Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

Một Thế Giới Hậu Hoa Kỳ - (The Post-American World)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn


Lời Mở Ðầu cho ấn bản bìa mềm

Chiếc xe đua chạy nhanh nhất thế giới

Thời hoàng kim nào cũng đến lúc chung cuộc. Càng hào nhoáng chừng nào, kết cục càng cháy bỏng hơn. Cuộc đổ vỡ năm 2008 là sự xụp đổ tồi tệ nhất của thế giới kể từ năm 1929 và đã dẫn đến sự đình trệ kinh tế thê thảm nhất kể từ cuộc Đại suy thoái đến nay. Tất cả mọi biến chuyển trong năm qua đều không từng có thể tiên liệu được: sự hủy hoại gần 50 trillion mỹ kim trong các tài sản kinh tế toàn cầu; việc quốc hữu hóa những công ty cho vay nợ nhà lớn nhất Hoa Kỳ; vụ khai phá sản lớn nhất lịch sử (Lehman Brothers); sự biến mất của các ngân hàng đầu tư; những gói kích thích và cứu chuộc quanh thế giới lên đến nhiều trillion dollars. Chúng ta đang sống qua thời đại chắc sẽ được nhớ lại và nghiên cứu trong nhiều thế hệ sau.

Thực Phẩm Việt Nam

(Tiếp theo)

Mai Thanh Truyết

(Loạt bài này trích từ cuốn sách “Những vấn đề môi trường và phát triển Việt Nam” của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, sẽ phát hành vào cuối năm 2010)

6. Chì, Thủy ngân, Arsenic

Ba hóa chất trên là 3 kim loại độc hại có mặt trong nguồn nước qua nguồn phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, một số kỹ thuật chế biến không đúng cách cũng làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Và đây là một nguy cơ ung thư rất lớn.

Gần đây nhứt những tin tức trên báo chí cho biết Trung Cộng thay vì dùng hệ thống hút nước và sấy khô đối với thực phẩm, họ lại dùng phương pháp “thô sơ” nhứt là sấy khô bằng phương pháp cho khói xe thổi vào phòng kín chứa cây trái, trà hay các hạt cần sấy khô. Từ đó, các sản phẩm như trà, tiêu, các loại củ hay trái cây khô điều có chứa chì và thủy ngân.

Thứ Bảy, 10 tháng 7, 2010

Trung Quốc, Bá Chủ Toàn Cầu?

Nguyễn Hoài Vân

Hay khủng hoảng sẽ đẻ ra một siêu cường mới : Chimerica ? (1)

Trung Quốc, bá chủ hoàn cầu? Tại sao không? Nhưng cũng không phải là đơn giản. Chúng ta thử xét những điểm thuận lợi và không thuận lợi của giả thuyết này.

Trung Quốc có ưu điểm là thặng dư ngân sách với dự trữ tiền tệ dồi dào trong lúc đối thủ Hoa Kỳ chìm trong thất thu, ngân sách thâm thủng nặng nề với những món nợ kếch sù, không biết bao giờ mới trả nổi. Ngân quỹ dồi dào khiến Trung Quốc có thể đầu tư mạnh mẽ vào nhiều lãnh vực then chốt, như xây dựng và tân tiến hóa các cấu trúc viễn thông, chuyên chở, đào tạo, nghiên cứu v.v… chưa kể các đầu tư quân sự, ngoại giao, tình báo… Điều này gắn liền với khả năng quản trị quốc gia và sự trong sạch của guồng máy lãnh đạo (2).

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2010

Một Thế giới Hậu-Hoa Kỳ - The Post-American World

Lê Quốc Tuấn

Sau thảm họa 9/11 tiếp theo đó, là những chi phí an ninh cực lớn cho an toàn nội địa và quốc phòng cho cuộc chiến sa lầy của Mỹ ở các chiến trường Trung Đông; và gần đây nhất là cuộc suy thoái kinh tế vô tiền khoáng hậu khởi đi từ chính Hoa kỳ rồi lan rộng ra toàn cầu, đã khiến không ít người Mỹ phải bừng tỉnh, suy nghĩ lại về đất nước, nền văn minh và sức mạnh của đất nước mình.

Trong những dòng suy nghĩ đó không ít thức giả gồm các chuyên viên, nhà nghiên cứu, sử gia, chiến lược gia ... đã lên tiếng về sự xuất hiện của những sức mạnh kinh tế khác, trong đó, nổi bật nhất là Trung quốc - như một đe dọa mới, thách thức đến vị trí của Hoa kỳ trên toàn cầu.

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT MỸ (VAALA) TỔ CHỨC ĐÊM NHẠC CUNG TIẾN CHỦ ĐỀ: Vết Chim Bay

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT MỸ (VAALA) TỔ CHỨC
ĐÊM NHẠC CUNG TIẾN CHỦ ĐỀ Vết Chim Bay

Việt Báo và VAALA giới thiệu hai tuyển tập nhạc Cung Tiến:
Hoàng Hạc Lâu và Vang Vang Trời Vào Xuân


Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) sẽ thực hiện một chương trình nhạc Cung Tiến với chủ đề Vết Chim Bay vào lúc 7:00 P.M. thứ Bảy, 10 tháng Bảy, 2010 tại La Mirada Theater, số 14900 La Mirada Blvd., La Mirada, CA 90638. Chương trình quy tụ hơn 80 ca nhạc sĩ gồm Dàn nhạc giao hưởng Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng; Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi và ca trưởng Lee Lee Trương; các tiếng hát Lệ Thu, Quỳnh Giao, Bích Liên, Anh Dũng, Bích Vân, Mộng Thủy, Lê Hồng Quang, Phạm Hà, Trần Đại Phước, Phạm Đăng KhoaMai Phi-Long; dương cầm thủ Đỗ Bằng Lăng, Ngô Diễm UyênVũ Diễm Anh. M.C: Lê Đình Y-SaMai Phi-Long.

Buổi Sáng, Anh và Cà Phê



Trần Mộng Tú

Hình như ngày bắt đầu bằng nỗi nhớ
như bình minh nhớ những giọt cà phê
những giọt cà phê bỗng nhớ cái ly
cái ly nhớ đi tìm môi chưa ngọt
cả buổi sáng và em cùng tiếng chim đang hót
rót nỗi nhớ đầy vào lồng ngực không gian

Thương Nhớ Sài Gòn

Song Chi

Tặng những người bạn văn nghệ của tôi - những người cũng yêu mến và nhiều lần trăn trở, muốn làm một cái phim “chân dung Sài Gòn”, như tôi…

Cho đến ngày rời Sài Gòn, rời Việt Nam ra đi bắt đầu lại ở xứ người, tôi đã sống ở Sài Gòn gần 40 năm - 34 năm liên tục kể từ 1975 đến 2009 và một vài năm không liên tục trước 1975. Một quãng thời gian đủ dài cho một đời người để thành phố này, với tôi, đã trở thành gắn bó mãi mãi. Khi nói chuyện với mọi người bao giờ tôi cũng nhận mình là người Sài Gòn, cho dù tôi không sinh ra và có thể, cũng sẽ không sống những ngày cuối đời tại đây.

Bạn Đọc Viết

Sừng Sững Nhất Linh - "đời tôi để lịch sử xử"

Trần Yên Hòa

Lớp tuổi của chúng tôi, những người sinh ra và lớn lên trong những thập niên 30, 40, 50 của thế kỷ trước, được cắp sách đi học đến bậc trung học, chắc có lẽ ai ai cũng biết đến ông, nhà văn Nhất Linh, người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn, nhà hoạt động cách mạng và chính trị Nguyễn Tường Tam. Hình ảnh của ông là biểu tượng cho một ước vọng tuổi trẻ - tuổi thanh niên lúc bấy giờ: Đó là khát vọng yêu nước, tự nguyện dấn thân làm cách mạng, chống thực dân Pháp, chống độc tài, giải phóng dân tộc, và thêm nữa, đổi mới hoàn toàn nếp sống cũ, nếp sống hủ lậu, nô lệ, của phong kiến, của thực dân. Thế hệ chúng tôi may mắn là có ông. Tôi khâm phục và kính trọng. Và tôi tôn ông làm thần tượng.

Mùa Hè nơi khác

Nhàn cúi xuống bàn chân người khách, bàn chân thô, mầu da nhờ nhờ đen, những móng chân quặp cả vào trong thịt, Nhàn phải để hết tâm trí vào, chỉ sợ làm khách chẩy máu, vừa mất khách vừa mất lòng chủ. Chú ý thế mà cũng làm bà khách giật nẩy mình co chân lại, vì mũi kéo vừa trượt trên da bà.

- Sorry, sorry!

Nhàn ấp úng nói một câu tiếng Anh cô biết rành nhất. Cũng may bà khách Mỹ da đen này dễ tính, bà chỉ hơi nhăn mày một chút, xong lại duỗi bàn chân ra cười với cô.

Tuyết, ngồi cạnh Nhàn, khẽ nhắc:

- Chị phải để ý, đừng lo ra, cắt vào thịt của khách hàng hoài là mất việc đó.

Tuyết còn trẻ, mới ba mươi, sang Mỹ được sáu năm, theo diện hôn nhân. Chồng Tuyết là Đại, một anh chàng hơi khờ khờ, thợ cắt cỏ ở Mỹ về, cháu của một người hàng xóm mới trong hẻm. Khi được giới thiệu với Tuyết, Đại choáng váng vì nhan sắc của Tuyết, tưởng nằm mơ cũng không thể quen được một người đẹp như thế! Anh xấu trai, anh không giấu diếm được diện mạo và anh cũng không hề giấu nghề nghiệp, anh thật thà nói rõ mình cắt cỏ ở bên Mỹ, anh sang Mỹ theo diện H.O của cha anh được bẩy năm, anh ít học và làm việc lao động, anh không lừa dối ai. Nhưng anh đã sang nhà Tuyết với quần áo chỉnh tề, sơ mi dài tay, thắt cà-vạt, cầm cặp da và tặng ngay gia đình Tuyết mười ngàn đô để sửa sang nhà cửa. Nhà gái không tin anh là thợ cắt cỏ, cho là anh giấu nghề. Tuyết thuộc gái có nhan sắc nhất, nhì trong xóm, vừa học hết trung học, đang học thêm Anh ngữ. Cô hơn Đại cả tài lẫn sắc, đứng bên anh, không cân xứng, nhưng Tuyết đã nhận tiền, và nhận lời cầu hôn của anh. Tuyết dùng Đại như bắc một chiếc ván để sang bên kia bờ rạch, nơi có cánh đồng cỏ, cô biết chắc chắn là xanh hơn bãi cỏ cháy bên này. Cứ sang Mỹ rồi tính sau, anh là thợ cắt cỏ thật, thì Tuyết sẽ tìm người khác. Sang Mỹ, nơi cộng đồng cô sinh hoạt, có nhiều người khá hơn Đại cả dung mạo và nghề nghiệp. Ngay cả anh thợ sửa xe hơi, anh thợ tiện cũng có công việc chắc chắn và nhiều tiền hơn, đi bên cạnh Tuyết cũng xứng đôi hơn, đó là chưa nói đến những anh “Technician” từng nhìn Tuyết với cái nhìn thèm thuồng khi thấy Tuyết đi cạnh một anh chồng vừa xấu trai vừa là thợ cắt cỏ.

Tuyết làm Nail hơn bốn năm rất thành công, cô chuyển hết tiền về Việt Nam cho gia đình mình. Đại khờ khờ, anh đã được gia đình anh báo động là coi chừng bị vợ bỏ, nhưng anh không tin, Tuyết muốn gì anh cũng chiều, làm được đồng nào đưa hết cho vợ, vợ không chịu sanh anh cũng nghe theo, thậm chí vợ nại cớ anh ngáy to không chịu ngủ chung một buồng anh cũng không phàn nàn. Đúng năm năm sau, vào quốc tịch Mỹ, Tuyết li dị ngay. Đại ngây người, đứng nhìn Tuyết sách va-li ra khỏi nhà vẫn không tin được là Tuyết đã bỏ mình.

Nhàn biết chuyện của Tuyết, cô không ngạc nhiên lắm, vì đây là một trong những câu chuyện thông thường được nghe về những cuộc hôn nhân bảo lãnh. Con gái Việt Nam tính toán lừa cả người trẻ, lẫn mấy ông già về nước cưới vợ là chuyện rất thường.

Nhưng trái lại, chuyện của Nhàn rất lạ với Tuyết. Đây cũng là một cuộc hôn nhân có tính toán, nhưng ngược lại, nạn nhân lại là người vợ ở Việt Nam sang.

Nhàn vào làm nail ở đây được bốn tháng, tay nghề còn vụng, tiếng Anh không giỏi, nhưng Nhàn hiền, chăm chỉ và khéo tay nên chủ và bạn làm đều quý, dậy cô tận tình. Tuy nhiên Nhàn hay bị chi phối trong khi làm việc, đầu óc cô còn bận với thằng bé lên 10 tuổi ở nhà. Nó đi học về, có chìa khóa, tự mở cửa, tự ăn, tự học bài một mình. Cô được biết, trẻ con bên Mỹ dưới 13 tuổi không được ở nhà một mình, bất cứ một tai nạn nào xẩy ra cho đứa trẻ, cha mẹ có thể vào tù. Chồng của cô, cha ghẻ, lại không thích thằng bé, anh đi làm về trước cô, ăn chiều với con trong khi cô làm trễ, có hôm 9 giờ tối cô mới ở tiệm ra.

Cô về nhà, nhìn thấy con mới 10 tuổi, sang Mỹ được hơn một năm, bỏ lại tuổi thơ với ông bà ngoại, các cậu, các cô, ở lại quê nhà, mặt nó lúc nào cũng buồn hiu. Bây giờ mẹ phải đi làm. Tuy là trẻ con dễ hội nhập, nhưng thằng bé này hình như nó chưa quen lắm với đời sống thiếu người thân chung quanh, nhất là phải ở nhà một mình với người bố ghẻ, chờ mẹ về. Hải, chồng cô không thương yêu gì thằng bé, và cô đã nhìn ra một vài dấu tích trên thân thể con, thằng bé đã bị đánh, phạt trong khi mẹ không có nhà. Có lần, cô đã gọi con ra trong một lúc Hải không có nhà hỏi:
- Tuấn, có phải hôm nay con hư, bị ba Hải đánh phải không, sao mặt con có vết sưng thế này?

Cô thấy con, hai mắt nhìn dáo dác, nói:

- Con đâu có sao, con va vào cánh cửa lớp ở trường.

- Ừ, ngày mai mẹ sẽ nhờ người gọi vào trường hỏi.

Thằng bé sợ hãi, cuống lên, nói quanh:

- Con quên, con va vào cửa tủ lạnh.

Cô đau xót kéo con lại gần, cô thấy dấu của mấy ngón tay, đây là một cái bạt tai rất mạnh của người lớn trên mặt đứa bé. Cô im lặng không nói gì, quay mặt đi không muốn cho con nhìn thấy nước mắt mình đang ứa ra, cô đi lấy nước đá chườm cho con, nhẹ nhàng nói:
- Khi con ở nhà với ba Hải, mẹ chưa về, con phải vâng lời ba, ba nói gì, con làm, không được cãi nghe.

Thằng bé “dạ” một tiếng rất khẽ, gần như không nghe được, rồi đứng yên nhận sự săn sóc thương yêu của mẹ.

Hải là Việt Kiều ở Mỹ về, Hải đem hộ một món quà người bạn gửi cho bà con ở Gò Công, đúng lúc Nhàn đến chơi với bạn, hai người gặp nhau. Hải thấy Nhàn còn trẻ, tuy li dị, có một đứa con, nhưng Nhàn có nhan sắc, và kém anh đến 18 tuổi. Anh li dị cả mười năm rồi, con anh ở Mỹ đã trưởng thành, anh không còn phải trợ cấp nữa. Nhàn chưa đến bốn mươi, có một thằng bé lên 7. Anh đi lại suốt ba tuần Sài Gòn- Gò Công và chinh phục được Nhàn. Mua trâu được nghé, hai năm sau anh đón vợ mới và con mới ở phi trường.

Nhàn về Mỹ ở với Hải, cô từ từ khám phá ra đây là một cuộc hôn nhân không thể gọi được là “May mắn” như cô nghĩ. Hải bắt đầu không thích thằng bé, anh coi nó như một chướng ngại vật giữa cô và anh, Hải cũng bắt đầu để lộ cho cô thấy cuộc hôn nhân này không hoàn toàn dựa trên tình yêu mà thực sự là một cuộc hôn nhân có tính toán.

Sau ba tháng đầu, Hải gọi cô ra nói:

- Anh già rồi, lại có bệnh tiểu đường, bị cao máu, làm thêm một, hai, năm nữa anh nghỉ hưu. Em phải đi học nghề. Em nên đi học làm Nail, nghề đó dễ, nhiều tiền. Khi em vững vàng rồi, anh sẽ về Việt Nam sống hưu, anh có lương hưu và mỗi tháng em gửi thêm tiền về cho anh.

Anh ngưng một chút: - Em chắc phải gửi cho anh mỗi tháng một ngàn.

Cô còn đang ngớ người ra, thì anh nói tiếp rất rành mạch:

- Anh có công mang em và con sang đây, đó là một cách em trả ơn anh.

Cô há miệng ra kinh ngạc, nhưng cô ngậm ngay miệng lại, và hiểu cuộc đời mình thêm một ngã rẽ nữa. Cô biết Hải già hơn cô, nhưng trong hai năm đi, về, làm giấy bảo lãnh, anh chưa bao giờ cho cô biết là anh bị tiểu đường, bị cao máu. Trước đây ở quê nhà, cô vấp ngã, mẹ con cô có gia đình, có bạn bè nâng đỡ; sang đây, cô hoàn toàn cô độc, nhìn chung quanh, không một người thân, tiếng nước họ không biết, nghề nghiệp không, tiền bạc cũng không. Cô im lặng và làm theo chương trình Hải sắp đặt cho mình. Đi học làm thợ Nail và khi bắt đầu có tiền, cô phải khai báo cho chồng đầy đủ. Cô chịu khổ được, nhưng con cô còn bé quá, thằng bé đã biết thương mẹ, đã tập nói dối để mẹ không buồn. Cô thấy thương con đứt ruột.

Tuyết biết chuyện của Nhàn, cô ngửa mặt lên trời cười, nói:

- Chị thấy chưa, ở đời mình không lừa họ trước, mình sẽ bị họ lừa. Thôi chị có con nhỏ, thì chịu khó cắn răng lại, đợi năm năm thì li dị như em nè.

Mùa hè đang về, thằng bé sắp nghỉ học ở nhà một mình với cha ghẻ, cô lo sợ quá. Tối qua, cô đi làm về, thằng bé đã thủ thỉ bên tai mẹ. “Con muốn mùa hè này con được ở Gò Công với ngoại.”

Cô ôm con vào lòng, nghĩ đến bốn mùa hè nữa, bốn mùa hè ở nơi khác hẳn Gò Công, liệu mẹ con cô có qua được không?

Trần Mộng Tú
7/2010

Hai bài thơ của Trần Yên Hòa: Xuân Thì Em, Rừng Tím




Trần Yên Hòa


Xuân Thì Em

Anh gọi em từ nụ tầm xuân
Tơ nõn môi thơm cùng lá biếc
Gót nhỏ em đến trường mắt liếc
Tình theo qua hơi thở thật gần

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Thơ buồn của Lệ

Lê Phụng An


Hồi khuya ai nói với mình: “Anh ơi trăng đẹp, anh nhìn lên đi!”. Hồi khuya, ai nói, hồi khuya, tôi ra sân ngắm trăng, kìa, tưởng ai…Trăng đêm Mười Sáu tuổi người, ai Mười Sáu tuổi…gặp hồi khuya nao, bây giờ trời biển năm châu, con trăng Mười Sáu trên đầu tôi đây!

Miếng Đêm

Gửi người hay mất ngủ

Em cho anh thuê giấc ngủ của em
giấc ngủ yên bình từ đêm đến sáng
giấc ngủ có những giấc mơ không mầu
mơ đến rồi đi như mây lãng đãng

Em ngủ hộ anh bằng hai mắt em
mi mắt khép ngoan như những dòng thơ
kẻ một vạch dài vào đêm lặng lẽ
đêm như trang giấy mở ra tình cờ

Vườn Táo

Trần Mộng Tú


Buổi trưa, chồng tôi, gọi từ Sở về:

- Anh quên không nói với em, chiều nay 6 giờ, ông Bill mời mình sang nhà ông xay táo làm Apple juice. Em có muốn đi không?

Nghe lạ tai thật, ở giữa thành phố mà có pha xay táo làm nước lấy. Hấp dẫn như thế thì phải nhận lời chứ.

- Em đi, anh về sớm một chút, ăn cơm nhanh rồi mình đi.

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

7-7: Tưởng Niệm Nhất Linh

Diễn Đàn Thế Kỷ

"Nhà văn Nhất Linh vẫn hồ nghi Lịch sử, vì con người ngàn năm vẫn không thay đổi. Và trần gian chỉ có một giá trị là cái đẹp."

(25.7.1906 - 7.7.1963)

Nhân ngày giỗ nhà văn Nhất Linh năm nay, mời quý độc giả theo dõi một bài viết đặc biệt của nhà nghiên cứu văn học Đặng Tiến, "Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh". Bên cạnh đó chúng tôi làm một cuộc triển lãm nho nhỏ những họa phẩm của Nhất Linh, với bài viết của Thụy Khuê liên quan đến một bức họa của Nhất Linh "Theo dấu Nhất Linh đến Bourges", và một bài viết của chính Nhất Linh nói về trường hợp nào ông đã vẽ bức Cúc Xưa.

Nhất Linh là một người đa tài. Ngoài sự nghiệp lẫy lừng của ông về báo chí, về văn chương và về chính trị, ông còn chơi nhạc (thổi clarinette), sưu tầm hoa lan và vẽ tranh. Khi còn trẻ, khoảng vào năm 1925, ông có theo học trường Mỹ Thuật, nhưng được một năm thì bỏ. Bỏ trường Mỹ Thuật nhưng Nhất Linh không bỏ vẽ, nhất là khi bước chân vào nghề báo, ông đã liên tục vẽ nhiều minh họa cho hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với bút hiệu Đông Sơn. Rất tiếc chúng tôi không có phương tiện và thì giờ sưu tầm các tranh này, vì muốn thế phải tìm các số báo cách đây bảy tám mươi năm. Bức xưa nhất được "trưng bày" trên trang báo này là bức Chùa Cá được vẽ ngày 19 tháng 3 năm 1945, sau đó là một số ký họa vẽ trên đất Pháp khi ông phải đi chữa bệnh tại đó năm 1954. Ông có một số tranh vẽ tại Đà Lạt như bức lan Thanh Ngọc vào năm 1957, và cảnh đồi núi tại đây 1958. Và đợt sau cùng là thời gian ông trở lại nghiệp làm báo, ông vẽ bìa cho tờ Văn Hóa Ngày Nay, năm 1958.

Nhà nghiên cứu Đặng Tiến có viết: "Nhà văn Nhất Linh vẫn hồ nghi Lịch sử, vì con người ngàn năm vẫn không thay đổi. Và trần gian chỉ có một giá trị là cái đẹp." May mắn cho chúng ta là ngoài những vẻ đẹp trừu tượng được ông mô tả trong văn chương, ông còn đủ tài hoa để thể hiện vẻ đẹp hình thể trong các bức họa của ông.


Diễn Đàn Thế Kỷ

Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh

Ðặng Tiến

(Tiếp theo và hết)

Nhất Linh yêu cuộc sống như yêu một nhân vật thân thiết, khi biết rằng sắp mất, hay yêu một tình nhân vì biết rằng sắp sửa phải xa nhau. Trong một trần gian không trọn vẹn, Nhất Linh tìm yêu những giấc mơ dang dở. Nhất Linh tạo một quan niệm hạnh phúc vừa tầm với kiếp người. Quan niệm đó bắt nguồn từ căn bản thực tế và bình dị trong tư tưởng dân gian Việt Nam, pha một ít huyền giải của Lão Trang; và không theo cái siêu việt, khô khan và tàn nhẫn của đạo giáo xem cuộc sống ngang với cõi chết. Nhất Linh bình thường và nhân đạo hơn, vẫn quý cuộc sống hơn hư vô, cho dù không tỏ ra say mê và tha thiết.

Cúc Xưa

Nhất Linh


Mấy bông cúc này tôi vẽ cách đây đúng 12 năm (1948) và lại đúng vào năm Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long mất. Chậu cúc này do chính tay Hoàng Đạo mua về để bày tết, trang hoàng một gian nhà tiều tụy ở một làng hẻo lánh Quảng Đông, nơi mà hai anh em, sau việc Bảo Đại ký kết hiệp ước Bolaert, rút lui về để nghiên cứu một lý thuyết quốc gia khả dĩ tập trung được hết thảy các khuynh hướng rời rạc trong hàng ngũ chống cộng. Năm ấy công việc nghiên cứu đương tiếp tục thì cái chết đột ngột của Hoàng Đạo làm gián đoạn.

Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh

Đặng Tiến


Nhớ Vũ Khắc Khoan, người đi trước


- Trời muốn trở rét...

Nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy. Sự rung động êm ái và hiu hắt buồn trước cơn gió lạnh đầu tiên khiến vẻ mặt Trúc trở nên dịu dàng và thoáng trong một giây chàng sống lại hết cả những ngày mới trở rét trong đời.

(...)Tuy đã cuối tháng chín nhưng đối với Trúc cứ lúc nào trời đổi gió heo may mới thực là lúc bắt đầu mùa thu (1).

Triển lãm: "Phòng tranh Nhất Linh"


"Nhất Linh là một người đa tài. Ngoài sự nghiệp lẫy lừng của ông về báo chí, về văn chương và về chính trị, ông còn chơi nhạc (thổi clarinette), sưu tầm hoa lan và vẽ tranh. Khi còn trẻ, khoảng vào năm 1925, ông có theo học trường Mỹ Thuật, nhưng được một năm thì bỏ. Bỏ trường Mỹ Thuật nhưng Nhất Linh không bỏ vẽ, nhất là khi bước chân vào nghề báo, ông đã liên tục vẽ nhiều minh họa cho hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với bút hiệu Đông Sơn." - DĐTK

Theo dấu Nhất Linh đến Bourges

Thụy Khuê


Một ngày thứ bẩy, đầu tháng năm, đâu quãng mùng mười thì phải, Paris oi bức, ồn ào, bụi bậm, mệt, chán, thứ mệt chán tâm thần từ trong thấm ra, tôi rời RFI về nhà. Một phong bì đến từ Seattle đợi ở phòng khách. Mở ra là một bức tranh, của ai, bạn có biết không? Của Nhất Linh do Nguyễn Tường Thiết gửi tặng. Tranh vẽ Cathédrale de Bourges, 16/9/54. Nhất Linh ký. Mọi mệt mỏi, chán nản tiêu tan. Nét vẽ và nét chữ của hai cha con như một phép lạ thổi tan phiền muộn. Anh Thiết viết mấy dòng: "... tôi gửi chị bức vẽ này trong trăm vàn cái đẹp của ông..."

QUAN NIỆM VỀ BIỂN CẢ CỦA TRUNG HOA DƯỚI HAI TRIỀU MINH & THANH (3)

Chính sách đối với Nam Dương [tức biển đông của nước ta và phía nam]

Khi vua Ung Chính lên ngôi, ông đã khẳng định rằng “việc cấm ra ngoài biển chỉ có thể nghiêm nhặt hơn chứ không thể thả lỏng, ngoài ra không có cách nào khác”.[24] Về sau, tuy triều đình có bớt đi phần nào nhưng vẫn tuyệt đối phòng ngừa việc “cấu kết với bên ngoài” để lật đổ nhà Thanh, những ai đã đi ra thì không thể nào quay trở về được nữa. Năm 1740, người Hà Lan giết hàng vạn Hoa kiều tại Batavia, tin truyền đến Trung Hoa nhưng vua Càn Long cho rằng đây là “những kẻ đã chống lại lệnh của triều đình, đáng bị chính pháp, ra ngoài có chuyện gì thì tự mà lo lấy”.[25] Cuối đời Càn Long, những ai trở về sinh sống ở trong nước tuy không bị xử tử như ngày trước nhưng lại bị đày đi xa, vào sâu trong đất liền ở núi non, sa mạc.

Ðể việc kiểm soát buôn bán thêm hữu hiệu, Thanh đình mở thêm bốn thương khẩu ở Quảng Châu nhưng vẫn tuyệt đối không cho các thuyền buôn ghé vào các cửa biển khác. Năm Càn Long thứ 24 (1759), nhà Thanh ban bố “Phòng Di Ngũ Sự” cấm thuyền buôn Tây phương không được ở lại qua mùa đông, những ai đến Quảng Ðông phải sống biệt lập tại các dương hãng [nơi qui định cho người Tây phương], cấm không cho thuê mướn, vay mượn ... Người Anh nhiều lần xin xét lại những điều kiện nghiêm nhặt ấy nhưng không thành công.
Năm 1792, Anh hoàng lại cử một phái đoàn do bá tước Macartney cầm đầu sang thương lượng để mở sứ quán, khai phóng thêm một số cửa khẩu ở Chu San, Ninh Ba, Thiên Tân ... nhưng cũng không đạt được kết quả nào. Vua Càn Long lại ra lệnh bất cứ thuyền buôn nào lảng vảng đến gần các hải khẩu đều phải trục xuất ra biển, không cho lên bờ, kẻ nào chống lại sẽ dùng võ lực đối phó.[26]

Nói là thế, hải quân nhà Thanh rất kém cỏi, thiếu trang bị, tập luyện nên vấn đề hải phòng chủ yếu là ngăn chận dân chúng không cho ra biển chứ không phải ngăn ngừa ngoại xâm. Những ai theo thuyền ra ngoài buôn bán đều bị hạn chế thời gian, kiểm tra chặt chẽ, ngay cả từ vùng này sang vùng khác cũng bị ngăn cấm.

Sau chiến tranh nha phiến, triều đình Trung Hoa ý thức được sự kém cỏi trên phương diện quân sự là vì tham nhũng và kỹ thuật lạc hậu. Tuy nhiên, vì việc canh tân trên mặt biển đòi hỏi thời gian và tiền bạc, Thanh triều lui về chiến lược cố hữu là gia tăng lực lượng địa phương, nếu cần sẽ dụ địch vào đất liền để tiêu diệt theo nguyên tắc rút lui để phòng ngự (retrograde defence). [27]

Theo một sĩ quan Anh nhà Thanh thuê để huấn luyện thuỷ thủ và chỉ huy chiến hạm [có tên là Dương Vụ năm 1870] thì ông ta rất thất vọng về lối tổ chức và sinh hoạt trên tàu và quân Tàu “chỉ giản dị là một đám người ô hợp có trang bị nhưng không có kỷ luật”.[28]

Tới cuối thế kỷ XIX, Lý Hồng Chương, tổng lý Bắc dương quân thành lập thêm nhiều lữ đội phòng thủ tại các hải cảng chiến lược và dọc theo bờ biển. Ông cũng xây dựng những học hiệu quân sự để đào tạo sĩ quan nhưng nặng về canh tân vũ khí mà thiếu hẳn huấn luyện về chiến lược phòng ngự. Do đó, khi các hạm đội Trung Hoa đụng độ với hải quân Nhật Bản [1894-1895], họ đã thất bại nặng nề và hầu như toàn bộ lực lượng bị tiêu diệt.

KẾT LUẬN
Trong hơn năm trăm năm của hai triều đại Minh và Thanh, người Trung Hoa hoàn toàn không coi biển cả là một khu vực cần chinh phục và khai thác, nếu có đưa quân ra biển đều vì lý do phòng thủ hơn là bành trướng.
Ðến gần đây, để yểm trợ cho tuyên bố về chủ quyền tại một số khu vực ngoài khơi, chính quyền Trung Hoa đã thổi phồng những chuyến đi của Trịnh Hoà hồi đầu thế kỷ XV thành những chuyến thám hiểm vô tiền khoáng hậu. Sau khi chiếm đóng Ðại Lý [Yun-nan Tai polities], nhà Minh đưa một lực lượng viễn chinh khổng lồ xuống phương nam. Tuy lúc đầu họ thành công trong việc xâm lăng nước ta nhưng cuộc chiến đấu bền bỉ của người Việt [1418-1428] không những chấm dứt cuộc đô hộ lần thứ hai của người Hán mà còn làm tiêu tan chủ trương thực dân vừa manh nha đối với các nước chung quanh nên các kế hoạch viễn du của họ phải chấm dứt.[29]

Từ thế kỷ XV trở về sau, biển cả chỉ còn là một thuỷ đạo để các thương thuyền qua lại mua bán và mặc nhiên coi như các phiên thuộc có nhiệm vụ phải bảo đảm an toàn cho các thông lộ này. Không hiếm những lần Thanh triều gửi thư trách cứ triều đình Việt Nam về việc hải phỉ hoành hành hay cho cướp biển chạy vào nương náu.

Kể từ giữa thế kỷ XIX, khi đã nhường cho nước ngoài một số lãnh địa, triều đình Trung Hoa hoàn toàn phó mặc cho Tây phương bảo đảm an toàn hải vực phía nam. Khi người Pháp chiếm Ðông Dương làm thuộc địa, việc phân định trách nhiệm trên biển lại sang tay người Pháp. Khi Việt Nam được độc lập, Trung Hoa nhân cơ hội hai miền Nam Bắc có chiến tranh nên ra tay chiếm đoạt một số hải đảo ở biển Ðông. Sự thiếu liên tục về chủ quyền quốc gia đã khiến cho tranh cãi về các đảo ngoài khơi thêm gay gắt, chủ yếu cũng vì quyền lợi chiến lược và kinh tế.

Trong một trăm năm qua, khi kỹ thuật hàng hải và thăm dò tài nguyên của nhân loại đã lên cao, tranh chấp hải dương càng lúc càng trở thành một vấn đề cho những quốc gia tiếp cận với biển cả. Theo chiều hướng đó, quyền lợi kinh tế cộng với tham vọng chính trị của Trung Hoa đã đưa đến những phức tạp mới ở biển đông, ra ngoài tầm kiểm soát của một quốc gia và chỉ có thể giải quyết trên căn bản thiện chí, tương nhượng và đồng thuận trên toàn khu vực.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Clements, Jonathan. Coxinga and the fall of the Ming Dynasty. Phoenix Mill: Sutton Publishing, 2005.
2. Diêu, Gia Văn (姚嘉文). Thập Cú Thoại Ảnh Hưởng Ðài Loan (十句話影響台 灣). Ðài Bắc: Chính Trung Thư Cục, 2003.
3. Konstam, Angus. The History of Pirates. The Lyons Press, 1999.
4. Mã, Ðại Chính (馬大正) (chủ biên). Trung Quốc Biên Cương Kinh Lược Sử (中國邊彊經略史). Trịnh Châu: Trung Châu Cổ Tịch xb xã, 2000.
5. Murray, Dian H. Pirates Of The South China Coast 1790-1810. Calif.: Stanford University Press, 1987.
6. Neumann, Charles Fried. Tĩnh Hải Phân Ký (靖海氛記) Translations from the Chinese and Armenian. London: Oriental Translation Fund, 1831 (reprinted by Elibron Classics, 2005)
7. Oxnam, Robert B. Ruling from Horseback: Manchu Politics in the Oboi Regency, 1661-1669. Chicago and London: The University of Chicago Press, 1975
8. Phasuk, Santanee và Philip Stott. Royal Siamese Maps: War and Trade in Nineteenth Century Thailand. Bangkok: River Books, 2004.
9. Stuart-Fox, Martin. A Short History of China and Southeast Asia: Tribute, Trade and Influence. NSW Australia: Allen & Unwin, 2003.
10. Tien, Chen-Ya. Chinese Military Theory, Ancient and Modern. Oakville, Ontario: Mosaic Press, 1992.
11. Trương Vĩ (張煒), Phương Khôn (方堃). Trung Quốc Hải Cương Thông Sử (中國海疆通史). Trịnh Châu: Trung Châu Cổ Tịch xb xã, 2003
12. Vương, Nhật Căn (王日根). Minh Thanh Hải Cương Chính Sách dữ Trung Quốc Xã Hội Phát Triển (明清海疆政策与中国社会发展) Phúc Châu: Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã, 2006.
13. Wade, Geoff. “The Zheng He Voyages: A Reassessment”. Asia Research Institute, National University of Singapore, Working Paper Series No. 31 (October, 2004)
_________________
[1] Trước thế kỷ XIX, chủ quyền các hải đảo ngoài khơi biển Ðông không được đặt ra vì nước ta hoàn toàn có ưu thế kinh tế so với các quốc gia khác nên không hề có sự tranh chấp mặc dù việc qua lại hầu như bỏ ngỏ. Nếu có thuyền bè nào từ Trung Hoa xuống Nam Dương [tức vùng Ðông Nam Á] thì đều là thuyền buôn đi theo những thuỷ lộ nhất định. Trong khi đó, thuyền bè ở miền trung Việt Nam theo mùa lại ra các hải đảo để khai thác sản vật đem về bán kiếm lời [hoặc do triều đình sai đi để thu hoạch]. Việc khai thác hải sản ở biển đông hầu như là độc quyền của người Việt Nam.
[2] John K. Fairbank (ed.), The Chinese World Order, 2nd ed. (Mass.: Havard University Press, 1970) “A primilary framework” tr. 2
[3] ngư dân sống luẩn quẩn trên thuyền nên không có điều kiện phát triển về tiếng nói, lễ nghi ... có khi anh em, cha mẹ, con cái lấy lẫn nhau nên bị khinh rẻ. Người Trung Hoa còn tưởng rằng “thuỷ thượng nhân” chân tay có màng như chân vịt nên bơi lội giỏi.
[4] Riêng đảo Hải Nam [Quỳnh Châu] vì sát với nội địa nên được sử dụng như một vùng đất để lưu đầy những người phạm tội.
[5] Nhiều cuộc chiến trước đây được coi là bảo vệ đất nước, nay chỉ còn là xung đột địa phương chẳng hạn như Nhạc Phi không còn là anh hùng dân tộc nữa mà là một quân sự gia, một trung thần của Tống triều đem quân đánh với nước Kim [Mãn Châu], cũng là một bộ phận dân tộc của Trung Quốc.
[6] 海外為不征之國 – hải ngoại vi bất chinh chi quốc
[7] Diêu Gia Văn, Thập Cú Thoại Ảnh Hưởng Ðài Loan (Ðài Bắc: Chính Trung Thư Cục, 2003) tr. 25-26
[8] Hải Phòng Cấm Chỉ Lệnh Ðiều Lệ (海防禁止令條例) Diêu Gia Văn, sđd. tr. 27
[9] thuyền của Trung Hoa giống như một cái máng lớn [cho súc vật ăn], gọi là “tào thuyền” [tào là cái máng] nên người Trung Hoa sang Việt Nam chúng ta quen gọi là người Tàu.
[10] Diêu Gia Văn, sđd tr. 33
[11] tất thiên hải biên cư dân ư nội địa, ly hải tam thập lý, thôn trang điền trạch, giai phần khí chi. Thượng tự Liêu Ðông, hạ chí Quảng Ðông giai thiên đồ, trúc viên tường, lập giới thạch, bát binh nhung thủ. Xuất giới giả tử. Bách tính thất nghiệp lưu ly, tử vong giả dĩ ức vạn kế.
悉遷海邊居民於内地,離海三十里。村莊田宅,皆焚棄之。上自遼東,下至廣東皆遷徒,築垣檣,立界石,撥兵戎守。出界者死。百姓失業流離,死亡者以億萬計。Hải Thượng Kiến Văn Lục trích từ Ðài Loan Tỉnh Thông Chí Ðại Sự Ký, Diêu Gia Văn, sđd. tr. 33
[12] Ðài Loan Lịch Sử Văn Hiến Tùng San: Thanh Sơ Hải Cương Ðồ Thuyết, (Ðài Bắc: Ðài Loan Văn Hiến Uỷ Viên Hội, 1996) tr. 5
[13] ... xưng thần phụng cống tịnh khiển tử nhập kinh vi chất ... nghiễm như Mông Tạng phiên bộ chi lệ
称臣奉贡并遣子入京为质 ...俨如蒙藏藩部之例
[14] trích lại theo Trung Quốc Biên Cương Kinh Lược Sử, tr. 277
[15] Năm 1666, Oboi [Ngao Bái], phụ chính đại thần triều Khang Hi đã gửi thư trách nước ta dung túng cho hải phỉ và đe doạ sẽ gây chiến nến không bắt và giao cho họ những đầu đảng cướp biển quây phá Hoa Nam. Robert B. Oxnam, Ruling from Horseback: Manchu Politics in the Oboi Regency, 1661-1669 (Chicago and London: The University of Chicago Press, 1975) tr. 154-5
[16] Quan điểm của Thanh đình với Ðài Loan cũng gần giống như luận điểm của họ khi ký hoà ước Thiên Tân nhường Việt Nam cho Pháp, nại cớ nước ta là phiên thuộc của họ. Khi không bảo vệ được quyền lợi của nước nhỏ thì họ sẵn sàng đánh đổi để có một số quyền lợi. Thái độ của quan lại nhà Thanh đưa đến việc người Pháp phải nhường cho họ một số khu vực ở biên giới phía bắc nước ta trong hiệp ước Pháp – Thanh.
[17] 台灣鳥不語,花不香. Diêu Gia Văn, sđd. tr 59
[18] Chi tiết này tuy nhỏ nhưng đã có hậu quả rất quan trọng trong chính sách của nhà Thanh với Tây Sơn. Khi người Mãn Thanh chinh phục được Trung Hoa, một trong những điều luật là tất cả thần dân đều phải cạo đầu, thắt đuôi sam để biểu lộ quyền hành tuyệt đối của họ đối với người Hán. Không chịu cắt tóc coi như phản loạn chống lại triều đình và bị kết án tử hình. Ðó là lý do tại sao nhà Thanh rất nghiêm khắc đối với những ai bỏ nước ra bên ngoài sinh sống và không can thiệp vào những vụ thảm sát dân Trung Hoa qui mô ở Phillippines, ở Gia Ðịnh ... Việc cho phép các thành phần hải phỉ gia nhập quân đội của ông được để tóc dài đã được chúa Nguyễn sử dụng như một chứng cớ cụ thể về hành động chống đối nhà Thanh của triều đình Tây Sơn khi Nguyễn Ánh xin phong vương, đồng thời giúp nhà Thanh phủi tay với triều đình Cảnh Thịnh – Bảo Hưng. Chi tiết này cũng được khai thác trong mục tiêu chính trị để phủ nhận giao tình giữa vua Quang Trung và vua Càn Long.
[19] Chúng tôi ngờ rằng đô đốc Bảo được ghi nhận trong một số chiến dịch của Tây Sơn – kể cả trận đánh quân Thanh – chính là ông này. Tuy chưa có tài liệu đích xác, xin ghi lại để tồn nghi.
[20] Murray, Dian H. Pirates Of The South China Coast 1790-1810 (Calif.: Stanford University Press, 1987), tr. 36
[21] Viên Vĩnh Luân (袁永綸) đã tổng hợp việc đánh dẹp hải phỉ trong Tĩnh Hải Phân Ký (靖海氛記) (ấn hành Ðạo Quang thứ 10, 1837) đề cập đến việc nhà Tây Sơn sai hải thuyền sang cướp phá vùng duyên hải nam Trung Hoa. Những chi tiết đó nhiều phần không chính xác cốt để giành lấy công lao cho quân Thanh. Thực tế, nhà Thanh không bao giờ có khả năng đối phó với cướp biển và triều đình Tây Sơn cũng không có lý do gì để giả danh sang đánh phá Trung Hoa. Trong suốt thời kỳ Tây Sơn, vua Quang Trung [và sau này vua Cảnh Thịnh] luôn luôn tôn trọng cương giới, hải phận và việc kiểm soát biển đông nằm trong chiến lược an ninh chung phân định giữa Trung Hoa và Ðại Việt thời kỳ đó.
Sau khi nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh tiêu diệt, các nhóm tàn quân của Tây Sơn còn lưu lạc trên biển tiếp tục hoạt động để mưu cầu việc khôi phục [nhiều lần đánh vào các tỉnh ven biển miền bắc, kể cả một lần đánh vào Phú Xuân] và vẫn giữ những qui luật nghiêm minh bao gồm 1) tuyệt đối không được lên bờ [đề phòng nhũng nhiễu], lần đầu vi phạm bị cắt tai, lần thứ nhì xử tử 2) tuyệt đối không chiếm làm của riêng những gì thâu đoạt được mà phải giao nạp, sau đó được hưởng 2/10, 8/10 thuộc về tài sản chung, vi phạm bị xử tử 3) tuyệt đối không được gian dâm phụ nữ, ép buộc đàn bà con gái làm vợ, vi phạm sẽ bị xử tử. (bản dịch Tĩnh Hải Phân Ký của Charles Fried Neumann, tr. 13-4)
[22] Konstam, Angus. The History of Pirates. The Lyons Press, 1999 tr. 168-9
[23] Charles F. Neumann, sđd. tr. 14-5
[24] hải cấm ninh nghiêm vô khoan, dư vô thiện sách 海禁寧嚴毋寬,餘無善策 [châu phê trên sớ của Khổng Dục Tuần, ngày mồng 9 tháng 10, Ung Chính thứ 2]
[25] Mã Ðại Chính, Trung Quốc Biên Cương Kinh Lược Sử (2000) tr. 289
[26] Trung Quốc Biên Cương Kinh Lược Sử, tr. 295
[27] Chủ trương này được khai triển trong một tác phẩm của Nguỵ Nguyên [魏源] nhan đề Hải Quốc Ðồ Chí [海國圖志] ấn hành năm 1842.
[28] Chen-Ya Tien, Chinese Military Theory: Ancient and Modern (Ontario: Mosaic Press, 1992) tr. 86-7
[29] Giáo sư Geoff Wade của Viện Nghiên Cứu Á Châu thuộc đại học quốc gia Singapore [National University of Singapore] đã viết:
The Ming invasion of Ðại Việt is perhaps the most obvious example of a colonial adventure. There was invasion, occupation, the imposition of a military and civil administration, economic exploitation and domination by a court in the capital of the dominating power. The obvious decolonisation which occurred following the failure of this enterprise underlines its colonial natures.
Việc quân Minh xâm lăng Ðại Việt có lẽ là thí dụ rõ ràng nhất của một phiêu lưu thực dân trong đó bao gồm đủ cả xâm lược, chiếm đóng, thiết lập một hệ thống hành chánh dân sự lẫn quân sự, khai thác tài nguyên kinh tế và do một triều đình từ kinh đô của lực lượng thống trị chỉ đạo. Ðường lối đó tan rã ngay sau khi mô hình kể trên thất bại càng làm cho bản chất thực dân của họ thêm hiển hiện.
Asia Research Institute: Working Paper Series No. 31, October 2004: The Zheng He Voyages: A Reassessment

1    2    3