Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Trần Từ Mai - Một bài thơ chứa đầy tâm sự của Chu An (Chu Văn An)


Trần Từ Mai 
Theo nhà biên khảo Phan Huy Chú trong Lịch triều Hiến chương Loại chí, thiên “Văn tịch chí,”  bên cạnh bài “Thất trảm sớ” danh tiếng, nhà giáo dục Chu An còn để lại nhiều tác phẩm giá trị khác:
n  Một bộ sách biên khảo :  Tứ thư thuyết ước (gồm 10 quyển)
n  Một tập thơ chữ Hán     :  Tiều ẩn thi tập
n  Một tập thơ chữ Nôm    :  Tiều ẩn quốc ngữ thi tập.

Sau 20 năm dân tộc ta bị nhà Minh đô hộ (1407-1427), cùng với “Thất trảm sớ,” tất cả các tác phẩm ấy đều đã bị thất truyền do việc tịch thu sách nhằm hủy diệt văn hóa Đại Việt theo lệnh Thành tổ nhà Minh. Hiện chỉ còn 12 bài thơ chữ Hán do Phan Phu Tiên và Chu Xa sưu tầm được đưa vào Việt âm thi tập, và về sau Lê Quý Đôn gom góp lại trong Toàn Việt thi lục.

Bài viết này nhằm mục đích giới thiệu bài thơ “Miết trì” (Ao ba-ba), một tác phẩm quan trọng trong số 12 bài thơ ấy. “Miết trì” vẫn được coi là một bài thơ nhà giáo dục họ Chu gửi gấm nhiều tâm sự, và đã được Đình nguyên Đinh Văn Chấp dịch cùng giới thiệu lần đầu trên Nam phong tạp chí số 115 năm 1927. Trở lại với bài thơ này gần 80 năm sau, chúng tôi xin chú giải kỹ hơn. Đồng thời, tiếp theo bản dịch của vị Đình nguyên triều Nguyễn (Đệ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu 1913), cũng xin giới thiệu một bản dịch nữa của một cựu sinh viên Đại học Văn khoa Sàigòn.         



NGHĨA:

Ánh trăng phản chiếu trên mặt nước bên cầu đùa giỡn với bóng chiều
Hoa sen, lá sen yên lặng dựa vào nhau
Cá bơi nổi trên ao cũ, rồng ở chốn nào ?
Mây đầy núi vắng, hạc không về !
Quế già theo gió, mùi hương thơm ngát đường đá
Rêu non đẫm nước, che lấp cánh cửa gỗ thông.
Tấc lòng này hẳn chưa [nguội lạnh] như tro, đất
Nghe nhắc tới vua trước, gạt thầm giọt lệ.

PHÂN TÍCH NỘI DUNG:

Theo Chu Tiên sinh hành trạng thảo, “Miết trì” là tên một chiếc ao trong dãy núi Phượng hoàng (nơi cụ Chu về ẩn dật), nay thuộc huyện Chí linh, tỉnh Hải dương. “Miết” có nghĩa là “con ba-ba” và “Miết trì” là “ao ba-ba.”  Tuy nhiên, bài này không thuần tả cảnh. Từ cảnh quanh ao, tác giả đã liên tưởng tới thời thế và nhân đó, bộc lộ tâm sự.

Dựa vào sự kiện Miết trì ở trong núi Phượng hoàng, nhất là căn cứ vào hai câu cuối, chúng ta có thể phỏng đoán nhà giáo dục họ Chu đã làm bài thơ này sau khi cụ dâng “Thất trảm sớ” nhưng không được nghe theo, và đã cáo quan về hưu. Theo nhiều người đương thời, đối với công danh, tấm lòng cụ lúc này đã “lạnh như tro đất.” Trong một bài thơ viết tặng cụ, một tôn thất nhà Trần là Băng hồ tướng công Trần Nguyên Đán (ông ngoại của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi sau này) đã có câu:

            Phủ miện hoàn khuê tâm dĩ hôi
            (Đối với mũ áo, ngọc cầm tay [nghi thức của vua chư hầu và đại thần khi vào triều kiến thiên tử], lòng đã [nguội lạnh] như tro).

Qua hai câu cuối của bài “Miết trì,” cụ cho biết: đối với công danh, tước vị, lòng cụ có thể lạnh như tro. Nhưng đối với đất nước, nhất là với “tiên hoàng” (vị vua trước), cụ vô cùng đau xót.

Để hiểu rõ hơn tâm trạng của Chu An trong bài thơ, chúng ta hãy ôn lại đời cụ cùng tình trạng đất nước trước khi cụ về ẩn dật. Theo thần tích ở làng, cụ sinh năm Nhâm Thìn 1292, cuối đời vua Trần Nhân tông. Theo sử, vị vua cử cụ làm Quốc tử Tư nghiệp và trao nhiệm vụ dạy Thái tử là Trần Minh tông. Vị Thái tử học trò của cụ là Thái tử Vượng, lên nối ngôi là vua Hiến tông. Nhưng Hiến tông mất quá sớm khi mới được 23 tuổi khiến ngôi vua và đất nước về tay Dụ tông. Trong 16 năm đầu triều Dụ tông, chính sự còn khả quan vì Thượng hoàng Minh tông còn sống và phần nào giám sát mọi việc. Nhưng từ 1358 trở đi, sau khi Thượng hoàng Minh tông đã mất và một số đại thần đủ uy tín để có thể can vua như các ông Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn ... qua đời, triều chính trở nên suy tệ hẳn. Dụ tông ham chơi, mê bài bạc, ưa gần bọn tiểu nhân xu nịnh, khiến Chu An phải dâng “Thất trảm sớ.” Lời can không được nghe theo, cụ cáo quan về hưu.  Bài “Miết trì” đã được làm ra trong khung cảnh ấy.

Mở đầu bài thơ, tác giả phác họa cảnh một buổi chiều tối đầu tháng với trăng mọc sớm. Ánh trăng được phản chiếu dưới mặt nước chập chờn như muốn đùa giỡn với ánh mặt trời yếu nhạt của một ngày sắp tàn. Hoa và lá sen yên lặng dựa vào nhau. Cá đua nhau bơi nổi trên mặt ao. Núi vắng đầy mây phủ. Mùi hương quế theo gió lan khiến đường đi thơm ngát. Trước khung cảnh ấy, tác giả liên tưởng rộng hơn, rồi nói lên cảm xúc cùng suy nghĩ của mình.

Trong văn chương thời trước, “rồng” là tiêu biểu của vua, hoặc bậc anh hùng, quân tử, trong khi “cá” chỉ bọn tiểu nhân. “Hạc” cũng để chỉ người quân tử. Hai câu 3-4 với cảnh “cá bơi nổi trên mặt ao” trong khi “rồng ở chốn nào” và “hạc không về” có thể ám chỉ cảnh triều đình cùng đất nước lúc ấy: đầy tiểu nhân, gian nịnh, trong khi quân tử vắng bóng. “Rồng ở chốn nào” cũng hàm ngụ lòng nhớ tiếc của cụ đối với Thượng hoàng Minh tông, vị vua cử cụ làm Quốc Tử giám Tư nghiệp cùng trao cho cụ nhiệm vụ dạy Thái tử trước kia. Cũng có thể chỉ vua Hiến tông, vị Thái tử học trò của cụ, nhưng mất sớm ở tuổi 23, khiến ngôi vua và đất nước rơi vào tay Dụ tông.        

“Đám rêu đẫm nước” trong câu 6 có thể chỉ bọn tiểu nhân, trong khi “cánh cửa bằng gỗ thông” để chỉ người quân tử. Được nước làm cho ướt đẫm, đám rêu lan mạnh, “che lấp hết cánh cửa bằng gỗ thông.” Câu này có thể ngụ ý: sự hoành hành của bọn tiểu nhân đã che lấp hết tiếng nói của những người ngay thẳng. Trong hoàn cảnh ấy, nhà giáo dục họ Chu không hẳn chỉ có tấm lòng nguội lạnh: mỗi khi nghe ai nhắc đến hai tiếng “vua trước,” cụ lại thầm gạt lệ. Chúng ta không biết đích xác qua hai tiếng “tiên hoàng,” cụ muốn nhắc tới vị vua nào. Có thể cụ muốn nói tới Hiến tông, vị vua trẻ, mất sớm, từng là học trò của cụ. Nhưng cũng có thể là Minh tông, thân phụ của Hiến tông và Dụ tông, vị vua trao cho cụ nhiệm vụ dạy Hiến tông trước kia. Căn cứ vào sự kiện Hiến tông mất quá sớm (làm vua từ năm lên 10 tới năm 23, suốt 13 năm trên ngôi trong cương vị một vị vua trẻ, dưới sự hướng dẫn của Thượng hoàng Minh tông, chưa có hoàn cảnh tự quyết định những chuyện quan trọng), người viết những dòng này đồng ý với đa số các nhà giảng thơ lớp trước và cho rằng hai tiếng “tiên hoàng” ở đây nhiều phần để chỉ vua Minh tông.





BẢN DỊCH CỦA ĐÌNH NGUYÊN ĐINH VĂN CHẤP:

                        Bên cầu trăng nước bóng chiều lồng
                        Chồng chất sen tươi lá lẫn bông.
                        Ao cũ cá bơi rồng khó thấy,
                        Non không mây tỏa hạc khôn trông !
                        Quế già theo gió thơm đường đá
                        Rêu biếc đầm mưa lấp cửa thông.
                        Tấc riêng chưa dễ thành tro bụi
                        Nghe nói vua xưa lệ ngập tròng.

                                                (Nam phong tạp chí số 115, năm 1927)

BẢN DỊCH CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN VĂN KHOA SÀIGÒN:

                        Bên cầu trăng nước giỡn chiều tà
                        Sen lặng nương nhau lá giữa hoa.
                        Ao cũ cá đua, rồng khuất lánh
                        Non không mây tỏa, hạc mờ xa.
                        Gió đưa hương quế đường thơm ngát
                        Nước đẫm làn rêu cửa lấp nhòa.
                        Chưa dễ lòng này tro lạnh hẳn
                        Thoảng nghe “vua trước” lệ thầm sa.

Bản dịch đưa ra chỉ nhằm một mục đích khiêm nhượng là góp phần trình bày rõ thêm tâm trạng của người trước. Xét kỹ, vẫn còn một số khuyết điểm (chẳng hạn trong câu 6, chưa dịch được ý “cánh cửa bằng gỗ thông”). Kính mong các bậc thức giả, các vị yêu thơ nhuận sắc giúp hoặc bỏ chút thời giờ dịch lại để chúng ta sẽ có một bản dịch hoàn hảo hơn. 

                                                                                       




Thu Dao - Cảm Tác



Thu Dao


Nhớ người em lại ra sông
Nhặt bông hoa rụng về trồng trước sân
Ơ kìa hoa nở bâng khuâng
Người xa chắc cũng đang thầm nhớ em

Thuở còn hay nấp sau rèm
Thấy anh anh mãi bên thềm làm thơ
Tay nào anh giữ dây tơ
Tay nào níu những phù du vật vờ

Cỏ bên chân mộ còn chờ
Lời thề ai bỏ chơ vơ giữa trời
Em đem đổi lấy vàng mười
Vàng tan theo bụi khóc cười mà đi

Biết còn mưa bụi li ti
Để em nghiêng nón hứng về cho anh
Ước gì rớt hạt mưa nhanh
Nón em đầy cả màu xanh giếng trời
Ngựa ô đã bước đi rồi
Búp sen, lục lạc biệt  người về dinh
Bên trời có tiếng buồn tênh
Phải chăng tiếng ngựa hí quanh kiệu vàng…

Thu Dao


Nguyễn Ái Nhân - Chuyện tình giữa mùa “Cách Mạng Nhung”


Nguyễn Ái Nhân 

Marcela không cao hơn tôi nhiều lắm. Nàng chỉ cao hơn tôi một chút thôi. Tất nhiên, điều đó chỉ đúng khi cô nàng không đi giầy cao gót hay giầy mùa đông. Khi cô nàng đi hai thứ giày đó thì chịu thua, không cứu gỡ được và tôi trông thấp hơn hẳn. Nhưng rất phiền, chỉ khi Marcela đi hai thứ giầy đó và mặc chiếc măng tô màu xanh đậm thì nàng trông mới thật đẹp. Nàng khác hẳn các cô gái Việt Nam mà tôi đã quen với dáng thanh mảnh, nhưng vẫn mũm mĩm, đầy đặn và mái tóc màu nhuộm vàng nhưng chân tóc màu hung như được chiếu sáng. Hơn thế, những cử chỉ rất tự nhiên và không miễn cưỡng khiến nàng càng mang vẻ có duyên và hấp dẫn khác. Còn so sánh nàng với các cô gái Tiệp khác thì  không có nhiều khác biệt lắm, ít nhất là hình thức bên ngoài.


Kể cả lúc đi giầy cao, Marcel cũng không cao quá hơn tôi 10 cm. Vì thế nàng vẫn có thể là người yêu của tôi... được. Nàng  vẫn ở trong giới hạn chiều cao có thể chấp nhận vì tôi đã tự cam kết là sẽ không thể yêu hay cặp bồ với cô gái nào cao hơn tôi 10 cm. Sự cam kết này khiến rất nhiều cô gái tự ái và buồn cười. Nhưng đó là điều bí mật chỉ vài cô biết mà thôi, không phải tất cả các cô gái bạn học hay ở cùng khu nhà sinh viên đều biết. Cũng chỉ vì chuyện đó mà tôi suýt làm hai cô bạn thân cãi nhau và suýt làm đổ vỡ tình bạn của họ.

*

Chuyện xảy ra rất là đơn giản, không có gì đáng nói cả... nhưng các cô nàng mà! Dù là các cô gái châu Au hay nước nào thì họ cũng có những điểm rất giống nhau: Trước hết là thích làm đẹp, thích được khen và chiều chuộng cũng như... rất tò mò. Chính cá tính cuối cùng ‘tò mò’ đã khiến các cô hay gặp phải sự tự ái và giận dỗi nhiều lúc vô lý.

Hai cô bạn giận nhau mất một thời gian chỉ vì  lời nguyền về việc cao không quá 10 cm của tôi. Mọi chuyện bắt đầu rất vô tội. Hôm đó, cả nhóm chúng tôi vào Club của sinh viên quen thuộc. Ngồi bên bàn quanh sàn nhảy, uống bia rượu,  nói chuyện xem những kẻ đã khác đang quay cuồng trên sàn nhảy. Không khí thật quen thuộc, ánh đèn màu rọi sáng lắc lư theo tiếng nhạc và xoáy lượn vào từng góc bàn. Trên sàn nhảy các sinh viên đang dậm dật hay lắc lư theo những điệu vũ khác nhau, đủ kiểu.  Chúng tôi chưa đạt tới trạng thái quen thuộc đó, còn khi đã tới trạng thái này thì  cũng đâu khác gì họ nhiều lắm. Chắc chắn chúng tôi cũng quay cuồng như vậy, và đúng hơn đâu còn biết mình làm gì và chỉ nhún nhảy hay lắc người theo cảm giác của tiếng nhạc và tiếng trống đánh tức ngực.

Sau các bản nhanh và dữ dội, disc jockey cho chơi một bản nhạc rất chậm và lãng mạn. Theo  bản năng tự nhiên, tôi muốn được ôm ghì lấy một thân thể ấm áp nào đó để nhẹ nhàng thưởng thức những nhịp điệu thong thả. Người ngồi gần tôi nhất là Lenka. Lenka có khuôn mặt rất đẹp, kiểu pha chút Á Đông và cũng có thân hình hấp dẫn, có thể nói gần hoàn hảo. Nhưng cô nàng hơi cao vì trước kia đã từng chơi bóng ném chuyên nghiệp. Tôi trườn người sang phía Lenka và hỏi: “Hey Lenka, cao bao nhiêu vậy?”

“Tại sao tự nhiên lại tò mò vậy?”  Lenka ngước cặp mắt xanh nhạt lên ngạc nhiên, với bộ dạng đóng kịch rất ngây thơ nàng cười tò mò và chờ đợi.

“Đơn giản thôi, tôi rất muốn ôm ai đó nhảy. Nhưng nếu cao hơn tôi 10 cm thì tôi sẽ không mời nhảy những bài tình cảm như thế này, trông kỳ lắm!” tôi giải thích thẳng vào chuyện và rất rõ ràng.

Lenka lùi người lại nhìn tôi và trả lời: “1 m 76”

“Xin phép được mời quý cô nhảy bài nhạc trữ tình tiếp theo, được không?” tôi chìa tay nắm lấy tay Lenka rất lịch thiệp theo đúng kiểu người ta đã dạy tôi ở khóa dạy nhảy cổ điển.

“Rất cám ơn và hân hạnh,” Lenka để yên cho tôi nâng tay cô nàng lên và phá lên cười. Nói rồi cô nàng ôm chầm lấy tôi hôn lên má với cử chỉ rất đóng kịch.

Tất nhiên những màn trình diễn đó không qua mắt được đám  bạn cùng bàn. Katka, cô bạn coi là thân của Lenka tò mò: “Có chuyện gì mà bọn mày vui vậy?”

“S...u...y..t.,” tôi đưa tay lên môi ra hiệu bí mật. Lenka cười tủm tỉm và trả lời: “Bí mật giữa tôi và Nam thôi, không nói được.”

Chính câu nói đó làm Katka tự ái và nghĩ rằng là bạn thân mà Lenka giấu không cho cô biết.

Sau một vài bản nhạc “house” và “techno” lại đến một bài chậm tình cảm. Tôi và Lenka đứng lên và cả hai siết vào nhau nhẹ nhàng. Trong lúc nhảy,  tôi kể lý do cho cô nàng nghe tại sao tôi lại hỏi chiều cao. Cô nàng cười nghặt nghẽo và khoái chí ghì chặt lấy tôi trong điệu cười giữa những bước chân nhẹ nhàng. Điều này tất nhiên không lọt qua sự quan sát của đám bạn ngồi tại bàn và tất nhiên của cô bạn vốn thông minh Katka.

Vì khá quen nhau, nên chúng tôi phá hết thông lệ khi nhảy. Người ngoài nhìn chắc phải thấy thân mật quá trớn. Thông thường khi nhảy những điệu tình cảm chậm thường tay phải tôi phải tì vào eo bạn nhảy và tay trái nắm tay cô đưa ra, theo những điều được dạy trong khóa học nhảy cổ điển.  Còn ở đây, trong Club sinh viên, với chúng tôi, và cả những cặp xung quanh thì khác hẳn. Tất cả phá lệ, nói đúng hơn tất cả tự nhiên theo thông lệ tại đây,  hoàn toàn không “cổ điển” chút nào. Cả hai tay tôi ghì siết vào eo người Lenka còn hai tay cô nàng ôm quàng treo người qua cổ tôi. Chúng tôi ghì sát vào nhau và cảm thấy làn da ấm mềm mại đang như dính quyện vào nhau. Chúng tôi trông giống như những cặp khác xung quanh. Tôi cũng cảm thấy thoải mái hơn và cả đỡ mỏi tay khỏi phải giơ ra như thường. Tất nhiên, tôi vẫn còn giữ lịch sự và chưa sàm sỡ như nhiều kẻ khác vì trong tư thế hai tay siết người cô gái như vậy bạn có thể làm nhiều chuyện khác nữa.

*

Nhảy xong, lại bàn ngồi Katka lại vẫn tò mò hỏi Lenka: “Thằng Nam nó nói gì mà mày cười hạnh phúc vậy? Cả hai nhảy rất vui vẻ và thắm thiết như cặp tình nhân thật sự! ”

Lenka quay đôi mt xanh nht sang nhìn tôi rt “âu yếm”
gi b: “Nói được không?”

“Không, phải giữ bí mật nó mới hay, nói ra thì thường quá!” tôi lắc đầu. Lenka quay sang Katka và nói: “Nam nó không muốn, mày đừng giận toàn chuyện vớ vẩn mà.”

Đó là lý do khiến Katka giận Lenka mất gần hai tuần.

Lời nguyền chỉ yêu hay cặp bồ với những cô gái không cao hơn tôi 10 cm bắt nguồn cũng từ sự tự ái của thằng đàn ông Việt Nam. Con Rồng cháu Tiên gì mà thấp bé vậy. Tất cả bắt đầu chỉ từ những lần xếp hàng tại nhà ăn sinh viên, tôi bị đứng lọt vào giữa một đám các cô bạn mà cô nào cũng cao hơn tôi cả cái đầu khiến tôi chẳng nhìn thấy gì phía trước và phía sau cả. Nhưng giọt nước làm tràn đầy li là sau một buổi gặp mặt  Noel, khi chia tay tôi và cậu bạn Martin và tiễn hai cô bạn ra bến tàu điện về nhà. Khi tàu từ xa chạy gần đến chúng tôi hôn chia tay nhau. Các cô hôn cậu bạn tôi thì bình thường, nhưng khi Alena hôn tôi thì dù tôi đã nhướn người lên mà cô vẫn phải quỳ hẳn xuống để ôm hôn tôi. Đúng chẳng khác gì cảnh cụ Tú Xương đã phán: ”Đôi vú ấp vai, đầu nghển nghển.” Hoàn cảnh tôi chưa đến nỗi tệ như thế nhưng cũng thấy mình thật bất hạnh. Sau hôm đó tôi thề sẽ hạn chế chơi và không thể yêu các cô cao hơn mình 10 cm được.

*

Tôi quen Marcela bắt đầu từ nhà ăn sinh viên. Gần khu trường học bao giờ cũng có nhà ăn sinh viên với giá ưu đãi chỉ dành cho sinh viên. Hàng tháng, chúng tôi mang tiền và thẻ sinh viên đến nhà ăn và mua vé (coupon) đặc biệt với các màu khác nhau cho bữa sáng, trưa, chiều tại các nhà ăn khác nhau với giá chỉ bằng 30% giá bữa ăn như vậy bên ngoài. Cứ mỗi lần đến ăn, chúng tôi xé ra một vé và trả cho nhà ăn thay tiền. Nó giống như  một dạng tem phiếu cho sinh viên. Nhiều nhân viên của trường hay bạn bè cũng thường nhờ chúng tôi mua hộ các vé ăn như vậy khi chúng tôi không cần đến. Ví dụ bản thân tôi luôn bỏ không bao giờ mua vé bữa sáng vì không dậy được. Tất nhiên, vé ưu đãi thì cũng có giới hạn của nó, bữa sáng từ 5-6:30, bữa trưa từ 12:00 đến 2:30 và bữa chiều từ 5:00 đến 7:00. Nếu bạn về muộn hay vì lý do gì đó lỡ thời gian trên thì coi như mất suất ăn. Chưa kể, những hôm về muộn hay đến muộn chỉ còn những món ăn không ai lấy, sợ mà vẫn phải ăn.

Buổi trưa hôm đó, sau khi lấy khay đồ ăn xong, nhìn quanh chẳng có bàn nào trống cả. Nhìn chán chê chỉ có một bàn có đúng một cô vừa ăn vừa đọc sách, tôi đành lên tiếng hỏi: “Je to volné?” (Chỗ này trống không?)

“Jo,” cô gái không buồn ngửng mặt lên trả lời.

Tôi ngồi xuống và vừa ăn, vừa quan sát cô gái. “Trông cũng hay, cô gái trông dễ thương, đẹp, và thuộc nhóm các cô gái ‘ngoan’,” tôi nghĩ trong đầu vậy và tìm cách làm quen.

“Hey, bạn đọc gì mà có vẻ chăm chú vậy? Sách tham khảo để đi thi à?” tôi hỏi.

“Không, toàn chuyện tình cảm vớ vẩn,” cô gái cười và ngẩng đầu lên. 

”Ahoj,” cô gái chào “Tôi là Marcela.”

“Nam z Vietnamu,” (Nam từ Việt Nam) tôi giơ tay bắt tay cô gái và nói ngay vì tôi biết sau khi ngửng đầu nhìn tôi cô gái sẽ hỏi tôi là người nước nào.

Chúng tôi gặp nhau từ đó. Hóa ra Marcela học cùng tôi môn Lịch sử triết học và lôgic. Cả hai đều là sở trường của tôi và tôi có cơ hội giúp đỡ chứng tỏ tài năng của mình. Marcela có gì đó khác với hai cô bạn Lenka và Katka của tôi. Chúng tôi gần gũi nhau và yêu nhau từ lúc nào không hay.

*

Các cô gái Tiệp tự nhiên, rõ ràng và hơi quá sòng phẳng. Lúc đầu tôi vẫn có định kiến là các cô lạnh lùng hay không tình cảm. Không phải vậy, khi đã quen, đã yêu các cô cũng thắm thiết không khác gì phụ nữ bất kỳ nước nào. Dù họ có  những thói quen khác nhau trong những chuyện cư xử hay cuộc sống, nhưng họ cũng mong muốn những điều như mọi cô gái ở khắp nơi mong muốn: Được yêu quý, chiều chuộng và cả khen ngợi.

Có nhiều chuyện tôi vẫn không thể quen được. Ví dụ chuyện trả tiền quán ăn. Khi dẫn Marcela đi ăn, tất nhiên tôi trả tiền nhưng cô nàng có vẻ không thấy thoải mái và thường tìm lúc mời tôi đi ăn lại. Cũng giống vậy, tôi mời em đi xem phim vì cả hai đều thích và có những giây phút thú vị nhưng sau đó tôi lại bị tấn công bằng những lời nhắn là rạp có bộ phim này, phim kia và Marcela muốn tôi đi xem cùng... nhưng do nàng trả tiền.

Nhưng điều tôi thích nhất là Marcela không dấu diếm tình cảm và tự nhiên như các cô gái Tiệp khác. Marcela rất thích được tôi ôm ấp hay chiều chuộng. Chúng tôi không phải giấu giếm sự thoải mái và thích thú khi có thể âu yếm nhau như vậy. Cả hai đã bắt đầu quen nhau đến mức mỗi lần, khi em về nhà thăm bố mẹ và quay lại nhà sinh viên là tôi lại cảm thấy thời gian trôi đi thật chậm. Và những giây phút gặp lại thật hạnh phúc và dữ dội. Chỉ khổ và phiền chút ít cho cô bạn cùng phòng của Marcela và anh bạn cùng phòng của tôi. Những lúc đó họ đành phải đi tìm nơi giải trí bên ngoài. Ở khu sinh viên, chúng tôi phải ở hai người trong một phòng, nam nữ rất ít khi ở chung (chỉ có thể sau một loạt các thủ pháp đổi phòng chéo nhau). Chúng tôi thường tìm thời gian lệch nhau để Marcela về thăm cha mẹ khác với tuần mà cậu bạn cùng phòng tôi về nhà thăm bố mẹ.

Tôi vừa bước chân vào đại học được hơn một năm, quen Marcela chưa đầy một học kỳ thì cuộc Cách Mạng Nhung bùng nổ. Bắt đầu chỉ từ tin một sinh viên Khoa Toán Lý bị chết do cảnh sát đàn áp trong cuộc diễu hành nhân ngày Quốc Tế Sinh Viên 17/11 năm 1989.  Tôi cũng có một số bài giảng ở Khoa Toán Lý nhưng không hề biết về chuyện đó. Bỗng nhiên, tôi thấy rất nhiều bạn học tụ tập nhau và nói chuyện bãi khóa, tổ chức họp hành và đi biểu tình công khai ngay trong giờ học, giờ nghỉ tại trường khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Tôi thầm nghĩ: “Tự do thật dễ sợ! Sinh viên và thầy cô giáo có thể bàn nhau công khai về chuyện bãi khóa, biểu tình.”

Đêm đến, quấn mình trong hơi ấm thân thể của Marcela, tôi tò mò hỏi và thắc mắc về những chuyện đó. Marcela sôi nổi giải thích cho tôi và nhiều khi nàng vùng dậy để diễn tả những điều nàng nghĩ  khiến tôi bất bình vị bị lạnh. Marcela không còn hiền lành lãng mạn ngày nào mới gặp ở nhà ăn, nàng bỗng quan tâm đến chuyện bãi khóa và.... 

*

Tôi đứng bối rối không biết làm gì giữa căn phòng nhỏ tầng một tại Khoa Triết. Các sinh viên xấp xỉ tuổi tôi đang chạy đi chạy lại, copy, bận rộn làm các tấm biểu ngữ cho cuộc tổng bãi công sắp tới. Chiếc máy photocopy chạy liên tục đẩy ra những mảng tin, các khẩu hiện và những lời giải thích về “Obcanske Foroum” -Diễn đàn công dân, tổ chức tập hợp những người phe đối lập mới hình thành. Jan Kreten bảo tôi: “Có muốn giúp gì không?”

“Cho tôi làm gì đi. Đứng không thấy khó chịu,” tôi trả lời.

“Được, bây giờ cậu lấy những trang khẩu hiệu ‘Tình thương và sự thật sẽ chiến thắng’ cùng hình trái tim biểu tượng của Diễn Đàn Công Dân đã copy này ra xếp vào với đám kia và rồi ghim lại thành từng tập nhỏ,” Jan giải thích.

Tôi đã đi dự các cuộc biểu tình hàng ngày trên quảng trường Vaclav hàng ngày, phần nhiều vì tò mò. Một sự kiên trì và tự giác kỷ luật đặc biệt. Hàng ngày, hàng chục, trăm ngàn người tập trung nhau tại quảng trường trung tâm Praha và nghe diễn thuyết. Nhưng điều đặc biệt nhất là họ đi đấu tranh, biểu tình rất ôn hòa và không có những màn bạo động khiêu khích. Tất cả đi tuần hành, hô khẩu hiệu và không hề đập phá hay gây lộn xộn cho các cửa hàng, các hoạt động thương mại vẫn đang diễn ra. Lần lượt các nhân vật quan trọng của giới văn hóa, nghệ thuật Tiệp lên tiếng ủng hộ công khai những người biểu tình. Các cuộc mít tinh tự phát và biểu tình đã kéo dài cả tuần lễ và không thấy bóng cảnh sát mặc đồng phục ở đâu cả.

Sau vụ đàn áp sinh viên trên Đại lộ “Dân Tộc” và tin đồn họ đánh chết một sinh viên đã khiến dân chúng gọi cảnh sát là “Ghetapo” và mất hoàn toàn sự tôn trọng với họ. Mỗi khi có bộ quân phục cảnh sát xuất hiện là tiếng huýt sáo, la ó vang lên và vị cảnh sát nọ lại từ từ biến mất. Các cuộc biểu tình tự phát nhưng rất yên tĩnh và có sự tự giác nhất định. “Dân trí của họ cao thật, và họ cũng có văn hóa hơn hẳn dân mình,” anh Hùng, đang làm Tiến sĩ tại cùng trường tôi đã thốt lên vậy trong một lần đi “xem” biểu tình cùng tôi trên quảng trường.

Cú sốc lớn nhất với tôi là một tối, khi cùng đám bạn đi uống bia ở Club tôi bỗng nhìn thấy một thầy giáo tôi, người dạy phần thực hành về máy tính đang đứng bàn với một nhóm sinh viên về kế hoạch biểu tình ngày hôm sau sao cho ít lộn xộn nhất. Mọi sự kính trọng đặc biệt cùng những quan niệm trước kia về thầy cô giáo bỗng sụp đổ trong tôi.

Marcela cũng thay đổi và trở thành nhân vật tích cực tham gia vào các hoạt động của sinh viên. Chúng tôi ít gặp nhau hơn. Cũng như chuyện Marcela bỗng nhiên trở thành ít nhiều xa lạ với tôi vì tôi quả thật chưa hiểu lắm ý nghĩa của tất cả những chuyện xảy ra. Tôi chỉ cảm thấy không vui vì không gặp mặt em thường xuyên và cũng chẳng có nhiều thời gian  mỗi lần gặp. Chúng tôi chỉ kịp hôn nhau và rồi Marcela bảo: “Em phải đi mang đám truyền đơn này sang Praha 6, anh đi cùng không?” Tôi đi cùng vài lần nhưng rồi không thấy thoải mái vì không hiểu mình đang làm gì.

*

Quan hệ tình cảm của chúng tôi đi ngược chiều với sự thành công của cuộc “Cách Mạng Nhung.” Cuộc Cách Mạng Nhung thành công và ngày càng được sự ủng hộ to lớn của dân Tiệp Khắc.

Đảng CS Tiệp họp trung ương bất thường, cách chức Tổng bí thư Jakes. Vị Tổng bí thư này là người mà rất nhiều bạn bè Tiệp của tôi đánh giá là giốt nát và chỉ có khả năng duy nhất là bảo thủ và trung thành với đảng. Ông Urban, một người không ai biết đến, lên làm Tổng bí thư.

Đại diện của chính phủ CS do đích thân Thủ Tướng Adamec chấp nhận ngồi vào bàn tròn với phe đối lập hình thành quanh “Diễn đàn công dân” và do một nhân vật phản kháng có tiếng, nhà soạn kịch Vaclav  Havel đại diện.

Chính phủ hòa giải lần thứ nhất bị từ chối vì có quá nhiều bộ trưởng là đảng viên CS.

Hai bên ngồi lại và thành lập ra chính phủ Hòa giải thứ hai do ông Calfa làm thủ tướng.  Chính phủ này được TT CS cuối cùng Jan Husak tiếp nhận trong lễ tuyên thệ nhậm chức tại Lâu Đài Praha (như Phủ Tổng Thống). Một nghịch lý thú vị.

Theo thỏa thuận giữa các bên họp tại bàn tròn, nhiều đại diện của phe đối lập quanh “Diễn đàn công dân” được bổ sung vào quốc hội liên bang.

Đỉnh cao của cuộc Cách Mạng Nhung diễn ra ngày 21/12/1989, chỉ hơn một tháng sau sự kiện đàn áp cuộc diễu hành sinh viên ngày 17/11 được đánh dấu bằng sự kiện khi ông Vaclav Havel, một nhà phản kháng nổi tiếng, đại diện của “Diễn đàn công dân” được Quốc hội (với hơn 50% đại biểu vẫn là các đại biểu cộng sản) bầu làm Tổng thống nước Tiệp với 100% số phiếu.

Nói về sự kiện này 10 năm sau, ông Petr Pithar (Chủ tịch Thượng Viện CH  Séc hiện nay, một nhà phản kháng trước kia) cho biết: “Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ cho nhiều vị dân biểu CS là họ đã trơ trẽn bỏ phiếu bầu cho Havel, một kẻ mà họ trước kia sẵn sàng tống giam, trở thành Tổng thống Tiệp Khắc.”

Câu chuyện tình của tôi cũng rơi vào khủng hoảng sau hơn một tháng biến chuyển. Bỗng nhiên chúng tôi tự thấy có khoảng cách giữa cả hai. Hình như một tháng qua mới bộc lộ sự khác biệt ít nhiều giữa hai nền văn hóa và cách suy nghĩ hành xử. Gặp nhau, vẫn hôn nhau nhưng không có vị mặn mà ấm áp nữa mà đã mang chút ảnh hưởng của thói quen. Cả hai chúng tôi cùng như chờ đợi một dấu chấm kết thúc mà không ai dám nói trước. Marcela đã trở thành một cô gái khác trước, mạnh bạo và có phần tự tin hơn. Cô quyết định sẽ tạm thôi học và làm trợ lý cho một nhà phản kháng được bổ nhiệm làm Bộ trưởng của chính phủ liên hiệp. “Em quyết định sẽ bước vào học ở trường đời, khi cần sẽ quay lại trường học tiếp sau. Kinh nghiệm trải qua thời gian này sẽ khó có thể có được khi khác...,” cô nàng nói vậy. 

*

Giao thừa năm đó, năm đầu tiên sau Cách Mạng Nhung Marcela cho biết sẽ về nhà đón giờ phút đặc biệt tự do đầu tiên cùng gia đình ở thành phố cách xa Praha 80km. Tôi và anh Hùng sau khi đã ăn bữa chiều đơn giản, vì cả hai chúng tôi đều lười nấu ăn, quyết định sẽ ra quảng trường Vaclav để xem “chúng nó làm gì trong đêm giao thừa tự do đầu tiên.”

Chúng tôi đi chuyến tàu điện đêm số 18 quen thuộc, cũng là chuyến tàu thường xuyên đưa chúng tôi đến trường học và có một tuyến đường đi xuyên qua khu phố cổ rất đẹp của thành phố Praha. Trời mùa đông lạnh giá, tuyết rơi đọng lại và được cào hất ra hai bên đường khắp nơi thành những đống cao thấp khác nhau phản chiếu ánh đèn xe đêm làm khung cảnh trở nên lấp lánh khác thường. Một tối mùa đông ảm đạm không khác gì những tối khác nhưng vẫn mang lại một sự chờ đợi, một không khí lạ khác thường. Lẹt đẹt đâu đâu đó là tiếng pháo mà lâu lắm rồi chúng tôi không được nghe ở đây. Chuyến tàu sau 11 giờ đêm mà vẫn đông đúc và vui vẻ. Họ uống bia và vui vẻ ca hát ngay trên tàu nhưng không thấy ai nói gì, kêu ca gì, kể cả lái tàu. Ngày thường chắc hẳn ông lái  tàu điện sẽ dừng lại và yêu cầu đám thanh niên “ồn ào” đó xuống. Nhưng hôm nay là ngày đặc biệt, tất cả độ lượng hơn, vui hơn và dễ dãi hơn. Họ đang được hít thở không khí và cảm giác tự do sau bao nhiêu năm bị hạn chế.

Xuống ga ngay cạnh khu trường cả hai anh em đi bộ tới khu Quảng trường thành phố cổ. Một quang cảnh lộn xộn, vui vẻ và tự phát nhưng ôn hòa chưa từng thấy bao giờ. Cả quảng trường đông nghịt người, trẻ có, già có, gia đình có, vui vẻ và uống rượu bia công khai. Đó đây từng đám cất tiếng hát đủ bài hát quen thuộc và không quen thuộc. Trên đỉnh tháp cao của Tòa Thị Chính, phía trên Đồng Hồ Vĩnh Cửu, dàn nhạc chơi các bài nhạc cổ điển được ưa chuộng nhất. Tất cả vui vẻ, tất cả cùng có những động tác, nhảy múa và làm nhiều điều kỳ quặc dưới con mắt của chúng tôi. Nhưng tất cả đều thân thiện và độ lượng.

“Nhìn kìa,” anh Hùng giật tay tôi. Tôi quay lại, một nhóm thanh niên đang đốt ảnh Husak, vị Tổng thống cộng sản cuối cùng của nước Tiệp trong tiếng reo hò cổ vũ của một đám đông tụ tập xung quanh. Đó là một hình ảnh không mấy người dân Tiệp Khắc có thể tưởng tượng nổi trong hàng chục năm trước đó. Một nhóm khác đang tưới rượu lên lá cờ của Liên Xô (ngày nay đã không còn tồn tại). Đó là điều mà tôi thật sự ngạc nhiên và chưa nhìn thấy từ trước đến nay ngay  cả tại nước Tiệp Khắc vốn tự do này. Đó là những điều cấm kị. Một không khí đặc biệt thoải mái cùng cảm giác “tự do” kỳ lạ bao trùm khắp quảng trường và hiện rõ trên từng khuôn mặt. Những giây phút này chỉ có một lần và sẽ không bao giờ lặp lại. Một lần trong những năm sau đó tôi cũng quay lại Quảng trường này trong một đêm Giao thừa khác sau đó, nhưng không bao giờ gặp lại không khí ngày này. Cả quảng trường cũng tràn ngập người, nhưng phần đông là khách du lịch và chỉ giống hình thức của buổi tối đặc biệt hôm đó, nhưng... không bao giờ có được không khí đặc biệt ngày Giao thừa đầu tiên trên ngưỡng cửa bước vào năm 1990 đó.

Tôi và anh Hùng đi xuyên qua đường phố cổ sang quảng trường Vaclav, nơi diễn ra các cuộc biểu tình thường xuyên nhiều tuần lễ. Tại đây khung cảnh giống ở quảng trường Thành phố Cổ nhưng không gian khổng lồ to lớn hơn. Tất cả đều say, đều vui  vẻ và làm những điều kỳ quặc. Giữa quảng trường và hai đầu là ba chiếc xe cứu thương đợi sẵn. Một đám thanh niên vui quá mức đi qua và rót rượu sâm banh lên kính chiếc xe cứu thương. Bình thường và ngày thường chắc hẳn đã xảy ra sự va chạm  hay can thiệp của cảnh sát. Nhưng mà hôm nay không hề thấy cảnh sát đâu. Những nhân viên trong xe cứu thương cũng không phản đối gì, thậm chí lái xe cứu thương còn mở cửa kính và nói gì đó để đám thanh niên rót rượu cho ông. Xong rồi, ông ta lại kéo kính xe lên như cũ, như không có chuyện gì xảy ra.

Anh Hùng bảo tôi: “Tao thấy bọn nó điên khùng tất cả. Hóa ra không phải vậy, mình mới điên khùng.”

Thấy tôi không hiểu, anh giải thích thêm: “Khi tất cả đều say, thì bọn nó thấy mọi điều xảy ra đây đều vui vẻ và bình thường, chỉ riêng anh em mình thấy bất bình thường.”

Hai chúng tôi chui vào quán rượu gần nhất, mua nguyên một chai vang trắng và khui ra uống liền bằng chai. Chỉ không đầy mười phút sau tôi thấy tất cả vui vẻ và bình thường trở lại. Tất cả những người xung quanh thật đáng yêu, thật vui vẻ và nhẩy... rất đẹp. Cả quảng trường như lắc lư theo tiếng nhạc phát ra từ mọi phía. Ngay cả ông Vaclav cũng như đang cười và lắc lư trên lưng ngựa trên bức tượng khổng lồ gần đó.  Tôi cũng bắt đầu lắc lư theo tiếng nhạc của một chiếc cassette của một đám thanh niên gần nhất.

*

“Ahoj Name, Vsechno nejlepsi a ... promin,” (Hey Nam, mọi điều may mắn nhất trong năm mới và... xin lỗi), một tiếng nói quen thuộc vang lên. Tôi giật  mình quay lại, Marcela và... Jan Kreten, cậu bạn ở phòng copy “cách mạng” sinh viên ngày nào.  Tôi ngạc nhiên: Marcela lúc này đáng lẽ đang ở nhà cùng gia đình ở thành phố của cô! Jan ôm chầm lấy tôi: “Chúc mọi sự như ý... cậu biết đấy...” 

Tôi bỗng cảm thấy thoáng nỗi buồn khó tả. Và tôi... chợt hiểu.

Marcela hôn nhẹ lên môi tôi và cả hai cùng ôm hôn choàng lấy nhau rất lâu lần cuối.

“Promin, ty vis.. a hodne stesti,” (Xin lỗi, mà anh biết rồi... chúc nhiều may mắn) Marcela nói nhỏ đủ để hai chúng tôi nghe.

Tôi cảm thấy nghẹn ngào dù biết chuyện đó sẽ đến nhưng không ngờ tại đây... và vào lúc bất ngờ này!? Marcela và Jan ôm hôn anh Hùng và cả hai lẫn vào đám đông đang múa may, nhảy nhót. Tôi lặng đứng nhìn theo và không rõ mình đang vui hay buồn.

Tiếng chuông đồng hồ trên tháp điểm đúng mười hai tiếng, cả quảng trường ào lên tiếng chúc mừng. Tất cả chúng tôi quay sang ôm hôn người xung quanh, bất kể là ai, quen hay không quen biết. Chúng tôi ôm  hôn các cô gái và bắt tay ôm hôn cả các chàng trai. Già, trẻ, gái, trai... tất cả cùng chúc mừng và ôm hôn nhau như người thân hay bạn bè quen biết đã từ lâu. Ai cũng nói: “Chúng mọi sự may mắn năm mới.”

“Chúc mừng năm mới,” tôi quay sang ôm hôn một cô gái tóc màu hung trong nhóm các cô gái bên trái.

“Hey Name, To jsem já, Helena!” (Này, Nam, Helena đây!) tôi giật mình. Helena, học Tâm Lý Học dưới tôi một năm, vừa vào năm thứ nhất và chúng tôi quen nhau trong một buổi sinh nhật của cậu bạn Martin. Một cô gái khác hẳn Marcela, mang tính gia đình và có vẻ nội tâm nhiều hơn. Cả hai chúng tôi cùng tự động bật ra và nhìn nhau... giây lát. Rồi không ai bảo cả hai lại ôm choàng lấy nhau và hôn đằm thắm như quên hết mọi sự quanh mình.

“Nechces, abych ti libal takto kazdy den?, (hey, em có muốn được hôn thế này hàng ngày không?) tôi nói nhỏ đủ để Helena nghe được.

“To se mi libi, proc ne?” (Em thấy hay, tại sao không!), Helena nói và chúng tôi hôn ghì lấy nhau và quên hết những người khác cũng đang ôm hôn nhau bên cạnh trong đêm giao thừa đặc biệt và duy nhất đó.


Phạm Thiên Thư - Ngày xưa Hoàng Thị




Phạm Thiên Thư

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng
Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở
Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi!
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng
Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ
Phố ơi muôn thủa
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!




Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Tâm Chân Nguyên Trần thị LaiHồng - Vết Hồng Chim Bay


Tâm Chân Nguyên Trần thị LaiHồng




Tâm một dòng
một dòng nguồn trong
sông mở lòng trong Tâm tìm tuôn ra biển

biển gọi chim về
nghe lời Bát Nhã
Vạn Pháp mở Tâm Từ
Hoa Khai
Nhất Chơn phi Sắc phi Không

Nét nét màu màu
Sắc sắc Không không *

Quê hưởng thăm thẳm đôi lòng
Đông Tây ngăn nổi vết hồng chim bay **

biển ôm sông ôm trọn cả trời mây
ôm trọn cánh chim bay
từ Đông sang Tây
chim cùng mây bay
bay

bóng in trên cát
mà hồn trên mây
theo ngọn sóng dâng dầy …

về
về đi
chim ơi !
chim bay về núi
túi rồi chim ơi
chim vẫn còn bay
bay
còn bay ……


 Tựa đề tranh và thơ Võ Đình, nhạc Hoàng Quốc Bảo
             *  Thơ Hoàng Quốc Bảo
** Thơ VõĐình
*** Biển Hải Biên, hình LaiHồng, 31 tháng 5, 2012, Giỗ Võ Đình năm thứ ba

Ngô Nhân Dụng - Nguyễn Phú Trọng không đọc sách


Ngô Nhân Dụng

Một bài trên mạng VietNamNet mới phỏng vấn và nêu lên các con số cho thấy người Việt Nam hiện nay rất ít đọc sách. Theo bài này thì trung bình mỗi năm một người Việt Nam chưa “đọc hết” một cuốn sách. Đem tổng số sách (không kể sách giáo khoa) chia cho dân số, tính bình quân cứ mười người Việt đọc được bẩy cuốn sách. Trong số đó, phần lớn chỉ là sách giải trí mà không bồi bổ trí thức. Một giám đốc nhà sách bi quan hơn nữa, nghĩ rằng chắc số sách đọc còn ít hơn nữa. Những cuốn sách có giá trị trên thế giới, được dịch ra tiếng Việt chỉ in chừng 500 cuốn, trong một nước dân số 85 triệu. Có người so sánh, cho biết dân Thái Lan mỗi năm trung bình một người đọc khoảng năm cuốn sách, tức là đọc nhiều gấp bẩy lần một người Việt.


Nguyễn Phú Trọng
Người ta đọc sách nhiều thì chắc trình độ hiểu biết cao hơn, cách suy nghĩ cũng chín chắn hơn. Nói chung, việc đọc sách chắc chắn phải ích lợi cho cả nền kinh tế quốc dân. Các nhà nghiên cứu phát triển cho biết khi dân một nước đọc sách nhiều hơn thì họ dễ gia nhập vào đời sống kinh tế hiện đại hơn vì bây giờ làm nghề gì cũng phải có kiến thức. Ở các nước chậm tiến thì dân ít đọc sách. Nhưng việc đọc sách đem tới ích lợi kinh tế nhiều hơn khi phổ cập trong toàn thể xã hội chứ không tập trung trong một tầng lớp “ưu tú” ở các thành phố. Bài báo trên VietNamNet đã nêu thí dụ về nước Mỹ, nhận định: “Cái hay ở Mỹ là tri thức sách vở, kiến thức của mọi người được lan tỏa đến số đông hơn là chỉ một nhóm người như ở Châu Âu.” Vì trình độ kiến thức chung cao cho nên “Chỉ có nước Mỹ mới sinh ra những tỉ phú như Bill Gates, Steve Jobs… – những người sống bằng khoa học, trí tuệ.”

Người Việt Nam bây giờ ít chịu đọc sách, chắc vì người lớn thì coi phim bộ, thanh niên thì coi trình diễn nhạc trẻ và coi báo đăng hình quần áo giầy dép mốt mới nhất. Cho nên mới có cảnh các thiếu nữ tôn thờ ca sĩ ngoại quốc, ôm hôn cả cái ghế mà thần tượng mới ngồi lên. Mới có cảnh một cô chủ tịch công ty xây dựng đi thăm công trường đầy xi măng, nhôm với sắt mà lại mặc váy hồng, đi giầy cao gót cũng mầu hồng giống như đang đi mua sắm.

Nhưng không nói gì đến người dân thường, mà cả những người lãnh đạo đảng Cộng sản cũng không chịu đọc sách nữa. Như ông Nguyễn Phú Trọng chẳng hạn. Trong hội nghị Trung Ương Đảng mở rộng vừa rồi, ông tổng bí thư khẳng định đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không chấp nhận “tam quyền phân lập.” Riêng câu này đủ để ghi tên Nguyễn Phú Trọng vào lịch sử sự thoái hóa trong nhân loại. Loài người tiến bộ, mình không theo kịp, rồi còn đi thụt lùi, cho nên gọi là thoái hóa. Từ thế kỷ 17, 18, trong nhân loại đã nẩy ra ý kiến phải đặt giới hạn trên quyền hành của những người cai trị. Vì thế phải tách ra ba thứ quyền: có người soạn ra luật pháp; có người chỉ lo thi hành luật pháp; và những người khác nắm quyền phán đoán xem có hành động nào sai luật luật pháp hay không. Từ thế kỷ 18 đã nhiều quốc gia thí nghiệm ý kiến này trong tổ chức chính quyền. Đó là những quốc gia đạt được tiến bộ nhanh nhất và cao nhất về kinh tế, văn hóa, và xã hội. Loài người đã rút kinh nghiệm như vậy hơn 200 năm nay. Bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng nhất định bác bỏ không chấp nhận “phân quyền!” Như vậy chẳng phải là thoái hóa thì gọi là cái gì? Điều đáng kinh ngạc là, sau khi ông Nguyễn Phú Trọng nói trâng tráo như thế, không thấy có ai trong quốc hội và trong tòa án tối cao ở Việt Nam mở miệng bàn một câu nào cả! Trên lý thuyết họ nắm quyền lập pháp và tư pháp; nhưng đành ngậm miệng. Tình trạng thoái hóa không phải là độc quyền của ông tổng bí thư đảng Cộng sản!
Lời tuyên bố trên cũng chứng tỏ ông Nguyễn Phú Trọng không chịu đọc sách. Có một cuốn sách bán đầy ở Hà Nội, ai có thời giờ làm ơn mua một cuốn gửi cho ông tổng bí thư đọc để giúp ông mở mắt ra. Đó là cuốn “Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách” của Hà Tông Tư, do Phạm Bá dịch, Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân in năm 2007. Ông Hà Tông Tư kịch liệt đả kích chế độ chuyên chế ở Trung Quốc trong hơn 2000 năm lịch sử. Cho nên ông viết rõ ràng chỉ có phân quyền mới thật sự dân chủ.
Hà Tông Tư nhiệt liệt ca ngợi chế độ tự do dân chủ, thể hiện qua việc cai trị bằng hiến pháp, luật pháp, mà ông gọi là Hiến Chính. Ở trang 40 cuốn sách trên, tác giả viết: “Nguyên tắc cơ bản của pháp trị là: Mở rộng tự do cá nhân với khả năng lớn nhất, hạn chế tối đa quyền hạn của kẻ cầm quyền.” Trang sau, ông nêu ra tiêu chuẩn: “Bản thân hiến pháp có bao hàm tư tưởng thực sự hạn chế và ràng buộc quyền lực chính trị không, và trên thực tế nó có ràng buộc, hạn chế quyền lực chính trị một cách có hiệu quả hay không?” Và Hà Tông Tư khẳng định: “Nguyên tắc phân quyền là đặc trưng cốt lõi của Hiến Chính; chủ yếu là tách biệt quyền tư pháp với quyền hành chính, thể hiện ở chỗ tư pháp phải được độc lập.”

Chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng chưa hề để mắt đến những ý kiến nêu trên. Mà đây không phải là ý kiến của “những thế lực thù địch” nào cả. Đây là một tác giả người Trung Quốc, sách đã phổ biến ở Trung Quốc, lại được Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ở Việt Nam in ra. Trong hàng ngũ công an cũng có những người muốn phổ biến những ý kiến tiến bộ như vậy. Thế mà cả ông Tổng Bí Thư lẫn những người về họp cùng với Trung Ương Đảng chẳng ai chịu đọc sách cả!

Nhân lúc ở Việt Nam đang bàn sửa hiến pháp, cũng xin trích ý kiến của Hà Tông Tư giải thích tại sao cần phân quyền: “Ràng buộc và hạn chế quyền hạn và hành vi của chính phủ, đó là nhiệm vụ chủ yếu của hiến pháp.” Ai đọc qua bản hiến pháp nước Mỹ thì thấy rõ ý Hà Tông Tư. Hầu hết các điều trong bản hiến pháp ngắn ngủi đó toàn là những giới hạn quyền hành của chính phủ liên bang. Đọc cuốn sách của Hà Tông Tư thấy ông cho là chính chế độ chuyên chế gây ra bao nhiêu điều đáng xấu hổ cho người Trung Hoa; thí dụ như tính ỷ lại, không có tinh thần trách nhiệm, nịnh trên nạt dưới, hèn yếu, nhu nhược, vân vân!

Hà Tông Tư trích lời triết gia người Anh John Stuart Mill: “Chế độ chuyên chế, xét từ bản chất, nó đã có khuynh hướng dùng chính sách ngu dân!” (Trong bản dịch đã viết nhầm tên triết gia Mill thành Miel, nhiều lần; mặc dù cuốn sách Bàn về Tự Do của J.S. Mill đã được dịch và in ở Việt Nam). Ở trang 703, Hà Tông Tư còn bình luận: “Chính sách ngu dân bao giờ cũng đi đôi với việc bế quan tỏa cảng, cấm tự do ngôn luận … cùng dựa vào nhau mà thành hình.” Mười trang sau, ông viết thêm: “Tội ác chuyên chế là tội ác lớn nhất trên thế gian! Hạn chế tự do ngôn luận là âm hiểm nhất, xảo trá nhất, bỉ ổi nhất, tàn nhẫn nhất trong các thủ đoạn chính trị!”

Nếu mấy ông bà trong Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam chịu khó đọc Hà Tông Tư thì trước hết họ sẽ thấy phải trả lại quyền tự do ngôn luận cho người dân, để ít nhất tránh khỏi những lời kết tội: “âm hiểm nhất, xảo trá nhất, bỉ ổi nhất, tàn nhẫn nhất;” và cái tội “ngu dân.” Trên hết, phải bắt đầu tôn trọng và thực hiện quy tắc phân quyền; đừng có nghe ông Nguyễn Phú Trọng.

Bao giờ đất nước có tự do thì người dân mới có hứng thú đọc sách. Như tác giả bài trên Vietnam Net viết về những Bill Gates và Steve Jobs thành công trong xã hội Mỹ: “… chỉ ở môi trường đó mới giúp những người có phát minh, sáng kiến có thể giàu có được. Họ chính là những người đang làm ra sản phẩm và hàng hóa hỗ trợ con người. Ở Việt Nam thì không thể có chuyện như vậy.”

Thực ra không thể nói có liên hệ nhân quả trực tiếp giữa trình độ kiến thức của dân chúng Mỹ với sự thành công của những nhà kinh doanh Bill Gates và Steve Jobs. Hai hiện tượng diễn ra song song; cả hai đều cùng do một nguyên nhân gây nên, là xã hội tự do. Khi các ngành báo chí, xuất bản được tự do thì dân chúng sẽ đọc sách nhiều hơn; khi các nhà kinh doanh được tự do thì những người có sáng kiến táo bạo dễ thành công lớn. Muốn bảo đảm xã hội được tự do thì phải tổ chức theo quy tắc phân quyền, mọi người Việt Nam phải nhắc nhở cho ông Nguyễn Phú Trọng điều đó để ông đọc thêm. Hy vọng ông sẽ hiểu ra rằng cưỡng lại không phân nhiệm ba quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp tức là cản trở sự tiến bộ kinh tế của cả dân tộc.


Trùng Dương - Ký sự bằng hình: ‘Rải rác biên cương mồ viễn xứ…’ *


Đi thăm trại tị nạn cũ ở Galang và mồ mả thuyền nhân ở đảo Kuku, Air Raya

Trùng Dương

Giữa tháng Năm 2012 vừa rồi tôi có dịp tháp tùng một phái đoàn của Hội Bảo Tồn Văn Hoá Và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt (Vietnamese American Heritage Foundation - VAHF) đi viếng một trong những nơi gọi là cửa ngõ tự do, đó là trại chuyển tiếp dành cho thuyền nhân xưa ở Galang trong quần đảo Riau thuộc Nam Dương, nay là một công viên dành cho khách du lịch vào thăm viếng, do cơ quan Batam Industrial Development Authority (BIDA) quản trị. Mục đích của chuyến đi của VAHF là để thu thập một số phim liệu cho cuốn phim tài liệu “Viet Story”, một phần của chương trình 500 lịch sử phỏng vấn mà các thiện nguyện viên đã hoàn tất phần phỏng vấn thu thập được 514 câu chuyện thu băng (oral histories) sau 15 tháng làm việc tại các thành phố tập trung nhiều người Việt tại Hoa Kỳ.

Chuyến đi của chúng tôi nằm trong khuôn khổ cuộc hành hương có tên là Về Bến Tự Do do cơ quan thiện nguyện Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (Archives of Vietnamese Boat People – AVBP), trụ sở đặt tại Úc, tổ chức, kéo dài từ ngày 15 đến 25 tháng Năm. Đây là chuyến hành hương thứ chín của AVBP, gồm hai phần, đó là viếng Galang và thăm mộ thuyền nhân tại đây và tại một số đảo khác ở về phía đông bắc, như Kuku và Air Raya, cách Batam 8 tiếng tầu siêu tốc, thuộc quốc gia Nam Dương; và sau đó thăm trại Bidong nằm trên lãnh thổ Mã Lai. Phái đòan VAHF chúng tôi chỉ đi Nam Dương, vì nghe nói Mã Lai hiện cấm quay phim.

Sau đây là một số hình ảnh về chuyến đi Về Bến Tự Do tại Galang và các hòn đảo có mồ mả thuyền nhân. Nhân đây, chị hội trưởng VAHF Triều Giang Nancy Bùi cũng xin ngỏ lời cám ơn AVBP, vị trưởng đoàn kiêm giám đốc là anh Trần Đông, và phó đoàn và nhà báo Lưu Dân, cũng như các thành viên và cũng là cựu thuyền nhân, với một người là bộ nhân, trong đoàn hành hương, đã sẵn sàng dành cho phái đòan VAHF các cuộc phỏng vấn thực hiện ngay tại Galang, với sự xúc động dường như còn nguyên vẹn nơi các anh chị cựu thuyền nhân về thăm lại chốn xưa.

Trại Việt Nam, Galang




Trại Việt Nam, chiếm 16 km2 tức khoảng 20% diện tích đảo Galang trong quần đảo Riau phía nam của Singapore, được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commission for Refugees – UNHCR) thành lập vào năm 1978 gồm có nhà thương, nơi thờ tự như nhà thờ chùa chiền, trường học và các khu gia cư. Trại mở cửa vào năm 1979 để tiếp nhận thuyền nhân trốn chạy chế độ cộng sản đi tìm tự do trôi giạt đến các đảo trong vùng biển Nam Dương, một quốc gia gồm 17,507 hòn đảo, vào cuối thập niên 1970 và suốt thập niên 1980. Cho tới khi đóng cửa vào năm 1996, trại Galang đã là nơi dừng chân của trên 120,000 thuyền nhân Việt (có tài liệu nói trên 200,000), nơi ra đời của khoảng 2,000 trẻ em, và là nơi yên nghỉ vĩnh viễn của 503 người. Đoàn chúng tôi gồm 12 người hẹn gặp nhau ở Singapore rồi đi phà qua Singapore Straits tới thành phố Batam, từ đó đi xe bus xuống Galang, cách Batam 34 cây số. Hình giữa, phái đòan VAHF bên dưới tấm bản đồ trại và bảng “Ex Camp Vietnam”. Hình bên phải, lối vào trại.


Cầu tầu của Galang, hình bên trái, nơi đã từng chứng kiến bao cảnh đưa tiễn với kẻ ở lại tự hỏi không biết đến khi nào mình mới được đi định cư và người đi náo nức về một tương lai chứa chan hy vọng. Ngày nay, cầu tầu này không còn giữ vai trò quan trọng như xưa nữa sau khi một hệ thống sáu cây cầu có tên là Barelang Bridge (Jembatan Barelang) đã được xây cất để nối Batam với các hòn đảo phía đông nam. Hình bên phải, phái đòan VAHF đang phỏng vấn anh phó đoàn ký giả Lưu Dân về đời sống trong trại, nơi anh đã trải qua chín tháng trong khi tình nguyện làm điều hợp viên với văn phòng UNHCR trước khi đi định cư tại Úc vào đầu năm 1984. Anh Lưu Dân là tác giả của bài tường thuật rất chi tiết, “Về Bến Tự Do Bidong-Galang, 18.03 – 25.03.2005”, đăng trên tập Kỷ Yếu do AVBP ấn hành.


Phái đoàn VAHF thu hình chiếc thuyền mang số TV4050TS xuất phát từ Trà Vinh vào năm 1982, mang theo 21 người trong số đó chỉ có năm người sống sót cuộc hải trình. Theo lời của anh Lưu Dân, cơ quan BIDA đã tính đem con thuyền về trùng tu để trưng ở Viện Bảo Tàng Galang, nhưng hai lần kéo thuyền giây thừng đều bị đứt, nên họ bỏ cuộc.


Phái đoàn hành hương Về Bến Tự Do 2012 chụp hình lưu niệm trước cổng chùa Quan Âm Tự, trái. Bên phải là bệnh viện do hội Hồng Thập Tự Nam Dương quản trị, nơi chào đời của khoảng 2,000 em bé và là nơi tẩm liệm 503 người đã bỏ mình tại Cửa Ngõ Tự Do, và mộ phần của họ tại Nghĩa trang Galang là chứng tích của một giai đoạn lịch sử về một hành trình đi tìm tự do bằng mọi giá không thể xoá bỏ.


Tượng Tình Nhân Loại (Statue of Humanity), trái, do thuyền nhân Nguyễn Văn Tuyên, Boat No. SS1716TA ID# 800022, tạc để tưởng niệm một nữ thuyền nhân tự sát sau khi bị hãm hiếp (theo http://refugeecamps.net/), đồng thời ghi nhớ Ngày Liên Hiệp Mồng 1 tháng Giêng, 1985 (như ghi trên bia). Cổng vào Nghĩa Trang Galang, phải, nơi an nghỉ ngàn thu của 503 thuyền nhân với một số em bé sinh ra trong trại nhưng yểu mệnh.


Phái đòan Về Bến Tự Do thắp hương cầu nguyện trước tấm bia mang những hàng chữ “Tưởng Niệm Đồng Bào Đã Tử Nạn Trên Đường Vượt Biển Tìm Tự Do” bằng tiếng Việt, Anh, Nam Dương và Trung Hoa.


Các thành viên trong phái đòan đi cắm hương nơi các mộ phần, trái. Phải, hai ngôi mộ của một cặp được mệnh danh là “Romeo & Juliette” của Galang. Theo lời kể thì cô Dương thị Ngọc Loan (10/10/1975 – 24/2/1993) và cậu Nguyễn Văn Phước (15/3/1974 – 24/2/1993) gặp và yêu nhau trong thời gian sống tại trại, nhưng gia đình cô Loan không bằng lòng. Khi Loan sắp cùng gia đình lên đường đi định cư, hai người yêu nhau quyết định cùng quyên sinh để không bị xa nhau.


Mỗi nấm mộ là cả một lịch sử. Trái, mộ của bé Dương Thái Bảo Chương, sinh ngày 26 tháng 10, 1982 và chết ngày 13 tháng 12 cùng năm. Thân nhân của em trồng một cây con trên đầu mộ em để tưởng nhớ. Chẳng dè 30 năm sau cây vươn cao chiếm luôn phần mộ, đẩy bia mộ ngả về phía trước, như thể (tôi không khỏi tưởng tượng) chính em Chương là cái cây nay đã 30 tuổi, vươn vai đứng dậy. Phải, anh Tèo (yêu cầu chỉ dùng tên cúng cơm vì lý do an ninh), nguyên là một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương năm 1994 và người duy nhất trong đoàn Về Bến Tự Do đến từ Việt Nam, đang chỉ vào những nấm mộ nhỏ mà anh nói không phải của các em bé như tôi nghĩ. Đó là những nấm mộ của những người tình nguyện tự sát để phản đối lệnh cưỡng bách hồi hương vào giữa thập niên 1990 vì không đủ điều kiện hưởng qui chế tị nạn chính trị. Theo bản tin Reuters ngày 25 tháng 4, 1994, khoảng 500 thuyền nhân tại Galang biểu tình phản đối luật cưỡng bách hồi hương và 79 trong số những người tuyệt thực đã được đưa vào nhà thương điều trị. Theo thống kê của UNHCR ("Flight from Indochina", 1997) thì có khoảng 81,000 trong tổng số khoảng 840,000 tị nạn Việt tại khắp các trại tị nạn trong vùng Đông Nam Á đã bị trả về Việt Nam. Tèo, năm ấy còn vị thành niên, cũng nằm trong thành phần bị hồi hương. Chính mắt anh đã chúng kiến hai cảnh tự sát phản đối, một bằng mổ bụng và một bằng hỏa thiêu. Với Tèo, chuyến trở lại thăm Galang đi tìm lại một thời tuổi trẻ lang thang lạc lõng tràn đầy xúc động, đã hơn một lần anh không ngăn được nước mắt. Ngày cuối cùng ở Batam sau khi đi thăm các đảo nơi có các mộ phần thuyền nhân ngoài Galang, mọi người sẵn sàng rời Nam Dương để đáp tầu về Singapore, Tèo năn nỉ hai anh đoàn trưởng và phó cho phép Tèo mướn taxi trở lại Galang thêm một lần nữa và đã được hai anh đồng ý. Riêng anh đoàn phó Lưu Dân còn tình nguyện đi theo Tèo cho chắc ăn vì theo nguyên tắc đoàn không để đoàn viên đi đâu một mình. Cùng đi với hai người còn có một đoàn viên nhiếp ảnh gia đến từ Mỹ chắc còn tiếc vài tấm hình chưa kịp chụp. Họ dậy từ 4 giờ sáng, lấy taxi đi xuống Galang, và trở về vừa kịp chuyến phà về Singapore vào lúc 12 giờ trưa.


Trái, phái đoàn VAHF đang phỏng vấn chị Nguyễn thị Yến Hương, một dược sĩ đến từ Pháp. Ngoài tôi (người duy nhất trong đòan 12 người hành hương Về Bến Tự Do là đi tị nạn từ cuối tháng Tư, 1975, qua ngả Guam, và vì đi bằng phi cơ nên đuợc anh chị em trong đoàn gán cho nhãn hiệu… phi nhân), chị Hương cũng không phải là cựu thuyền nhân, mà là đi bộ qua ngả Lào khi mới 13 tuổi, nên được gọi là bộ nhân. Đây là chuyến Về Bến Tự Do thứ hai, gồm cả Galang và Bidong, của Hương. Chị cảm thấy gắn bó với lịch sử thuyền nhân một phần do kinh nghiệm tình cờ tìm ra được mộ phần của cậu em chồng chôn cất ở đảo Bidong, Mã Lai. Kể lại chuyện tình cờ tìm thấy mộ của em chồng trên Web site của AVBP, chị Hương không ngăn được nước mắt, phải ngưng lại nhiều phút chờ cho qua cơn xúc động. Cũng vậy là anh đoàn trưởng Trần Đông, phải, trong một giây xúc động khi kể lại một chuyến đi tìm mộ thuyền nhân trên các đảo rải rác trong vùng biển Nam Dương trong cuộc phỏng vấn dành cho VAHF.

Hội AVBP, Web site tại http://www.vnbp.org/, được thành lập từ năm 2004, nhằm tìm kiếm và trùng tu các mộ phần thuyền nhân, không phân biệt có tên hay vô danh, ở rải rác các nơi trong vùng Đông Nam Á, đồng thời ghi dấu lại các di tích thuyền nhân để các thế hệ sau biết mà tìm đến vì chính quyền Cộng Sản Việt Nam cố tình muốn xoá bỏ những di tích lịch sử này, để đồng thời bạch hoá tội lỗi của chế độ ngu muội hà khắc đã là nguyên do đẩy cả triệu người Việt ra biển đi tìm một đời sống có tự do và nhân phẩm. Các thuyền nhân không may này và phần mộ của họ chính là những chứng tích của một giai đọan lịch sử cần được duy trì và bảo vệ. Anh Đông, người đã vượt biển không-còn-đếm-được-bao-nhiêu-lần với bốn lần ở tù và hiện là một công chức chuyên về điện toán của chính phủ liên bang Úc, cho biết là AVBP hy vọng sẽ đúc kết thành quả hoạt động vào năm 2015, 10 năm tính từ chuyến Về Bến Tự Do đầu tiên vào năm 2005 qui tụ tới 150 người, trong đó có các vị lãnh đạo tôn giáo cùng tham gia để cầu nguyện và cầu siêu cho những người đã bỏ mình tức tưởi trên đường vượt biển đi tìm tự do.


Trại Việt Nam tại Galang đã được duy trì, mặc dù không được bảo trì lắm có lẽ vì thiếu ngân quỹ, như một di tích lịch sử, và đã từng tiếp nhiều du khách tới thăm trại. Hình trên bên trái, cư ngụ thường trực tại trại bây giờ là cộng đồng các chú khỉ thường tò mò kéo ra lộ xem du khách tới thăm trại. Hôm chúng tôi ghé thăm trại là ngày nghỉ lễ quốc gia của dân Nam Dương, nên thấy nhiều xe bus đưa du khách vào viếng trại, giữa. Phái đoàn Về Bến Tự Do chụp hình lưu niệm với vài du khách người Nam Dương đến từ Batam, trong khuôn viên nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm với phía sau là tượng Đức Mẹ (tôi nghĩ) Vượt Biển vì được dựng trong khoang thuyền tưởng niệm xây bằng xi măng, mang số VN.02.1985, có lẽ là ngày hoàn tất tượng đài.


Trong công viên Trại Việt Nam có một bảo tàng viện được thiết lập trong đó trưng bầy một số di vật và rất nhiều hình ảnh về sinh hoạt trong trại từ 1979 tới 2005 là năm AVBP hướng dẫn chuyến Về Bến Tự Do đầu tiên tới thăm trại. Tôi để ý cuốn sổ cho khách ký tên tại viện bảo tàng: chỉ trong mấy tháng đầu năm 2012 mà đã thấy số người ký tên chiếm tới gần nửa bề dầy của cuốn sổ, với nhiều tên Nam Dương. Tôi cũng ký tên mình vào đó, kèm theo lời cám ơn quốc gia Nam Dương đã duy trì trại cho các thế hệ sau có dịp chiêm nghiệm một chương sử đầy đau thương của những người đi tìm tự do bằng mọi giá, và cũng nói lên lòng nhân đạo, tình nhân loại của quốc gia nhận chứa họ trong giai đoạn chuyển tiếp.


Khung hình lôi kéo sự chú ý đặc biệt của các đoàn viên của chuyến Về Bến Tự Do là khung gồm những bức hình về các cuộc biểu tình chống cưỡng bách hồi hương vào giữa thập niên 1990, dưới tựa đề “Demonstrations of the Refugees to UNHCR, Demand the Appropriateness of Life”. Xem thôi không đủ, các bạn đồng hành của tôi còn giành nhau chụp hoặc thu hình lại những bức hình lịch sử trước cái nhìn có lẽ là ngạc nhiên của nhân viên an ninh đứng ở hậu cảnh trong hình bên trái.


Trái, một bức hình chụp lại bức ghi lại hình ảnh cuộc biểu tình của trên 500 thuyền nhân phản đối chương trình cưỡng bách hồi hương năm 1994. Theo lời của Tèo, một nhân chứng, thì nhóm người đeo băng trắng quanh đầu ngồi ở giữa là những người tình nguyện tự sát để phản đối lệnh cưỡng bách hồi hương. Không rõ có bao nhiêu người đã tự sát chết để phản đối lệnh cưỡng bách hồi hương. Phải, chị Nguyễn thị Yến Hương đến từ Pháp, trước tấm bảng gồm những hình căn cước của một số cư dân trong trại.


Hình trái và giữa là hai bức tranh do thuyền nhân vẽ -- tôi không tìm thấy tên hoạ sĩ, một phần cũng vì vội vì đang bị thúc hối rời trại để kịp chuyến tầu đi đến quần đảo Anambas ở phía đông bắc của Batam, nơi có một số mộ phần thuyền nhân nằm rải rác trên một số đảo. Hình bên trái là cảnh xác những chiếc thuyền đã được thuyền nhân dùng để vượt biển, được một hoạ sĩ thuyền nhân vẽ lại. Hình giữa là tranh vẽ cảnh các thuyền nhân hân hoan chào giã từ Galang để đi định cư. Hình bên phải là hình bìa của tập sách mỏng về Trại Việt Nam và các di tích và di vật hiện còn tại trại tôi mua được trong tiệm bán đồ lưu niệm tại Viện Bảo Tàng Galang với giá 30,000 rupiah, khoảng hơn 3 Mỹ kim. Tập sách 16 trang mang tựa đề “Museum Pulau Galang – Ex-Refugees Camp of Boat People on Galang Island - to be a historical witness of humanity” bằng tiếng Nam Dương và tiếng Anh. Phần tiếng Anh viết rất chuẩn và khéo ở chỗ người viết không đả động gì đến cụm từ “đi tìm tự do”, mà chỉ nhấn mạnh vào tình nhân loại, gọi đảo Galang là Đài Tưởng Niệm của Tình Nhân Loại (Monument of Humanity). Tuy vậy, theo chỗ tôi tìm hiểu thì sau vụ đập phá bảng Tưởng Niệm và Tri Ân trong trại năm 2006 do áp lực của Hànội, Nam Dương đã có những nỗ lực hàn gắn sự đổ vỡ đã trở thành có tính cách quốc tế này sau những phản ứng mãnh liệt của cộng đồng người Việt hải ngoại. Những nỗ lực này phản ảnh qua cuộc phỏng vấn của nhật báo Người Việt ở Westminster, California, với tác giả Boat People, Carina Hoàng, có tại Web link http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=130497&zoneid=3


Trái, trụ sở UNHCR đổ nát. Nơi đây đã chứng kiến cảnh tự sát của một số thuyền nhân nhằm phản đối lệnh cưỡng bách hồi hương. Phải, ngôi nhà nguyên là nơi cư trú của vị giám đốc người Nam Dương mà thuyền nhân vui miệng gọi là “chúa đảo”, có phần vụ quản trị trại.


Miếu Ba Cô dưới cây bồ đề lớn không xa trụ sở UNHCR là mấy. Theo lời kể của anh Lưu Dân và cũng được ghi lại tại Web site http://refugeecamps.net/, hai trong ba cô là hai chị em vượt biển bị hải tặc hãm hiếp nhiều lần. Đã vậy, khi tới đảo thay vì là thương cảm thì một số người đã nhìn họ bằng cặp mắt coi thường. Theo anh Lưu Dân thì giọt nước làm tràn cái ly là khi hai chị em bị buộc tội ăn cắp cái bóp của một bà thiện nguyện viên người Mỹ. Chịu không nổi nữa, hai chị em rủ nhau treo cổ tự sát. Cái bóp về sau kiếm lại được, do một người đàn ông ăn cắp thú tội. Cô thứ ba cũng cùng cảnh ngộ bị hải tặc hãm hiếp, quá tủi hổ nên tự sát về sau này. Người trong trại thương cảm lập miếu thờ. Chúng tôi tới thắp nhang, đốt vàng mã và cầu nguyện cho vong hồn các cô siêu thoát, an bình nơi mỉền vĩnh cửu.


Hình trái, lối vào nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Hình giữa bên trái là bên trong nhà thờ, một bên là tượng Đức Mẹ Maria với hàng chữ “Mẹ Nguồn Cảm Thông” và một bên là tượng Thánh Giuse với hàng chữ “Cha Niềm An Ủi”. Trong khuôn viên bên hông nhà thờ là một pho tượng Đức Mẹ mặc áo dài Việt Nam xanh da trời tay bồng Chúa Hài Đồng, có lẽ là do một thuyền nhân nghệ sĩ tạc. Cho chắc ăn, một pho tượng Đức Mẹ đứng trên quả địa cầu có hình bản đồ Việt Nam trên một con thuyền bằng xi măng mang số VN.02.1985 (có lẽ là thời gian tượng được hình thành) được dựng gần đó. Hình ảnh một người mẹ, qua Đức Mẹ Maria, chắc chắn đã là niềm an ủi vô biên đối với các thuyền nhân có đạo Thiên Chúa, cũng như Phật Bà Quan Âm (Ảnh Internet) đối với các thuyền nhân theo đạo Phật.


Hai hình trên là trại Galang xưa, trông rất ít cây cỏ. Sau 30 năm, phần lớn những nhà cửa đã không còn, và cây cối mọc xum xuê như rừng. (Ảnh tư liệu của Abdullan Gani)

Các mộ phần thuyền nhân ở đảo Letong


Sau 8 giờ ngồi tầu nhỏ siêu tốc, chúng tôi tới đảo Letong (cái hình bong bóng đỏ có chữ A trong hình của Google Maps bên trái) trong quần đảo Anambas, một hòn đảo nằm ở đông bắc của Singapore và khá gần với mũi Cà Mâu của Việt Nam ở hướng bắc. Tại Letong có một nghĩa trang trong đó có trên chục nấm mộ thuyền nhân. Theo người của phái đòan, thuyền của những người này giạt vào một hòn đảo nhỏ, hình giữa, đối diện với Letong, vào cuối thập niên 1970. Một bữa họ đi thuyền qua Letong để mua đồ, gặp bão, thuyền bị đắm và chết đuối. Dân đảo thấy họ gặp nạn nhưng đang lúc bão lớn nên đành bó tay. Xác họ được dân đảo vớt và mang chôn trên đồi, hình bên phải.


Ngay sau khi nhận phòng và nghỉ ngơi qua loa, chúng tôi mang nhang đèn vàng mã leo đồi tới viếng mộ thuyền nhân, các hình trên. Theo Carina Hoàng, tác giả Boat People, thì năm 2009 chị hướng dẫn thân nhân của những thuyền nhân này tới đây thuê người xây mộ đặt bia cho những người xấu số, do đấy mà mộ phần của thuyền nhân nơi đây trông khá mới và khang trang. Những thân nhân này tìm thấy mồ mả của thuyền nhân là nhờ chị Carina sau khi tìm thấy những ngôi mộ này đã chụp hình và đưa lên Web site của chị tại carinahoang.com. Cũng trong chuyến đi tìm mộ người em họ lần đầu tiên vào năm 1998, với sự giúp đỡ của một sĩ quan chỉ huy trong Hải Quân Nam Dương, chị Carina đã tới được đảo Kuku, nơi chị, hồi còn là một cô bé, là một trong khoảng 40,000 thuyền nhân đã tạm trú nơi đây. Trên 200 thuyền nhân bỏ xác lại đảo vì tình trạng sinh sống quá nghiệt ngã, bên cạnh sự đối xử tàn ác, gồm cả hãm hiếp, của một số quân nhân Nam Dương vô kỷ luật có phần vụ coi trại của những người mà họ coi là nhập cư bất hợp pháp.
Thăm mộ thuyền nhân trên đảo Kuku


Ngay sáng hôm sau khi đến đảo Letong, chúng tôi đáp thuyền nhỏ đi đảo Kuku cũng trong vùng quần đảo Anambas với Letong, hình bên trái. Giữa, phái đoàn Về Bến Tự Do chụp hình lưu niệm trước cổng dẫn vào trại tị nạn Kuku cũ. Tiếp chúng tôi tại đây có đại diện của cơ quan tư nhân Turism Anambas, anh Indra Syahputra trông  như một sinh viên và có trang bị một cái tablet, loại giống như iPad, và một số nhân công đi theo để giúp dọn dẹp mộ phần, ghi và đánh dấu các ngôi mộ mới tìm được. Phải, đường lên nghĩa trang nơi có vài chục nấm mộ khá cheo leo và đầy cây cối, không được quang đãng như trong một bức ảnh chụp cũng quãng đường này của chị Carina (không đề ngày) cung cấp cho nhật báo Người Việt cách đây một năm. Indra sau đó có tháp tùng phái đòan chúng tôi qua cả đảo Air Raya gần đó, và cho biết, theo sự ghi nhận của anh, hai đảo này chứa 275 mộ phần, kể cả 96 mộ mới tìm được.

Phái đòan thắp nhang, đốt vàng mã, cầu nguyện rồi đi các mộ cắm hương mong sưởi ấm phần nào người quá cố nằm rải rác biên cương mồ viễn xứ (thơ Quang Dũng), trong khi Triều Giang của VAHF ghi chép cho một bài tường thuật chuyến đi thăm mộ phần thuyền nhân, hình bên phải. Cũng trong hình này, trên nấm mộ ở góc tay mặt là một tấm bia có chữ VBP, tắt của Vietnamese Boat People, là tấm bia anh Trần Đông đang đặt làm để đặt lên tất cả những ngôi mộ thuyền nhân, đặc biệt những ngôi mộ vô danh.


Vì một sân bay trực thăng được thành lập ngay sát các mộ phần thuyền nhân trên đồi, nên về sau nghĩa trang trên đảo Kuku được rời xuống phía dưới. Bên trên là hình những mộ phần còn lại trên đảo Kuku, kể cả mộ cũ vừa mới tìm ra hôm chúng tôi tới viếng.


Đài tưởng niệm thuyền nhân trên bờ biển Kuku do chính quyền địa phương xây. Bên trong con thuyền bằng xi-măng có một số tên thuyền nhân đã bỏ mình được ghi lại bằng sơn mầu đỏ. Con thuyền tưởng niệm mang số VT.075, số của con thuyền đã chở Carina Hoàng vượt biển năm xưa được mượn để khắc vào con thuyền xây làm đài tưởng niệm, chị cho biết trong một cuộc phỏng vấn giữa năm ngoái với nhật báo Người Việt ở Nam California. Chị Carina cho biết chính quyền địa phương cũng dự tính xây một đài kỷ niệm thuyền nhân trên đảo Air Raya nữa.

Mồ mả thuyền nhân trên đảo Air Raya




Bên trên là một số hình ảnh của các mộ phần thuyền nhân trên đảo Air Raya, không xa Kuku bao nhiêu, nằm giữa khu rừng nhiệt đới trên đảo. Chúng tôi vào đốt hương, vàng mã và cầu nguyện đúng lúc trời đổ cơn mưa rào, tuy vậy ai cũng vẫn mồ hôi nhễ nhại. Sau đó chúng tôi mỗi người được một trái dừa to “hơn chị Thái”, một người trong đoàn nói đùa khi thấy tôi bưng húp trái dừa vừa to vừa nặng, do các anh nhân công leo lên hái xuống cho.

Những nấm mộ không tên trên đảo KeramutRời Letong, chúng tôi lên thuyền đi Terempa, một hòn đảo cỡ trung trong quần đảo Anambas. Dọc đường, chúng tôi ghé đảo Keramut, nơi có hai nấm mộ do người dân đảo còn nhớ được đã mách cho. Vào khoảng cuối thập niên 1970, rất nhiều thuyền tị nạn giạt vào vùng biển nhiều đảo nhỏ và đá ngầm này. Kết quả là dân địa phương đã bắt gặp nhiều xác thuyền nhân bị sóng đánh giạt vào bờ. Họ đem những xác đó lên chôn cất, may mắn thì người chôn nhớ hay được truyền khẩu về nơi chôn với đôi phiến đá dùng để đánh dấu chỗ chôn nạn nhân. Đó là trường hợp của hai nấm mộ vô danh trong vườn dừa phía sau một làng đánh cá trên đảo Keramut. Theo anh Lưu Dân, có thể đằng sau ngọn đồi trên đảo còn nhiều nấm mộ như thế này, vì theo thống kê của UNHCR, hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng trên đường đi tìm tự do từ năm 1975 tới cuối thập niên 1980.


Chúng tôi lặn lội tới thắp hương, đốt vàng mã, khấn vái cầu nguyện cho người xấu số.


Hình trên, trái và giữa, các đoàn viên cầu nguyện cho các thuyền nhân không may. Hình bên phải, anh Lưu Dân, một người nhớ rất nhiều thơ và ca dao, đang cầm chai nước giả làm rượu rưới xuống hai mộ phần thuyền nhân, miệng đọc mấy câu thơ của Tô Thùy Yên (bài “Ta Về”) khiến tôi chợt nghe rưng rưng: Ta về như lá rơi về cội / Bếp lửa nhân quần ấm tối nay / Một chén rượu nồng xin rưới xuống / Giải oan cho cuộc bể dâu này.

Thêm những nấm mộ không tên trên đồi Terempa


Tới Terempa, chúng tôi lấy phòng trọ xong rủ nhau đi thăm hai ngôi mộ thuyền nhân vô danh trên một ngọn đồi. Theo các anh AVBP thì một vị mục sư người Nam Dương tìm thấy hai xác thuyền nhân bèn đưa lên chôn ở triền đồi trong phần đất thuộc quyền sở hữu của ông. Trước khi mất ông để lại di chúc dặn con cái không bán miếng đất đó. Người con khi nghe có phái đoàn AVBP đi tìm mồ mả các thuyền nhân bèn liên lạc và hướng dẫn họ tới hai phần mộ này. Anh Trần Đông cho biết sẽ cho xây lại những mộ phần ở đây cũng như tại những nơi chúng tôi đã tới viếng, với mỗi mộ phần sẽ mang một tấm bia trên đề VBP, tắt của Vietnamese Boat People.

Về Bến Tự Do không chỉ là những mộ phần…


Chuyến đi thăm trại Galang và mộ thuyền nhân ở các đảo Kuku, Air Raya và Terempa không hẳn chỉ có vậy. Chúng tôi cũng được đôi ba ngày xen kẽ nghỉ ngơi đi thăm thú một số đảo và bãi biển nổi tiếng của Nam Dương -- quốc gia của những quần đảo và những người dân hiền hoà, chân thật, một đặc tính của người dân hải đảo. Trên, từ trái, bãi biển Letong cát trắng mịn, nước trong và sạch. Giữa, biển Water of God nổi tiếng là nước trong như pha lê, mầu ngọc lam biếc nhìn như muốn bị hút hồn. Và bên phải, hòn đảo Temawan nhỏ tí xíu, đi dăm phút đã về chốn cũ (Thơ Vũ Hữu Định, bài “Còn Chút Gì Để Nhớ”). Tôi chợt để ý là hòn đảo không có một gốc cây dừa mặc dù không thiếu những cây lá xum xuê khác, khác với những hòn đảo khác mà chúng tôi đã ghé qua hay trông thấy và nhìn đâu cũng thấy dừa. Tình cờ trong lúc đi vòng quanh đảo tôi tìm thấy một quả dừa khô đã trổ mầm có lẽ trôi giạt tới đây từ một hòn đảo nào đó, hình bên phải, nên đem về nhờ một anh trong đoàn trồng, để tưởng niệm các thuyền nhân đã qua đời và xác chôn đâu đó tại những hòn đảo trong vùng.

Nếu sau này có dịp nào bạn ghé đảo Temawan, Nam Dương mà thấy cây dừa duy nhất mọc ngạo nghễ trên đó, đó là cây dừa tưởng niệm thuyền nhân của chúng tôi trồng ngày 22 tháng 5, 2012 đấy, nghe.

[TD, 05/2012]

(*) Thơ Quang Dũng, bài “Tây Tiến”.