Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Trangđài Glassey-Trầnguyễn - những mùa Xuân xuyên niên



Trangđài Glassey-Trầnguyễn
* viết riêng cho mùa Xuân đầu tiên của Cưng & Cưng *



Bài này được trích từ Tuyển tập thơ MÙA YÊU CON Thứ Nhất của tác giả. PiVA Poets in VietnAmerica xuất bản, ấn phí $10, bưu phí $3. Liên lạc: 7791 Santa Catalina, Stanton CA 90680, 714 204 8340, vietamproj@gmail.com, www.trangdai.net.

Kết mầm cuối hạ
Khai dạ xuyên thu
Đông ấm duyên cù (*)
Đầu xuân nở nhụy
                                                (*) Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!



ươm mầm Xuân

Không phải lúc nào người ta cũng có thể biết chính xác khi nào một hạt giống bắt đầu ươm mầm, cho dù với bao khám phá và phát minh trong khoa học kỹ thuật hiện đại. Có một loại mầm không chỉ ươm từ một hạt giống, mà từ hai mầm phôi kết hợp với nhau để trở nên một mầm sống thật sự.

Nếu xuân-hạ-thu-đông là việc tự nhiên của đất trời, thì việc gì phải mất công đi ‘ươm mầm Xuân’? Và ‘ươm mầm Xuân’ có phải là một điều khả thi không?

Có nhiều mùa Xuân khác nhau. Có mùa Xuân hữu hạn của một đời người. Có mùa Xuân viên mãn của đất trời. Có mùa Xuân thanh tân của mỗi chu kỳ càn khôn vận chuyển. Có mùa Xuân vô tận của tư duy. Có mùa Xuân đa dạng của sáng tạo.

Người phụ nữ, nhất là những phụ nữ đang yêu và đang xây dựng một mái ấm, sẽ đi vào một mùa Xuân nhiều nghĩa khi mở cung lòng mình đón nhận ‘nửa kia’ của mầm Xuân. Mầm Xuân đó chính là hợp tử, cho phép người phụ nữ dự phần vào công trình duy trì nhân loại, tiếp nối giống nòi.

‘dưỡng’ Xuân

Sách vở có thể nhiều, kim chỉ nam có thể lắm, nhưng mỗi quá trình kiến tạo một mùa Xuân là một lộ trình dị biệt, cho dù có một vài điểm chung nào đó. Trong thế giới hôm nay, khi chúng ta đi vào chi tiết của những lộ trình Xuân từ những văn hóa khác nhau, chúng ta mới thấy rằng, tư duy và nếp sống của nhân loại quả thật hết sức phong phú.

Dưỡng Xuân không nhất thiết phải bắt đầu sau khi kết mầm, mà cả một năm trước, nhất là qua việc người phụ nữ uống các vitamins dưỡng thai, và tẩm bổ để cơ thể sẵn sàng và mạnh mẽ để nuôi mầm. Mà cũng không chỉ một năm trước. Tôi thường nói đùa (nhưng muốn thật) là các đức lang quân không cần phải chờ đến khi vợ có mang mới bắt đầu chăm chút đặc biệt cho vợ.

Thật ra, tôi tin rằng việc ‘dọn đất’ cho một mầm Xuân là công trình của hàng bao thế hệ. Đó là vì, dòng sữa mẹ chảy từ đời này qua đời kia, để mầm thai hôm nay không là kết quả của chỉ tinh trùng của cha và trứng của mẹ, mà là kết tinh của huyết mạch cộng thông. Mà mầm thai ấy, từ bao đời, đã được nuôi dưỡng qua tình thương, hồn đất, khí trời, trong huyết quản văn hóa, giữa suối nguồn lịch sử, xuyên suốt tâm mạch cội nguồn.

chờ Xuân

Mùa Xuân thường niên đến rồi đi, dù có khi bị đông già lấn ép, tuy có lúc bị hạ sớm chen vào. Mùa Xuân đất trời là một quy luật bất biến. Trong tình trạng toàn cầu bị hâm nóng, không biết có bao giờ mùa Xuân bị ‘tuyệt chủng’ không? Nếu có đi nữa, thì chắc cũng là chuyện xa xôi lắm đối với thời đại hiện nay.

Mùa Xuân trong cung lòng người phụ nữ có khi không kịp nẩy mầm. Đó là những mầm phôi, vì lý do này hay khác, đã không kịp nếm trọn cái hạnh làm thai nhi. Xin gửi một vành tang đến những mùa Xuân yểu mệnh này, và lời chia buồn đến quý thân mẫu.

May thay, phần lớn các mầm Xuân đều nẩy mầm, đâm chồi, và phát triển. Người mẹ và người cha chờ Xuân, tíu tít mỗi ngày, tâng tiu từng chút. Tuy mầm Xuân một mình một cõi ở bên trong tử cung, đang hình thành dung mạo, chưa chịu tỏ dung nhan, nhưng ở bên ngoài, cả một trời vui đang đợi chờ ngày giao ngộ.

Đôi khi tôi hay thắc mắc, không biết ‘bên trong ấy,’ mầm Xuân đang nghĩ gì? Đang làm gì? Có chịu theo mẹ đi học, đi làm mỗi khi mẹ rũ không, hay một mình tự chơi kéo co, cút bắt, và bao nhiêu trò khác mà chỉ một mình nó biết?

Hình ảnh siêu âm lúc nào cũng mờ mờ tỏ tỏ. Và điều duy nhất mà mầm Xuân ‘nói’ với cha mẹ đang tò mò háo hức bên ngoài là một nhịp điệu chắc nịch, đều đặn: thịch, thịch, thịch. Nhịp tim của thai nhi, rõ như tiếng cồng tiếng trống. Làm trống lòng cha mẹ càng rộn ràng hơn mỗi lần được gặp con qua màn ảnh và máy nghe, cho đến ngày mãn nguyệt khai hoa.

Xuân bốn mùa

Người ta thường nói rằng mùa Xuân không có tuổi, vì Xuân lúc nào cũng mang đến cho nhân loại một sức sống mới, một khởi nguyên mới. Mùa Xuân mà tôi nói đến trong bài này có thể đến bất cứ lúc nào, và chắc chắn là sự khởi đầu đầy hân hoan đối với nhiều người trong dòng tộc.

Trong bài thơ ngỏ, mầm Xuân kết hạt vào cuối hạ, rồi dần dần đi vào cung lòng mẫu từ trong suốt mùa thu. Khi đông sang, mầm Xuân bén hiểu duyên cù – cù lao chín chữ – và nhờ đó, được ấm áp trong tiết giá. Và bừng nở khi trời đất giao mùa.

Bốn ‘mùa’ mà tôi diễn tả ở đây đi theo một chu kỳ bên trong, mà khoa sản phụ học thường chia thành 3 tam cá nguyệt và kinh nghiệm lâm bồn. Trong mỗi ba tháng này, thai nhi hình thành và phát triển song song với những thay đổi tận gốc rễ trong cơ thể người mẹ.

Đối với tôi, những thay đổi thể lý ấy không gột tả được cái tâm tình mẹ con mà có lẽ rất nhiều người phụ nữ đang mang thai cảm nhận. Mỗi nhân linh là một vũ trụ, nên không kinh nghiệm thai nghén nào giống nhau. Tương quan của thai nhi và người mẹ cũng thế – rất riêng tư và rất thiêng liêng, hết sức thể lý mà cũng vô vàn trừu tượng, như một đại dương mênh mông trập trùng.

Khi Xuân nở nhụy, thì mùa Xuân non nớt ấy đi vào bể đời, chầm chậm từ vành nôi, trong mái ấm, đến học đường, rồi đến môi trường xã hội rộng hơn. Sẽ có lúc Xuân làm thắt dạ, đau lòng. Sẽ có khi Xuân dâng sóng yêu thương, ngập tình tri ngộ, vị ân.

Mong rằng khi học làm mẹ, phụ nữ chúng ta sẽ rộng lòng đón Xuân mọi ngày mọi lúc, dù khi Xuân đắng cay, hay lúc Xuân ngọt ngào. Để Xuân, dù đã rời cung lòng thể lý, sẽ vẫn còn trong cung lòng tình thương và quỹ đạo vị tha của chúng ta. Vì cuộc đời không phải ngày nào cũng nắng ấm, và những cơn mưa lạnh vốn luôn hứa hẹn một vầng dương rạng ngời.

Kết mầm cuối hạ
Khai dạ xuyên thu
Đông ấm duyên cù
Đầu xuân nở nhụy

Do đó, tôi xin mượn chính bài thơ ngỏ để kết bài viết này. Kính chúc quý chị em phụ nữ, dù ở giai đoạn nào của mùa Xuân đi nữa, cũng luôn tìm được những ‘tiết Xuân phơi phới, ánh Xuân nhẹ nhàng.’

Để trong cuộc đời chúng ta, dù có khi Xuân bôn ba hay Xuân bất như ý, chúng ta vẫn chọn để mình được sóng sánh ánh Xuân.

Viết giữa mùa ‘dưỡng’ Xuân

Võ Thị Điềm Đạm - CON GÁI THÀY GIÁO LÀNG ĐẠI NẪM


Võ Thị Điềm Đạm

Mến tặng chị em nhân ngày Mẹ

Lời người chị kể sau chuyến về thăm Việt Nam: "Má yếu lắm rồi nhưng đầu óc má vẫn còn nhanh nhẹn như xưa."  Chị dùng chữ "nhanh nhẹn" làm tôi vừa buồn cười vừa thấm thía cách dùng chữ của bà chị một thời nổi tiếng nàng thơ ở trường Sư Phạm Sài Gòn.  Không ai dùng chữ "nhanh nhẹn" để diễn tả khả năng làm việc của bộ óc con người.  Bà chị này đã từng nổi tiếng (chỉ trong gia đình thôi!) về tài dùng chữ vừa mỉa mai vừa thật lòng, vừa bóng vừa thực, vừa diễu vừa nghiêm... Mà ngay chính chị cũng không có dụng ý, đến chừng thấy chị em cười nghiêng ngữa, chị mới vỡ lẽ... chị này hơi chậm tiêu!



         Chữ "nhanh nhẹn" trong trường hợp này rất thích hợp.  Má chúng tôi.  Chúng tôi đã từng đi từ ngạc nhiên đến giật mình vì cách suy diễn nhanh chóng, cách làm bài toán cộng trừ nhân chia trong đầu thật nhanh và chính xác của một người đàn bà chỉ học hết bằng sơ lược tại gia.  Bà Tư Bê, vợ ông chồng thông thái, má của lũ con bảy đứa, lũ con thường tự hào mình là cây toán trong lớp dù trai hay gái, đã từng cho chúng tôi đo ván về tài tính nhẩm.

         Là con gái lớn của một thày giáo làng Đại Nẫm, Phan Thiết, người thày dạy chữ quốc ngữ đầu tiên của làng.  Sau cậu Ba là má tôi, thứ Tư, tên Bê, dì Năm tên Xê và tiếp theo đó... hai dì út lại có tên thật mỹ miều so với những người nhà quê thời đó: Xuân Lan và Thu Cúc (Làn thu thủy, nét thanh sơn, Xuân Lan Thu Cúc mặn mà cả hai).  Người con cả của ông bà ngoại đã mất từ nhỏ, không thờ cúng gì cả và cũng là đề tài cho chúng tôi tò mò bàn cãi:
         - Không biết mình có cậu Hai hay dì Hai ha.

         - Chị không logic chút nào hết.

         - Hả?

         - Tui chắc chắn là dì Hai.

         - Ngon há, mi hỏi bà ngoại hả?

         - Cần gì hỏi.  Ông ngoại là thày giáo dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở làng.  Để làm gương, ông ngoại đặt tên cho ba người con gái đầu lòng là A, Bê. Xê.  Suy diễn ngắn đường cũng hiểu là mình có dì Hai và chắc chắn tên A chứ không phải cậu Hai.

         - Thông minh!  Có nghĩa là ông ngoại còn làm một cuộc cách mạng nhằm nâng cao kiến thức phụ nữ nước nhà.  Đặt tên ba người con gái là A,B,C là có dụng ý chứ đâu phải ông ngoại quê mùa, nghĩ sao thì đặt tên cho con như vậy.

         - Quê mùa sao được.  Các cậu đều mang tên ngon lành, ai cũng Nguyễn Chánh...  

         - Má biết đọc biết viết là ngon hơn đa số phụ nữ thời đó.

         - Má còn biết làm thơ nữa chớ bộ.

         - Không những biết làm thơ mà còn thuộc nhiều thơ nữa.

         - Ông ngoại ngâm thơ, đọc thơ cả ngày, không muốn cũng thâm vô từ từ.  Tụi mình còn được thâm, huống hồ chi má.

         - Mê hát bộ, mê cải lương, mê phim  Ấn Độ, mê phim tình cảm Tàu.

         - Có mộng cải tổ xã hội.

         - Nếu mùa lúa năm đó ở Dinh Điền không bị "mấy ổng" tịch thu thì má đã thực hiện được lý tưởng nâng cao kiến thức cho đồng bào thiểu số ở một buôn Thượng.  Má dự định sau mùa lúa là má sẽ cho xây một trường học rồi vận động ông quận trưởng quận Tánh Linh bổ giáo viên về dạy học cho người Thượng.
         - Ưa thương vay, mang cực nhọc về nhà cho con cái.  Có nhớ chuyện thằng Minh Teo không?

         - Ừ, thấy con người ta èo uột, tám tuổi mà nhỏ như đứa trẻ lên bốn, cả ngày không nói một tiếng, má quyết định đem về nuôi một thời gian, bắt tụi mình đút cơm, chuyện trò với nó, chơi với nó, đi chơi đâu cũng phải dắt nó theo....

         - Coi vậy mà cũng có kết quả chớ bộ.  Má sư phạm lắm, cho con nít chơi với con nít thì con nít mới phát triển bình thường.  Nửa năm sau là nó chạy giỡn có thua gì tụi mình đâu, còn la to hơn nữa chớ.  Chừng ba má nó xin nó về, nó khóc, nó la...  Vậy mà bây giờ học lớp đệ thất trường Phan Bội Châu, ngon lành như ai chứ bộ.

         - Nhớ cái áo ấm màu nâu đẹp thiệt đẹp dì Bảy tỉ mỉ đan cho tui trước khi dì theo dượng Đệ đi tập kết không?

         - Ờ, bữa tối đó tui cũng run gần chết.  Đang đi, bả ngồi bệt trước nhà mình, máu me tùm lum.  May mà có má ở nhà.  Má đem vô nhà, cắt nhao, tắm rửa, cho em bé bú sữa, rồi lấy cái áo ấm kỷ niệm của dì Bảy, bọc thằng nhỏ, cho nó luôn cái áo.

         - Cái áo ấm đẹp thiệt là đẹp.

         - Đến giờ mi còn tiếc sao?

         - Tui có tiếc bao giờ đâu, tui phục má lanh trí cứu người, thương người.

- Má còn bao bọc nuôi dưỡng bà Hai Mù vì bà không có con cháu, cho đến khi bà chết.

- Tui là chuyên viên tiếp tế gạo, nước mắm, than củi ... cho bà Hai Mù đây chớ ai.

-  Có máu làm cách mạng.

- Tại mê ba, ba bỏ về thành, làm má phải theo, nhưng trong bụng còn ấm ức lắm, kể chuyện trong chiến khu hoài.

- Bởi vậy mới bị "mấy ổng" lừa cho một trận, thâu mua hết trơn mùa gặt năm đầu ở dinh điền Tánh Linh  rồi chỉ trả bằng tờ giấy chứng nhận. 

- Bao nhiêu vốn liếng tiêu tan, nợ nần chất đống.  Tụi mình cũng lao đao nghiêng ngửa theo.  Có khi nhà ăn cơm với cá nục kho và canh bí rợ suốt mùa, ngán tận cổ. 

- Nếu không vì ba chị là má đi tập kết hồi năm năm mươi tư mất tiêu rồi.

- Thì tui được bú sữa Gi-Gô

- Ở đó mà bú sữa Gi-Gô.  Bú nước cháo pha đường cho lớn không nổi luôn.  Một mình ba làm sao nuôi nổi ba đứa con thơ con dại.

- Thì đâu có thằng con trai đầu to lưng bự, tay chưn thòng lòng.

- Ba ém tài má.

- Hay là ba có khả năng dung hòa được cái máu làm cách mạng và máu nghệ sĩ của nhà ngoại trong má, biến thành máu kinh doanh, máu cầu tiến.

         - Lý thuyết này nghe sao mơ hồ, không có căn.

         - Má có máu kinh doanh nhưng không có máu bà nội trợ đảm đang như dì Năm, dì Bảy, dì Chín .

         - Quần áo chồng thì bỏ tiệm giặt ủi.

         - Nấu ăn cũng không điêu luyện.

         - Không biết thêu thùa đan may như mấy dì.

         - Cần gì làm bà nội trợ đảm đang.  Có người làm, có thì giờ dẫn con đi coi xi nê, đi coi cải lương... và có thì giờ làm thơ... bắt con cháu học thuộc.  Đứa nào thuộc một bài thì cho tiền.

         - Có thì giờ mê đánh bài tứ sắc nữa chớ.

         - Cũng lạ há!  Ba với má mỗi người một tánh, một đam mê, thế mà sống thiệt là thuận hòa.  Người thì cầu an sống đời công chức, chỉ biết vui thú với sách báo, bàn cờ.  Người thì xông xáo ngoài thương trường, không bao giờ chịu bằng lòng với công ăn chuyện làm đang có.  Lúc nào cũng tìm cách cải tiến, đổi mới.

         - Bởi vậy  nhịp sống kinh tế nhà mình lên dốc xuống dốc đều đều,  làm cuộc sống tụi mình cũng lao đao theo mà má là chủ chốt.

         - Nhưng có khi nào mi xin tiền mua sách, mua truyện, đóng tiền học thêm, đi xi nê... mà má không cho chưa?  Dầu cho nhà đang hồi thất bại.  Má chịu chơi ở chỗ đó.

         - Má còn có mộng cho con học cao nữa chớ.

         - Ba học cao hơn má nhưng không có mộng cao bằng má.  Đứa thì má muốn cho học dược sĩ để mở tiệm thuốc tây, đứa thì học bác sĩ để mở phòng mạch, đứa thì học làm giáo sư để mở trường học... bất kể gái hay trai. 

         - Má có ý định đầu tư vô lũ con mà.  Không biết ai sẽ đạt được ước nguyện cho má đây, không phải tui à nhen.

         - Tui thấy má tiến bộ lắm về phương diện nam nữ bình quyền. 

         - Cái này ta nghĩ má bị ảnh hưởng ông ngoại, ba mình.  Con gái nhà ngoại ai cũng được cho đi học đâu có thua gì con trai.

         - Ngoại trừ má vì má là con gái lớn, phải phụ bà ngoại buôn bán.

         - Còn chủ trương của ba là "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", dù trai hay gái đều phải có một nghề để tự nuôi thân, nhất là con gái, sẽ không bị lệ thuộc vào chồng.  Mình có bao giờ nghe ba hay má nói "con trai của mình...." lần nào đâu.

         - Bởi vậy ông Hoàng, con trai trưởng mà không được ưu tiên cái gì hết.  Nhóc Hưng nhà mình cũng đâu có được cưng chiều hơn ai.

         - Mà lạ lắm nghen.  Tui để ý thấy ba không bao giờ chở má đi dạo trên cái xe mô-bi-lếch cà bịch cà tang của ba há!

         - Không đi chung chớ nói chi đi dạo chung.

         - Vậy chớ mi có thấy vợ chồng bác Chỉnh, vợ chồng chú Sáu Sang, vợ chồng cô Ba, có ai đi chung nhau ra đường lần nào chưa?
         - Hi... hi... chắc thời đó còn mắc cỡ. 

         Má chúng tôi đại khái là như vậy đó, người đàn bà phong phú đa tài đa dạng, nhất là óc tổ chức và tài suy diễn, tính nhẩm.  Cái tài tính nhẩm thần khốc, đã từng cho lũ con giỏi toán, ông chồng thông thái đo ván.

           Công việc mua lúa từ xe này đến xe kia ("Xe" là đơn vị để chỉ số lượng lúa, chừng một trăm giạ thì phải, khoảng tám bao bố), trữ lúa ở nhà máy để xay gạo bán dần quanh năm, tính toán lời lãi để định giá lúa, giá gạo... thế mà bà không hề dùng bút giấy. 

         Đong lúa xong, nhà một nông dân ở Ngã Hai, bà bắt đầu tính cho nhà nông:
         - Một xe giá ba ngàn sáu, năm nay nhà chú được hai xe bốn chục giạ, vị chi là... ba ngàn sáu, ba ngàn sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu...

Trong khi anh con trai của chú thím nhà nông tìm giấy viết, chưa kịp ghi thì bà nói:
         - Tám ngàn sáu trăm bốn chục.  Chú thím mượn trước hai ngàn rưỡi, còn lại sáu ngàn một trăm bốn chục.
Chú thím nhà nông nhìn, chờ cậu con trai thông thái loay hoay tính, mười phút sau, gật đầu. 

         Mỗi tối, chị em chúng tôi thường quây quần ở nhà trong vì phòng này rộng, thoáng mát, đủ chỗ cho bộ ván ngựa, cái giường, cái bàn ăn, cái võng vải bố... cả chỗ giặt đồ và hồ nước.  Người nằm trên bộ ván gõ đọc truyện, người đu đưa chiếc võng hát vu vơ, người ngồi co rút chân ở góc gường đọc truyện hình, vài ba người chơi cờ cá ngựa... Ba ngồi dựa lưng ở cái ghế bố đọc báo, má ngồi bệt ra nền nhà xi măng soạn vá mấy cái bao bố để ngày mai xay gạo ở nhà máy lớn.  Chị Hai Cao đang bớt lửa nồi chè đậu xanh hột nấu với đường tán ở phía sau bếp.  Con Tư ngưng đọc truyện hình, nói trống không:
         - Lạ há, má với chị Ba cùng tuổi con rồng, cách đây mười hai năm, hồi má mới sanh chị ba, tuổi má gấp tuổi chị Ba hai mươi bốn lần.  Bây giờ mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp ba lần tuổi chị Ba.

         Chưa ai kịp nuốt trôi ý tưởng bất chợt khá rắc rối của con Tư thì má lên tiếng:
         - Mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp hai tuổi con Ba thôi.

         - Hở ?

         - Hả ?

         - Ờ há !
        Ba cười cười, tiếp chuyện:
         - Theo cái đà này, mười hai năm sau nữa, má mày bằng tuổi con Ba.

         - Ông nói sai bét.  Chừng đó tuổi tui gấp năm tuổi con của nó.

         - Trời ! ! ! 

         Và óc tổ chức thì cho đến nay tôi vẫn tự phụ là tháo vát những lúc gia đình có tiệc tùng, những lúc nhận chịu trách nhiệm tổ chức này nọ ở sở làm..., nhưng so với má tôi, trong thời buổi không có điện thoại, không tự lái xe, không có chuyện đặt hàng, bà có bảy đứa con, tôi chỉ có hai nhóc tì..., tôi thua xa Bà.  Cứ mỗi dịp Tết, đám giỗ ông nội bà nội là chúng tôi phải phục má, ba tôi cũng vậy.  Từ khi bà nội mất, ba tôi lãnh phần cúng giỗ.  Tiếng là ba tôi nhưng má tôi lãnh trọn bộ, hình như ba không đụng tới móng tay, chỉ tiếp trà các ông các bác từ Đại Nẫm xách dù xuống ăn giỗ nhà tôi và trong bụng bao giờ cũng chờ một gói xôi vị nếp than đặc biệt do má tôi nhét vô giỏ làm quà buổi chiều trước khi về.  Mỗi lần có giỗ, giỗ ông nội, giỗ bà nội là má tôi chuẩn bị một cách âm thầm đủ mọi thứ, nếp, rượu nếp, đậu, mượn người nuôi heo chia đôi từ sáu tháng trước, gà vịt mua về nuôi cho mập cả mười ngày.  Trước ngày cúng tiên, mấy người mối lúa của má tôi từ Ngã Hai, Phú Hội mang trái cây, rau cải, bông hoa... để từng rổ ở nhà sau, như má đã đặt từ lâu.  Tiệc giỗ năm nào, bà con nội ngoại từ Đại Nẫm, láng giềng hàng xóm làm đầy dãy bàn ngoài phòng khách, hai bộ ván và bàn ăn nhà sau.

         Còn Tết thì khỏi nói.  Mọi sự được chuẩn bị chu đáo, bánh tráng, nếp nổ, rượu nếp than, heo nuôi chia, gà vịt... rộn rịp từ giữa tháng chạp... cho tới những phong bì lì xì lớn nhỏ theo tuổi cũng đã được nằm sẵn trong túi áo má tôi trước ngày mồng một.  Quần áo mới cho chúng tôi cũng được đặt may cùng lúc, cất  trong tủ, từ tháng mười một.  Cúng giao thừa xong thì coi như chỉ việc ngã lưng ăn tết.  Bánh, mứt, cốm, măng kho, thịt kho, bánh tét, củ cải chua, củ kiệu chua, rượu nếp than, cơm rượu, cây mai, chậu cúc, chậu vạn thọ...  đâu ra đó, tươm tất cho đến mười giờ khuya đêm ba mươi bà mới yên tâm ngủ để chờ cúng giao thừa.  Không những sắp xếp từ trong ra ngoài cho cái gia đình với lũ con bảy đứa, cộng thêm vài đứa cháu,  má tôi còn  chu cấp cho nhà nội, nhà ngoại món này thứ kia để ăn Tết.  Ngay cả tiền cho ông ngoại đánh bài mấy ngày Tết, năm nào cứ đến trưa ba mươi là  má tôi  sai chị Ba đạp xe đem lên cho ông có mà vui chơi.

         Trước ngày khai trường mỗi năm chừng nửa tháng là tập vở đã được chất từng chồng cao trên bàn học chung.  Mỗi đứa hai bộ quần áo mới để đi học, một bộ để bận ở nhà đã được đặt may cùng lúc. 

           Mùa Tết Trung Thu thì dây sóng lá, hồ, giấy màu... một chiều nào đó được má bày trên bàn học, thế là cả tuần đó tụi tôi mặc sức mà trổ tài làm lồng đèn.  Năm nào má tôi cũng hợp tác với gia đình chú sáu Sang, bác Sắc để lũ con nít chúng tôi  gần  hai chục đứa cứ đến đêm Trung Thu sau khi đi diễn hành lồng đèn với trường ở vườn bông lớn,  tụ họp lại để được chia bánh kẹo và một màn văn nghệ bỏ túi do lũ nhỏ chúng tôi tự biên tự diễn với sự khuyết khích của người lớn đang ngồi uống trà ăn bánh trung thu, loại bánh đắt tiền nên chúng tôi mỗi đứa chỉ được một góc tư cái bánh. 

         Đó là những chuyện lớn.  Còn biết bao chuyện nhỏ hàng ngày trong gia đình mà má tôi, một người rất bận rộn ngoài thương trường, đều được má chuẩn bị đâu ra đó.  Không biết má tôi có hiểu thấu đáo chữ "tập thể" hay không nhưng mọi sinh hoạt gia đình tôi đều mang bóng dáng tập thể, có lẽ vì con đông, má tôi bận rộn mà lại rất chu đáo, nên phải làm chung được cái gì thì làm.  Ngay cả chuyện đánh đòn, tụi tui cũng bị ăn đòn tập thể, lũ con nhớ đời.  Nghĩa là một ngày đẹp trời nào đó, má kêu sáu đứa con lên nằm xếp hàng trên bộ ván gõ ngoài phòng khách, mặt úp xuống.  Má bắt đầu nhịp nhịp cái roi, với giọng thật bình tĩnh ngọt ngào, bà kể tội từng đứa, răn dạy kèm theo vài cái roi làm đứa nào đứa nấy nước mắt ròng ròng mà tai thì vễnh nghe lời kể tội hấp dẫn cho "nạn nhân" kế tiếp, ngay cả "nạn nhân" cũng không nhớ là mình bị tội gì.  Đánh đòn chung cho đỡ mất thì giờ và chắc cũng để nhắc nhở lũ con cái quyền lực của bà, vì công ăn việc làm, bà phải giao hết chuyện ăn học, giáo dục lũ con cho ba tôi.  Biết bao nhiêu chuyện.... Khả năng tổ chức của bà được thi thố từ ngày thường cho tới ngày giỗ, ngày Tết, lễ hội...


         Có một điều làm tôi bận tâm nhất khi tôi đã làm mẹ, biết chăm sóc cái gia đình nhỏ bé của tôi, là nhớ lại những lần ba dẫn chúng tôi đi chơi hoặc ở Đá Ông Địa, hoặc ở Rạng, không bao giờ có mặt má tôi.  Lúc đó chúng tôi coi đó là một điều tự nhiên. 

           Sáng chủ nhật đẹp trời nào đó, ba tuyên bố buổi nay cho mấy đứa nhỏ đi tắm biển ở Đá Ông Địa.  Thế là chúng tôi rộn rã thay cái quần phồng, hai chị lớn thì mặc thêm áo cánh ở trong.  Má tôi mướn xe lam từ lúc nào không biết, xịch xịch đậu trước nhà, chúng tôi dành nhau ngồi ngoài, không ai quan tâm là má có đi hay không.  Buổi trưa, tắm, chơi, rượt bắt cua bắt còng đã đời, chị Hao Cao dọn cơm vắt ăn với muối mè hay thịt ram mặn. 

         Món cơm vắt của má tôi lúc bấy giờ ngon không thể tưởng.  Món này bao giờ cũng tự tay bà làm.  Cơm gạo dẻo có trộn chút muối, một cái khăn trắng mỏng đủ ướt.  Bà trải khăn ra mâm, đổ cơm nóng lên khăn, cuốn nhanh lại, dằn, bóp chặt cho đến khi ổ cơm vắt tròn đều dài độ gang tay, đường kính độ sáu centimet.  Mỗi ổ bánh được gói chặt bằng lá chuối đã được hơ nhanh qua bếp nóng.  Đến chừng ăn thì cắt ra từng lát như bánh tét.  Đôi lúc, bà nổi hứng, bà vắt cho mỗi đứa con một vắt, gói riêng cho từng đứa.  Đó là lúc chúng tôi sung sướng nhất khi được chị Hai Cao đưa chia những ổ cơm vắt nho nhỏ xinh xinh, chỉ của riêng mình.

         Ăn ngon, tắm mát, đùa giỡn thỏa mãn nhưng không ai trong chúng tôi thắc mắc là:  Má đâu? Sao má không ra đây nghỉ ngơi như chị em mình, như ba?  Má không cần những ngày nghỉ ngơi sao?  Mặc dù mọi việc đều do bàn tay sắp xếp của má!  Âm Thầm!  Làm sao má chúng tôi có thì giờ tham gia vào những giây phút vui chơi của các con?  Cả ngày!  Nhưng mọi điều kiện để cuộc vui được toàn mỹ đã do má tôi chuẩn bị chu toàn.  "Lòng Mẹ" của bà là thế đó!  Một đề nghị của ba tôi dành cho lũ con là bà nhanh chóng chuẩn bị, hưởng ứng hết lòng... chỉ cần giúp lũ con học giỏi thêm, tẩm bổ đầy đủ hơn, vui chơi thoải mái hơn, phát triển toàn diện hơn là bà không ngại khó nhọc, không ngại tốn kém.

***

         Sau năm bảy mươi lăm, chỉ là một công chức nhỏ, ba chúng tôi không phải đi ở tù như những người khác, nhưng ông xin nghỉ việc, không muốn cộng tác với chính quyền mới.  Với ông chồng chán thời, với lũ con học hành bấp bênh, má chúng tôi một mình lèo lái nhịp sống gia đình trong cơn sóng gió chung của toàn miền Nam.  Mặc cho ông chồng mang nặng tư tưởng “phản động” tránh né chính quyền, tránh né hội họp.  Mặc cho lũ con bất bình ngấm ngầm chống đối, tưởng không thể đội trời chung với quan thày Cộng Sản.  Một mình má tôi bắt tay làm hòa với những hống hách theo thời của người hàng xóm bỗng chốc trở thành tổ trưởng, tổ phó.  Một mình bà thu xếp trả công cho hàng xóm đi làm thủy lợi thay lũ con sáu đứa.  Một mình chạy chọt cho thằng con trai út không bị đi nghĩa vụ qua Campuchia...

         Má chúng tôi âm thầm ôm nỗi buồn thế sự của ông chồng đã một mình về quê dùng bàn tay thư sinh biến ruộng hoang thành mảnh vườn làm căn bản cho lũ con tìm đến nương thân khi tình thế đi vào đường cùng.  Âm thầm cưu mang những ý tưởng phản động ngấm ngầm của lũ con trước bao bất bình.  Âm thầm tìm mọi phương cách chống đỡ, xoay trở, bao che để chồng mình, con mình không phải trực tiếp đối đầu với chính quyền mới.

         Sống với Cộng Sản, sống với bất bình, gây gổ với cấp trên, chống đối, cứng đầu,... chẳng làm được gì, chẳng dám có ước mơ vượt biên như mọi người vì lũ con hiểu rõ hoàn cảnh kinh tế gia đình.  Để rồi một cuối tuần, lũ con như thường lệ, về nhà để được tẩm bổ, bà tuyên bố:  "Má lo được một chỗ đi vượt biên, các con ai muốn đi trước?  Đi được một đứa là lần lượt đứa này lo cho đứa kế." 

         Chuyến đó không thành, nhưng ý tưởng vượt biên tìm đường thoát đã mở đầu cho chục chuyến về sau, bao nhiêu vốn liếng làm ăn của bà mất hết đợt này sang đợt khác.  Cuối cùng thì lũ con trốn thoát.  Lũ con ra đi, không một quay lưng nhìn lại để nhận mang theo hình ảnh má mình đứng dựa gốc cây me nhà ngoại, cố nhón chân nhìn theo bóng ba đứa con gái mất dần mất dần trên đường xuống bãi chiều hôm đó, mất và không bao giờ còn gặp được nữa.  Lũ con ra đi không một vấn vương về sự mất mát đớn đau mà ba má mình sẽ nhận chịu. 

         Bây giờ,  trong những lần quay quần bên nhau đốt lò hương cũ, nhìn lại những sinh hoạt trong cái tiểu gia đình của chính mình, chị em chúng tôi thường lắc đầu bái phục má chúng tôi, thắc mắc không hiểu làm sao bà có thể đảm đương nhiều chức vụ cùng một lúc:  Bộ trưởng bộ Kinh Tế, bộ trưởng bộ Ngoại Vụ, bộ trưởng bộ Nội Vụ, bộ trưởng bộ An Sinh, bộ trưởng bộ Y Tế, bộ trưởng bộ Xã Hội.... Ba tôi tiếng là thủ tướng nhưng chỉ được tài đề ứng, tài bàn... sau đó là má tôi lãnh hết, thu xếp hết, không cần bàn tới bàn lui, trong sự tin tưởng tuyệt đối của thủ tướng và toàn dân.  Hai cánh tay vươn những ngón thon dài của bà vẫn mãi mãi cố gắng thu xếp mọi ước muốn nhỏ lớn của lũ con đã thành gia thất, sống xa bà ngàn dặm, cho đến ngày hôm nay, mọi sự.  Thế mà chúng tôi, không ai thực hiện nổi, không ai cố gắng tận lòng để những ước mơ của bà được hoàn mỹ, không ai thành bác sĩ, dược sĩ, giáo sư để bà mở phòng mạch, tiệm thuốc tây, trường học. 

         Sống trong ngành giáo dục lâu năm, tôi mới nhìn nhận rằng má chúng tôi là một nhà giáo dục thật là thực tiễn, không cần tốt nghiệp một trường Sư Phạm nào, không cần nghiên cứu, không cần tham khảo một quyển sách nào.  Cùng với chồng, bà biết tạo đủ mọi điều kiện để lũ con được lớn lên trong không khí gia đình thuận hoà êm ấm, tuổi trẻ phát triển vững bền và tự tin, một nền tảng căn bản cho mọi đứa trẻ bất cứ giàu nghèo.

         Bà không giỏi đan thêu, bánh mứt, nhưng chúng tôi, bốn người con gái của bà khéo léo chuyện nội trợ không kém một người bạn nào.  Học nữ công ở trường, học lóm bạn bè, học qua dì Chín, chúng tôi muốn làm món bánh, đan cái áo, thêu cái khăn bàn, móc cái màn cửa, may cái áo kiểu mới... chỉ cần xin tiền là bà sốt sắng cho, không hỏi tới hỏi lui.  Tôi nhớ hồi năm học lớp chín, tôi mới học may trong những giờ nữ công với cô Nhan, tôi tìm lục trong tủ ra một sấp vải má tôi mua để dành may áo Tết.  Tôi loay hoay cắt may một cái áo bà ba cho má, vạt áo dỉnh ra ngoài, cổ áo chật phải sửa tới sửa lui thành rộng tênh... vậy mà bà mua thêm hai xấp vải nữa biểu tôi may cho bà.  Quả thật, đến cái áo thứ ba thì áo đẹp không thua gì đưa tiệm may.  Và tôi trở thành thợ may của gia đình, đồ bộ, áo dài, quần tây, pyjama... cỡ nào tôi cũng thử tài, xấu có, đẹp có, nhưng ai ai cũng thỏa mãn.  Kinh tế gia đình có xuống dốc đến độ nào đi nữa thì cái máy may hiệu Singer bao giờ cũng hiện diện trong gia đình chúng tôi.  Sau năm bảy mươi lăm, tình hình kinh tế cả nước xuống tận cùng, nhờ cái khéo léo may vá tự học và cái máy may Singer, có lần tôi dự định mở tiệm may kiếm sống qua ngày.  Cái khéo léo của chị em chúng tôi không do má dạy bảo nhưng do má tạo điều kiện tốt để phát huy và phát triển.

         Có một lần, tôi và người chị kế than với nhau:
- Bác Chỉnh gái ở nhà, tụi Minh Thảo, Minh Thu, có chuyện gì cũng hỏi ý má nó.  Bà Minh Thảo rả đám với bồ, bác Chỉnh gái dỗ dành.  Má mình đâu có thì giờ như vậy. 

- Còn Thím Sáu Sang thì đan thêu thiệt đẹp.  Ước gì mình cũng có một người mẹ khéo léo, thân mật lo cho con như vậy.

         Thật bất công với má tôi!  Chúng tôi không biết rằng thím Sáu Sang khéo léo đan thêu nhưng hai người con gái của thím chẳng quan tâm gì đến chuyện nữ công gia chánh, vua diện của phố Ba Mươi Căn.  Thím khéo nhưng thím không tạo điều kiện cho con cái học hỏi, tập tành.  Chúng tôi không quan tâm đến cảnh vợ chồng bác Chỉnh gây gổ nhau ngày này qua ngày kia đến nỗi tụi con bác phải qua chơi lì nhà tôi, không muốn về nhà.  Tụi nó đâu được má nó dẫn đi xi nê, đi coi cải lương. Đâu được má nó cho đi Sài Gòn chơi, lên dinh điền Tánh Linh nghỉ hè, lên Ma Lâm nghỉ hè,... hưởng những mùa hè tràn ngập tiếng cười trong tình thương gia đình, khi ở núi rừng Núi Ông Tánh Linh, khi ở miền biển ngọt  Hòa Đa. Đâu được má tìm đủ mọi cơ hội để lũ con có một tuổi thơ hoa mộng bình an... ngay cả những khi nền kinh tế gia đình đang xuống dốc trầm trọng.  Tôi tin là những người con của chú thím Chỉnh không ai học hành tới nơi tới chốn, người bỏ đi tu, người uống thuốc độc tự tử hụt, người thất tình bỏ nhà ra đi, vợ chồng đổ vỡ vì tuổi thơ của họ không được lót bằng hoa thơm, bằng sự bình an tâm tư.
  
         Như thế đó, hợp tâm với chồng, má tôi đã cho chúng tôi một tuổi thơ an bình, chúng tôi được nuôi dưỡng bằng tình thương chân thật và tận tụy.  Chúng tôi tin tưởng rằng tình thương chân thật và tận tụy chúng tôi được thừa hưởng đó, là một gia tài to lớn vô hình, vô giá, làm hành trang cho cuộc đời chúng tôi.  Những người con của Ông Bà đang cố gắng san sẻ cái diễm phúc đó với  cái gia đình nhỏ bé của mình để tuổi thơ của các con cũng được lót bằng hoa thơm.  Thật đúng như Sidney Harris đã nói: "Ngoài những lề lối, nề nếp sống ra, kỷ niệm đẹp (tốt) là những gì tốt nhất, ta có thể truyền đạt cho con cháu".  Và thành ngữ "đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn" cũng rất đúng trong nhịp sống gia đình chúng tôi.  Vợ chồng đâu cần phải có chung sở thích,  học vấn đâu cần phải ngang ngửa nhau... chỉ cần đồng tâm đồng lực, đi cùng hướng thì khó khăn nào cũng vượt qua được. 

Võ Thị Điềm Đạm



Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

Blogger Phan Than Hải
Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.

Nguyễn Thị Từ Huy 

Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải ‘bỏ qua’ nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi ...”

“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên ‘biển của mình’ và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân ‘vừa chạy thử đã hỏng’. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo ‘đương thời’ trở thành ‘hết thời’ chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”

Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.

Tưởng thế nhưng không phải thế.

Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng  thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng  –  “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.

Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày  tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã  “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”
Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?

Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám  “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”

Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:
“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.

Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”

 BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”

Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?

Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:

“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.

Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.

Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…

Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.

Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.

“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng

Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Cái xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.

- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.

- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.
Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.

- Ở Việt Nam không những có ‘dân oan’, mà còn có những ‘nhà báo oan’, ‘nhà thơ oan’, ‘nhà văn oan’, ‘luật sư oan’, ‘doanh nghiệp oan’ và ‘blogger oan’… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.

Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.

- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…

Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.

- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.

- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...

Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”

Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và  sống mãi với chúng ta.

Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”

Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.

Tưởng Năng Tiến