Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Nguyễn Hưng Quốc - Con hổ cô đơn


Nguyễn Hưng Quốc 


Trong bài “Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai…”, tôi đã tóm tắt một ít về các chính sách ngoại giao của Trung Quốc, trong đó, nổi bật nhất là việc Trung Quốc đổ ra cả hàng chục tỉ đô-la để mua chuộc các nước nghèo và độc tài ở châu Phi và Nam Mỹ. Việc mua chuộc ấy có thể thành công hay không? Chắc chắn là có. Trung Quốc vốn rất giỏi về đầu tư và đầu cơ, làm gì có chuyện họ đổ ra một số tiền lớn như vậy mà không thu lại cái gì. Tuy nhiên, lợi, nếu có, chắc cũng rất giới hạn. Về phương diện thế đứng trên trường quốc tế, nó không mang lại sự thay đổi đáng kể nào cho Trung Quốc cả. Giữa mấy trăm quốc gia trên thế giới, Trung Quốc vẫn là một kẻ cô đơn, thậm chí, có người còn gọi đó là một “siêu cường cô đơn nhất” (the loneliest superpower).
Mà, thật ra, không phải bây giờ. Từ sau năm 1949, lúc đảng Cộng sản giành được chính quyền, Trung Quốc, mặc dù lúc nào cũng rêu rao là có bạn bè ở khắp thế giới, thật ra, là một quốc gia hoàn toàn cô lập. Đồng minh của họ, may ra, chỉ có hai: Bắc Việt và Bắc Hàn. Nhưng Bắc Việt, lúc ấy, lại ở trạng thái ngoại tình: chỉ một nửa trái tim dành cho Trung Quốc, còn nửa kia vẫn nghiêng về Liên Xô. Sau năm 1975, nửa  trái tim dành cho Trung Quốc ấy cũng biến mất. Thế vào chỗ trống ấy, Trung Quốc có một người bạn mới: Pol Pot ở Campuchia. Và thêm một người bạn ở khá xa: Romania của Ceausescu. Cộng hai người này với Kim Nhật Thành (và sau đó, Kim Chính Nhật) ở Bắc Hàn, Trung Quốc có cả thảy ba người bạn thân. Cả hai đều khét tiếng về “tài” giết người, chủ yếu là giết dân của họ.

Sau này, khi có chính sách đổi mới về kinh tế, Trung Quốc đi ra thế giới và bắt đầu kiếm bạn. Càng ngày họ càng có nhiều “đối tác chiến lược” (strategic partner), đặc biệt ở châu Phi và Nam Mỹ. Có lúc một số nhà bình luận hốt hoảng hô hoán lên là Trung Quốc đã chui vào tận sân sau của Mỹ, bắt tay với các nước vốn gần gũi với Mỹ về phương diện địa lý và hầu như luôn luôn nằm trong bàn tay bảo bọc của Mỹ. Tuy nhiên, dần dần người ta nhận thấy các mối quan hệ ấy chỉ dừng lại ở phạm vi kinh tế, và gần đầy, một ít về văn hóa. Còn về chính trị, tất cả dường như chỉ nhắm đến một mục tiêu duy nhất: cô lập Đài Loan. Vậy thôi. Giả dụ một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và một nước nào đó bùng nổ, các “đối tác chiến lược” xa xôi và nghèo khổ kia có thể giúp đỡ gì cho Trung Quốc? Câu trả lời rất rõ ràng: Không.

Về phương diện chính trị, một quan hệ đồng minh không thể được mua bằng tiền. Tiền bạc vừa có giới hạn vừa dễ thay đổi. Căn bản của quan hệ đồng minh được xây dựng trên ba nền tảng sâu sắc hơn: một, những lợi ích về an ninh chung; hai, sự tương đồng trong các giá trị thuộc về văn hóa và ý thức hệ; và ba, sự tin cậy. Yếu tố đầu tiên, trước hết, có tính địa lý: Đó là một thứ địa chính trị. Chính trị bao giờ cũng có tính chất địa phương. Mâu thuẫn, nếu xảy ra ở châu Phi hoặc Nam Mỹ, chủ yếu là mâu thuẫn trong vùng, với các nước láng giềng. Bởi vậy, một tình bạn, nếu có, với một quốc gia xa xôi như Trung Quốc, thật ra, không giải quyết được điều gì cả. Trung Quốc còn lâu lắm mới có được một cánh tay dài như Mỹ để có thể tham gia vào các mâu thuẫn toàn cầu. Hai yếu tố sau, ý thức hệ và sự tin cậy lại có tính chất lịch sử: Chúng hình thành qua thời gian. Mà thời gian ở đây lại có thể kéo dài cả hàng trăm năm. Hơn nữa, ở đây Trung Quốc lại gặp hai bất lợi lớn: một, thứ chủ nghĩa cộng sản mà Trung Quốc đang theo đuổi đã hoàn toàn lỗi thời, không thể là cơ sở chung cho bất cứ mối quan hệ nào, kể cả quan hệ giữa các quốc gia cộng sản cuối cùng còn lại trên thế giới; thứ hai, với một ý thức hệ lỗi thời và một thể chế toàn trị như thế, Trung Quốc, may ra, chỉ có thể thiết lập quan hệ với chính quyền chứ không thể đạt được sự đồng tình và ủng hộ của dân chúng, những người vốn khao khát tự do và nhân quyền.

Có thể nói, Trung Quốc gặp khó khăn trong cả ba yếu tố nền tảng để xây dựng một quan hệ đồng minh chiến lược. Chỉ cần mở rộng tấm bản đồ thế giới ra nhìn, chúng ta sẽ thấy ngay được điều đó.

Trong tất cả các quốc gia láng giềng của Trung Quốc, có ba quốc gia lớn nhất và mạnh nhất, cả ba, với những mức độ khác nhau, đều là đối thủ của Trung Quốc: Nga, Ấn Độ và Nhật Bản. Trước đây, ngay cả khi chia sẻ với nhau về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Nga và Trung Quốc cũng không bao giờ thực sự gần gũi và tin cậy nhau. Huống gì là bây giờ. Còn với Ấn Độ và Nhật Bản thì Trung Quốc lại càng xa cách, thậm chí, thù nghịch.
Trung Quốc chỉ có thể hy vọng tìm đồng minh ở các nước nhỏ còn lại: Việt Nam, Miến Điện, Cam Bốt, Lào và Nepal. Trong đó, quan hệ với Việt Nam không phải lúc nào cũng êm ấm và càng ngày càng không êm ấm. Nó luôn luôn đối diện với thử thách về quyền lợi, do đó, có thể bùng nổ tranh chấp bất cứ lúc nào. Hơn nữa, đó cũng là một thứ quan hệ giả, ở cấp nhà nước, chứ không phải ở dân chúng: Một lúc nào đó, chính quyền phải lựa chọn giữa dân chúng và ngoại bang. Lúc đó, thứ quan hệ tưởng là đồng minh ấy sẽ tan vỡ ngay. Điều ấy đã bắt đầu xuất hiện ở Miến Điện, khi chính phủ đang toan tính mở rộng dân chủ để được sự nhìn nhận và ủng hộ từ Tây phương và cũng để giữ khoảng cách với Trung Quốc. Với các nước khác còn lại, từ Lào đến Cam Bốt và Nepal, Trung Quốc ở vào cái thế “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”: Đó là những nước nhỏ và yếu. Và vì nhỏ và yếu nên rất dễ dàng bị giao động.

Không lúc nào sự cô lập của Trung Quốc thể hiện rõ cho bằng trong cuộc hội nghị thượng đỉnh các nước Đông Á ở Bali vào tháng 11 năm ngoái: Hầu hết các quốc gia trong khối ASEAN đều công khai lên tiếng ủng hộ lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông. Và hầu hết đều xem Trung Quốc như một đe dọa.

Trung Quốc chỉ thực sự có hai đồng minh gần gũi: Pakistan và Bắc Hàn.

Nhưng quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Hàn là một thứ quan hệ lạ lùng. Trung Quốc đổ tiền nuôi dưỡng Bắc Hàn để cố duy trì sự tồn tại của một thứ đê chắn ngang giữa Trung Quốc và Nam Hàn, từ đó, với thế giới Tây phương nói chung. Nhưng Bắc Hàn không phải lúc nào cũng nghe lời Trung Quốc hoặc tôn trọng quyền lợi của Trung Quốc. Trên thực tế, đối với Trung Quốc, Bắc Hàn là một gánh nặng hơn là một đồng minh.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan chỉ tốt đẹp với một điều kiện: sự thù nghịch chung của hai nước đối với Ấn Độ. Khi sự thù nghịch ấy không biến thành hành động, Pakistan cũng sẽ không bao giờ dám hiện thực hóa quan hệ đồng minh với Trung Quốc. Hơn nữa, Pakistan còn lệ thuộc vào Mỹ rất nhiều. Ngoài ra, còn lý do này nữa: Pakistan, với mức độ nào đó, là một quốc gia dân chủ, không phải chính quyền muốn làm gì thì làm. 
Ý kiến của dân chúng là một sức mạnh rất lớn. Mà đối với dân chúng, các giá trị văn hóa và ý thức hệ lại đóng một vai trò hết sức quan trọng. Ở cả hai lãnh vực, họ đều xa lạ với Trung Quốc: Họ vừa là Hồi giáo lại vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Anh, cả hai đều không có ở Trung Quốc.

Ở trên, chúng ta xét thế đứng cô lập của Trung Quốc về phương diện địa chính trị. Về phương diện thể chế, Trung Quốc lại càng bị cô lập. Hiện nay, thể chế dân chủ dựa trên bầu cử tự do hiện diện trên 60% số quốc gia trên thế giới. Trung Quốc thuộc thành phần thiểu số, nằm trong 40% còn lại. Cái tỉ lệ 40% ấy càng lúc càng giảm đi, ngay ở các quốc gia vốn là đồng minh lâu năm của Trung Quốc, từ Mông Cổ đến Miến Điện. Số còn lại cũng sẽ đối diện với nhu cầu thay đổi như thế: Nếu họ không thay đổi, họ sẽ bị sụp đổ.

Do đó, Trung Quốc vốn đã cô đơn sẽ càng ngày càng cô đơn hơn.

Dĩ nhiên, một con hổ cô đơn cũng vẫn là một con hổ cực kỳ nguy hiểm.

Chỉ có điều đáng mừng là: Nó không phải là một cái gì không thể chống cự lại được.

***

Chú thích: Các số liệu ở trên đều lấy từ bài “The loneliest superpower” của  Minxin Pei.

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Chiên & Rán


Vợ tui người miền Nam, quê quán ở tuốt luốt dưới Gò Quao hay Tắc Cậu gì đó. Hồi mới cưới, khi tui còn nhan sắc, nàng mê tui gần chết nên lúc nào cũng hớn hở và vui ... như Tết – dù phải sống (chung) với mẹ chồng!


Có bữa, má tui phán ngang “sao tao thèm ăn cá rán quá” hà. Bà già vừa dứt câu là nàng dâu le te xách giỏ chạy ra chợ cấp kỳ. Mấy tiếng đồng hồ sau, nàng thất thểu quay về. Mặt xụi lơ:
“Em đi hỏi tùm lum khắp nơi mà không đâu có ‘cá rán’ hết trơn. Chợ nào cũng chỉ bầy bán cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá lòng tong, cá mú, cá hú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lia thia,  cá dứa, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bống kèo, bống dừa và bống đá – thôi hà. Tội nghiệp má quá anh à!”

Tui cười ngất:
“Trời đất quỉ thần thiên địa ơi, bà già thèm ăn cá chiên đó cưng à. Cá chiên dầm nước mắm là món ruột của bả mà, chớ làm khỉ gì có con cá nào tên là  “cá rán.”

Má tui qua đời đã lâu, tình cảm vợ tui dành cho chồng – tất nhiên – cũng qua lâu không kém, đã xa như ... dĩ vãng. Bữa rồi, tui cũng làm bộ phán (đại) một câu, coi thử tình đời bạc bẽo (và lạt lẽo) tới cỡ nào cho biết:
Tự nhiên sao anh thèm nhậu với cá rán quá, mình ơi.

Sao mà cứ thèm nhậu hoài vậy, cha nội? Hồi đêm mới xỉn gần chết, ói mửa tùm lum, bắt người ta dọn thấy bà luôn mà...

Nói vậy nghe chắc cũng hơi có vẻ phũ phàng – đối với một thằng chồng già đã hết thời, chán đời, và nát rượu –  nên ngập ngừng (chút xíu) rồi con mẻ xuống giọng:
Thích thì ra chợ mà mua, cá chiên free mà.

Mua thì mua. Tui chạy xe ra chợ, xăm xăm tới quầy bán cá nhưng (chả may) gặp lúc đang có chuyện lùm xùm:
Ý, mèng đéc ơi, sao không thay dầu đi mấy cha? Cứ để chiên hoài vậy cá hôi rình à, ai mà ăn được?

Hôi đâu mà hôi, dầu mới thay mà cái bà này nói lạ chưa?

Không dám mới đâu, nghe cái mùi là biết “quá đát” lâu rồi, khét lẹt à. Dầu chiên cá chừng vài ba bữa là phải thay chớ. Tui kêu sở y tế kiểm tra nó phạt cho sặc máu ráng chịu à nha.

Chuyện um xùm tới đây, tất nhiên, phải chấm dứt liền. Làm chợ hay làm nhà hàng (ở Mỹ) mà nghe tới sở y tế hay sở vệ sinh gì đó là chủ nhân lật đật chạy tới tức thì, và xin lỗi rối rít.

Rồi ngay sau đó, một tờ giấy nhỏ – nguyệch ngoạc mấy chữ – được dán ngay trước quầy : “XIN LỖI QÚI KHÁCH CHÚNG TÔI PHẢI TẠM NGƯNG RÁN CÁ ĐỂ THAY DẦU MỚI”.

Người viết, xem chừng, không phải dân miền Nam. Thành ngữ “mèo mù vớ mỡ rán” (chắc chắn) phải có xuất xứ từ miền Bắc. Cũng từ miền đất này, trong vòng gần ba thập niên vừa qua – nhất là từ Đảng và Nhà Nước đã “dũng cảm” và “quyết tâm” đổi mới –  người ta hay nói đến chuyện “lấy mỡ nó rán nó.”

Người tiên phong trong “chiến thuật” này, có lẽ, là đạo diễn Trần Văn Thuỷ. Phim (Chuyện Tử Tế) do ông làm đạo diễn, mở đầu bằng câu: “Chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại, mà chăm lo riêng cho bộ lông của mình,” và được chú thích rằng đó là lời của của Karl Marx.

Chuyện Tử Tế được sản xuất năm 1985, hai năm sau mới được phép công chiếu. Hai năm sau nữa thì chủ nghĩa Marx (bỗng) chuyển sang từ trần. Từ đó, dường như, không còn ai dùng mỡ Marx để chiên/rán gì nữa ráo.

Loay hoay một thời gian, thiên hạ xoay ra hay dùng ... mỡ Bác. Trong cuốn Nhật Ký Rồng Rắn (mỏng tang) của cố trung tướng Trần Độ, ông Hồ Chí Minh được trích dẫn đến sáu bẩy lần. Dù vậy, tác phẩm vẫn bị cấm lưu hành ở Việt Nam và bản thân tác giả vẫn bị bôi bẩn – ngay cả sau khi ông đã từ giã cõi đời!

Gần hơn, trong một bài viết của nhà báo Tống Văn Công  (“Góp Ý Với Đại Hội XI Đảng Cộng Sản Việt Nam”) tác giả đã cẩn thận trích dẫn cụ Hồ cả chục lần. Dù vậy, ông vẫn bị báo Quân Đội Nhân Dân phê phán là có “mưu đồ thâm hiểm ... diễn biến hoà bình.”

Gần hơn nữa là “Thư Cảm Ơn Đồng Bào Trước Ngày Xử Phúc Thẩm Của Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ,” trên diễn đàn Dân Làm Báo, với câu kết như sau:
“Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam!”

Bức thư đã gây một cuộc tranh cãi um xùm với 219 phản hồi. Phần lớn đều tỏ thái độ ngỡ ngàng (hay thất vọng) vì sự xuất hiện đột ngột của “tinh thần chủ tịch Hồ Chí Minh” ở một nơi mà họ ít ngờ đến nhất.

Chiến thuật “lấy mỡ nó rán nó,”qua bức thượng dẫn, không mang lại kết quả mong muốn trong việc tranh thủ cảm tình của công luận, và cũng không thay đổi được gì bản án trong phiên toà chung thẩm. Mỡ Bác, rõ ràng, đã quá “date” rồi, theo như nhận định của nhà văn Phạm Đình Trọng:
“Hồ Chí Minh có những phẩm chất đáng quí của thời nghèo khổ thắt lưng buộc bụng đánh giặc. Chiếc chiếu cói trải giường ngủ của Hồ Chí Minh trên nhà sàn đã cũ rách nhưng Hồ Chí Minh không cho thay. Nó mới rách một chỗ mà bỏ cả chiếc chiếu thì phí quá! Nói vậy và Hồ Chí Minh lấy kim chỉ tự khâu chỗ rách lại! Nhưng ngày nay ngân sách nhà nước vừa phải đổ ra hàng ngàn tỉ đồng để kích cầu, kích thích tiêu dùng để phát triển sản xuất. Cái chiếu cói cũng như mọi hàng hóa khác đều có giới hạn sử dụng. Giới hạn sử dụng ấy được ngôn ngữ quốc tế hóa là “đát”. Hết đát thì phải bỏ, thay cái khác. Hàng hóa có tiêu thụ được, sản xuất mới phát triển. Một thí dụ để thấy một phẩm chất rất đáng quí của Hồ Chí Minh ngày nào nay cũng không thể ‘học tập’ được nữa!”

“Nhân vật lịch sử dù vĩ đại đến đâu cũng đều có đát. Hết đát, hết thời đại của mình thì lui về quá vãng, lui về thời của mình để thời đại khác xuất hiện, để nhân vật lịch sử khác thay thế. Ồn ào lôi nhân vật lịch sử từ quá vãng ra hiện tại là việc làm trái tự nhiên, trái qui luật, là phủ nhận hiện tại. Với công tác tư tưởng, đó là sự yếu kém, không biết làm việc, đành lôi bài bản cũ ra xào xáo lại!”

Không “xào xáo lại” thức ăn cũ, hay không dùng thực phẩm quá hạn – nói nào ngay – là tiêu chuẩn sống của con nhà khá giả. Cái gì quá đát là bỏ vô thùng rác.

Khi nghèo khó, đôi khi, người ta phải sống theo kiểu khác. Đồ quá đát vẫn cứ dùng đại, và thường thì  vẫn còn dùng được, chả chết ai đâu. Đồ dởm mới thực là nguy hại. Ngày 5 tháng 1 năm 2012, vnexpress đi tin:
“Dầu lạc giả gây vô sinh xuất hiện nhiều ở Trung Quốc. Chính quyền thành phố Đông Quan, tỉnh Quảng Đông mới đây đã tịch thu gần 600 chai dầu lạc giả... Đây không phải lần đầu tiên các cơ quan chức năng phát hiện dầu lạc giả tại Quảng Đông. Tháng 3 năm ngoái, cảnh sát tại thành phố Thiều Quan cũng phát hiện một cơ sở sản xuất dầu lạc giả trái phép bằng cách trộn dầu đậu tương, tinh dầu và chất tạo màu. Hơn 700 chai dầu giả đã bị tịch thu.”

Dầu ăn một khi đã được đóng gói, dán nhãn thì rất khó để phân biệt hàng thật giả vì chúng được dán nhãn của những thương hiệu nổi tiếng.”

Cùng thời điểm này, nhà xuất bản Tiếng Quê hương cũng cho phát hành cuốn Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc (*) của nhà phê bình văn học Thụy Khuê. Trong phần lời tựa bà cho biết:
“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”

“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này.”

“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của tác giả, ở đầu chương 16, như sau:
“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này ... chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”

Té ra: huyền thoại, và “nền móng tư tưởng Hồ Chí Minh” đều là đồ dởm. Tuy thế, nó  vẫn được chăm chút, giữ gìn, thêm thắt và bồi đắp cẩn thận (không ngừng) mãi cho đến hôm nay, theo ghi nhận của Wikipedia:
“Tại Việt Nam, hình ảnh Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một ‘tấm gương sáng ngời về đạo đức’, một ‘nhân cách cao thượng’, được coi là một ‘thần tượng.’ Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh thường ca ngợi những đức tính tốt đẹp của ông. Các cấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh.”

Thảo nào càng “học tập tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống” của Bác thì toàn Đảng và toàn dân càng xa vào con đường lụn bại, không lối thoát.

Tưởng Năng Tiến
(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
-Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044
- Email: tphongvu@yahoo.com


Nguyễn Lệ Uyên - ĐỖ HỒNG NGỌC, KHÓI TRỜI PHƯƠNG ĐÔNG


Nguyễn Lệ Uyên

“Thầy thuốc là để cứu người.
Nhà văn là để cứu đời”
(Nglu)

BS. Đỗ Hồng Ngọc
Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tuỳ bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào hàng ghế nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với ông, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì ông viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ, vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của ông về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới thấu lẽ, à lên một tiếng, vài ba tiếng, tùy theo tâm trạng mỗi người kèm với không gian, thời gian của người đọc: nó có đấy mà sao ta không thể nhìn thấy, ta không hề nghĩ ra được nhỉ? Những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, qua ngòi bút của ông hoá ra quá đỗi mới lạ; nói theo ngôn ngữ Đỗ Hồng Ngọc là ngòi bút ông đã hoá giải, đã khải thị giúp ta từ những cách nhìn, nghĩ một cách hạn hẹp, quanh co cạnh ta thành rộng ra để ta “như thị”?

Từ những bài tuỳ bút cho đến thơ, ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, thổi phồng mọi sự vật… để nhắn gửi cho mọi người, cho mai sau. Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Mà đúng vậy, ngay trong quyển ‘Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò’ (NTBTTTLTHT), La Ngà xuất bản năm 1972, ông đã giải mã những băn khoăn thắc mắc của lứa tuổi dậy thì, nào là phòng ngừa cận, viễn, loạn thị, trĩ, táo bón, đái dầm... bệnh biếng học cho tới những vấn đề tâm sinh lý thầm kín khó chia sẻ với cha mẹ... như thể tất cả những thứ tật bệnh ấy ông đã từng nếm trải, rồi tập hợp lại thành một kinh nghiệm sống cho các cô cậu ở tuổi học trò? Đã đành ông là bác sĩ nhi khoa, nhưng ngôn ngữ diễn đạt không phải là ngôn ngữ của một ông thầy thuốc khám bệnh, kê đơn mà là ngôn ngữ của một chàng nghệ sĩ vừa bóc tách sự thật trần trụi vừa xoa dịu nó bằng một thủ thuật của tiếng gió luồn lách trong những bụi tre buổi xế trưa. Hãy nghe ông viết về bệnh biếng học và cách điều trị: “... nếu có một ngày nào đó, em bỗng nhiên thấy mình làm biếng kinh khủng, không còn muốn ngó ngàng gì đến sách vở, thì em hãy nghĩ ngay đến điều này: phải chăng em chán ngán sách vở, bài học vì đã “ứ” đến tận cổ? Vì trí óc em đã “saturé” không còn có thể nhồi nhét gì thêm... Tình trạng biếng học “cấp tính” này sẽ qua rất mau, với một thứ thuốc rất hiệu nghiệm – không phải là cà phê, trà lipton đâu nhé – mà là vứt sách vở đi, rong chơi ngoài đường một buổi chiều, câu cá cũng được, đá banh càng tốt... Sau đó ngủ một giấc cho đầy. Tỉnh dậy bảo đảm sẽ “ghiền” học trở lại”. (NTBTTTLTHT, trg 213-214, La Ngà, SG 1972).

Cũng trong tập này, ở chương 17, nói về Chiều cao, cân nặng, ông mở đầu còn hơn cả một đoạn thơ xuôi: “Tới một tuổi nào đó, ta quan tâm rất nhiều đến thân thể mình. Ta lắng nghe cơ thể mình phát triển như chú dế mèn lắng nghe tiếng cỏ mọc trong đêm khuya” (Sđd, trg 142). Điều này khiến người đọc không cảm thấy chán ngán, trái lại, tạo sự tò mò, dù tiếp sau đó là những con số thống kê, biểu đồ, toán học! Có đến 8 đầu sách ông viết cho tuổi mới lớn, mà quyển nào cũng bổ ích, cũng thiết thực trong đời sống của “lũ trẻ”.

Tôi đã nhận những quyển sách ông tặng về đề tài này và đọc. Đọc một mạch, đọc với bao điều thích thú và sau đó “té ngửa” ra rằng mình hồi nhỏ cũng có lắm điều sai phạm với chính cơ thể mình! Hèn chi ngay cả học giả Nguyễn Hiến Lê, trong một bài tựa cho quyển NTBTTTLTHT của Đỗ Hồng Ngọc, đã viết: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”.

Với những người bạn nhỏ, ông đã chăm chút như thể chúng là người ruột thịt, còn với người lớn thì sao? Ông cũng sẻ chia, đưa ra một vài nhận xét nho nhỏ nhưng lại chính xác đến từng li mét. Lướt qua những tập ‘Già ơi… Chào bạn’, ‘Thư gửi người bận rộn’ hay ‘Gió heo may đã về’… người đọc sẽ thấy được tấm lòng chân thật của ông. Những điều ông viết ra, có thể đúng với người này, hơi đúng đúng với người kia và hơi sai sai với người nọ, vì cảnh sống có khác nhau, ý thích khác nhau, suy nghĩ không mấy giống nhau, nhưng tựu trung vẫn là những gì ta có thể nhìn thấy một chút hình bóng của chính mình ẩn hiện đâu đó trong từng câu, từng đoạn. Ngay từ lời ngỏ trong quyển Gió heo may đã về (nxb Văn Nghệ Tp HCM, SG 1997), ông đã có lời thưa trước: “Vậy, hỡi những người bạn yêu quý của tôi, xin hãy vui với những dòng chữ chân tình này, và nếu có bực mình thì cứ tự nhủ làm gì có, hù doạ đó thôi… còn nếu có bắt gặp hình ảnh chính mình trong những dòng chữ này thì cũng hãy mỉm cười mà thứ lỗi… Vì sáng hôm nay, một chút gió heo may đã về, những chiếc lá vàng đã rơi lác đác trên những con đường thành phố, một mùi gió bấc quen thuộc đã len vào giữa những hàng cây…” (Sđd, trg 7).

Ông viết những gì trong đó đến nỗi khiến ta phải “bực mình” hay “mỉm cười” khi mở từng trang sách? Thưa ngay, ông viết đủ điều, đủ loại, từ tâm lý, tình cảm đến vật chất, sinh lý.v.v. nghĩa là những “thứ” nó bắt đầu bám vào cái tuổi không còn “hườm hườm” mà đang trong thời kỳ “gió heo may đã về”, tức thị một phần tư chân ở bên mép “bất hoặc”, còn lại là những dấu hiệu sắp gặp gỡ, chung sống trong “thế giói đại đồng” dưới 3 thước đất! Cái thế giới ấy, nhìn chung rất hiếm người muốn gặp, dẫu là “đại đồng”, nhưng đọc để biết trước vẫn là điều hăm hở, thu hút; cũng chẳng phải vì tò mò mà, hơn hết là để biết đó có phải là sự thật hiển nhiên không. Tuổi “heo may” ấy, khốn nỗi không ai có thể cưỡng chống được. Phải chấp nhận như một qui luật tất yếu. Chúng ta hãy đọc thử một đoạn ngắn, khi ông cảm nhận một cách nhẩn nha mà thấu lý ở tuổi già cận kề: “Tuổi chớm già, ấy là tuổi của chuyển tiếp, của lúng túng, hoang mang, tuổi của những stress, của những lo âu và phiền muộn, của những mối hiểm nguy rình rập về sức khoẻ, về quan hệ gia đình, xã hội… đồng thời tuổi chớm già cũng là tuổi của thành tựu, của thành đạt… Cái người ta dễ thấy nhất là những thay đổi sinh lý: hết khả năng sinh sản, giảm đời sống tình dục. Rồi luyến tiếc dĩ vãng, nhớ cái thuở trẻ trung, cái thời nhan sắc. Một nỗi buồn man mác chợt đến dù không nói ra, dù gắng gượng quên đi…” (Sđd, trg 18).

Bạn không đồng ý với cách nhìn nhận về tuổi chớm già của Đỗ Hồng Ngọc ư? Sai sót chăng? Khiên cưỡng chăng? Trái lại và trừ phi các bậc thiền sư chân chính mới có phản biện, nhưng chưa hẳn đã là tuyệt đối. Nhưng để giải quyết một cách rốt ráo cho vấn đề vừa nêu trên, ông cũng chừa vài đoạn gọi là “lại quả”, ấy là: “Ở đàn ông còn thấy có hiện tượng “vùng lên”, vớt vát, tìm kiếm những cuộc tình dễ dãi, “bồ nhí”, “bia ôm”… để chứng minh chút nam tính còn sót lại của mình… Ở phụ nữ không phải là không có một giai đoạn gần như vậy, người ta vẫn thường gọi đó là tuổi “hồi xuân” (Sđd, trg 51).

Ngày trước đọc Bonjour tristesse của F. Sagan trong bối cảnh chiến tranh lan rộng, tàn khốc, là đọc để giải toả những phiền muộn qua nhân vật nữ, là một cô gái thông minh, hoà nhập vào nếp sống hiện đại, thời thượng mang nhiều yếu tố hiện sinh, buồn chán, nó biểu tỏ một thái độ của một cá nhân trước xã hội, rộng ra là thời đại. Nay được đọc Đỗ Hồng Ngọc, cũng “chào” nhưng lại là Già ơi… chào bạn, ở một thái cực khác: từ ngạc nhiên đến vui vẻ chấp nhận cái quy luật muôn thuở đến với con người một cách thanh thản, không thắc mắc, vướng bận. Có lẽ, do ông hiểu rất rõ những gì xảy ra với mình trong thời gian nằm ở bệnh viện An Bình sau khi mổ sọ não do tai biến mạch máu não, nên không băn khoăn đặt câu hỏi “tại sao” hay thế này thế nọ, như các nhà văn phương Tây. Đây cũng là thời kỳ ông “ngộ” ra lắm điều, dẫn đến việc ông nắm bắt được phần nào các bộ kinh Phật, đặc biệt là Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh và chuyển cái sự hiểu đó đến người đọc, dẫu cho có nhiều chỗ cần phải bàn lại. Nhưng cốt lõi, theo ông: “Tôi thấy nó phóng khoáng, nó “lật đổ” tất cả những quan niệm hẹp hòi, đố kỵ; nó có khả năng hoà đồng, khả năng giúp cho mọi người có trách nhiệm hơn với chính mình, thương người, thương cuộc sống, biết thưởng thức… cuộc sống với một chất lượng cao hơn… có hạnh phúc hơn; biết tha thứ, biết buông xả… nó có thể giúp cho những người đang mang mặc cảm tội lỗi thoát ra khỏi chính mình…” (Nghĩ từ trái tim, trg 8 nxb tổng hợp tp. HCM, SG 2003).

Trong chúng ta, những con người luôn chạy đua với áo cơm, mấy ai thấu triệt nghĩa lý Tâm Kinh chứ chưa nói là thực hành, mặc dù chỉ có vỏn vẹn 260 chữ?

Chỉ có vậy, không hơn, nhưng một khi đã “hành trì” vào Tâm Kinh, quán triệt nó đến tận cùng thì mới thấy vẻ đẹp uyên áo, những thâm hậu vi diệu của nó, bởi nó như một ngọn roi quất vào chỗ u nhược, làm đảo lộn mọi suy nghĩ hời hợt, phủ định mọi thành kiến về Phật, Thập nhị nhân duyên… như ông hiểu và nói ra.

Với Tâm Kinh thì, không phải để “tri” mà để “hành”. Nhưng “ hành” như thế nào để “đáo bỉ ngạn” là điều không phải ai cũng “hành’ được. Khó và khó vô cùng. Nơi ai cũng muốn đặt chân đến và bỏ chân ra là thiên đàng và địa ngục. Có hai thế giới này thật không, nó ở đâu? Từ chiếu kiến ngũ uẩn giai không, Đỗ Hồng Ngọc đã chỉ ra: “Niết bàn hay địa ngục là do ta tự tạo ra cho mình, nó ở ngay trong ta thôi: Giận dữ, ngờ vực, sợ hãi, lo âu… tiêu hao của ta rất nhiều năng lượng, đốt cháy ta từ tầng này đến lớp khác chẳng phải là hình ảnh của địa ngục ư? Còn niềm vui, an lạc, hạnh phúc, vô uý… làm ta như chấp cánh bay lên, quên cả thời gian, không gian, chẳng phải là hình ảnh của thiên đàng, niết bàn ư?” (NTTT, trg 132).

Đọc ‘Nghĩ từ trái tim’, gấp sách lại, ta thấy như mình vừa được kéo ra khỏi bóng tối lùng nhùng, đến nỗi GS. Trần Văn Khê cũng phải thốt lên: “Tâm kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời…

Những điều ở bên ngoài đời sống, Đỗ Hồng Ngọc đã một phần nhìn ra giá trị của cái tầm thường, như câu chuyện ngày trước, một nhà sư khi nhìn thấy núi, thấy sông vẫn cứ là núi là sông, sau nhờ có bậc tri thức khai mở huệ nhãn thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông, đến lúc thể nhập chốn tĩnh mịch, u nhàn, lại thấy núi là núi, sông là sông. Nói chung là ông đã “như thị”.

GS. Trần Văn Khê đã đưa ra nhận xét: “Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế”.

Hoá ra và bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế. Vậy thì chúng ta thử bước vào thế giới văn chương của ông:

Ông làm thơ trước khi viết văn. Tôi đọc những bài thơ đầu tiên ông đăng trên Bách Khoa năm 1960, chưa hề đọc một truyện hay một tuỳ bút, đoản văn nào của ông, mãi cho tới tận sau này (Ông có một truyện ngắn duy nhất, tựa là Người Thứ Hai, đăng trên báo Mai, 1965, sau này in chung trong tuyển tập truyện ngắn Cuộc đi dạo tình cảm, cùng với L Qunh, L Kiu, H Thy Giũ nxb Trẻ, 1998; nhưng tôi cũng chưa hân hạnh được đọc!). Nhưng dẫu ông có viết ở thể loại nào, thì câu văn vẫn cứ mượt mà chất thơ, kiểu “văn trung hữu thi” vậy.

Viết về Lữ Kiều, người bạn đồng môn của mình, Đỗ Hồng Ngọc có cái nhìn của một cụ đồ tài hoa: “Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…” (Tôi cũng tin vậy…, trg 61, Như Thị, nxb Văn Nghệ, SG 2007). Dẫn đoạn này, tôi chỉ muốn dẫn đôi dòng, nhưng không làm sao ngắt được. Cái mạch văn ấy cứ tuôn chảy, róc rách đẹp hơn suối reo, không ngăn được. Và liên tưởng ngay đến Chữ của người tử tù và Chén trà trong sương sớm của Nguyễn Tuân. Đỗ Hồng Ngọc viết về người bạn nhưng cứ như chàng hoạ sĩ làm thơ!

Còn đoạn này nữa: “Cứ một dòng chữ viết tay nắn nót (bản thảo chép tay) lại hiện lên trong tôi sông ngòi biển cả, rừng núi ao hồ, trưa hè nắng cháy nhảy ùm xuống sông Dinh, đập đá Dựng, những ngày mưa lũ, nước cuốn trôi phăng cả nhà cửa trâu bò. Tôi cứ để lòng mình nhảy ùm như thế, cuốn trôi như thể khi đọc Biển Hát. Cả một dĩ vãng xưa ùa sống lại” (Biết bao điều thì thầm, trg 203, Như Thị). Xem ra Đỗ Hồng Ngọc đâu chỉ có tâm hồn trong sáng mà còn có cả tấm lòng, như Cao Huy Thuần nhận xét: “Anh nói những chuyện giản dị. Nhưng mầu nhiệm không nằm ở đâu khác hơn là trong chính những câu chuyện giản dị đó. Một đôi bài của anh khá đơn sơ, nhưng hồn nhiên là cái duyên của anh, anh làm thơ trước khi viết văn, cho nên đó cũng là những bài thơ” (lời trích ở bìa 4 Như Thị).

Đỗ Hồng Ngọc làm thơ khi còn là học sinh trung học, mãi đến năm 1967, ông mới cho in tập thơ đầu tay Tình người, lúc đang là sinh viên trường Y. Những bài thơ này xuất hiện trên Bách Khoa (từ năm 1960) và Tình Thương (1964) do SV đại học Y khoa Sài Gòn chủ trương, trong đó có nhiều bài thơ theo trường phái Phi Phi (Phi Thi?). Tôi đọc chúng (thơ phi phi) nhưng chẳng hiểu gì. Và vì vậy, khi vớ phải những câu chữ gần gũi của Đỗ Hồng Ngọc với những cảm xúc chân thật, mộc mạc tôi cảm thấy như có cái gì đó quen quen, như khói củi trong bếp lửa buổi sáng sớm chớm đông. Sau đó, khi tạp chí Ý Thức dời về 666 Phan Thanh Giản, cùng viết chung trên đó tôi mới gặp ông bằng xương bằng thịt và quen nhau. Gần cuối năm 1974, từ toà soạn Ý Thức, ông mời tôi đi ăn bò vò viên chỗ xế bên rạp Đại Đồng trên đường Cao Thắng và tặng tập Thơ Đỗ Nghê do Ý Thức xuất bản. Trong đó đáng chú ý là bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân. Có lẽ do nội dung của bài thơ này, bị kiểm duyệt nên cơ sở Ý Thức không thể in công khai tại Sài Gòn, mà lại in (lậu) trên Đà Lạt do Lữ Kiều coi sóc rồi mang lộn ngược về Sài Gòn. Năm 2010, ông muốn đưa lại bài này vào tập ‘Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác’, nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự như trước 1975, nghĩa là Tâm sự Lạc Long Quân vẫn là bài thơ không có “hộ khẩu”, lang thang trong tập Thơ Đỗ Nghê “phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu” (thiếu 2 năm nữa là chẵn 40 năm dài). Những thao thức, băn khoăn, tấm lòng thành ông gửi gắm trong bài đã bị chối bỏ, là chính trị thời trước và thời sau không chấp nhận tấm lòng thành của ông xuất phát từ trái tim, nghĩ từ trái tim của ông.

Khi ta đưa các con 50 người xuống biển
Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
Lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
Có một điều gì khiến ta linh cảm trước
(…)Nhưng bây giờ mọi sự xảy ra
Các con đều đã rõ
Những vết ô nhục trong lịch sử chúng ta
Các con đều đã rõ
(…)Đã cùng sinh ra trong một bọc
Thì hãy nghe ta
Đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi
Rồi đứng ôm nhau mà khóc
Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất
(Tâm sự Lạc Long Quân, Thơ Đỗ Nghê, trg 5-7, Ý Thức xb, 1974).

Bài thơ này ông viết từ năm 1965, trong bối cảnh đất nước tương tàn! Nội dung bài thơ không mang ý thức phản kháng, gào rống mà, xuất phát tự trái tim ông, réo gọi tình đồng bào và thơ ông bật lên từ tấm lòng chân thật đó. Nhưng những kẻ làm chính trị thì không thể chấp nhận cái tấm lòng ấy, vì phe phía nào cũng tự nhận là chính nghĩa, bóp nát những mơ ước, hoài mong của tầng lớp thanh nên, trí thức. Chúng biến cái tinh thần dân tộc của giới trẻ trở thành hành vi phản trắc, biến lòng yêu đồng loại, nghĩa đồng bào thành tư tưởng phản bội! Sự dồn nén và ẩn ức ngày mỗi dày thêm, cao thêm:

Rất nhiều đêm rất nhiều đêm
Tôi vỗ về tôi thủ thỉ
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Giết bạn bè anh em
Ngủ cho ngoan ngủ cho ngoan (Lời ru, Thơ Đỗ Nghê, trg 14)

Thời ấy, khi đọc bài thơ này, tôi tưởng tượng cảnh bà mẹ quê ôm đứa con thơ vào lòng, giữa đêm khuya, nức nở than khóc người chồng là anh lính Việt Cộng hay Quốc Gia vừa chết trận. Âm thanh trong bài thơ không thịnh nộ, cứ ưu uất, nghẹn ngào, nức nở gây một ảo giác như chính bản thân ta đang chịu đựng cảnh khổ nhục đó vậy. Nó cứ rờn rợn như âm thanh trong bài Bà mẹ Gio Linh của Phạm Duy trong đêm bão!
Một bài thơ khác, Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, ông viết tặng con sắp chào đời cũng mang một tâm trạng u uẩn không kém, có thể coi là nỗi lòng của giới trẻ lúc bấy giờ:

Có những người không có cơm ăn
Có những người không có áo mặc
Có những cánh đồng cháy đen
Có những xác người chồng chất
Con sẽ vô cùng ngạc nhiên
Làm gì có Việt Nam đánh giết Việt Nam
Làm gì có đất nước hai miền (Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, Thơ Đỗ Nghê, trg 66).

Thực tế oan nghiệt đó đã bóp nát trái tim rất nhiều người, trong đó có ông. Vì vậy, có thể xem, Thơ Đỗ Nghê là một sự chọn lựa đúng đắn, là thái độ của của một thanh niên trí thức mẫn cảm trước thời cuộc và xã hội lúc bấy giờ. Đó là nỗi đau không cùng của những người chân chính, đúng như Lữ Kiều viết trong lời bạt cuối sách: “Đã đến lúc chúng ta nghiêm trang đặt những vấn đề, với lịch sử. Ví dụ bài “Điệp khúc (Thơ Đỗ Nghê, trg 57, ghi chú của người viết bài này) là những câu hỏi thẳng thắn với đàn anh chúng ta thời 45. Những Bài vè thứ nhất, Bài vè thứ hai (Sđd, trg 48 và trg 52, nt) đặt vấn đề với thế hệ hiện tại, với những người mà ta gọi là Đồng Minh. Có lẽ, bây giờ sự thể đã khác đi, nhưng tôi nghĩ, trong tình thế ấy, đặt những câu hỏi như vậy là một thái độ can đảm, nằm trong thái độ nghiêm túc của anh” (Thơ Đỗ Nghê, trg 76, nt).

Bài thơ Thư cho bé sơ sinh nơi trang 39 ông viết năm 1965 khi còn là SV thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, sau này ông cho in lại trong tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (nxb Văn Nghệ, SG 2010) được Phat’s blog chuyển ngữ sang tiếng Anh tháng 11/2006, như là sự mở đầu tâm cảm của ông, nhìn về thế giới bên ngoài bằng trái tim chân thật, bằng cả tấm lòng của cá nhân có trách nhiệm trước một cá nhân khác. Bài thơ chỉ có hai nhân vật: anh và em. Anh là chàng SV năm 3 y khoa và em chỉ là đứa bé mới chào đời. Ông đã khắc hoạ sự tương phản ngược chiều trong thế giới đa cực của cuộc sống ồn ào, đầy dẫy những cạm bẫy, lo toan, mưu tính… Đó là tiếng khóc và nụ cười, mắt thực và tối đen, cô đơn và êm ấm, là cái bé nhỏ vô cùng và rộng lớn cũng vô cùng. Bài thơ cũng chính là tâm trạng của anh chàng sinh viên ngành y lần đầu tiên làm công việc đưa một sinh linh ra ánh sáng cuộc đời sẽ có nhiều ngọt bùi lẫn cay đắng chờ đón phía trước.
Tính chất của bài thơ, trước hết là giải bày tâm trạng, bởi đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy và nhận ra bản thể của mình qua hình hài bé bỏng kia, rồi nó sẽ phải trải qua những đoạn đường mà ông và bao con người đã bước qua cuộc đời có nhiều những khổ đau và hạnh phúc, của nụ cười và nước mắt, nói chung là “đời nhiều nhãn hiệu”.

Bài thơ không mang hơi thở ngôn ngữ bóng bẩy của thơ ca. Nó là những lời thầm thì, chia sẻ, là tâm tình của một con người với một con người trong mối quan hệ bình đẳng của người ra đời trước và người vừa chào đời sau; của người đã bị trói vào “đời” và người sắp bị “đời” trói chặt. Ông sử dụng ngôn ngữ nói, mộc mạc đến dung dị để chuyển tải nội dung lời thơ là thân phận làm người, mà rất nhiều các triết gia, học giả, nhà văn cả Tây lẫn Đông từng mang ra mổ xẻ. Vấn đề của Đỗ Hồng Ngọc đặt ra không rộng, không gian là phòng sinh, thời gian là một giờ khắc nào đó trong ngày. Ông chỉ ghi lại những cảm xúc và tâm trạng đối với công việc của mình trước một em bé vừa chào đời, bắt đầu cùng ông, gia nhập vào đời sống mà ông đang nếm trải, không hề thấy có một triết lý nào cao xa, chỉ nêu lên những sự việc có thật đang xảy ra và sắp sửa xảy ra với bé, bắt đầu tham dự vào “cõi người ta”.

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ (Thư cho bé sơ sinh&những bài thơ khác, trg 6).

Nhiều người, khi đọc bài thơ này, cho rằng nhà thơ đã gửi đi một thông điệp cho mọi người hiện hữu trong đời sống muôn màu muôn vẻ. Tôi thì nghĩ, ông không hề có ý làm một công việc to tát đến vậy, mà hơn hết là từ tấm lòng, từ trái tim, là cái nhìn thấu triệt lẽ đời mà ông đã trải nghiệm, như một người đi trước, không phải là kẻ dẫn đường hay đưa đò.

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Ý hướng đích thực trong bài thơ là 3 câu cuối cùng này. Hai nhân vật anh và em sẽ hoà vào mẫu số chung: số phận con người! Và tinh tế hơn cả, là ông ngắt câu ở nhịp hai như một cú rơi từ trên cao, không có sự chọn lựa.

Đỗ Hồng Ngọc sống nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Văn thì viết như thơ. Thơ thì như văn và thơ náu mình trong thơ. Đó là những gì tôi nhìn thấy, đọc ra từ cảm tính, rất chủ quan của mình. Ví dụ như mấy câu trong bài Mũi Né:

Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong (Mũi Né, Thơ Đỗ Nghê, trg 8)

Hay như thời gian tu nghiệp ở Pháp, ông nhớ nhà, nhớ quê, nhớ gia đình, bạn bè… Nỗi nhớ găm vào từng thớ vải. Câu thơ xếp đặt như câu nói, nhưng lại lột tả đến tận cùng nỗi nhớ nhung khói củi, đến nao nức:

Anh hôn đằng sau/ Anh hôn đằng trước/ Anh hôn phía dưới/ Anh hôn phía trên/ Chiếc áo của em/ Món quà em tặng/ Chiếc áo lạ lùng/ Có mùi biển mặn/ Có mùi dừa xiêm/ Có mùi cát trắng/ Có mùi quê hương… (Món quà, Thư cho bé sơ sinh…, trg 143).

Ông có quãng đời niên thiếu sống ở La Gi, tắm mình trong mùi gió biển, thiên nhiên hoang sơ với những đồi núi chập chùng, những dãi cát trắng, sóng biển rì rào… đã ru ông, nuôi dưỡng tâm hồn ông để có được một Đỗ Hồng Ngọc có một cái Tâm trong veo như bầu trời không gợn chút khói mây.
Ông nhìn nhận cảnh quan theo vẻ đẹp mẫn tuệ nơi ông đã đành, nhưng đến những cảnh huống mà nhiều người nhìn thấy là xấu, khi lọc qua tâm hồn ông bỗng sáng rực như ánh sáng ban mai; ngôn ngữ diễn đạt cứ như những hạt sương long lanh trên cành lá biếc xanh. Ví dụ, từ trang 74 đến trang 80 là các bài La Ngà và La Ngà 1 đến La Ngà 5, là diễn tả tâm trạng và cảm xúc của ông trước cái chết của đứa con gái yêu quý, nhưng lời thơ không hề bộc lộ chất bi luỵ, đau thương. Ngược lại, cứ trong suốt như pha lê:
Mỗi năm/ Mỗi người/ Thêm một tuổi/ Chỉ mình con/ Mãi mãi tuổi đôi mươi” (La Ngà 3, Thư cho bé sơ sinh…, trg 78). Và bài kế tiếp: “Ba vun gốc trường sanh/ Mẹ đặt chùm vạn thọ/ Lên mộ con/ Giữa ngày mùng Một Tết” (La Ngà 4, Thư cho bé sơ sinh…, trg 79).

Năm bài thơ viết về La Ngà thực chất là viết về “nỗi mất”, là nỗi đau không cùng của các bậc cha mẹ. Nhưng cả 5, lời thơ vẫn bình thản chấp nhận, không u oán. Chỉ có những người đã tiếp cận với Thiền học, đã “thị” được ngũ uẩn giai không, thả những cảm xúc tâm linh chạm gần đến ngưỡng như Đỗ Hồng Ngọc mới có được cốt cách và phong thái của các hành giả phương Đông trên đường bước vào mép rìa của cái Đẹp.
Ông đã từng thú nhận trong phần dẫn nhập và một chút lịch sử, ở ngay phần đầu Nghĩ từ trái tim, rằng “Viết với tôi là một bức xúc, là một cách “xả”! Tôi thấy nhẹ nhàng sảng khoái hơn khi được viết ra. Đó cũng là một cách tự chữa bệnh cho mình” (trg 9). Và: “Tôi nhớ hồi mới lên mười, trọ trong chùa, đêm đêm cũng nghe cô tôi tụng “ Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!” tôi chỉ thấy êm tai, ngủ ngon lành mà thôi” (trg 20). Như vậy, rõ ràng Thiền học đã thấm đẫm tâm hồn ông từ tuổi thơ, như chuyện thấy núi thấy sông của nhà sư viết ở đoạn trên. Chính vì vậy, nên ông mới có những câu thơ như thế này:

Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương (Hội An, Thư cho bé sơ sinh…, trg 99).

Hay:
Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa/ Một hôm hơi thở tình cờ/ Dính vào hạt bụi thành ra của mình/ Của mình chẳng phải của mình/ Thì ra hơi thở của nghìn năm sau (Thở, sđd, trg 196).

Và một bài nữa:
Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất! (Đất, sđd, trg 197).

Nếu làm công việc như các ông Đặng Tiến và Cao Huy Khanh thì có thể xếp dòng thơ Đỗ Hồng Ngọc vào dòng thơ Thiền được chăng? Tôi không mấy rõ, chưa thể biện biệt, kiến giải; chỉ thấy và hơn hết là cảm được rằng, thơ ông xuất phát từ Tâm Cảm, vượt trên những triền phược. Nó thô mộc mà sáng long lanh; lột tách những vết bụi bám; cũng đứng chung những “số phận thơ”, cũng sần sùi meo mốc như lát sắn mì để quên trong khạp, nhưng lại toả ra chút mùi thơm dịu dàng lấp lánh. Đó cũng là nét rất riêng, rất cốt cách của thơ Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi đã từng nghĩ: “Làm thầy thuốc là để cứu người; làm nhà văn là để cứu đời”, xem ra lại rất đúng, một cách trọn vẹn, với trường hợp Đỗ Hồng Ngọc: cứu người và cứu đời!

(xứ Xương Rồng, tháng 3/2012)
Đỗ Hồng Ngọc còn có bút danh khác là Đỗ  Nghê
Sinh năm 1940 tại Phan Thiết. Quê nhà: Lagi-Hàm Tân- Bình Thuận.
Tốt nghiệp Tiến sĩ y khoa quốc gia, Y khoa Đại học đường Saigon, 1969
Bác sĩ chuyên khoa Nhi
Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997).

Đã cộng tác với các báo: Bách Khoa, Mai, Văn, Ý Thức, Tuổi Ngọc, Mây Hồng
Tuổi Trẻ, Phụ Nữ, Thanh Niên, Mực Tím, Áo Trắng, Doanh nhân Saigon cuối tuần, Sài gòn Tiếp thị, Văn hóa Phật giáo, Giác Ngộ, Kiến thức ngày nay…

Tác phẩm đã xuất bản:
Tạp văn, tùy bút:
Gió heo may đã về (1997)/ Già ơi…Chào bạn! (1999)/ Nghĩ từ trái tim (2003)/ Những người trẻ lạ lùng (2001)/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)/ Thư gởi người bận rộn (2005)/ Khi người ta lớn (2007)/ Như thị (2007)/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)/ Gươm báu trao tay (2008)/ Nhớ đến một người (2011)/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)

Thơ
Tình Người (1967)
Thơ Đỗ Nghê (1973)
Giữa hoàng hôn xưa (1993)
Vòng quanh (1997)
Biển của một thời (in chung, 1999)
Sương mù một thuở (in chung, 2001)
Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)

Viết cho Tuổi Mới Lớn:
Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)/ Với tuổi mười lăm (1997)/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)/ Nuôi con (1988).

Ngự Thuyết - Về Vĩnh Châu

Ngự Thuyết

Gởi BXN, NTH, NKP,TTT, NDS

Đầu tháng tám, Toronto, Canada. Tôi nói với bạn tôi:
“Những lần trước đến thăm toa mùa đông lạnh quá. Năm nay mùa hè nhé.”


Hắn gật gật đầu, cười. Chiều hôm nay, hắn đưa tôi tới nơi này. Xe dừng lại dưới một cây phong cổ thụ. Bước ra khỏi xe, tôi không thể không ngửa mặt nhìn lên xem cây phong cao đến đâu. Cao đến đâu là đến đâu, lấy gì mà đo, tôi quả là lẩn thẩn. Cây phong cao ngất, tàn lá sum sê, xanh mướt. Hắn vừa nói vừa dẫn tôi bước nhanh:
“Cao ghê hả? Mỹ có được vậy không?”
“Có được vậy là có được gì?” tôi vờ hỏi.
Hắn không trả lời câu hỏi của tôi, nói tiếp;

“Quên nhắc toa mặc thêm áo, moa thì không cần. Vào ngay trong tòa nhà kia tránh gió. Coi chừng lạnh đó.”

Tôi ngạc nhiên:
“Lạnh? Tháng tám giữa mùa hè mà!”

Một cơn gió thổi tới, lạnh thật. Gió luồn vào cổ áo mỏng, chui vào ngực, vào lưng, vào bụng. Hai ống chân cũng lạnh. Tôi vòng hai tay ôm lấy ngực, thun người lại, đi khom khom. Nghĩ đến Nam Cali vào tháng này nắng và nóng chẳng khác gì Sài Gòn mùa hè. Tôi nói, giọng hơi run:
“Ừ, lạnh thật. Kỳ cục, mới chừng 6 giờ chiều mà nắng đã muốn hết. Moa tính trật rồi. Hết hè rồi hả?”

“Chưa.” hắn đáp. “Mùa hè ở đây đôi khi vậy đó. Giữa hè mà như cuối hè.”

Tôi buột miệng:
“Hè muộn.”

“Cậu chữ nghĩa màu mè ghê,” hắn cười.

Hè muộn? Nhưng tôi đâu định dùng chữ đó, tự nhiên nó bật ra. Cũng như nhiều khi tôi cố tìm vài ba tiếng địa phương rặt Huế nhà quê, lâu lâu nói với nhau nghe cho vui, mà tìm không ra. Rồi bỗng dưng trong một lúc thật bất ngờ nó bật ra ở cửa miệng: “nậy”, “rựa”, “mợt.” Đừng có mợt, chưa rựa mô. Để mai mốt nậy rồi tính. Hè muộn? Tôi nhớ ra rồi. Những ký ức rời hiện lên lờ mờ. “Hè Muộn”, tên của một cuốn phim.

Hôm đó tôi ngồi yên sau, hắn lái chiếc Lambretta mượn của Mai Duy Thắng. Chúng tôi đi xem phim Hè Muộn. Hắn lạng nhanh quanh bùng binh trước tòa đô sảnh Sài Gòn để ghé rạp Rex vô ý quẹt mạnh vào bánh trước chiếc Vélo Solex của một cô nàng. Chưa biết chiếc solex ấy có bị hư hỏng gì nặng hay không, có phải tốn tiền sửa xe cho người ta hay không, nhưng biết ngay rằng cô bé xinh quá. Con gái thời ấy hiền khô, không lớn tiếng cự nự, gây gổ. Dừng xe lại, một chân chống xuống đất, vén tà áo sau khép nép bước chân kia xuống, liếc mắt nhìn chúng tôi thật nhanh, rồi cúi mặt lặng lẽ dắt xe vào vỉa hè đi lẫn vào đám đông. Chúng tôi muốn chạy theo xin lỗi, cám ơn người đẹp không đòi “bồi thường thiệt hại”, cốt để “làm quen”, nhưng cô ta đã đi mất hút.

Tôi nhắc lại chuyện ấy cho bạn tôi nghe. Hắn suy nghĩ một chốc rồi vui vẻ nói:
“Phải, phải. Đúng thế. Phim Hè Muộn. Ừ, nhớ ra rồi. Một phim hay trước 75. Hình như chiếu lần đầu ở rạp Rex, Sài Gòn vào cuối bảy tư, hay đầu bảy lăm gì đó. Rồi nó biến đi đâu mất không thấy ai nhắc nhở nữa.”

“Mấy tháng sau nước còn mất,” tôi tiếp lời, “huống hồ một cuốn phim. Ai thèm nhắc tới nó nữa.”

Nói thế nhưng chính tôi là người nhắc câu chuyện đó. Vừa bước lên bậc thềm của tòa nhà to lớn, hắn lẩm bẩm nói với tôi:
“Ô, mấy cô bé rất trẻ và rất lạ, được giới điện ảnh Hồng Kông khen gái Việt Nam đẹp lắm. Thế là phim có chiếu ở Hồng Kông chăng? Chỉ tiếc những ngôi sao mới mọc lên rồi đùng một cái lặn mất tăm. Những khuôn mặt, những con mắt đẹp ảo não, những cặp giò mủm mỉm, thon, dài, những chiếc quần jeans ngắn ngủn lai rách toe toét. Nhưng buồn. Cuốn phim êm êm, buồn buồn, như cái tên của nó. Toa đồng ý không?”

“Moa không nhớ rõ.”

Hắn tiếp:
“Hè muộn? Muộn cũng là buồn, phải không cậu?”

“Hả? Muộn? Sầu muộn, phiền muộn. Đúng thế. Và cũng có nghĩa chậm trễ. Để chắc ăn, ông cứ cho mùa hè ấy vừa buồn vừa chậm, vừa trễ.”

Chúng tôi xưng hô với nhau loạn xạ, bạn, tôi, ông, cậu, toa, moa, mình. Hoặc xưng tên, gọi tên. Bây giờ đã già rồi, không còn mày tao, mi tau như xưa nữa.

Tôi cố nhớ cuốn phim, không nhớ thêm được gì ngoại trừ cái bố cục rất lạ. Và cái lặng lẽ của nó. Nhạc nền nghe cũng xa xa, thoang thoảng, đối thoại ngắn, ít ỏi, cộc lốc. A, tôi cũng có nhớ một pha đá banh trong phim. Giữa hai người mà thôi, một nam, một nữ, sau vườn nhà, cạnh bức tường loang lổ cỏ rêu. Người con trai mắt đăm đăm, quả bóng bay vào người con gái, có khi trúng đùi, trúng mông, có khi trật. Người con gái hơi uốn mình tránh hoặc ưởn người ra đỡ, con mắt mở to, thảng thốt. Không có tiếng cười, tiếng nói trong pha đá banh ấy, âm thanh nghe được chỉ là tiếng chạm, tiếng trượt của quả bóng. Sạt, sạt, bịch, bịch.

“Toa nhớ tên các diễn viên trong phim không?” tôi hỏi.

“Không. Chỉ nhớ Kiều Chinh đóng vai đàng chị. Mấy cô kia đóng vai em, vai cháu, vừa bước qua khỏi tuổi con nít mà đã ... Hình như vai nam chính là Trần Quang.”

“Mà đã ... cái gì?”

“Mà đã ... hoang mang.”

Bạn tôi lại cau mày có vẻ muốn sục sạo ký ức thêm nữa. Tôi để ý độ này hắn thường cau mày để lại vài nét hằn trên hai chân mày và trên trán. Đó là thói quen mới của hắn, trước kia đâu có thế. Mới mấy năm trước đây thôi, hắn còn được bạn bè tặng cho cái danh hiệu trẻ mãi không già. Ngũ linh. Hắn thích cái biệt danh đó. Một lần hắn khoe tấm hình hắn chụp với đứa con trai út vừa tốt nghiệp đại học, rồi đố tôi hình ai đó. Tôi đáp ngay:
“Hình hai anh em.”

Hắn nói:
“Đúng nhưng chưa đủ. Phải nói ai anh ai em.”

“Thì cậu là em.”

Một cơn gió mạnh ùa tới, tóc của hắn, tóc của tôi bay lòa xòa trước trán. Nghe lạnh hơn. Dăm ba chiếc lá phong chưa vàng rơi xuống, gió tạt vào vỉa hè. Hắn khoác khoác tay như muốn xua đuổi một điều gì, rồi nói một hơi:
“Hè Muộn hay La Fille de Ryan trước hay sau đó năm ba tuần xuất hiện như cái điềm mất nước. Ông có nhớ La Fille de Ryan không? Robert Mitchum đóng vai chính.”

“Không nhớ. Nhưng nhớ thằng Thi trông giống như Robert Mitchum. Hắn đi học bên Mỹ về cũng nói tụi Mỹ bảo hắn giống Robert Mitchum. Và chắc chắn nhớ ...”

Tôi không muốn nói tiếp nhưng bạn tôi đã đọc được ý tôi. Hắn nói:
“Và chắc chắn nhớ thằng Thi bị giết trong vụ Mậu Thân phải không?”

Thi là người bạn thân của tôi và bạn tôi.

“Không, ở đây không có hè muộn,” hắn trở lại câu chuyện. “Phải có sớm mới có muộn chứ. Nhưng mùa hè nơi này đến rất trễ và đi rất sớm. Nó chỉ lưu lại năm bảy tuần rồi đi. Như chạy trốn.”

“Sao lại chạy trốn?”

“Thì cũng như toa mùa đông cách đây hai năm lên chơi mới được mấy ngày đã bỏ đi. Trốn lạnh phải không? Mùa Hè Canada cũng sợ cái lạnh từ Bắc Cực sắp tràn xuống. Cho nên những buổi chiều còn chút nắng như thế này cũng đã quý lắm rồi. Nhất là lại có...”

Tôi tiếp lời:
... lại có bạn từ xa đến phải không?”

Tôi biết hắn quý bạn bè. Đi đây đó hắn cũng thích nhưng mục đích chính không phải để “du sơn du thủy”, mà để tìm gặp bạn bè tha hồ chuyện trò đấu láo, những chuyện không đâu vào đâu, nhảy lung tung từ đề tài này qua đề tài khác “không người lái”, chuyện cũ, chuyện mới, cũng có khi dăm ba ước vọng cho tương lai, một vài nuối tiếc đã chìm sâu trong quá khứ, và thường là những chuyện vặt vãnh, lằng nhằng. Như “Hè Muộn” chẳng hạn. Có người ưa lập thuyết: “Tôi suy tưởng, ấy là tôi hiện hữu” (Descartes). Chúng tôi thì sống, hiện hữu, khi có chuyện để nói cho nhau nghe. Buồn nhiều hơn vui. Chết hết chuyện. Cũng có khi chúng tôi, không phải chỉ có tôi với hắn mà thôi, nói chuyện với nhau bằng im lặng. Gặp nhau, nhìn nhau, chia tay - ấy là chuyện rồi đó.

Vài tia nắng yếu ớt còn sót lại trên lối đi. Dăm ba người đứng bên ngoài hàng hiên của nhà hàng lớn, nhà hàng Ruby Restaurant, nhìn quẩn nhìn quanh. Có lẽ họ đang chờ người thân đến trễ. Chúng tôi đi một đoạn ngắn trên vỉa hè rồi kéo nhau đến đứng dựa lưng vào một cột trụ lớn tiếp tục câu chuyện cũ.

“Ông để tôi xem nào, không chừng có thể tìm được phim Hè Muộn trong thư viện trung ương,” bạn tôi nói. “Mà đứng ngoài này cho thoáng nghe, nói chuyện vui hơn. Vào trong đó ồn lắm ... Còn sớm chán ... Hình như trời bớt lạnh rồi.”

Hắn vừa nói xong, một cơn gió khá mạnh thổi ào tới. Tôi lạnh run, vội lật cổ áo lên rồi vòng tay ra trước ngực. Hắn cũng áo sơ mi phong phanh như tôi, nhưng đã quen lạnh, tỉnh bơ.
“Thôi, vô. Lạnh lắm hả toa.”

*

Cũng như tiệc cưới Việt Nam, bữa tiệc hôm nay bắt đầu lúc 8 giờ tối thay vì 6 giờ chiều như đã ghi trong chương trình. Cô MC giới thiệu một ca sĩ hát vài bài trong khi chờ khai mạc bữa tiệc. Người ca sĩ Trung Hoa cất tiếng hát, ban nhạc sống khá hùng hậu gồm một đàn dương cầm, một contrebasse, bốn đàn vĩ cầm, ba cây ghi ta, một số kèn đồng và một giàn trống, hòa điệu theo giọng ca. Căn phòng rộng lớn có thể chứa một ngàn người, không còn một chỗ trống, đang ồn ào như vỡ chợ, bỗng im bặt. Đó là một bài hát tiếng Anh nghe quen quen, tôi cố nhớ tên bài hát, nhớ không ra. Tôi biết rằng tối nay khi về đến nhà hắn lên giường chờ giấc ngủ, tôi sẽ tẩn mẩn nghĩ đến những gì xẩy ra trong ngày, thế nào cũng nhớ tên bài hát. Tôi có kinh nghiệm như thế.

Cô ca sĩ khá đẹp, mũi cao, mắt xếch, môi son đỏ loét lóng lánh dưới những tia đèn quay, ăn mặc khá hở hang, hai cánh tay trần dài nõn nà, áo mỏng gần như trong suốt, cổ áo xẻ sâu lồ lộ nửa vú, váy chẽn dài ngang đầu gối bó sát cái mông dày dày cồm cộm đưa đẩy, cặp chân thon nhún nhẩy. Giọng hát khàn khàn, rền rền thỉnh thoảng vút lên cao, rất cao, khi cánh tay duỗi thẳng đưa nhanh máy vi âm ra xa mồm, mặt ngửa lên phía trần nhà, mắt nhắm lại, thân hình uốn cong ra sau như vòng cung. Tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng trống phụ họa vang dậy. Căn phòng trôi bềnh bồng.

Hát xong hai bài, cô ca sĩ, một tay cầm mi-crô, một tay che ngực làm ra vẻ thẹn thùng, cúi mình thật thấp chào khán thính giả, miệng lẩm bẩm những gì không rõ. Tiếng hoan hô, tán thưởng lại nổ lên ào ào. Cô nàng chào thêm một lần nữa rồi quay ngoắt mình, mái tóc rất mượt xoay theo nửa vòng, đi nhanh vào hậu trường, dáng đi đủng đa đủng đỉnh, bước đi vội vội vàng vàng, mông đu đu đưa đưa, vai và đầu lúc la lúc lắc, nhún lên nhún xuống, cái dáng đi của những thí sinh trong một cuộc thi hoa hậu. Bỗng có một khán thính giả tay đập lên bàn ăn, chân đạp xuống sàn nhà, miệng hét to, “Hát nhép, hát nhép”. Tôi ngạc nhiên. Thế ra ngoài bàn của chúng tôi, cũng có những người Việt Nam khác đến dự bữa tiệc này. Một người ngồi bàn sau chồm lên nói tiếng Việt giọng Tàu:
“Hà hà, hát dép là cái gì? Là cái gì gì vậy?”

“Là hát xạo, hát dỏm,” một bạn trong bàn tôi trả lời.

“Nói tầm bậy tầm bạ. Không xạo đâu. Cái cô đó hát hay lắm chớ.”

“Hay mà dỏm.”

“Là cái gì?”

“Hát hay là cái máy nó hát hay, không phải người hát. Cái cô đó chỉ nhép nhép cái miệng làm bộ hát theo thôi.”

“Vậy hả, vậy hả? Không nói giỡn đó chớ.”

Trước khi thức ăn được mang đến từng bàn là phần giới thiệu chương trình buổi lễ. Tiếp theo, giới thiệu Ban Chấp Hành Hội Đồng Hương Vĩnh Châu. Tiếng Anh được sử dụng và được dịch ngay ra tiếng Tàu, cuối cùng là vài câu tóm lược bằng tiếng Việt của một cô MC giọng lơ lớ.

Lần đầu tiên tôi nghe nói đến hội đoàn này. Thì ra Vĩnh Châu là một quận thuộc tỉnh Bạc Liêu nơi đó người Việt gốc Hoa sinh sống, làm ăn rất phát đạt, trước năm 1975. Cũng như người tỵ nạn Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 75, nhóm người Việt gốc Hoa này đi lưu vong thành nhiều đợt đến nhiều nơi trên thế giới, và lập những Hội Đồng Hương Vĩnh Châu tại Mỹ, Canada, châu Úc, châu Âu v.v... Một số người, như thuyền nhân Việt Nam, chết trên biển. Mỗi năm họ thay phiên nhau tổ chức Đại Hội, có đại diện từ mọi nơi đến tham dự.

Họ tổ chức rất long trọng, chu đáo. Trước hết, các món ăn thật nhiều và thật ngon. Nước ngọt, bia, rượu chát, rượu mạnh đều có tại mỗi bàn. Giúp vui là những màn rất hấp dẫn như biểu diễn các vũ điệu tango, valse, rumba, mambo, cha-cha-cha, be-bop bởi vũ công chuyên nghiệp người Canada tóc vàng mắt xanh thân hình uyển chuyển bước chân lả lướt. Một nhóm vũ công nhi đồng cũng có dịp trổ tài, nhảy nhót khá nhịp nhàng, linh động, trông thật vui mắt. Xen kẽ vào là những màn múa lân, xổ số, xiếc. Nhưng ca nhạc vẫn là những mục chính, ca bằng tiếng Anh, tiếng Quảng, tiếng Tiều, tiếng Việt. Đặc biệt là có sự hiện diện của Như Quỳnh, Trường Vũ, Chế Linh v.v... Trường Vũ hát tiếng Tàu, Như Quỳnh, Chế Linh không biết tiếng Tàu thì hát tiếng Việt. Cứ xong mỗi bản nhạc, thực khách lấy cớ tán thưởng các ca sĩ đứng lên reo hò, đập bàn, vỗ tay, huýt sáo muốn nổ cả hội trường.

Càng về khuya, rượu càng vào, lời càng ra, không khí buổi dạ tiệc càng sôi sục. Ngồi hàng đầu gần ban nhạc, vài người trong chúng tôi không chịu nổi tiếng kèn, tiếng trống, phải đi tìm chỗ đứng ở cuối hội trường.

Bỗng ông Hội Trưởng Hội Đồng Hương Vĩnh Châu lên sân khấu giành lấy mi - crô trong tay của MC. Cả hội trường lại được dịp hò hét. Cũng như hầu hết thực khách vào lúc ấy, ông Hội Trưởng đã khá “phê” rồi. Đứng trước mi - crô trên sân khấu, mồ hôi vã ra đầy trán, đầy mặt, ông rút chiếc khăn tay ra lau, và ngập ngừng phát biểu:

“Kính thưa quý dzị, tui ...tui...xin nói ... vài lời.”

Mọi người la ồ lên, có lẽ vì ngạc nhiên khi nghe ông nói không phải bằng tiếng Anh hay tiếng Tàu như lúc được giới thiệu vào đầu buổi dạ tiệc, mà lại bằng tiếng Việt. Chờ cho bớt ồn, ông tiếp:
“Kính thưa quý ... dzị, tui xin hát ... hát một bài Dziệc Nam.”

Tiếng náo động trong hội trường lắng xuống ngay. Mọi người chú ý. Tiếng hát cất lên lè nhè khó nghe, có khi vì líu lưỡi, lạc giọng nhưng rất đúng nhịp. Giàn nhạc không trổi lên phụ họa rùm beng, chỉ có một cây ghi ta và tay trống đệm theo nhè nhẹ. Hội trường bỗng lặng thinh. Cả bàn chúng tôi cũng ngạc nhiên và lắng nghe. Tôi nhận ra mấy câu trong bài Nỗi Buồn Hoa Phượng:
Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng
Biết ai còn nhớ đến ân tình không
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu
Những chiều hẹn nhau lúc đầu
Giờ như nước trôi qua cầu ...

Như có một luồng gió lạ thổi qua, tất cả thực khách đều thảng thốt, bàng hoàng, và ngồi im như tượng. Tình trạng đó chỉ kéo dài trong mấy phút. Tiếp đến, sau khi ông Hội Trưởng hát xong, những tiếng nhao nhao của nhiều người đòi lên sân khấu hát bỗng rộ lên. Nào là ủy viên ngoại vụ, ủy viên tài chánh, nào là đại diện vùng Houston, vùng Vịnh, nào là nhân sĩ thuộc tỉnh bang Ontario, hoặc Montreal, v.v... hoặc những người không có chức vụ gì cả. Họ đều xin hát những ca khúc Việt Nam. Một cô MC khác phải lấy giấy ra ghi danh thứ tự kẻ lên trước, người lên sau. Hỏi ra mới biết cô MC này là ngươì Việt từng làm xướng ngôn viên cho một đài truyền hình địa phương.

Bắt đầu từ giây phút đó, cái sân khấu lẽ ra còn có nhiều mục khác theo như chương trình đã định, tức là một chương trình ca vũ nhạc quốc tế giật gân, kích động, nay biến thành nơi trình diễn chỉ một loại nhạc Việt Nam theo thể điệu boléro, rumba, nhất là rumba, loại nhạc mà có người gọi là nhạc sến, có người gọi là nhạc miệt vườn. Gọi như thế có đúng hay không? Tôi không thể nhớ tất cả các bài được hát hôm Đại Hội này, nhiều quá.

Người này hát:
Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những chiều có người em gái qua bên thềm
...
Những ngày rau cháo với dưa cà
Quê nghèo được sống trong mặn mà ...

Kẻ khác hát:

Ở phương này vui kiếp sống chinh nhân nhưng không quên dệt mơ ước
Ước ngày nào quê hương tàn chinh chiến cho tơ duyên được thắm màu
Và phương đó em ơi có gì vui xin biên thư về cho anh...

Lại có người hát một bài tôi nghe quen quá:

Một ngày nào trên bến cô liêu
Xóm bên sông tiêu điều
Buồn hắt hiu mây chiều
Đò của người thôn nữ
Chờ đưa người viễn xứ
Đưa anh trai phong sương
Đi lính Cộng Hòa ...

Một ông già tóc bạc phơ lại hát những câu rất tình tứ:

Ai cho tôi tình yêu
Của ngày thơ ngày mộng
Tôi xin dâng vòng tay mở rộng
Và đón người vào tim tôi...

Được vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt, ông hát tiếp:

Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
...
Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến bắc Cần Thơ...

Một người đứng tuổi trong bộ đồ lớn, tóc chải ngược ra đằng sau, cà vạt điệu nghệ màu tím hoa cà, giày đen bóng loáng, một tay nắm mi - crô, tay kia cầm điếu thuốc lá đang cháy, hát mùi mẫn:

Quê hương ơi Việt Nam nước tôi
Tôi mong ngày về từng phút người ơi
Quê hương tôi nằm cạnh biển khơi
Cho tôi tiếng khóc khi ra đời...
...
Ngàn năm, ngàn năm thương nhớ Việt Nam...

Chữ Việt Nam được phát âm đúng.

Những người Việt gốc Hoa ấy, bây giờ có lẽ đã nhập tịch thành người Canada, người Mỹ, người Pháp, người Úc, vân vân, phát âm tiếng Việt chưa được chuẩn cho lắm, lại thêm hơi rượu bốc lên, nhưng hát một cách say sưa, nhiều lúc nghe nghẹn ngào, áo não. Khi say, con người thật thường bộc lộ ra. Họ cảm xúc, tiếp thu khi tỉnh táo và thường giấu giếm tình cảm của mình để khi say mới bày tỏ thẳng thừng. Thỉnh thoảng một người từ bàn khán thính giả khoái chí quá bưng ngay ly rượu đang uống dở lên sân khấu ép người đang hát uống. Người hát cũng đang say nhưng đâu có ngán, cầm lấy ly dốc ngược “dzô” ngay một ngụm dài, rồi thả ly cho nó rớt xuống sàn sân khấu vỡ tan, rượu văng tung tóe. Hát tiếp.

Tôi tự hỏi tại sao họ có thể hát trơn tru, nhuần nhuyển và đầy xúc cảm như thế, không ai cần phải có bài hát trong tay. Câu trả lời đơn giản thôi. Họ đã hát những bài hát ấy rất nhiều lần đến thuộc lòng, và cũng rất nhiều, họ đã yêu quý miền đất nước ấy khiến tiếng hát đầy rung động. Họ hát trên rạch, trên sông, dưới hàng dừa, hàng cau, trong vườn cam, vườn chuối, ngoài những cánh đồng mênh mông miền Sông Tiền, Sông Hậu. Họ hát trong những đám cưới của chính họ hay của bạn bè, hay của con cái, hay trong những cuộc họp mặt, liên hoan, lễ hội. Quả thật những đồng hương Vĩnh Châu đã từng nói cho nhau nghe bằng lời ca tiếng hát, chia sẻ với nhau những tình ý đậm đà, chất phác, đôn hậu.


Còn chúng tôi thì sao? Chỉ chuyện trò thôi chăng? Cũng có khi ca hát nữa chứ. Nhưng dường như có phần mệt mỏi hoặc cay đắng.

Những bài hát tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha không còn chỗ đứng nữa. Trường Vũ, Chế Linh thỉnh thoảng chen vào, cũng đã xoay qua hát những bài hát miệt vườn theo điệu rumba, boléro. Ngay cả Như Quỳnh thoạt tiên rất duyên dáng trong các bản tango, slow, valse, cuối cùng cũng nhập cuộc hát với đám người “say sưa” kia. Riêng Trường Vũ uống rượu như hũ chìm. Anh hát nhiều bài, cứ xong một bài lại nốc hết một ly rượu do thực khách từ chỗ ngồi mang lên. Anh uống đến chân đứng run run, tay cầm mi - crô không vững, càng uống mặt càng tái, giọng càng khàn. Tôi nghĩ rằng trong bầu không khí đê mê ấy, những ca khúc loại khác như Suối Mơ của Văn Cao, Như Cánh Vạc Bay của Trịnh Công Sơn, Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy chẳng hạn, nếu được ai đó trình diễn dù là một danh ca, cũng sẽ lạc lõng, chối tai, chả ai thèm chú ý.

Các bạn tôi và tôi ngồi yên, lặng nghe, sững sờ. Mãi 12 giờ khuya buổi tiệc mới chấm dứt trong sự tiếc rẻ của mọi người.

*

Trên đường về, bạn tôi không nói một lời, làm như đang chăm chú lái xe. Tôi cũng không muốn gợi chuyện, ngồi im. Mỗi đứa trong hai chúng tôi đều bận tâm với ý nghĩ riêng của mình, hay đúng hơn, đều nghĩ ngợi về bữa tiệc vừa rồi. Thỉnh thoảng tôi quay ra nhìn thành phố đêm. Kỳ cục thật, sau bữa tiệc ấy, tôi có cảm nghĩ rằng những con đường này của Toronto tôi đã đi nhiều lần nay bỗng trở nên xa lạ, lạnh lẽo, ù lì, cứng nhắt và vô cảm. Vâng vô cảm. Đúng vậy không, hay là vì trong đêm khuya, với tôi, thành phố nào cũng thế, dù đèn đêm sáng rực, dù ngay giữa mùa hè, cũng đều lạnh và cứng. Con vật của muôn ngàn đời ngủ quên trong tôi lúc chiều xuống đôi khi tỉnh dậy đâm hoang mang và buồn muốn quay về hang ổ riêng hay tổ ấm của nó. Chiều xuống mà đã thế huống là đêm khuya. Những thành phố khuya vô cảm!

Chữ vô cảm nay được sử dụng rất nhiều. Là vì con người bây giờ càng ngày càng ù lì như sỏi đá. Mấy tháng trước đây báo chí ở nhiều nơi trên thế giới loan tin và cực lực lên án một sự việc rất quái đản xẩy ra tại một thành phố ở Trung Quốc. Một em bé gái bị một xe tải cán lên người đến hai lần, bị thương nặng, sau đó chết. Nhiều người đi đường đã chứng kiến cảnh tượng ấy, ngoảnh mặt, tiếp tục đi. Vô cảm đến thế là cùng. Tại Việt Nam, một em bé trai ngồi trên xe đò chật cứng, ngạt thở, chết. Tài xế mang em bỏ xuống đường rồi lái xe chạy tiếp. Vô cảm không kém.

Thế thì những gì xẩy ra tại một nhà hàng sang trọng ở Toronto, Canada của những đồng hương Vĩnh Châu đã khiến tôi băn khoăn suy nghĩ. Họ không vô cảm một chút nào. Tại sao thế? Phải chăng vì họ đã đến nhiều nơi trên thế giới từ một miền đất nơi đó, lúc đó, tình người hãy còn đầy ăm ắp.

Khi xe về đến cổng nhà, đã gần một giờ sáng, bạn tôi quay qua nói với tôi:
“Sau này nếu khi nào về được, bọn mình sẽ đến thăm Vĩnh Châu cho biết. Nghe ông.”

Ngừng một chốc hắn nói tiếp:
“Về được, chứ không phải được về. Nhưng không biết Vĩnh Châu bây giờ đã ra sao rồi? ”





Ngô Nhân Dụng - Triệu con tim, còn triệu khối kiêu hùng

Ngô Nhân Dụng


Theo dõi các bloggers ở Việt Nam thì chúng thấy rất nhiều người trẻ đang mang những ước vọng như Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang: “Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người. Làm người huy hoàng phải chọn làm người Dân Nam.” Những ước nguyện viết trước đây gần nửa thế kỷ, cũng không khác những lời thiết tha của Việt Khang bây giờ.


Nguyễn Đức Quang khác hẳn các nhạc sĩ cùng thời, những năm tang thương nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc. Phản ứng của Nguyễn Đức Quang không phải là đau khổ, thở than, tuyệt vọng. Các bài hát của anh tóat ra tính chất khỏe mạnh, lạc quan, xây dựng, hướng về tương lai; trong khi anh vẫn ý thức thân phận khốn khổ, nhục nhằn của quê hương mình. Trong thời gian đó nhiều nhà đặt ca khúc khác nổi tiếng từ những phòng trà, những quán cà phê trong thành phố, kéo bao nhiêu người vào cơn mộng mị của họ. Nguyễn Đức Quang hát cho các thanh niên, sinh viên, học sinh đi làm trại công tác, vì tâm nguyện giúp ích xã hội.

Sống trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt này, ai sống ở miền Nam Việt Nam cũng ý thức thân phận làm dân một nước nhỏ bị đẩy vào một cuộc tranh chấp quốc tế giữa các cường quốc. Năm 1970 Nguyễn Đức Quang nhìn thấy: “Dân chúng ta đã mềm nhũn … Người ơi này tấm thân gầy, một sông núi hai vai lửa cháy!”( Xương sống ta đã oằn xuống). Trong cuộc chiến tranh, những người lính miền Bắc bị tuyên truyền không hề ý thức mình đang gây ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, như Trịnh Công Sơn than thở “Hai mươi năm Nội Chiến từng ngày;” còn những người miền Nam phải cầm súng chống cự cũng biết rằng đây là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Như khi nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người lính, nói với người lính bên kia: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước – Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.” Nguyễn Đức Quang nhìn xa hơn, thấy một sự thật là dân mình bị “bọn lái buôn” lường gạt: “Anh ơi anh, chung quanh ta còn có bao nhiêu đứa nhân danh mang đời ta đem bán cho muôn người nơi xa vời; từ Sài Gòn kia ra Hà Nội ấy!” (Bọn Lái Buôn ở Khắp Nơi). Nguyễn Đức Quang nhìn thấy “Người dân mình bị dầm nát như loài giun thôi.” Vì cùng là nạn nhân phải trả món nợ cho cả hai khối tư bản và cộng sản, bằng xương máu dân mình, “Việt Nam chịu ân oán cho cuộc tranh đua … Bao nước vây chung quanh đòi nợ - Một dân tộc trả bằng máu hai chục năm qua” (Im Lặng Là Đồng Lõa). Người nhạc sĩ đã lên tiếng nói lên một sự thật.

Khác với những nhạc sĩ chỉ than thở và tìm quên trong các tình tự cá nhân hay tự che giấu đời sống thật sau những tư tưởng mộng mị hay siêu hình, Nguyễn Đức Quang là một nhạc sĩ “nhập thế.” Anh kêu gọi “Một người đi một bước, ngàn người cùng đi muôn bước. Đi làm đuốc soi quê hương ta đập tan bóng tối” (Đuốc hồng tuổi trẻ). Anh viết những ca khúc cho các thanh niên đi xây dựng nhà cửa cho đồng bào tị nạn, “Rồi ngày mai này nhà sẽ cao – Anh em ơi tô nhanh lên nào!” (Làm Nhà). Anh đặt những ca khúc cho các học sinh, sinh viên đi làm công tác giúp ích: “Những nhát cuốc hôm qua hay bây giờ, làm Việt Nam thành một kho ấm no!” Và “Những nhát cuộc chôn sâu lời thở dài – Những nhát cuốc đưa ta về ngày mai … Những nhát cuốc reo vui mùa Tự Do” (Những nhát cuốc).

Tâm hồn Nguyễn Đức Quang lúc nào cũng vui vẻ yêu đời, anh muốn khơi dậy niềm tin tưởng, hy vọng cho các thanh niên chung quanh mình. Trong các cuộc lửa trại, các lúc họp đoàn, một thế hệ sinh viên học sinh khắp miền Nam đã hát với anh những câu ca đầy tin tưởng: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền – Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến – Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt – Hy vọng đã vươn dậy …” Rồi anh nhắc lại nhiều lần, nghe như lời cầu nguyện: “Hy vọng đã vươn dậy trong lòng anh, trong lòng tôi, trong lòng ai … Hy vọng đã vươn dậy trong ngày qua, sang ngày nay, cho ngày mai!”

Nguyễn Đức Quang là người nhạc sĩ đi gieo rắc ý thức lạc quan và xây dựng cho một thế hệ các thanh niên miền Nam, những người không theo cộng sản. Trong lúc một chế độ dân chủ đang bắt đầu thành hình, nhiều người bắt đầu chán nản vì các cuộc tranh luận trong xã hội, một hiện tượng không thể nào tránh được trong các xã hội muốn sống tự do dân chủ. Một biến chứng của cuộc sống tương đối tự do là tinh thần phê phán đưa tới cãi cọ gay go và cay đắng quá đáng. Nguyễn Đức Quang hát lên: “Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi – Phải dùng bàn tay mà làm nên tươi mới. Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay, cho sâu, cho thật đau.”

Nguyễn Đức Quang cố gắng thuyết phục đồng bào, nhất là giới trẻ: “Không phải là lúc ta ngồi mà cãi xuông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắt đầu? Thế giới ngày nay không còn ma quái; Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi; Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi!” Để “bắt đầu,” Nguyễn Đức Quang hô hào: “Làm việc đi không lo khen chê! Làm việc đi hãy say và mê!” Và báo động: “Mình chậm chân đi sau người ta, còn ngồi đây nghĩ lo viển vông, thắc mắc, ngại ngùng, đến lúc nào mới là xong?” Bài ca Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề tuy viết từ năm 1966 nhưng nếu được cất tiếng hát lên bây giờ vẫn còn thích hợp.

Một năm sau khi Nguyễn Đức Quang qua đời, hát lại các bài ca của anh viết từ những năm chinh chiến cũ, chúng ta vẫn thấy những lời ca tha thiết của anh còn rất cần thiết cho các bạn trẻ hiện nay. Trong lúc nền văn hóa kim tiền đang tràn ngập, trong lúc bao thanh niên mất kim chỉ nam đạo đức, còn bị sa vào vòng ma túy, trộm cướp; nước Việt Nam cần một cuộc phục hưng tinh thần, trước hết là cho giới trẻ, ngay trong trường học.

Nước Việt Nam đang cần nhiều nhạc sĩ nối tiếp Giòng Nhạc Nguyễn Đức Quang, đem gieo rắc niềm tin tưởng, hy vọng, ý chí xây dựng quê hương. Một nét đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Đức Quang là lời và nhạc khỏe mạnh, vui tươi, hùng tráng nhưng không thuộc loại bài ca giành cho quân đội. Đây là những bài hát của người dân yêu nước bình thường. Những biểu lộ của tình yêu nước nồng nhiệt cũng không rơi xuống tinh thần bài ngoại mù quáng, không hề kêu gọi đi giết người. Tính chất nhân bản này vắng mặt ở phần lớn các bài hát thường gọi là “cách mạng.” Chỉ khi người ta tự tin ở chính dân tộc mình, tin ở lý tưởng yêu thương đất nước của mình, thì mới lộ rõ thái độ nhân bản đó.

Trong khi cả nước lo lắng về nạn ngoại xâm, những ca khúc sôi sục lòng yêu nước như: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại – Xương da thịt này cha ông miệt mài” phải được tiếp tục sáng tác để các thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ họp nhau cùng ca hát. Để một lần nữa, chúng ta xác định “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ!” Với “Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!” Những khúc hát Nguyễn Đức Quang đã viết tặng cho tuổi trẻ có thể gây cảm hứng cho các nhạc sĩ thời nay, để các bài hát yêu nước, yêu đời, yêu người lại được ca vang khắp các nẻo “Đường Việt Nam.”

(Các ca khúc của Nguyễn Đức Quang dẫn trong bài đều trích từ mạng của Phong trào Du Ca Việt Nam, http://ducavn.com)