Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010

Văn học hải ngoại (3): Phi tâm hóa

Nguyễn Hưng Quốc

Văn học hải ngoại không chết. Nhưng vị thế trung tâm của California thì bị sụp đổ.

Nói chung, văn học hiện đại, vốn dựa trên các hoạt động báo chí và xuất bản, bao giờ cũng gắn liền với một không gian nhất định: nhà xuất bản, nhà in, công ty phát hành, hiệu sách, sạp báo và thư viện. Tất cả các cơ sở ấy chỉ được phát triển mạnh mẽ trong môi trường đô thị nơi có mật độ dân số cao, tầng lớp thị dân đông đảo vừa có học vừa có tiền lại vừa có nhiều thì giờ rảnh để có thể trở thành những kẻ tiêu thụ các sản phẩm văn hóa, qua đó, văn học được thương mại hóa và việc viết lách trở thành một nghề và dần dần được chuyên nghiệp hóa.

Văn học hải ngoại (2): Bước chuyển đột ngột

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài trước, tôi có nêu lên một ghi nhận: văn học Việt Nam ở hải ngoại đang chuyển từ hình thức in theo lối truyền thống sang hình thức online.

Xin lưu ý là những thay đổi trong hình thức tồn tại, từ văn hóa in (print culture) sang văn hóa số (digital culture), từ trang giấy sang trang web, là một hiện tượng toàn cầu. Ở đâu cũng thế.

Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất

Nguyễn Khải



Tuỳ bút chính trị cuối cùng của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008). Viết xong tại quận 4, thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/5/2006 (Bài này đang bị chính quyền Hà Nội cấm phổ biến ở trong nước)

"...không có một chế độ cộng hoà nào ở thế kỷ 20 lại dám coi thường quần chúng như tại các nước xã hội chủ nghĩa... Một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được hoàn toàn thoả mãn trong mọi nhu cầu là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loài tương lai ư?! "

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

May đã có một thời như vậy đó: Trịnh Công Sơn và Hoàng Ngọc Tuấn

Phan Thanh Tâm

(Tiếp theo và hết)

Giải phóng thành phỏng dái

Từ Thức Trần Công Sung trong bài Trịnh Công Sơn Và Những Ngày Văn Khoa trên Thế kỷ 21, cho biết từ 1963, sinh hoạt giới trẻ Sàigòn cực kỳ náo nhiệt. Hết biểu tình đến hội thảo. Họ quên rằng trong cái hỗn loạn Việt Nam chỉ là quân cờ thí. Họ tự hào thuộc giới trẻ, họa sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ. Đám sinh viên trong đầu đầy mộng cải tạo xã hội và trong túi không có đủ tiền uống một ly cà phê. Thỉnh thoảng chứng kiến những vụ pháo kích; thỉnh thoảng nhậu vài két la de, lạc rang, củ kiệu, tiễn bạn lên đường nhập ngũ. Chiến tranh còn xa, đại bác đêm đêm vọng về. Đám tuổi 20 kề vai nhau nghe Lệ Thu ngủ đi em mộng bình thường; nghe Thái Thanh ca mẹ Việt nam không son không phấn, và xúc động với cái viễn ảnh Việt nam quê hương đất nước sáng ngời. Họ tham gia các hoạt động xã hội cứu lụt, cải trang xóm nghèo, leo lên làng Thượng dạy học, đào giếng, chữa bệnh.

May đã có một thời như vậy đó: Trịnh Công Sơn và Hoàng Ngọc Tuấn

Phan Thanh Tâm

Trưa ngày 30/4/75 lúc xe tăng Nga T54 tiến vào ủi sập cổng dinh Độc Lập thì trên đài Saigon, cả nước nghe Trịnh Công Sơn (TCS) hát bài Nối Vòng Tay Lớn: bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam. Nhưng ít ai biết tác giả với giọng ca đó đã từng bị đe dọa thanh toán giết vì một sáng tác sau vụ cán bộ nằm vùng nổ súng cướp micro ở Đại Học Văn khoa năm 1967 vì câu Anh nhân danh ai đến đây bắn vào người; và mấy ai biết TCS đã ví Việt Cọng như đàn bò vào thành phố qua bản Du Mục? Ngoài ra, cũng hiếm người biết rằng nhờ báo Saigon trước 75 đăng lệnh cấm phổ biến nhạc phản chiến họ Trịnh số 33 ngày 8/2/1969, đã cứu TCS khỏi vụ xét Trịnh Công Sơn có công hay có tội với cách mạng, tại Hội Văn Nghệ ở Huế sau ngày toàn VN bị nhuốm đỏ; khi Hội đặt vấn đề về câu hát Hai mươi năm nội chiến từng ngày và bài thương tiếc một Sĩ Quan Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 3 (Tiếp theo)

Thời kỳ dài lâu của Hoa Kỳ

Tuy nhiên, thật quan yếu để ghi nhận rằng yếu tố quan trọng cho sự suy tàn của Anh Quốc - sự suy thoái không thể đảo ngược được về kinh tế - không thực sự áp dụng được vào Hoa Kỳ ngày nay. Tình trạng vô địch về kinh tế của Anh Quốc tồn tại trong vài thập niên. Nền kinh tế vô song của Hoa Kỳ đã kéo dài hơn 130 năm. Kinh tế Hoa Kỳ từng là nền kinh tế lớn nhất thế giới từ giữa những năm 1880 và vẫn tồn tại đến ngày nay. Trong thực tế, Hoa Kỳ đã liên tục giữ một phần chia GDP của toàn cầu từ thời gian ấy. Với một ngoại lệ ngắn của thời cuối những năm 1940 và 1950 – khi tất cả các phần còn lại của thế giới kỹ nghệ hóa đã bị hủy diệt, phần chia của Hoa Kỳ còn tăng đến 50 phần trăm ! – Hoa Kỳ được tính là một phần tư đầu ra của cả thế giới trong cả thế kỷ (32 phần trăm vào năm 1913, 26 phần trăm vào năm 1960, 22 phần trăm vào năm 1980, 27 phần trăm vào năm 2000 và 26 phần trăm vào năm 2007). Có thể suy giảm nhưng không đáng kể lắm trong hai thập niên tới. Vào năm 2005, hầu hết các ước tính đều cho rằng kinh tế Hoa Kỳ vẫn lớn gấp đôi kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ của GDP danh nghĩa (nominal GDP),(mặc dù trong các ý nghĩa về lực khuyến mãi, khoảng cách còn nhỏ hẹp hơn).

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

BƯỚC TIẾN NHẢY VỌT VÀO... NẠN ĐÓI

Lê Phan
(Viết theo International Herald Tribune)

Ðó là tựa đề một bài được Giáo Sư Frank Dikotter của trường Ðông Phương và Phi Châu Học (SOAS) viết trên nhật báo International Herald Tribune (IHT), ấn bản quốc tế của tờ New York Times.

Trong bài báo này Giáo Sư Dikotter đã xác định là chính sách Bước Tiến Nhảy Vọt của ông Mao đã dẫn đến điều được gọi là ‘Trận đói từ năm 1958 đến 1962 ở Trung Quốc’.

Người Việt gian tham?

Trần Thành Nam

Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập…

MẬT MÃ

Nguyễn Đức Tường

(Trích đoạn từ bài đăng ở tạp chí Thế Kỷ 21 số 181, tháng 5 năm 2004)

(Tiếp theo và hết)

Phân phối chìa khóa
Vấn đề tiêu chuẩn được giải quyết. Tuy vậy, vẫn còn một vấn đề khác quan trọng không kém, đó là việc phân phối chìa khóa. Tưởng tượng một ngân hàng ở Los Angeles muốn gửi một tài liệu đã được mã hóa cho khách hàng ở Tokyo, ngân hàng làm thế nào để gửi chìa khóa giải mã cho khách hàng? Ðiện thoại không phải là một phương tiện đáng tin cậy, dùng người thứ ba để trao đổi chìa khóa cũng là mắt xích rất yếu trong sự an toàn của thông tin.

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 11 (Tiếp theo)

Trong một cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc về lời cáo buộc Tổng Thống Diệm, hai phật tử trẻ đã được ngăn không cho tự thiêu cho biết Thượng Tọa Trí Quang và Giáo Hội Phật Giáo đã chiêu mộ họ như thế nào. Cả hai được kể cho nghe những câu chuyện kinh sợ rằng chính quyền Diệm đốt phá chùa chiền, đánh đập, tra khảo, moi ruột người theo đạo Phật. Một phật tử kể rằng kẻ chiêu dụ họ đã cho biết “Hội Phật Giáo phụng sự cho Cộng Sản và cần có 10 thiện nam tín nữ tình nguyện tự thiêu”. Sau khi gia nhập, phật tử này được cho biết “ban tổ chức tự thiêu sẽ lo liệu hết mọi việc.” Điều này gồm có đưa cho em một áo cà sa tẩm xăng, lái xe đưa em đến một địa điểm thật đông người để việc tự thiêu được nhiều sự chú ý nhất, và viết hộ em thư phản kháng chính quyền để sau khi em tự thiêu thì họ sẽ tận tay phân phối cho báo chí.

NƯỚC NON NGÀN DẶM...

Ngự Thuyết

(Tiếp theo và hết)

Nhưng tại sao lại có tình trạng ấy? Tại vì Trung Quốc đã có đủ thế lực để sai khiến chánh quyền Việt Nam? Tại vì Trung Quốc cài người quá tinh vi, quá thâm độc, không ai có thể ngờ tới? Tại vì một số lãnh tụ cốt cán của bộ máy cầm quyền Việt Nam đang tâm bán nước? Và toàn dân Việt Nam đều đã bị đánh lừa, bó tay, bưng tai, bịt mắt? Người dân trong nước cũng như ở hải ngoại đang rất hoang mang, hoảng sợ trước thảm cảnh đó, thảm cảnh tổ quốc trước nguy cơ bị diệt vong. Không, ta có quyền hy vọng không phải như thế. Việt Nam với quá khứ vinh quang, tổ tiên bất khuất, con cháu không thể nào bỏ quên truyền thống, không thể nào chịu làm nô lệ cho ngoại bang. Nhiều người đã bất chấp tù đày và nguy hiểm cho tính mạng đang vùng lên phản kháng, đấu tranh.

NƯỚC NON NGÀN DẶM ...

Ngự Thuyết

“Nước non ngàn dặm ra đi ...” là câu đầu tiên của bài ca Huế theo điệu Nam Bình. Lúc học năm thứ nhì trung học (nay là lớp bảy), đang còn là chú bé ngơ ngáo, tôi đã biết được hai câu của bài ca ấy nhờ đọc cuốn Đôi Bạn của Nhất Linh. Cũng lạ, Đôi Bạn cuốn hút cả vài thế hệ thanh niên trước năm 1945 đã đành, đứa nhóc con là tôi cũng say mê, rồi mê luôn Loan và Dũng, mê luôn cả đoạn văn có hai câu ca Huế ấy. Nay đọc lại cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đó, lòng ham mê giảm bớt nhưng vẫn thấy bồi hồi như gặp lại một kỷ niệm đẹp của thời niên thiếu. Để thấy những thế hệ trước tôi “yêu” Dũng như thế nào, tôi xin trích dẫn một đoạn văn của Vũ Khắc Khoan trong Mơ Hương Cảng:

WikiLeaks: Vấn đề Bí Mật trong Xã Hội Dân Chủ

Nguyễn Hoài Vân

Những sôi nổi gây nên bởi Wiki Leaks gần đây là một dịp để suy nghĩ về vấn đề BÍ MẬT.

Bí mật và quyền lợi


Bí mật hiện hữu khi thông tin không được chia sẻ một cách đồng đều. Khi có người biết và kẻ không biết. Người « biết » sẽ có thể lấy những quyết định, chọn lựa những hành vi hữu hiệu hơn, thích nghi hơn, để tranh thủ những quyền lợi mà người không « biết » không thể với tới. « Biết » chính là cha của quyền lực, là mẹ của lợi nhuận... Chúng ta không ngạc nhiên khi một trong những quan tâm hàng đầu của mọi cấu trúc quyền lực chính là bảo vệ sự chênh lệch thông tin và hiểu biết này. Ngược lại cơ chế dân chủ tìm cách hạn chế điều ấy, để làm cho thông tin và hiểu biết được chia sẻ nhiều hơn, giảm thiểu phạm vi của Bí Mật.

Mật Mã

Nguyễn Ðức Tường


(Tóm lược bài đã được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 181, tháng 5 năm 2004)

Mật mã là gì?
Trong tiếng Anh chẳng hạn, người ta phân biệt khá tỉ mỉ cipher, code, crypto v.v. Ta định nghĩa một cách đơn giản, mật mã là một hệ thống thông tin riêng tư giữa hai cá nhân, hai tổ chức... Tuy không được bao gồm trong định nghĩa này, ngành khảo cổ nghiên cứu đọc những cổ tự như cổ tự Ai Cập cũng là một phần rất quan trọng và rất khó trong mật mã. Mật mã có thể rất giản dị hay cũng có thể đòi hỏi một trình độ về toán học, nhất là mật mã ngày nay.

Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2010

ÔNG NGUYỄN VĂN AN CHƯA THẤY LỖI HỆ THỐNG

NGÔ NHÂN DỤNG

Ðọc bài phỏng vấn trên mạng nghe ông Nguyễn Văn An nói rằng đảng Cộng Sản Việt Nam phải “thay đổi toàn diện và triệt để,” ai cũng mừng cho ông. Tới đoạn cuối, ai cũng phải ngạc nhiên về những đề nghị thay đổi của ông. Những đề nghị này không thể nào sửa chữa những Lỗi Hệ Thống ông đã vạch ra trước đó.
Ông Nguyễn Văn An nói ở đoạn đầu: “Tôi mong muốn Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương, mong muốn Ðại Hội XI chọn... khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống.” Chúng tôi đã tóm tắt những “lỗi hệ thống” mà ông An nêu lên. Một là đảng đã theo mô hình kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo. Hai là mô hình này bắt nguồn từ chủ thuyết sai lầm của Karl Marx, coi quyền tư hữu là nguồn gốc mọi tội lỗi.

ÐÁM MÂY BÊN KIA HỒ MJOESA

TÂM THANH

(Tiếp theo và hết)

Sau khi chị Lên bỏ nhà ra đi một thời gian ngắn, lúc đó tôi bắt đầu học lớp năm tiểu học, ba tôi quen bà Bodil mà ba bảo tôi phải kêu bằng tata. Không có một thỏa thuận nào, dù thầm kín, nhưng tôi vẫn coi những buổi đi chơi nhà tata là việc hoàn toàn riêng tư giữa ba con tôi với tata, không liên quan gì tới mẹ, không cần kể với mẹ. Nhà tata lại hấp dẫn hơn, sẵn đồ chơi, nhiều phim hoạt họa, và có con chinchilla. Khi tata mua thêm con nữa thì hai con làm chuyện trống mái tự nhiên. Một lần, vuốt ve bồng bế con chinchilla mềm mại lù đù mãi cũng chán, tôi định xin ra ngoài đạp xe với lũ trẻ trong xóm. Mở cửa phòng ngủ, tôi thấy ba nằm chung giường với tata. Tata một tay kéo mền che ngực, tay vẫy tôi lại, mi một cái, rồi xua ra ngoài. “Người lớn không khác gì mấy con chinchilla,” tôi nghĩ trong khi thả xe phăng phăng xuống giốc.

ÐÁM MÂY BÊN KIA HỒ MJOESA

TÂM THANH

Tôi không dám nhìn lâu vào đôi mắt khẩn khoản của Gunnar. Tôi phải nhìn sang bên kia hồ Mjoesa, nơi có dẫy núi phủ mây trắng, dường như quanh năm; nơi mỗi lần có điều khó nghĩ tôi thường nhìn sang, dù đó là điều khó nghĩ của đứa bé bảy tuổi không biết viết thư cho Ông Già No-en phải gián tem bao nhiêu, có bớt giá cho con nít không hay điều khó nghĩ của một đứa con gái dậy thì nên mua cái áo hở ngực tới đâu, và giờ đây phải trả lời với người yêu ra sao. Gunnar tình cờ ngồi đúng cái ghế da mà ba tôi ngồi hôm đó, và tôi thì lại tình cờ ngồi đúng cái ghế da chị Lên ngồi, cái hôm kỳ cục đó.

Đừng để việc phân định biển Đông xảy ra như trong vịnh Bắc Việt hay biên giới trên đất liền

Trương Nhân Tuấn

Hai hiệp định phân định lại biên giới trên đất liền và phân định vịnh Bắc Việt đã gây nhiều thiệt hại cho Việt Nam về đất cũng như về biển. Hiệp định phân định vịnh Bắc Việt ký vào tháng 12 năm 2000 là một hiệp ước không bình đẳng. Việc phân định đã không dựa trên một qui tắc công bằng, theo luật Biển hay theo tập quán quốc tế. Nếu so sánh với Công ước Pháp-Thanh 1887 thì Hiệp định tháng 12 năm 2000 đã làm Việt Nam thiệt hại khoảng 11.000 km² biển. Hiệp định phân định biên giới trên đất liền ngày 30-12-1999 đã làm cho Việt Nam bị thiệt hại nhiều vùng lãnh thổ dọc theo biên giới, từ Trà Cổ thuộc Hải Ninh cho đến ngã ba biên giới Việt Trung Lào là ngọn Khoan La San. Những vùng đất bị mất, ngoài những vùng « biết đã mất » nhưng chưa nói đến vì chưa xác định cụ thể, như trường hợp các cao điểm chiến sự đã bị mất trong cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc 1979-1989 (mất ở các nơi đâu, diện tích bao nhiêu, nguyên do vì sao mất… khi nào có dữ kiện đầy đủ thì sẽ trở lại sau). Những vùng đất khác của Việt Nam mà phía Việt Nam có bằng chứng cụ thể, như đã xác định chủ quyền rõ rệt trên các biên bản phân giới Pháp Thanh 1887-1897, hay trên các bản đồ SGI, tức của Sở Địa Dư Đông Dương, những vùng đất này cũng bị mất thì mới thật là đau.

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 10 (Tiếp theo)

Sự có mặt của tướng Trung Quốc nào đó tên là Li Chen-hu (?) và khoảng hai chục cố vấn Trung Quốc của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tại Tổng hành dinh của tướng Giáp còn làm cho bộ chỉ huy Pháp35 lo ngại hơn nữa. Bộ chỉ huy Pháp cũng [102] biết từ đầu năm 1954, Việt Minh đã yêu cầu Trung Quốc viện trợ bổ sung đạn dược, xe, và vũ khí36. Cuối tháng 2, Trung Quốc lại giúp đỡ trang bị cho một trung đoàn pháo phòng không 37 ly 37, mỗi khẩu có 20 pháo thủ Trung Quốc phục vụ (sau này đã được thay thế bằng pháo thủ Việt Minh)37. Đầu tháng 3, có vài máy bay MIG 15 của Trung Quốc xuất hiện trên bầu trời [103] Bắc Kỳ, càng làm tăng thêm nỗi lo ngại của Bộ tham mưu Pháp38.

Người Việt gian tham?

Trần Thành Nam

Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập…

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

Yêu nhau là cùng chung nhìn về một hướng

Đoàn Thanh Liêm


Tôi đang viếng thăm thành phố Austin là thủ phủ của tiểu bang Texas. Trời mùa đông ngập nắng hanh vàng, với cơn gió mạnh khiến làm tăng thêm độ lạnh xuống như tới khỏang 5 độ C vào buổi chiều lúc 3 – 4 giờ. Sau mấy ngày bận rộn tại Houston với Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2010 vào đúng ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 trong tuần lễ vừa qua, lúc này tôi cảm thấy hết sức thoải mái, dễ chịu với cảnh êm đềm tĩnh lặng nơi cộng đồng nhỏ bé của bà con người Việt tại thành phố Austin, mà tôi đã từng lui tới nhiều lần trong mấy năm gần đây.

HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – Tập III

Nguyễn Hiến Lê

Kỳ 16 (Tiếp theo)

Chương 30-31 Ðạo đức kinh, Lão Tử khuyên kẻ dùng binh khi đạt được mục đích thì thôi, đừng ỷ mạnh, tự phụ, khoe công; thắng cũng không cho là hay, nếu cho là hay thì tức là thích giết người. Tổ tiên ta đã theo đúng lời đó. Lê Lợi sau khi thắng quân Minh, Quang Trung sau khi thắng quân Thanh, đều khiêm nhu, mềm dẻo với Trung hoa.

VỀ THĂM TOLSTOI Ở ÐIỀN TRANG YASNAYA-POLYANA

PHẠM XUÂN ÐÀI

(Tiếp theo và hết)

Tôi đã đọc đâu đó là cổng của điền trang Yasnaya Polyana hai bên có hai cái tháp, nên khi nhìn thấy là tôi biết ngay đã đến nơi, mặc dù hai cái trụ cổng vĩ đại ấy theo tôi không phải là hai cái tháp. Ðó chỉ là cái trụ cổng làm giả hình tháp, hay đúng hơn, hình cái điếm canh, to lớn, vững chắc, hơi nặng nề theo phong cách Nga. Hai trụ cổng chỉ đóng vai trò đánh dấu ngõ vào, không có cửa đóng, nhưng khi du khách vừa qua khỏi cổng thì có bảng chỉ dẫn ghé vào một cái ki-ốt nhỏ bên tay trái để mua vé, vì điền trang này từ lâu đã được nhà nước quản lý như là một bảo tàng về Tolstoi. Có vé rồi thì mọi người có thể thong dong đi dưới hàng cây cao bóng mát để dần vào phía bên trong, càng đi càng thấy như mình đang lần hồi ngược đường vào quá khứ. Viện bảo tàng nào chẳng là nơi cất giữ quá khứ, nhưng điền trang Yasnaya Polyana là một quá khứ sống, cây cối vẫn rì rào, ao hồ vẫn gợn sóng, và những dấu vết thuộc đời sống của nhà văn hào vẫn còn lưu giữ khắp nơi đúng như lúc ông còn sinh thời.

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

CÁI BỤNG THIÊNG LIÊNG

Nguyễn Quang Thân

Lạm phát một hay hai con số, chỉ số giá cả tăng có thể làm các nhà chính khách giật mình, các kinh tế gia đau đầu. Nhưng với người lao động, những phép tính trừu tượng ấy lại trở thành cụ thể. Đó là những đêm không ngủ, những ngày lao động vã mồ hôi và đã từng xẩy ra những vụ ngất xỉu một lúc nhiều người trong trường học, trong xí nghiệp.

Vì những người lao động cũng như bất kỳ ai, có cái bụng. Nó đòi hỏi được no để làm việc dù làm như cái máy trong giây chuyền xí nghiệp hiện đại hay thổ mộc “ăn no vác nặng” trong hầm mỏ, trên cánh đồng.

Chế độ cộng sản, một dạng thức khác của Đức Quốc Xã

Lê Diễn Đức

NHƯ ĐỨC QUỐC XÃ
Báo chí Mỹ đã mạnh mẽ chỉ trích chiến dịch của chính phủ Trung Quốc chống lại giải Nobel Hòa bình cho nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba.

Xã luận của “Washington Post”, nhật báo uy tín hàng đầu của Hoa Kỳ trong ngày 10/12 đã so sánh chế độ Trung Quốc với Đức Quốc Xã của Hitler.

Nhắc lại trường hợp nhà báo Đức Carl von Osietzky, tờ báo nói trong lịch sử của giải Nobel Hòa bình chỉ mới xảy ra một lần vào năm 1936, khi Hitler ngăn cản không chỉ người chiến thắng và mà cả gia đình tới Oslo nhận giải thưởng.

Phản Biện

Nguyễn Hưng Quốc

Tôi không biết ở Việt Nam chữ “phản biện” xuất hiện từ lúc nào và ai là người đầu tiên dùng chữ ấy. Tôi chỉ đoán là nó có lịch sử không lâu lắm. Và nó được ra đời, trước hết, không phải trong lãnh vực chính trị, bởi, trước khi nó trở thành thịnh hành với những trang báo mạng kiểu bauxite Việt Nam với tiêu đề “Tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức” thì nó đã được sử dụng khá nhiều trong lãnh vực giáo dục với những “giáo sư phản biện” và “Hội đồng phản biện”.

Ghé thăm các Blogs: 16/12/2010

BLOG HIỆU MINH


Trên đường từ sân bay Siem Reap về trung tâm thấy bảng quảng cáo to tướng của VN Airlines với lời hứa “Đưa du khách đến 850 kỳ quan trên thế giới”. Đất nước mình có những điểm hẹn mà hàng tỷ người trên hành tinh mong được tới như Hạ Long, Phan Thiết, đảo Phú Quốc, cố đô Hoa Lư với 99 ngọn núi.
Đến một lần liệu du khách có còn quay lại? Xin chia sẻ vài cảm giác về du lịch xứ Angkor.

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Văn học hải ngoại: từ giấy lên mạng

LTS. Vào ngày 11 tháng 12, 2010, một buổi hội thảo về văn học được tổ chức tại nhật báo Việt Báo, Little Saigon, Orange County, California. Buổi hội thảo có đề tài: “Tình hình văn học hải ngoại trong những năm gần đây” với ba diễn giả là Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn và Phùng Nguyễn. Trong khi hai anh Hoàng Ngọc Tuấn và Phùng Nguyễn trình bày về kỹ thuật làm báo Tiền Vệ và Da Màu trên Internet thì anh Nguyễn Hưng Quốc nói về bước chuyển tiếp từ việc làm báo giấy sang báo mạng, mà hầu hết ý chính nằm trong bài viết dưới đây.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhìn vào sinh hoạt văn học hải ngoại những năm gần đây, người ta dễ có cảm tưởng đang chứng kiến một cơn hấp hối.

Tai họa từ sở hữu ruộng đất không giống ai

Bùi Tín

Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay ở Việt Nam

Vấn đề sở hữu ruộng đất là vấn đề gay go nan giải từ hơn nửa thế kỷ nay trên đất nước ta, hiện trở thành chuyện thời sự rất bức bách.

Cải cách ruộng đất, sai lầm rồi sửa sai, rồi hợp tác hóa nông nghiệp, thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất, công bố ruộng đất khắp nơi là thuộc «quyền sở hữu của tòan dân» - nghĩa là thực tế không một ai có ruộng đất riêng cả. Luật Đất đai công bố năm 2003, bổ sung, sửa đổi bao lần, năm nay đã đặt trong chương trình làm luật của Quốc hội, nhằm sửa đổi lớn một lần nữa. Thế rồi lại hụt. Vì sao vậy? Vì sao 2 đạo luật hệ trọng bậc nhất là Luật Đất đai và Luật Báo chí lại bị rớt trong chương trình? Vì Bộ Chính trị nát óc, vò đầu, không tìm ra lối ra, vì các chuyên viên trợ lý xoay xở không xong, đành chơi con bài trì hoãn. Hoãn đến bao giờ? Không ai biết! Kẹt cứng chỉ vì «sở hữu toàn dân» là mơ hồ, không giống ai.

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 2

Cuộc vươn dậy Lạ thường của Sức mạnh Anh Quốc

Anh Quốc từng là một đất nước giàu có từ hàng nhiều thế kỷ (và từng là một quyền lực vĩ đại hầu như trong suốt thời gian đó), nhưng chỉ là một siêu quyền lực về kinh tế chỉ trong hơn một thế hệ. Chúng ta thường lầm lẫn trong việc xác định thời cực thịnh của Anh Quốc bằng những biến cố lớn lao của thời đế chế, chẳng hạn như cuộc Lễ mừng Sáu Mươi Năm, vốn khi ấy được xem như một dấu ấn của quyền lực. Thực ra, tính đến năm 1897, những năm tháng huy hoàng nhất của Anh Quốc đã ở trong quá khứ. Thời cực thịnh của Anh Quốc là một thế hệ trước đó, từ năm 1845 đến 1870. Khi ấy, Anh Quốc làm nên hơn 30 phần trăm GDP toàn cầu. Tiêu thụ năng lượng của Anh là năm lần lớn hơn Hoa Kỳ và 155 lần hơn Nga. Anh Quốc tiêu biểu cho một phần năm giao thương của cả thế giới và hai phần năm của các loại giao thương về kỹ nghệ. Và đã đạt được tất cả những thành quả này chỉ với một dân số bằng 2 phần trăm dân số thế giới.

VỀ THĂM TOLSTOI Ở ÐIỀN TRANG YASNAYA-POLYANA

PHẠM XUÂN ÐÀI

Ðọc Tolstoi từ thời còn đi học, thấy cuộc đời của ông bá tước này gắn liền với điền trang Yasnaya-Polyana, thì tôi đã hình dung điền trang ấy giống cảnh trí nơi Natacha đã gặp André như đã tả trong Chiến Tranh và Hòa Bình. Nhìn lại cảnh sống ở Việt Nam từ thôn quê đến thành thị, chẳng thấy có một cái gì tương tự như điền trang của bá tước Tolstoi bên Nga. Giới địa chủ giàu có của miền Bắc và Trung Việt Nam giỏi lắm xây dựng một “dinh cơ” trong khu vườn rộng, và nếu khéo chạy một phẩm tước của triều đình thì cũng chỉ đến “bát phẩm, cửu phẩm,” vừa đủ để thỏa mãn thói háo danh nơi chốn làng xã. Các đại điền chủ Nam Kỳ thì thuộc vào đất nhượng cho Pháp, cung cách sống của họ khá xa vời với văn hóa cổ truyền Việt Nam, họ không hề mang những phẩm tước của triều đình, và dinh cơ của họ dù lớn lao cũng chẳng có vẻ gì là “điền trang” của một tầng lớp quý tộc, hiểu như là con đẻ của một định chế quốc gia, và mang nhiều tính cách đại diện cho những gì ưu tú thuộc văn hóa truyền thống của đất nước.

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

Không còn sợ các đồng chí! Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nã đại pháo thẳng vào dinh của nhóm độc tài bảo thủ trong Bộ chính trị

• Tại sao nhóm cầm đầu lo sợ và cấm phổ biến bài của Nguyễn Văn An?
• Các văn kiện dự thảo của Đại hội 11 vẫn duy trì các „lỗi hệ thống“ vừa sai lầm vừa phản dân chủ và cản trở bước tiến của nhân dân!
• Nhóm có quyền lực đang lợi dụng Đảng Cộng sản VN để trở thành bọn vua chúa độc tài và vô trách nhiệm!

Âu Dương Thệ

(Tiếp theo và hết)

Một vấn đề then chốt khác được Nguyễn Văn An trình bày rõ trong bai phỏng vấn là vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính quyền hiện nay và tương lai của chế độ này. Ông cho rằng, một đảng giữ được quyền hay mất quyền là tùy ở đường lối, uy tín của lãnh đạo và sự tín nhiệm của người dân. Để biện luận cho nhận định của mình Nguyễn Văn An đã đưa sự sụp đổ của các Đảng Cộng sản ở cựu Liên xô và các nước Đông Âu trước đây 20 năm.

Không còn sợ các đồng chí ! Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nã đại pháo thẳng vào dinh của nhóm độc tài bảo thủ trong Bộ chính trị

• Tại sao nhóm cầm đầu lo sợ và cấm phổ biến bài của Nguyễn Văn An
• Các văn kiện dự thảo của Đại hội 11 vẫn duy trì các „lỗi hệ thống“ vừa sai lầm vừa phản dân chủ và cản trở bước tiến của nhân dân!
• Nhóm có quyền lực đang lợi dụng Đảng Cộng sản VN để trở thành bọn vua chúa độc tài và vô trách nhiệm!

Âu Dương Thệ


„Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính đội ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một Đảng đã thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán Đảng đã biến chất để xây dựng Đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.“

GIỌT CÀ PHÊ

Võ Phiến

(Tiếp theo và hết)

Trong mùa mưa, một hôm chàng ngồi ở tiệm phở đến gần tối mà không thấy có đèn. Ðiện bị cúp bất ngờ. Bóng tối từ phía sau tràn qua quầy hàng, ngập đầy phòng trước. Ở buồng trong, tối tăm, sinh hoạt lại càng thêm nhiều rì rầm khả nghi, như những khổ đau buồn thảm, nhốn nháo, mà một người muốn giữ riêng trong lòng. Vẻ đứng đắn, bình thường ở gian phòng trước, có vẻ vờ vĩnh.

GIỌT CÀ-PHÊ

VÕ PHIẾN

Hồi còn nhỏ chàng cũng thích nghe cậu Bảy “nói” Vân Tiên như bao nhiêu người khác trong vùng. Cậu Bảy giọng ấm. Cái hay ho ở cả nơi chỗ tốt giọng đó. Còn các điệu “nói” kỳ thực không có gì xuất sắc. Một điệu, phỏng theo lối hát bài chòi, đặc biệt ở các chữ “cò”, dặm liên tiếp:
“Trịnh Hâm khi ấy ra cò tay
Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời.”

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 10 (Tiếp theo)

Sự thất bại của chúng ta trong việc ngăn ngừa Bắc Việt Nam thành lập đường mòn Hồ Chí Minh tạo ra nhiều hậu quả chết người. Hà Nội đáng lẽ đã không thể nào theo đuổi cuộc xâm lăng như họ đã tiến hành tại miền Nam Việt Nam nếu không thể tự tung tự tác tràn xuống dọc theo lãnh thổ Lào. Nếu Cộng Sản bị ngăn chặn không thể dùng Lào và Cao Miên làm trạm chuyển quân cho sự xâm lăng, họ đã phải tấn công vượt qua 40 dặm vùng phi quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam. Trên mặt trận giới hạn này, Nam Việt Nam sẽ dễ dàng tự phòng thủ mà không cần đến sự trợ giúp của lực lượng quân sự Hoa Kỳ.

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa)

Kỳ 3 (Tiếp theo và hết)

4/ Từ Chiến tranh lạnh đến ngày hôm nay
Trong thực tế, các vấn đề lãnh thổ giữa Nga và Nhật Bản chỉ một trong những tranh chấp của Chiến tranh Lạnh. Trong thời kỳ này, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ, có hai ưu tiên chính: quan hệ ngoại giao chặt chẽ với Hoa Kỳ, và mối giao hảo tốt đẹp với LHQ. Tầm quan trọng của Hoa Kỳ trong ngoại giao Nhật Bản là rất lớn. Bất cứ khi nào quan hệ giữa Nhật Bản và Nga có xu hướng cải thiện, Hoa Kỳ can thiệp vào vấn đề "vùng lãnh thổ phía bắc", gây gia tăng căng thẳng giữa hai nước. Cũng nên nhớ rằng vị trí của Hoa Kỳ cũng tế nhị: họ vừa là đồng minh của Nhật Bản, nhưng lại chiếm Okinawa.

HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – Tập III

Kỳ 15 – (Tiếp theo)

CHƯƠNG XXXII

TA PHẢI BIẾT SỐNG THEO TA

MỘT CUỘC ÐÀM THOẠI - BÀI HỌC CỦA CỔ NHÂN
Mấy năm gần đây, một số cán bộ trẻ miền Nam lại thăm tôi. Họ đều là độc giả của tôi, biết tôi nhiều từ hồi tôi ủng hộ phong trào đòi viện Ðại học Sài gòn dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, có người hoạt động cho kháng chiến ở thành, sau ngày 30-4-75 được chính quyền tin dùng làm chuyên viên: bác sĩ, kĩ sư, kiến trúc sư v.v...

BIẾT LÀ BAO...

Hồ Phổ Lại

Ðể tưởng nhớ Nhatrang

(Tiếp theo và hết)

Ăn uống qua loa, tắm rửa qua loa, Khuê hối hả đi tìm chỗ ngả lưng. Ðèo đẽo theo sau chị, Hương đưa tay ra chỉ cái giường đôi có đặt sẵn cặp gối song song, áy náy nói:
- Chị ngủ đỡ ở đây, với em.

- Còn chú San, chú ấy ngủ ở đâu?

San là tên chồng Hương, cũng là người em rể độc nhất của Khuê.

BIẾT LÀ BAO...

Hồ Phổ Lại

Ðể tưởng nhớ Nhatrang

Cởi bỏ cặp kính mát ra, Khuê đưa mắt nhìn qua một lượt khắp gian nhà từ đường. Gian nhà này mãi cho đến khi sắp mất đi cha Khuê mới chịu làm giấy tờ để lại cho Hương, người con gái út, vì lý do tất cả những người con khác đều lần lượt ra đi.

NGHE TIẾNG SÓNG, NHỚ KHI Ở THỊ NGHÈ

Nguyễn Tường Giang

tặng một người, nhớ một thời

Ngõ khuất khúc đêm tàn hơi ẩm
Mùi dạ lý hương thấp thoáng đầu hè
Em phấn son nụ cười thấm mệt
Giọng jazz buồn còn vọng dư âm

Tâm thư gỡ rối cho mấy vị lãnh đạo đảng

 Tô Hải 

(Tiếp theo và hết)

Thưa các vị!

Sở dĩ tôi phải ôn lại tuy dài dòng đấy nhưng vẫn chỉ là tóm tắt, cực kỳ tóm tắt, vì tôi lo là các vị chưa trải nghiệm như lũ ngoại bát tuần chúng tôi, thậm chí không hề biết gì về cái quá trình biến tướng của cái chủ nghĩa chết tiệt, lạc hậu và phản khoa học…, đã bị loài người lên án, vứt vào sọt rác và ở nhiều nơi người ta đã phải dựng những tượng đài kỷ niệm hàng triệu nạn nhân của cái chủ nghĩa vô luân ấy sát hại…, để các ông biết hoặc tìm hiểu thêm… vì:
TÔI TIN TƯỞNG RẰNG CÁC VỊ CŨNG NHẬN THỨC ĐẦY ĐỦ HOẶC ÍT NHẤT CŨNG ĐƯỢC 50-60% VẤN ĐỀ NÀY NHƯ TÔI.

Tâm thư gỡ rối cho mấy vị lãnh đạo đảng

Tô Hải 

Lời rào dậu giành cho các bạn tôi !

Chưa bao giờ tớ thấy bí về hình thức, đặt tên cho cái entry này. Gọi nó là “góp ý” thì: Tớ là cái thá gì mà góp ý? Mấy ông cách mạng lão thành sáu mươi, bảy mươi năm tuổi đảng góp toàn ý hay, lời đẹp còn bị lờ tịt, các tướng lĩnh đánh đông dẹp bắc góp ý cũng chỉ như …bắn súng lên trời. Vậy thì cái thằng già tớ góp ý…mấy đời qua được bộ máy thư ký, giúp việc, toàn “tiến sĩ – giáo sư” sẵn sàng vứt vô sọt rác hoặc bịt miệng đánh hội đồng, chụp cho những cái mũ “biến chất”, “thiếu thông tin”, “bị giựt dây”, “bị mua chuộc” hoặc nặng hơn là “tự diễn biến” cần xử lý…! Còn kiến nghị ư? Hay gửi bài đăng báo ư? Chỉ thị 113HD đã cảnh cáo các tổng biên tập nếu không muốn mất ghế thì nhận bài nào nhớ tiêu hủy ngay bài nấy.

Toàn văn phát biểu của ông Thorbjørn Jagland tại Lễ trao giải Giải thưởng Nobel Hòa bình

Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Tâu Bệ hạ, thưa quý ngài, thưa quý vị,

"Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hòa bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vì công cuộc đấu tranh lâu dài bất bạo động của ông cho các quyền cơ bản của con người ở Trung Quốc. Ủy ban Nobel Na Uy từ lâu đã tin rằng có một sự liên kết chặt chẽ giữa nhân quyền và hòa bình. Các quyền ấy là điều kiện tiên quyết cho ‘tình anh em giữa các quốc gia’ mà Alfred Nobel đã viết trong di chúc của ông".

Đó là đoạn đầu trong thông báo về giải thưởng Hoà Bình năm nay vào ngày 8 tháng 10 của Ủy ban Nobel Na Uy.

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles.

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa)

Kỳ 2 (Tiếp theo)

Trong lời tựa cho « Tài liệu soạn thảo chung về lịch sử của vấn đề vùng lãnh thổ phía Bắc » (6), lập trường của chính phủ Nhật trình bày như sau:
« Liên Xô cho biết họ đã được phép chiếm quần đảo Kouriles, kể cả Etorofu, Kunashiri, Shikotan và Habomai. Nhưng Nhật Bản cho rằng kết ước Yalta đã không liên quan đến lãnh thổ của Nhật Bản ».
Trên thực tế, vào năm 1945 khi Nhật Bản chấp nhận Tuyên bố Potsdam về việc đầu hàng vô điều kiện, Nhật Bản cho rằng tuyên bố này phản ảnh bản chất của Tuyên bố Caire (1943), nhất là điểm cụ thể « không bành trướng về lãnh thổ ». Tuy nhiên, đối với Roosevelt và Staline, chi tiết này chỉ được xem là một tuyên bố về ý định, không phải là một quy tắc ứng xử.

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles.

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa) .

Lời mở đầu của người dịch : Tìm hiểu lịch sử tranh chấp giữa Nhật và Nga về quần đảo Kouriles, thực ra là tìm hiểu lịch sử những nỗ lực bền bỉ đòi hỏi chủ quyền của các chính phủ Nhật Bản nối tiếp từ năm 1945 đến nay, cũng như của nhân dân Nhật Bản, về bốn đảo phía nam quần đảo Kouriles, tạo thành vùng lãnh thổ mang tên « Vùng lãnh thổ phía Bắc », từ lâu là lãnh thổ của Nhật Bản, bị Liên Xô chiếm từ năm 1945. Nỗ lực dài dẵn này lý ra đã được đền bồi từ năm 2000, qua sự hứa hẹn của cố Tổng thống Yeltsin về một hiệp ước hòa bình giữa Nhật và Nga. Tuy nhiên sau đó TT Yeltsin từ chức, vấn đề Kouriles bị Nga dẹp sang một bên. Những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã gượng lên được từ dưới đáy vực – mà nguyên nhân đến từ cuộc sụp đổ hệ thống chính trị vì khủng hoảng nội tại đầu thập niên 90. Nga ngày càng chứng tỏ là một nước có « sức mạnh cơ bắp » đồng thời biểu lộ tham vọng lấy lại vị trí siêu cường đã mất. Mặt khác, Nhật Bản phụ thuộc rất nhiều vào Nga về năng lượng. Do đó vấn đề tranh chấp quần đảo Kouriles sẽ khó có thể giải quyết trong thời gian tới, nhất là lập trường của Nga biểu hiện qua việc mới đây Tổng thống Medvedev chính thức đi thăm các đảo tranh chấp. Việc này gây phản ứng dữ dội nơi chính trường cũng như trong dân chúng Nhật.

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH zÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 9 (tiếp theo)


Chương II

TRUNG HOA NHÂN DÂN ĐỨNG TRƯỚC CÁC CƯỜNG QUỐC PHƯƠNG TÂY 
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CUỘCKHỦNG HOẢNG ĐÔNG DƯƠNG

SỰ ỦNG HỘ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
DÀNH CHO VIỆT MINH:
GIÚP ĐỠ TÍCH CỰC NHƯNG KHÔNG TRỰC TIẾP CAN THIỆP

Những quan hệ chính trị giữa Trung Hoa nhân dân và Việt Minh

Khi Trung Quốc tuyên bố thành lập nền Cộng hòa nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tồn tại được bốn năm rưỡi. Bốn năm đấu tranh gian khổ, qua những bước đường quanh co, thương lượng, khủng bố, chiến tranh du kích, có thắng lợi và có thất bại nhưng đã chứng minh cho các nhà quan sát khách quan1 rằng cuộc cách mạng Việt Nam có [90] những nguồn gốc sâu xa và vững chắc2. Chúng ta hãy đọc lại Paul Mus. Ông đã nhấn mạnh điều đó ngay từ những trang đầu trong cuốn sách xuất bản năm 1952. Đối với xã thôn Việt Nam là tế bào chủ yếu của đời sống xã hội và chính trị, “thiên mệnh” (+) “mệnh trời” - điều này tôi không biết thế nào vì không có tên gọi trong ngôn ngữ chúng ta, nhưng nó nói về chế độ chính trị đến lúc thích hợp sẽ lập lại sự hài hòa giữa trời và con người - đã đi đến Cộng hòa dân chủ. Vị Hoàng đế cuối cùng đã chẳng trao lại cho nó cái ấn, sau khi thoái vị đó sao?

Ði một chuyến đáng một chuyến

Nguyễn Lê Hồng Hưng

(Tiếp theo và hết)

Hùng nhìn ra phòng điện thoại, thấy mấy anh Ba Tàu còn lố nhố đứng chờ.

– Mẹ, đông nghẹt như vầy thì biết chừng nào mới tới phiên mình.

Tuấn chỉ cái điện thoại di động Hùng mang trên người.

– Thì lấy di động gọi, rẻ hơn có ba phút mắc gì phải chờ.

Ði một chuyến đáng một chuyến

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Năm nay tuyết rơi muộn hơn mọi năm, giữa tháng một tuyết còn sương sương tới đầu tháng hai tuyết mới bắt đầu tuôn xuống ào ào. Trời lạnh nhưng không gió, từ bến cảng tới hội quán trên ba cây số, nhưng Tuấn không gọi xe xuống đón, anh quyết định thả bộ để nhìn những bông tuyết lả lơi bay và đáp nhẹ lên mặt đường vun lên một lớp dầy. Anh có thể bước đi trên lớp tuyết như đi trên tấm thảm nhung màu trắng. Ði ngoài trời lạnh, vô hội quán kêu một ly rượu và một gói khoai tây chiên dòn, vô phòng vi tính có lò sưởi ấm, ngồi mở máy, lên lưới vừa nhâm nhi vừa đọc tin tức thế giới thì còn gì sướng cho bằng.

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

VỀ MỘT CUỘC HỘI THẢO VĂN HỌC

Hôm nay, ngày Thứ Bảy 11 tháng 12 năm 2010 một cuộc hội thảo về văn học sẽ được tổ chức lúc 1 giờ trưa tại nhật báo Việt Báo, Little Saigon, Orange County, California. Có ba diễn giả sẽ nói về đề tài “Tình hình văn học hải ngoại hiện nay”, đó là nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn (hai vị này từ Úc sang) và nhà văn Phùng Nguyễn là người đang coi sóc website văn học Da Màu.


Nhớ lại cách đây gần bốn năm, vào ngày 27 tháng 01 năm 2007, cũng tại địa điểm Việt Báo đã có một cuộc hội thảo văn học nhân chuyến Mỹ du của hai ông Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn từ Úc. Chủ đề thuyết trình và thảo luận năm ấy là: “Văn học hải ngoại: thành tựu và tiềm năng.”


Để góp thêm một ít suy nghĩ nhân cuộc hội thảo hôm nay, DĐTK xin đăng lại bài tường thuật cuộc hội thảo năm 2007 (có lược bớt những chỗ rườm rà) và một số các bài tham luận của những người tham dự năm ấy, trích từ báo Thế Kỷ 21 số 215 tháng 03 năm 2007. Mời bạn đọc theo dõi.


DĐTK


TƯỜNG THUẬT CUỘC HỘI THẢO “VĂN HỌC HẢI NGOẠI: THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG”

Tại nhật báo Việt Báo, Little Saigon, Nam California ngày 27.01.2007

Cam Vũ

(Tiếp theo và hết)

Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc cho rằng tiềm năng của văn học hải ngoại là những gì chưa phát triển đầy đủ, và ông tin là tiềm năng ấy phong phú qua điều kiện và môi trường sống cùng khả năng của người Việt hải ngoại. Tuy nhiên cũng phải xét đến những yếu kém, vì nếu bỏ qua thì khó thấy toàn diện các khả thể của nền văn học hải ngoại, một nền văn học mà ông tin là có thể có ảnh hưởng lên nền văn học trong nước.

TƯỜNG THUẬT CUỘC HỘI THẢO “VĂN HỌC HẢI NGOẠI: THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG”

Tại nhật báo Việt Báo, Little Saigon, Nam California ngày 27.01.2007

Cam Vũ

Sau hơn 30 năm người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống và xây dựng được những cộng đồng vững mạnh về kinh tế và văn hóa, trong đó sinh hoạt viết lách và xuất bản có lúc khá phồn thịnh, có lẽ không ai thấy cần phải đặt vấn đề “có một nền văn học Việt Nam hải ngoại” không, mà chỉ nên hỏi nền văn học ấy như thế nào.

HỘI THẢO VỀ VĂN HỌC HẢI NGOẠI: THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG (California, 27 tháng 1, 2007)

ÐỀ DẪN
Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc sinh năm 1957 tại Quảng Nam, vượt biên và định cư tại Pháp từ 1985, di dân sang Úc từ năm 1991. Tốt nghiệp thủ khoa Khoa Văn trường Ðại học Sư phạm thành phố HCM và tiến sĩ văn học tại Úc, Nguyễn Hưng Quốc nguyên là giảng viên về văn học cổ điển tại Việt Nam trước khi vượt biên và hiện là chủ nhiệm ngành Việt Học tại trường Victoria University, Úc, dạy các môn ngôn ngữ, văn học, văn hoá và chiến tranh Việt Nam.

Chính sự hiện diện là thành tựu

Trần Hữu Thục

Dùng hai chữ “thành tựu” khi nói đến Văn Học Hải Ngoại (VHHN) có lẽ hơi lớn lối.
Tuy nhiên, tôi cho là không có gì sai. Tôi nghĩ đến hai chữ này một cách đơn giản: thành tựu là những gì ta đã đạt được qua một quá trình thời gian dài. Trong bài đề dẫn, Nguyễn Hưng Quốc (NHQ) đã trình bày khá rõ và tôi không có gì thắc mắc. Về những gợi ý của NHQ về tác giả, tác phẩm, tính thẩm mỹ... trong VHHN thì quá chi li, đòi hỏi tài liệu, thời gian đọc, suy gẫm và phân tích cẩn thận. Ở đây, tôi chỉ xin trình bày thêm một số suy nghĩ riêng về chuyện “thành tựu.” NHQ có nói rõ: thành tựu ở đây là thành tựu so với trong nước. Tôi đồng ý và nhìn thấy sự thành tựu qua một vài điểm khác.

Cuộc trở về của dòng văn học Nga lưu vong: Một hình ảnh lạc quan cho chúng ta

Hoàng Ngọc-Tuấn

(Phát biểu trong buổi hội thảo văn học ngày 27.01.07 tại Little Saigon, California)

Chúng ta đang sống và viết như những nhà văn, nhà thơ lưu vong. Trong chúng ta, đôi khi có người đã lo lắng rằng liệu rồi đây dòng văn chương lưu vong này sẽ đi về đâu. Hôm nay, trước các bạn, tôi xin thưa rằng: các bạn hãy an tâm, vì không thể có một dòng văn học lưu vong vĩnh viễn, nếu cố quốc của nó chưa bị xoá tên trên bản đồ thế giới. Dòng văn học lưu vong nào cũng chỉ tồn tại tạm thời ở hải ngoại, và sẽ trở về với cố quốc khi những lý do khiến người cầm bút bỏ nước ra đi đã được giải quyết.

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

Vụ Wikileaks: Sau khi bị bắt, liệu ông Assange có bị dẫn độ?

Lê Mạnh Hùng

Một đám mây đen che phủ tương lai của địa chỉ WikiLeaks vốn gây chấn động cho thế giới khi tiết lộ trên mạng Internet một khối lượng khổng lồ các công điện mật của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khi ông Julian Assange, người sáng lập và linh hồn của tổ chức này bị cảnh sát Anh bắt giữ tại Luân Ðôn theo yêu cầu của Thụy Ðiển điều tra ông về tội hiếp dâm.

Kỷ niệm năm thứ 62 Ngày Quốc Tế Nhân Quyền

Đoàn Thanh Liêm

Ngày 10 Tháng 12 Năm 2010 sắp tới là kỷ niệm lần thứ 62 ngày Liên Hiệp Quốc ban hành Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948 – 2010). Nhớ lại vào ngày đó trong năm 1948, Bà Eleanor Roosevelt Nguyên Đệ Nhất Phu Nhân của nước Mỹ đã đại diện Liên Hiệp Quốc tuyên đọc Bản Tuyên Ngôn lịch sử này tại thành phố Paris thủ đô nước Pháp.

Thịt cầy

VÕ PHIẾN

(Tiếp theo và hết)

– Bạn có quyền thêm một dữ kiện nữa. Miễn đừng góp “thiển ý”.

– Ở Mỹ con dog lúc nào cũng là con dog. Ở ta có khi nó là con chó, có khi nó là con cún, có khi nó lại là con cầy. Cún là chó con; con hay mẹ, sự phân biệt ấy không quan trọng. Nhưng cầy, chữ cầy rất đáng để ý: nó giết con chó. Vì cầy là tiếng gọi con chó thịt. Là tiếng gọi con chó trong tư cách... thực phẩm. Ta nuôi con chó, nhưng khi ăn ta ăn thịt cầy. Tiếng cầy là bản án tử hình xử chó. Sao vậy? Tại sao không có tiếng gọi riêng con bò, con gà để ăn thịt, con vịt thịt, con heo thịt, (những tiếng như con biếc, con ghiếc, con viếc, con hiếc chẳng hạn?). Thiết nghĩ ấy là vì miếng thịt chó ta phải gọi là thịt cầy mới tiện bỏ vào mồm. Nếu không, thấy ghê ghê thế nào. Con chó Ðông phương nó bị hất hủi, nó ăn tạp lắm, nó lục lọi các đống rác, nó thơ thẩn ngoài đồng tìm chất thừa chất bẩn thỉu... Chó nó ăn cái ấy, mình lại đi ăn chó à? Ăn phải ăn cầy cơ. Trước khi dùng, phải thăng cấp cho nó.

Thịt cầy

VÕ PHIẾN

(Đàm Thoại)

– Thơ Nguyễn Du thật độc đáo.

– Ôi tư tưởng tân kỳ táo bạo. Mừng bạn có nhận định sắc bén, mới lạ. Bạn nói về Truyện Kiều chăng?

– Không.

Toàn cầu hoá có thực là một đe dọa?

Nguyễn Hưng Quốc

Văn hoá thời toàn cầu hóa là văn hóa lai ghép. Nhưng không phải ai cũng nghĩ như vậy. Một số người cho thực chất của toàn cầu hoá là hiện đại hoá; thực chất của hiện đại hoá là Tây phương hoá; thực chất của Tây phương hoá là Mỹ hoá; và thực chất của Mỹ hoá là văn-hoá-tiêu-thụ hoá và văn-hoá-đại-chúng hoá, thường được gọi một cách hình tượng là đô-la hoá (dollarization), McDonald-hoá (McDonaldization) hoặc Coca-thực dân hoá (Coca-colonialization).

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Lễ trao Giải thưởng Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba: Trung Quốc điên quá hóa... loạn ngôn!

Lê Diễn Đức

Quyết định trao Giải thưởng Hòa bình năm 2010 cho nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Lưu Hiểu Ba, Ủy ban Nobel Hòa Bình của Na Uy đã làm Bắc Kinh nổi giận, điên khùng và cuối cùng đâm... loạn ngôn!
Nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba là một trong những người lãnh đạo sinh viên biểu tình đòi tự do, dân chủ vào năm 1989 trên Quảng trường Thiên An Môn và là đồng tác giả của “Hiến chương 08”, một hồ sơ quan trọng nhất của phong trào đòi cải cách chính trị tại Trung Quốc.

Khi người khổng lồ vấp ngã

Bùi Tín

Những người to lớn béo phì vấp ngã, sẽ rất khó khăn để gượng dậy, đứng thẳng và đi tiếp.

Đây là hình ảnh để bàn về nước Trung Hoa hiện nay.

Ghé thăm các Blogs: 9/12/12010

BLOG TRẦN MINH QUÂN
Tháng Mười Hai 1, 2010Trần Minh Quân

Công nhân nhập cư, những người có thu nhập thấp là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất và con cái của họ cũng vậy. Những đứa trẻ bị ngược đãi rồi sẽ lớn lên như thế nào trong khi tuổi thơ các em đang bị đối xử một cách tồi tệ đến vậy?
Những hình ảnh tắm cho trẻ bằng cách giẫm đạp, nắm tóc, dùng nồi nhôm múc nước tạt vào mặt bé Hồ Thị Thúy Ngân một cách thô bạo bị dư luận lên án trong clip được phát tán trên mạng của bà bảo mẫu Trần Thị Phụng (52 tuổi, huyện Thuận An, Bình Dương) thực sự gây sốc cho rất nhiều người.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

HỘI HỌA HÀ NỘI với ĐẶNG XUÂN HÒA và NGUYỄN QUÂN

Huỳnh Hữu Ủy

ĐẶNG XUÂN HÒA

Đặng Xuân Hòa sinh năm 1959 ở Nam Định, Bắc Phần, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội năm 1983. Đã tham gia hơn 30 cuộc triển lãm quốc gia và quốc tế ở Hà Nội, Cuba, Hồng Kông, Singapore, London, và Hoa Kỳ. Năm 1994, bày bốn cuộc triển lãm cá nhân ở Massachusetts và New York.

Cuộc cách mạng dễ thực hiện

Nguyễn Hoài Vân

Hôm nay, 7 tháng 12, 2010, là một ngày trọng đại. Hôm nay chính là ngày phát động một cuộc cách mạng lật đổ Tư Bản Chủ Nghĩa toàn cầu ! Một cuộc cách mạng vô cùng đơn giản, vô cùng dễ dàng. Eric Cantona, cầu thủ túc cầu danh tiếng, là người chủ trương cuộc cách mạng này. Khởi đầu bằng một nhận xét nền tảng, rằng hệ thống ngân hàng là huyết mạch của Tư Bản Chủ Nghĩa, Cantona suy diễn là chỉ cần đập đổ hệ thống này là có thể đánh gục một hệ thống mà ông cho là bóc lột người dân. Trước làn sóng người biểu tình chống việc thu hẹp ngân sách, cắt giảm hưu trí, lương bổng, trợ cấp v.v... trên một số quốc gia Âu Châu, Cantona đề nghị thay vì mất công xuống đường biểu tình, những kẻ chống đối chỉ cần đồng loạt đến ngân hàng rút ra những món tiền lớn nhất có thể được. Trận cuồng phong này sẽ làm các ngân hàng sẽ sụp đổ, kéo theo Tư Bản Chủ Nghĩa. Không cần đổ máu, không cần bạo lực, không có đấu tranh gian khổ, tù đày...

Từ WikiLeaks tới hội thảo tại Đại học Harvard về Bí mật và báo chí trong thời đại Internet

Trùng Dương
Nieman Journalism Lab thuộc Đại học Havard vừa ra thông báo sẽ tổ chức một buổi hội thảo kéo dài một ngày với đề tài “Bí Mật và Báo chí” (Secrets and Journalism) vào ngày thứ Năm 16 tháng 12, 2010 tại Lipman House trong khuôn viên đại học tại Cambridge thuộc tiểu bang Massachusett.

Nghĩ về Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử và Thanh Tuệ!

Nguyễn Mộng Giác

Trong một bài tạp ghi viết cách đây khá lâu, tôi có ghi nhận mối duyên nợ thắm thiết giữa nhà thơ và nhà chùa. Hầu hết các nhà sư đều thích đọc thơ, làm thơ, in thơ. Hầu hết các nhà thơ, ngược lại, đều có quan hệ thắm thiết với nhà chùa, nhất là vào những lúc nhà thơ gặp cảnh hoạn nạn. Cũng lạ. Tôn giáo nào cũng tuyên xưng lòng thương yêu. Chùa chiền, giáo đường, thánh thất... luôn luôn mở cửa chào đón những kẻ khốn cùng, những người bất hạnh. Một nhà thơ đau khổ cũng tuyệt vọng, xót xa như bất cứ ai, nhiều khi người biết làm thơ ít đau khổ hơn những người không biết làm thơ, vì nhà thơ có thể chia bớt nỗi đau cho chữ nghĩa. Ðau mà khóc được thì mau vơi hơn nỗi đau thầm. Nhưng khi tìm một nơi an trú, hình như các nhà thơ lại có những cách lựa chọn khác hơn người thường. Lý do? Nói như ngôn ngữ nhà Phật, các nhà thơ thường có cái ngã lớn hơn người thường. Dù trong cảnh hoạn nạn, các nhà thơ không thích những đôi mắt nhìn xuống thương hại, không thích bị đối xử như một đứa trẻ mồ côi trong viện dục anh. Thử tưởng tượng một nhà thơ như Alfred de Vigny (tác giả bài Cái chết của con chó sói) hay Tản Ðà (người tự nhận là ông tiên bị giáng xuống trần) mà phải chịu đứng yên cho các bà mệnh phụ ngắm nghía hình hài và xuýt xoa thương xót, chúng ta sẽ thấy hình ảnh đó nghịch lý biết chừng nào. Thi sĩ có thể nghèo đến độ nhìn hoa cúc vàng mà gan ruột cồn cào vì đói như Nguyễn Du, có thể chết dấm dúi trong một chiếc thuyền rách như Ðỗ Phủ. Nhưng phải chịu thu vai bó gối cho thiên hạ nhìn xuống thương hại, thì không. Nhất định không. Thi sĩ thích tìm nơi an trú nào ở đó, anh ta vẫn có thể tiếp tục làm thi sĩ, ở đó không có những ánh mắt thương hại, ở đó khỏi phải ngửng đầu lên mà cầu khấn. Nhìn quanh, hình như chỉ có chùa chiền là nơi an trú thích hợp cho các nhà thơ.

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

NGÔ THẾ VINH

3 (Tiếp theo và hết)

Trong khi chính Bắc Kinh đang phải vất vả chống đỡ với sức ép của dư luận và cả cố gắng xoa dịu sự chống đối của các nhóm cư dân vùng Bắc Thái và Lào đang là nạn nhân trực tiếp của các con đập Vân Nam, thì ông Hun Sen lại tự nguyện biến mình thành “một luật sư hùng biện cho Trung Quốc / nhưng bất cần lý lẽ.”

Bây giờ thì cụm từ “Thay Đổi Khí Hậu” của Phó Tổng Thống Al Gore, đã trở thành “cái dù che” cho những nhà lãnh đạo nếu không do thiếu hiểu biết thì cũng do động cơ chính trị, một thứ “chủ nghĩa cơ hội” và tránh né trách nhiệm.

THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP

Gi Nhóm Bn Cu Long
NGÔ THẾ VINH

2 (Tiếp theo)

GIẢI PHÁP NGẮN HẠN ĐỂ SỐNG CÒN

Tuần lễ đầu của tháng 10 vừa qua [2010], trong một email trao đổi với người viết, GS Võ Tòng Xuân cho biết: “Mùa Nước Nổi của Đồng Bằng Sông Cửu Long đến hôm nay / ngày 4 tháng 10, vẫn chưa đạt mức 30 cm, thấp hơn trung bình các năm trước là khoảng 1 mét”. Chưa bao giờ mà nông dân Miền Tây mong lũ về đến như vậy. Họ đã từng chung sống với lũ, với nước tràn đồng và bao nhiêu cái lợi do lũ đem tới. Lũ đem nguồn cá đổ xuống từ Biển Hồ, đem phù sa như nguồn phân bón thiên nhiên, con nước ấy còn có tác dụng rửa phèn, đẩy mặn không cho nước mặn lấn sâu thêm vào vùng châu thổ. Nhịp đập khỏe mạnh của trái tim Biển Hồ cũng là sức sống của hai con Sông Tiền, Sông Hậu và toàn mạng lưới kinh rạch của ĐBSCL.

THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

NGÔ THẾ VINH


TT HUN SEN VÀ NHỮNG CON ĐẬP MEKONG

Tháng 11, 2010_ Thủ tướng Hun Sen, chỉ mới đây thôi, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS ở Nam Vang, lại một lần nữa đã bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán mới đây là hậu quả của thay đổi khí hậu / climate change và khí thải carbon / carbon emissions chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc. (9) Fred Pearce trong một tường trình Environment 360 Đại học Yale cho rằng xây đập chắn ngang sông Mekong là một đòn giáng nghiêm trọng / major blow đối với con sông Mekong dũng mãnh. Trung Quốc đang xây hàng loạt những con đập trên khoảng 2,800 dặm khúc sông Mekong thượng nguồn, sẽ giới hạn dòng chảy, làm mất đi chu kỳ lũ lụt hàng năm / annual flood pulse, con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ, như một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới. (12)

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

VÙNG ĐẤT NGẬP ĐỒNG THÁP MƯỜI

TRẦN NGƯƠN PHIÊU

(Tiếp theo và hết)

Ðồng Tháp là vùng đất thấp nên từ trước đến nay chưa có các công trình xây cất đường sá hẳn hoi. Tuy nhiên, nhờ được có nhiều kinh lạch được đào nên giao thông bằng đường thủy đã được sử dụng cho việc chuyên chở. Việc đào kinh đã được thực hiện từ xa xưa do người Chân Lạp như hố Cái Bác từ ngọn Cái Cái đến ngọn Vàm Cỏ Tây, hoặc những con kinh đứt khúc vùng Ðông-Bắc. Ðặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn trong cuộc Nam tiến, nhiều kinh chiến lược quan trọng đã được thực hiện như Thoại Ngọc Hầu đã đào kinh Vĩnh Tế... Thời Pháp chiếm đóng, nhiều kinh lớn khác đã được thiết lập trong ý đồ thâm nhập và phát triển vùng đất hoang vu, nơi trú ẩn của các người ái quốc chống Pháp. Con kinh Lagrange, được người Việt một thời kêu là kinh Lạc Giăng (tên của viên Chánh Tham biện tỉnh Tân An đã chủ trương) là một kinh quan trọng trong trung tâm Ðồng Tháp, rộng trên 20 thước, tàu bè có thể chạy thông thương lên phía Gẫy để đến rạch Cái Cái. Ðặc biệt có con kinh Cát Bích, nghe tưởng là tên chữ Hán-Việt nhưng thật ra là lối phát âm bình dân để đọc tên Pháp là kinh số “4 bis”! Thời Việt Nam Cộng Hòa, việc hoàn tất con kinh Ðồng Tiến, bề ngang rộng đến 100 thước, là một thành tích đáng ghi nhớ. Bác sĩ Phan Quang Ðán và tác giả bài này, trong chương trình Khẩn hoang Lập ấp, đã vô cùng kinh ngạc khi có được dịp trở lại thăm vùng kinh được đào sau một năm. Trên hai bờ kinh, suốt dãy đất được xáng múc đổ lên, các nông dân đã năng động biến thành các vườn dưa hấu bạt ngàn!

VÙNG ÐẤT NGẬP ÐỒNG THÁP MƯỜI

TRẦN NGƯƠN PHIÊU

Ðồng Tháp Mười là một địa danh quen thuộc đối với những người sanh trưởng ở miền Nam. Tuy nhiên, số người thật sự có cơ hội đặt chân lên vùng xa xôi này hay được sinh sống trên phần đất này có thể nói là rất ít. Vì vị trí đặc biệt, thiếu phương tiện đường sá lưu thông nên Ðồng Tháp Mười vẫn được coi là một vùng đất hẻo lánh, nhiều bí ẩn.

Rừng Mắm

BÌNH NGUYÊN LỘC

(Tiếp theo và hết)

Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà này vào mùa khô. Cứ bằng vào bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay, và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon.

Nhìn ra sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô và hỏi tía nó:
- Năm nay mình gặt cỡ được bao nhiêu tía?

Rừng Mắm

BÌNH NGUYÊN LỘC


Tác giả giới thiệu Rừng Mắm:
Câu truyện trong “Rừng Mắm” chỉ xẩy ra tại miền Nam nước Việt, còn thì không thể xẩy ra ở phần nào khác trong lãnh thổ ta. Miền Nam là đất mới, mà cho đến ngày nay việc khẩn hoang cũng chưa xong. Ðất này lại là đất bùn lầy, nên không giống với việc khẩn hoang các vùng đất khô như trong tỉnh Quảng Ðức chẳng hạn. Bạn đọc gốc miền Bắc khó lòng mà hình dung được lối khẩn hoang này. Miền Trung lại càng khó tưởng tượng đến những gì xẩy ra trong truyện hơn.

Hương rừng Cà Mau

Sơn Nam

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Nước Mỹ có thể học được những gì từ Âu châu ?

Đoàn Thanh Liêm

Nhân đọc cuốn sách vừa mới xuất bản năm 2010: Europe’s Promise (Sự Hứa hẹn của Âu châu) Do tác giả Steven Hill biên soạn Nhà Xuất bản University of California Press ấn hành.

Vài Tin Tức Y Khoa - 4 tháng 12 – 2010

Nguyễn Hoài Vân

Những chị cá bạc tình

Chlichidé là một loài cá nhiều màu sặc sỡ mang một số đặc điểm tâm lý rất giống con người. Các chị cá Chlichidé sẵn sàng bỏ rơi hoàng tử của lòng mình nếu chàng này bị đánh bại trong một cuộc đụng độ với một chàng cá khác. Một vùng trong não bộ chủ trì sự lo lắng được bật lên khi các chị cá này chứng kiến cuộc đụng độ vừa nói. Vùng này tương ứng với vùng não bộ được kích động trong óc những người vợ hay bạn gái của các đấu thủ quyền anh bị hạ đo ván trong một cuộc đấu. Julie Desjardins và cộng sự, tác giả của nghiên cứu này, nhấn mạnh đến ảnh hưởng của các các vùng tương ứng với não bộ của loài cá trong hành vi của con người. Các ảnh hưởng này nằm ở tầng vô thức, khiến cho người bạn gái của một võ sĩ bị đánh gục sẽ không nói, « tôi không yêu anh ấy nữa », nhưng sẽ có một chút gì đó thay đổi trong chiều sâu của tâm hồn nàng, mà chính nàng cũng không hề hay biết.

12 năm nhìn lại: Việt Nam có nên ký lại hiệp ước về biên giới với Trung Quốc

Trương Nhân Tuấn

(Tiếp theo và hết)

Việc nghiêm trọng và tệ hại nhất đã xảy ra làm thay đổi đường biên giới, qua các hồ sơ tìm thấy, là do việc nhiều cột mốc biên giới không còn ở đúng vị trí ban đầu (sẽ nói ở dưới). Hồ sơ lưu lại không tìm thấy những dấu vết điều chỉnh lại vị trí các cột mốc đã dời đi. Điều nầy có nghĩa là các Công Ước về biên giới 1887, 1895 không những không được tôn trọng mà còn vi phạm nặng nề.

Ðồ tuyến bên giới Quảng Ðông, sau 10 năm cắm mốc, kiểm soát lại thì nhân viên sở Ðịa Dư Ðông Dương (nói trong báo cáo mật ghi trên) có kết luận :
« Si maintenant l’on compare le document de 1893 au 1/100.000 à la carte régulière à la même échelle faite 10 ou 11 ans plus tard, on constate que les deux documents ne sont pas superposable. Ceci n’est pas surprenant, mais ce qui l’est, c’est que le tracé de la frontière et l’emplacement des bornes ne concorde pas toujours. On a aucun moyen d’expliquer ces différences. »


12 năm nhìn lại: Việt Nam có nên ký lại hiệp ước về biên giới với Trung Quốc?

Trương Nhân Tuấn

LTG : Sau khi nhà nước CSVN ký kết lại Hiệp định biên giới trên đất liền với Trung Quốc ngày 30 tháng 12 năm 1999 thì sau đó nhiều nghi vấn đã đặt ra, trong đó có các câu hỏi về « nhượng đất, nhượng biển » cho Trung Quốc. Đến hôm nay, việc cắm mốc đã hoàn tất từ hơn một năm nhưng bộ bản đồ chính thức vẫn không thấy công bố. Trong khi tin tức cho thấy phía Trung Quốc đã đào lấy các cột mốc lịch sử cắm từ thời Pháp-Thanh 1887, lý do là « đưa vào viện bảo tàng », nhưng việc này sẽ xoá mọi dấu vết đường biên giới ngày xưa. Đây là một hành vi phản văn hóa tương đương với việc xóa, sửa lịch sử. Từ nay không ai có thể so sánh đường biên giới lịch sử và đường biên giới hiện nay trên thực địa để thẩm định việc VN có mất đất hay không và mất bao nhiêu. Việc thẩm định do đó chỉ có thể làm trên bản đồ. Riêng vấn đề có cần phân định lại biên giới hay không thì hình như chưa thấy ai đặt câu hỏi. Xin trích dẫn bài viết này từ cuốn « Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranh chấp », in năm 2005, tác giả xin trình bày ý kiến chủ quan của mình về việc VN có nên phân định lại biên giới hay không.

Mưa

Gia Thụy

Trời Virginia hôm nay mưa, bầu trời xám xịt và những cơn mưa phùn làm tôi nhớ Hà Nội và Ðà Lạt. Mưa ở xứ Mỹ này, con người ta dường như không cảm nhận được sự ướt át thật sự của trời mưa, mọi thứ ở nơi đây đều hoàn hảo, hoàn hảo đến nỗi đôi khi tôi thèm có được cái cảm giác mình gặp phải cơn mưa trên đường về nhà mà lại lỡ để quên cái áo mưa đâu đó và đành chịu hứng cơn mưa, rồi sau đó được hưởng cái cảm giác thật thú vị khi thay bộ quần aó khô ráo, pha ly cà phê nóng và ngồi ngắm mưa rơi rả rích qua khuôn cửa sổ. Trời mưa ở đây yên lặng quá, không nghe được tiếng mưa rơi trên mái nhà và hình như đã lâu lắm rồi tôi không phải mặc áo mưa khi đi ra ngoài bởi vì chỉ cần chạy vài bước là được ngồi trong xe êm ấm, nếu có thì cũng chỉ cần đến một cây dù là đủ.

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Tác Giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Sức Mạnh Hoa Kỳ
Kỳ 1

Vào ngày 22 tháng Sáu năm 1897, khoảng bốn trăm triệu người trên thế giới, nghĩa là một phần tư nhân loại, được nghỉ một ngày. Ngày đó là ngày Kỷ niệm lần thứ Sáu mươi ngày đăng quang của Nữ Hoàng Anh Victoria. Dịp Lễ Mừng Sáu Mươi năm đã kéo dài năm ngày trên biển và đất liền, nhưng đỉnh cao của buổi lễ là cuộc diễu hành và lễ tạ ơn vào ngày 22 tháng Sáu. Mười một vị thủ tướng các thuộc địa tự quản của Anh quốc đều cùng các hoàng thân, công chúa, các đại sứ và các phái đoàn từ mọi phần còn lại của thế giới đều tham dự. Một cuộc diễu binh của năm mươi nghìn quân nhân gồm các kỵ binh nhẹ Gia Nã Đại, lực lượng kỵ binh từ New South Wales, bộ binh súng trường từ Naples, đội quân lạc đà từ Bikaner, Gurkhas từ Nepal và nhiều binh chủng khác nữa. Đấy đúng là một niềm “Tự hào La mã” như một sử gia đã ghi lại.

Ðối lập chính trị thời Ðệ nhất Cộng hòa: Vụ thủ tiêu ông Tạ Chí Diệp

Trần Ðông Phong

Kỳ 8 (Tiếp theo)

Tạ Chí Diệp Bị Ðâm Chết Rồi Thả Xác Xuống Sông
Ông Cửu Long Lê Trọng Văn là một dược sĩ có liên hệ gia đình với ông Ngô Ðình Nhu và được ông Nhu giao cho nhiệm vụ phụ trách về tình báo cả quốc nội lẫn quốc ngoại cho Văn phòng Cố Vấn Chính Trị của ông Nhu cho đến năm 1963. Ông đã cho xuất bản cuốn “Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm” vào năm 1989, trong đó ông có kể lại vụ thủ tiêu ông Nguyễn Phan Châu tức là Tạ Chí Diệp như sau:

Ðối lập chính trị thời Ðệ nhất Cộng hòa: Vụ thủ tiêu ông Tạ Chí Diệp

Trần Ðông Phong

Kỳ 7 (Tiếp theo)

Ông Ngô Ðình Nhu Bác Bỏ Mọi Ðề Nghị
Bác sĩ Trần Kim Tuyến có nói rằng trong 18 vị nhân sĩ ký tên vào bản Tuyên Ngôn Caravelle, ông được quen biết đến 15 vị, có lẽ vì lý do đó mà buổi họp của Ðại Hội Ðoàn Kết đã diễn ra tại tư gia của Bác sĩ Phan Huy Quát, một trong 18 vị nhân sĩ ký tên vào bản Tuyên Ngôn Caravelle.

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Hạ Hồi

Võ Phiến

CÁI SUY TƯỞNG

Rời phần nghệ thuật, xin qua phần học thuật.

Cái đóng góp ở địa hạt này nhằm tiếp tay giúp con người hay thêm, tốt thêm. Bách gia chư tử đều là những đấng suy nghĩ về triết, về đạo; không có “tử” nào gieo vần chuyên nghiệp, kể tiếu lâm chuyên nghiệp, vẽ tranh tôm chuyên nghiệp. Có Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử v.v... Có luôn Lão Tử là kẻ xúi ai nấy đừng làm gì cả, cứ lửng lơ con cá vàng. Xúi đừng làm cũng như xúi cố làm, đều là những phát biểu đóng góp, hữu dụng. Khác với phía nghệ thuật. Không hề có Lý (Bạch) Tử, Ðỗ (Phủ) Tử. Hát cực hay như Trương Chi không thành Trương Tử, soạn nhạc giỏi như Kê Khang cũng không được gọi là Kê Tử.

Anh cũng sẽ về

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Tuấn và Thanh đứng bên một ngọn đồi thấp, nơi đây hai người ngắm được bãi cát dài và biển của Nha Trang. Xa xa hòn đảo chập chùng và những ghe đánh cá thấp thoáng giữa trời nước mênh mông. Gió biển lồng lộng mang theo không khí trong lành, mát rượi. Hằng thế kỷ qua nơi nầy đã làm rung động biết bao tâm hồn nghệ sĩ và được người dân ưu ái tặng cho cái tên rất là thơ – Miền Thùy Dương Cát Trắng.
Tuấn nói:
– Cát Nha Trang trắng quá, nước biển trong và xanh hơn vùng Ðịa Trung Hải.

Nghĩ về vụ thảm sát ở Katyn & sự thật lịch sử

Karmi
Xem thêm:
  • Thảm sát Katyn – Wikipedia tiếng Việt
  • Quyết định Thảm sát Katyn ngày 5 tháng 3 năm 1940, trích biên bản họp Bộ Chính trị (ảnh chụp từ bản gốc tiếng Nga)
  • Tờ trình Thảm sát Katyn của Bộ Dân uỷ Nội vụ, được Bộ Chính trị phê chuẩn (bản dịch tiếng Anh).
Những năm trước đổi mới khoảng năm 1983 – 1984 thời mà nhà nước Việt Nam còn bị Mỹ cấm vận và quan hệ quốc tế của ta lúc ấy rất hạn chế chỉ quanh quẩn với các nước trong phe XHCN, khi ấy tôi có được nghe người lớn kể lại rằng ở Hà Nội khi ấy có một số cán bộ Sứ quán Cộng hòa Nhân dân Ba Lan tại Hà Nội hay mặc áo phông có in hàng chữ “TÔI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI LIÊN XÔ” bằng tiếng Việt trên đường phố. Ở cái thời khi mà thông tin hoàn toàn bị bưng bít, kênh thông tin duy nhất chỉ là báo chí truyền thông của đảng thì chuyện ấy cũng là một sự kiện chính trị đáng chú ý khiến cho người dân thầm thì lưu truyền nhau. Hồi ấy thầm thì những chuyện “người lớn” như kiểu ấy mà công an biết là liệu hồn.

Hậu ghêm-sô “Học chơi dân chủ”

Tô Hải

Vậy là màn đã hạ!

Kịch bản đã diễn ra còn “có nghề” hơn tớ dự kiến tí chút! Đặc biệt là vài sự cố ngoài tầm kiểm soát như vụ chất vấn “ai chỉ đạo web chính phủ “doạ nạt”, ”chụp mũ” đại biểu của nhân dân phát huy dân chủ tại Hội Trường Quốc Hội”? Hoặc bị “quay” về những con số tưởng tượng, những phần trăm vu vơ (như %Pe mà Pe thì không có tính đơn vị % bao giờ)… những con người cụ thể, những câu phát ngôn cụ thể. Đến nỗi người bị chất vấn đành… “xin lỗi!… để xem lại”… hoặc “… không hiểu tôi diễn đạt thế nào đó không rõ chứ… nội dung nó là thế này…” Còn lại tất cả đều đúng như tớ đã dự đoán trong 2 entries trước!

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

GHÉ THĂM CÁC BLOG: 03/12/2010

BLOG NGUYỄN XUÂN DIỆN
01-12-2010

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH LÊN TIẾNG

Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.
Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

TÁI KHỞI ĐỘNG ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC LÀ VI PHẠM LUẬT ĐƯỜNG SẮT VN

TS TRẦN ĐÌNH BÁ

Tại cuộc trả lời chất vấn trước QH , Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng đã hùng hồn tuyên bố “Tái khởi động ĐSCT là cần thiết và đúng luật”.

Thực tế, theo TS Trần Đình Bá – Hội Kinh tế và vận tải ĐSVN , tác giả “Chiến lược Đường sắt Việt Nam”, tác giả luận án Tiến sĩ “Mở rộng để hiện đại Đường sắt Việt Nam Việt Nam” đã được tặng giải thưởng quốc gia về hiến kế thì việc nghiên cứu, thẩm định dự án Đường sắt cao tốc (ĐSCT) 56 tỷ USD cùng với việc tái khởi động lại dự án đó đã vi phạm nghiêm trọng luật Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) .
ĐS quốc gia khổ 1 mét đang ngày càng rệu rã lạc hậu và phá sản là trách nhiệm

Du học sinh: đi, ở, về …

Nguyễn Văn Tuấn

Hôm nay đọc được một phân tích thú vị về tình trạng du học sinh tiến sĩ ở Mĩ. Các nhà nghiên cứu đặt câu hỏi là số du học sinh ở lại là bao nhiêu và có thay đổi qua các năm qua hay không, và yếu tố nào làm cho họ ở lại Mĩ. Kết quả cho thấy vài xu hướng đáng chú ý…

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Trận tuyến đối lập không tiếng súng

Bùi Tín

Tình hình chính trị trong nước hiện nay và cho đến sau Đại hội đảng CS lần thứ XI sẽ ra sao, thật khó nhận định và phán đoán được chính xác.

Bộ Chính trị chuẩn bị họp Trung ương lần cuối - kỳ thứ 14 khóa X - để hoàn thành việc chuẩn bị, cả về nội dung và nhân sự. Có quá nhiều vấn đề còn treo lơ lửng.

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 9 (Tiếp theo)

Tại Việt Nam, sự nổi dậy không phải là một cuộc cách mạng dân tộc, vì người dân Việt không nổi dậy chống chính quyền. Cuộc chiến thực sự là cuộc xâm lăng từ Bắc Việt đội lốt nổi dậy qua quân du kích. Trong khi chúng ta bỏ công trị triệu chứng, chúng ta quên mất không trị căn bệnh gốc.

Khả năng sáng tạo của người Việt

Nguyễn Hoàng Đức

Lời giới thiệu của Gs Nguyễn Văn Tuấn
Mấy tuần nay tôi “phát hiện” ra một tác giả luận bàn về văn hóa và tính cách người Việt rất hay. Tác giả đó là Nguyễn Hoàng Đức, hình như ở Hà Nội. Viết về văn hóa thì đã có nhiều người, viết về thói hư tật xấu của người Việt cũng có không ít người, và mới đây nhất là Vương Trí Nhàn. Nhưng Nguyễn Hoàng Đức rất khác với các tác giả khác, vì anh phân tích đến nơi đến chốn, và tuy còn vài điều phải bàn lại nhưng nhìn chung là thông minh.

Trách nhiệm và thuyết ‘Chính danh’

Nguyễn Hưng Quốc

Trong mấy tuần vừa qua, giới quan sát thích thú theo dõi các cuộc tranh luận trong Quốc Hội Việt Nam, đặc biệt về Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin. Lần đầu tiên một số đại biểu Quốc Hội đặt ra cho các bộ trưởng và cho chính Thủ tướng những câu hỏi hết sức thẳng thắn và gay gắt về các vấn đề quan trọng đối với kinh tế quốc gia, được đông đảo đồng bào trong nước quan tâm. Lần đầu tiên người ta đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng. Lần đầu tiên mới thấy có cái gì đó thực sự đang chuyển động, ít nhất là trong tâm thức và trong thái độ của một số trí thức và đại biểu Quốc Hội tại Việt Nam.

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

SỔ TAY KINH TẾ 12/2010

Phạm Đỗ Chí

(Do tác giả tạm “rửa tay gác kiếm” sẽ không còn đội mũ kinh tế gia nữa trong đời sống làm việc hàng ngày, nên Sổ Tay Kinh Tế tháng 12 là Số Cuối Năm Để Tạm Khóa Sổ).

Mỹ và Kinh Tế Thế Giới: Vẫn dằng dai những cái khó năm cũ
Wall Street khóa sổ tháng 11 với màu đỏ phản ảnh những dấu hiệu mới cho thấy sự hồi phục chậm chạp của nền kinh tế Mỹ và toàn cầu, cơn sốc cho nhóm G-20 khi Fed bắt đầu áp dụng chính sách nới lỏng định lượng giai đoạn 2 (QE 2--Quantitative Easing), và nhất là do cơn khủng hoảng kinh tế Ái Nhĩ Lan nhắc nhở trở lại mối lo nợ công các nước PIGS (Portugal, Ireland, Greece và Spain).

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 8 (Tiếp theo)

Về điểm sau, những người Việt Nam cũng như người Trung Quốc cộng sản hay theo chủ nghĩa quốc gia [76] đều có lập trường gần với nhau nhất. Vì vậy, rất nhiều người coi những sự nhượng bộ của nhà đương cục Pháp trước tối hậu thư của Nhật năm 1940 như là “sự hợp tác” thật sự chống lại Trung Quốc. Tháng 5/1941 tại cuộc hội nghị ở Tĩnh Tây [靖西, thuộc địa khu Bách Sắc/百色/BǎiSè] (Quảng Tây/ Gvangjsih/广西/Guǎngxī) đã thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội (hoặc Việt Minh) với chương trình vừa giản đơn vừa rõ ràng: Đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Pháp và Nhật, Việt Nam độc lập và xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ. Nhưng nhà đương cục Trung Hoa hiểu rất rõ là Mặt trận mới này, không thể chối cãi được, là do cán bộ của Đảng cộng sản Đông Dương bí mật chi phối. Tình hình quan hệ của những người này với Đảng cộng sản Trung Quốc thúc đẩy họ có thái độ hết sức dè dặt đối với Việt Minh, khiến cho Việt Minh không tránh khỏi khó khăn trong hoạt động và người ta không thể đảm bảo là đường lối chính trị của Việt Minh trùng hợp lâu dài với lợi ích của bản thân Trung Hoa quốc gia. Vì vậy từ năm 1943, người Trung Quốc và nhất là tướng Trương Phát Khuê [(Chang Fa-Kui/张发奎], người chỉ huy mặt trận gần biên giới Việt Nam, đã xúi giục những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia thuộc đủ mọi khuynh hướng tập hợp lại để đấu tranh tốt hơn chống Nhật, Pháp. Đó là nguồn gốc của Việt Nam cách mệnh đồng minh hội (gọi tắt là Đồng minh hội). Thực ra đáng lẽ đó phải là công cụ trong tay người Trung Quốc thì lại phục vụ một cách tuyệt diệu cho tham vọng của Việt Minh do họ đã nhận tham gia Đồng minh hội và chỉ có họ mới có cơ cấu tổ chức có khả năng sử dụng Đồng minh hội có lợi cho họ92. [77]

MỘt Ngày Ðể Tùy Nghi

Võ Phiến

Buổi chiều, anh về tới nhà trời hãy còn sáng một lúc lâu. Trong ráng chiều, đôi ba con én nhào lộn ngoạn mục trên các mái nhà.

Một buổi chiều, cuối mùa đông, anh Tư đi làm về, trong người rân rân mệt mỏi, nằm trông theo những con én bay ngược bay xuôi trong xóm. Én bay rạo rực. Nó không bay vì nhu cầu chuyển dịch. Nó lướt qua rồi tức thì lộn trở lại, bay vô ích. Nó bay như chỉ để phô trương, để biểu diễn những pha bất ngờ. Én bay trong xóm đôi ba con hay năm bảy con? Khó đếm được. Nó bay loạn xị. Nó rạo rực niềm vui trên xóm nghèo, trong ráng chiều, khi người người mệt mỏi. Anh Tư nằm trông theo én bay cho đến khi đèn đường bật sáng.

Ðối Lập Chính Trị Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa Vụ Thủ Tiêu Ông Tạ Chí Diệp

Trần Ðông Phong

Kỳ 6 (Tiếp theo)

Hội Nghị Ðại Ðoàn Kết Toàn Dân Chống Cộng
Bức thư của Tướng Lansdale gửi cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đề ngày 30 tháng 1 năm 1961 tức là chỉ có 10 ngày sau khi Thượng Nghị sĩ John F. Kennedy tuyên thệ nhậm chức tân Tổng Thống Hoa Kỳ thay thế cho Tổng Thống Eisenhower.

Trần Ðông Phong

Kỳ 5 (Tiếp theo)

Một nhân vật thứ hai cũng là người biết rất rõ về Tạ Chí Diệp, có thể nói còn thân thiết với Tạ Chí Diệp hơn là cụ Ðoàn Văn Thái vì hai ông cùng làm nghề dạy học với nhau, đó là ông Bùi Diễm, cựu Ðại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký “Gọng Kìm Lịch Sử,” ông Bùi Diễm cho biết về nhân vật Tạ Chí Diệp như sau:
“Vào cuối thập niên 1950, chính quyền Ngô Ðình Diệm càng ngày càng độc đoán, tình hình chính trị ở miền Nam càng ngày càng căng thẳng. Tại trường trung học tư thục Phan Sào Nam, nơi tôi dạy học, từ hiệu trưởng đến giáo sư, hầu như không có người nào là không chống chính phủ. Tôi như ngẫu nhiên gia nhập một tổ chức đối lập. Thực sự thì hiệu trưởng là một người có thành tích hoạt động thuộc đảng Duy Dân nên quy tụ một số bạn bè cùng khuynh hướng. Hàng ngày đến trường, vào giờ giải lao, xung quanh chén trà và những tiếng rít thuốc lào, chỉ toàn là những chuyện chỉ trích hay chế riễu chính phủ.


Ðối Lập Chính Trị Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa: Vụ Thủ Tiêu Ông Tạ Chí Diệp

Trần Ðông Phong

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Tạ Chí Diệp: Tham Gia “Chiến Khu Ðông” Chống Nguyễn Văn Hinh
Khi ông Diệm mới về nước, tình hình rất là khó khăn, Tạ Chí Diệp đã đi khắp miền Trung và vào Sài Gòn để tuyên truyền lôi kéo quần chúng ủng hộ ông Diệm. Vào cuối năm 1954, khi Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh lập Ðảng Con Ó chống lại Thủ tướng Ngô Ðình Diệm, ông Tạ Chí Diệp đã cùng với Thiếu Tá Thái Quang Hoàng lập chiến khu ở Phan Rang để chống lại Tướng Hinh và ủng hộ Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm. Sau khi Tướng Nguyễn Văn Hinh phải rời khỏi Việt Nam để trở về Pháp vào ngày 20 tháng 11 năm 1954, Thiếu Tá Thái Quang Hoàng và các sĩ quan dưới quyền như là Ðại Úy Huỳnh Văn Cao đều được Tổng Thống Diệm tưởng thưởng và trọng dụng. Chỉ mấy năm sau, Thiếu Tá Hoàng được thăng đến Trung Tướng và nếu không bị nhóm đảo chánh 11-11-60 bắt cóc đưa lên Nam Vang thì Trung Tướng Thái Quang Hoàng đã có thể trở thành Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội VNCH, Ðại úy Huỳnh Văn Cao chỉ vào khoảng có sáu năm sau, đến đầu thập niên 1960 đã trở thành Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 4.