Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Hoàng Kim (Đồng Tháp) - Hãy thay đổi cơ chế mua lúa tạm trữ bất lương!

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải lo những công việc thuộc về sản xuất lúa, việc mua bán lúa gạo là của Bộ Công thương và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), vậy mà, mới chỉ vào ngày 14/12, còn 2 tháng nữa nông dân mới thu hoạch vụ đông xuân, ông Diệp Kỉnh Tần Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn lại làm một việc trái chức vụ và vượt quyền hạn, khi để nghị Chính phủ mua tạm trữ lúa đông xuân năm 2012 của nông dân:
“Bộ NN&PTNT sẽ báo cáo Thủ tướng và xin ý kiến sẽ thu mua tạm trữ gạo để giữ giá cho dân trong đợt thu hoạch vụ Đông Xuân tới đây. Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp về vốn ưu đãi để thu mua lúa gạo tạm trữ”. Ông Tần khẳng định trên báo Điện tử Bộ Công Thương”. (1)

Photo; DVTVN

Theo Hải quan Việt Nam Online, xuất khẩu gạo tháng 12 của VFA có giá bán gạo bình quân 594 đô la Mỹ/ tấn, với giá bán này thì cứ qui ra giá lúa mua cho nông dân chứ cần gì tạm trữ. Ông Tần quá có tài tiên đoán, còn đến 2 tháng nữa nông dân mới thu hoạch lúa, mà ông Tần đã biết giá lúa sẽ giảm nên đề nghị mua tạm trữ để giữ giá cho nông dân!? Muốn giúp nông dân sao ông Tần không đề nghị Chính phủ cho vay không lãi hoặc hạ lãi suất cho nông dân, mà chỉ đề nghị hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp?

Có lẽ, ông Thứ trưởng Tần không biết rằng: trong nhiều năm nay, nông dân đã nhiều lần tố cáo Chính phủ và VFA toa rập với nhau thực hiện quỷ kế mua lúa tạm trữ để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.

Nếu vậy, ông Tần hãy đọc bài, “Mua lúa gạo để giữ giá cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có” đăng trên Bauxite ViệtNam. (2)

Cũng có lẽ ông Thứ trưởng Tần biết nông dân nhiều lần tố cáo, nhưng vì VFA trám miệng một đống tiền, nên nói những điều bậy bạ, không đúng thẩm quyền của mình, để VFA có cớ đề nghị Chính phủ mua lúa tạm trữ.

Do không thể chứng minh được ông Tần bị VFA trám miệng, nên tôi đành chấp nhận rằng: ông Tần chỉ nói bậy bạ, không đúng thẩm quyền, chớ không phải bị VFA trám miệng.

Chúng ta hãy nghe lý lẽ của ông Thứ trưởng Tần:
“Theo kế hoạch thì năm 2012, nước ta đặt chỉ tiêu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo. Vào thời điểm này các năm, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thường đã ký hợp đồng xuất khẩu gạo từ 1,5 đến 2 triệu tấn. Tuy nhiên năm nay, các doanh nghiệp xuất khẩu mới ký được 700 ngàn tấn cho năm 2012”.

Năm 2011 theo Hải Quan Việt Nam Online, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 7,1 triệu tấn, vậy năm 2012 này xuất khẩu dự kiến có 7 triệu tấn thì có gì mà lo?!

Ngày 6/1/2012 ông Trương Thanh Phong tại Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2011, triển khai nhiệm vụ năm 2012 lại tuyên bố:
“Tuy nhiên bước sang năm 2012, xuất khẩu gạo đứng trước nhiều khó khăn, lượng hợp đồng gối đầu sang năm mới đạt 850.000 tấn, không thấp hơn so với mọi năm, nhưng thời gian giao hàng trả dài sang các quý chứ không tập trung vào quý I như các năm”. (3)

Ngày 6/1/2012 ký được 850.000 tấn gạo cho năm 2012 ông Phong cho biết không thấp hơn năm 2011, vậy ngày 14/12 ký được 700.000 tấn cho năm 2012 thì có gì là đáng sợ mà ông Tần la toáng lên phải mua lúa tạm trữ?!

Nếu lo sợ giá lúa giảm khi nông dân thu hoạch rộ lúa đông xuân, thì ông Tần phải đề nghị Chính phủ có biện pháp nâng cao giá bán gạo xuất khẩu, chứ không được phép đề nghị Chính phủ cho mua lúa tạm trữ.

Nâng cao giá bán gạo xuất khẩu mới có lợi cho nông dân – Thái Lan họ làm như vậy – còn mua lúa tạm trữ là ăn cướp lợi nhuận của nông dân, điều hiển nhiên này ông Tần hình như không biết.

Ông bà ta nói: “không biết thì dựa cột mà nghe”, ông Tần không biết mà lại làm tài lanh, dựa vào những lý do không đâu vào đâu đề nghị Chính phủ cho mua tạm trữ lúa vụ đông xuân năm 2012, khiến cho VFA có cớ ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân, cái bậy của ông Tần hại nông dân không biết bao nhiêu mà kể.

Đây, ông Tần hãy xem giá mua lúa tạm trữ mà VFA đưa ra:
“Tại cuộc họp hồi đầu tháng, Ban Chấp hành Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã thống nhất nếu giá lúa thường (khô) trên thị trường rớt xuống dưới 5.000 đồng/kg, VFA sẽ báo cáo Chính phủ để xin mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo…


Sở dĩ có mức giá thu mua như trên do VFA căn cứ vào thông báo giá sản xuất vụ đông xuân 2011 – 2012 của Bộ Tài chính khoảng 3.400 đồng/kg, cộng thêm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và 30% mức lãi tối thiểu thì giá thành sản xuất thì 1 kg lúa sẽ vào khoảng 4.500 đồng/kg, như vậy giá mua tối thiểu lúa khô sẽ là 5.000 đồng/kg phù hợp”. (4)

Giá lúa khô 5.000 đồng/ kg mà tại kho VFA, thì tại ruộng nông dân chỉ bán có 4.500 đồng/ kg. Vậy nông dân bán lúa hòa vốn, hoặc chỉ lời 30% so với giá thành.

Lời 30% nông dân sống được hay không? Ông hãy đọc bài “Tại sao nông dân chỉ lời 30% so với giá thành?” đăng trên Bauxite ViệtNam, sẽ rõ. (5)

Nếu ông Thứ trưởng Tần thật sự sợ nông dân làm lúa quá nhiều VFA bán không được, thì tại sao Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của ông lại bắt nông dân đắp đê làm lúa vụ 3, để độc canh 3 vụ lúa một năm. Sao lại tăng sản lượng lúa cả năm khi không bán được lúa?!

Nếu ông Thứ trưởng Tần thật sự sợ lúa nhiều VFA bán không được, sao ông không đề nghị Chính phủ cấm lúa của Campuchia tràn xuống ViệtNam. Ngay lúc này, ông hãy đi các cửa khẩu An Giang và Đồng Tháp ông sẽ thấy lúa của Campuchia nhập lậu công khai, lượng lúa này ước tính khoảng cả triệu tấn.

Bắt nông dân làm thêm lúa, không ngăn chặn lúa 1 triệu tấn lúa Campuchia tràn sang biên giới chiếm thị trường của nông dân Việt Nam, rồi lại cho rằng lúa nhiều quá nên đề nghị Chính phủ cho mua tạm trữ, là những hành động mâu thuẩn đến dốt nát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và của ông Thứ trưởng Tần!

VFA độc quyền mua bán lúa gạo có Chính phủ chống lưng, muốn mua lúa bao nhiêu thì cứ mua, muốn ăn cướp lợi nhuận của nông dân bao nhiêu thì cứ ăn cướp, nhưng đừng nói gạt nông dân rằng mua lúa tạm trữ để giữ giá cho nông dân.

Ăn cướp thì cứ ăn cướp, nhưng đừng xí gạt. Ăn cướp hết lợi nhuận vì quỷ kế mua lúa tạm trữ, nông dân giận nhưng làm thinh, nhưng nếu xí gạt nông dân rằng mua lúa tạm trữ là để giữ giá cho nông dân, khi nông dân biết mình bị xí gạt, họ sẽ căm phẫn và phản ứng như Đoàn Văn Vươn đấy.
Trái mìn của Đoàn Văn Vươn đã nổ vào quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” Đảng và Nhà nước đã thấy.

Còn hàng triệu trái mìn phẫn uất của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long, bị VFA ăn cướp hết lợi nhuận năm này qua năm khác bằng cách mua lúa tạm trữ, đang chờ mồi lửa, Đảng và Nhà nước chưa thấy.

Hãy coi chừng! Hãy thay đổi cơ chế mua lúa tạm trữ bất lương! Nếu không, mỗi nông dân chất phác Đồng bằng sông Cửu Long có thể biến thành một Đoàn Văn Vươn đấu tranh mạnh mẽ cho quyền lợi của mình.

H. K.
Tác giả gửi trự tiếp cho BVN.



Tài liệu tham khảo: 
(1)      Bài “ Sẽ mua tạm trữ gạo” http://www.baocongthuong.com.vn/p0c272n16994/se-mua-tam-tru-gao.htm
(2)      http://www.boxitvn.net/bai/28472
(3)      Việt NamPlus Online. Bài, “ Xuất khẩu gạo năm 2012 sẽ gặp nhiều khó khăn”  http://www.vietnamplus.vn/Home/Xuat-khau-gao-nam-2012-se-gap-nhieu-kho-khan/20121/120549.vnplus
(4)      VnEconomy Online. Bài, “ Đề xuất mua tạm trữ để cứu giá lúa”  http://vneconomy.vn/2012022010244021P0C19/de-xuat-mua-tam-tru-de-cuu-gia-lua.htm
(5)      http://www.boxitvn.net/bai/11185
Nguồn: Bauxite Việt Nam

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Ghé thăm các Blogs: 01/03/2012

BLOG TRƯƠNG DUY NHẤT

60ngày & những phát ngôn ấn tượng



Năm 2012 mới trôi qua 2 tháng. 60 ngày với hàng loạt những phát ngôn… ấn tượng! Sự ấn tượng đầy bất ổn.


1- “Đảng như con cá ngúc ngoắc trong ao cạn”- Nhà văn Vũ Tú Nam.


2- “Đất nước chúng ta đang đi trên một cỗ xe mà người lái xe không biết lùi, và trên cỗ xe phanh hỏng. Và chúng ta chỉ băm băm lao về phía trước, đầy những rủi ro”- Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc.


3- “Thực trạng suy thoái trong đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư”- Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu.


4- “Cái thiệt hại ở đây là thiệt hại cả về vật chất. Cả nước là chỉ có lao vào cái chuyện Tiên Lãng, không để ý gì đến phát triển kinh tế xã hội…”- Bí thư Hải Phòng Nguyễn Văn Thành.


5- “Không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này… Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách!”- Đại tá giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca nói về cuộc cưỡng chế thu hồi đầm ông Vươn Tiên Lãng.


6- Việc san phẳng căn nhà gia đình ông Vươn sau vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng không phải bởi lực lượng của huyện mà do "nhân dân bất bình nên vào phá"- Phó chủ tịch UBND TP Hải Phòng Đỗ Trung Thoại.


7- “Quân đội là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân chứ quân đội không được tham gia cưỡng chế. Không được phép dùng lực lượng vũ trang để đối phó với dân”- Cựu ủy viên thường trực Bộ Chính trị Phạm Thế Duyệt nói về vụ Tiên Lãng.


8- “Bộ đội, thì nhiệm vụ trước tiên, hàng đầu của anh là chống giặc ngoại xâm, thứ hai mới là giúp dân và thứ ba là tham gia sản xuất. Đây anh lại không bảo vệ cho dân làm ăn lại tham gia cưỡng chế dân. Đây là một sai lầm mà trong lịch sử đất nước ta chưa từng có”- Đại tướng cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói về vụ Tiên Lãng.


9- “Thu phí mà giảm được kẹt xe tôi sẽ đi tù!”- Cựu Viện trưởng viện qui hoạch & quản lý giao thông- vận tải Nguyễn Văn Thụ.


10- “Áp dụng giải pháp đồng bộ đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhưng khi kiểm tra, thống kê mà tỉnh nào TNGT tăng 3 năm liên tục thì sẽ kiến nghị cách chức Chủ tịch tỉnh”- Bộ trưởng Giao thông- vận tải Đinh La Thăng.


11- “Việt Nam chưa có tầng lớp trí thức đúng nghĩa”- Giáo sư Chu Hảo.


_____________________

Tags: ấn tượng, bất ổn, Chu Hảo, Dương Trung Quốc, Đinh La Thăng, Đỗ Hữu Ca, Đỗ Trung Thoại, Hải Phòng, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Thụ, Phạm Thế Duyệt, phát ngôn, Tiên Lãng, Vũ Tú Nam
Posted in bài mới nhất, chính trị- xã hội, tin tức- sự kiện | 34 Comments »


BLOG ĐÀO TUẤN
Đăng ngày: 22:48 27-02-2012

Tháng 8-2011, nhà báo Trương Duy Nhất lần đầu phát hiện khi về làm việc với các bộ ngành và  địa phương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không để cho họ căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mình.

Dù TBT không hô hào, chém gió, không một lời về câu chuyện “nhiệt liệt chào mừng”, nhưng 1 tháng sau đó, Ban Bí Thư  có công văn yêu cầu các cấp ủy và tổ chức đảng tiếp tục tổ chức thực hiện Quy định 60 của Bộ chính trị và quy chế làm việc của Ban chấp hành trung ương về chế độ đi công tác cơ sở, dự hội nghị, lễ kỷ niệm, lễ hội của các ngành, địa phương, đơn vị và tiếp khách quốc tế.

5 tháng tiếp sau, ngày 17-2-2012, Văn phòng TƯ Đảng có công văn 2430 nhắc lại yêu cầu: Khi các đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước đến thăm và làm việc với địa phương đơn vị, không được treo khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng…” ở ngoài và trong nơi làm việc của lãnh đạo với địa phương, đơn vị.

Văn bản nhấn mạnh “Việc này cần phải được thực hiện thống nhất và thực hiện ngay trong toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở”.

“Nhiệt liệt chào mừng” bảo nhỏ, thì chỉ là chuyện treo hay không treo khẩu hiệu, chỉ là “chuyện hình thức” rềnh rang, phô trương. Nhưng nói lớn, thì đó lại là câu chuyện “nghi lễ” không được phép tồn tại trong các cuộc làm việc, sinh hoạt nội bộ một đảng, dù là đảng cầm quyền. Bởi những tấm khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng” chứa đầy sự quan cách, xu nịnh, chứa đầy khoảng cách cấp trên- cấp dưới; quan chức- nhân dân; đảng viên- quần chúng. Và rất có thể, từ những khẩu hiệu tưởng là trời ơi đất hỡi này, các đảng viên- cán bộ mất cảnh giác trước cám dỗ về danh lợi.

Nghị quyết TƯ 4 không bắt nguồn từ câu chuyện chấm dứt “nhiệt liệt chào mừng”. Nhưng việc bỏ khẩu hiệu đã bắt đầu và được thực hiện quyết liệt từ người lãnh đạo cao nhất của Đảng.

Hôm qua, tại Hội nghị toàn quốc triển khai NQ TƯ 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra vấn đề “Nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên” trong giải pháp tự phê bình và phê bình, một trong 4 nhóm giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

“Những việc cần làm ngay là từng cán bộ, đảng viên, trước hết là từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tự giác, gương mẫu, tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, tự điều chỉnh mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình; cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn chủ nghĩa cá nhân ích kỷ”- TBT nói. Ông cũng yêu cầu: “Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giải quyết từng vấn đề cấp bách, những việc cần làm ngay, xác định rõ nội dung, thời gian hoàn thành và người chịu trách nhiệm cụ thể. Nghiêm túc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; xử lý dứt điểm một số vụ việc mà dư luận quan tâm. Cần đặc biệt chú ý chuẩn bị và tiến hành tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn đạo đức lối sống của bản thân và của người thân trong gia đình”.

Nguyên TBT Lê Khả Phiêu trong bài trả lời phỏng vấn báo chí ngày hôm qua, lần xuất hiện thứ 3 của ông trên các phương tiện truyền thông kể từ sau NQ TƯ 4- cũng đã cho rằng: Bệnh đã chẩn. Thuốc đã bốc. Nhưng thuốc kê giải bệnh phải uống để chỉnh đốn Đảng không phải là khẩu hiệu… vai trò tiên phong "uống thuốc giải bệnh" phải là Bộ Chính trị, cần sinh hoạt dân chủ, thẳng thắn tự phê bình và phê bình những yếu kém, tồn tại để làm gương cho cấp dưới. “Đã tắm thì phải biết gội đầu”- ông nói.

Có thể câu chuyện bỏ khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” chỉ là nhỏ so với việc lớn là xây dựng chỉnh đốn đảng, nhưng rất rõ ràng là người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã đóng vai trò tiên phong, gương mẫu. Cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng lần này cũng vậy, sẽ chỉ là “khẩu hiệu” nếu không được bắt đầu sự “gội đầu” – chứ không phải là sự gương mẫu mang tính chất “khẩu hiệu”, “hình thức”- của người đứng đầu các tổ chức, cơ sở Đảng.


BLOG QUÊ CHOA

NGUYỄN XUÂN TRUNG

NQL: Báo Dân Việt có bài:”Tiên Lãng: Cán bộ huyện dồn đẩy phóng viên ra khỏi trụ sở” ( tại đây) và ghi lại hình ảnh Phó Chánh văn phòng Vũ Văn Sân (bên trái) huyện Tiên Lãng “dằn mặt” phóng viên. Bloger HDTG đã bình luận:”Bức ảnh này sẽ đi vào lịch sử, thái độ của một ông quan thế kỷ 21.” Nhất trí! Nhất trí!

Là công chức, viên chức và nhân dân Việt chắc không ai không thuộc lòng lời dạy của Bác Hồ từ ngày còn “dưới mái trường XHCN”  rằng: “cán bộ là đầy tớ của dân!”. Vậy mà hôm nay xem trên Dân Việt thấy cái ảnh ông Phó Chánh Văn phòng UBND huyện Tiên Lãng mà tôi kinh hoàng. Mọc ở đâu ra cái loại Đầy tớ này thế?.

Mà hãy khoan. Chưa nói đến đầy tớ vội. Đây là tay Phó Chánh Văn phòng đang tiếp nhà báo đấy. Ở các quốc gia phát triển người ta bảo: Báo chí là cơ quan quyền  lực thứ tư! Chắc chắn ông Phó CVP UBND Tiên Lãng cũng biết điều này. Thế mà… Ối giời! Ông vẫn gân mặt hệt một thằng Xã Hội Đen đe dọa đối phương. Đủ hiểu và hình dung ra gương mặt của y khi tiếp dân đen sẽ như thế nào.
Qua gương mặt HOÀN TOÀN XÃ HỘI ĐEN của “ Phó Chánh Văn phòng UBNDhuyện Tiên Lãng” độc giả đủ hiểu và tự giải thích vì sao Bí thư Thành trước mặt văn võ bá quan, toàn các cựu thần Trung – Cao cấp Hải Phòng vẫn ngang nhiên đưa ra các thông tin trái kết luận của Thủ tướng. Thế đủ hiểu, quyền lực cấp trên dẫu có là thứ nhất hay thứ nhì Quốc gia Với “Đảng Hải Phòng” cũng chỉ là “muỗi”.

Và như thế, cũng “rõ mồn một nhé”, tại sao có chuyện Vinh Quang – Tiên Lãng và không chỉ ở Vinh Quang đâu, có ở khắp huyện. Rồi mai đây, sắp rồi, có ở Cát Hải, Đồ Sơn, Quán Nam, khắp cả “thành phố hoa phượng đỏ”này. Tiên Lãng chỉ là “phát pháo” mở đầu thôi!

Điều đó cũng dễ giải thích vì sao hôm nay quan chức HP từ trên xuống dưới thù dân, thù cánh báo chí đến thế! Có lẽ khi khép lại vụ Tiên Lãng, bà con ta nên sưu tập một bộ ảnh các gương mặt “công bộc Hải Phòng” để đưa vào Bảo tàng  cho con cháu Việt Nam ta sau này hiểu thêm về “công bộc, với chú thích:   Đây là đầy tớ của dân, công bộc của dân  đầu thế kỷ XXI ! -

Tác giả gửi cho Quê choa


BLOG MAI XUÂN DŨNG

Đăng ngày: 14:47 27-02-2012

Sợ hãi là một thuộc tính, một phản xạ, ở vài trường hợp là bệnh lý của con người.  Cuộc sống hiện đại có khá nhiều nỗi sợ. Có người sợ đi máy bay kiểu như Kim Jong Il, lãnh đạo Bắc Hàn. Rồi hội chứng lo sợ thường trực khi không có chiếc điện thoại trong người mà giới chuyên môn gọi là hội chứng nomophobia…Rất nhiều nỗi sợ.

Người Việt Nam có một “nền văn hóa”… sợ. Nó tác động vào cuộc sống của tất cả chúng ta hàng ngày, hàng giờ.

Nhiều người mắc chứng sợ tăng lương. Bình thường được tăng lương ai chả mừng, đàng này các bà nội trợ nghe thông báo sắp tăng lương là sợ… vãi Doan, tim đập loạn nhịp, mồ hôi tóa ra, miệng khô khốc. Ở nước nào không hiểu chứ ở Việt Nam chuyện này ai cũng hiểu: Lương tăng 1 vật giá lập tức tăng gấp đôi. Mà đã tăng là không có giảm. Tăng lương ít dân còn sống lay lắt chứ đảng chính phủ “quan tâm” tăng lương nhiều là dân ngoẻo luôn.

Làm một phép so sánh đơn giản, năm qua mức lương tăng khoảng 6 - 7%, trong khi lạm phát tăng đến 23%, đặc biệt giá lương thực - thực phẩm, tính riêng Hà Nội là 60%, TP.HCM tăng 50%, các địa phương khác tăng 20 - 30%.

Như vậy, tăng lương đã không thể bù lại được mức tăng của lương thực - thực phẩm. Nếu xét tổng thể: giá điện, nhà, tiền học… đều tăng lên thì mức lương càng tăng càng không đủ bù cho tăng giá. Bảo sao dân ta rất sợ tăng lương.

Rồi "Hội chứng" sợ chụp ảnh. Ở Việt Nam, căn bệnh này là “sở hữu độc quyền” của những người làm việc tại các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là ngành Công an, cảnh sát. Kể từ khi bức ảnh “Bịt Miệng” trong Phiên Tòa Tiền Chế Tại Huế Ngày 30/03/2007 được đăng lên, lẽ ra ngành công an thay vì rút ra bài học về tuân thủ pháp luật thì họ lại càng tăng cường “bịt miệng”. Không những bịt miệng còn "bịt cả mắt". Đi đến đâu tại các cơ quan nhà nước thấy nhan nhản các tấm biển “Cấm quay phim chụp ảnh”. Trong các hoạt động dân sự được Hiến pháp quy định cho phép như Biểu tình, khiếu kiện, những người chụp ảnh thường bị Công an làm khó, nhẹ thì ngăn cấm đe dọa, nặng thì cướp máy ảnh, đánh người. Phóng viên Bản tin của AP Ben Stocking, trưởng đại diện của họ tại Hà Nội đã bị  công an Hà Nội tịch thu máy ảnh, “đấm, bóp cổ và đập vào đầu khi đưa tin về cuộc cầu nguyện của giáo dân” gây bức xúc lớn đến mức Phát ngôn viên đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, bà Angela Aggeler đã phải gửi lời phản đối chính thức lên chính quyền Việt Nam.

Vụ Tiên Lãng vừa qua, chính quyền ăn cướp huyện Tiên Lãng, chính quyền Hải Phòng bằng mọi cách ngăn cản các phóng viên với đủ thủ đoạn hèn hạ nhưng những bức ảnh, video về cuộc cưỡng chế của “chính phủ” Hải Phòng đối với cái đầm tôm của nông dân Đoàn Văn Vươn, những tấm ảnh, các clip về cuộc “phản pháo Thủ tướng” của ông Nguyễn Văn Thành -Bí thư thành ủy Hải phòng vẫn xuất hiện khắp nơi.

Phải nói cho rõ rằng, việc chụp ảnh quay phim là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân được ghi trong Hiến pháp và được luật pháp thừa nhận. Công dân có quyền kiểm tra giám sát việc thực thi luật pháp của các cơ quan nhà nước. Chụp ảnh và quay phim chỉ bị hạn chế ở một số nơi đặc biệt nhằm bảo đảm bí mật, an ninh quốc gia.

Những bức ảnh, những đoạn clip chỉ là những tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống xã hội và là hoạt động dân sự hết sức bình thường.

Tại sao họ sợ chụp ảnh như vậy?

Hãy trả lời câu hỏi đơn giản nhất để thay cho câu trả lời. Một người đàng hoàng tử tế và một thằng ăn cướp thì ai sẽ là kẻ sợ chụp ảnh?

Liệu họ có thể ngăn cấm được các bức ảnh hay không khi trong thời đại công nghệ, mỗi chiếc điện thoại là một máy ảnh và mỗi người dân là môt “phóng viên”? Câu trả lời là: Không bao giờ làm được. Ngăn chặn những tấm ảnh là hành động vô vọng như lấy bàn tay che mặt trời. Sự thật có thể có lúc bị xuyên tạc, che lấp nhưng cố công tiêu diệt bằng được sự thật là một việc không bao giờ làm nổi.


Mai Xuân Dũng




BLOG HIỆU MINH

Mới đây anh Tịt Tuốt bàn vấn đề Bài Hoa và quan hệ Việt Trung được bạn đọc phản ứng rất đa chiều.  Có thể một số bạn đọc blog không hiểu hết về người Hoa và phản ứng thái quá.

Nếu đọc vài entry do Tổng Cua bàn về người phương Bắc, văn hóa của họ, nhiều bạn sẽ lầm tưởng, tác giả hiểu về văn hóa Trung Hoa. Xin nói ngay, tôi không biết chữ Nho, về Hán Nôm, không biết tiếng Tầu, chẳng hiểu nhiều về nền văn hóa 5 nghìn năm.

Nhưng chuyện về vài bạn là người Hoa hội nhập thì có thể chia sẻ, dù chỉ là cóp nhặt, giúp bạn hiểu thêm về hàng xóm.

Sự thành đạt lặng lẽ

Nhớ năm 2008 đi từ sân bay về khách sạn China World Hotel nằm giữa Bắc Kinh, chàng lái taxi trông rõ nhà quê như Tổng Cua ở Hoa Lư, tôi hỏi đường toàn gật lắc, nhưng lại nói rất rõ bằng tiếng Anh “China Number One – Trung Quốc số 1” và giơ ngón tay cái lên, vẻ tự hào.

Có một giai thoại về người Tầu di cư thế kỷ trước. Người đàn bà gánh đôi thúng, một bên là đứa bé, bên kia là xoong chảo nồi niêu, trông rất nhếch nhác.

Bà thuê tạm vỉa hè của một gia đình để bán mỳ vằn thắn. Sau một năm bà thuê gian phía ngoài. Sau vài năm, bà mua luôn cả nhà và hơn một thập kỷ, mua luôn cả dãy phố.

Sự thành đạt của họ bắt đầu từ món ăn bình dân và ít người để ý. Đó là sự lặng lẽ kiểu Hoa.

Theo báo cáo (2012) của WB về Trung Quốc cho tới năm 2030, hơn ba mươi năm qua, thế giới đã chứng kiến một China với tăng trưởng trung bình 9.9 % hàng năm, hơn 600 triệu người thoát nghèo.
Tới năm 2030, nếu đạt 16.000$/người/năm so với hiện thời 5000$ thì Trung Quốc có sức mạnh bằng 15 lần Nam Triều Tiên hôm nay, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, xã hội và chính trị cả thế giới.
Cho dù mô hình phát triển chưa phải là bền vững, vì Trung Quốc đứng trước thách thức về dân số, về năng lượng toàn cầu, về lương thực, về nước, môi trường và sức sản xuất. Chưa kể đến sự bất công trong xã hội có thể làm xáo trộn hệ thống chính trị.

Nhưng nhiều người phải thừa nhận, trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc là đối trọng duy nhất của Hoa Kỳ. China Number One là có thể.


“Dốt” tiếng Anh hội nhập sang tận Mỹ

Trong nhóm IT của vùng Đông Á Thái Bình Dương (EAP – East Asia and Pacific Region), mình có cô bạn người Trung Quốc tên là Tina. Đặt tên Tây cho tiện giao tiếp vì nếu gọi theo tiếng Trung là Qiuhong Xu, thì dân Tây méo cả mồm.

Hồi năm 1999, mình gặp Tina ở Bắc Kinh, khi dự hội thảo IT của khu vực. Nàng nói tiếng Anh nghe như dân Quảng Đông nói tiếng Tây Tạng, hảo hảo, lơ lớ, hảo hảo. Mình nghĩ, sao tiếng Trung giống tiếng Anh thế.

Đã kém tiếng lại hay phát biểu, còn “phạm tội” nói dài “sủng soảng” như đài Bắc Kinh. Mọi người ngao ngán, cho rằng, vốn tiếng Anh của Tina như thế này chỉ làm ở văn phòng sở tại được thôi.
Khoảng hơn chục năm sau, mình sang Mỹ làm việc, Tina cũng sang ngắn hạn 6 tháng ở DC. Mình vô cùng ngạc nhiên, nàng bắn tiếng Anh như gió và quyết không cho mình chen vào câu nào dù ngữ âm vẫn nặng hảo lờ.

Tina bên Timor Leste năm 2003

Nàng kể học ngày đêm, lúc nào cũng đọc tiếng Anh, trong nhà vệ sinh, lúc đợi xe bus. Và công lao được đền đáp.

Khu vực khác có một job IT hợp với Tina đang làm. Nàng hỏi mình, có nên dự tuyển không. Mình khen lấy khen để, ngoại giao là chính, nói là Tina đủ trình độ, dù trong lòng, tiếng Anh giả cày xứ Quảng Đông của cô này, khó mà qua tuyển chọn.

Hôm thi tuyển, trước một nhóm phỏng vấn 5 người, có cả Tổng Cua, Tina trả lời các câu làu làu, tựa như biết trước các câu hỏi, thái độ rất tự tin. Nàng vượt qua cả một ứng viên Mỹ trắng đang làm master về IT. Tina nhận việc dài hạn đến lúc về hưu, năm ngoái đưa cả chồng con sang Washington DC.

Theo bạn, cô gái Trung Hoa này có đáng khâm phục, đáng tin cậy và đáng làm bạn với người Việt chúng ta hay không?

Christine chân dài làm ICT

Kể thêm một chân dài khác tên là Christine, từng tham gia dự án ICT khoảng 90 triệu đô la cho Việt Nam. Nhiều cán bộ phụ trách dự án IT bên Bộ KH ĐT, Bộ 4T, Tp HCM, Đà Nẵng, và Hà Nội, nhớ người đẹp này.

Card visit mang tên Christine Zhen-Wei Qiang. Chẳng ai nhớ phần đuôi, họ chỉ nhớ tên tây Christine.

Chân dài này đúng là chân dài thật, người rất đẹp và sang trọng, trắng nõn nà, sinh năm 1972, lớn lên ở Thượng Hải, học đại học ở đó, sang Mỹ làm master và tiến sỹ.

Hồi làm dự án ICT ở Việt Nam (2001-2003), mình rất hay đi công tác với Christine. Có lẽ người đẹp, lịch sự, mềm mỏng nên đi đâu cũng được OK rất nhanh. Từ cuộc gặp với bác Nguyễn Quốc Triệu (PCT TP HN), đến bác Nguyễn Thiện Nhân, rồi cả PTT Phạm Gia Khiêm, chỗ nào cũng được niềm nở.

Mấy anh bên Chính phủ cứ hỏi thăm, sao Tổng Cua có cô bạn đẹp thế, giỏi và sắc sảo, nói tiếng Anh như người Hoa Kỳ, tiếng Tầu như người Trung, viết báo cáo hay như người Mỹ.

Thỉnh thoảng có report về tiến độ dự án ICT (dù rất bê bết vì không giải ngân được do nhiều lý do), Christine thường copy cho mình.

Hồi đó level của hai anh em giống nhau. Nàng than thở, không được nâng bậc, dù làm việc rất tốt, một mình chạy mấy dự án liền. Trong lúc ấy Tổng Cua thấy hài lòng những gì mình đang có, vượt quá sức tưởng tượng bên VN rồi.

Bẵng đi 5 năm, Christine gặp mình trong quán café của WB, vui vẻ thông báo, nàng đã lên hàng manager, hơn Tổng Cua một bậc, dù y cũng được lên quân hàm năm trước.

Rồi nàng rủ đi ăn, hẹn gặp ở văn phòng để nói chuyện thêm về công việc. Christine còn nhớ mình hai con trai, nhà nàng có hai con gái và bảo, lúc nào cho chúng gặp nhau.

Không để ý vài năm, Christine của China đã bỏ xa Tổng Cua chỉ vì y chỉ biết…đứng lại.

Nguyên chuyện cái tên Christine hay Tina cũng đủ cho thấy tư duy “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình đã ăn sâu như  thế nào, kể cả tầng lớp trí thức.

Người Hoa thành đạt

Kể ra còn nhiều người Trung Quốc thành đạt tại các tổ chức quốc tế, nắm rất nhiều trọng trách và quyền quyết định. Khó mà kể hết. Họ còn đòi giữ cả chức chủ tịch IMF, tổ chức tài chính lớn nhất nhì thế giới.

Nơi Tổng Cua làm việc có ông Justin Yifu Lin, kinh tế trưởng của WB, sinh ở Taiwan, làm việc tại Đại học Bắc Kinh, và có bằng cao học về kinh tế chính trị Mác tại Trung Hoa lục địa.

Trước đó, anh Shengman Zhang từng làm tới managing director (hàm đứng sau Chủ tịch WB) khi mới 39 tuổi. Shengman đến từ Trung Quốc cộng sản, từng giữ chức Vụ trưởng Bộ Tài chính.
Tầm cỡ directors, managers, những người nắm trong tay quyền tuyển chọn và ra quyết định (hiring managers và decision makers) thì nhan nhản. Tổng Cua quen cả chục người như vậy trong WB.
Người Hoa len lỏi khắp thế giới, từ quán ăn vỉa hè đến dự án khổng lồ hàng chục tỷ đô la, từ người quét dọn cửa hàng, bưng bê đến chính khách quốc tế, chỗ nào cũng có mặt. Sự hội nhập của họ đã bén rễ rất sâu.

Giáo dục làm nên thương hiệu

Người Hoa có truyền thống văn hóa, giúp đỡ lẫn nhau và cộng đồng thì cực kỳ gắn bó. Khắp thế giới đâu cũng có China Town, nhưng Vietnam Town thì quả là hiếm.

Thêm vào đó, đầu tư lớn cho giáo dục, kèm tính ham học, cần cù và chịu khó của người Hoa, đã làm nên thương hiệu quốc gia này.

Quyết tâm của một bạn IT bình thường như Tina đã làm mình nể phục. Còn nói chuyện với tầm cỡ Christine hay cao hơn thì đúng là người Việt mình lép vế.

Nhớ lần thăm Đại học Harvard do anh Nguyễn Anh Tuấn làm tour guide. Đến chân tượng Harvard, thấy đông nghịt sinh viên trẻ Trung Quốc thay nhau chụp ảnh, sờ giầy của Harvard, người sáng lập ra thương hiệu đại học nhất nhì thế giới này.

Cánh sinh viên đồn rằng, nếu sờ giầy của ông thì sẽ học giỏi và thành đạt. Quanh quẩn đó khoảng 30 phút, hầu hết thanh niên trẻ đến từ Trung Quốc. Đi một vòng quanh đại học, gần tiếng sau quay lại, cũng toàn là người Hoa sờ giầy Harvard. Lớp trẻ Trung Quốc hướng giáo dục ngoại hơn bất kỳ một dân tộc nào.

Theo thông báo hàng năm về sinh viên vào Mỹ, trong số hơn 700.000 sinh viên quốc tế, có hơn 150.000 sinh viên Trung Quốc. Người Việt ta cũng có số hơn 14.000 sinh viên.

Nếu kể thêm Hongkong (8000) và Taiwan (24.000) thì Trung Quốc không có đối thủ nào trong tương lai xa.

Quay lại chuyện Tina. Nàng có cậu con trai 6 tuổi. Có bao nhiêu tiền kiếm được Tina dành cho con đi học ngay từ bé. Anh bạn Carl Fu cũng người Hoa có triết lý thật đơn giản “Một cent tiêu hôm nay cho giáo dục thì sẽ lấy lại được 10 cent hoặc hơn nữa sau 20 năm”.

Câu chuyện “Con phải vào Harvard” là điển hình về giấc mộng giáo dục toàn cầu của người Trung Quốc.


Vĩ thanh

Trung Quốc đang lớn mạnh và sức lan tỏa trong hội nhập rất lớn. Họ và tên Hoa đã cải biên thêm tây hóa, chứng tỏ họ không chỉ dừng ở GDP đứng đầu thế giới. Giấc mộng của họ xa hơn nhiều.
Và người Việt, đừng ngủ quên, đừng tìm cái xấu của người Hoa để bài qua vài chuyện đâm tầu, cắt cáp. Có thể là nguy hiểm khi biển đảo bị lấn chiếm, nhưng nguy hơn là không nhìn ra cái cần học để mình thay đổi và phát triển. Khi mạnh lên rồi thì biển đảo sẽ vững.

Đặng Tiểu Bình có triết lý “mèo trắng mèo đen” đã giúp Trung Quốc thay đổi chóng mặt và trở thành đối thủ đáng gờm của Mỹ.

Hơn chục năm qua, phương Tây không để ý đến Trung Quốc nên quốc gia này lặng lẽ đi lên như đồng nghiệp Tina hay Christine.

Như ngưới bán hàng rong thuê vỉa hè, sau vài năm mua cả dãy phố, vì bà ta trả giá trên trời, chủ nhà không có cách gì cưỡng lại được.

Khi đó, giấc mộng “China Number One” của anh chàng lái xe taxi ở Bắc Kinh thuở nào là có thật.

HM. 28-02-2012.



BLOG QUÊ CHOA

NGUYỄN QUANG LẬP

Tối qua đi nhậu, một ông bạn khuyên mình, nói ông bơn bớt chuyện Tiên Lãng tiên léo đi, không người ta lại qui ông là lực lượng thù địch đấy. Mình cười, nói nếu qui tôi là lực lượng thì địch thì tất cả các báo lề phải, danh tướng Lê Đức Anh, Nguyễn Quốc Thước, gs Đặng Hùng Võ, Gs Nguyễn Minh Thuyết… có bị qui là lực lượng thù địch không? Thời buổi đổi thay rồi,  tôi  tin chẳng có ai lại đi qui kết lăng nhăng thế đâu. Ông bạn mới bật mobile vào mạng, chỉ cho bài Vụ Tiên Lãng cần giải quyết thấu tình đạt lý (tại đây!) của An Dân. Mình hơi bị sốc. Nếu báo chí Hải Phòng đăng bài này thì không nói làm gì, đằng này là báo Cựu Chiến Binh, một tờ báo chống tiêu cực rất mạnh mẽ, thế mới lạ.

Mình đọc thì thấy ông An Dân như là ba ông, vì lý lẽ của ông khi thì giống bí thư Nguyễn Văn Thanh nói tại CLB Bạch Đằng ( tại đây!), khi thì giống chủ nhiệm CLB Bạch Đằng Trần Văn Thức ( tại đây!), khi thì giống phó ban tuyên giáo Phạm Văn Vương ( tại đây!). Cứ đọc kĩ bài An Dân và phát biểu của ba ông Hải Phòng đã nói thì biết, mình không thèm nói điêu. Đến đây mới đặt câu hỏi: có phải ông An Dân muốn chống lưng cho ông Nguyễn Văn Thành và Đảng Hải Phòng của ông ấy không?

Vui nhất là cái đoạn An Dân đem địch ra dọa: “Tuy nhiên, dường như vụ việc ở Tiên Lãng đã được chính trị hóa, dẫn đến hệ lụy khó lường. Thật không thể xem thường việc nhiều tổ chức quốc tế đã lập tức bám vào vụ Tiên Lãng để kích động làn sóng phê phán và chống đối Đảng, Nhà nước ta, cho là bộ máy Đảng, Nhà nước đã hư hỏng không thể cứu chữa. Một số kẻ ở nước ngoài lâu nay chống phá quyết liệt Việt Nam thì lại lớn tiếng bênh vực và phát động chiến dịch góp tiền của cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, thực ra đó chỉ là cái cớ mà cái đích sâu xa là bôi nhọ và làm mất uy tín Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở Hải Phòng“.

Hi hi thấy ông bí thư Nguyễn Văn Thành dọa “một  cái âm mưu từ ở đâu đó” không ăn thua, An Dân mới viết bài này để dọa tiếp. Dọa vui đến nỗi cho rằng việc góp tiền giúp đỡ nhà anh Vươn “là bôi nhọ và làm mất uy tín Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở Hải Phòng“.  Nói thế thì từ nay dân ta có hoạn nạn gì, người trong nước, kẻ ngoài nước muốn ra tay giúp đỡ cũng chả dám, đã tốn tiền hao của lại còn bị qui là bôi nhọ chế độ, ai dại.  Có phải khốn không?

Xứ ta lâu nay hễ xảy ra chuyện gì mà bí, thất lý, không chống chế được đều đem địch ra dọa cả, cái sự dọa của An Dân người ta đã nhàm rồi, dân đã chán không buồn nghe nữa. Đấy mới là điều nguy hiểm. Đang an ninh thì đem địch ra dọa, đến khi có địch thật thì làm sao?  Chuyện Nụ cười Bao Tự  đời nhà Chu bên Tàu, An Dân có biết không, có nhớ không? Chuyện thế này: Để mua nụ cười Bao Tự, Chu U Vương đã sai đốt lửa ở đài phóng hỏa. Chư hầu tưởng nhà Chu có biến vội vàng kéo quân đến cứu, đến nơi chẳng thấy quái gì, chỉ tổ làm cho Bao Tự cười thích chí vì đám chư hầu bị hố.  Chu U vương lấy làm đắc ý lắm, cho là nhờ mẹo cứt gà của mình mới có thể làm cho người đẹp Bao Tự bật cười. Chẳng dè ít lâu sau quân Nhung tiến đánh, Chu U Vương mới sai đốt đài phóng hỏa nhưng chẳng có quân chư hầu nào thèm động binh. Nhà Chu mất nước trong nháy mắt.

Chuyện là vậy đó ông ( bà) An Dân ạ. Xin ông ( bà) và những ai vẫn thích đem địch ra dọa từ nay thôi đi mẹo cứt gà ấy giùm cho. Mẹo ấy nhất thời có thể làm người ta sợ, không dám ho he, không phải sợ địch mà sợ người dọa. Nhưng cứ dùng cái mẹo ấy dài dài sẽ làm cho dân chán, chẳng buồn nâng cao cảnh giác nữa. Đó là điều mà lực lượng thù địch rất mong muốn đấy, bớ ông ( bà) An Dân!



BAUXITE VIETNAM

Lê Anh Hùng

Kể từ năm 2004, với sự tham gia của Viettel, hoạt động cạnh tranh trên thị trường cung cấp dịch vụ điện thoại di động ở Việt Nam bắt đầu diễn ra sôi động. Cước di động giảm từ 3.500VNĐ/phút xuống quanh mức 1.000VNĐ/phút, số lượng thuê bao của Viettel không ngừng tăng lên; đến nay tập đoàn này đã vươn lên trở thành một trong hai doanh nghiệp viễn thông hàng đầu ở Việt Nam (cùng VNPT). Năm 2011, dù nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng doanh thu của Viettel vẫn tăng trưởng 28%, đạt trên 117.000 tỷ VNĐ, lợi nhuận đạt gần 20.000 tỷ VNĐ.

Không chỉ thành công ở trong nước, Viettel còn thành công ở nước ngoài và là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, với doanh thu năm 2011 trên 10.000 tỷ VNĐ. Dù tham gia muộn nhưng sau gần 3 năm hoạt động, mạng thông tin di động do Viettel đầu tư tại Lào và Campuchia đã trở thành mạng lớn nhất, năm 2011 đạt lợi nhuận sau thuế gần 70 triệu USD. Sau khi đầu tư tại Lào và Campuchia, Viettel bắt đầu tiến quân sang thị trường Châu Mỹ và Châu Phi.
Sự thăng tiến của Viettel quả là ngoạn mục và có thể xem là một hiện tượng nếu xét “tuổi đời” còn khiêm tốn của nó. Mặc dù Viettel có cái “thế” của quân đội và có sự may mắn của một đơn vị được giao quyền khai thác tài nguyên quốc gia, song chắc chắn không có thành công nào lại thiếu bóng dáng của con người trong đó, mà ở đây là đội ngũ lãnh đạo của tập đoàn, đứng đầu là ông Hoàng Anh Xuân, người vừa được thăng hàm trung tướng.

Theo Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 1/6/1989, Bộ Quốc phòng mới cho thành lập Công ty Điện tử – Thiết bị thông tin (tiền thân của Viettel). ”Khi thành lập Công ty này, chúng tôi rất lo lắng vì nếu không làm được hoặc có gì sai thì sẽ mang tiếng Bộ Quốc phòng. Từ 1989 đến 1995, Công ty phải thay đổi 3 lần lãnh đạo nhưng nội bộ vẫn chưa ổn nên không phát triển được. Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó gọi tôi lên nhắc nhở và tôi hứa khắc phục ngay. Sau đó, tôi đề nghị anh em tìm một cán bộ lãnh đạo có năng lực nhưng phải ở trong các nhà máy, xí nghiệp của Bộ QP, biết làm kinh tế và dám chịu trách nhiệm. Cuối cùng chọn được anh Hoàng Anh Xuân (TGĐ Viettel hiện nay). Từ thời điểm này, Công ty có nhiều bước thay đổi rất nhanh.”

Rõ ràng, thành công hôm nay của Viettel phụ thuộc đáng kể vào sự lựa chọn lãnh đạo nói trên, và nếu không phải ông Hoàng Anh Xuân mà là một ai khác thì con đường phát triển của Viettel hẳn cũng đã khác. Điều này khiến người ta phải đặt câu hỏi là trong quân đội, và rộng hơn, trong cả hệ thống chính trị hiện hành, liệu còn bao nhiêu “viên ngọc thô” nữa không may mắn được phát hiện ra như ông Xuân? Câu trả lời ở đây xem ra phải là “rất nhiều”.

Máu làm quan dường như đã chảy trong huyết quản của người Việt Nam tự xa xưa. Điều này có lẽ bắt nguồn từ một thiên hướng tự nhiên trong mỗi chúng ta: con người ta hầu như ai cũng muốn chăm lo cho người thân của mình, cho đồng bào của mình, hay xuất phát từ tâm lý: “Đã mang tiếng đứng trong trời đất/Phải có danh gì với núi sông”.[1] Trong thời phong kiến, tầng lớp quan lại nhìn chung vẫn được xã hội nhìn nhận như những bậc “dân chi phụ mẫu”, họ vừa có danh vừa có cả tư cách và điều kiện để “lo cho dân” theo cách này hay cách khác, điều đem lại cho họ cảm giác hài lòng và thoả mãn. Đây là giai đoạn lịch sử mà quyền lực trong thiên hạ tập trung vào trong tay một vị vua cùng bộ máy quan lại của ông ta.

Sau năm 1945, nước Việt Nam chuyển sang chính thể “dân chủ cộng hoà”. Những tưởng kể từ đây, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng tự xưng là “cách mạng” và “tiến bộ”, quyền lực nhà nước hoàn toàn thuộc về nhân dân. Nhưng rồi quyền lực nhà nước nhanh chóng bị thâu tóm vào trong tay một vị vua độc đoán mới: Bộ Chính trị ĐCSVN, dưới đó là một bộ máy quan chức nhất nhất làm theo sự chỉ đạo của “cấp uỷ” và cấp trên. Trong chế độ mới, chính trị trở thành thống soái, thâm nhập vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Các cháu thiếu niên chỉ mới 9 tuổi đã trở thành những đội viên “Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh”, đã biết hô vang những câu khẩu hiệu sặc mùi chính trị như “Vì Tổ quốc XHCN, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại: Sẵn sàng!” Điều 4 Hiến pháp 1992 thì ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành với quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” Mỗi người ViệtNam đến tuổi trưởng thành chẳng còn lựa chọn nào khả dĩ hơn ngoài việc trở thành một phần của hệ thống ấy.

Những gì trên đây dẫn đến một thực tế là ở Việt Nam đội ngũ quan chức quá ư hùng hậu. Trong một bài viết trước đây, tác giả đã liệt kê là Việt Nam hiện có tới 24 vị được gọi là “lãnh đạo Đảng và Nhà nước”: ngoài 4 vị “tứ trụ triều đình” với quyền lực ngang ngửa nhau (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội), chúng ta còn có thêm 10 vị Uỷ viên Bộ Chính trị, 4 vị Bí thư TW Đảng, 1 Phó Chủ tịch nước, 3 Phó Thủ tướng (trong số 4 PTT thì 1 người là Ủy viên BCT), 2 Phó Chủ tịch QH (trong số 4 PCT QH thì 1 người là Ủy viên BCT, 1 người là Bí thư TW Đảng). Cơ cấu tương tự cũng được thiết lập cho cả cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong khi đó, ở các nước khác lãnh đạo nhà nước của họ chỉ “khiêm tốn” một vài vị thôi.

Dưới thời bao cấp, những người như ông Hoàng Anh Xuân không có lựa chọn nào phù hợp với tư chất và hoài bão của mình ngoài việc trở thành một phần của hệ thống chính trị. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường “định hướng XHCN”, thay vì gia nhập bộ máy công quyền, những ai có hoài bão và khả năng để “lo cho dân” hay để “có danh gì với núi sông” còn có thêm một lựa chọn khác: dấn thân vào thương trường để trở thành doanh nhân và tạo công ăn việc làm cho nhiều người, qua đó góp phần vào sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, ngay cả ở thời điểm hiện tại cũng khó mà nói trước là một Hoàng Anh Xuân trai trẻ sẽ chọn lựa thế nào giữa hai ngả rẽ, dấn thân vào thương trường để rồi trở thành doanh nhân tự lập hay làm công chức trong bộ máy chính quyền rồi tiến tới trở thành một vị “quan cách mạng”, khi mà dường như giới trẻ Việt Nam ngày nay vẫn máu làm quan hơn là kinh doanh. Đơn giản là vì chế độ chính trị ở Việt Nam vẫn chẳng khác gì một nhà nước phong kiến hủ bại với một vị vua độc đoán mang tên Bộ Chính trị, Đảng CSVN vẫn là chính đảng duy nhất “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” – nguyên nhân chính dẫn đến quốc nạn tham nhũng tràn lan hiện nay; và đặc biệt, tầng lớp doanh nhân vẫn chỉ được Đảng xếp là “công dân” hạng tư trong xã hội, sau những công nhân, nông dân và trí thức.[2] Trong bối cảnh ấy, lựa chọn thứ hai gần như chắc chắn sẽ đem lại cho người ta cả quyền lực lẫn tiền tài nhiều hơn hẳn so với lựa chọn đầu tiên.

Công bằng mà nói, đa số 24 vị “lãnh đạo Đảng và Nhà nước” nói trên, cùng một bộ phận đáng kể trong đội ngũ quan chức hùng hậu đằng sau họ, thực sự là những tài năng xuất chúng, với khả năng cạnh tranh đặc biệt. Thế nên, thay vì ganh đua trong chốn quan trường hòng tranh giành quyền lực rồi bị tha hoá, biến chất bởi cơ chế, nếu họ tham gia vào thương trường và cạnh tranh để làm nên những sản phẩm hay thương hiệu Việt Nam mang tầm cỡ khu vực và thế giới thì đóng góp của họ cho xã hội sẽ thực sự to lớn. Quả thực, chế độ chính trị hiện hành đã và đang gây ra cho đất nước chúng ta một sự lãng phí ghê gớm về nguồn nhân lực cao cấp vốn dĩ thuộc thành phần tinh hoa của dân tộc, chưa kể vô số tài năng đầy triển vọng khác còn bị cơ chế làm cho thui chột.

Trong một thế giới toàn cầu hoá đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn và cạnh tranh gay gắt hơn như hiện nay, để đưa nước nhà sớm “sánh vai với các cường quốc năm châu”, chúng ta rất cần một đội ngũ CEO với tầm nhìn toàn cầu như TGĐ Viettel Hoàng Anh Xuân. Hy vọng là trong tương lai không xa, đất nước chúng ta sẽ rơi tình cảnh “đáng buồn” là mời những người này làm tổng thống hay thủ tướng “hơi bị khó”, như nhận xét của TS Nguyễn Sỹ Phương về giới lãnh đạo các tập đoàn lớn ở Đức trong một bài viết gần đây. Bất luận thế nào, trong thời đại ngày nay không một quốc gia bình thường nào lại cần tới những 24 vị “lãnh đạo Đảng và Nhà nước” như Việt Nam cả./.

L. A. H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.




Ghi chú:
[1] Thơ Nguyễn Công Trứ (1778-1858).
[2] Ngày 17/12/2011, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có buổi làm việc tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nội dung chủ yếu xoay quanh Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tại đây, ngài Tổng Bí thư đã phát biểu: “Trước đây, ở Đại hội 9, doanh nhân còn bị xếp sau cả công nhân, nông dân, trí thức, hội người cao tuổi. Nhưng đến nay chỉ xếp sau công nhân, nông dân, trí thức, cho thấy Đảng coi trọng đội ngũ doanh nhân như thế nào” (!!!).








Blog Huỳnh Ngọc Chênh - AI LÀ BẠN, AI LÀ THÙ CỦA ĐẢNG?

Blog Huỳnh Ngọc Chênh

Diễn văn khai mạc hội nghị xây dựng Đảng của ông Nguyễn Phú Trọng nói rằng, đợt xây dựng chỉnh đốn Đảng lần này rất cấp bách bởi bốn lý do trong đó có hai lý do nhắc đến vấn đề bạn và thù.


 Ông Nguyễn Phú Trọng

Tuy không nói rõ ra trong bài phát biểu của mình, nhưng cách ông Trọng nhắc đến làm mọi người hiểu rằng ai là bạn của Đảng. Người bạn lớn đầu tiên ông nhắc đến là Đảng CS Liên Xô với 21 triệu đảng viên, dù bây giờ chỉ còn là hồn ma vất vưởng nhưng sự tự sụp nhào trong chốc lát của bạn cũng rút ra bài học máu xương cho lần xây dựng chính đốn này của Đảng. Người bạn lớn thứ hai là đồng chí Trung Cộng. Ông Trọng nói rằng người bạn ấy '
trong cải cách, mở cửa cũng luôn luôn khẳng định dứt khoát phải kiên trì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản'. Và ông thú nhận: Trong những lần trao đổi với chúng ta, bạn thường nhấn mạnh không để bị "Tây hóa", "tha hóa", "thoái hóa".

 Nghĩa là Đảng của Trung Cộng nhiều lần nhắc nhở Đảng VN không để bị "Tây hóa". Điều nầy hơi lạ. Đảng Cộng Sản xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin là của phương Tây 100% mà bảo rằng đừng Tây hóa là sao? Cộng Sản không theo kiểu Tây nghĩa là Cộng sản theo kiểu phương Đông tức là cộng sản theo kiểu Mao - ít. À đúng rồi, bạn nhắc nhở ta phải bám cứng theo Mao, đừng có mà Tây hóa.

Một người bạn nữa được nhắc tới là Đảng CS Cuba, dù đang đổi mới vẫn kiên quyết khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng CS, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Như vậy là Đảng xác định có ba bạn nhưng đã tiêu tùng một bạn nên bây giờ chỉ còn có hai bạn. Không thấy nhắc đến Bắc Triều Tiên và Lào. Có lẽ anh BTT  nầy "chuyên chính" quá thành thật không một chút che đậy, tạo cớ cho thế giới bêu riếu làm xấu hổ lây cho cả khối cộng sản nên bị lờ đi không dám nhận là bạn chăng?  Còn Lào thì quá nhỏ bé và mờ nhạt nên bị quên chăng?

Tóm lại trong thế giới rộng lớn nầy Đảng chỉ còn hai người bạn chí cốt mà thôi. Đó là Trung Cộng và Cuba.

Còn kẻ thù?

Cả thế giới còn lại, dù độc tài hay dân chủ, dù Hồi Giáo hay không Hồi Giáo... thì cũng đều đi theo ý thức hệ tư bản hoàn toàn trái ngược với ý thức hệ của Đảng nên không thể là bạn được. Nhưng cũng không thể xem họ là thù, bởi họ không những không có ý định xấm lấn nước ta mà phần lớn trong số họ còn quan hệ làm ăn, cho ta vay vốn và giúp ta vươn lên văn minh thóat khỏi đói nghèo như ngày nay. Hiện nay trên thế giới chỉ còn một nước duy nhất đang xâm lấn một phần lãnh thổ của ta và đang đe dọa tiếp tục xấm lấn nữa, là Trung Cộng. Nhưng khổ nỗi, Đảng đã xác định nó là bạn rồi thì không thể xem nó là kẻ thù được nữa. Rất trớ trêu!

Do vậy cái việc xác định kẻ thù hiện nay là rất khó cho Đảng. Nhưng như ông Trọng nói có 4 lý do liên quan đến "sự tồn vong của Đảng và chế độ" (không phải là sự tồn vong của dân tộc và đất nước đâu nhé) thì trong ấy có một lý do là có kẻ thù chống phá Đảng, muốn tiêu diệt chủ nghĩa xã hội.

Vậy phải xác định cho ra kẻ thù ấy là ai chứ. Có rồi. Đó là các
 Thế lực thù địch, phản động.

 Ông Trọng nói lý do thứ tư để chỉnh Đảng như sau:
 Bốn là, sự chống phá điên cuồng và quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để thực hiện được âm mưu cơ bản đó, các thế lực thù địch đã áp dụng lần lượt hết chiến lược này đến chiến lược khác, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, rất kiên trì, kiên quyết, xảo quyệt. "Diễn biến hòa bình" là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là "thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi". Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là phương pháp "chuyển hóa hòa bình", "biến đổi hòa bình", "cách mạng hòa bình" và gần đây là "cách mạng nhung", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố"...

Đọc kỹ đoạn văn đó chúng ta thấy rõ kẻ thù là các
 thế lực thù địch, phản động với những âm mưu cực kỳ xảo quyệt của chúng nhưng lại hoàn toàn không biết bọn chúng là ai, ở đâu, đe dọa đến sự an nguy của Đảng và chế độ từ phương trời nào?

Vì không xác định rõ chúng nó là ai và ở đâu nên có thể hiểu rằng chúng có thể bất kỳ là ai và ở bất cứ nơi đâu.
 

Mà trên thế giới, như đã phân tích ở trên, không có ai là kẻ thù của ta rồi, kể cả Trung Cộng. Vậy thì kẻ thù chỉ có thể ở ngay trong nước và ở ngay trong nhân dân mà thôi.

Như vậy thì nguy quá rồi.


Nguyễn Hưng Quốc - Đến Thiên An Môn, nghĩ về tính chính trị của địa điểm

Nguyễn Hưng Quốc


Hình: VOA

Sống ở Úc, mỗi lần đi nước ngoài, sự mất mát đầu tiên mà tôi cảm nhận được ngay là cảm giác yên bình. Úc thường tham chiến chung với Anh và sau đó với Mỹ, nhưng tất cả đều là chiến tranh ở xa. Gần đây, vì được/bị xem là một trong những đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, Úc cũng nằm trong tầm ngắm của các tổ chức khủng bố quốc tế, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có biến động đáng tiếc nào xảy ra trên lãnh thổ nước Úc cả. Có lẽ vì thế, ở đâu căng thẳng và lo âu thì cứ căng thẳng và lo âu, ở Úc, người ta vẫn thấy yên ổn và vô cùng thoải mái. Ý niệm an ninh chỉ xuất hiện khi người dân bước đến phi trường. Còn trong đời sống hàng ngày, từ nông thôn đến thành thị, không có gì gợi cho người ta nhớ đến khủng bố cả.

Đến Thái Lan thì khác. An ninh chặt chẽ ở phi trường, đã đành. Bước chân vào các trung tâm thương mại lớn, tất cả mọi người đều bước qua một cánh cửa đặc chế để thăm dò vũ khí, bên cạnh bao giờ cũng có một hai nhân viên túc trực. Các nhân viên ấy thường khá nhẹ nhàng, lặng lẽ và lịch sự. Họ đứng đó, chắp tay và cúi đầu chào mọi người một cách cung kính. Nhưng vẫn đầy cảnh giác. Chỉ cần nghe tiếng máy báo động từ cánh cửa, họ sẽ chận lại và lục lọi các giỏ xách ngay. Tất cả những hình ảnh đều là những sự nhắc nhở cụ thể: thế giới không yên bình và tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Từ Thái Lan sang Trung Quốc, tôi thấy những chiếc máy dò xét vũ khí ấy tiến thêm một bước nữa: chúng ít xuất hiện ở các trung tâm thương mại mà lại xuất hiện rất nhiều, nếu không muốn nói là luôn luôn, ở các tụ điểm công cộng, đặc biệt các khu di tích và quảng trường.

Trước, ở Úc, tôi đã nghe nhiều về hai quảng trường lớn ở Bắc Kinh, một, lịch sử,: quảng trường Thiên An Môn và một, hiện đại: quảng trường Olympics. Không những nghe, tôi còn thấy nhiều lần trên ti vi cũng như trên báo chí và internet. Thế nhưng có một điều tôi hoàn toàn hiểu sai: nghe chữ “quảng trường” (square) tôi hình dung ra hai đặc điểm: rộng và mở. Đến, tôi mới biết, cả hai quảng trường ấy đều rộng, rất rộng, nhưng không hề mở: chung quanh đều có  hàng rào kín. Tất cả khách tham quan đều phải bước qua cánh cửa có máy thăm dò vũ khí và có công an đứng gác.  Không phải một, hai người làm cảnh. Mà là cả toán. Ít nhất là năm, bảy người ở mỗi cửa. Ngoài ra, còn có một số cảnh sát mặc sắc phục rảo quanh bên trong quảng trường. Đó là chưa kể đến các công an chìm. Thực tình, tôi không rõ những hàng rào, cánh cửa và máy thăm dò vũ khi ấy xuất hiện từ bao giờ. Sau cuộc xuống đường tranh đấu cho  dân chủ của sinh viên vào năm 1989 hay sau cuộc khủng bố ở New York vào năm 2001?

Không thể không tự hỏi: Tại sao người ta phải canh phòng hai quảng trường ấy một cách cẩn mật như thế? Để bảo vệ tính mạng của dân chúng ư? Chắc chắn là không phải. Số người đến tham quan hai quảng trường ấy khá đông nhưng vì chúng rộng, mật độ người dân không thể bằng các trung tâm thương mại hoặc các sân vận động. Ví dụ, có một quả bom nổ tung ở cả ba nơi vừa kể, số lượng thương vong thấp nhất chắc chắn là ở các quảng trường. Bởi vậy, với dân chúng, trước nguy cơ khủng bố, quảng trường không phải là nơi nguy hiểm nhất.

Quảng trường, đặc biệt hai quảng trường Thiên An Môn và Olympic chỉ thực sự nguy hiểm đối với chính quyền. Một vụ nổ bom ở hai nơi ấy, cho dù gây thương vong rất ít, vẫn gây nhiều tác hại đối với chính quyền hơn hẳn ở những nơi khác. Ở những nơi khác, khủng bố là khủng bố. Ở Thiên An Môn và quảng trường Olympics, khủng bố lại trở thành cách mạng, hoặc ít nhất, ngòi nổ của cách mạng.

Lý do: cả hai quảng trường ấy không phải chỉ là địa điểm mà còn là biểu tượng. Từ hơn hai thập niên trở lại đây, Thiên An Môn trở thành biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần bất khuất của thanh niên sinh viên cũng như biểu tượng của sự độc đoán và tàn bạo của chính quyền Trung Quốc. Dù hai biểu tượng ấy đã được toàn cầu hoá, chính quyền Trung Quốc tuyệt đối không muốn ai nhắc và nhớ đến chúng cả. Họ muốn quên và muốn mọi người quên. Một vụ nổ bom, cho dù nhỏ; thậm chí, một ngọn lửa tự thiêu, cho dù của một người, ở Thiên An Môn sẽ tức khắc biến thành một sự kiện nổi bật trên tất cả các phương tiện truyền thông thế giới. Nó sẽ làm thức dậy những ký ức tập thể không phải chỉ của nhân dân Trung Quốc mà còn của cả nhân loại.

Quảng trường Olympics, trước, chỉ là biểu tượng của sự hóa thân của Trung Quốc, từ một nước nghèo thành một nước giàu, hơn nữa, giàu đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Mỹ; từ một nước yếu đến một nước mạnh, một trong những siêu cường có ảnh hưởng nhất trong sinh hoạt chính trị quốc tế; và từ một nước lạc hậu thành một nước văn minh, hơn nữa, có văn hoá. Khía cạnh thứ ba này, tuy là thứ yếu, nhưng lại được chính quyền Trung Quốc tập trung tuyên truyền nhiều nhất, cả tuyên truyền đối nội lẫn tuyên truyền đối ngoại: người Trung Quốc đã thay đổi hẳn trước và sau Olympics 2008. Trước, họ thu rút vào trong; sau, họ mở toang ra với thế giới; trước, họ là những nông dân quê mùa hay khạc nhổ ngoài đường, sau, họ là những con người hiện đại và lịch sự, v.v...
Tuy nhiên, từ năm ngoái, với sự kiện nghệ sĩ tạo hình Ngải Vị Vị (Ai Weiwei), người thiết kế sân vận động Tổ chim (Bird’s Nest) nổi tiếng, bị bắt và sau đó, giam lỏng, quảng trường Olympics đã trở thành một biểu tượng khác: phản kháng. Đằng sau và bên cạnh ý niệm phản kháng bao giờ cũng có nhiều ý niệm khác, chẳng hạn, độc tài và khát vọng dân chủ và nhân quyền.

Có thể nói, trên quảng trường Olympics, hình ảnh Vị Ngải Ngải giống như một đống rơm. Bất cứ ngọn lửa nào bùng lên ở đó cũng đều biến thành hoả hoạn.

Điều khiến chính quyền Trung Quốc cảnh giác đặc biệt đối với hai quảng trường Thiên An Môn và Olympics, như vậy, không phải vì độ lớn, vì mật độ người thăm viếng hay nguy cơ thương vong nếu xảy ra khủng bố mà là vì tính biểu tượng của chúng.

Cũng dễ hiểu. Về phương diện văn hoá, một trong những đặc điểm lớn nhất của loài người là biết tạo ra ý nghĩa; một trong những kết tinh lớn nhất của ý nghĩa tập thể chính là biểu tượng. Biểu tượng trở thành đặc trưng của văn hoá. Tìm hiểu một nền văn hoá là tìm hiểu một hệ thống biểu tượng. Về phương diện chính trị, phá vỡ một biểu tượng cũng là phá vỡ một quyền lực; khi quyền lực ấy là một hệ thống, việc phá vỡ nó là một cuộc cách mạng.

Ở cả hai phương diện vừa nêu, địa điểm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị quốc gia cũng như quốc tế. Chúng ta hay nói và/hoặc nghe nói internet xoá nhoà các biên giới, qua đó, dần dần giảm thiểu ý nghĩa của yếu tố địa lý trong quan hệ giữa người và người. Tuy nhiên, trong sinh hoạt chính trị, những địa điểm mang tính biểu tượng vẫn còn là một trung tâm bất khả thay thế. Một cuộc biểu tình nổ ra ở nơi này khác ở những nơi khác là vì tính biểu tượng gắn liền với những nơi ấy. Cũng là một hành động tự thiêu hay tự sát để phản đối chính quyền, nhưng ở địa điểm này, chúng gây chú ý; ở địa điểm khác, chúng chìm ngay vào quên lãng.

Những người cầm quyền, cho dù ở Trung Quốc hay ở bất cứ đâu khác, đều hiểu rất rõ điều đó.

Vũ Cao Đàm - Bây giờ thì chúng ta lại cần cảm ơn thương nhân Trung Quốc

Vũ Cao Đàm

Ngày 4/8/2011 tôi có bài viết gửi đăng trên Bauxite Vietnam “Vài lời với GS Võ Tòng Xuân” nhân bài trả lời phỏng vấn của phóng viên Vietnamnet với ông: “Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc”, trong đó tôi đã cảnh báo những thủ đoạn thâm độc của bọn đế quốc Trung Cộng, như đã từng diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam, kể từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước.
Sự thật mà tôi cảnh báo trong bài viết đó đã đến.

Ngày 24/2/2012 trên trang web của báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh có bài viết về tình cảnh nông dân Vĩnh Long đang khó khăn vì giá khoai các thương nhân Trung Cộng mua bị đánh tụt xuống còn một nửa giá ban đầu. Bài báo viết [1]: “Thời điểm này những năm trước, giá khoai ở mức 300.000đ – 400.000đ/tạ, sau đó đến mùa thu hoạch (khoảng tháng Ba âm lịch) giá sẽ tăng lên, nhưng hiện giá khoai lại có chiều hướng giảm khi sắp đến thời điểm thu hoạch. Nhiều người trồng khoai đang lo lắng sẽ tái diễn tình trạng hai năm trước, khi giá khoai xuống chỉ còn 160.000đ/tạ”. Thật ra, cũng chính bài báo này cho biết, ban đầu các thương lại Trung Cộng đã mua có lúc tới 1,1-1,2 triệu đồng/tạ!
Cũng chính ngày 24/2/2012, một số chuyên viên của Bộ Khoa học và Công nghệ đến làm việc ở Vĩnh Long trở về đã cho chúng tôi biết, họ được chứng kiến một sự thực đau lòng là sau khi phía nông dân Việt nam đã thực hiện cam kết trồng khoai theo đúng hợp đồng, thì phía Trung Cộng đã cố tình chậm trễ trong việc thu mua. Kết quả là khoai bị hà (sùng) rất nhiều. Đương nhiên, họ sẽ không mua khoai hà (sùng), và số khoai còn lại bị chúng đánh giá là kém phẩm chất và thu mua với giá rẻ mạt.

Quả thật, đến bây giờ thì chúng ta mới thấy được là một số người đã quá ngây thơ và vội vã để cảm ơn thương nhân Trung Cộng.

Thật ra, bọn thương nhân Trung Cộng chưa thực hiện những âm mưu quá sâu như tôi đã dự đoán trong bài viết. Họ hơi “ăn non”, đánh ngay vào lợi ích quá khiêm nhường của những người nông dân nghèo ở tỉnh Vĩnh Long. Họ đã đánh ngay vào những lợi ích trước mắt của nông dân nghèo. Có lẽ họ đang chạy đua với thời gian hòng làm suy yếu kinh tế Việt Nam, được chừng nào hay chừng đó, và nhất là nhanh chừng nào tốt chừng đó. Chúng ta đừng quên rằng, trong bài nói về mười bước để đánh Việt Nam, mà tôi đã dịch đăng trên mạng, bọn đế quốc Trung Cộng đã công khai tuyên bố, chúng sẽ đánh Việt Nam toàn diện, về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Về kinh tế, chúng ta cần nhận rõ những sự kiện sau đây.

-     Chúng sử dụng mọi biện pháp để triệt phá cơ sở kinh tế của nông dân nghèo: mua móng trâu và đuôi trâu để tiêu diệt sức kéo; thu mua “chè bẩn” và dụng cụ chế biến chè thủ công để triệt phá cơ sở kinh tế của nông dân các vùng trồng chè; thu mua râu ngô non để triệt phá những cánh nương ngô đến kỳ trổ bắp; thu mua mèo và bán thuốc kích dục chuột để kích thích phát triển các đàn chuột, bán ốc bươu vàng để triệt phá sản xuất lúa.

-     Chúng tìm cách thắng thầu các công trình công nghiệp, rồi trì hoãn thực hiện để kéo chậm quá trình công nghiệp hóa.

-     Chúng thu mua dây đồng để phá hoại mạng lưới điện, đồng thời tìm cách để thắng thầu xây dựng các nhà máy điện, rồi cũng trì hoãn thực hiện để đánh vào nguồn năng lượng cho công nghiệp hóa.

-     Chúng thu mua cáp quang để phá hoại mạng lưới thông tin viễn thông.

-     Vân vân và vân vân.

Chắp nối các sự kiện trên, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, với sự kiện thuê đất trồng khoai, chính là chúng muốn tàn phá vựa lúa Miền Nam, để Việt Nam mất hoàn toàn vị trí của một đất nước đang được xếp hạng cao về xuất khẩu gạo.

Và chính vì vậy, bây giờ chúng ta mới nên cảm ơn các thương nhân Trung Cộng, là họ đã giúp cho các đồng chí ngây thơ của Việt Nam “sáng mắt sáng lòng” [2], tỉnh ngộ về cái tình “Anh em”, “Đồng chí”, “Bốn tốt”, “Mười sáu chữ vàng”.

Từ quan hệ mua bán mang tính lừa đảo nhỏ nhất với dân lành đến những cam kết bất bình đẳng lớn nhất giữa các nhà lãnh đạo, cùng với việc tàu chiến của bọn đế quốc hiếu chiến Trung Cộng liên tục uy hiếp, cướp bóc tàu cá của ngư dân Việt Nam ngay sau chuyến viếng thăm “hữu nghị” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhà lãnh đạo chóp bu của cộng sản Trung Hoa Tập Cận Bình, liệu đã đủ liều lượng để những người Viêt Nam yêu nước thương nòi “ly dị” cuộc hôn nhân đầy oan trái với cái ý thức hệ “anh em”, “đồng chí” với bọn tráo trở Trung Cộng, vừa leo lẻo nam mô “Bốn tốt”, “Mười sáu chữ vàng”, vừa giấu sau lưng cả bồ dao găm để sẵn sàng xỉa vào hông cái người mà chúng vuốt ve ru ngủ bằng những giọng điệu mỹ miều “anh em”, “đồng chí”.

Một lần nữa, chúng ta thấy không thừa khi nói lên một điều rằng, cái sự vuốt ve “anh em”, “đồng chí” của bọn Trung Cộng chính là để tạo lòng tin ngây thơ của các “đồng chí” Việt Nam, để các “đồng chí” Việt Nam lơ là cảnh giác, để chúng thả phanh phá hoại kinh tế Việt Nam.

Nhân sự kiện này, tôi mong muốn ngành an ninh kinh tế cần sớm vào cuộc, để ngăn chặn bàn tay phá hoại của một kẻ địch vô cùng nham hiểm, luôn đội lốt anh em đồng chí quốc tế vô sản để phá hoại Việt Nam. Tôi xin lưu ý thêm, cũng chính trong bài trên trang mạng của Báo Phụ nữ mà tôi đã trích dẫn còn cung cấp một sự kiện khác, đó là bọn thương lái Trung Cộng còn sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi, là mượn tay nông dân Việt Nam và các đại gia Việt Nam thuê đất trồng khoai cho chúng. Tôi đề nghị ngành an ninh kinh tế cũng cần lưu ý tình huống này.

Để thấy hết hậu quả của các thủ đoạn phá hoại kinh tế của bọn đế quốc Trung Cộng, chúng ta cần nhớ rằng, vào đầu những năm 1980, hai nước Trung Quốc và Việt Nam có trình độ phát triển tương đồng, thậm chí Trung Quốc còn kém Việt Nam nhiều mặt sau cuộc tàn phá vĩ đại của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thì chỉ không đầy hai thập niên, vào cuối những năm 1990, chính các bạn Trung Quốc đến từ Hoa Lục đã tự hào đưa số liệu để nói với tôi, rằng Trung Quốc đã vượt xa Việt Nam chí ít là 30 năm.

V. C. Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

[1] Báo Phụ nữ Việt Nam TP Hồ Chí Minh, http://www.phunuonline.com.vn/2012/Pages/thap-thom-mua-khoai-lang.aspx
[2] Lấy từ lời bài hát “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” do Phạm Tuyên phổ nhạc lời dịch của Tố Hữu bài thơ của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon.


Phụ lục:

04/08/2011
Vài lời với Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân
Vũ Cao Đàm
Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 29/7/2011, Trang Vietnamnet có bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân “Chúng ta cần cảm ơn thương nhân Trung Quốc” về việc các thương lái Trung Quốc ký hợp đồng với nông dân Nam Bộ trồng khoai.

Một số bạn đọc rất phân vân về những quan điểm được trình bày trong bài phỏng vấn. Đại diện cho nhóm bạn đọc đó của Vietnamnet, Nhà giáo Vũ Cao Đàm đã có bài viết gửi Vietnamnet với tiêu đề “Vài lời với Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân” nhằm cảnh báo những nguy cơ của việc thực hiện phá lúa trồng khoai cho người Trung Quốc.

Sau một vài ngày bài viết được gửi đi, Vietnamnet đã trả lời Nhà giáo Vũ Cao Đàm, cho biết, trong tình hình hiện nay (?), bài viết chưa sử dụng được. Chính vì vậy mà ông Vũ Cao Đàm đã gửi bài viết cho Bauxite Việt Nam.

Sau khi nhận được bài viết, chúng tôi nhận thấy, những ý kiến cảnh báo đó thực sự cần thiết để các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam suy nghĩ.

Chúng ta không mất nhiều thời gian cũng có thể dễ dàng tìm được rất nhiều thông tin trên các mạng chính thống của Nhà nước, như Tiền phong điện tử,Giáo dục Việt Nam điện tử, Vietnamnet, VnExpress,… về những thủ đoạn nham hiểm của Trung Quốc trong việc phá hoại kinh tế và an ninh, quốc phòng của Việt Nam: Với thủ đoạn thu mua rễ hồi, họ đã kích thích nông dân triệt phá rừng hồi, một nguồn dược liệu quý; với thủ đoạn thu mua móng trâu, họ xúi giục nông dân tự tay tàn phá sức kéo của mình; với thủ đoạn thu mua râu ngô non, họ lôi kéo nông dân phá hoại những nương ngô đang đợi đến kỳ thu hoạch; với thủ đoạn thu mua mèo, họ đã triệt phá một loài thiên địch với chuột, tung ra những bầy chuột bạt ngàn phá hoại mùa màng; với thủ đoạn thu mua dây đồng, họ kích thích bọn “đồng tặc” phá hoại mạng điện phục vụ công nghiệp hóa; với thủ đoạn thu mua cáp quang phế liệu, họ đã lôi kéo cả một công ty Việt Nam tổ chức phá hoại mạng cáp quang viễn thông, đánh vào huyết mạch thông tin của đất nước chúng ta. Những thủ đoạn thâm hiểm ấy, không thể nào kể ra cho xiết.

Nay đến việc họ lôi kéo nông dân Nam Bộ bỏ lúa trồng khoai cho họ. Không cần nghĩ gì sâu xa lắm, chúng ta cũng có thể đọc được một âm mưu vô cùng hiểm độc như đã chỉ trong bài viết của Nhà giáo Vũ Cao Đàm:
1. Họ sẽ mở ra những vùng khoai rộng lớn ở Nam Bộ, triệt phá nguồn gạo xuất khẩu;
2. Việt Nam muốn giữ được vị trí xuất khẩu gạo, sẽ phải nâng giá thu mua đủ sức cạnh tranh với giá mua khoai của thương nhân Trung Quốc. Kết quả là giá xuất khẩu gạo của Việt Nam không chịu đựng nổi với mặt bằng giá gạo xuất khẩu của thế giới, Việt Nam sẽ chết trên thị trường gạo xuất khẩu.
3. Đến thời điểm đó, Trung Quốc sẽ dừng thu mua khoai, làm nông dân Việt Nam điêu đứng, như đã từng điêu đứng vì dưa hấu, chè vàng và các hàng nông sản khác.

Chúng tôi không thể hiểu, vì sao một bài viết quá ư mềm mỏng so với khẩu khí mạnh mẽ của tác giả Vũ Cao Đàm khi viết lên án những tội ác của Trung Quốc, như bạn đọc thường gặp trên mạng, mà Vietnamnet vẫn sợ mất lòng người “đồng chí tốt”, không đưa lên mặt báo để rộng đường dư luận. Phải chăng, Vietnamnet muốn mượn uy tín của Giáo sư Võ Tòng Xuân để nói lời tri ân với các “đồng chí tốt” Trung Quốc, mà không thấy rõ được âm mưu nham hiểm của các “đồng chí tốt” này với dân tộc Việt Nam?

Với ý nghĩ đưa ra những thông tin đa chiều, Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết đã không được đăng trên Vietnamnet để bạn đọc rộng đường phán xét.
Bauxite Vietnam

Nhiều bạn đọc đã cùng tôi đọc bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân trên Vietnamnet do biên tập viên Quốc Quang thực hiện ngày 29/7/2011 với tiêu đề “Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc” (Xem:Vietnamnet.vn).

Trước hết, chúng tôi rất hiểu tấm lòng của Giáo sư Võ Tòng Xuân với nông dân, những người suốt đời một nắng hai sương lam lũ mà vẫn đói nghèo. Bây giờ là cơ hội để đổi đời vì có “đầu ra”. Vả lại, theo Giáo sư, thì khoai là loại cây trồng bền vững.

Tuy nhiên, có điều chúng tôi mong muốn được lưu ý Giáo sư và bà con nông dân, những người sẽ đọc và lưu truyền bài phỏng vấn này. Đó là: cần cảnh giác trước những mưu ma chước quỷ của thương nhân Trung Quốc, mà chúng ta còn rất dễ dàng tìm lại trên mạng. Chẳng hạn:
– Nông dân điêu đứng vì ùn tắc dưa hấu tại Lạng Sơn (17/5/2011):
dailymotion.com
– Nông dân mất trắng vì thương nhân Trung Quốc mua chè vàng (16/6/2007):
vietbao.vn
– Nông dân ngậm trái đắng khi đổ xô đi trồng sưa (31/10/2010):
xaluan.com
– Một bài tổng kết về 10 “ngón đòn hiểm ác” của thương lái Trung Quốc khiến dân Việt Nam điêu đứng(29/7/2011):
giaoduc.net.vn

Chúng tôi muốn lưu ý Giáo sư và bà con nông dân mấy điều sau đây:
Từ 15 năm nay, Việt Nam và Trung Quốc chưa hề ký được một dự án hợp tác kinh tế nào theo đường nghị định thư, mà chủ yếu Trung Quốc chỉ thao túng để các cá nhân thương lái vào “hợp tác” theo con đường mậu biên. Các cá nhân thương lái đã luôn luôn tùy tiện hủy bỏ các hợp đồng đã “cam kết” để nông dân ta điêu đứng. Đây là con đường mà nước láng giềng Trung Quốc đã lựa chọn để triệt phá kinh tế Việt Nam.

Chúng tôi dự báo, nếu để thương nhân Trung Quốc tùy tiện ký các hợp đồng phá lúa trồng khoai với nông dân chúng ta, có thể xuất hiện các tình huống sau đây:
Thứ nhất, thương lái Trung Quốc sẽ thu mua khoai với giá rất hời cho nông dân, lôi kéo thêm nhiều vùng khác của Việt Nam, trước hết là vùng vựa lúa Nam Bộ, bỏ lúa trồng khoai. Nông dân Việt Nam sẽ dốc hết sức sản xuất khoai, nguồn gạo xuất khẩu sẽ bị triệt hạ, vị trí đang cao của Việt Nam về xuất khẩu gạo sẽ biến mất trên thị trường gạo thế giới.

Thứ hai, để duy trì nguồn gạo xuất khẩu, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam phải nâng giá thu mua đến mức có thể cạnh tranh với giá thu mua khoai của Trung Quốc. Như vậy giá cạnh tranh để thu mua gạo sẽ tăng đến mức dẫn tới thua thiệt trong xuất khẩu gạo, và Việt Nam sẽ phải chết trên thị trường xuất khẩu gạo của thế giới.

Thứ ba, sau khi đã đánh gục Việt Nam trên thị trường xuất khẩu gạo thế giới, thì Trung Quốc sẽ đột ngột hủy hợp đồng mua khoai với nông dân Việt nam, như đã từng làm với dưa hấu, chè vàng và nhiều mặt hàng khác mà người dân Việt Nam đã từng lãnh đủ. Và chắc chắn là nông dân sẽ điêu đứng, không cách nào gượng dậy được, như những nông dân sản xuất dưa hấu cho thương nhân Trung Quốc.

Chúng tôi nghĩ rằng, ý kiến Giáo sư Võ Tòng Xuân chỉ có thể đúng, nếu như việc phá lúa trồng khoai được thực hiện trong điều kiện hợp tác trồng khoai trong khuôn khổ một nghị định thư giữa hai chính phủ.

Chúng ta nhớ lại năm 1945 hơn hai triệu người Việt Nam chết đói vì phát xít Nhật ra lệnh phá lúa trồng đay, nay lại đến Trung Quốc dụ dỗ nông dân Việt Nam phá lúa trồng khoai. Việc Nhật bắt nông dân Việt Nam phá lúa trồng đay còn dễ hiểu, vì người Nhật dùng đay làm nguyên liệu sản xuất nitroglycerin để chế tạo thuốc nổ phục vụ chiến tranh. Ngày nay, Trung Quốc đến Việt Nam ký hợp đồng với nông dân phá lúa trồng khoai, thì quả thật chúng ta không hiểu được họ lấy khoai để làm gì (vì đồng đất bao la của Trung Quốc đâu có thiếu khoai?), nếu không ngoài mục tiêu phá hoại kinh tế Việt Nam.

Rất mong Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân hết sức tỉnh táo cảnh giác với âm mưu của Trung Quốc, như đã diễn ra trên đất nước ta những năm vừa qua.

V.C.Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/vai-loi-voi-giao-su-vo-tong-xuan-va-ba.html


Bài phỏng vấn của Vietnamnet với Giáo sư Võ Tòng Xuân:

‘Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc’

Quốc Quang

- Giáo sư Võ Tòng Xuân bác bỏ nguy cơ thao túng vùng nguyên liệu mà một số phương tiện truyền thông đưa ra gần đây có ý cảnh báo dư luận.

Thời gian vừa qua, hàng loạt phương tiện truyền thông đăng tải các ý kiến có ý cảnh báo dư luận về việc thương nhân Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư vào vùng chuyên canh khoai lang tại Vĩnh Long.
Việc thuê đất dài hạn, bao tiêu sản phẩm và đầu ra cũng dấy lên lo ngại về nguy dẫn đến tình trạng thao túng vùng nguyên liệu nông sản. Để rộng đường dư luận, VietnamNet đã phỏng vấn Giáo sư nông nghiệp Võ Tòng Xuân – người từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của các tổ chức, dự án quốc tế và quốc gia về lĩnh vực nông sản.


Giáo sư Võ Tòng Xuân trong một lần giao lưu trực tuyến tại tòa soạn VietNamNet

- Thưa Giáo sư, ông có biết tình hình thương nhân Trung Quốc đang đầu tư mạnh vào vùng chuyên canh khoai ở Vĩnh Long (thuê đất, thu gom, xuất khẩu…)?

- Việc này có thể dẫn đến nguy cơ thao túng vùng nguyên liệu nông sản như nhiều ý kiến cảnh báo không thưa giáo sư?Bây giờ có thương nhân Trung Quốc sang khoanh vùng ở Bình Minh và Bình Tân thuộc tỉnh Vĩnh Long – hai huyện nổi tiếng trồng khoai lang truyền thống để hợp đồng với nông dân trồng khoai lang, thậm chí có doanh nghiệp Trung Quốc mướn đất và mướn dân trồng khoai lang và họ bao tiêu đầu ra.

Đây là một thời cơ rất tốt cho nông dân Vĩnh Long của chúng ta được có thêm công ăn việc làm, có nơi tiêu thụ sản phẩm. Không thể nói là thương nhân Trung Quốc “thao túng vùng nguyên liệu”, vì thương nhân Việt Nam đâu cần mua khoai lang mà quan tâm và chịu chăm sóc nông dân Vĩnh Long như thương nhân Trung Quốc?

- Như vậy, đã có một thời kỳ quá dài nông dân Vĩnh Long “chịu thiệt”?

Khó khăn lớn nhất của nông dân ở Vĩnh Long và nhiều tỉnh thành nước ta hiện nay là thị trường đầu ra. Bà con nông dân có thể sản xuất nông thủy sản hàng hóa theo mọi tiêu chuẩn, nhưng khi thu hoạch thì chỉ có thương lái với giá ép buộc, thường là bất lợi cho bên bán. Nông dân phần lớn chỉ lo trồng lúa, măc dù biết là trồng lúa không có lãi nhiều. Họ cũng muốn đa dạng hóa nông nghiệp, chuyển sang trồng cây khác hoặc nuôi con khác, nhưng không biết bán cho ai, ở đâu và giá bao nhiêu!

- Nhiều ý kiến cho rằng khoai lang tại Vĩnh Long vào mùa thu hoạch có thể bị ép giá vì phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Theo Giáo sư, chúng ta nên bắt đầu hóa giải sức ép này ra sao?

Đây là vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương, phải lo bảo vệ nông dân. Ủy ban nhân dân huyện phải quản lý các thương lái và thương nhân trên địa bàn của mình, nắm được lai lịch của họ, phải hướng dẫn nông dân đòi thương nhân phải hợp đồng trách nhiệm, kể cả giá cả phải được thỏa thuận từ đầu. Không thể vô trách nhiệm, làm lơ, để ai muốn làm gì thì làm.

- Ở góc độ chuyên môn, Giáo sư đánh giá thế nào việc chuyển hóa chuyên canh nông sản từ trồng lúa sang trồng khoai?

Trồng khoai lang trên đất lúa là một hệ thống canh tác rất bền vững, một hướng đa dạng hóa nông nghiệp độc canh cây lúa. Kinh nghiệm tại các vùng khoai – lúa tại Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long cho thấy lúa trồng sau khi thu hoạch khoai lang có năng suất cao hơn trồng lúa độc canh.

- Ngoài tỉnh Vĩnh Long, một số địa phương tại nước ta hiện nay cũng xảy ra tình trạng thương nhân Trung Quốc chiếm vị trí độc tôn về một loại nông sản. Điều này có ảnh hưởng thế nào với cán cân điều tiết thị trường nông sản?

Chúng ta nên cám ơn thương nhân Trung Quốc đã tiêu thụ nông sản cho nông dân ta trong khi các thương nhân và doanh nghiệp Việt Nam quá thụ động, không giúp đỡ gì nhiều cho nông dân của mình. Đáng lẽ doanh nghiệp ta phải thật năng động, tung ra thế giới, nhất là sang Trung Quốc để nắm bắt được nhu cầu của họ rồi về hợp đồng cho nông dân ta sản xuất hàng hóa đúng nhu cầu ấy rồi đưa sang Trung Quốc bán cho họ.

- Giáo sư có thể đánh giá cụ thể hơn về cách làm của các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh nông sản hiện nay?

Cho đến ngay nay chúng ta rất hiếm thấy nhiều doanh nghiệp xuống đến tận nông thôn cùng tính toán với nông dân để tổ chức sản xuất nông sản nguyên liệu. Các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ dùng đội quân thương lái thu gom hàng hóa nguyên liệu theo cơ hội, nhất là mặt hàng gạo, cho nên thành phẩm được chế biến không thể có thương hiệu mạnh.

Cả người nông dân, doanh nghiệp và đất nước đều chịu thiệt vì cách làm cơ hội này. Có thể nói, nông dân Việt Nam còn nghèo vì đất nước ta không có những doanh nghiệp biết kinh doanh.
Xin cảm ơn giáo sư!

GS-TS Võ Tòng Xuân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Nhà giáo Nhân dân. Ông cũng là người đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác như: Ủy viên Hội đồng quốc gia giáo dục; Ủy viên Hội đồng Khoa học công nghệ quốc gia; Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư liên ngành nông lâm học; Ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước; Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học kỹ thuật Australia; Ủy viên Hội đồng quản trị Viện Quản lý châu Á; Ủy viên Hội đồng quản trị Tổ chức Dịch vụ quốc tế về tiếp thu và ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp; Ủy viên Hội đồng Cố vấn Diễn đàn Nghiên cứu các vấn đề phát triển châu Á; Ủy viên Hội đồng quản trị Quỹ Rockefeller; Ủy viên Hội đồng quản trị Trung tâm phát triển bền vững vùng lưu vực sông Mê kông; Chủ trì Chương trình “An toàn lương thực Tây Phi châu – Sierra Leone”…

Nguồn: Vietnamnet.vnQ. Q.

Bùi Tín - Chiến tranh biên giới - 33 năm trước

Bùi Tín

Hình: AP
Đúng 33 năm trước, ngày 17-2-1979, chiến tranh nổ ra trên biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta. Năm nay, trong nước không có bài báo nào nhắc nhở bài học lịch sử chống bành trướng Trung Quốc, cũng không có tưởng niệm, thăm viếng nghĩa trang các liệt sỹ đã hy sinh.

Dạo ấy, hai cuộc chiến tranh biên giới, một ở biên giới Tây Nam giáp Campuchia, một ở biên giới phía Bắc, gắn bó chặt chẽ với nhau và đều do Bắc Kinh dạo diễn nhằm thôn tính và nô dịch nước ta, thực hiện mục tiêu chiến lược bành trướng xuống phương Nam.

Cần chỉ rõ dã tâm của thế lực bành trướng Bắc Kinh dùng nhóm Khmer đỏ Pol Pot ngay từ khi nhóm này chiếm Phnom Penh vào tháng 4-1975, gây nên phong trào tàn sát người Việt (cáp Duôn) rất man rợ, và thực hiện những cuộc lấn chiếm biên giới liên tiếp ở phía Tây Nam nước ta. Chiến sự biên giới gia tăng cường độ từ năm 1975 đến cuối năm 1978, theo nhịp độ Trung Quốc viện trợ vũ khí quy mô lớn gồm súng đạn, mìn, cối, pháo, tàu thuyền, máy bay và huấn luyện cho quân đội Pol Pot.

Tuần lễ cuối cùng năm 1978, khi quân đội nhân dân Việt Nam đánh thẳng vào Pnom Penh, cả 8.000 cố vấn và chuyên gia quân sự Trung Quốc vội bỏ chạy sang Thái Lan. Lúc ấy, sỹ quan Trung Quốc hầu như là người nước ngoài duy nhất có mặt ở Campuchia, ngài con số hơn một trăm chuyên gia thủy lợi Bắc Triều Tiên, còn lại là nhân viên ngoại giao của 5 sứ quán Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Lào, Rumania và Nam Tư. Sứ quán Trung Quốc to lớn, bề thế bao nhiêu - gồm 282 người - thì 4 sứ quán còn lại lèo tèo chỉ dăm ba người.

Những tài liệu của phe Pol Pot để lại chưa kịp hủy cho thấy 1 bản Hiệp định quân sự giữa 2 bộ tổng tham mưu về viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Campuchia trong 2 năm 1978 và 1979, gồm hàng trăm hạng mục, từ áo quần, trang phục đến súng đạn cho bộ binh, pháo binh, lựu đạn, bom, mìn, máy ra-đa, truyền tin, máy bay các loại, tàu tuần tiễu... Cố vấn Trung Quốc trước đó đều có mặt ở 18 sư đoàn bộ binh của Pol Pot để kềm cặp và chỉ huy.

Tập san “Cờ đỏ” của Pol Pot trong khi ca ngợi Mao hết lời, bình luận rằng lúc này là thời cơ tốt nhất để đánh bại Việt Nam, vì Việt Nam đang đói to, hỗn loạn do chiến tranh mới chấm dứt, nhất là theo Nga Xô, phản bội Trung Quốc, ắt sẽ bị trừng phạt rất nặng. Campuchia sẽ nhân dịp này giành lại đất của mình ở đồng bằng sông Cửu Long.

Cái nham hiểm của Đặng Tiểu Bình thật rõ ràng. Sự tàn bạo của Đặng cũng không có giới hạn. Đặng đã cho bộ hạ là Trần Vĩnh Quý – phó thủ tướng - và Đặng Dĩnh Siêu - phó chủ tịch nước, lần lượt sang tận Phnom Penh, ca ngợi cuộc cách mạng triệt để của chế độ này. Đó là xóa bỏ mọi vết tích của văn hóa tư sản bóc lột, đốt hết sách vở, hỏa thiêu thư viện quốc gia, xóa tiền tệ, ngân hàng, trường học, bệnh viện, đuổi hết dân về nông thôn làm ruộng, nêu cao khẩu hiệu “ có lúa là có tất cả”, dùng gậy gộc cuốc xẻng đập chết mọi kẻ chống đối, không bắn để khỏi phí đạn.

Cái ác của Đặng về sau thể hiện càng rõ trong đêm 4 tháng 6 năm 1989 khi nhân danh bí thư Quân ủy trung ương, Đặng trực tiếp ra lệnh cho 2 lữ đoàn xe tăng xông vào quảng trường Thiên An Môn, chà xích sắt lên hàng ngàn nam nữ sinh viên không vũ trang đòi tự do, trong đó có thanh niên trí thức vô danh tay cầm túi sách đứng trước đoàn xe tăng, được chụp ảnh và được báo Hoa Kỳ The New York Times coi là Nhân vật năm 1989, và cũng là Nhân vật Thế kỷ XX.

Về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nước ta, Đặng Tiểu Bình là kẻ đề ra chủ trương và đích thân chỉ đạo từng bước. Tháng 1- 1979, đang ở thăm Hoa Kỳ, Đặng đã tuyên bố rằng “bè lũ côn đồ Việt Nam” đã hiếp đáp nước nhỏ Campuchia và Trung Quốc “có trách nhiệm dạy cho chúng một bài học.” Khi về nước chính Đặng phát biểu khi giao nhiệm vụ cho 2 tướng Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí rằng đây là đòn trừng phạt cho nên phải đánh mạnh, giáng thẳng tay, tuy rằng hạn chế trong không gian và thời gian.

Đặng giải thích cuộc chiến tuy nhỏ nhưng nhằm 5 mục tiêu rất lớn, đó là: trừng phạt Việt Nam, đe dọa Liên Xô, kết than với Hoa Kỳ, cứu nguy Khmer đỏ và hiện đại hóa quân đội Trung Quốc.

Trận đánh khởi đầu sáng 17- 2 -1979, đến ngày 16-3 Đặng ra lệnh lui quân, với phương châm 4 chữ “sát cách vô luận”, nghĩa là giết sạch không chút đắn đo phân vân. 30 vạn quân Tàu đang bị mắc kẹt trong núi rừng lạ lẫm bị bao vây, chia cắt, tiêu hao, lo sợ…sung sướng được lệnh lui binh. Theo lệnh trên chúng lao vào tội ác như điên dại.

Có thể khẳng định suốt mấy chục năm chiến tranh trên đất nước ta, chưa bao giờ và chưa ở đâu có cảnh giết người man rợ và phá hủy tài sản điên loạn như tại 6 tỉnh biên giới những ngày tháng 2 và tháng 3 năm 1979. Khói bom đạn chưa tan, chúng tôi lên Lạng Sơn, qua Đồng Đăng, lên Đông Khê, rồi Cao Bằng, một cảnh phá hoại triệt để vừa diễn ra. Chúng tôi lên Hà Giang rồi sang Quảng Ninh, đều thấy như vậy.

Đường sắt từng quãng ngắn bị đặt bộc phá cắt đứt. Dinh thự đổ nát tận nền móng. Nhà trẻ bị phá hủy đến từng chiếc nôi cũng bị chặt từng mảnh. Nhà trường, bàn ghế, bảng đen đều chẻ nát thành đống củi. Xí nghiệp thổ cẩm mấy trăm máy dệt không một máy nào còn nguyên. Mỗi gia đình cùng chung số phận. Bàn ghế giường tủ tanh bành. Áo quần, sách vở ra tro. Nồi niêu, soong chảo, bát đĩa bị đâm thủng, đập vỡ. Nghĩa là sự phá hủy có hệ thống mọi phương tiện của đời sống…Tất cả thúng mủng, thùng, chậu, lu, vại, chai, hũ…để đựng gạo, đậu, ngô, nước đều bị đập nát, chọc thủng, tan tành. Chúng vứt chuột, gà, vịt chết cho đến xác người xuống giếng nước trong, hồ ao, bể đựng nước ăn, làm cho cuộc sống thêm bội phần kinh khủng.

Nhưng kinh hoàng hơn cả là chúng kéo phụ nữ, từ bà già đến em bé 12, 13 tuổi vào hang, thay nhau hãm hiếp rồi bắn chết, vứt xác xuống vực thẳm, giếng khơi hòng phi tang. Đây là bộ mặt thú vật nhất của cái gọi là quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc của những Đặng Tiểu Bình, Hứa Thế Hữu, Dương Đắc Chí…rất nên trưng ra tại Bảo tàng quân đội ở Bắc Kinh.
Bộ Chính trị Đảng CS Việt Nam các khóa VII, VIII, IX, X, XI bị bùa mê thuốc lú ở Thành Đô – Trung Quốc (tháng 9-1991) làm cho mê muội rất nên xem kỹ lại những đoạn phim về các cảnh trên đây do các tổ làm phim phóng sự ghi lại, và ngẫm nghị về 16 chữ vàng mà họ cứ ôm giữ mãi.

Chính trong không khí kinh hoàng sôi sục căm thù uất hận nói trên mà Quốc hội họp tháng 12-1980 đã ghi trong Lời nói đầu bản Hiến Pháp năm 1980 câu sau đây: “ Vừa trải qua 30 năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hòa bình để xây dựng Tổ quốc nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Campuchia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong 2 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống bọn phản động Campuchia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình”.

Theo yêu cầu của phía Trung Quốc tại Thành Đô, cả đoạn trên đã biến mất trong bản Hiến pháp năm 1992. Nhưng làm sao họ xóa được những tội ác rõ ràng trên đây.

Về chiến công của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống Trung Quốc và bọn tay sai diệt chủng của chúng ở Campuchia, không gì bằng là dẫn ra lời thú nhận của chính Đặng Tiểu Bình hồi ấy. Đặng cay đắng thú nhận quân Trung Quốc đã bị thua thiệt khi rút chạy nặng hơn là khi tiến vào đất đối phương. Rằng phía Trung Quốc không dám dùng một chiếc máy bay hay trực thăng nào, dù rằng có hàng ngàn máy bay đủ loại. Rằng bộ binh không có sức đột phá, không biết đánh hợp đồng binh chủng, lạc hậu tột cùng khi xung phong theo tiếng kèn thổi. Do đó đưa bao nhiêu xe tăng vào cũng bị diệt; tuy mới chỉ đọ sức với chủ lực của quân khu Việt Bắc, của bộ đội địa phương các tỉnh, với dân quân du kích các xã thôn mà đã chịu thương vong nặng nề, không thể ở lâu hơn, sau 2 tuần lễ đã phải tính chuyện bỏ chạy.

Đặng đã tỏ ra khôn ngoan, phê bình nặng nề Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí, thú nhận sự yếu kém toàn diện của quân giải phóng với mục đích là đòi tăng ngân sách quốc phòng trên quy mô lớn, đề cao sự cấp bách của phương châm 4 hiện đại hóa, trong đó cần ưu tiên cho hiện đaị hóa quốc phòng, cấp bách nhất là bộ binh, tiếp đó là phát triển hải quân cực kỳ trọng yếu nhưng còn rất yếu kém, trong khi không quân, tên lửa và thông tin quân sự đều còn ở xa mức hiện đại, tiên tiến.

Sau 33 năm cuộc chiến tranh biên giới, thế và lực quốc phòng của Trung Quốc vẫn ở trong trạng thái “ lực bất tòng tâm “. Chỗ yếu chí mạng vẫn là kỹ thuật quân sự còn có quá nhiều lỗ hổng và bất cập. Mới đây, Tập Cận Bình khi gặp Tổng thống Barack Obama cũng chỉ mong phía Hoa Kỳ nới lỏng một số phong tỏa kỹ thuật. Không thì Trung Quốc không có lối thoát.

Dư luận thế giới hầu như nhất trí cho rằng đường lối 4 hiện đại hóa của Đặng xét cho kỹ chỉ là con đường tự sát, vì kinh tế bắt đầu khó khăn, chạy đua vũ trang mù quáng, dốc tiền của vào chiếc thùng không đáy sẽ lắp lại con đường của Liên Xô thời Brezhnev, tự mình ghè vào chân mình, khi mức sống của dân Trung Quốc vẫn đang ở vào hàng thứ 97 của thế giới.

Nhân dịp này những chiếc loa rè ở Bắc Kinh ba hoa về sức mạnh Trung Quốc, đe dọa sẽ cho “bọn Việt Nam vô ơn” một bài học nữa, sẽ nghiền nát Việt Nam, sẽ chiếm Việt Nam trong 11 ngày…Thật ra đây chỉ là những tiếng la toáng lên để tự trấn tĩnh của những kẻ yếu bóng vía sợ ma.

Bài học 33 năm trước ở cả 2 đầu biên giới cho bọn xâm lược bành trướng vẫn còn nguyên giá trị.

Nguồn: VOA