịt đè người, và càng ngày càng rõ bộ mặt... Không thể có cùng cách đối xử với một tên tướng cướp và một người hàng xóm thân thiện. Và khi làm như vậy mình lại gây khó cho những người khác muốn bênh vực mình...

Thành ra tôi nghĩ là ngay trong lúc này Việt Nam có một cơ hội kéo cả thế giới vào, nói rằng là cái chuyện biển đảo này, trước hết là vấn đề như chủ quyền Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa, Trung Quốc đã dùng võ lực chiếm thì phải đem ra toà án Công lý Quốc tế để xử, còn những vấn đề mà Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam trên thềm lục điạ, trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì đem ra trước Liên Hiệp Quốc xử, mà phải làm ngay.

Và phải tiếp tục làm, phải kiên trì, chứ không nói "Thôi, thôi, tạm quên đi !". Tạm quên như vậy tất nhiên là chiụ thua...Người thường ở Mỹ có câu "Silent is consent" : Anh đã im lặng tất nhiên anh đã đồng ý rồi ! Nếu Việt Nam nói "tạm quên đi" tất nhiên là Việt Nam nói "thôi, tôi chiụ thua rồi, không nói chuyện này nữa". Tất nhiên Việt Nam sẽ mất hết.

Cho nên theo tôi, ai có cái lập luận như vậy thì nên suy nghĩ lại bởi vì rất nguy hiểm..., cho Việt Nam và cho cả thế giới nữa.

Mỹ hoàn toàn có lý khi đả kích Trung Quốc về vụ Tam Sa

RFI : Liên quan cụ thể tới vùng Hoàng Sa, vừa rồi, Bộ Ngoại giao Mỹ ra một bản tuyên bố về Biển Đông, đả kích chuyện Trung Quốc cử một đơn vị quân đội đồn trú ngay trên khu vực Hoàng Sa. Có dư luận cho là Mỹ nói quá. Giáo sư nhận định như thế nào ?

Ngô Vĩnh Long : Tôi nghĩ Mỹ nói vấn đề này không quá. Bởi vì đây là vấn đề Trung Quốc thách thức cả thế giới. Trước hết đây là đảo vẫn còn tranh chấp, mà Trung Quốc đã cướp của người ta bằng võ lực, rồi bây giờ lại nói đây là chuyện đã rồi, bây giờ lại quân sự hóa các đảo đó.

Trung Quốc đã chỉ trích Mỹ có ý định đưa hơn 2000 thủy quân lục chiến đến Úc. Chỗ mà Mỹ sẽ đưa thủy quân lục chiến đến cách xa Biển Đông cả mấy nghìn cây số, trong lúc Trung Quốc lại đưa quân đội đến Hoàng Sa mà chỉ cách Biển Đông vài chục, vài trăm cây số, và ngay trên đường thông thương của thế giới đi ngang đó. Tôi cho đây là một sự thách thức ghê gớm. Thành ra Mỹ lên tiếng là đúng.

Vấn đề, theo như nhận định của tôi từ lâu rồi, từ 4, 5 năm nay - không muốn nói là từ cuối thập kỷ 80 - là Trung Quốc càng ngày càng muốn lấn Mỹ ở Biển Đông, mà lấn Mỹ được, thì họ có thể uy hiếp các nước khác được.

Trung Quốc chờ thời cơ cho đến cuối năm 2008, mới đòi Mỹ chia đôi Thái Bình Dương. Sau khi Mỹ không chịu, thì càng ngày Trung Quốc càng có những thái độ dẫn đến vấn đề quân sự hóa Hoàng Sa hay là uy hiếp các nước trong khu vực bằng đường lối quân sự trong mấy năm qua.

Tôi thấy đối với Trung Quốc, vấn đề chủ yếu là tranh giành ảnh hưởng đối với Mỹ. Thành ra, nếu giữa Mỹ và Trung Quốc có sự cộng sinh về kinh tế và những vấn đề khác, thì tôi nghĩ là Mỹ có bổn phận lên tiếng, bởi vì nếu Mỹ không lên tiếng, thì các nước khác xung quanh đó nghĩ rằng là giữa Mỹ và Trung Quốc có sự thỏa hiệp. Mà nếu người ta nghĩ rằng giữa Mỹ và Trung Quốc có sự thỏa hiệp thì tôi cho rằng sẽ có một sự nháo nhác, rồi nước này ủng hộ Trung Quốc, nước kia ủng hộ Mỹ, hay là không dám làm cái gì đó, và tôi nghĩ là sẽ gây ra tình trạng mất an ninh cho toàn khu vực.

RFI : Xin cảm ơn giáo sư Ngô Vính Long.


Hà Tường Cát - Ðại hội toàn quốc đảng Cộng Hòa họp trong tuần này


Hà Tường Cát

 Ðại hội toàn quốc đảng Cộng Hòa, Republican National Convention (RNC), họp trong tuần này tại thành phố Tampa, Florida. Do trận bão Isaac đang đi qua vịnh Mexico trên đường tiến không được về phía phía Bắc tới Louisiana, ảnh hưởng đến thời tiết suốt dọc bờ biển phía Tây Florida, hôm Chủ Nhật ban tổ chức RNC đã quyết định dời các sinh hoạt lại một ngày và có thay đổi một số chương trình cho phù hợp với thời lượng đã ấn định trước là kết thúc vào ngày 30 tháng 8.

Hôm Thứ Hai 27 tháng 8, chủ tịch RNC Reince Priebus ngay sau khi gõ búa khai mạc, đã tuyên bố hoãn họp cho các đại biểu rời khỏi hội trường Tampa Bay Times Forum để trở lại vào trưa ngày Thứ Ba 28 tháng 8.


Các đại biểu rời khỏi hội trường The Tampa Bay Times Forum
sáng Thứ Hai sau khi ban tổ chức loan báo dời sinh hoạt lại một ngày
vì ảnh hưởng của trận bão Isaac. (Hình: Stan Honda/AFP/Getty Images)
Các đại biểu rời khỏi hội trường The Tampa Bay Times Forum sáng Thứ Hai sau khi ban tổ chức loan báo dời sinh hoạt lại một ngày vì ảnh hưởng của trận bão Isaac. (Hình: Stan Honda/AFP/Getty Images)

Ðại hội toàn quốc của mỗi đảng - Cộng Hòa và Dân Chủ - là đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn bầu cử sơ bộ, chính thức tấn phong ứng cử viên tổng thống của đảng và khởi đầu việc vận động cho cuộc tổng tuyển cử tháng 11. Kể từ cuối thế kỷ trước, khi thể thức bầu cử sơ bộ được áp dụng toàn diện thì ý nghĩa của đại hội có phần suy giảm vì không phải tới đó người ta mới bầu chọn. Bình thường từ nhiều tháng trước, kết quả bầu cử sơ bộ ở các tiểu bang đã cho thấy ai sẽ thành ứng cử viên tổng thống, và đại hội chỉ còn ý nghĩa nghi thức tượng trưng trong quyết định này.

Tuy vậy đại hội có một nhiệm vụ rất quan trọng là thảo luận và thông qua bản cương lĩnh của đảng trong cuộc tranh cử. Tại RNC năm nay, Thống Ðốc Robert McDonnell tiểu bang Virginia là chủ tịch tiểu ban soạn thảo cương lĩnh. Những điểm quan trọng trong bản dự thảo như tin tức mà giới truyền thông đã dọ hỏi được bao gồm: Tiến tới một tu chính án hiến pháp tuyệt đối cấm việc phá thai trong mọi tình huống; Cải tổ Medicare, chương trình bảo hiểm y tế cho người cao niên; Quy định mới cho công nhân người nước ngoài và biện pháp đối phó với những di dân bất hợp pháp. Hai đề tài mà đảng Cộng Hòa coi là then chốt cho cuộc tranh cử chắc chắn cũng sẽ được đưa vào cương lĩnh, đó là chiến lược phục hồi kinh tế, tạo lập công việc làm và giải quyết tình trạng thâm hụt ngân quỹ.

Bên cạnh đó những sinh hoạt đại hội, từ khung cảnh tưng bừng phấn khởi cho đến những bài phát biểu của rất nhiều giới chức cao cấp trong đảng, đều là những hình ảnh và nội dung sẽ được tận dụng khai thác cho cuộc vận động tranh cử trong hai tháng cuối cùng.

Chủ đề chung của RNC năm nay là “A Better Future” (một tương lai tốt đẹp hơn) và mỗi ngày có một chủ đề riêng. Ngày Thứ Hai: “We Can Do Better” (chúng ta có thể làm tốt hơn), Thứ Ba: “We Built It” (chúng ta xây dựng nó), Thứ Tư: “We Can Change It” (chúng ta có thể thay đổi nó), Thứ Năm “We Believe in America” (chúng ta tin tưởng nơi nước Mỹ).

Chủ đề ngày Thứ Ba (We Built It) bất ngờ đưa đến một số ý kiến chỉ trích từ trong đảng. Hôm 16 tháng 7 trong một bài nói chuyện với các giới kinh doanh ở Maryland, Tổng Thống Obama có phát biểu: “If You've Got A Business, You Didn't Build That” (nếu quý vị có một cơ sở kinh doanh, không phải quý vị tạo ra nó). Ban vận động Cộng Hòa lập tức khai thác lời nói không đủ rõ ràng và dễ gây ngộ nhận này trong một thời gian dài, mặc dầu sau đó ban vận động Dân Chủ đã giải thích ý của tổng thống muốn diễn tả là không việc gì có thể chỉ do tự một cá nhân mà phải có sự góp sức của nhiều thành phần xã hội, từ xây dựng đường lộ, cơ sở hạ tầng đến cung cấp các dịch vụ khác. Nhưng Cộng Hòa vẫn tiếp tục tấn công, cho rằng tổng thống thiếu tinh thần kinh doanh của dân Mỹ, không coi trọng lãnh vực kinh tế tư nhân, và thêm nữa họ tố cáo xu hướng “chính quyền lớn” tập trung mọi việc vào nhà nước. Bây giờ chuyện trớ trêu là hội trường ở Tampa mà đảng Cộng Hòa họp đại hội được xây dựng bằng công quỹ chứ không phải tiền tư nhân, cho nên chủ đề “We Built It” là sự cổ vũ cái mà Cộng Hòa đã phê phán.

RNC sẽ tập trung 1,286 đại biểu chính thức và 2,125 đại biểu dự khuyết. Thể thức chỉ định đại biểu của mỗi đảng rất phức tạp và khác nhau, nhưng tổng quát các đại biểu được chỉ định do kết quả bầu cử sơ bộ ở từng tiểu bang, hoặc do đại hội đảng tiểu bang bầu ra nếu tiểu bang ấy không tổ chức bầu sơ bộ mà bầu kiểu ‘caucus’. Ðảng Cộng Hòa áp dụng thể thức phạt, cắt giảm bớt một số đại biểu của những tiểu bang không tổ chức bầu cử sơ bộ hợp với thời điểm đã quy định. Tuy vậy tất cả những việc này không tác động gì đến chuyện chọn ứng cử viên tổng thống của đảng. Từ nhiều tháng trước cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts, ông Mitt Romney đã là người duy nhất có khả năng thắng giai đoạn bầu cử sơ bộ trong số tổng cộng 8 ứng cử viên lúc đầu. Tuy nhiên ứng cử viên Rick Santorum là người đã thắng được trên 5 tiểu bang và theo quy định có thể được đại biểu các tiểu bang này chính thức giới thiệu trước RNC, nhưng ông đã từ chối việc ấy và chuyển các đại biểu cho ông Mitt Romney. Ứng cử viên Ron Paul được đề nghị có thể phát biểu trước RNC nhưng cũng từ chối vì không đồng ý với việc bài nói chuyện phải được ban vận động của ông Mitt Romney chấp thuận trước.

Thống Ðốc Chris Christie tiểu bang New Jersey là người đọc bài diễn văn chính ở RNC. Mỗi ngày có từ 10 đến 20 bài phát biểu khác do các giới chức lãnh đạo đảng, trong Quốc Hội hay chính quyền địa phương. Ngoài ra có 15,000 phóng viên và thành viên các cơ quan truyền thông đã được cấp thẻ để làm việc ở đại hội. Hai cựu Tổng Thống Cộng Hòa Bush cũng như Phó Tổng Thống Dick Cheney đều không đến dự đại hội.

Các đại hội đảng, Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, từ trước đến nay đều có những cuộc biểu tình ủng hộ cũng như chống đối xảy ra. Thị trưởng thành phố Tampa, ông Bob Buckhorn không chấp thuận cho những người biểu tình cắm trại qua đêm ở các công viên. Theo dự đoán có thể có tới 10,000 người thuộc phong trào “Occupy” và nhiều nhóm biểu tình khác kéo đến trong thời gian này.

Ðảng Cộng Hòa nói rằng RNC sẽ là cơ hội đem đến cho thành phố Tampa nhiều lợi ích về kinh tế. Ðiều này đúng với thực tế có một số lớn người tới đại hội và những số tiền chi tiêu không nhỏ trong suốt thời gian. Tuy nhiên cũng có những lo ngại, tuy không nhiều, về biến động hay bạo loạn xảy ra. Người ta không nghĩ rằng bạo loạn như kỳ đại hội đảng Dân Chủ ở Chicago năm 1968 có thể tái diễn vì hiện nay đảng Cộng Hòa không có những khó khăn lớn nào phải đương đầu. Mặc dầu vậy, lực lượng cảnh sát có vệ binh tiểu bang hỗ trợ đã được triển khai hùng hậu qua Tampa Bay Times Forum cũng như khắp nơi trong thành phố và các cuộc biểu tình cho đến ngày Thứ Hai đều diễn ra ôn hòa.

Thị Trưởng Bob Buckhorn đã xin ban hành lệnh cấm mang vũ khí ở trung tâm thành phố, nhưng Thống Ðốc Rick Scott bác bỏ đề nghị ấy. Florida là một trong những tiểu bang khoan dung nhất trên toàn quốc về vấn đề mang vũ khí với 6.5% dân chúng được cấp giấy phép mang vũ khí trong người. Nhưng nhà chức trách các địa phương ở Florida áp dụng một quy định chặt chẽ hơn.

Do bão Isaac, hai sinh hoạt quan trọng trong ngày Thứ Hai phải bãi bỏ và chưa rõ có sẽ được tổ chức lại sau này hay không. Ðó là một thuyết trình về tác dụng chính sách kinh tế của Tổng Thống Obama đối với phụ nữ và buổi thuyết trình hàng ngày cho báo chí Hispanic về chủ đề “Chúng ta có thể làm tốt hơn”. Cả hai sinh hoạt đó rõ ràng đều nhắm vào những điểm mà đảng Cộng Hòa lo ngại là kém thế nhất đối với cử tri.

Ðại hội đảng Dân Chủ sẽ họp tại Charlotte, North Carolina, trong tuần lễ từ ngày 3 tháng 9 sắp tới.