Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn nguyễn tường thiết trong bóng rợp của cha. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn nguyễn tường thiết trong bóng rợp của cha. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Nguyễn Tường Thiết: Viết, trong bóng rợp của người cha

Nhất Linh thời còn trẻ
“Một lần. Buổi trưa. Lâu rồi. Mẹ tôi ngồi nhặt cau trên sập gụ. Tôi nằm ngửa bên cạnh bà, hai tay cầm giơ trước mặt cuốn truyện Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Đọc đến đoạn cảnh mẹ chồng ác nghiệt với con dâu, tôi nhỏm dậy hỏi mẹ tôi: “Mợ này, mợ có phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu như cậu tả trong truyện không?”. Mẹ tôi ngửng lên nhìn tôi nói: “Đấy là cậu viết tiểu thuyết... Bà nội con có khó tính thật nhưng đâu đến nỗi khắc nghiệt thế...”. Rồi mẹ tôi tiếp tục nhặt cau.”

Trên đây là phần đầu của hồi ký nhan đề “Bà Cẩm Lợi” tôi viết về mẹ tôi, bà Nhất Linh. Tôi rất tâm đắc bài viết này, đặc biệt là câu mở đầu “Một lần. Buổi trưa. Lâu rồi” mà tôi cho là một lối hành văn mới mẻ. Viết xong, vì muốn khoe bà chị, tôi in bản thảo gửi ngay cho chị Thoa ở bên Pháp đọc trước khi đăng trên tạp chí. Ít lâu sau tôi nhận được điện thoại của chị. Chị chê tôi: “Em không biết viết văn. Câu văn thì phải có chủ từ, phải có động từ; em không thể viết hai chữ “Một lần” rồi chấm ngang xương được. Chị có quen một bà bạn dậy Việt văn, chị đề nghị để bạn chị sửa lại bài ấy trước khi em cho đăng báo.” Rồi chị nói thêm: “Em phải học lối viết của cậu thì văn mới hay được.”

Chị tôi nói thế nhưng tôi không giận chị. Trái lại tôi yêu chị Thoa của tôi hơn vì câu nói thể hiện cái tính thật thà chơn chất nó làm nên con người chị.

Chị Thoa bây giờ không còn nữa. Có thể chị đã được gặp lại cha tôi ở bên kia thế giới như chị từng mong ước khi chị còn sống. Và có thể chị đã thuật lại quãng đời sau này của chúng tôi cho cha tôi nghe. Ông nghĩ sao khi được biết, qua lời chị kể, nửa thế kỷ sau khi ông mất, tôi đã trở thành “một nhà văn không biết viết văn”.

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Ga Thạch Long

Tranh hoa cúc do Nhất Linh vẽ, với chú thích của Nhất Linh ở mặt sau: "Tranh hoa cúc này tôi vẽ năm 1948, đúng năm Hoàng Đạo mất. Chậu cúc này do chính tay Hoàng Đạo mua về để bầy Tết, trang hoàng một gian nhà tiều tụy ở một làng hẻo lánh Quảng Đông…"

Thạch Long là tên một thị trấn ở bên Tàu, nằm bên con đường sắt Quảng Châu - Hồng Kông, nơi chú Long tôi, nhà văn Hoàng Đạo, đã gửi nắm xương. 

Năm chú Long mất tôi còn bé. Tôi không có một kỷ niệm nào với chú. Tôi không biết gì về chú ngoài những kiến thức mà bất cứ một học sinh nào của miền Nam cũng phải biết khi học về Tự Lực Văn Đoàn. Ngay cả truyện của chú tôi cũng lười đọc. Đời chú thế nào tôi không mấy quan tâm. Thế nhưng cái chết và trường hợp xung quanh cái chết của chú thì khác. Nó ám ảnh tôi đã từ lâu, có lẽ từ những ngày tôi còn bé. Không hiểu vì sao mà cứ hễ nhắc đến chú Long thì óc tôi lại thoáng hiện lên hình ảnh ga Thạch Long. Trong trí tưởng tôi nó luôn luôn là một nhà ga buồn cô quạnh bên một con đường sắt ở một chốn nào rất là xa xôi. 

Năm mươi năm trước ngày 22 tháng 7 năm 1948 chú tôi đã gục chết vì bệnh tim nghẽn trên một chuyến xe hoả đi từ Hồng Kông đến Quảng Châu. Khi con tàu ngừng ở một nhà ga sau đó xác chú tôi được mang xuống đặt tại nhà quàn và được chôn cất vài hôm sau trong một mộ địa gần ga. Tôi được nghe chú Bách tôi kể lại ngày chôn cất là một buổi chiều trời mây u ám một nhóm người lặng lẽ theo sau quan tài. Trong số có cha tôi, có chú Bách và ông Vũ Hồng Khanh. 

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Nguyễn Tường Thiết: Đôi kỷ niệm với Nhật Tiến

Mặc dù tên tuổi Nhật Tiến gắn liền với tên tuổi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, nhưng trái với nhiều người nghĩ tôi hầu như không quen biết nhà văn Nhật Tiến.

Tôi chỉ gặp anh đúng hai lần trong đời, do tình cờ. Hai lần ấy cũng xa lắm rồi. Một lần khi cha tôi còn sống tôi gặp anh bàn về một truyện ngắn của anh đăng trên báo Văn Hoá Ngày Nay, và một lần ngay sau khi thân phụ tôi mất anh là một trong vài ba người đọc điếu văn trước linh cữu cha tôi khi hạ huyệt.

Đám tang Nhất Linh


Tôi biết tới bút danh Nhật Tiến là vào năm 1958 khi tôi đọc truyện ngắn “Đôi Guốc Trắng” của anh đăng trên giai phẩm Văn Hoá Ngay Nay tập 2 do cha tôi chủ trương. Tôi rất thích truyện này, mặc dù cốt truyện chẳng có gì ngoài mấy nét tả cảnh đơn sơ, nhưng nó bắt chúng ta theo dõi vết chân đi của một cô gái, trong một vườn chuối, trên một lối cát ra sông, dẫn đến một đôi guốc trắng bỏ không nằm trên lòng cát mịn, đôi guốc chẳng bao giờ có người đi, bởi vì sáng hôm sau...

Truyện có cái kết bỏ lửng, ngay sau ba dấu chấm đó. Tha hồ mà độc gỉa tưởng tượng số phận của cô thiếu nữ mang đôi guốc trắng.

Vài năm sau tôi tình cờ gặp tác gỉa “Đôi Guốc Trắng”. Hôm đó có việc tôi ghé nhà in Trường Sơn số 14 đuờng Nguyễn An Ninh Sài Gòn, nơi cha tôi thường hay lui tới vì đó cũng chính là nhà của cô chú Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh. Lúc này giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay đã đình bản và địa điểm này là toà soạn của tập san Tân Phong do cô chú Sơn, Vinh chủ trương. Lúc tôi đến thì cô Nguyễn Thị Vinh và anh Nhật Tiến đang nói chuyện ở nhà dưới. Sau khi được cô Vinh giới thiệu anh Nhật Tiến tôi nói với anh là tôi rất thích truyện ngắn Đôi Guốc Trắng của anh, chỉ tiếc rằng truyện ấy ngắn quá, giá mà nó dài dài thêm một chút thì thích hơn. 

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

Trùng Dương: Chủ bút, người là ai?

Nhân chủ bút Phạm Phú Minh của Diễn Đàn Thế Kỷ thông báo nghỉ hưu ở tuổi đã-quá-tuổi-hưu 85, tôi đi tìm một tấm thiệp để gửi chúc mừng anh. 

Giá còn vẽ đượcbây giờ thú thật là đến viết, mấy ngón tay vốn quen với bàn máy chữ điện toán đã không còn nghe lời mình nữa, nói chi vẽ!thì đã vẽ cho anh một tấm thiệp. Tôi lục trên Internet và bắt gặp bức hình bên dưới trong khi nghĩ tới bài viết gần đây của anh Nguyễn Tường Thiết trên Diễn Đàn Thế Kỷ, trong đó anh tuyên bố, rất chân thành, là nếu không có Phạm Phú Minh thì không có Nguyễn Tường Thiết nhà văn.


“Xin cám ơn anh đã có công khai sáng điều tốt đẹp nhất nơi chúng tôi!”
(Ảnh holidappy.com, Pixabay)

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Phạm Phú Minh - Tĩnh lặng, khói hồ bay


Phạm Phú Minh

Tập thơ Khói Hồ Bay là chứng tích của một người làm thơ từ giữa thập niên của tuổi hai mươi cho đến tuổi bảy mươi – suýt soát nửa thế kỷ, từ khi tóc còn xanh đến lúc đầu bạc trắng. Không cần biết cuộc đời, sự nghiệp tác giả, chỉ cần đọc những dòng thơ liên tục từ tuổi thanh niên đến tuổi lão thành, người ta cũng có được chân dung tinh thần và tình cảm của một con người, của một đời người. Đó là một lộ trình đáng kể mà không phải ai cũng có khả năng tạo ra và để lại, như Nguyễn Tường Giang đã thực hiện hầu như suốt cuộc đời mình.



Thơ ông bắt đầu lên tiếng vào giữa thập niên 1960, tại miền Nam Việt Nam, khi ông đang là một sinh viên Y khoa. Bài thơ đầu tiên của tập thơ này là bài Căn Phần, viết cho những người thân yêu nhất trong gia đình là Mẹ và anh, chị, khi tác giả 25 tuổi. Giữa cái tuổi sung mãn tươi đẹp nhất của một đời người, người thanh niên đưa mắt nhìn về quá khứ nhớ lại tuổi thơ giữa thời loạn lạc, bà mẹ là một góa phụ phải bươn chải nuôi con
mẹ đã nuôi còn bằng giọt mồ hôi
những buổi tháng năm trời trưa nắng gắt
bữa cháo bữa cơm con sống làm người
bằng sáng tinh mơ mẹ đi gánh gạo
chợ xa hun hút nát gót chân thon
cơn gió mùa đông luồn manh áo rách

Rồi nhìn hiện tại, mình đã nên người tại miền Nam, nhưng trước mắt vẫn là cuộc chiến, một cuộc chiến có lẽ ông đã bắt đầu tham dự trong một cách thế nào đấy, nhưng lòng đầy nghi hoặc, đã gửi cho bà mẹ già một câu hỏi khó trả lời:
trước khi con nhắm mắt
cho tổ quốc dấu yêu
xin mẹ nói cho con được biết
kẻ thù của con mẹ là ai…

Sau khi hồi tưởng cái quá khứ đầy thương yêu và cũng đầy vất vả của người Mẹ trong khói lửa cuộc chiến tranh trước, bài Căn Phần là bước khởi hành đầy hoang mang với cuộc chiến trong hiện tại. Rất sớm, tác giả đã nhận ra tính chất phi lý của cuộc chiến tranh tại miền Nam, và nỗi thao thức này sẽ theo tác giả cho đến lúc cuộc chiến kết thúc.

Không có ý thức thì hẳn cũng không có thao thức. Nằm ngay trong lòng cuộc chiến, nhưng có lẽ tác giả sớm nhận ra đây là chỗ đụng độ giữa hai phe trên thế giới, và hai miền Bắc và Nam Việt Nam, rủi thay lại là hai tiền đồn của hai thế lực, từ đó người Việt Nam bắn giết lẫn nhau. Dù biện minh cách gì, đó cũng là một thực tế không thể chối cãi được. Miền Bắc sống dưới chế độ toàn trị của đảng cộng sản, mọi người khép chặt vào khẩu hiệu “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”, mắt bị bịt kín hai bên chỉ nhìn thấy một lối phải đi trước mặt, nhờ thế sức mạnh tập trung tối đa. 

Tại miền Nam, tuổi trẻ, nhất là lớp người có học, ý thức phân tán một cách tự do. Bình thường ra thì trung thành với thể chế quốc gia, tham dự cuộc chiến ngăn sức bành trướng của cộng sản để giữ miền Nam. Nhưng cũng có nhóm khác nhìn ra sự bất toàn của chế độ miền Nam, mong muốn tìm kiếm một đường lối xã hội công bằng tốt đẹp không cộng sản để làm vũ khí chống lại thứ ma túy của cuộc cách mạng vô sản thời bấy giờ đang quyến rũ nhiều nơi trên thế giới, kể cả lớp trí thức nhiều nước Tây phương. Nhóm khác thì quan niệm góp ngay sức trẻ để thực hiện liền trước mắt những cải cách xã hội và giáo dục. Nhưng luồn sâu bàng bạc không ít trong lớp trẻ là thái độ chống chiến tranh, chống sự hiện diện của quân đội Mỹ, thường hay tổ chức xuống đường chống đối này nọ, thực chất đây là kết quả tuyên truyền của phe cộng sản.
Theo dòng thi ca của Nguyễn Tường Giang trong nửa sau thập niên 1960, chúng ta có thể gặp đây đó một số thái độ. Rõ nhất là bài Bên Sông, viết tặng một số bạn cùng thời, có thể hiểu đó là một nhóm mang nhiều hoài bão có liên kết với nhau:
Lũ chúng ta tuổi trẻ ngang tàng
giữa thời tan tác
muốn mài thanh gươm bén
xây dựng cơ đồ
muốn hát khúc hành ca
mơ chuyện binh đao đi dựng nước
lòng tiêu dao mây nước
chợt thấy nhớ cố hương
mơ bóng Kinh Kha qua đất địch
trên bóng mù sương chẳng hẹn về
lòng cũng muốn đi
đạp đổ bất công nuôi chí lớn
thâu gồm thiên hạ
cờ bay Nguyễn Huệ rợp Hà thành
Nay còn ngồi đây
tám người tuổi trẻ

Họ có vẻ là một nhóm nặng về lập thuyết chứ không phải một đảng phái hành động, vì thời ấy không có hành động nào lọt qua được hai cỗ máy chiến tranh to lớn đang đối diện nhau nghiền nát đất nước. Và qua cảm hứng thi ca của một người trong nhóm ta cũng thấy rằng họ không thiếu lãng mạn. Lãng mạn như một nỗi cảm khái che giấu sự bất lực mà có lẽ họ biết rất rõ, là dù hoài bão có lớn bao nhiêu thì “tám người tuổi trẻ” – có thể chỉ là con số tượng trưng-- cũng không thể làm được việc đội đá vá trời giữa những thế và lực quốc tế đang hiện diện bao trùm Việt Nam giữa thời bấy giờ.

Quả thế, tâm trạng chán nản, phẫn chí xuất hiện ngày càng nhiều trong những bài thơ về sau, khi cuộc chiến ngày càng nặng nề, đánh tiêu đi cái cảm thức xây dựng trong lý thuyết lẫn sự mơ mộng của “chí lớn” ngày nào.

Chúng ta ngồi với nhau rất muộn
ở Đà Lạt hay Sài Gòn
bơ vơ như đôi chiếc là vàng
không chờ một ngày rơi rụng
một chút gia đình một chút anh em
rồi thôi rồi thôi rồi thôi cũng hết
đời chưa xế chiều vàng
mà trong tim đã lẻ loi nỗi chết
(Bằng Hữu)

Diễn tiến và tầm vóc của cuộc chiến ngày một vượt xa ra khỏi sức tưởng tượng và sự chịu đựng của người dân Việt Nam, đến độ ngay những người từ đầu chấp nhận ý nghĩa tự vệ của miền Nam trước sự xâm lấn của miền Bắc, cũng cảm thấy hoang mang. Đó là kết quả của sự quốc tế hóa cuộc chiến. Trong ý thức một số người, cuộc chiến này không thể định nghĩa được nữa:
Hỏi chi nữa anh ơi
súng đã cầm trên tay
bây giờ tôi phải giết

Như một người trong mơ
tôi cầm tay anh
anh lính yêu quý của tôi ơi
vì sao anh phải giết

Anh ôm mặt khóc
nó đã giết cha tôi
em tôi vừa tử trận
bạn tôi mới lìa đời

Hãy định nghĩa cuộc chiến này như thế
cuộc chiến của từng người

Hãy định nghĩa cuộc chiến này như thế
bên nào cũng thế thôi

Chiều hôm nay tôi buồn
Lang thang trên trận địa
Ôi cuộc chiến này vô nghĩa
Như chiếc lá vàng rơi
(Định nghĩa buồn)

Đó chính là sự bế tắc, càng ý thức thì càng bế tắc, giống như sự thua trận rồi sẽ đến với miền Nam. Tập thơ này của Nguyễn Tường Giang chính là một chứng tích của thái độ cùng sự biến chuyển tâm trạng của một người trẻ trí thức của miền Nam. Đọc thơ, chúng ta như đang lội trong chuyển biến của một dòng tâm tư, đã gặp nỗi ưu tư và hoài bão tích cực về đất nước, tiếp đó là thái độ phẫn nộ, rồi đến phản chiến. Lộ trình tâm thức đó đi đến ngày 30 tháng Tư 1975 là chấm dứt. 

Thanh niên miền Bắc, trong chế độ toàn trị khắt khe tuyệt đối của thời chiến, có lẽ tâm trạng không vướng mắc gì trong các chuyến xuôi nam, cho đến khi vào đến Sài Gòn thì ý thức mới chợt bùng vỡ: đó là hình ảnh của một Dương Thu Hương ngồi xuống lề đường ôm mặt khóc. Trong ý thức của người trẻ miền Bắc ấy, đây là thời điểm của sự dối trá hiện nguyên hình. Không chế độ toàn trị nào mà không dối trá, thậm chí đó còn là lẽ sống của chế độ.

Phương sách toàn trị đã thắng một xã hội tự do dân chủ. Sức mạnh tổng hợp của phía Bắc đã thắng sự tự do tản mác ở phía Nam. Đó là chiến thắng của một trận chiến tranh. Nhưng những bông hoa dân chủ ngày ấy của miền Nam đã kết hạt và rụng xuống nơi này nơi kia trên mảnh đất đó, và khi gặp đủ duyên thì nó sẽ nẩy mầm để mọc thành cây, và trên đất thua trận miền Nam sẽ nhờ đó mà sẽ mang những phẩm giá gây cảm hứng dân chủ cho cả dân tộc sau này.


*

Miền Nam sụp đổ, tác giả sang Mỹ ngay trong những ngày miền Nam hấp hối. Có lẽ vì trải qua những biến động quá lớn lao, rồi phải để tâm trí hội nhập vào đời sống mới, trong đó có việc đi học lại Y khoa tại Mỹ, Nguyễn Tường Giang chỉ cho chúng ta thấy những bài thơ của giai đoạn mới, giai đoạn “hậu chiến”, bắt đầu làm từ 1982. Với một khoảng trống trong vòng một thập niên với một môi trường và cuộc sống hoàn toàn thay đổi, bây giờ tâm trạng của nhà thơ khác trước nhiều. Cuộc chiến là một cái gì đã xong, đã xa. Hiện tại là cuộc sống trên xứ người với sinh hoạt tích cực của một y sĩ, nhưng đời sống nội tâm được thể hiện qua thi ca của ông vẫn là một khu vực riêng biệt hầu như hoàn toàn độc lập với thực tế bên ngoài. Thơ của giai đoạn này là thơ của ba thập niên liên tiếp nhau 1980, 1990 và 2000. Bạn bè là một chủ đề lớn xuyên suốt ba chục năm, gần như bài nào cũng là một mảng tâm sự nào đó trao đổi với bạn bè. Ở đây “bạn” là những cái “bè” để nhà thơ đặt lên đó đủ loại nỗi niềm của mình, nhiều nhất là nỗi nhớ cố hương còn rất đậm trong thời gian mới xa xứ, rồi tình yêu, kỷ niệm cũ, hoài bão xưa… những cái bè ấy trôi lênh đênh trong cái biển tâm thức sâu thẳm mịt mùng nhưng bất biến cùng năm tháng. Đúng, Nguyễn Tường Giang mang một tâm thức nhất quán từ trước tới sau, luôn luôn yêu thương, nhạy cảm với nhiều sự việc của đời, và rất thiết tha với mảnh đất quê hương mà mình đã rời bỏ. 

Điều mà người đọc thơ có thể lấy làm lạ, là trong thơ của ông, nỗi buồn luôn luôn hiện diện. Ngay trong lúc đón xuân:
Nghĩ lại năm xưa xuân hớn hở
bạn bè nhộn nhịp lòng như hoa
gặp nhau ngày trước ngày sau hẹn
chuyện vãn qua đêm nhà tiếp nhà

Nhớ xưa tụ họp nơi quán nhỏ
đốt mộng đổi đời khói thuốc bay
bạn vào rừng núi, tôi thành thị
thư gửi nhau bằng tiếng đạn bay

Xuân này ngó lại đầy bông tuyết
tóc trắng bay theo những mộng đời
bạn cũ, quê xưa nào đâu thấy
chỉ thấy quanh nhà tuyết lại rơi
(Xuân xưa)

Nguyễn Tường Giang là người di tản thành công. Tới Mỹ ngay năm 1975 với gia đình toàn vẹn, có thời gian và năng lực học lại Y khoa để xây dựng một đời sống vững vàng, nhưng khi chúng ta đọc bài thơ “Nằm trực trong nhà thương bỗng rất buồn” của ông thì mới hiểu rằng, đối với ông, sự thành công về đời sống không đủ để xóa đi nỗi buồn vẫn đi theo ông như một cái bóng. Nằm trực ở nhà thương mà cứ tưởng
Có phải ta nằm trong huyệt mộ
nghe tiếng thời gian vọng xuống mồ

Nguyên ủy của đám mây u ám không rời tâm tưởng ông, chính là sự bất như ý lớn nhất đời ông: không làm gì được cho quê hương như hoài bão, mà rốt cục phải xa quê để trôi giạt xứ người. Dù so với tình cảnh của một người đi vượt biên để tìm đến Hoa Kỳ thì ông đã có tất cả, có trên mong ước của họ xa lắm, nhưng ông không có được nỗi vui mừng của họ khi đã đến được bến bờ tự do, trái lại tâm hồn ông luôn nặng trĩu 
Trời hỡi hồn ta tan rữa mất
Củi mục lầm than giữa đất người
Có đám mây bay về cố quận
Mang dùm ta chút hận khôn nguôi.

Ông có cường điệu hóa tình cảm của mình không? Có thật trong lòng ông vẫn mang mối hận khôn nguôi? Nếu theo dõi tâm sự của ông từ khi còn trai trẻ giữa thập niên 1960 ở Sài Gòn, những mong ước và tranh đấu để góp phần xây dựng đất nước mà ông đã thực hiện với bạn bè,  những phẫn nộ và đau khổ của ông trước thảm khốc của cuộc chiến, thì tôi tin nỗi buồn của ông ngày nay là có thực. Không phải vì một xác tín bị tan vỡ -- trong thế giới ngày nay tôi không tin một điều xác tín về chính trị trong hoàn cảnh Việt Nam giữa thập niên 1960 có thể tồn tại mãi mãi trong lòng một người đã đến sinh sống ở Hoa Kỳ, trong bối cảnh một thế giới đang nhanh chóng đổi thay -- mà là vì cái kết cục 1975 đã mang lại quá nhiều bi thảm cho Việt Nam. Bản thân ông và gia đình đã thoát ra các điều bi thảm đó, nhưng tâm hồn ông không thoát, ông đã bị bao nhiêu mối nợ với đất nước quấn quít níu kéo khiến ông đau đáu một nỗi buồn không nguôi. Chúng ta hiểu vì sao trong mấy mươi năm ông chỉ biểu lộ nỗi buồn đó trong thơ của ông mà từ trước đến nay ông luôn coi là một chốn riêng tư, chỉ trao đổi với bạn bè thân thiết. 

Đất lạ, năm tàn, đôi chén rượu
ngẫm đời, buồn tủi, chán, đau thương
thân sống nhưng hồn nghe vất vưởng
ngàn dặm muôn trùng qui cố hương

Nỗi buồn hóa ra là điểm có lẽ chân thật nhất trong tâm hồn ông, ông nâng niu gìn giữ nó như một giá trị còn lại sau bao nhiêu dâu biển của cuộc đời. Nỗi buồn tồn tại như một phẩm hạnh của tâm hồn nhà thơ, nó xác nhận một cái gì bất biến nơi ông, trước những biến đổi cực kỳ lớn cho đời ông cũng như cho đất nước Việt Nam. Dù phải hoàn toàn làm lại cuộc đời nơi xứ lạ, phong tục tập quán và văn hóa cuộc sống chung quanh đều thay đổi, nhưng trong thâm tâm ông đã kết tinh một viên ngọc của yêu thương lẫn đau thương, một loại trái tim Trương Chi không bao giờ tan biến. Đó là chỗ đáng yêu và đáng phục nhất của tâm hồn Nguyễn Tường Giang, nằm ẩn một cách sâu xa và kín đáo trong tâm sự thi ca của ông. Nỗi buồn trong tâm can đó cho chúng ta biết rằng ông nhất quán với lịch sử, số phận, hay nói chung là với “căn phần” của mình.

Nhưng cũng trong ba thập niên tại hải ngoại, thơ Nguyễn Tường Giang đã mở ra những hướng mới, tuy là vẫn luôn trên cái nền tâm thức cũ. Ông đi vào với thiên nhiên, Thu Ở Vermont là một bài thơ đẹp, hòa lẫn màu rực rỡ của lá thu với lòng mình
Gió thổi lao xao thềm cỏ úa
rào rạt ngàn cây lá đổi màu
trên những sắc xanh sầu lá đỏ
quạnh hiu vàng rơi hồn mênh mông

Nhưng thảm lá ấy không tồn tại như một sự vật hoàn toàn khách quan, thi nhân nhìn màu của lá là liên tưởng ngay màu áo của “em” ngày nào, với một cuộc tình, dĩ nhiên,
Nhớ em áo đỏ vờn trong gió
nhớ em tóc mịn mềm mại bay…

Nhưng rồi khối lá ồ ạt của cảnh thiên nhiên vĩ đại ấy lại kéo tâm hồn tác giả ra khỏi hình ảnh của người tình xưa để đắm vào một ý tưởng xa thẳm hơn, nâng tâm hồn lên một tầng cảm ứng tĩnh lặng như thốt nhiên rơi vào trạng thái hốt ngộ
Trùng trùng điệp điệp cây trút lá
Quạnh quẽ hoàng hôn chim lạc bầy
Thời gian có phải trong vô tận
Âm dương tĩnh lặng khói hồ bay

Giá mà sau khi đọc câu chót này, chúng ta được nghe một tiếng chuông ngân lên từ một ngôi chùa giữa cảnh hoàng hôn mờ ảo, như một dấu chấm hết lửng lơ, thì đó mới thực là một kết thúc thập phần viên mãn!
Nhưng thiên nhiên thì xa mà bạn bè thì gần. Trong đời sống ở Mỹ, đến với những vùng thiên nhiên đặc sắc nhiều khi phải qua một hoạch định từ nhiều tháng trước và phải đi hàng trăm dặm đường trường, trong khi bạn bè thì gần gũi hơn nhiều. Chúng ta rất nhiều lần bắt gặp Nguyễn Tường Giang nói về và nói với bạn bè qua những lần nâng cốc rượu, những lần ngồi quán cà phê, với các rung cảm rất “đời thường”, có thể nói đó là các thú vui dù là ít ỏi, điều không hề thấy trong dòng thơ trước 1975. Diễn tả tiếng đàn contrebass trong quán rượu qua câu thơ như thế này có thể nói là tài tình:
Bứng bừng bừng, bứng bừng bừng
bứng bừng bừng
bứng bừng

Và từ những tiếng tượng âm giàu nhục cảm như thế, tác giả viết tiếp
Tôi ngồi với em trong quán rượu
nghe tiếng đàn
thèm ngất ngây đôi môi ẩm thuốc
đầu vú ngực căng

Tất nhiên thôi, và hai người bạn được tác giả tặng bài thơ này hẳn nhiên cũng đã chia sẻ cái không khí của quán rượu “đêm mùa hè nhễ nhại mồ hôi” có ánh đèn “đỏ như máu” với tiếng đàn contrebass bừng bứng bưng đầy thôi thúc.

Đó là một tiếng nhạc. Và đây là một điệu nhảy. Ai đã từng đến Tây Ban Nha và thưởng thức điệu nhảy flamenco nổi tiếng của xứ này đều đồng cảm với tác giả
Tôi nhớ Sevilla
         người vũ công nhẩy flamenco
đôi môi hé mở
như một nụ hoa
mắt long lanh hoang dại
và những giọt mồ hôi/hay nước mắt
         chẩy hoen bụi phấn hồng
Nhịp giầy trên sàn gỗ
        bụi bay mờ
           tiếng vỗ tay rồn rập
                 váy muôn màu bay lượn mộng du
                       mù mờ cơn mộng mị 
                            tan vỡ cuộc tình xưa

Điệu nhảy flamenco trên sàn gỗ là một hình thái nghệ thuật truyền thống của người Tây Ban Nha, trong đó người nghệ sĩ đàn (ghi ta) cũng như người nhảy đều gần như trong trạng thái lên đồng, cực tả những nỗi thảm thiết không tên, chỉ có thể gọi là “mù mờ cơn mộng mị/tan vỡ cuộc tình xưa” như tác giả cảm nhận một cách chính xác. Với một khả năng phong phú sẵn có, trước nghệ thuật Nguyễn Tường Giang đồng cảm rất nhanh, dù đó là nghệ thuật của trời đất (màu lá thu), hay là tiếng đàn, điệu nhảy. Hay là của nghệ thuật tạo hình:
Mầu đỏ mầu xanh mầu tím mầu vàng
mỗi màu một vuông da thịt em
trải nỗi đớn đau âm mặt vải
vết cọ đâm lạnh buốt trong tim
(Xem tranh ở nhà Đinh Cường)

Xem tranh mà cảm được nỗi đau trở dạ của người nghệ sĩ sáng tác trên khung vải, thái độ về cái đẹp ở đây không ngừng ở những gì trông thấy trên mặt tranh, mà còn như tiến sâu vào nỗi thao thức sáng tạo từ tâm khảm của người cầm cọ. Có khi như đọc được tâm sự của họa sĩ khi đưa cọ chấm một giọt nước mắt cho người trong tranh, diễn dịch được những gì ẩn giấu trong ngôn ngữ hội họa sang ngôn ngữ thi ca
trong tim thổn thức niềm tuyệt vọng
cuối mắt em đọng giọt sương phai
(Ẩn tình)


*

Thơ Nguyễn Tường Giang là một thế giới rất riêng của tác giả. Sáng tác thơ đối với ông gần như một nhu cầu, một sinh hoạt âm thầm đi song song với đời sống thường ngày. Đối với ông đó là một đời sống khác, có một chu vi nhỏ hẹp, trong đó vần điệu là những tiếng thủ thỉ với chính mình, hay cùng lắm là chỉ với những người rất thân thiết. Ông làm thơ nhiều nhưng ít khi đăng trên báo và chưa bao giờ xuất bản, cho nên cho tới nay hầu hết nguồn thơ phong phú của ông vẫn còn xa lạ đối với công chúng. Đây là lần đầu tiên một tuyển tập thơ sáng tác trong gần 50 năm được xuất bản, cho thấy một thế giới khác của một con người, cái thế giới vô cùng tế vi của nỗi buồn, của hoài bão, của tình bạn, tình yêu, của những rung động của mình đối với thiên nhiên, nghệ thuật và nói chung, cuộc sống. Con người đó nay vừa bước vào tuổi bảy mươi, có lẽ thấy đã đến lúc nên chia sẻ cái mảng riêng tư ấy của mình với mọi người. 

Và người đọc thì thấy phải cám ơn ông về sự chia sẻ đầy thân ái này.

Nam California, ngày 20 tháng Ba, 2012
Phạm Phú Minh


Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Nguyễn Tường Thiết - Vài kỷ niệm với Nhất Linh về báo Phong Hóa & Ngày Nay

MỜI ĐỌC BÁO PHONG HÓA, NGÀY NAY Thư Viện Người Việt, sau khi đã đưa các tờ báo Nam Phong, Thanh Nghị, Tri Tân lên, hôm nay lại tiếp tục giới thiệu hai tờ PHONG HÓA và NGÀY NAY của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, xuất bản tại Hà Nội trong thập niên 1930. Đây là hai tờ báo quan trọng đã làm thay đổi bộ mặt của báo chí Việt Nam, đưa nghề báo của nước nhà đến chỗ trưởng thành. Quý vị có thể bấm đường nối trên trang Diễn Đàn Thế Kỷ để vào xem Thư Viện Người Việt.



Tôi nghe nói đến báo Phong Hóa & Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn rất nhiều lần. Nhưng thực sự nhìn thấy tận mắt tờ báo thì chỉ hai lần trong đời. Hai lần ấy mỗi lần nhớ đến lại mang tôi về kỷ niệm với cha tôi, nhà văn Nhất Linh.

Khi tôi sinh ra đời cuối năm 1940 thì báo Ngày Nay vừa bị nhà cầm quyền Pháp đóng cửa hẳn (số báo chót 224 phát hành ngày 07-09-1940). Cha tôi năm ấy thôi làm báo. Ông bước sang một giai đoạn khác của đời ông. Trước đó vào năm 1939 cha tôi lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính và hoạt động chống Pháp của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trở thành công khai.



Trong thập niên 1940-50 cha tôi bận rộn với những hoạt động chính trị, ông bôn ba nhiều năm bên Trung Hoa. Cuối năm 1950 từ Hương Cảng trở về Hà Nội ông tuyên bố không làm chính trị nữa để trở về với văn hóa, như ông đã từng làm trong suốt thập niên trước, trong đó có đến 8 năm ông là người điều khiển hai tờ báo Phong Hoá & Ngày Nay (khởi đầu với báo Phong Hóa số 14 phát hành ngày 22-09-1932) và cầm đầu nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Trở về Hà Nội cha tôi ở căn nhà 15 phố Hàng Bè khoảng nửa năm, trước khi ông quyết định vào Nam sinh sống vào tháng 4 năm 1951. Trong thời gian sống với cha tôi ở Hà Nội lần đầu tiên tôi được đọc những số báo Phong Hóa và Ngày Nay. Đó không phải là những số báo rời mà báo đã được đóng thành tập. Tập có bìa da màu xanh dương, chữ mạ vàng trên bìa. Tôi không biết mỗi tập có bao nhiêu số báo, chỉ biết là mỗi tập rất dầy và nặng. Báo PH&NN lại có khổ lớn (hình như khổ bằng nửa tờ nhật trình), nên với một đứa bé 10 tuổi tôi không thể cầm đọc mà phải bê lên đặt trên đùi. Tôi mê mải đọc hết số này qua số khác, nhưng không đọc kỹ mà chỉ lướt xem những bức tranh hí hoạ và đọc những mẩu chuyện vui cười. Bây giờ tôi không thể nhớ rõ nội dung và hình thức hai tờ báo Phong Hoá và Ngày Nay ra sao, nhưng có hai điều ghi sâu trong ký ức tôi: đó là tờ báo có rất nhiều tranh vẽ, hình như trang nào cũng có tranh. Thứ hai là có nhiều số báo Ngày Nay giấy báo rất xấu, mầu ngà ngà và hôi mùi dầu. Mùi ấy hình như còn vương trong khứu giác tôi mỗi lần tôi nhớ đến. Sau này các anh tôi cho biết là thời gian cuối thập niên 30 xẩy ra thế chiến thứ II giấy báo rất khan kiếm, nhiều số báo Ngày Nay phải in bằng giấy dầu.

Một bữa tôi đang mải mê đọc, cha tôi đi ngang qua. Có lẽ ông thấy hình ảnh thằng con ông ngồi bó gối đọc báo có vẻ ngộ nghĩnh: tập báo to và nặng đặt trên đùi thằng bé thì che kín cả người nó. Ông cúi xuống đặt tay trên vai tôi nhìn vào trang báo, hỏi tôi:
– Con đọc gì vậy?

Tôi đáp:
– Con chỉ thích xem hình Lý Toét, Xã Xệ và đọc chuyện vui cười thôi.

Vào trong Nam không hiểu sao tôi không thấy trong nhà có những tập báo ấy. Chúng biến đâu mất tôi không biết. Đến năm 1958 khi cha tôi cho ra đời giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn, ông cần có một số tài liệu liên quan đến sự thành lập báo Phong Hóa 26 năm về trước, chính ông cũng không biết tìm đâu ra. Cuối cùng cha tôi đành phải sai anh Thạch tôi vào trong thư viện Quốc Gia để sao lục. Anh Thạch rủ tôi đi cùng. Năm ấy tôi học lớp Đệ Tứ trường Chu Văn An, mà thư viện lại ở ngay cạnh trường. Từ nhà chúng tôi ở chợ An Đông, hai anh em cuốc bộ theo đường Hồng Bàng, chừng gần cây số thì rẽ tay mặt vào đường Trần Bình Trọng, đi một quãng ngắn thì rẽ trái trên một cái ngõ cạnh một sân banh, dẫn đến cửa sau của trường Chu Văn An (lúc ấy trường Chu Văn An còn mượn tạm cơ sở của trường Petrus Ký). Một thư viện khá lớn hai từng quét vôi vàng nằm khất dưới bóng rợp một cây phượng đại thụ. Vì có mảnh giấy viết vài lời giới thiệu của cha tôi, ông quản thủ thư viện tiếp chúng tôi rất niềm nở và dành hẳn một phòng riêng cho hai anh em tôi nghiên cứu.

Thế là lần thứ hai và cũng là lần cuối tôi được sờ lên những trang giấy của báo Phong Hóa và Ngày Nay. Cha tôi có trí nhớ thật tốt. Ông không biết đích xác những tài liệu ông cần nằm trong số báo nào, nhưng ông nhớ là ở trong số báo kỷ niệm 3 năm ngày ông thành lập báo Phong Hóa.

Tìm được những tài liệu cha tôi cần, chúng tôi phải cặm cụi chép tay, vì chúng tôi không được phép mượn báo mang về nhà, và vì hồi đó thư viện chưa có máy photocopy.

Ba bài bài viết chúng tôi chép tay và được cha tôi cho in trên giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay số 5 trang 174 có tựa đề: “Nói về sự thành lập báo Phong Hóa” của Nhất Linh, bài “Bên đường dừng bước” của Tứ Ly (Hoàng Đạo) và bài “Nói chuyện cũ” của Nhất Linh. Riêng bài nói về sự thành lập báo Phong Hoá thật ra nguyên thủy có tựa là Lời Nói Đầu, ký tên Phong Hóa, nguyên văn như sau:

LỜI NÓI ĐẦU
Chúng tôi ra số báo này để kỷ niệm ngày báo ra, vì hai năm trước đây chúng tôi đãng trí, nên quên mất việc đó.
Đã ba năm cùng các bạn cùng đi một con đường, tất là có những kỷ niệm chung, mỗi bước đường lại một nhiều thêm. Vậy bây giờ cùng các bạn dừng chân trông trở lại để nhắc đến những cảnh đã gặp và nhân tiện ngỏ cùng các bạn hay những chuyện riêng trong nhà báo và trong nghề báo, những chuyện thân mật mà người ta thường chỉ kể cho nhau nghe trong những lúc nhàn rỗi, nghỉ ngơi. Phải là những lúc đó, những câu chuyện trong số báo này kể ra mới hợp thời và không có vẻ cầu kỳ.

HAI THỜI KỲ
Những lý tưởng nó sai khiến chúng tôi, những ý muốn của chúng tôi trong khi làm báo, Tứ Ly đã có bài bầy tỏ ở dưới đây.

Có một điều ai cũng nhận thấy là vào thời kỳ báo Phong Hóa ra đời (kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu chủ trương báo Phong Hóa), trong làng báo có một khuynh hướng mới về mặt nhà nghề: tờ báo để quần chúng xem và tờ báo mong sống vì độc giả.

Thời kỳ những báo vào loại báo Nam Phong đã tàn. Hay còn nữa thì những thứ báo đó cũng chỉ để cho một hạng người đọc riêng không có ảnh hưởng lớn lao đến quần chúng. Những báo của buổi đời mới không thể là những tờ báo khảo cổ hay sống dựa vào những tài liệu cũ được nữa. Những tờ báo mới phải căn cứ vào hiện trạng, phải săn sóc đến dư luận, đến thời sự, phải là những bức tranh hoạt động của xã hội trước mắt. Nhà viết báo không thể cắm đầu lục lọi trong kho sách cũ, hoặc bó gối trong phòng viết những bài luận về triết lý vừa khô khan, vừa khó hiểu, nhà viết báo bây giờ phải làm thế nào cho ai ai cũng hiểu được mình và viết về những vấn đề có liên can đến một số đông người. Nghĩa là phải làm theo những người viết báo bên Âu Mỹ.

ĐỘC LẬP
Báo Phong Hóa về mặt trong còn có một sự mới khác hẳn các báo trong nước xưa nay. Lệ thường thì tờ báo hoặc là của riêng một hội, một đảng (ở nước ta ít khi thấy), hoặc là của riêng một người. Người bỏ tiền ra bao giờ cũng nhận lấy chức giám đốc dẫu rằng không có một cái tài nhỏ mọn gì về nghề làm báo. Ông giám đốc chủ nhân đó bỏ tiền ra thuê một ông chủ bút và ít nhiều ông trợ bút. Các nhà văn sĩ vì thế nên luôn luôn xung đột với những nhà tư bản có quyền sai khiến mình mà không có đủ tài để mình phục. Tờ báo ít khi có tôn chỉ chuyên nhất, vì toà soạn thay đổi luôn mà ông giám đốc thì không đủ tài trí bắt họ theo mình.

Báo Phong Hóa - khác hẳn - không phải là của riêng một người nào.

Báo Phong Hóa là của chung của hết thẩy những người viết báo Phong Hóa. Không có ông chủ, người làm công, không có những cuộc xung đột giữa các nhà văn sĩ, các nhà tư bản. Những người giúp việc báo Phong Hóa là những nhà văn độc lập, mà tờ Phong Hoá vì thế là một tờ báo độc lập, không phải theo mệnh lệnh của một đảng nào hay một nhà tư bản nào.
Mỗi người mỗi tháng chỉ cần một số tiền đủ sống, còn tiền lãi, nếu có, sẽ là của chung và sẽ dùng vào những công cuộc chung phải làm sau này.

*
– Trời muốn trở rét...

Hôm nay là ngày đầu mùa Thu của miền tây bắc.

Từ phòng viết trong nhà tôi nhìn qua cửa sổ: cây phong sau nhà tôi mấy nhánh lá xanh đã bắt đầu chuyển sang màu vàng đỏ. Tôi nhìn lên tờ lịch. Ngày 22 tháng 9 năm 2012.

Ngày này, 80 năm trước, cha tôi – một thanh niên 26 tuổi – cùng với hai người em trai và hai người bạn tâm giao cho ra đời tờ tuần báo Phong Hóa số 14 hoàn toàn đổi khác, mở đầu một kỷ nguyên mới cho làng báo chí Việt Nam. Kể từ đó Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ và sau này thêm Thế Lữ, Xuân Diệu làm nên “thất tinh” của Tự Lực Văn Đoàn.

Trong tám năm từ năm 1932 đến năm 1940 với 190 số báo Phong Hoá và 224 số báo Ngày Nay nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã để lại cho làng báo Việt Nam một gia tài đồ sộ. Nhưng những số báo ấy từ tám mươi năm qua vẫn nằm im lìm trong kho tối của các thư viện lớn trên thế giới, chờ ngày mục nát. Chúng không được ai biết tới, ngoại trừ một số rất ít các nhà nghiên cứu lâu lâu mới vào thư viện tìm đọc để viết bài nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn. Một hậu duệ trực tiếp của TLVĐ như tôi mà trong đời chỉ có hai dịp được tận mắt nhìn thấy Phong Hoá và Ngày Nay thì tôi tin rằng tất cả những người khác trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn không mấy ai có được cơ may nhìn thấy tờ báo này một lần trong đời.

Nhưng may mắn là có nhiều người còn nặng tình với nền văn hoá Việt Nam nói chung và riêng với di sản văn hoá của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Từ hơn một năm nay một nhóm người âm thầm sưu tập, chụp lại và scan tất cả những số báo Phong Hoá và Ngày Nay. Họ mang tâm trí và sức lực thực hiện việc “SỐ HÓA” và phát hành trên mạng để tất cả mọi người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước tìm đọc dễ dàng, đúng như lời tâm nguyện sau đây của nhóm thực hiện:
Phong Hoá và Ngày Nay: Một di sản chung của tất cả mọi người dân Việt chúng ta.

Bởi vì, có lẽ chúng ta khó lòng tìm được một văn đoàn tài giỏi, làm việc hăng say thể hiện sâu sắc tình yêu nước, yêu dân, yêu tiếng Việt, lại có đủ thời cơ thực hiện được một công trình văn hoá xứng đáng như thế nữa.”
Phạm Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền


Tháng trước anh Nguyễn Trọng Hiền (con của họa sĩ Lemur Nguyễn Cát Tường) trao tặng tôi một cái USB (tôi không biết tiếng Việt gọi là cái gì) nhưng cho biết là trong USB này chứa đựng toàn bộ 190 số báo Phong Hoá và 224 số Ngày Nay.

Tôi nhìn cái UBS này: nó chỉ bé bằng đầu ngón tay nhưng chứa đựng cả một kho tàng báo chí đồ sộ. Thật là kỳ diệu!

Tôi gắn USB vào máy vi tính và trong khoảnh khắc trên màn ảnh hiện rõ những trang báo xưa, mỗi trang báo lại đưa tôi về kỷ niệm của thời thơ ấu.

Tôi nhớ đến hình ảnh Nhất Linh cúi xuống nhìn qua vai đứa con út của ông để đọc những trang báo Phong Hóa một thủa nào ở Hà Nội. Tôi nhớ đến hình ảnh Nhất Linh vất vả đi tìm một tài liệu của chính ông viết về sự thành lập báo Phong Hóa khi ông chủ trương giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn.

Tôi tưởng tượng nếu cha tôi còn ở bên cạnh tôi ngày hôm nay, ông sẽ kinh ngạc biết mấy khi thấy đứa con út của ông chỉ cho xem trên màn máy vi tính trang thứ hai của tờ Phong Hóa số 154 ra ngày 22 tháng 9 năm 1935, rồi tôi in ra đưa ông trang báo có bài ông viết 77 năm trước. Tất cả xẩy ra trong vòng một phút đồng hồ.

Và chúng tôi sẽ cùng cười vang nhớ đến 54 năm trước ở Sài Gòn cha tôi đã phải mất mấy ngày tìm kiếm và sai hai anh em tôi đến thư viện quốc gia cặm cụi ngồi chép bài “Nói về sự thành lập báo Phong Hóa” của ông.

Nguyễn Tường Thiết

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Một trăm ngọn nến

Làng Yên Phụ Hà Nội
Tên chủ nhà ghi trên tấm bảng đồng gắn phía trước cửa khiến tiếng gõ của tôi thêm mạnh dạn. Bên trong có tiếng giầy dép khua động. Rồi cửa mở. Chủ nhà, một người nhỏ thấp, giơ bắt tay tôi rồi ra hiệu mời tôi theo anh ta lên gác. Tôi bước lên một chiếc cầu thang gỗ. Ở đầu cầu thang nhìn qua một gian phòng rộng trên gác tôi thấy khoảng vườn cây xanh của một công viên nhỏ trước nhà sau một cánh cửa sổ mở rộng, khoảng trống tươi mát rất hiếm quí của Hà Nội bây giờ. 

Tôi bước vào một phòng lớn trông như một thư viện. Một tủ sách rất rộng và cao chiếm nguyên một vách tường dài. Tủ gỗ đánh véc-ni bóng, sau ngăn kính những cuốn sách dầy cộm xếp ngay ngắn, trang trọng. Nhìn qua gáy tôi thấy có rất nhiều sách chữ Hán.

Giữa phòng là hai cái bàn phủ khăn trắng đặt liền nhau, trên để những chai rượu bia và đĩa đựng trái cây. Chủ nhà xếp tôi ngồi nơi một chiếc ghế đặt ở đầu bàn. Tôi nhìn hai dẫy ghế trống dài ở hai bên bàn, nói với chủ nhà:

– Anh bắt đầu làm tôi lo đấy. Tưởng đến thăm anh nói chuyện một lát thôi, không ngờ anh làm to chuyện quá.

Chủ Nhật, 21 tháng 3, 2021

Nguyễn Tường Thiết: Tưởng nhớ anh Nguyễn Huy Thiệp

Tin nhà văn Nguyễn Huy Thiệp qua đời khiến tôi sững sờ. Tuần trước chúng tôi mới nhắc đến tên anh thì tuần sau có tin anh ra đi.

Tôi quen biết nhà văn Nguyễn Huy Thiệp do duyên văn nghệ. Vào những năm cuối của thế kỷ trước tôi đọc nhiều truyện của anh và tôi rất thích. Theo tôi anh là nhà văn xuất sắc nhất của Việt Nam trong thời kỳ “đổi mới”. Vì vậy năm 2006 khi tôi xuất bản ở Hoa Kỳ cuốn sách “Nhất Linh Cha Tôi” vào dịp 100 năm ngày sinh của ông Cụ tôi (25/7/2006) tôi mang một số sách về Hà Nội với chủ đích tìm gặp anh để tặng sách. Trong lần về nước này không những tôi được gặp anh Thiệp mà tôi còn có dịp tiếp xúc với những nhà văn khác cùng một số người trong giới trí thức Hà Nội và tôi có ghi lại những cuộc gặp gỡ đó trong hồi ký mang tên “Một Trăm Ngọn Nến”.

Mới tháng trước đây vào dịp Tết Tân Sửu cuốn sách thứ hai của tôi “Căn Nhà An Đông của Mẹ Tôi” được ấn hành ở Việt Nam. Trong sách đó có bài “Một Trăm Ngọn Nến” ghi lại cuộc gặp gỡ của tôi với anh và các nhà văn khác ở Hà Nội. Tuần lễ trước tôi còn hy vọng anh đã đọc bài đó, nhưng bây giờ thì tôi biết chắc là anh chưa đọc. Bởi vì qua báo mạng tôi mới được biết anh bị đột quỵ từ tháng 3 năm 2020, từ đó anh chỉ nằm trên giường hoặc ngồi dựa, tất cả tùy thuộc vào vợ con; nhưng từ khi vợ anh qua đời cuối năm ngoái thì tinh thần anh suy sụp hẳn.

Để tưởng nhớ anh tôi xin trích một đoạn trong bài “Một Trăm Ngọn Nến”.


Tôi nhìn ra hồ Tây phía xa. Trong rặng cây xanh bên kia bờ nổi bật mái đỏ của hai gian nhà lớn hai từng. Thấy tôi nhìn phía bên kia hồ cụ Từ chỉ tay về phía ấy nói:

– Bên ấy là làng Thụy Khuê. Rặng cây xanh là vườn Bách Thảo. Hai cái nhà lớn mái đỏ kia là trường Bưởi.

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Nguyễn Tường Thiết: Người học trò của hoạ sĩ


Đám cưới tổ chức trong căn phòng rộng trên lầu cao chót của nhà hàng Majestic. Giữa phòng mấy chục chiếc bàn phủ khăn vải trắng tinh. Trên bàn những đóa hồng đỏ thắm cắm trong những lọ thủy tinh cổ cao. Cạnh mỗi bình hoa là một liễn pha lê đựng rượu sanglia màu đỏ bordeaux có lẫn những lát cam, táo, nho màu vàng, xanh. Một người đàn ông hầu bàn mặc đồng phục thắt nơ đen bê chiếc bình giỏ mây lớn đựng rượu chát rót thêm rượu vào liễn. Trừ những người già ngồi ghế cùng với đám phụ nữ đa số những người đàn ông đứng tụm lại nói chuyện, trên tay mỗi người một cốc rượu vang. Lúc đó thực khách đã đến đông đủ và bữa tiệc cưới sắp bắt đầu. Ánh đèn lộng lẫy từ những chùm đèn pha lê ở trên trần cao toả xuống căn phòng của nhà hàng màu đỏ rực rỡ của tấm thảm sàn và của các bức màn nhung ở chung quanh. 

Có tiếng gõ gõ vào micro tiếng testing một, hai, ba rồi tiếng giới thiệu cô dâu chú rể và song thân. Bốn người bước lên bục. Ngoài cô dâu chú rể hai người đàn bà được giới thiệu là những người mẹ của dâu rể. Người ta có thể thấy ngay được sự chênh lệch về tuổi tác hai bên nhà gái và nhà trai. Cô vợ nom trẻ măng so với người chồng mà bà mẹ của cô lại càng trẻ hơn so với bà mẹ chàng rể. Ở một bàn ăn gồm những thực khách đứng tuổi, hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí vẫy người anh của chú rể lại gần. Người ấy cúi xuống. Ông Trí hỏi nhỏ vào tai: “Ông Nguyễn Xuân Thực đâu không thấy ở đây?” Hỏi xong họa sĩ giơ tấm thiệp cưới có ghi bà quả phụ Nguyễn Tường Tam ở một bên và bên kia là ông bà Nguyễn Xuân Thực. Người anh của chú rể trả lời: “Ông Thực còn ở ngoài Bắc. Năm năm tư ông chọn ở lại Hà Nội. Bà Thực một mình dẫn theo bốn đứa con nhỏ đi Hải Phòng theo đoàn người di cư lên tàu vào Nam.”

Thực khách ở những bàn tiệc phía cuối phòng có thể nhìn thấy màn đêm đen của thành phố Sài Gòn qua một tấm cửa kính thật lớn. Cuối bữa ăn một vài người đàn ông tay cầm cốc rượu rời bàn đứng sát cửa sổ nhìn ra phía ngoài. Từ trên từng cao của nhà hàng khách sạn dưới đường Bạch Đằng những chiếc taxi nhỏ như món đồ chơi êm êm chạy trên mặt nhựa. Trên sông Sài Gòn dăm ba nhà hàng nổi tỏa rực ánh đèn. Giữa dòng hai chiếc chiến hạm nằm im lìm đậu. Bên kia sông bóng tối mênh mang của vùng trời Thủ Thiêm. Nơi đó ở chân trời lâu lâu lóe sáng một trái hỏa châu vàng rực. Ánh vàng nở ra rồi lụi vào bóng đêm. Đêm đó mồng 7 tháng giêng năm 1973.

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Nguyễn Tường Thiết - Bà Cẩm Lợi


Nguyễn Tường Thiết

Một lần. Buổi trưa. Lâu rồi. Mẹ tôi ngồi nhặt cau trên sập gụ. Tôi nằm ngửa bên cạnh bà, hai tay cầm giơ trước mặt cuốn truyện Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Đọc đến đoạn cảnh mẹ chồng ác nghiệt với con dâu, tôi nhỏm dậy hỏi mẹ tôi: “Mợ này, mợ có phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu như cậu tả trong truyện không?”. Mẹ tôi ngửng lên nhìn tôi nói: “Đấy là cậu viết tiểu thuyết... Bà nội con có khó tính thật nhưng đâu đến nỗi khắc nghiệt thế...”. Rồi mẹ tôi tiếp tục nhặt cau. Lát sau, khi tôi đang đọc tiếp cuốn truyện thì có tiếng bà bên tai: “Khi bà nội con có chuyện gì không bằng lòng thì bà đổi cách gọi. Thường thì bà kêu mợ là bà Tam. Bà Tam ơi! Ra tôi bảo cái này... Gọi thế là âu yếm đấy. Nhưng khi bà đổi giọng gọi thế này thì mợ biết ngay là sắp sửa có gì to chuyện: Này! bà Cẩm Lợi! Nghe tôi nói đây!”.


Bà Cẩm Lợi!

Tại sao bà nội tôi lại yêu bà Tam và ghét bà Cẩm Lợi nhỉ? Bởi vì với tôi, không bao giờ mẹ tôi là bà Tam, không bao giờ mẹ tôi là bà Nhất Linh. Với tôi, mẹ tôi luôn luôn là bà Cẩm Lợi, từ ngày tôi lọt lòng mẹ tôi cho đến ngày mẹ tôi qua đời. Cuộc đời của bà gắn liền với cái tên hiệu Cẩm Lợi và cái tên hiệu này gắn liền với những hạt cau khô, mặc dù đôi lúc Cẩm Lợi còn bán cả cá mắm, cá khô, thậm chí còn là tên của một tiệm may y phục phụ nữ...

Từ những ngày rất xa xưa ở Hà Nội ở căn nhà số 9 Hàng Bè trước khi tản cư và số 15 Hàng Bè sau khi tản cư về, tuổi thơ tôi lớn lên bên những bồ cau và mùi diêm sinh. Căn nhà rộng có nhiều phòng. Nguyên một phòng giữa chứa đầy những bồ cau, chất chồng lên nhau đến sát trần. Thuở bé chúng tôi thường chơi trò đi trốn và căn buồng đó, tối tăm và nhiều ngõ ngách giữa những bồ cau, là nơi đi trốn lý tưởng. Tôi thường trèo lên những bồ cau trên cao gần đụng trần, nằm áp mặt trên những bao tải, cảm thấy cái vải bố nháp in hằn trên má và thở cái mùi cau khô toát từ những bao bố. Mẹ tôi kinh hoảng khi khám phá ra cái trò chơi nguy hiểm này của chúng tôi: “Mấy cái bồ cau nó mà đổ xuống thì chúng bay cứ mà chết bẹp!”. Mẹ tôi khi mắng chúng tôi hẳn là bà nghĩ tới cái tai nạn chết đuối đã giết chị Thanh tôi trong cái ao ở trại Cẩm Giàng.

Thuở ấy những người đàn ông hình như trốn tiêu đâu mất cả. Tôi lớn lên như người không cha. Chả ai hỏi tôi ông Tam đâu hay ông Nhất Linh đâu? Luôn luôn người ta gõ cửa rồi thò cái đầu vào hỏi: “Có bà Cẩm Lợi ở nhà không?”. Chả bao giờ tôi thấy ông nội ông ngoại, bố tôi hoặc các bác các chú. Xúm lại quanh tôi toàn những đàn bà: bà nội, bà ngoại, bà mẹ, bà vú, và một đống bà cô bà thím.... Không có ông Nhất Linh, ông Hoàng Đạo, ông Thạch Lam. Chỉ có bà Cẩm Lợi, thím Long, thím Sáu... như thể một bên là tiểu thuyết, một bên là đời thường.

Bà Cẩm Lợi ngồi nhặt cau trên sập gụ. Đó là hình ảnh quen thuộc đã ăn sâu trong ký ức tôi từ ngày tấm bé. Đầu vấn khăn, chiếc áo cánh trắng, chiếc quần lĩnh đen, mẹ tôi cúi xuống chà chà cho sạch những hạt cau khô ẩm bị xanh mốc. Trên chiếc sập gụ giang sơn riêng của bà, mẹ tôi vừa nhặt cau, vừa tiếp khách hàng, vừa đôn đốc đám người làm, vừa chơi rỡn nựng nịu con cháu. Đêm đến khi căn nhà đã chìm vào yên vắng bà trải trên sập đống giấy bạc kiếm được trong ngày, đếm từng tờ và xếp buộc thành bó dầy cộm rồi cất trong chiếc két sắt trước khi bà ngủ trên sập gụ ấy. Trong túi áo cánh của bà lúc nào cũng xệ xuống một chùm chìa khoá nặng chịch. Mẹ tôi hay dùng chùm chìa khoá này làm đồ chơi cho trẻ con, bà lắc lắc chùm chìa khóa kêu rộn ràng trước mặt đứa bé cho đến khi nào nó ngoẻn miệng cười mới thôi.

Người đàn bà già nhất sống gần tôi thuở nhỏ là bà ngoại. Bà chết lúc tôi còn bé nên tôi chả nhớ gì nhiều về bà. Hình như người bà gầy đét. Vấn khăn. Răng đen. Một bà già trầu điển hình. Kỷ niệm của tôi thời thơ ấu nếu có chừa một chỗ nhỏ cho bà thì lại là một kỷ niệm không mấy gì đẹp đẽ. Xấu hổ là đằng khác. Hồi đó tôi ngủ chung giường với bà ngoại. Trong một căn buồng trên gác của căn nhà số 15 Hàng Bè. Trước buồng là một hành lang hẹp trông ra phố. Có một đêm ăn phải cái gì mà tôi mót đi cầu quá. Nghĩ tới chuyện phải mò xuống cái cầu tiêu hôi thối ở mãi tít sau nhà dưới giữa đêm tối lại phải lần qua những bồ cau mà tôi lạnh cả người. Bước ra ngoài hành lang người đã bủn rủn. Tôi bèn nghĩ ra một cách giải quyết rất gọn là ngồi phịch xuống ở một góc làm một bãi tướng. Sáng hôm sau ngủ dậy tôi ra hành lang nhìn thì ô hay cái sàn sạch bóng! Mình có ngủ mơ không chứ? Buổi trưa ăn cơm tôi nghe hai người làm nói chuyện với nhau: “Rõ khổ! Cụ bây giờ già lẫn quá rồi... Cứ bạ đâu là ỉa đó!”. Khám phá ra điều bí mật này, sau đó tôi còn làm thêm vài bãi nữa và đều bình an vô sự!

Bà nội tôi thì trái lại có tướng võ, người cao to. Dưới mắt tôi hồi nhỏ bà nội trông như đàn ông. Gương mặt bà có đường nét không thể lẫn với ai. Đôi mày rậm, mắt sâu, sống mũi cao. Cái tướng đó mà chui vào chiếc áo tu hành tôi thấy có vẻ lệch lạc. Từ một thuở xa nhất, hồi ở Cẩm Giàng lúc tôi mới lên năm, hình ảnh và tiếng tụng kinh của bà đã thấm sâu vào tuổi thơ tôi. Bà ngồi trên sập, khoác áo nâu sồng, một tay chắp trước ngực, một tay gõ mõ. Nam mô a di đà Phật... Nam mô á di đà Phật... Nam mô ạ di đà Phật... Tiếng tụng kinh đều đều tôi nghe cứ nhỏ dần đi như tiếng kêu rỉ rả của những con ve sầu. Tôi lại có cảm tưởng như bà vừa ngủ vừa tụng, lâu lâu chợt thức, tiếng tụng bỗng to lên như tiếng ve ran. Và như một giọng ru buồn nản Nam mô a di đà Phật đã trôi vào giấc ngủ ấu thơ của tôi.

Sau này biết rõ hơn về bà nội tôi thấy bà là người phi thường. Chồng chết khi bà mới 37 tuổi, một mình xây dựng và cai quản cả một dinh cơ Cẩm Giàng, lại nuôi bẩy con trở thành những người lỗi lạc. Một người đàn bà như thế “dễ có mấy tay” phải là người cứng rắn và độc đoán. Mẹ tôi vào làm dâu nhà bà, lại không phải đến từ một gia đình giầu có và danh vọng, chắc chắn phải chịu cảnh “mẹ chồng nàng dâu” nếu không quá quắt như bà phán Lợi trong Đoạn Tuyệt thì cũng khó sống cho yên.

Thế mà mỗi lần có gì không vừa ý bà nội Lê thị Sâm chỉ lôi tên bà Cẩm Lợi ra nhiếc. Mẹ tôi quả là người may mắn! Gần đây đọc cuốn hồi ký của cô Năm tôi (Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường - Nguyễn Thị Thế) đoạn viết bà nội đối xử nghiêm khắc và độc đoán với người con gái duy nhất của bà, tôi hiểu là vì sao mẹ tôi may mắn hơn cô Năm. Bà nội tôi và mẹ tôi (và có lẽ phần lớn những bà mẹ của thế hệ ấy) có một điểm giống nhau. Đó là đối xử thiên lệch với con cái: con trai bao giờ cũng được cưng chiều và nể trọng hơn. Huống hồ trong số sáu người con trai, bà nội tôi hình như lại yêu và nể bố tôi nhất. Tôi nghĩ rằng khi bà nội gọi mẹ tôi bằng cái tên thân thương “bà Tam”, bà đã gửi cái trìu mến về người con trai thứ ba của bà. Cộng thêm vào đó mẹ tôi lại là một người hết sức khéo léo trong cách ăn ở. Chả thế mà trong gia đình nội ngoại chúng tôi nói đùa là mẹ tôi đã tước cái chức bộ trưởng ngoại giao của bố tôi.

Dưới mắt tôi mẹ tôi không bao giờ là người đàn bà đẹp. Đôi lúc tôi còn thấy xấu là đằng khác. Có thể là vì khi tôi được sinh ra đời mẹ tôi đã đẻ trên mười người con. “Đẻ như thế thì còn gì là người”. Tôi nghĩ. Hơn thế nữa qua hình ảnh bà Cẩm Lợi mẹ tôi lúc nào trông cũng lam lũ và luộm thuộm. Một hình ảnh và một nhan sắc như thế làm sao mê hoặc được bố tôi nhỉ? Cho đến mãi gần đây chị Thoa tôi từ bên Pháp gửi tôi một tấm ảnh rất cũ, chụp tám năm trước khi tôi lọt lòng mẹ, lần đầu tiên tôi mới thấy dung nhan của bà thời trẻ. Một người đàn bà đẹp. Bức ảnh chụp năm 1932, mẹ tôi 25 tuổi. Năm ấy mẹ tôi dẫn chị Thư tôi, lúc ấy 5 tuổi, đi dự thi trẻ em đẹp và chị tôi được chấm giải nhất. Tôi nhìn đôi mắt của bà trong ảnh và chợt nhớ tới đoạn viết của nữ sĩ Anh Thơ. Đôi mắt bà chớp chớp. Tôi chợt thấy đôi mắt bà đẹp quá! Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Rồi tôi chợt thấy thương mẹ tôi quá! Một lòng thương cũng mênh mông như đôi mắt to của bà. Nông nỗi nào mà người đàn bà trong ảnh bỗng trở thành bà Cẩm Lợi tiều tụy như thế trong tâm trí tôi?

Những năm tháng tôi sống ở Hà Nội phố Hàng Bè là thời gian tôi sống lêu lổng và làm buồn lòng mẹ tôi không ít. Bố tôi biến đâu mất ở bên Tàu, mẹ tôi suốt ngày đánh vật với các bồ cau, lũ chúng tôi lớn lên hoang như cây cỏ. Một bữa tôi thấy trên tủ chè có một chai nước màu đỏ đỏ, dán nhãn hiệu tiếng tây, lại có vẽ hình con mèo, tôi nhấp thử thấy nó ngọt ngọt ngon ngon, bèn rủ thằng Thái em tôi mỗi đứa nốc mấy ngụm. Mẹ tôi đi chợ về trông thấy hai đứa con của bà nằm lăn lóc, mặt đỏ tiá, nói lảm nhảm thì biết ngay. Bà quát người làm lấy nước chanh cho chúng tôi uống và mắng họ là từ rầy rượu phải cất trong tủ chè khoá trái lại.

Thuở mẫu giáo tôi ở nội trú cùng với chị Thoa tôi trong trường bà sơ phố nhà Chung gần nhà thờ lớn Hà Nội. Trường có tường cao quét vôi vàng bao quanh nom như một nhà tù. Tôi sợ nhất là nhìn các bà sơ mặc áo đen cúi mặt đi lại trên hành lang. Họ lướt yên lặng như những bóng ma. Giờ ăn cũng không được nói chuyện. Tôi phải đứng nghiêm cùng với đám học trò mặc đồng phục đọc kinh. Lạy cha chúng tôi ở trên lời... Chúng tôi nguyện danh cha cả sáng... Tuổi thơ của tôi hết nghe tiếng niệm Phật lại nghe tiếng cầu kinh. Lớn lên tôi chả biết tôn giáo nào để theo.

Lên tiểu học chị Thoa sang học trường Thanh Quan còn tôi học trường Hàng Vôi. Nhưng tôi thường trốn học đi xem xi nê tặc-dzăng ở rạp Lửa Hồng hoặc giao du với đám trẻ mất dậy ở ngõ Phát Lộc. Cầm đầu bọn quỷ sứ thời ấy là tay Đỗ Bá Viễn. Hắn hơn tôi mấy tuổi, lõi đời. Hắn bầy cách cho tôi lấy cắp tiền của mẹ tôi. Cách ấy thật là thần sầu. Chả là tôi cứ bị ám ảnh bởi cái túi áo cánh lúc nào cũng xệ xuống của mẹ tôi, trong đó là chùm chìa khóa. Trong chùm ấy cái chìa to nhất, không phải là chìa bẹt mà là chìa ống có khía ở đầu, dùng để mở cái két to tướng và nặng nề. Thằng Viễn bảo tôi phải đánh cắp cái chìa khoá ấy. Nhưng mẹ tôi lúc nào cũng ôm chìa khoá trong người ngay cả lúc bà ngủ. Thằng Viễn chờ mãi thấy tôi không lấy được chìa khóa nó bèn nghĩ cách khác. Nó cầu cứu thằng Đồng con ông thợ khóa ở phố Hàng Mắm. Thằng Đồng đưa tôi một miếng gì dẻo dẻo trông như ruột bánh mì, bảo tôi đút vào lỗ khoá, chờ cho khô thì rút ra. Rồi nó đem cái khuôn bánh mì ấy về cho bố nó đúc thành chìa. Mở được két tôi hoa cả mắt lên vì trong két nhiều tiền quá. Tôi vớ đại một bó. Mấy hôm sau tôi kinh hoảng thấy mẹ tôi la lối tra khảo người làm đã lấy cắp tiền của bà. Mẹ tôi cho là mình mất tiền trong lúc đếm bạc chứ không nghĩ là ai có thể mở được cái két chắc chắn kia. Tôi tiết lộ với Viễn. Nó bầy mưu khiến mẹ tôi không bao giờ biết là mình bị mất tiền. Mỗi lần mở két, thay vì lấy nguyên bó, tôi chỉ nhón mỗi bó một hai tờ. Những bó bạc này mẹ tôi giao cho khách hàng, thường thì họ không bao giờ đếm lại trước mặt mẹ tôi, và sau này nếu có đếm thấy hụt cũng không sao, chẳng kiện cáo gì. Mẹ tôi bán buôn, làm ăn lớn, khách có biết cũng bỏ qua, xá gì mấy tờ bạc mất lẻ tẻ.

Có tiền tôi ăn tiêu vung vít. Người bán hàng thấy tôi trả tiền bằng tờ giấy đỉnh thì trố mắt nhìn tôi kinh ngạc. Tiêu cho mình thì ít nhưng bao mấy thằng du côn thì nhiều. Tôi khoái nhất là bỏ tiền thuê bao xích lô nguyên ngày chở tôi và Viễn đi chơi cùng khắp Hà Nội trên những con đường rợp mát bóng cây trong tiếng ru râm ran của những con ve sầu. Hai đứa thủ hai khẩu súng cao su, bốc nhãn ăn thả dàn rồi dùng hạt nhãn làm đạn bắn lung tung lên ngọn cây. Nhưng cái thời “huy hoàng” của tôi không kéo được lâu. Một bữa mẹ tôi bắt gập tại trận tôi đứng trước tủ két mở và tước cái chìa khoá của tôi. Bà sai anh tôi (hình như là anh Triệu) đè sấp tôi ra trên chiếc sập gụ của bà dùng đuôi chổi phất trần đét mấy cái vào mông. Tôi giả vờ khóc rống lên chứ tôi thấy anh tôi đánh cũng nhẹ tay lắm (chắc hẳn anh nghĩ trong bụng mình cũng chả gương mẫu gì hơn thằng em).

Dịp may đến với mẹ tôi. Năm 1951, lúc ấy bố tôi ở bên Tàu về Hà Nội đã được mấy tháng, ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu tiên bố tôi chỉ cho chị cả tôi là chị Thư đi cùng. Nhưng mẹ tôi cứ bắt bố tôi phải mang theo tôi. Đến tận bây giờ, khi tôi viết những dòng này, trong gia đình không một ai biết là mẹ tôi đã cố ý “đuổi” tôi vào Nam. Tôi rất cám ơn mẹ tôi về quyết định rất sáng suốt này của bà. Bởi vì vào Nam tôi trở thành một con người hoàn toàn khác.

Năm đó tôi mười một tuổi. Lần đầu tiên trong đời tôi đi phi cơ. Lại là phi cơ của hãng Air France. Sang trọng quá! Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi lạ lẫm đọc cái chữ “Nhứt” và hỏi chị tôi họ viết như vậy có phải là sai không. Tôi trố mắt nhìn những căn nhà nhiều từng, những tên phố tây Pellerin, Charner, Catinat, Pasteur, Richaud... và cứ nghĩ là mình đi Tây chứ không phải vào Nam. Cái gì tôi cũng thấy nó văn minh và lạ mắt. Sau này tôi nghe kể nhiều lần về những ông cán ngố ngoài Bắc sau năm 1975 vào Nam lần đầu nhìn thấy thành phố Sài Gòn, tôi nghĩ là họ chắc cũng chỉ ngố như tôi là cùng. Ba bố con tôi ở chung với gia đình bác Thụy trong một căn nhà lớn do chính phủ cấp cho nhân viên sở Bưu Điện (mà bác tôi là tổng giám đốc) số 12P đường Chasseloup Laubat (sau đổi là Hồng Thập Tự và bây giờ là Nguyễn Thị Minh Khai). Đối diện nhà bác Thụy là hai cái cao ốc 5 từng. Tôi thích trốn sang đó chỉ để chui vào cái lồng thang máy bấm nút cho nó thăng thiên lên lầu thượng rồi lại bấm nút cho nó tụt xuống... cứ thế... cho đến khi những ông tây bà đầm trú ngụ trong cao ốc biết được la lối om sòm đuổi tôi đi. Nhà bác Thụy ngăn nắp và sạch sẽ quá, các anh chị họ tôi nói năng lịch sự, cư xử quý phái không chửi tục om xòm như đám “bạn” tôi ở ngõ Phát Lộc, họ học trường Tây, khoe tôi những cuốn sách màu đẹp đẽ Tin Tin, Spiroux, Quatre Frères Dalton... Xa rồi những bồ cau khô, mùi cá mắm, hơi diêm sinh và căn nhà, con phố bẩn thỉu nghèo nàn của thành phố Hà Nội. Xa rồi mẹ tôi, bà Cẩm Lợi. Xa rồi các anh tôi vẫn còn lối sống “lạc hậu” ở miền đất Bắc xa vợi kia...

Lần đầu tiên trong đời tôi thực sự sống gần bố. Tôi luôn luôn nhìn ông như ngắm một người lạ. Bởi vì cho dẫu tôi có ở sát bên ông, sống cạnh ông nhiều năm sau này trong đời thì giữa ông và tôi, và giữa ông với gia đình, hình như luôn luôn có một khoảng cách. Tôi tự hỏi vì sao không bao giờ tôi có được cái cảm giác thật gần gũi với bố như tôi đã luôn luôn có với mẹ. Nếu có thấy chút nào gần ông thì cái gần ấy chỉ trên phương diện tâm hồn. Bố tôi có gương mặt tây phương, mang nhiều nét đặc thù di truyền từ bà nội tôi. Ông có một phong thái hài hoà rất thanh nhã trong cách cư xử nó cho người ta biết, chỉ qua dáng ngoài, cái chiều sâu của con người ông. Bố tôi rất ít nói. Lúc nào cũng thấy ông lắng nghe với một cái nhìn sâu và đằm thắm. Ông lại rất chuộng sự yên tĩnh, ngăn nắp và sạch sẽ. Những gì tôi biết về ông khiến tôi hiểu vì sao ông sống được và thích hợp trong một gia đình như bác Thụy và không thể nào sống bên những bồ cau với mẹ tôi được.

Năm 1954, đất nước chia đôi, mẹ và các anh tôi lục tục vào Nam. Mẹ tôi mua căn nhà số 39 chợ An Đông để ở và lấy chỗ buôn bán. Vào Nam mẹ tôi chuyên bán sỉ cau khô chứ không bán cau khô lẫn cau tươi như ở ngoài Bắc. Nguồn cung cấp cau chính của hiệu Cẩm Lợi là tỉnh Quảng Nam vì cau là thổ sản của tỉnh này. Mẹ tôi tiếp tục giao dịch với các hiệu Phước Xuân, Phước Hiên ở Hội An, nơi mà bà đã mua bán từ những năm đầu của thập niên 1940. Vào Nam mẹ tôi lại thêm một thị trường cung cấp mới là tỉnh Bến Tre. Bà ít có dịp ra Trung như dạo còn ở Hà Nội trước khi di cư, nhưng bà lại thường xuyên liên lạc với các bạn hàng ở Bến Tre, đặc biệt là bà Thái Nguyên, có khi mẹ tôi xuống ở lại đó nhiều ngày. Nhà của các bạn hàng thường ở miệt vườn, cách xa thành phố, phải đi ghe xuồng mới tới. Sau này tình hình ở tỉnh Bến Tre mất an ninh, chúng tôi cảnh giác mẹ tôi là các bạn hàng cau ở tỉnh đó nằm sâu trong mật khu của Việt Cộng nhưng mẹ tôi không bao giờ tỏ vẻ sợ hãi. Mẹ tôi không bán cau lẻ. Mua cau khô về, mẹ tôi xấy khô, đóng bao, và bán lại cho các đại lý, thường là những người Hoa ở trong Chợ Lớn. Một trong những đại lý mà mẹ tôi đã giao hảo tốt đẹp là ông Cơ Tấn. Chúng tôi xem ông Cơ Tấn như người nhà. Sự giao dịch với ông Cơ Tấn gắn liền với đời buôn cau của mẹ tôi, kéo dài từ thập niên 40 cho đến có lẽ sau cả biến cố tháng Tư năm 75.

Cái sập gụ, tủ chè, két bạc và cái cân được chở từ ngoài Bắc vào. Tôi trở về với những bồ cau và làm quen lại với mùi diêm sinh đã làm tôi ho sặc sụa trong những năm tháng cũ ở Hà Nội. Cau mốc được tẩy trắng bằng khói diêm sinh. Trong một vòng nan cuốn tròn, những cái sàng cau lớn xếp chồng nhau ủ trong vải bố, dưới là cái lò nhỏ đốt diêm sinh, khói xanh từ những kẽ vải bốc ra tỏa khí độc khắp nhà. Tôi thoát được mấy năm xa lánh cái không khí bụi bặm ồn ào của chợ An Đông khi tôi theo chân bố tôi lần thứ hai lên sống trên Đà Lạt. Mấy năm sống trên cao nguyên với bố tôi là thời gian thần tiên nhất trong đời tôi. Năm 1958 khi bố tôi quyết định “xuống núi” về Sài Gòn làm báo, tôi cũng theo chân ông về sống với mẹ tôi ở chợ An Đông cho đến tháng tư năm 1975.

Nghĩ lại tôi thấy tội nghiệp mẹ tôi vô cùng. Những người con của bà, trừ anh cả tôi đã sang du học bên Pháp từ hồi còn ở Hà Nội, tuy ở gần bà nhưng không ai giúp bà đúng mức trong việc buôn bán. Nhà có thuê người làm cau nhưng họ chỉ cáng đáng những việc nặng như khuân vác, xấy cau, còn việc giấy tờ, sổ sách, thư từ, mẹ tôi rất cần người giúp. Mẹ tôi lại chiều con trai nên ngại nhờ con. Mà đôi lúc có nhờ thì chúng tôi lại làm với sự miễn cưỡng, thậm chí còn gắt gỏng. Đối với con gái, nhất là bà chị cả tôi, thì mẹ con không hợp tính. Cứ nói chuyện được dăm ba câu thì hai người lại cãi vã. Chị kế tôi hợp với mẹ tôi hơn thì sau này đi Pháp và ở luôn bên đó. May mắn cho mẹ tôi là trong những năm của thập niên 70 bà có hai người con dâu ở gần là chị Triệu và nhà tôi. Mẹ tôi tín nhiệm và cưng chiều hai nguời con dâu có lẽ còn hơn con đẻ. Chị Triệu và nhà tôi, ngoài việc giúp mẹ tôi trông coi sổ sách và các công việc buôn bán khác, lại thường ngồi rủ rỉ tâm tình với bà. Đây là điều hết sức quí đối với mẹ tôi vì bà rất ít có được những phút tâm tình thân mật như thế đối với những người con. Tháng sáu năm 2005 vừa qua vợ chồng tôi qua bên Montreal dự đám cưới đứa con của anh Triệu tôi, một đêm thức giấc nửa khuya tôi nghe hai người con dâu của mẹ tôi ngồi trong bóng tối rù rì nói chuyện, hai người nhắc đến những kỷ niệm xa xưa với mẹ tôi hồi còn ở chợ An Đông trên ba mươi năm về trước. Tôi nghe được câu nói: “Mợ đối với con dâu thật không có một điểm gì để chê trách”.

Trong những lần giúp mẹ tôi tính toán sổ sách tôi ngạc nhiên về trí thông minh của bà. Mẹ tôi thuộc thế hệ xưa không được đi học nhiều, trình độ có lẽ chỉ ngang mức tiểu học. Bà viết những câu văn không thành cú, chữ viết lại nghệch ngoạc như gà bới. Để tính tiền cau - những con số thành thường lớn đến mấy trăm ngàn - chúng tôi phải lấy giấy bút cặm cụi làm những con tính nhân chia. Thế mà chỉ liếc qua giá thành là bà đã gật gù đồng ý hoặc bà nói: “Con tính sai rồi, tính lại đi!” Trăm lần như một mẹ tôi nói đúng! Tôi tự hỏi với cái trí thông minh ấy cộng với sự lanh lẹ của bà nếu mẹ tôi ra sinh ra trong một hoàn cảnh khác hoặc một thế hệ khác được ăn học thì tôi không biết là bà sẽ tiến xa đến đâu.

Mẹ tôi viết thư cho những bạn hàng cau bao giờ cũng nhập đề bằng câu: “Tôi có lời hỏi thăm bà được mạnh khỏe tôi mừng...”. Biết như thế mỗi lần viết thư cho bà chúng tôi viết sẵn trước, khi bà vừa đọc xong câu đó thì chúng tôi nói ngay: “Con viết xong rồi, mợ đọc tiếp đi!”. Người mà mẹ tôi viết thư giao dịch nhiều nhất ở Hội An là bà Phước Xuân mà chúng tôi còn gọi là cô Năm Dung. Trong ba mươi năm giao dịch buôn cau với hiệu Phước Xuân chúng tôi đã viết đến cả mấy trăm lần câu Kính gửi bà Phước Xuân... Tôi có lời hỏi thăm bà được mạnh khỏe tôi mừng... Chính tôi đã dán không biết bao nhiêu con tem để gửi về địa chỉ hiệu Phước Xuân số 37 đường Nguyễn Thái Học ở Hội An. Những lá thư đưa tôi về một thành phố mà từ hồi tấm bé tôi đã nghe nói tới nhiều lần. Hội An. Làng Cẩm Phô. Họ Nguyễn Tường. Chốn ấy mơ hồ trong tâm tưởng tôi như một miền quê hương hư ảo.

Năm 1964, một năm sau khi bố tôi qua đời, lần đầu tiên tôi có dịp đến tỉnh Quảng Nam thăm thành phố Hội An. Cảm tưởng đầu tiên của tôi ra sao nhỉ? Khi đến một nơi đã được nhắc nhở hoài trong quá khứ? Thay vì bắt gặp một quê hương trong tâm tưởng, tôi bàng hoàng nhìn thấy một Hà Nội xưa cũ của tôi. Một Hà Nội lồng vào Hội An trong từng căn nhà, từng con phố. Từ căn nhà từ đường của dòng họ ở gần chùa Cầu tôi rảo bộ trên đường Nguyễn Thái Học để tìm hiệu Phước Xuân bỗng thấy mình lạc vào phố Mã Mây vào ngõ Phát Lộc vào những con phố cổ mà tôi đã lìa xa mười ba năm trước. Trên đường tôi đi qua chùa Cầu thằng bạn cũ Đỗ Bá Viễn vẫn nhỏ bé như ngày nào giơ tay chào tôi, tôi nhìn lại căn nhà xưa của mình ở phố Hàng Bè và tất cả Hà Nội từ từ hiện ra. Rưng rưng. Bé nhỏ. Thân thương. Tôi ra đi khi tôi còn là cậu học trò tiểu học, tôi trở về “Hà Nội” đã là một giáo sư. Mười ba năm đủ xa để Hà Nội trở thành kỷ niệm. Đất nước chia đôi càng khiến ngày về trở thành vọng tưởng, khiến đường về trở thành thiết tha.

Mấy ngày ở Hội An tôi ở nhà cô Năm Dung. Người con trai của cô tên là Tinh dẫn tôi đi chơi thành phố. Chúng tôi đạp xe đến cửa Đại tắm và ăn đồ biển trong những quán lá dưới bóng rợp lưa thưa của hàng cây thùy dương. Chiều đến chúng tôi ngồi trên sân thượng sau nhà nhìn con đường Bạch Đằng và dòng sông Thu Bồn lấp lánh ánh nắng. Bên kia sông nơi mà suốt đời tôi chưa từng đặt chân tới có làng Cẩm Phô. Nơi đó mới là chính quê của họ Nguyễn Tường. Nơi đó mới thực sự là miền quê hương hư ảo của tôi.

*

Bốn mươi năm đã qua kể ngày tôi đặt chân lần đầu xuống đất Quảng Nam. Bốn mươi năm sau tôi trở về Hội An với một tâm cảnh khác. Đã bao nhiêu nước chẩy qua cầu. Từ dạo đó. Tôi trở về lần này trên chuyến tàu hỏa mang theo ba bình tro của những người tôi yêu thương nhất. Đó là bố mẹ tôi và người chị cả. Nếu đường về quê cũ của bố tôi và người chị cả từ Sài Gòn đi Hội An tương đối gần thì con đường của mẹ tôi đi thật dài, dài đến nửa vòng trái đất. Tháng Tư năm 1981 anh Việt tôi từ bên Pháp trở về Việt Nam dìu mẹ tôi lên máy bay sang Pháp chữa bệnh. Mẹ tôi mất ở Paris, cùng năm. Hai mươi năm sau, năm 2001, cũng vào tháng Tư anh Việt lại ngồi trên máy bay trở về Sài Gòn nhưng lần này tay anh mang bình tro người mẹ. Bình tro của ba người được chôn cất ngày 28 tháng Tư năm 2001 tại nghĩa trang riêng của họ Nguyễn Tường ở Hội An.

Cả cuộc đời buôn cau của mẹ tôi, bà Cẩm Lợi, gắn liền với chiếc sập gụ. Bà sống trên nó. Bà ngủ trên nó. Đó là một cái sập quý làm bằng gỗ lim màu nâu bóng, rắn chắc và trạm trổ. Mặt sập cao hơn đầu gối của tôi bây giờ. Thuở ấu thơ ở Hà Nội bàn tay nhỏ bé của tôi thường mân mê bốn cái chân sập bóng loáng nổi phồng lên phía trên và eo thắt lại ở phía dưới. Ngón tay nhỏ bé của tôi thường sờ dọc theo con đường rãnh có trạm những hạt gỗ nổi trông như chuỗi tràng hạt gỗ màu nâu bóng của mẹ tôi. Cái sập gụ ấy từ Hà Nội theo mẹ tôi vào Nam. Rồi cái sập ấy lại từ Sài Gòn theo mẹ tôi sang Pháp. Nay mẹ tôi trở về Hội An. Cái sập để lại ở Paris được trưng như một cổ vật trong phòng khách của một người chị họ.

Mẹ tôi không cần chiếc sập gụ ấy nữa. Bà xa rời nó như xa rời cuộc đời nhọc nhằn. Bà Cẩm Lợi đã trả xong cái nghiệp mà chúng tôi kính cẩn ghi ơn. Bây giờ nằm vĩnh viễn bên chồng mẹ tôi mãi mãi là bà Tam của chúng tôi.

Mùa Hạ, năm 2005.
Nguyễn Tường Thiết



Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Thuyền câu trên sông Cowlitz

Nguyễn Tường Thiết


Sông Cowlitz

Khi chúng tôi đến bến sông thì trời mờ sáng. Con đường đá xanh ngoằn nghoèo đổ dốc xuống bờ sông mở ra dòng Cowlitz còn mù hơi sương phía trước. Tiếng bánh xe lạo rạo trên đá răm. Bãi đỗ xe trống trải. Xe ngừng, tôi tắt máy, tay vịn vô lăng. Xung quanh chúng tôi hoàn toàn im vắng. Anh Việt ngồi cạnh nhìn đồng hồ tay nói:
–Mình đến hơi sớm. Tối hôm qua anh nói chuyện với Steve, tay fishing guide, hắn hẹn mình ở đây, 6 giờ sáng.

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2023

Trần Huy Bích: Nhân chuyện câu “Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” được gán cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Trên Văn Việt ngày 16 tháng 2 vừa qua, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (University of New South Wales, Sydney, Úc) cho biết một số độc giả trên mạng đã hiểu một cách sai lầm rằng câu “Lưỡi lê no máu rửa Tây hồ” là thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Từ chuyện ngộ nhận ấy, nhiều vị viết lời bình luận rằng Vũ Hoàng Chương là một người sắt máu, chẳng khác gì Tố Hữu ngoài Bắc. Cũng qua câu trên, có người cho rằng thơ văn miền Nam thời Việt Nam Cộng Hoà cũng “máu me” lắm chứ chẳng nhân bản, nhân văn gì. Theo Giáo sư Tuấn, “Sự thật có lẽ không phải vậy, mà chỉ là một sự bịa đặt trong một cuốn tiểu thuyết, cuốn Ván Bài Lật Ngửa của tác giả Nguyễn Trương Thiên Lý” (tức nhà văn, nhà biên khảo, Ủy viên Tuyên huấn Trung ương Trần Bạch Đằng). Giáo sư Tuấn cho biết là câu ấy không có trong bài “Lửa từ bi” của Vũ Hoàng Chương, và chụp lại bài thơ “Từ đây” trong tập thơ Hoa Đăng của thi nhân họ Vũ (Sài Gòn : Văn Hữu Á Châu, 1959) để chứng minh rằng câu thơ ghê gớm ấy cũng không có trong đó:

https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/thuc-hu-nhung-cu-tho-sat-mu-duoc-cho-l-cua-thi-si-vu-hong-chuong/


Trên Diễn Đàn Thế Kỷ ngày 18.2 cũng có đăng bài viết nói trên của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và bài viết của Nhà văn Mặc Lý (Canada) đính chính thay cho cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương về việc này và một vài thông tin không chính xác khác:

https://www.diendantheky.net/2023/02/mac-ly-mot-vai-thong-tin-sai-lac-ve-vu.html