Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Đoàn Thanh Liêm - Đi thăm những vị cao niên ở Paris


Bài ghi nhanh của Đoàn Thanh Liêm

Trong tuần lễ vừa qua, tôi đã lần lượt đến thăm viếng được một số vị cao niên là người Việt cũng như người Pháp tại tư gia, cũng như tại cơ sở dành riêng cho người lớn tuổi. Cụ thể đó là Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, nguyên Gíam đốc Viện Pasteur Saigon trước năm 1975, Nhạc trưởng Lê Như Khôi nguyên Chỉ huy trưởng Ban Quân Nhạc Biệt khu Thủ đô Saigon và Nữ tu Colette Humbert thuộc Dòng Phan sinh Truyền giáo Paris (Franciscaines Missionnaires). Trong bài viết này, tôi xin lần lượt vắn tắt ghi lại những cuộc viếng thăm tại nơi quý vị đó cư ngụ tại Paris vào cuối tháng Năm 2012.


1 – Nhạc trưởng Lê Như Khôi tại Quận 14 Paris.
Ông Lê Như Khôi năm nay đã ngoài 90 tuổi, là em của Giáo sư Lê Ngọc Huỳnh và là anh của Giáo sư Lê Hữu Mục mà nhiều người trong thế hệ chúng tôi đều biết đến và mến mộ. Ông Khôi đã từng điều khiển Ban Quân nhạc trong nhiều năm và cũng lại có văn bằng Dược sĩ nữa. Từ 30 năm nay, ông bà Khôi đã qua định cư tại Paris và hiện đang sinh sống trong một trung tâm dành riêng cho người cao niên tọa lạc trên đường Alesia gần với khu Đại học xá (Cité Université) và Công viên Parc Montsouris trong Quận 14 Paris.

Vào ngày thứ Ba 22 tháng Năm, tôi đã tìm đến thăm viếng anh chị Khôi là chỗ thân thiết gắn bó với bà xã nhà tôi ngay từ ngày mới di cư vào Nam năm 1954. Vợ chồng tôi có nhiều kỷ niệm thân thương với anh chị, và cuộc gặp mặt này đã đem lại cho cả hai phía chúng tôi một niềm an ủi hạnh phúc chân thật chan hòa. Lý do là không những tôi đại diện cho má bày trẻ ở nhà, mà cũng là để đại diện cho chị Dược sĩ Lê Thị Hồng là em gái anh Khôi hiện cũng ở California – mà từ nhiều năm nay đã chưa có điều kiện đi đến thăm viếng người anh đã già nua tuổi tác của mình. Chị Hồng là bà xã của anh Trịnh Nhân Kính thẩm phán tại Tòa án Hành chánh Saigon, nhưng đã mất vì bệnh ung thư trên 10 năm nay.

Anh chị Khôi được Sở Xã hội bố trí sinh sống trong một Trung tâm y tế chỉ có chừng vài chục căn hộ với đày đủ tiện nghi phòng ngủ, phòng khách, nhà bếp nhà vệ sinh tương đối tươm tất. Mỗi ngày các bữa ăn được người cung cấp đem đến trao đến tận nhà, nhưng chị vẫn tìm cách nấu nướng thêm món ăn Việt Nam cho hợp với khẩu vị quen thuộc xưa nay của người Việt mình. Anh chị giữ tôi lại ăn cơm trưa để mà có dịp nếm “cơm của mairie cung ứng” (chính quyền thành phố). Dĩ nhiên là món ăn được nấu theo lối Tây, nên có nhiều chất béo nặng nề khó tiêu, chứ không được nhẹ nhàng dễ tiêu như món Việt với nhiều chất xơ do rau đậu và cá của gia đình. Vì bữa đó trong mấy giờ buổi sáng tôi đã lội bộ qua nhiều đường phố quen thuộc, nên tôi ăn vẫn ngon miệng như thường. Anh chị khen tôi là : “Coi chú vẫn còn phong độ thật đấy”.

Chị Khôi vẫn còn sử dụng computer thành thạo và tiếp tục làm rất nhiều bài thơ đủ thể lọai – có thể lên đến gần 2,000 bài, đôi khi có sự góp phần của anh nữa. Và ông nhạc trưởng lúc cao hứng còn phổ nhạc mấy bài thơ do chị sáng tác nữa. Thật là cặp uyên ương đã có đến trên 60 năm chung sống bên nhau - mà đến nay vào tuổi cửu thập rồi vẫn còn bền duyên văn nghệ lắm. Tuổi già của anh chị như vậy thật là hạnh phúc êm đềm và là một tấm gương tốt lành cho bọn đàn em như tôi noi theo.

2 – Bác sĩ Nguyễn Văn Ái ở tuổi cửu thập mà vẫn còn làm thơ.
Buổi trưa ngày 25/5, nhờ luật sư Lê Đình Thông chuyên chở mà tôi đã đến thăm được Bác sĩ Nguyễn Văn Ái là vị Chủ tịch tiên khởi của Phong trào Trí thức Công giáo Việt nam Pax Romana được chính thức thành lập từ năm 1961. Sau 1975, bác sĩ Ái phải đi “học tập cải tạo” mất mấy năm và từ năm 1983 đã qua định cư bên Pháp - theo diện bảo lãnh đặc biệt của chánh phủ Pháp vì ông đã từng giữ nhiệm vụ Giám đốc Viện Pasteur ở Việt Nam trong nhiều năm.

Năm nay đã ở tuổi 92, bác sĩ Ái vẫn còn phong độ lắm, gặp tôi ông vẫn cười nói sang sảng như ngày nào. Rồi chúng tôi cùng nhau ôn lại kỷ niệm về nhiều anh chị em của Pax Romana mà nay khá đông đã ra người thiên cổ. Cụ thể như Luật sư Nguyễn Văn Huyền mất ở Việt Nam cả trên 10 năm, Linh mục Nguyễn Huy Lịch cũng đã mất ở Pháp trên 10 năm, anh Bác sĩ Nguyễn Văn Thơ mất ở Texas đã 10 năm nay, anh Trần Quý Thái mất ở Pháp cũng 7 - 8 năm, anh Phó Bá Long mất ở Washington DC đã 3 năm rồi, anh Anh Tôn Trang mất ở Pháp cũng trên 2 năm, chị Nguyễn Thị Oanh mất ở Saigon cũng đến trên 2 năm nữa… Còn anh Lý Chánh Trung thì bị bệnh Alzheimer hiện vẫn ở Saigon, anh Nguyễn Văn Trung thì cũng bệnh nhiều ở Montréal Canada, anh Lâm Võ Hoàng thì gần đây đã đi tu Dòng Benedictin ở Việt Nam…

Tôi có biếu bác sĩ Ái cuốn “Chứng từ Kitô giáo” mà anh em chúng tôi ở California đã cho xuất bản từ 4 năm nay. Đổi lại anh Ái tặng cho tôi một tập thơ do anh sáng tác với bút danh là “Vân Uyên” dưới nhan đề là “Nghĩa Nợ Tình” gồm đến trên 80 bài thơ được sáng tác gần đây. Chị Ái cũng là bác sĩ, nhưng đã thất lộc từ nhiều năm nay, nên anh Ái hiện vẫn sống lẻ bóng thui thủi một mình. Mà nhờ có một niêm tin tôn giáo sâu sắc vững vàng, nên anh vẫn giữ được nếp sống an nhiên tự tại của một chuyên gia trí thức mà lại rất ngoan đạo. Tôi sẽ có dịp giới thiệu chi tiết hơn về tập thơ thuộc loại độc đáo hiếm có này trong một bài riêng biệt sau.
3 – Nữ tu Colette Humbert và Brigitte de la Bouillerie ở thị trấn Cachan.

Vào buổi chiều thứ Bảy 26/5, như đã hẹn tôi đến thăm chị Colette Humbert và chị Brigitte de la Bouillerie tại khu chung cư dành cho người cao niên có tên là Résidence du Moulin trong thị trấn Cachan khá gần với Bourg la Reine là nơi tôi cư ngụ tại nhà anh bạn Phạm Xuân Yêm. Colette cũng như Brigitte năm nay đều đã ở ngòai tuổi bát thập, có lương hưu trí nhưng vì thu nhập còn thấp, nên được chính quyền trợ cấp thêm để vẫn giữ được môt nếp sống tươm tất phải chăng (une vie décente) xứng đáng với những công dân lương thiện đã từng có những đóng góp đáng kể cho xã hội.

Colette và tôi quen biết nhau từ đầu năm 1969, lúc chị đến thăm các công trường tái thiết tại những khu vực bị tàn phá nặng nề hồi chiến cuộc Tết Mậu Thân năm 1968 trong các quận 6,7 và 8 Saigon. Rồi vào cuối năm 1970, tôi được mời qua Paris để tham gia vào việc thành lập Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc do giới Công giáo và Tin lành ở Âu châu cùng hợp tác chủ xướng (INODEP = Institut Óecuménique au service du Développement Des Peuples. Lúc đó thì Colette giữ một vai trò chủ yếu trong Ban Tổ chức Hội nghị gồm nhiều đại biểu đến từ các châu lục Á, Phi, Mỹ, Úc và Âu châu. Dịp này, tôi có dịp làm việc sát cánh với Colette và sau đó thì chúng tôi thường xuyên trao đổi thư từ với nhau. Nhưng sau 1975, thì chúng tôi mất liên lạc. Và chỉ đến năm 2012 này khi qua Paris, thì tôi mới tìm lại được tông tích của Colette mà hiện đã nghỉ hưu và sinh sống tại Trung tâm người Cao niên này.

Colette sống chung với chị bạn cùng lứa tuổi mà cũng cùng là một nữ tu Phan sinh, đó là chị Brigitte de la Bouillerie. Cả hai chị đều đã tham gia họat động trong những chương trình truyền giáo và phát triển xã hội tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Do đó mà các chị có tầm nhìn tòan cầu khá thông thóang. Trong gần hai giờ hàn huyên tâm sự, ba chị em chúng tôi đã có dịp trao đổi tin tức và kinh nghiệm của mỗi người đã trải nghiệm suốt trên 40 năm qua. Và chúng tôi lại càng cảm thấy gắn bó thân thiết với nhau hơn nữa - trong niềm xác tín về vai trò của người tín hữu Công giáo trong nhiệm vụ dấn thân phục vụ xã hội - với ưu tiên dành cho những anh chị em thuộc tầng lớp bị khinh chê chối bỏ hay bị đàn áp bóc lột tại bất cứ nơi nào trên thế giới.
Vì bài Ghi nhanh này đến đây đã dài rồi, tôi xin tạm chấm dứt ở đây và xin hẹn sẽ có dịp tường thuật chi tiết hơn về mối liên hệ thân thiết từ trên bốn chục năm qua của tôi với tập thể các nữ tu thuộc Dòng Phan Sinh Thừa sai tại Paris – mà đặc biệt là qua vị Nữ tu xuất chúng Marie Thérèse de Maleissye đã quá vãng (1916 – 2005) trong một bài khác.

Nói chung, thì qua mấy cuộc viếng thăm tại nơi cư ngụ của những vị cao niên vừa nói trên đây, tôi có được cảm nhận tương đối lạc qua phấn khởi về lối sống an nhiên tự tại của những người thời son trẻ vốn đã từng cống hiến hết mình cho nhân quần xã hội, thì nay khi về già vẫn giữ được sự quân bình về tâm lý và tâm linh trong cuộc sống thường nhật - bất kể tình trạng sức khỏe thể chất bị soi mòn suy kém do quá trình lão hóa “Sinh Lão Bệnh Tử” oan nghiệt - mà xét ra thì cũng thật là éo le ngặt nghèo cho con người trong cõi nhân sinh chúng ta vậy.

Bruxelles Belgium ngày 28 tháng Năm 2012
Đoàn Thanh Liêm 

Ngô Nhân Dụng - Hai câu chuyện phụ nữ Việt Nam


Ngô Nhân Dụng

Hai bản tin liên quan đến phụ nữ Việt Nam khiến mọi người phải xúc động. Tin ở Mỹ cho biết cô Diane Trần bị một quan tòa ở Texas kết án một ngày tù, sau khi cô đã bỏ học nhiều lần, một bản án khiến nhiều người phẫn nộ, không riêng gì người gốc Việt Nam. Nếu theo luật cưỡng bách giáo dục, một học sinh trung học 17 tuổi phạm lỗi nghỉ học thì phải truy tội cha mẹ. Không hiểu sao hệ thống pháp luật không dự trù và quan tòa không nghĩ tới điều đó? Cha mẹ cô đã ly dị và cả hai bỏ đi xa, nhưng tòa án có quyền truy nã họ, trước khi bắt tội cô gái nhỏ.

Diane Trần
Dư luận cả nước Mỹ phải cảm thương hình ảnh Diane Trần lau nước mắt khi được nhà báo phỏng vấn. Họ đã đã bầy tỏ lòng cảm phục đối với cô học sinh lớp 11 vốn đã được nhà trường công nhận thuộc hàng xuất sắc. Họ đã ký kiến nghị xin xóa bản án cho cô. Cô đã làm hai công việc để giúp anh em trong lúc thiếu cha mẹ. Cô nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình. Diane Trần là tấm gương cần mẫn, hy sinh, cho tất cả các bạn trẻ Việt Nam, ở trong nước hay ngoài nước học theo.

Bản tin thứ hai cũng khiến mọi người phải xúc động, kể chuyện về hai phụ nữ ở Cần Thơ đã cam chịu nhục nhã để phản đối cường quyền cướp đất. Bà Phạm Thị Lài và con gái là Hồ Nguyên Thủy, ngụ ở phường Hưng Thạnh Quận Cái Răng đã bị cướp đất trắng trợn, không có cách nào khác phải đến mảnh đất của mình ngăn cản việc công ty đầu tư đem máy móc đến san bằng đất. Hai người phụ nữ phải tự khỏa thân để cho thấy tình trạng cùng quẫn của họ, không có phương tiện nào chống cự với cường quyền.

Bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi nói: “Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối.” Khi chiếm đất này, công ty chủ đầu tư CIC 8 chỉ bồi thường cho gia đình bà 500,000 đồng một mét vuông. Hiện CIC 8 đang chào bán đất của bà Lài với giá hơn 5 triệu đồng một mét vuông. Bà cho biết: “Đất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. (Công ty) CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được (thảo luận giá cả theo thủ tục) thỏa thuận mua bán. Chính quyền Quận Cái Răng dùng lực lượng công an cưỡng chế đất giao cho CIC 8.”

Đảng Cộng sản hiện đang dùng nhiều phương pháp cướp của cải do người dân tạo ra. Các ngân hàng trả lãi suất rất thấp cho người ký thác, rồi cho các doanh nghiệp nhà nuớc vay mà không biết bao giờ trả được. Đó là một cách cướp tiền của dân cho các cán bộ cộng sản hưởng. Các xí nghiệp quốc doanh chiếm độc quyền không cho tư doanh cạnh tranh trong nhiều lãnh vực, khiến cho người tiêu thụ phải mua với giá cao hơn trong một thị trường có cạnh tranh. Đó cũng là một cách cướp tiền của dân nuôi các cán bộ bất tài. Đó là những phương pháp ăn cướp ẩn hình không phải ai cũng nhìn ra. Nhưng cướp đất của dân, bồi hoàn với giá rẻ mạt, rồi bán lại cho các chủ đầu tư, để các ông chủ này khai thác với giá trị cao gấp hàng chục, hàng trăm lần, đó là phương pháp ăn cướp trắng trợn và dễ thấy nhất. Các nạn nhân bị cướp phải nhìn ra sự thật này mà chống lại.

Nỗi uất ức của những nông dân bị cướp đất đang bùng lên, biến thành hành động. Ông Đoàn Văn Vươn chống bọn cướp đất, đã dùng đến chất nổ để phản đối. Nhân dân ở Văn Giang, Dương Nội đang tiếp tục biểu tình phản đối chính sách cướp đất trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Ông chồng bà Lài không dám dùng vũ khí, đã tìm cách tự tử để bầy tỏ thái độ. Hai mẹ con bà Lài không có cách nào khác là phản đối bằng cách tự mình chịu nhục.

Một phụ nữ bất đắc dĩ phải khỏa thân trước công chúng là một điều ai cũng thấy đáng hổ thẹn. Hai mẹ con bà Lài, cô Thủy đã nói họ “chịu nhục để phản đối.” Nhưng tất cả mọi người Việt Nam đọc bản tin này phải tự hỏi: Ai là những kẻ đáng bị sỉ nhục? Ký giả Ông Bút, trên mạng lưới “danlambaovn” đã trả lời: “Giá như bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam có một chút liêm sỉ, vâng, một chút thôi, thì sự nhục nhã này thuộc về đảng, không thuộc hai tấm thân lõa lồ này. Đã đang tâm ăn cướp làm gì biết liêm sỉ?”

Nhưng liệu đám lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam còn chút liêm sỉ để biết chính họ đang nhục nhã trước hai phụ nữ phẫn uất gặp bước đường cùng hay không? Nguyễn Tấn Dũng khi lên làm thủ tướng đã lập ra cả một ủy ban chống tham nhũng, rồi lớn tiếng thề nguyền nếu không diệt được tham nhũng thì sẽ từ chức. Nhưng cũng chính Nguyễn Tấn Dũng tạo cơ hội cho những vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử với các công ty Vinashin, rồi Vinalines.

Tự bản chất, chế độ cộng sản không biết hổ thẹn. Năm 1956, sau vụ Cải cách Ruộng đất giết chết hàng trăm ngàn người oan khuất, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chỉ biết ngỏ lời xin lỗi. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói thẳng trong một phiên họp công khai: Xin lỗi không phải là một hành động có tính chất pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi rồi xí xóa đi được.

Nói những lời đanh thép đó, giống như Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ thẳng vào mặt Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và nhóm lãnh đạo cộng sản mà lên án. Giết hàng trăm ngàn người, đâu có thể xin lỗi rồi xí xóa? Nhưng tất cả bọn họ đã lờ đi như không hiểu. Họ không làm gì hết ngoài việc “sửa sai.” Nhà văn Lưu Quang Vũ sau này đã viết: “Có những cái sai không thể sửa được!” Một mạng người chết, bị giết trong oan khuất, làm sao sửa sai cho sống lại được? Nếu không đưa thủ phạm ra trước công lý thì còn đâu là luật pháp và tinh thần trách nhiệm?

Khi nói thẳng đến hành động “xin lỗi” của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhắc lại đến hai lần liên tiếp, “Xin lỗi không phải là một hành vi pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa;” hành động của Nguyễn Mạnh Tường giống như “nhổ nước bọt” vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo thời đó. Nếu những người này biết hổ thẹn thì họ đã gượng “rửa mặt” bằng cách theo ý kiến của luật sư, bảo quốc hội của họ mở một cuộc điều tra, đưa một số người chịu trách nhiệm ra tòa xét xử. Nhưng chính bọn lãnh đạo cộng sản thời 1956 đã không biết xấu hổ. Họ lờ đi như tai điếc; giả bộ ngớ ngẩn không hiểu ý. Đám con cháu họ ngày nay làm sao biết đến hổ thẹn?

Báo chí “lề phải” trong nước bây giờ hay dùng chữ “Dân Oan.” Nói theo lối Nguyễn Mạnh Tường, “Dân Oan” cũng không phải là một danh từ pháp lý. Nếu một quốc gia có pháp luật thì chỉ nói đến những nạn nhân đi kiện và những thằng ăn cướp mà thôi! Dân Oan là một danh từ phân biệt dưới là Dân kêu oan còn trên là Quan bệ làm cha dân. Cứ viết Dân Oan, Dân Oan mãi chỉ chứng tỏ thời phong kiến đang sống lại, một cách các nhà báo kín đáo sỉ nhục cả chế độ. Phạm Thị Lài, Đoàn Văn Vươn, đồng bào Văn Giang, đồng bào Vụ Bản trở thành Dân Oan vì họ không biết kiện cáo vào đâu cả! Luật pháp về đất đai thì do bọn bù nhìn nghị gật và cường hào bầy ra phục vụ quyền lợi của các đại gia. Dùi cui, roi điện nằm trong tay cường quyền. Tòa án cũng do bọn cường quyền sai bảo nốt. Những phụ nữ như Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy biết làm cách nào để tỏ nỗi oan ức? Ngoài cách mà nhà báo mạng Ông Bút gọi là “tụt quần lòi mặt đảng!” Khi cơn giận nổi lên mà tự thấy mình bất lực, người ta còn một cách là “văng tục vào mặt chúng nó!” Các nhà báo biết giận nhưng không dám văng tục đành quay ra “văng tục vào mặt nhau!” Các tờ Sài Gòn Giải Phóng, Phụ nữ cùng báo Đời sống và Pháp luật ở Sài Gòn đang công kích lẫn nhau, ông này chỉ mặt ông kia gọi là “Báo Lá Cải.” Có báo nào thử suy nghĩ tại sao dân oan lắm thế hay không? Dân còn chịu oan khuất cho đến bao giờ?

Hai bà Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy cho thấy phản ứng của con người trong lúc “cùng đường,” không có cách gì khác được. Hành động của họ là một cách xỉ mắng nặng nề hơn là văng tục hoặc nhổ nước bọt vào mặt băng đảng cướp đất. Bọn ăn cướp vẫn nín lặng làm thinh. Trước sau họ vẫn học theo lối Lâu Sư Đức đời Đường.

Lâu Sư Đức làm tể tướng, giống như chức thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng bây giờ. Vào thời nhà Đường bên Tàu không có những ngân hàng hay xí nghiệp quốc doanh để xếp đặt cho anh em con cháu vào làm chủ tịch. Cũng không có “Đoàn Thanh Niên Tôn Quân” để đưa con em vào đóng vai lãnh đạo. Con đường làm giầu duy nhất thời đó là làm quan. Sư Đức đã cử người em trai đi trấn thủ Đại Châu. Khi tiễn em lên đường, Lâu Sư Đức nhắc nhở: “Ta vốn không tài cán gì mà làm đến tể tướng. Chú lại sắp sửa đi làm đô đốc Đại Châu. Nhà mình giầu sang quá, người ta sẽ ghét. Chú nghĩ phải làm thế nào?”

Người em đáp: “Để anh bớt lo lắng, từ nay trở đi nếu có ai nhổ nước bọt lên mặt, em cũng cứ lờ như không biết, tự mình chùi mặt lấy là xong.” Lâu Sư Đức dậy em: “Chính vì thế mà ta lo đấy. Người ta nhổ nước bọt đầy mặt tức là họ thù oán mình. Nếu chú lại chùi mặt đi thì chỉ khiến người ta tức thêm. Nước bọt nhổ lên mặt thì dù mình không chùi tự nó cũng sẽ khô. Sao không cứ vui vẻ coi như không có gì cả?” Ông em cúi đầu nhận lỗi: “Xin nghe lời chỉ giáo của anh!”

Bao nhiêu đoàn nông dân lớp lớp biểu tình phản kháng bọn ăn cướp đất. Mỗi biểu ngữ, mỗi lời kêu than là một bãi nước bọt nhổ vào mặt đảng Cộng sản. Bao nhiêu bạn trẻ viết lên mạng đã phỉ nhổ, nguyền rủa bọn tham nhũng cướp ngày. Người dân đang nhổ nước bọt vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước. Nhưng đám lãnh tụ này không hề có khái niệm nào về danh dự, về trách nhiệm. Họ không hề biết xấu hổ.
Cô Diane Trần mới 17 tuổi nhưng đã có ý thức về danh dự cho nên cô đã biết chia sẻ cả sự hổ thẹn của gia đình. Khi chuyện cô ra tòa lên báo, lên đài, cô ân hận đã làm xấu mặt cả cha và mẹ; chứng tỏ cô luôn kính yêu cha mẹ. Diane Trần là một phụ nữ Việt Nam đáng kính trọng. Bà Phạm Thị Lài và cô Hồ Nguyên Thủy là những phụ nữ Việt Nam đáng thương xót và cần được mọi người bảo vệ chống lại bạo lực cường quyền. Các bạn sinh viên, học sinh đọc tin tức về những người mẹ, người chị đó, thử nghĩ mình phải làm gì để được hãnh diện làm người Việt Nam.

Ts Đinh Xuân Quân - AFGHANISTAN - NATO VÀ CUỘC RÚT LUI CÓ TRẬT TỰ?


Ts Đinh Xuân Quân

Trong chuyến viếng thăm 6 tiếng ngày 1 tháng 5, 2012 của TT Obama tại Kabul, Tồng thống Mỹ đã ký một “thoả hiệp chiến lược” có hiệu nghiệm đến 2024 với Afghanistan cho phép quân đội Mỹ có mặt tại nước này.


Đây là một đề tài khá mạnh mẽ cho dân Mỹ thấy là ông ta có chính sách chấm dứt chiến tranh tại đây (cũng như tại Iraq). Cuộc họp vào ngày 21-22 tháng 5 vừa qua tại Chicago của các nước thành viên NATO về chiến tranh Afghanistan, gồm 28 nước thành viên và 20 nước đồng minh trong cuộc chiến dưới sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc (LHQ) nhằm lấy quyết định về việc tài trợ Afghanistan hậu 2014 và tương lai của xứ này.

Trước đây tác giả có viết nhiều bài / sợ Afghanistan sẽ bị bỏ rơi như trường hợp Việt Nam. Nói đến Afghanistan ai cũng bi quan nhưng sau cuộc họp Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Chicago thì cảm giác này bớt hẳn. Osama Bin Laden đã bị hạ sát, phe chủ hoà ở Mỹ đòi rút quân thì TT Obama đã có chiến lược rút quân. Như vậy, Afghanistan sẽ không còn là đề tài tranh chấp lớn trong cuộc bầu cử tháng 11 năm nay.

Chiến lược mới của Mỹ và Liên Minh Bắc Đại Tây Dương tại Afghanistan là gì trong khi Pháp hứa sẽ rút quân trong năm 2012? Những khó khăn còn lại của Afghanistan trong các vấn đề rút quân ra sao và may ra họ có thể tránh trường hợp Nam Việt Nam hay không?

Chiến lược mới ở Afghanistan sau cuộc họp tại Chicago

Tại Kabul, TT Obama và Karzai ký “thoả hiệp chiến lược” có hiệu nghiệm đến 2024. Thoả hiệp chiến lược có nghĩa là Mỹ sẽ giúp Afghanistan sau 2014, không phải như trường hợp Việt nam. Mỹ sẽ tiếp tục huấn luyện, trang bị và cố vấn quân đội và cảnh sát xứ này sau 2014, năm mà Afghanistan hoàn toàn lãnh trách nhiệm về xứ sở của mình.

Tại Chicago, NATO và LHQ có hai quyết định về Afghanistan: từng bước triệt thoái 130 ngàn quân ra khỏi Afghanistan vào cuối năm 2014 và sẽ tiếp tục hỗ trợ lâu dài cho Kabul.  Thông cáo chung khẳng định “nhiệm vụ chiến đấu sẽ chấm dứt vào cuối năm 2014” và quân đội Afghanistan sẽ nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ an ninh lãnh thổ kể từ giữa năm 2013 nhưng Kabul sẽ “không bị bỏ rơi”.

Rút quân

Quân mà TT Obama cho bổ sung vào thời điểm 2009 sẽ về Mỹ vào tháng 9, 2012 và quân đội Afghanistan sẽ gánh trách nhiệm tự bảo vệ họ. Tất cả quân sẽ rút vào 2014 trừ một số huấn luyện viên và một toán nhỏ quân Mỹ thuộc Lực lượng Đặc biệt.

Theo quyết định của 28 nước thành viên NATO (Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch, Na Uy, Ý, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, vv.) và 20 nước đồng minh (Nhật, Thuỵ Điển, Mông Cổ, vv.) thì mỗi nước sẽ rút quân theo nhu cầu của chính mình nhưng sẽ phải phối hợp với NATO.

Đối với Pháp, TT Francois Hollande đã xé lẻ vì những lời hứa khi ra tranh cử.  Ông Hollande đòi rút hết quân trong 2012 nghĩa là 2 năm trước các nước khác - như ông đã hứa khi ra tranh cử TT.  Pháp có 3,400 quân đóng tại tỉnh Kapisa, phía đống Bắc thành phố Kabul. Pháp (TT Hollande, BT quốc phòng và BT Ngoại Giao) đã gặp phiá Afghanistan và hai bên đồng ý việc Pháp rút quân. Sau 2012 sẽ chỉ còn 1,400 quân Pháp lo về đào tạo và thêm một lực lượng đặc biệt tại đây mà thôi.  Như vậy là quân chiến đấu Pháp sẽ rút khỏi Afghanistan vào 2012.

Tài trợ Afghanistan sau 2014

Hiện nay các nước gặp tình hình kinh tế khó khăn, phải cắt giảm ngân sách quốc phòng, vậy có tác động gì đến các mục tiêu của phòng thủ của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương hay không?

Các nước ước lượng mỗi năm Afghanistan cần $4 tỷ. Hoa Kỳ hứa sẽ viện trợ $2 tỷ trong khi nước chủ nhà Afghanistan hứa $500 triệu. Số còn lại là $1.5 tỷ phải chia ra cho nhiều nước, trong đó Anh hứa tài trợ $400 triệu/năm, Úc $300 triệu.  Sau Chicago, số ngân sách $4 tỷ chưa được quyết định và trong việc này Afghanistan còn phải làm việc với các nước đồng minh khác. Theo ông Tổng Thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen thì ông đề nghị NATO tiếp tục có mặt sau 2014 để bảo đảm an ninh cho chính phủ Afghanistan. [Cần nhớ lại là quân đội Afghanistan do Liên Xô trang bị trước đây khi Liên Xô rút vào 1989 không sụp đổ mà chỉ  sụp đổ khi Liên Xô tan rã, không tiếp tế, viện trợ cho quân Afghanistan nữa. Hơn nữa chính phủ thân cộng chỉ tan rã khi TT Regan tiếp tục ủng họ quân kháng chiến tiếp tục đánh Chính quyền thân cộng.]

Pakistan

Khi Osama bị hạ sát vào 2011 (Hoa kỳ không báo trước cho phía Pakistan về hành động này) và sau vụ ném bom lầm tại một vùng biên giới làm thiệt mạng 24 quân Pakistan thì quan hệ giữa Pakistan và NATO căng thẳng vì hai bên không tin tưởng nhau. Hoa Kỳ thì cho là Pakistan “điếm”, miệng nói là đồng minh của Mỹ để nhận viện trợ nhưng đàng khác thì vẫn giúp Taliban phá phách bên Afghanistan.

Nhằm gây khó cho NATO, Pakistan đã quyết định đóng cửa đường tiếp tế từ cảng Karachi đến Afghanistan qua Khyber Pass (mỗi một container dùng đường tiếp tế này trước đây phải trả lệ phí là $250.  Pakistan đã đóng cửa đường tiếp tế này một lần rồi và nhờ vậy NATO đã sử dụng đường tiếp tế khác qua Nga mặc dù là đắt hơn nhiều.

Sau vụ đóng cửa đường tiếp tế từ cảng Karachi (hơn 6 tháng) đã có nhiều cố gắng giải quyết – hàn gắn hai bên.  Phía Pakistan đã “chính trị hoá – đưa vụ này ra QH bàn,” không hợp tác với NATO và các khó khăn giữa hai bên tiếp tục như việc kết án 33 năm người bác sĩ đã giúp CIA trong việc truy nã Osama.  QH Hoa Kỳ đã cắt giảm ngân sách việc trợ cho Pakistan $33 triệu (hay $1 triệu cho mỗi năm bác sĩ này ngồi tù).Việc này cho thấy sự bất bình của QH Mỹ đối với Pakistan.

Tại Chicago, TT Obama từ chối gặp riêng TT Zardari của Pakistan vì vấn đề đường tiếp tế mà nay Pakistan đòi phải trả $5000/container - đắt gấp 20 lần.  Khi đóng cửa ngõ tiếp tế của NATO thì Pakistan cũng ngưng tiếp tế cho Afghanistan và bộ Giáo dục / than là các sách giáo khoa in ngoài Afghanistan cũng bị chặn lại và 4.5 triệu học sinh thiếu sách.

Hiện giờ 75% tiếp tế của NATO đi qua ngã Nga – Ubezkistan. Việc cắt đứt đường tiếp tế cũng hại chính Pakistan vì mất việc làm và hơn nữa Pakistan sẽ không nhận được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ khi nước này phải đi vay các định chế quốc tế.

Dù sao NATO - Hoa Kỳ cần phải điều đình với Pakistan nhưng nước này không còn ở thế thượng phong vì NATO vẫn tiếp tục được tiếp tế qua ngõ phía Bắc. Pakistan đã là nơi trú ẩn – dưỡng quân cho Taliban và các cơ quan tình báo Pakistan đã lợi dụng tình trạng này trong nhiều năm.

Các khó khăn còn lại

Quân đội Afghanistan sẽ nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm bảo vệ an ninh lãnh thổ kể từ giữa năm 2013 nhưng yếu kém của Afghanistan gồm cả quân sự lẫn hành chính.  LHQ và NATO chỉ bắt đầu xây dựng guồng máy chính phủ là từ 2007-2008 và bắt đầu đầu tư vào an ninh từ 2008-2009 nghĩa là từ 3 năm nay mà thôi, một thời gian còn ngắn ngủi.  

Việc xây dựng một guồng máy hành chính và việc phát triển xứ này đòi hỏi nhiều thời gian - cần 15 năm trở lên. Ngoài ra guồng máy còn phải trong sạch – không tham nhũng.

Afghanistan cần nói chuyện thẳng với Taliban nếu không muốn bị Hoa Kỳ qua mặt. Afghanistan có nhiều tài nguyên khoáng sản (vàng, đồng, uranium, sắt, đất hiếm, dầu khí, vv) nhưng cũng cần thời gian để có thể khai thác.

Tạm kết

Afghanistan đã rút kinh nghiệm xấu của VN [nhiều chính trị gia Afghanistan đã sống lâu bên Mỹ] và ít nhất đã có những cam kết tiếp tục viện trợ sau 2014. Hơn nữa vì LHQ có mặt cho nên có nhiều nước và nguồn tài trợ cho Afghanistan.

Về kinh tế thì có nhiều tiến bộ: xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống, cơ sở hạ tầng khá hơn. Nhưng các tranh chấp sẽ còn tiếp diễn dài dài vì Taliban còn bị Pakistan xúi dục nữa, gây thêm khó khăn.

Afghanistan còn nhiều cung cách bộ lạc, QH chưa làm việc tốt [nhưng cũng đã phê chuẩn “thoả hiệp chiến lược,” tham nhũng còn lan tràn, và dân trí còn thấp. Các khó khăn của Afghanistan sẽ thành trở ngại lớn khiến nước này không sử dụng tốt viện trợ, không xây dựng chính phủ và các đảng phái để sinh hoạt trong dân chủ trong thời gian ấn định 2014. Yếu kém còn đầy rẫy: cải cách hành chính, cải cách bầu cử, nhân quyền cho phái nữ, vv.

Lãnh đạo xứ này có phần khôn khéo hơn miền Nam VN trước đây nhưng đường đến 2014 còn dài. Liệu QH Hoa kỳ sẽ phê chuẩn “thoả hiệp chiến lược” với Afghanistan để nó có thể trở thành một bảo đảm. Hơn nữa chính TT Obama cho rằng thử thách chính là giải quyết các vấn đề phía Pakistan. Ông mong là Pakistan sẽ là giải pháp cho vấn đề Afghanistan.

Ts ĐXQ

Nguyễn Hưng Quốc - Thế lực côn đồ ở Trung Quốc


Nguyễn Hưng Quốc 

Hình: AP 

Trong một bài trước, tôi đã viết về đám côn đồ thường được sử dụng để trấn áp những nhà bất đồng chính kiến hoặc những người, với những mức độ nào đó, chống đối lại nhà nước tại Việt Nam. Cần lưu ý là một hiện tượng tương tự cũng xuất hiện ở Trung Quốc. Chắc chắn đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên. Và cũng ít có khả năng Trung Quốc bắt chước Việt Nam. Nói ngược lại thì đúng hơn.

Ở Trung Quốc, nhân vụ Trần Quang Thành, vị luật sư chân đất mù lòa, xin lánh nạn tại Tòa Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh và sau đó, được sang Mỹ dưới danh nghĩa du học, người ta cũng thấy vai trò của đám côn đồ được sử dụng để trấn áp những người bị chính quyền xem là chướng tai gai mắt. Trong bao nhiêu năm, Trần Quang Thành và gia đình của ông bị nhiều người đánh đập tàn nhẫn: những người ấy không những chỉ là công an mà còn là những người được xem là “dân phòng” hoặc chả có một danh hiệu gì cả. Trước đây, mỗi lần có ai đến định thăm viếng Trần Quang Thành ở nhà riêng của ông đều bị một đám người mặc thường phục nhào đến ngăn chận, xua đuổi, chửi bới, thậm chí hành hung. Nhiều người hoảng sợ phải quay xe bỏ chạy. Có lúc xe đã chạy rồi, bọn người mặc thường phục ấy còn rượt theo ném đá và chửi rủa một cách tục tĩu và hung bạo.

Bất cứ ở đâu có sự hiện diện của các nhà bất đồng chính kiến ở đó cũng đều có mặt đám côn đồ. Chúng không có đồng phục. Không có danh hiệu. Chúng chỉ làm mỗi một việc là hành hung hay sách nhiễu những người không chịu ngoan ngoãn đi theo lề phải do đảng và nhà nước quy định. Thế thôi.

Báo chí Tây phương cũng như một số blog độc lập tại Trung Quốc gần đây nói nhiều đến đám côn đồ mang danh nghĩa là “thành quản” (chengguan, 城管) (kiểu an ninh cơ sở hoặc bảo vệ dân phố ở Việt Nam). Trên danh nghĩa, nhiệm vụ của chúng là để bảo vệ an toàn và vẻ đẹp của đường phố. Trên thực tế, chúng lại là đám hung thần của những người nghèo buôn gánh bán bưng. Trên internet, người ta tung lên một số đoạn phim quay cảnh chúng nhào đến đánh dân chúng một cách vô cùng tàn nhẫn. Được chú ý nhất là cảnh chị Wang Ren, 32 tuổi, bán nho trên chiếc xe đẩy, bị ba tên thành quản nhào đến đánh đập, hất tung chị xuống đường. Chúng không hề giải thích hay nói năng gì cả. Chúng chỉ đánh, đạp chị và hất đổ số nho trên xe đẩy của chị.

Các cơ quan truyền thông Trung Quốc tường thuật cả thảy 162 vụ bạo động của đám thành quản đối với dân chúng trong vòng gần hai năm, từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 3 năm 2012. http://the-diplomat.com/2012/05/25/china%E2%80%99s-thuggish-para-police/ Người ta tin là số lượng các vụ hành hung dân chúng cao hơn rất nhiều. Với những mức độ khác nhau, chúng diễn ra hàng ngày. Ở khắp nơi. Một bài báo trên The Diplomat có nhan đề “Đám dân vệ côn đồ của Trung Quốc” (China’s Thuggish Para-Police) cho biết, nếu vào Google gõ mấy chữ “thành quản đánh dân” (城管打人) bằng tiếng Tàu, người ta sẽ thấy ngay cả hàng triệu “entry”: điều đó chứng tỏ, một mặt, hiện tượng ấy rất phổ biến; mặt khác, nó cũng chứng tỏ dân chúng rất bức bối về hiện tượng đánh dân thô bạo của đám côn đồ mang danh bảo vệ trật tự đường phố ấy.

Nhưng thành quản là ai?

Được thành lập vào năm 1997, hiện nay lực lượng thành quản đã có mặt tại 308 thành phố với một biên chế chính thức lên đến trên 6000 người. Tham gia lực lượng này phần lớn là những người nghèo khổ và ít học. Suốt ngày những người được gọi là  “thành quản” ấy cứ lang thang ngoài đường, theo dõi, rình rập, đánh đập và bắt bớ những người vi phạm luật, dù là những vụ vi phạm nho nhỏ về giao thông hoặc buôn bán ngoài lề đường. Dĩ nhiên, nhiệm vụ ưu tiên số một của chúng là trấn áp những người xuống đường biểu tình chống đối chính phủ. Không có sắc phục, mọi sự trấn áp của chúng đều được xem là những hành động tự phát của đám quần chúng nổi giận trước những kẻ “phản động”.

Một vấn đề khiến các tổ chức nhân quyền trên thế giới quan tâm là các đám thành quản này dù là tổ chức của nhà nước, ăn lương của nhà nước, nhưng lại không bị ràng buộc bởi bất cứ một điều khoản pháp lý nào cả. Họ hoạt động không theo điều lệ nào. Họ không hề biết những giới hạn về quyền lực mà họ có thể sử dụng. Bởi vậy, họ thường tác oai tác quái. Có xảy ra bất cứ tai nạn nào thì chính quyền cứ đổ tội lên đám “quần chúng tự phát”.

Thế là xong.

Giống hệt như ở Việt Nam.


Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Đoàn Thanh Liêm - Mùa Xuân gặp lại bạn ở Paris.


Ghi chép dọc đường (4)
Đoàn Thanh Liêm

Tiếp tục cuộc hành trình, tôi đã rời Washington để bay đến Paris vào buổi trưa ngày 16 tháng Năm. Mùa Xuân xung quanh nơi chốn xưa nay được mệnh danh là “kinh thành Ánh sáng” này thật là mát mẻ dịu dàng với cây lá xanh um và hoa nở rộ cùng khắp các nẻo đường. Đây là lần thứ ba, tôi đặt chân đến thủ đô nước Pháp, hai lần trước đây là vào năm 1970 và 1972. Trong suốt hai tuần qua, tôi đã gặp lại được một số bạn bè thân thiết, đặc biệt là các bạn cùng học chung với nhau tại trường Chu Văn An ở Hà Nội từ 60 năm trước. Người bạn thân là anh Phạm Xuân Yêm từ lâu đã cho tôi biết là lúc này về hưu rồi, thì bạn có nhiều thời gian rảnh rỗi để sắp xếp nơi ăn chốn ở cho tôi tại Paris. Nhưng vào giờ chót anh chị Yêm phải đi vắng đến 18 tháng Năm mới về, nên đã phải nhờ đến một người bạn khác lo lắng cho tôi trong vài ngày trước khi Yêm có mặt tại nhà.


I – Mấy ngày đầu ở Paris.

Vì thế mà người đón tôi tại phi trường Charles de Gaulle và chở tôi về nhà tại khu Maisons Alfort Juilliottes là anh Nguyễn Ngọc Giao. Anh Giao là thứ nam của Thầy Nguyễn Ngọc Cư vị giáo sư đã dậy chúng tôi về môn Pháp văn và Triết học trong hai năm cuối bậc Trung học ở Hanoi. Bà xã của Giao là chị Phạm Tư Thanh Thiện gốc từ làng Hành Thiện Nam Định, thì lại là bà cô của cháu Phạm Tư Việt con rể của tôi, thành ra giữa anh chị Giao Thiện và tôi lại còn có thêm tình suôi gia với nhau nữa. Anh chị Giao Thiện là những người rất tháo vát, lại sinh sống trên đất Pháp đã trên 50 năm nay, nên quen biết giao thiệp rất rộng rãi với nhiều người tại khắp nơi trên thế giới, điển hình như với chị Sophie Quinn-Judge mà tôi vừa mới gặp lại ở Philadelphia hồi mới đây.

Anh Giao dậy môn Toán tại Sorbonne và đã nghỉ hưu từ mấy năm nay. Còn chị Thiện thì đã từng làm việc cho đài phát thanh RFI của Pháp dưới cái tên Thanh Thủy mà dù nay cũng đã nghỉ hưu – thì vẫn còn được nhiều bà con thính giả người Việt nhắc đến.

Trong vòng có hai ngày mà Giao đã chở tôi đi thăm viếng nhiều nơi ở khu Quartier Latin, khu Quận 13 và giới thiệu tôi gặp gỡ được với nhiều người trong buổi tiếp tân nhân dịp tái khai trương của Quán ăn “Foyer Mon Vietnam” do ông bà Võ Văn Thận phụ trách. Cụ thể trong dịp này, tôi đã gặp anh chị Nguyễn Phong Châu cũng là người gốc làng Hành Thiện, chị Tố Nga con của bác Tạ Bá Tòng, anh Hà Dương Tường em của Hà Dương Dực bạn tôi ở bên California… Anh Giao cũng nối điện thọai cho tôi nói chuyện với Linh mục Trương Đình Hòe hiện làm việc trong một nhà Dưỡng Lão ở Paris. Cha Hòe cho biết là năm nay đã trên 85 tuổi, mà chân bị đau nhiều nên đi lại rất khó khăn; nhưng giọng nói qua điện thọai thì vẫn còn sang sảng nhiệt thành như hồi nào ở Saigon dễ đến gần nửa thế kỷ trước.

Trưa ngày 18, anh Giao lại chở tôi đến nhà anh Nguyễn Gia Kiểng để ăn trưa với vài người bạn khác, đó là các anh Nghiêm Văn Thạch huynh trưởng kỳ cựu của Hướng Đạo Việt Nam và anh Nguyễn Văn Huy chuyên viên về Dân tộc học. Các anh này đều sinh họat từ lâu nay trong Nhóm Thông Luận chung với anh Kiểng, nên câu chuyện trao đổi tin tức trong bữa ăn giữa chúng tôi với nhau thì thật là nhẹ nhàng lịch sự thông cảm không hề có bất kỳ một sự sôi nổi gay cấn nào cả.

Đặc biệt trong dịp này, nhờ anh Huy mà tôi gặp lại được anh Hòa là người cùng ở chung với tôi tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông Saigon hồi năm 1956 – 58. Anh Hòa chính là bào đệ của anh Nguyễn Văn Ngân người từng giữ chức vụ Phụ tá cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu những năm 1970.

Anh Kiểng đang lúc rất bận rộn với đám cưới của cô con gái vào tuần sau, nhưng cũng đã tận tình chăm sóc cho tôi suốt cả buổi trưa và đến chiều thì chở tôi đến nhà anh Yêm tại thị trấn Bourg la Reine cách nội ô Paris chừng 10 cây số.

II – Các bạn lớp Đệ Nhất Ban Toán Trung học Chu Văn An Hà Nội năm học 1953 – 54

1 – Một gia đình cả cha mẹ và con cái đều là Tiến sĩ Khoa học.
Phạm Xuân Yêm là một trong mấy người bạn thân thiết nhất của tôi từ cái thời cùng học chung với nhau tại trường Chu Văn An Hanoi trước năm 1954. Kỳ thi Tú tài phần hai vào tháng 6 năm 54, Yêm đậu thủ khoa ban Tóan với hạng Bình (Mention Bien). Rồi di cư vào miền Nam, chúng tôi đều ở chung với nhau tại Đại học xá Minh Mạng Chợ Lớn. Cuối năm 1956, Yêm cùng với một số bạn khác như Bạch Lý Từ, Vũ Dương Tuyền, Đặng Vũ Huyến… được học bổng sang Pháp để tiếp tục học tại đại học Sorbonne. Và Yêm một lần nữa lại là người bạn thành công nhất trên đường học vấn ở nước Pháp - với việc đậu văn bằng Tiến sĩ Khoa học rất sớm và làm giáo sư về môn Vật lý ở Sorbonne rồi tiếp theo là một trong những Giám đốc Nghiên cứu (Directeur de Recherche) tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS Centre National de Recherche Scientifique ). Yêm đã về nghỉ hưu từ mấy năm nay, nên có nhiều thời giờ chăm sóc cho lũ cháu nội ngọai.

Bà xã của Yêm là chị Minh Châu cũng có văn bằng Tiến sĩ Khoa học và hiện vẫn giảng dậy về môn Hóa học ở Sorbonne. Mà cả đến con trai là cháu Huyên thì cũng là một giáo sư có danh tiếng dậy môn Toán ở Sorbonne nữa. Rồi con gái là cháu Yên Thư thì cũng có văn bằng Tiến sĩ Khoa học thêm vào với văn bằng Dược sĩ nữa.

Vào năm 1970, lúc tôi đến thăm gia đình Yêm, thì cháu Huyên mới có chưa đày 3 tuổi còn được bố bồng đi gửi ở nhà trẻ, mà nay nghiễm nhiên đã trở thành một nhà nghiên cứu có hạng về ngành Tài chánh Toán học (Finance Mathématique) với các Giải thưởng năm 2004 của Institut Europlace de Finance và Giải thưởng năm 2007 của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (Académie Des Sciences). Tôi thật vui mừng phấn khởi vì được chứng kiến sự thành công vượt bậc của cả gia đình người bạn đã quen biết thân thương dễ đến 60 năm nay, lúc chúng tôi còn ở vào cái tuổi hàn vi niên thiếu trên đất Bắc giữa cái thời chiến tranh loạn lạc với khói lửa kinh hoàng thuở ấy.

2 – Một số bạn đã du học hoặc sinh sống ở Pháp từ nhiều năm nay.
Trong một bữa ăn tại quán Village Tao Tao đường Choisy quận 13, bạn Yêm và tôi đã gặp lại được một số bạn sau đây:

* Bạn Vũ Dương Tuyền cũng qua Pháp cùng một thời với Yêm, đậu bằng Tiến sĩ về Hóa học, nay cũng đã về nghỉ hưu. Tuyền có hai người anh cùng ở Đại học xá Minh Mạng, đó là Vũ Tòng kiến trúc sư nổi tiếng ở Saigon và Vũ Thường kỹ sư cũng học ở Pháp rồi về làm việc trong binh chủng Không quân. Trong buổi họp bạn vào ngày 24 tháng Năm tại Paris, Tuyền đã cho in và tặng cho mỗi người một số hình ảnh của lớp Đệ Nhất 1D chúng tôi đi du ngọan bằng xe đạp đến thăm viếng Chùa Thầy Sơn Tây vào đúng ngày 1 tháng Giêng năm 1954.

* Bạn Bạch Lý Từ là em của Thầy Bạch Văn Ngà cũng đi học ở Pháp như Tuyền và Yêm và đi dậy học nhiều năm bên Phi châu. Đặc biệt, nay đã về hưu với nhiều thời gian rảnh rỗi, Từ dùng phương pháp Tóan học để nghiên cứu về Kinh Dịch và đang chuẩn bị công bố công trình nghiên cứu này. Từ còn cho biết là vị Tổng thống mới đây của xứ Mali lại cũng là người bạn cùng dậy chung với nhau tại một trường học bên xứ đó nữa.

* Bạn Đỗ Đăng Di trưởng lớp 1D của chúng tôi, thì đi qua Pháp từ năm 1975 và có công ty kinh doanh thương mại họat động tại Pháp và ở nhiều nước trên thế giới, kể cả bên Đức, Tiệp khắc, Trung quốc… Bạn Di tuổi Nhâm Thân 1932 cũng lại là niên trưởng của nhóm chúng tôi nữa. Là người chuyên kinh doanh, nên lúc nào gặp gỡ chuyện trò với chúng tôi, thì Di cũng phải ngắt ra để mà trả lời điện thọai mobile liên tục liên hệ đến công việc giao dịch của mình. Di có người em là Đỗ Đăng Giu cũng học rất giỏi và luôn sát cánh với Yêm từ trên 50 năm nay trên đất Pháp.

* Bạn Nguyễn Phong Châu tuy học tại Chu Văn An sau chúng tôi một lớp, nhưng cũng qua Pháp rất sớm và rất thành công về nghiên cứu và giảng dậy về khoa học. Anh có người em là chị Điển cưới anh Nguyễn Đình Thảng là bạn cùng học luật với tôi, mà hiện định cư tại California. Anh Châu cũng có người anh là bác sĩ Nguyễn Trọng Mân cũng lại là bạn của tôi nữa. Vì thế mà chúng tôi dễ gắn bó thân thiết với nhau.

* Bạn Võ Thế Hào tuy không học ở Chu Văn An, nhưng lại cùng đi thi Tú tài năm 1954 với chúng tôi ở Hanoi, rồi sau này lại vào dậy môn Tóan ở Chu Văn An tại Saigon, thì cũng qua định cư ở Paris đến gần 30 năm nay. Bạn Hào được anh em tín nhiệm bàu vào làm Chủ tịch Câu lạc bộ Bưởi Chu Văn An & Thân hữu trong rất nhiều năm, anh rất năng nổ tạo được bàu không khí sinh họat gắn bó thân tình giữa các thành viên của Câu lạc bộ vùng Ile de France. Nhưng gần đây, thì vì lý do sức khỏe suy kém, anh đã xin nghỉ và từ đó thì Câu lạc bộ này không còn có được những họat động sôi nổi như trước nữa.

Sau bữa ăn, bọn tôi tất cả lại kéo nhau về nhà bạn Yêm để tiếp tục hàn huyên tâm sự và bàn thảo với nhau về cách thức đóng góp thế nào cho tốt nhất với dân tộc và đất nước trong hòan cảnh hiện nay. Một số nêu ý kiến là bọn mình đều đã ở vào cái tuổi sấp xỉ bát thập rồi, đâu còn có thể làm được điều gì quan trọng nữa đâu. Vì thế mà lớp người như chúng ta chỉ có thể đóng vai trò yểm trợ và hướng dẫn cho lớp con, lớp cháu tích cực đứng ra gánh vác trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Riêng ở hải ngọai, thì sức mạnh chính yếu của chúng ta là do trình độ hội nhập sâu sắc vào với xã hội của đất nước mà mình đã chọn lựa để nhập cư. Mà lớp con cháu sinh ra ở đây thì rõ ràng là thế hệ trẻ này vẫn còn thiếu sự quan tâm gắn bó với bà con ở bên quê nhà. Vì thế mà cần phải vận động được sự thông cảm và liên đới của mọi tầng lớp trong dòng chính (mainstream) nơi xã hội các quốc gia tiến bộ đối với công cuộc xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế xã hội của đại khối dân tộc Việt Nam chúng ta, thì mới hy vọng việc làm đó có kết quả tốt đẹp được.

Câu chuyện miên man bao la rộng lớn quá, chúng tôi hẹn nhau sẽ trao đổi chi tiết hơn qua internet. Và riêng bạn Di trưởng lớp thì hứa sẽ trình bày một vài hình thức họat động chung với nhau trong một dịp khác.

Nhân dịp ở nhà bạn Yêm, tôi cũng đã gọi điện thọai nói chuyện với các bạn như Bùi Thiệu Tường ở Montréal Canada, bạn Vũ Tiến Thông ở Dallas, Vũ Hữu Bao ở Lubbock Texas, bạn Ngô Đình Thuấn ở Washington DC, bạn Vũ Ngọc Óanh ở San Jose California… Ai nấy đều vui mừng phấn khởi được có dịp nói chuyên trò tâm sự với nhau sau nhiều năm xa cách. Bọn tôi cũng đang kêu gọi các bạn gửi những hình ảnh xưa nay của mỗi người để tập trung đăng vào trong một cuốn Album kỷ niệm thời học chung với nhau tại lớp 1 D Chu Văn An Hanoi niên khóa 1953 – 54 nữa.

Trong hai tuần lễ ở Paris, tôi còn có dịp gặp gỡ viếng thăm hoặc điện thọai nói chuyện với rất nhiều bà con và bạn hữu khác nữa và tôi sẽ xin tường thuật lại trong những bài ghi chép sau vậy.

Paris ngày 27 tháng Năm 2012
Đoàn Thanh Liêm

TNS John McCain - Vì sao châu Á cần Mỹ?


TNS John McCain
Người dịch: Dương Lệ Chi

Thượng nghị sĩ John McCain nói rằng Hoa Kỳ vẫn là đối tác được nhiều nước châu Á lựa chọn. Nhưng Washington cần phải đặt chuyện tranh cãi chính trị của mình sang một bên.


Trong tháng này, tôi đã gặp một phái đoàn doanh nghiệp đến từ Malaysia, một người trong số họ đã nói với tôi rằng: “Thượng nghị sĩ McCain, khi chúng tôi nhìn vào nước Mỹ hiện giờ, dường như các ông hoàn toàn bị rối loạn. Hệ thống chính trị của các ông dường như không có khả năng đưa ra các quyết định cơ bản để khắc phục các vấn đề tài chính và cho thế giới thấy quyết tâm để giải quyết vấn đề“. Và nhân tiện, ông ấy cũng đã nói thêm: “Một số người ở châu Á sử dụng những thất bại đó để phá hoại lòng tin mà bạn bè của các ông vẫn còn tin vào các ông“. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông ta.

Đây là một vấn đề rất lớn. Và điều này làm gia tăng nghi ngờ về sự cam kết của chúng ta trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong khi nói về việc “chuyển hướng” sang châu Á là sai lầm, nhưng ý kiến về việc chúng ta phải cân bằng lại chính sách đối ngoại của Mỹ, chú trọng hơn nữa vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì hoàn toàn đúng. Nhưng thách thức quan trọng mà chúng ta phải đối mặt đó là, làm cách nào để cho nỗ lực tái cân bằng này có ý nghĩa, bởi vì vào lúc này, giữa lúc chúng ta đang gặp khó khăn về các vấn đề chính trị và tài chính, kết quả là chúng ta hứa hẹn quá nhiều, mà thực hiện thì quá ít các cam kết mới của chúng ta ở Thái Bình Dương.

Khó có thể phóng đại tính nghiêm trọng về những sự lựa chọn đặt ra cho chúng ta hiện nay. Chúng ta phải đối mặt với các quyết định tức thời, sẽ định hướng cho sức mạnh của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương – về mặt ngoại giao, kinh tế, và quân sự – trong nhiều thập niên tới. Chúng ta phải đi đúng hướng. Nếu đi sai đường, chúng ta sẽ bị vuột khỏi tiến trình và bị tụt lại phía sau. Tuy nhiên, nếu những quyết định lớn này được quyết định đúng, chúng ta có thể tạo ra các điều kiện bền vững để mở rộng sức mạnh của Mỹ, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Mỹ, và để bảo đảm lợi ích quốc gia của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương.

Cuối cùng, trong bối cảnh châu Á đang thay đổi, lợi ích của Mỹ ở châu Á vẫn không có gì thay đổi. Chúng ta vẫn vươn tới các mục tiêu tương tự như chúng ta vẫn luôn hướng tới, đó là khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, và nếu cần, đánh bại trong một cuộc xung đột, bảo vệ các đồng minh của Mỹ, mở rộng tự do thương mại, thị trường tự do, tự do lưu thông, và tự do trên vùng trời, vùng biển, không gian, và bây giờ là không gian mạng. Và trên hết, duy trì sự cân bằng quyền lực để thúc đẩy việc mở rộng nhân quyền, dân chủ, pháp luật, và các giá trị khác một cách hòa bình, những giá trị mà chúng ta chia sẻ với những người dân châu Á ngày càng tăng.

Tất cả những lợi ích này không có điểm nào chống lại bất kỳ nước nào khác, kể cả Trung Quốc. Trung Quốc tiếp tục phát triển hòa bình đó là lợi ích của chúng ta. Chúng ta phản đối khái niệm cho rằng Hoa Kỳ muốn kiềm chế Trung Quốc, hoặc [cho rằng] chúng ta đang nhắm tới một cuộc chiến tranh lạnh mới ở châu Á, nơi mà các nước buộc phải lựa chọn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Tóm lại, câu hỏi mà chúng ta cần phải trả lời là: chúng ta ở Hoa Kỳ, có thể ra các quyết định chiến lược lớn ngay bây giờ, các quyết định sẽ mang lại sự thành công cho chúng ta về lâu về dài ở châu Á?

Một trong những quyết định lớn liên quan đến thương mại. Người ta thường nói rằng công việc của châu Á là kinh doanh, nhưng khi nói đến thương mại, thì Hoa Kỳ đứng bên lề, và châu Á đang tiến về phía trước mà không có chúng ta. Sau bốn năm, chính phủ này (ND: ý nói chính phủ Obama) vẫn chưa ký hay phê chuẩn một hiệp định thương mại tự do nào cho riêng mình. Mãi cho đến năm ngoái, họ mới thông qua Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Hàn Quốc, Colombia và Panama mà chính phủ Bush đã đúc kết trước đó. Trong khi đó, từ năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc đã ký chín hiệp định thương mại tự do với châu Á và châu Mỹ Latin. Họ đang đàm phán thêm năm hiệp định khác, và đang xem xét bốn hiệp định nữa.

Và không chỉ Trung Quốc. Trong tháng này, Thủ tướng Nhật Bản cũng đã tuyên bố rằng ông muốn Nhật Bản bắt đầu đàm phán một khu vực thương mại tự do với Trung Quốc và Hàn Quốc. Ấn Độ đang đàm phán một hiệp ước thương mại tự do với Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không hoàn thành hiệp ước đầu tư song phương hẹp với Ấn Độ, nói gì đến hiệp ước thương mại tự do đầy đủ mà chúng ta nên có. Hồi năm ngoái, một báo cáo cho thấy các nước châu Á đã ký hoặc đang thương lượng gần 300 hiệp ước thương mại, không có hiệp ước nào trong số đó mà Mỹ đã tham gia. Việc khởi động Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã làm cho hình ảnh của chúng ta sáng sủa hơn một chút, nhưng để đi đến một thỏa thuận, có thể phải mất thêm nhiều năm nữa, nếu có điều đó xảy ra.

Thay vào đó, chúng ta nên đi tới một nghị trình thương mại song phương, bắt đầu với Ấn Độ và Đài Loan. Chúng ta cũng nên hành động tích cực hơn trong môi trường đa phương. Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã chia rẽ các nước ASEAN. Chúng ta, hoặc là đưa tất cả các nước ASEAN vào Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, hoặc là thúc đẩy một hiệp ước tự do thương mại chính thức giữa Mỹ-ASEAN. Điểm mấu chốt là, thành công về  kinh tế và chiến lược lâu dài của Mỹ đòi hỏi một chiến lược thương mại đầy tham vọng ở châu Á.

Một quyết định thứ hai có tác động lớn đó là, việc bố trí lực lượng của chúng ta trong khu vực. Tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng mục tiêu: tăng cường quan hệ liên minh Mỹ – Nhật, trong khi vẫn duy trì các cam kết chiến lược của chúng ta trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thông qua sự hiện diện mạnh mẽ của các lực lượng quân sự triển khai về phía trước. Tuy nhiên, cũng như nhiều người trong số quý vị, một số vị trong Ủy ban Quân vụ Thượng viện đã chỉ trích kế hoạch trước đó là, tổ chức lại lực lượng Hoa Kỳ ở đảo Okinawa và đảo Guam, kế hoạch này hoàn toàn không có khả năng chi tiêu. Chỉ riêng kinh phí bố trí binh lính ở đảo Guam không thôi cũng đã tăng gấp đôi trong bảy năm, lên tới hơn 20 tỷ đô la.

Cuộc khủng hoảng này thực sự là một cơ hội để chúng ta có một cái nhìn rộng hơn về việc sắp xếp lại lực lượng trong khu vực. Một số nước châu Á thể hiện sự quan tâm mới đối với sự luân chuyển lớn của lực lượng Hoa Kỳ trong khu vực. Thỏa thuận gần đây là đưa 2.500 lính thủy quân lục chiến Mỹ tới Úc, có thể xem như một mô hình cho các hoạt động tương tự ở những nơi khác, chẳng hạn như Philippines. Cuối cùng, những điều này và những phát triển mới khác đã tạo cơ hội để có được suy nghĩ sáng tạo và toàn diện về việc sắp xếp lại lực lượng quân sự trong khu vực, việc sắp xếp này bao gồm những thay đổi mới, trong việc tổ chức lại binh lính trên đảo Okinawa và đảo Guam. Đó là lý do vì sao quốc hội nên có một điều khoản trong Đạo luật Ủy nhiệm Quốc phòng hồi năm ngoái, cho một đánh giá độc lập về những câu hỏi liên quan đến việc bố trí lực lượng này.

Vẫn chưa rõ tuyên bố chung gần đây của Hội đồng Tư vấn An ninh Mỹ – Nhật sẽ phù hợp với yêu cầu đánh giá sâu rộng hơn về việc bố trí lực lượng của chúng ta trong khu vực như thế nào. Hiện tuyên bố chung đó đặt ra nhiều câu hỏi hơn là có được câu trả lời – trong đó, các câu hỏi về ước tính chi phí, các yêu cầu hậu cần, duy trì lực lượng, các kế hoạch lớn, và đề nghị này liên quan đến khái niệm chiến lược rộng lớn hơn của các hoạt động trong khu vực như thế nào. Chúng ta cần thực hiện đúng những quyết định quan trọng này. Và đó là lý do tại sao, ngay cả khi chúng ta tìm thêm chi tiết trong bản tuyên bố chung, quốc hội sẽ không có bất kỳ quyết định tài trợ lớn nào cho đến khi chúng ta nhận được và đánh giá các đánh giá độc lập về tình hình lực lượng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, theo quy định của pháp luật.

Một quyết định tương tự và lớn hơn nhiều mà chúng ta cũng cần phải quyết định đúng, đó là chi tiêu quốc phòng. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chủ yếu là một đấu trường trên biển, nên khả năng phô trương sức mạnh quân sự của chúng ta phần lớn phụ thuộc vào Hải quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hải quân vẫn thiếu 313 tàu so với chỉ tiêu. Điều tệ hại hơn là chính quyền hiện nay đề xuất loại bỏ 7 tàu tuần dương sớm hơn dự định, loại bỏ 2 tàu vận chuyển loại lớn mà lực lượng Thủy quân Lục chiến cần, và hoãn việc mua lại một chiếc tàu đổ bộ có boong lớn, một tàu ngầm tấn công loại Virginia, 2 tàu chiến duyên hải, và tám tàu vận tải tốc độ cao. Hiện chúng ta loại bỏ các con tàu nhanh hơn là chúng ta có thể thay thế chúng. Cắt giảm khả năng hải quân như thế mà không có một kế hoạch bù lại, sẽ đặt mục tiêu của chúng ta ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào rủi ro lớn hơn.

Và tất cả những điều nói trên hiện đang đứng trước ảnh hưởng luật mới. Việc cắt giảm ngân sách quốc phòng của chúng ta, nếu được thực hiện theo quy định của luật mới này sẽ chẳng khác gì một hành động đơn phương giải trừ quân bị, chắc chắn dẫn đến sự giảm sút thực sự về sức mạnh quân sự của Mỹ. Một số vị trong quốc hội đã đưa ra đề nghị tránh chuyện tự động cắt giảm ngân sách quốc phòng theo luật định, nhưng chúng ta không có được độc quyền về những ý kiến hay (*). Chúng ta muốn ngồi xuống với Tổng thống để cho ra một thỏa thuận lưỡng đảng, nhưng tổng thống đã từ chối tham gia. Ông ấy không có đề nghị nào để ngăn chuyện cắt giảm ngân sách quốc phòng mà Bộ trưởng Quốc phòng của ông gọi là những cắt giảm “chết người”. Trừ khi tổng thống tham gia vào về vấn đề này, nếu không thì ông ấy sẽ làm tổng thống trong thời kỳ các lực lượng vũ trang của chúng ta bị thiếu hụt tồi tệ nhất trong giai đoạn lịch sử gần đây.

Ngoài sự hiện diện quân sự, chúng ta cần duy trì các phương diện ngoại giao ở châu Á. Và ở đây, chúng tôi có một câu chuyện hay hơn để kể – cám ơn ngoại trưởng của chúng ta rất nhiều, bà đang làm cho chính sách ngoại giao của Mỹ hiện diện trong khu vực và ảnh hưởng hơn bao giờ hết. Điều đó nói rằng, chúng ta hiện phải đối mặt với những thử thách lớn, những thử thách này báo hiệu cho biết Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò gì ở châu Á, cũng như chúng ta liên quan đến những thách thức của châu Á như thế nào.

Một trong những thử thách đó là biển Đông. Hoa Kỳ không có yêu sách trong vụ tranh chấp này, và chúng ta không nên đứng về phía bên nào trong các nước tranh chấp. Tuy nhiên, việc tranh chấp này đi vào trọng tâm lợi ích của Mỹ ở châu Á – không chỉ vì các thương vụ trị giá 1.200 tỷ của Mỹ đi ngang qua biển Đông mỗi năm, và cũng không phải vì Philippines, một trong các nước tranh chấp, là đồng minh của Mỹ, mà là vì rất quan trọng để một châu Á đang trỗi dậy tránh được những mảng tối của chính sách thực dụng, nơi mà những nước mạnh muốn làm gì thì làm và những nước yếu hơn thì phải chịu đựng. Cuối cùng, vụ tranh chấp này không chỉ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, mà là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Nhưng chúng ta phải hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta – khi họ yêu cầu – để họ có thể nhận ra mục đích của họ về việc cho ra một mặt trận thống nhất và giải quyết những sự khác biệt của họ một cách hoà bình, trên cơ sở đa phương.

Một thách thức lớn cho ngoại giao Mỹ là Miến Điện. Tôi đã đi đến Miến Điện hai lần trong năm qua. Chắc chắn là họ vẫn còn một chặng đường dài để đi tới, đặc biệt trong việc ngăn chặn bạo lực và theo đuổi tiến trình hòa giải thật sự với cộng đồng các dân tộc thiểu số của đất nước. Nhưng tôi tin là tổng thống Miến Điện và các đồng minh của ông trong chính phủ chân thành trong cải cách, và họ đang tiến bộ thực sự.

Trong năm qua, tôi đã nói rằng các hành động cụ thể của chính phủ Miến Điện đối với cải cách dân chủ và kinh tế, cần được đáp lại bằng các hành động đối ứng của Hoa Kỳ để có thể giúp gia tăng những cải cách này, mang lại lợi ích cho những người Miến Điện bình thường, và cải thiện mối quan hệ của chúng ta. Cuộc bầu cử mới đây đã đưa bà Aung San Suu Kyi và Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ vào quốc hội, tôi nghĩ rằng bây giờ đã đến lúc nên ngưng các biện pháp trừng phạt của Mỹ, ngoại trừ lệnh cấm vận vũ khí và các biện pháp mà chúng ta duy trì, nhằm chống lại các cá nhân và các tổ chức ở Miến Điện phá hoại nền dân chủ, vi phạm nhân quyền, và cướp bóc tài nguyên của quốc gia. Đây không phải là dỡ bỏ lệnh trừng phạt, mà chỉ tạm dừng. Và bước này cũng như bất kỳ sự nới lỏng các biện pháp trừng phạt, sẽ tùy thuộc vào sự tiến bộ và cải cách liên tục ở Miến Điện.

Chúng ta cũng phải thiết lập các chuẩn mực mang tính nguyên tắc, và cả ràng buộc về trách nhiệm cho các hoạt động kinh doanh của Mỹ ở Miến Điện. Bà Aung San Suu Kyi đã nêu ra những điều phân biệt giữa các loại đầu tư đúng và sai. Đầu tư đúng đắn sẽ đẩy mạnh khu vực kinh tế tư nhân ở Miến Điện, mang lại lợi ích cho người dân Miến, và cuối cùng là nới lỏng sự kiểm soát của quân đội đối với nền kinh tế và chính phủ dân sự. Đầu tư sai lầm thì sẽ đi ngược lại, tạo ra một tập đoàn chính trị mới và đẩy lùi sự phát triển của Miến Điện trong nhiều thập kỷ. Vì lý do đó, tôi tin rằng vào lúc này các công ty Mỹ không nên được cấp giấp phép làm ăn với các công ty chính phủ Miến Điện, hiện vẫn còn do quân đội điều hành.

Cách doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không bao giờ thắng trong một cuộc đua ngược dòng với một số đối thủ cạnh tranh ở châu Á, và ngay cả châu Âu. Không nên cố đua như vậy. Thay vào đó, họ nên hợp tác với bà Aung San Suu Kyi và người dân Miến Điện, những người muốn sự đầu tư có trách nhiệm, tiêu chuẩn lao động và môi trường cao, và ủng hộ nhân quyền và chủ quyền quốc gia, được xác định làm ăn với người Mỹ là tốt nhất. Mục tiêu của chúng ta là thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu về trách nhiệm xã hội cho các tập đoàn công ty ở Miến Điện, một tiêu chuẩn mà chúng ta, cũng như bà Aung San Suu Kyi, có thể dùng để áp lực lên những công ty khác làm theo chúng ta, và điều đó có thể trở thành cơ sở cho luật pháp mới Miến Điện.
Những thách thức này chắc chắn là lớn, và nó đòi hỏi tất cả chúng ta phải đặt những tranh cãi chính trị và ghi điểm sang một bên, để thúc đẩy một số lợi ích an ninh quốc gia quan trọng nhất của chúng ta. Tôi tin tưởng rằng chúng ta có thể ngồi lại với nhau và làm điều này. Tôi tin rằng các tiên đoán về suy sụp của Mỹ một lần nữa được chứng minh là sai. Và tôi sẽ cho quý vị biết lý do tại sao – bởi vì ngay cả khi chúng ta làm việc để giữ vững sức mạnh của Mỹ, nhu cầu về sức mạnh quân sự của Mỹ ở châu Á chưa bao giờ lớn hơn như bây giờ.

Ví dụ, trong chuyến đi thăm Miến Điện vừa rồi, tôi đã gặp tổng thống Miến. Hầu hết các thành viên trong nội các của ông cũng có mặt ở đó, và sau cuộc họp, tôi bước tới bắt tay họ. Khi tôi đi xuống, một người trong số họ đã nói: “Fort Leavenworth, 1982″. Rồi một người khác nói: “Fort Benning, 1987″. Và cứ tiếp tục như thế. Tôi nhận ra rằng: nhiều người trong số những người này là các cựu sĩ quan quân đội, những người đã tham gia vào các chương trình trao đổi quân sự của chúng ta, trước khi chúng ta cắt đứt quan hệ với quân đội Miến Điện. Ngay cả sau một thời gian như thế, đã trải qua giai đoạn lịch sử sóng gió như thế, nhưng họ vẫn nhớ đến Mỹ một cách trìu mến, và họ muốn được gần gũi hơn với Mỹ.

Một ví dụ khác: Vì sao các nhà bất đồng chính kiến và người xin tị nạn ở Trung Quốc lại chạy vào Đại Sứ quán Mỹ, khi sự an toàn của họ bị đe dọa? Họ không chạy vào Đại Sứ quán Nga, hay Đại Sứ quán Nam Phi, hay thậm chí các đại sứ quán châu Âu. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta mạnh? Chắc chắn, nhưng các nước khác cũng là những cường quốc. Phải chăng vì chúng ta là một nước dân chủ, bênh vực cho các quyền bình đẳng và nhân phẩm của tất cả mọi người? Chắc chắn là như thế, nhưng các giá trị này là không phải chỉ có mỗi chúng ta có.

Vậy thì vì lý do gì?

Tóm lại, đó là vì chúng ta ràng buộc sức mạnh vĩ đại và các giá trị dân chủ của chúng ta lại với nhau, và chúng ta hành động dựa trên cơ sở này. Đó là vì, trong cộng đồng các quốc gia, thì nước Mỹ vẫn là nước độc nhất – một nước đặc biệt – một cường quốc dân chủ, sử dụng ảnh hưởng chưa từng có không chỉ để nâng cao lợi ích hẹp hòi của mình, mà còn đẩy mạnh một loạt các giá trị siêu việt. Trên hết, đây là lý do vì sao rất nhiều nước ở châu Á và ở những nơi khác bị chúng ta hấp dẫn – bởi vì chúng ta đem sức mạnh của chúng ta vào phục vụ cho những nguyên tắc của chúng ta. Đó là lý do tại sao, trong các chuyến đi của tôi đến châu Á, tôi đã gặp hết người này đến người khác, hết lãnh đạo này đến lãnh đạo khác, những người muốn chọn Mỹ làm đối tác. Họ không muốn ít mà họ muốn nhiều hơn nữa từ Mỹ – thương mại nhiều hơn, hỗ trợ ngoại giao của chúng ta nhiều hơn, và hỗ trợ quân sự và hợp tác của chúng ta nhiều hơn.

Và vào lúc mà hầu hết người Mỹ nói rằng, họ đang mất niềm tin vào chính phủ của chúng ta, chúng ta nên nhớ rằng, có hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, những người này vẫn còn tin tưởng vào Hoa Kỳ, và họ vẫn muốn sống trong một thế giới được định hình bởi sức mạnh của Mỹ, các giá trị Mỹ, và sự lãnh đạo của Mỹ. Với rất nhiều người đang trông cậy vào chúng ta – và không có cách nào để loại chúng ta ra ngoài – ít nhất chúng ta có thể làm là nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với sự kỳ vọng mà họ đặt vào chúng ta.

Tác giả: Ông John McCain là Thượng nghị sĩ cao cấp của Mỹ từ bang Arizona và là thành viên cao cấp của Ủy ban Quân vụ Thượng viện. Bài viết này dựa trên bài phát biểu của ông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Washington, DC trong tháng này.

———-
Ghi chú: Để hiểu đoạn này, cần hiểu bối cảnh cắt giảm ngân sách ở Mỹ. Đề nghị đưa ra là sẽ cắt 1.200 tỉ trong 10 năm tới. Trong khi Đảng Cộng hòa muốn cắt ngân sách liên quan đến các chương trình xã hội (non-security programs), thì Đảng Dân chủ muốn cắt ngân sách liên quan đến các chương trình an ninh (security programs), như ngân sách quốc phòng. Cả hai đảng không thể đi đến một thỏa thuận, nên theo luật mới ra cách đây không lâu là sẽ tự động cắt, nghĩa là sẽ chia đều ra, mỗi bên bị cắt phân nửa, non-security programs: 600 tỉ và security programs: 600 tỉ, trong đó, ngân sách quốc phòng có thể bị cắt 500 tỉ.
Ông John McCain thuộc Đảng Cộng hòa và đã từng là một sĩ quan hải quân, dĩ nhiên là ông phản đối việc cắt giảm ngân sách quốc phòng. Ông nói: “Một số vị trong quốc hội đã đưa ra đề nghị tránh chuyện tự động cắt giảm ngân sách quốc phòng theo luật định, nhưng chúng ta không có được độc quyền về những ý kiến hay”. Câu này có nghĩa là, ông cho chuyện không ủng hộ cắt giảm ngân sách quốc phòng của những người trong quốc hội là ý kiến hay, bởi vì đó cũng là ý kiến của ông.
Nguồn: The Diplomat

 http://anhbasam.wordpress.com/2012/05/27/vi-sao-chau-a-can-my/#more-59844

Nguyễn Hưng Quốc - Thế lực côn đồ


Nguyễn Hưng Quốc 

Sáng Thứ Sáu, ngày 18 tháng 5, có một nhóm người tự xưng là thương binh xông vào phòng làm việc của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm tại Hà Nội. Họ gào thét, chửi bới, ném vỡ đồ đạc, đe dọa nhân viên, thậm chí còn “tụt quần nằm tơ hơ giữa phòng”. Để làm gì? Để uy hiếp Nguyễn Xuân Diện và buộc ông phải gỡ bỏ bài viết "Thư gửi Chính phủ Nhật Bản, phản đối việc viện trợ VN xây nhà máy điện hạt nhân" trên blog của ông.



Nhà báo Mai Xuân Dũng kể:
“Tầng 3 nơi thư viện của tòa nhà cơ quan vương vãi đầy các mảnh vỡ. Tiếng gào thét đang vọng ra từ văn phòng Viện Trưởng. Chúng tôi đã thấy những gương mặt rất đặc trưng “đường phố” đang “làm chủ” nơi này. Và thật bất ngờ tôi nhận ra ngay một thương binh tên là Công trong số 5 người đã tham gia làm cuộc đại náo cơ quan Viện. Vì quen biết nên tôi hỏi anh lý do đã đến đây.

- Tao biết chó gì đâu, “nó” gọi đi là đi thôi.

- Anh có biết rằng Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện là một blogger luôn bênh vực người nghèo khổ và đấu tranh dũng cảm với những cái xấu trên các trang blog không?

- Tao biết “cờ lốc” là cái gì đâu mà hỏi.

- Các anh đòi anh Diện gỡ bài vở trên blog về vấn đề điện hạt nhân. Vậy anh biết gì về việc Nhật bản đầu tư xây dựng cái nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận trong khi chính người Nhật đã dỡ bỏ tất cả mấy chục nhà máy điện nguyên tử sau khi có sự cố Fukushima chứ?

- Chịu, tao không biết.

- Anh cũng từng là nạn nhân, tại sao anh lại để người ta biến mình thành công cụ như thế. Chẳng lẽ vì tiền cái gì cũng làm sao anh?

- Tao đã được cốc bia đ…nào đâu mà mày nói vì tiền chứ.

Thế là đã rõ. Nghe giải thích, Công và hai thương binh nữa bỏ về. Chỉ còn lại hai người tên Duyên mặc áo hoa to như hộ pháp và một người tên Đồng ở lại. Họ đã núng thế trước anh em bạn bè của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện.

Tất cả các nhân chứng đều cho biết Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như bản thân họ đã gọi điện thoại báo cho công an biết. Riêng bà Lê Hiền Đức thì gọi thẳng cho Bộ trưởng công an Trần Đại Quang để yêu cầu can thiệp. Mọi người đều hứa sẽ điều động an ninh đến ngay. Tuy nhiên, cả mấy tiếng đồng hồ sau, sau khi đám người tự xưng là thương binh đến quậy phá và uy hiếp tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã bỏ đi, mới thấy có ba công an đi xe máy đến “làm việc”.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cho biết thêm sau đó điện thoại nhà của ông bị cắt. Rồi điện thoại bàn nơi phòng làm việc của ông cũng bị cắt.

Tất cả các chi tiết trên, kết hợp lại với nhau, cho thấy đám côn đồ tự xưng là thương binh đến hành hung và uy hiếp Nguyễn Xuân Diện không phải là những kẻ “hành động tự phát” theo lối giải thích mà nhà nước Việt Nam thường đưa ra trong những trường hợp tương tự.

Từ năm bảy năm nay, dường như bất cứ ở đâu có những người làm gai mắt và gai tai chế độ cũng đều xuất hiện những tên côn đồ đóng vai trấn áp. Với Trần Khải Thanh Thủy, người thường xuyên phê phán chế độ, lúc còn ở Việt Nam, người ta thấy côn đồ đến gây gổ, cuối cùng, dẫn đến ẩu đả. Với nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang, người ta cũng thấy côn đồ đến quậy phá. Với Hoàng Minh Chính, côn đồ không những chửi bới mà còn ném cả lọ mắm tôm vào nhà. Một số luật sư can đảm dám đứng ra bênh vực những người thấp cổ bé miệng như luật sư Lê Quốc Quân và Trần Đình Triển cũng thường xuyên bị đám côn đồ uy hiếp như vậy.

Hãy nhớ lại cảnh, năm 2009, các tăng ni thuộc hệ phái Làng Mai (của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh) bị đuổi ra khỏi tu viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ ở tỉnh Lâm Đồng như thế nào. Hình ảnh ghi lại trong các cuộn băng video cho thấy bọn côn đồ xông vào đánh đập tăng ni, có khi đánh đến bất tỉnh. Chúng còn “phá cửa sổ, đồ đạc, bàn ghế, giường chiếu và đổ nước lạnh nhằm phá hủy các thiết bị điện tử, kể cả điện thoại di động và máy điện toán cá nhân mà tăng ni sinh dùng để liên lạc với truyền thông báo chí, cũng như với dòng thiền mẹ bên Pháp là Làng Mai.” Thiền sư Nhất Hạnh cho biết đám côn đồ ấy đã được thuê với giá 200 ngàn đồng cho mỗi người một ngày.

Không phải chỉ có Phật giáo. Nhiều tu sĩ và giáo dân Tin Lành và Công giáo, những người không ngoan ngoãn vâng lời chính quyền, đều bị đám côn đồ nhào đến hành hung. Có khi chúng đánh lẻ, như với linh mục Nguyễn Quang Hòa ở Kontum vào ngày 22/2/ 2012 hay với linh mục Nguyễn Văn Bình ở Hà Nội vào ngày 15/4/ 2012. Có khi chúng đánh với quy mô lớn, tấn công thẳng vào nhà thờ hoặc tu viện, như ở Thái Hà, Mỹ Lộc, Con Cuông (Vinh), Tam Tòa, Đồng Chiêm, Loan Lý, Cồn Dầu, Vĩnh Long…

Cho đến nay, nhà nước Việt Nam thường giải thích sự có mặt của đám côn đồ trong các vụ trấn áp ấy chỉ là đám “quần chúng tự phát”. Lời giải thích ấy là một cách phủi trách nhiệm.

Tuy nhiên, ở điều có hai điều đáng bàn:
Thứ nhất, nếu nhà nước cho đó là những hành động tự phát thì họ mặc nhiên thú nhận mình bất lực trong việc trị an, để mặc cho bọn côn đồ tác oai tác quái, hết đánh đập người này đến đánh đập người khác, hết xông vào phá chùa lại xông đến đập nhà thờ, hết lộng hành ở nhà dân lại hành hung cán bộ ngay trong công sở. Đó không phải chỉ là sự bất lực của lực lượng công an mà còn là sự bất lực của luật pháp nói chung. Trước sự bất lực ấy, bọn côn đồ tha hồ hoành hành.

Thứ hai, trong rất nhiều trường hợp, người ta chụp được hình ảnh các công an đứng lảng vảng phía sau hoặc có khi trà trộn hẳn vào cái đám côn đồ được gọi là “quần chúng tự phát” ấy. Trong vụ trấn áp Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện vào ngày 18/5 vừa qua, tuy không có bóng dáng công an đâu cả, nhưng việc công an khoanh tay không thèm đến can thiệp và việc điện thoại nhà cũng như điện thoại văn phòng của Nguyễn Xuân Diện bị cắt cũng tiết lộ rất nhiều điều bất thường trong mối quan hệ giữa công an và đám côn đồ.

Từ trước đến nay, chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam thường rêu rao nền tảng quyền lực của họ, về ý thức hệ, là chủ nghĩa Mác, rồi sau đó, (cộng thêm) “tư tưởng Hồ Chí Minh”; về phương diện xã hội, là giai cấp công nhân và nông dân; về phương diện chính trị, là quân đội và công an. Hiện nay, chả lẽ lại xuất hiện thêm một thành phần mới nữa sao?


Bùi Tín - Chân dung tên tội phạm diệt chủng Khmer Ðỏ còn sống


Bùi Tín (VOA)

Hình: AP 

Trong bài viết trước đây về cuốn sách «l’Élimination» - Thủ Tiêu - của nhà văn - điện ảnh Rithy Panh, chân dung của tên sát nhân Duch cầm đầu cơ quan Công an Santebal của Khmer Đỏ đã được phác họa sơ qua.

Duch là tên đồ tể tội phạm diệt chủng bị Tòa án hình sự quốc tế truy nã và xét xử vẫn còn sống. Đây là một nét rất đặc biệt. Để Rithy Panh tranh thủ khai thác nhằm tìm hiểu quá trình hình thành tư tưởng, tâm lý, nhân cách, tội ác của một tên sát nhân ngay từ cửa miệng của hắn. Ông đã quay phim, ghi âm hơn 100 giờ đồng hồ hỏi chuyện trực tiếp với hắn và mang về Pháp hơn 3 vali lớn để khai thác dần kho tư liệu độc đáo này.

Dưới đây là thêm vài nét về tay sát nhân đầu sỏ trong cuộc diệt chủng ở Campuchia.

Duch, có khi là Doutch, là Douch, là Duch trên báo Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ, tên thật là Kaing Guek Eav sinh ngày 17 tháng 11 năm 1942 - năm nay 70 tuổi – trong một gia đình tư sản trí thức ở Pnom Penh. Duch theo học trường trung học Pháp, học khá giỏi, văn và toán đều xuất sắc, sau khi đậu tú tài toán học Pháp, làm giáo sư toán một trường trung học năm 1963.

Dưới thời Lon Non, Duch về nông thôn, gia nhập đảng cộng sản Campuchia còn gọi là Khmer đỏ của nhóm Pol Pot, Noun Chea, Yeng Sari, Khieu Sam Phan. Nhóm này đều là trí thức du học ở Pháp về, từng tham gia đảng Cộng sản Pháp ở Paris. Duch từng là thư ký giúp việc cho Son Sen, sau này làm bộ trưởng quốc phòng cho Pol Pot. Ngay từ năm 1972, Duch đã được giao cho cầm đầu trại giam trong rừng mang tên M 13 của Khmer Đỏ thuộc cơ quan công an mang tên Santebal. Cái nghề đồ tể của hắn bắt đầu từ đó.

Duch sớm là đồ đệ trung thành của Pol Pot và Noun Chea, tiếp thu học thuyết Khmer Ðỏ không chút do dự, làm “cuộc cách mạng vô sản triệt để, triệt để, rất triệt để”, “trong sạch, trong sạch, rất trong sạch”, thủ tiêu tận gốc xã hội cũ hoàn toàn thối nát, tận diệt bọn tư sản, bọn trí thức tư sản không thể cải tạo, tận diệt sách vở cũ, tiền nong, ngân hàng, chợ búa, mua bán… bị gán cho là nguồn gốc của nạn người bóc lột người, của mọi tội ác.

Từ lời khai của tay sát nhân hàng loạt Duch lộ rõ nguyên hình tư tưởng thanh lọc chủng tộc một cách triệt để do bọn Pol Pot đề xướng, đó là thanh toán, trừ khử, thủ tiêu mọi kẻ dính đến tư sản – “bourgeois”, theo tiếng Pháp mà chính Pol Pot, Yeng Sary thường dùng, vì bọn chúng đều học làm chính trị từ khi ở Pháp. Chữ Pháp thứ hai bọn chúng hay dùng là chữ “prolétaire” nghĩa là “vô sản”, mà theo chúng vô sản ở nước nông nghiệp là bần nông, cố nông, nông dân nghèo, thất học, là thành phần giai cấp trong sạch nhất, nguyên sơ để đào tạo thành giai cấp chủ đạo của xã hội mới. Đó là giai cấp lao động, làm ra giá trị mọi sản phẩm của xã hội sẽ được đào tạo thành giai cấp công nhân mới, trong sạch, ưu việt, tiên tiến, chủ thể của thế giới mới, theo con đường của Mác.

Theo Duch, lãnh tụ kiệt xuất, Anh Cả Pol Pot dạy rằng phải có gan diệt bỏ thế giới cũ, con người cũ, không chút do dự, thương tiếc theo tình cảm tiểu tư sản, mà phải có gan, “tinh thần sáng suốt, sáng suốt, rất sáng suốt” của người cộng sản chân chính để phá bỏ triệt để xã hội cũ, kể cả con người cũ, thấy máu chảy đầu rơi mà không chút ghê sợ. Hắn dạy đảng viên của hắn: cuộc sống sinh ra từ máu chảy, từ cái chết. Kinh khủng một học thuyết giết người không ghê tay, một học thuyết chủ trương và cổ vũ giết vô vàn sinh mạng con người.

Riêng Duch, tên đồ tể ngoại hạng, chịu trách nhiệm trực tiếp về cái chết của 12.380 tù nhân trong trại tù Tuol Sleng, kể rằng hắn có một lập luận riêng để dửng dưng khi tự tay giết người, đập gậy vào đầu, quật trẻ em vào gốc cây, vào tảng đá, là: “mày chết tao cũng không thiệt mất gì, mày sống tao cũng không được lợi gì, tao bất cần, tao làm phận sự của tao”.

Thể hiện tính chất cực đoan trong tư tưởng chính trị, theo Duch kể, bọn Pol Pot thường nhắc đi nhắc lại 3 lần một tính từ, như “một cuộc thanh lọc chủng tộc trong sạch, trong sạch, rất trong sạch”, “một cuộc cách mạng triệt để, triệt để, rất triệt để”, rằng “cách mạng Khmer là tiền phong, tiền phong, tiền phong nhất của cách mạng vô sản”, rằng cách mạng Nga đã bị phản bội do bọn xét lại, rằng cách mạng Trung Quốc đã bị Mao bỏ dở sau cách mạng Văn hóa Vô sản, nay là nghĩa vụ của đảng CS Khmer dẫn đầu cuộc cách mạng vô sản thế giới một cách triệt để nhất, với tiền lệ là nền Văn Minh Ăng Kor vượt xa mọi nền văn minh của nhân loại.

Một bọn tội phạm cuồng điên bàn tay đẫm máu đồng bào đồng loại còn leo lẻo nói đến văn minh, sự điên loạn và đạo đức giả của chúng thật không còn giới hạn.

Duch sống lẩn trốn ở Thái Lan từ sau 1979, làm đủ thứ nghề, đến cuối năm 1999 thì bị lộ, bị nhận diện và bị bắt giữ, giao lại cho chính quyền Pnom Penh. Trước đó, năm 1996, hắn xin vào đạo Công giáo và xin làm lễ rửa tội, nhưng vẫn dấu kỹ tội ác tày trời của hắn. Trong số gần 13 ngàn người dân bị giết trong trại tù Tuol Sleng, chủ yếu là người Khmer, còn có người Việt, Lào, Hoa, Thái Lan, Pháp, Đức, Philippines, Indonesia, Miến Ðiện… Chỉ có 7 người mạo hiểm trốn được khỏi trại, cũng đã chết cả sau đó.

Trước phiên Tòa án hình sự quốc tế ở Pnom Penh, ngày 31 tháng 7 năm 2007, Duch đã phải nhận bản án 35 năm tù giam về trọng tội diệt chủng và phải tỏ lời xin lỗi những nạn nhân và gia đình nạn nhân. Ngay sau đó hắn cũng xin được giảm án. Gần đây, Tòa đã xét chung thẩm và tuyên án tù chung thân.

Trong cuốn sách của mình, nhà điện ảnh trẻ Kithy Panh đối diện với Duch, tên sát nhân từng hành hạ mình, anh đặt ra vô vàn câu hỏi nhằm cật vấn lương tâm hắn. Anh cho rằng Duch là con người rất phức tạp, nhiều mặt, tráo trở, khi thì có vẻ hối hận, hoảng sợ bị trừng phạt, khi thì bình thản biết rằng không bị tử hình, nhưng có lúc còn tỏ ra tự mãn, bất cần, cho rằng mọi sự là do ý muốn của Thượng đế. Có lúc hắn còn lên gân để lộ vẻ cao ngạo mù quáng, cho rằng có khi hắn tự nhủ phải lao vào hành động tội ác cực đoan nhất để ra oai, làm gương cho cấp dưới, để tỏ lòng trung thành với thượng cấp của hắn.

Điều mà Kithy Panh kinh hoàng là có lúc Duch còn lên tiếng cười, cái cười của một tên sát nhân từng giết hàng vạn con người, tiếng cười của quỷ sứ, của chó sói, tiếng cười từ âm ty, địa ngục, từ thế giới của ma vương, làm anh bị nạn mất ngủ kéo dài.

Kithy Panh còn kinh hoàng khi nghe con quỷ đội lốt người ấy đọc thơ, những bài thơ đẹp của Victor Hugo, của Alfred de Vigny mà hắn còn nhớ. Anh băn khoăn tìm hiểu, trao đổi với các bạn Pháp vì sao tên sát nhân Duch và quan thầy của hắn như Pol Pot, Yêng Sari, Khiêu Sam Phon… đều học ở Pháp, nói tiếng Pháp trôi chảy, đọc Descartes, Voltaire, thuộc thơ Victor Hugo lại có thể nghĩ ra những học thuyết ma quái man rợ, lại còn thực hành việc giết hại 1,7 triệu dân Khmer đồng bào mình một cách bài bản, nhân danh một nền văn minh hiện đại do ông Marx nào đó nghĩ ra.

Cám ơn nhà văn – nhà điện ảnh Kithy Panh sống sót qua cuộc diệt chủng ở Campuchia đã sáng tạo nên tác phẩm điện ảnh và văn học có giá trị để truyền lại bài học sống động về con người, cho con người, để không bao giờ không ở đâu còn có thể diễn lại họa diệt chủng.

Người Việt ta khi tìm hiểu về bọn sát nhân Khmer Đỏ không khỏi giật mình khi biết rằng bọn chúng luôn tự nhận là đồ đệ của Mao, được Mao bồi dưỡng, trang bị, huấn luyện, chỉ huy nhằm quấy phá biên giới phía Nam nước ta suốt từ 1975 đến đầu năm 1979. Vậy mà sau cuộc họp mật ở Thành Đô – Trung Quốc (tháng 9-1990) Lê Đức Anh nhân danh lãnh đạo CS Việt Nam đã đề nghị 3 nước (Việt Nam – Trung Quốc – Campuchia) thực hiện Biện pháp Đỏ, thắt chặt liên minh 3 nước CS với nhau. (mời các bạn đọc lại tập hồi ký của Trần Quang Cơ - Nhớ lại và Suy nghĩ).

Khi nghe tên Duch kể lại cái học thuyết quái thai của Khmer Đỏ, bắt nguồn từ học thuyết đấu tranh giai cấp của Marx và học thuyết bạo lực của Mao, nguồn gốc của nạn diệt chủng từng giết hàng trăm triệu sinh linh ở Nga, Trung Quốc, Trung Âu, Đông Dương, chúng ta không thể không bàng hoàng khi biết gần đây Nguyễn Phú Trọng đã sang tận Cuba để thuyết giáo về những học thuyết diệt chủng này. Vẫn là chủ nghĩa Marx, là đấu tranh giai cấp, là vô sản thế giới liên hiệp lại, là chủ nghĩa xã hội một đảng ưu việt, là kinh tế quốc doanh là thống soái, là ba hoa chích chòe không chút ngượng mồm. Một học thuyết không còn nguyên vẹn ở Việt Nam, đã bị bóp méo, còi cọc, cắt xén, lại đem rao bán ở Cuba. Một học thuyết bị cả châu Âu lên án và tẩy chay vĩnh viễn.


Mặc Lâm - Vinalines và “tam quyền phân lập”


Mặc Lâm, Biên tập viên RFA

Vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước ngày càng lộ rõ những sai phạm nghiêm trọng có cả biểu hiện của lợi ích nhóm và tham nhũng.


Trụ sở của Vinalines, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam. RFA

Câu hỏi đặt ra cho Vinashin và Vinalines nếu Việt Nam theo đuổi mô hình “tam quyền phân lập” thì những đổ vỡ này có thể tránh được hay không? Mặc Lâm có thêm chi tiết qua bài viết sau đây.

Trong những ngày qua hai vấn đề được báo chí theo dõi chặt chẽ nhất là những bàn cãi về kinh tế, xã hội trong phiên họp Quốc hội kỳ này, đặc biệt việc bãi nhiệm tư cách đại biểu của bà Đặng Thị Hoàng Yến và Vinalines.

Với báo chí, Vinalines đã lộ diện tất cả những gì mà tập đoàn này cùng với sự thỏa thuận ngầm của giới chức trách nhiệm muốn che giấu. Mặc dù Quốc hội lên tiếng nhưng dư luận thấy sự lên tiếng đó hình như không tương ứng với mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

Ai trả lời cho những câu hỏi này?

Có đại biểu đặt câu hỏi tại sao cơ quan điều tra lại để nhân vật chủ chốt của vụ Vinalines là ông Dương Chí Dũng thoát khỏi mạng lưới pháp luật trong khi theo nguyên tắc, Bộ trưởng Đinh La Thăng phải biết rõ từng chi tiết trong suốt quá trình điều tra. Ông Thăng phải cộng tác với cơ quan điều tra trong việc cung cấp các tài liệu mà Bộ Giao thông Vận tải nắm giữ vì Vinalines chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Giao thông Vận tải mà ông Dương Chí Dũng từng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines và chức vụ sau cùng là Cục trưởng Cục Hàng hải.

Ngày 29/4/1995, [ngày] Tổng công ty Hàng hải Việt Nam gọi tắt là Vinalines được thành lập theo Quyết định số 250/TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng chính là ngày mà hàng trăm đơn vị, cá nhân có liên quan đến tập đoàn này bắt đầu một cuộc hưởng lợi dây chuyền từ cấp lãnh đạo cao nhất cho tới một nhân viên lao động phổ thông nhỏ nhất. Với nguồn vốn ưu đãi, đặc quyền trong sản xuất và thành lập hợp đồng, cho tới toàn quyền sử dụng các loại trái phiếu chính phủ để chia chác nhau qua các vụ mua tàu cũ đã khiến con bệnh Vinalines trở nên bất trị.

Hàng ngàn tỷ nợ khó đòi cộng với số tiền thất thoát hàng trăm ngàn tỷ khác đã làm cho nền kinh tế Việt Nam vốn đang chao đảo bị thêm một cú va đập nảy lửa khiến cho cả xã hội như đang bừng tỉnh trước sự thật khó chối cãi: các tập đoàn nhà nước được lập ra không phải vì nhiệm vụ cao cả như nhà nước phân bua mà lý do chính phát xuất từ lợi ích nhóm cũng như các mục tiêu tham nhũng trong hệ thống.

Chỉ giám sát khi được cho phép


Các tập đoàn cột trụ của kinh tế Việt Nam. RFA/internet

Vai trò Quốc hội của hầu hết các nước trên thế giới là giám sát và ngăn chặn những vụ lạm dụng chức quyền dẫn đến các đổ vỡ nghiêm trọng trong việc điều hành của chính phủ. Quốc hội Việt Nam trên danh nghĩa cũng chấp nhận sự [có quyền] giám sát ấy nhưng nội dung hoàn toàn khác hẳn: sự giám sát chỉ được thực thi khi Đảng cho phép. TS Lê Đăng Doanh, nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết:

“Việc đổ vỡ của Vinalines và việc truy nã ông Dương Chí Dũng là giọt nước tràn ly làm cho nghị trường Quốc hội Việt Nam nóng lên vì các sai sót rất nghiêm trọng không thể chối cãi được của các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Quốc hội rất muốn thực hành quyền giám sát của mình và điều ấy được người dân, cử tri và công luận hết sức ủng hộ. Tuy vậy cơ chế chính trị của Việt Nam phải được quyết định phía bên đảng và phải được bàn thảo. Có lẽ rằng đảng chưa có quyết định cho nên những đề nghị của quốc hội cho đến nay cũng chỉ là đề nghị chứ chưa được thực hiện”.

Thực trạng Quốc hội không có quyền giám sát chính phủ cũng như tòa án các cấp không có quyền xét xử độc lập đã được mặc nhiên chấp nhận bởi Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu. Vai trò của Đảng đã nhiều lần được khẳng định qua các tuyên bố của nhiều đời Tổng Bí thư mà mới nhất vào sáng ngày 7/5, trong diễn văn khai mạc Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Hà Nội Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không che dấu khi xác nhận một lần nữa Đảng không chấp nhận “tam quyền phân lập”.
Khi tam quyền phân lập bị khước từ


Ông Nguyễn Phú Trọng tại phiên khai mạc Đại hội 11 ở Hà Nội hôm 11-1-2011. AFP PHOTO

Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nhận xét:
“Một nhà nước khi mà tuyên bố rằng không tán thành quan điểm tam quyền phân lập thì ai kiểm tra khi mà những nhóm đặc quyền đặc lợi tha hồ tung hứng?

Những chuyện bổ nhiệm này ai kiểm soát, ai phản biện và ai được quyền tham gia vào trong vấn đề bổ nhiệm và kiểm soát này? Tổng giám đốc của Vinalines đang bê bối như thế thì lại được nhấc lên làm Cục trưởng Cục Giao thông hàng hải! Thật ra mà nói nó cũng chỉ nằm trong phạm vi của nhóm lợi ích thôi chứ không thể ai khác được.

Vấn đề là ai đã tạo điều kiện cho ông ta cao chạy xa bay như vậy? Ở đây nếu không có sự bao che, không có sự tiếp tay của những thế lực cầm quyền thì làm sao một nhân vật như vậy lại bỏ trốn một cách thoải mái và ngang nhiên như thế?”.

Nếu nền dân chủ của một quốc gia được ví như mặt bàn thì “tam quyền phân lập” không khác gì ba chân của chiếc bàn tròn dân chủ ấy. Sự khước từ vai trò độc lập của lập pháp, tư pháp và hành pháp là nguyên nhân cốt lõi gây ra kết nối lợi ích nhóm tàn phá mọi nỗ lực chống lại tham nhũng và bất công xã hội. Luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch UBMTTQ thành phố Hồ Chí Minh đưa ra nhận xét:
“Tất nhiên tam quyền phân lập không phải là tất cả để mà cứu vãn tình hình. Nó còn gắn với trình độ lãnh đạo nữa. Nhưng rõ ràng đó là một cách để ràng buộc những người cầm quyền phải có trách nhiệm. Bởi vì nếu không có trách nhiệm thì với một nền tư pháp độc lập họ sẽ bị xử như những người khác. Do đó nếu có tam quyền phân lập thì chúng ta sẽ tránh được rất nhiều vụ Vinashin và Vinalines.

Một nhà nước không có tam quyền phân lập là một nhà nước toàn trị và như vậy thì không có ai chịu trách nhiệm cả. Thí dụ bây giờ ngoài những lãnh đạo Vinashin và Vinalines thì trên hết ai là người chịu trách nhiệm về vấn đề đó? Người đó phải được đưa ra xử chớ? Vì đã để thất thoát hàng trăm ngàn tỷ của nhân dân chớ không thể nói một cách mơ hồ hay đổ cho người lãnh đạo Vinashin, Vinalines. Tôi cho rằng tam quyền phân lập là biện pháp rất quan trọng để chống tham nhũng”.
Lợi ích nhóm, tham nhũng: làm sao đối phó?



Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. AFP photo

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa trong phiên thảo luận đầu tiên của Quốc hội đã khẳng định rằng tham nhũng đang cấu kết với lợi ích nhóm trong vụ án Vinalines nhưng nhà nước hình như vẫn rất lúng túng trước sự thật này. Giáo sư Tương Lai cho biết:

“Nhà nước pháp quyền đích thực không thể để cho một nhóm lợi ích thao túng nền kinh tế như vậy. Muốn như vậy thì tối thiểu, không nói phái đối lập hay đảng đối lập gì cả mà chỉ nói phân ra ba quyền để mà kiểm soát lẫn nhau, hạn chế bớt đặc quyền đặc lợi. Thật ra tam quyền phân lập là một thành tựu của nền văn minh chứ đâu phải là một sản phẩm tư sản? Nói cho đến cùng sản phẩm của tư bản đó nó tiêu biểu cho một nển văn minh và cho trí tuệ cho cả loài người!

Ngay trong bản thân nhà nước để tránh bớt đi, tôi nói bớt thôi, sự lộng quyền bởi vì xu hướng chung của quyền lực là nó muốn mở rộng vô hạn độ quyền lực của mình, đó là quy luật rồi. Thêm vào đó đã là quyền lực thì nó sẽ dẫn đến tha hóa, tham nhũng”.

Một lần nữa, ông Lê Hiếu Đằng nhắc lại vai trò độc lập của tòa án khi giải quyết các vấn nạn tham nhũng. Khước từ vai trò của tam quyền phân lập cũng chính là khước từ việc chống tham nhũng.

“Nếu muốn  chống tham nhũng một cách hiệu quả thì tư pháp phải độc lập mới dám đưa ra xét xử những vị lãnh đạo cao trong đảng, trong nhà nước. Ngay bây giờ thí dụ Thủ tướng chính phủ chẳng hạn, bất cứ Thủ tướng nào, vi phạm thì ai xử Thủ tướng?

Hay là ông Tổng Bí thư vi phạm thì ai xử ông Tổng Bí thư? Với tư cách công dân, tư cách những người đứng đầu nhà nước, đứng đầu đảng mà ông phạm pháp thì phải có một cơ quan độc lập xét xử chứ không thể nào khác. Do đó tôi nghĩ rằng tam quyền phân lập rất quan trọng, nếu không có tam quyền phân lập thì ngay lập tức sẽ trở thành một nhà nước toàn trị và không ai kiểm soát hay giám sát cả”.

Tập đoàn kinh tế nhà nước là một biểu hiện sai lầm khi không áp dụng mô hình tam quyền phân lập. Từ năm 2006 đến 2010 Quốc hội đã nhiều lần yêu cầu đưa ra nghị trường bàn về vấn đề mô hình tập đoàn kinh tế nhưng không đến đâu vì ý chí của Đảng đã xác định tập đoàn kinh tế nhà nước là “quả đấm thép” của nền kinh tế. Lúc đầu nhà nước báo cáo với Quốc hội chỉ chủ trương làm thí điểm nhưng chưa tổng kết, đánh giá xem đúng hay không thì cũng chính nhà nước cho phép đồng loạt các tập đoàn kinh tế được thành lập gây thiệt hại hết tập đoàn này sang tập đoàn khác.

Không còn cách nào khác

TS Lê Đăng Doanh, dưới cái nhìn của một chuyên gia kinh tế từng giữ những chức vụ tư vấn cho chính phủ nhận định rằng tập đoàn kinh tế nhà nước chính là đầu mối của mọi bất ổn kinh tế hiện nay:
“Tôi nghĩ rằng sự thật vẫn mạnh hơn giáo điều, lý thuyết khô cằn nào. Tình hình thực tế đã diễn biến như thế này tôi hy vọng lãnh đạo các cấp thẩm quyền sẽ sớm có quyết định thay đổi cơ chế quản lý, giám sát cũng như tổng kết chấm dứt thí điểm các tập đoàn kinh tế nhà nước đã tạo ra lổ hổng rất lớn trong quản lý và giám sát của nhà nước, đối với vốn chủ sở hữu, đối với đầu tư và các hoạt động của các tập đoàn”.

Từ một lý thuyết bị từ chối, tam quyền phân lập đã chứng minh rằng không những nó tiết chế những hành vi phạm pháp của các cấp lãnh đạo cao nhất mà tam quyền phân lập chính là con đường duy nhất dành cho bất cứ nền dân chủ nào, ngoại trừ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định.

M.L.
Nguồn: rfa.org